Tag Archive | Tin tức

Diễn vǎn chào mừng Tổng thống Môđibô Câyta (18-10-1964)

Thưa Tổng thống Môđibô Câyta, người anh em kính mến của tôi,

Thưa bà Tổng thống kính mến,

Thưa các vị cùng đi với Tổng thống,

Thưa các đồng chí và các bạn,

Hôm nay chúng tôi vô cùng sung sướng được đón tiếp Tổng thống Môđibô Câyta, vị lãnh tụ kính mến của nhân dân Mali, người bạn thân thiết của nhân dân Việt Nam.

Từ trung tâm của châu Phi xa xôi, Tổng thống và các vị sang thǎm đất nước chúng tôi và mang đến cho nhân dân Việt Nam mối tình thắm thiết của nhân dân Mali và nhân dân châu Phi anh em. Cuộc đi thǎm của Tổng thống và các vị nhất định sẽ làm cho tình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân hai nước chúng ta càng thêm khǎng khít.

Việt Nam và Mali tuy cách xa nhau hàng vạn dặm, Mali ở bên kia Đại Tây Dương, Việt Nam ở bên này Thái Bình Dương, nhưng lòng nhân dân hai nước chúng ta thì rất gần gũi như anh em một nhà. Nhân dân Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhiệt liệt hoan nghênh Tổng thống, bà Tổng thống và các vị cùng đi như những người anh em, chị em từ phương xa đến. Chúng tôi mong rằng Tổng thống và các vị coi ở Việt Nam cũng như ở Mali vậy.

Chúc Tổng thống và bà Tổng thống mạnh khoẻ.

Chúc các vị cùng đi trong Đoàn mạnh khoẻ.

Tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Mali muôn nǎm!

Tình đoàn kết giữa các dân tộc á – Phi muôn nǎm!

Hoà bình thế giới muôn nǎm!

Đọc ngày 18-10-1964.

————————–

Báo Nhân dân,số 3854, ngày 19-10-1964.
cpv.org.vn

Diễn vǎn trong buổi chiêu đãi Tổng thống Môđibô Câyta (18-10-1964)

Thưa Tổng thống Môđibô Câyta và bà Tổng thống kính mến,

Thưa các vị khách quý Mali kính mến,

Thưa các đồng chí và các bạn,

Hôm nay, tôi rất sung sướng thay mặt Đảng Lao động Việt Nam, Chính phủ, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhiệt liệt cảm ơn và chào mừng Tổng thống Môđibô Câyta và bà Tổng thống, chào mừng các vị trong Bộ Chính trị Đảng Liên minh Xuđǎng và tất cả các vị khách quý Mali đến thǎm đất nước chúng tôi.

Tổng thống và quý vị đã vượt quan sơn muôn dặm mang lại cho nhân dân Việt Nam chúng tôi tình hữu nghị của nhân dân Mali anh em và của nhân dân châu Phi dũng cảm. Đây là một vinh dự đồng thời là một sự cổ vũ to lớn đối với nhân dân Việt Nam chúng tôi.

Thưa Tổng thống và các vị,

Việt Nam và Mali, hai nước chúng ta đã trải qua những hoàn cảnh lịch sử giống nhau. Trước kia, trong một thời gian khá dài, hai nước chúng ta đều đã bị bọn thực dân thống trị. Ngày nay, chúng ta đều đã giành được độc lập, tự do.

Từ ngày giành được độc lập, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của lãnh tụ Môđibô Câyta và Đảng Liên minh Xuđǎng, nhân dân Mali anh em đã thu được nhiều thắng lợi tốt đẹp.

Ở trong nước,với tinh thần tự lực cánh sinh là chính, cộng với sự hợp tác giúp đỡ lẫn nhau giữa Mali và các nước bầu bạn, nhân dân Mali đang ra sức xây dựng một nền kinh tế dân tộc. Kế hoạch 5 nǎm lần thứ nhất (1961-1965), nhằm tǎng gia sản lượng 40%, đã bước đầu thu được những kết quả vẻ vang. Nhà nước Mali đã có tiền tệ độc lập của mình, đã nắm độc quyền ngoại thương, đã quốc hữu hoá những xí nghiệp lớn. Hiện nay, trong cả nước đã có 3.500 hợp tác xã nông nghiệp mức toàn thôn, v.v..

Với cái gia tài nghèo nàn lạc hậu do bọn thực dân để lại – nhân dân Việt Nam cũng đã đau xót vì cái gia tài loại đó – chỉ trong bốn nǎm ngắn ngủi, nhân dân Mali anh em đã vượt mọi khó khǎn, thu được những kết quả tốt đẹp như vậy.

Chúng ta nhiệt liệt hoan hô anh em Mali, hoan hô Tổng thống Môđibô Câyta và Đảng Liên minh Xuđǎng.

Trên quốc tế, nhân dân Mali kiên quyết thực hành chính sách hoà bình trung lập, tǎng cường đoàn kết và hợp tác giữa các dân tộc Á – Phi.

Chính sách hoà bình của nhân dân Mali là một chính sách hoà bình tích cực.

Nhân dân và Chính phủ Mali luôn luôn kiên quyết chống chủ nghĩa đế quốc hiếu chiến, chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, luôn luôn ra sức tham gia phong trào đấu tranh cho hoà bình thế giới và ủng hộ các dân tộc chiến đấu giành độc lập, tự do.

Tôi xin phép nhắc lại vài lời tuyên bố đanh thép gần đây của Tổng thống Môđibô Câyta:

Hôm 1-5-1964, Tổng thống Môđibô Câyta nói, đại ý như sau:

Đối với những anh em Ǎnggôla, Nam Phi, Nam Việt Nam, v.v. đang chiến đấu cho quyền lợi độc lập dân tộc của mình, nhân dân Mali chúng ta bảo đảm hết sức ủng hộ những anh em đó.

– Hôm 8-10-1964, ở Hội nghị các nước không liên kết họp tại Lơ Ke, Tổng thống Môđibô Câyta đã kịch liệt lên án bọn đế quốc thực dân, đặc biệt lên án đế quốc Mỹ xâm lược miền Nam Việt Nam. Tổng thống nói: Đứng trước những cuộc xâm lược và hành động bạo lực, các nước không liên kết không thể chịu im hơi lặng tiếng, hoặc chỉ đưa ra những nghị quyết phản đối suông…

Sau khi đòi bọn đế quốc thực dân phải chấm dứt ngay sự can thiệp vào nội bộ của Ǎnggôla, Nam Phi, Nam Triều Tiên, Nam Việt Nam và những nơi khác, Tổng thống Môđibô Câyta nghiêm khắc đòi: quân đội nước ngoài phải rút khỏi Nam Triều Tiên, Nam Việt Nam …

Tôi xin thay mặt nhân dân Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà – và tôi cũng xin phép thay mặt các dân tộc anh em đang chống đế quốc Mỹ để giành lại độc lập dân tộc – thành thật cảm ơn Tổng thống Môđibô Câyta và nhân dân Mali anh em.

Thưa Tổng thống thân mến,

Hiện nay, ở miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ ngày càng thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược của chúng, chính quyền tay sai ngày càng tan rã. Dưới sự lãnh đạo của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, đồng bào miền Nam chúng tôi ngày càng thu được nhiều thắng lợi to lớn. Càng thất bại, đế quốc Mỹ càng hung hǎng, tàn bạo. Một mặt chúng điên cuồng đẩy mạnh chiến tranh ở miền Nam Việt Nam, một mặt khác chúng ra sức khiêu khích nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, âm mưu mở rộng chiến tranh ra miền Bắc Việt Nam, chúng tǎng cường vũ trang can thiệp vào Lào, uy hiếp nền trung lập và xâm phạm lãnh thổ của Campuchia. Chúng gây nên tình hình cực kỳ cǎng thẳng ở Đông Dương và Đông – Nam Á.

Nhân dân và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà rất thiết tha với hoà bình để xây dựng đất nước của mình, luôn luôn tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ 1954 về Việt Nam. Nhưng chúng tôi quyết không để cho bọn đế quốc Mỹ và tay sai xâm phạm chủ quyền và lãnh thổ của mình, phá hoại công cuộc lao động hoà bình của nhân dân miền Bắc Việt Nam. Mọi hành động khiêu khích và xâm lược đối với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhất định sẽ bị sức mạnh của toàn thể nhân dân Việt Nam đánh bại.

Chúng tôi đã nhiều lần tuyên bố rằng: Cách giải quyết đúng đắn nhất vấn đề miền Nam Việt Nam là phải thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dương, các nước tham gia Hội nghị Giơnevơ trong đó có nước Mỹ, phải làm đúng lời cam kết của mình là tôn trọng chủ quyền, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam, không can thiệp vào nội trị của nước Việt Nam. Chính phủ Mỹ phải chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam, rút quân đội và vũ khí của Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, phải chấm dứt những hành động khiêu khích đối với miền Bắc Việt Nam, để nhân dân Việt Nam tự giải quyết lấy công việc nội bộ của mình.

Trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược, nhân dân Việt Nam chúng tôi đã được sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hoà bình toàn thế giới, trong đó có sự ủng hộ vô cùng quý báu của nhân dân Mali anh em.

Vì vậy, dù cuộc đấu tranh còn gay go gian khổ, chúng tôi tin chắc rằng cuối cùng đế quốc Hoa Kỳ sẽ thua, nhân dân Việt Nam sẽ thắng.

Dù ở châu Á, châu Phi, hay là ở châu Mỹ latinh, các dân tộc đấu tranh cho hoà bình và nhân dân các nước chiến đấu để tự giải phóng đều chung trong một mặt trận.

Cho nên nhân dân Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà luôn luôn tận tình ủng hộ nhân dân Lào, Campuchia, Inđônêxia, Cônggô, Cuba, Vênêduêla và nhân dân tất cả các nước đang đấu tranh chống đế quốc thực dân đứng đầu là đế quốc Mỹ, để giành lại và giữ gìn độc lập dân tộc và xây dựng đất nước phồn vinh.

Thưa Tổng thống kính mến,

Thưa các vị,

Chúng tôi rất sung sướng nhận thấy rằng trong mấy nǎm qua, tình hữu nghị Việt Nam – Mali ngày càng phát triển và củng cố. Tôi tin chắc rằng cuộc đi thǎm hữu nghị của Tổng thống và các vị trong Đoàn lần này sẽ thắt chặt thêm nữa sự quan hệ hợp tác anh em giữa hai nước chúng ta. Tôi tin chắc rằng cuộc đi thǎm của Tổng thống nhất định thành công tốt đẹp.

Thưa các đồng chí và các bạn, tôi đề nghị chúng ta nâng cốc:

Chúc nhân dân và Chính phủ nước Cộng hoà Mali đạt được nhiều thắng lợi to lớn trong sự nghiệp củng cố độc lập dân tộc và xây dựng đất nước giàu mạnh.

Chúc tình hữu nghị thắm thiết giữa nhân dân Việt Nam và Mali ngày càng củng cố và phát triển.

Chúc tình đoàn kết á – Phi ngày càng bền vững.

Chúc sức khoẻ Tổng thống Môđibô Câyta và bà Tổng thống.

Chúc sức khoẻ các vị khách quý Mali.

Chúc sức khoẻ các bạn có mặt ở đây hôm nay.

Đọc ngày 18-10-1964.

——————

Báo Nhân dân,số 3855, ngày 20-10-1964.
cpv.org.vn

Bài nói chuyện tại Trường đại học Sư phạm Hà Nội (21-10-1964)

Vì bận nhiều việc, Bác ít đến thǎm nhà trường. Bác tự phê bình trước các cô giáo, thầy giáo, các cháu học sinh, các đồng chí cán bộ, công nhân viên. Các cô, các chú phải cảm ơn Tổng thống Câyta, vì hôm nay có Tổng thống đến thǎm trường, Bác không thể không đến được. Nhân dịp này, Bác có lời cảm ơn các đồng chí chuyên gia Trung Quốc, Liên Xô và Tân Tây Lan đến giúp đỡ các cô giáo, thầy giáo và giúp các cháu học tập.

Bây giờ Bác nói mấy ưu điểm của trường:

– Một là tất cả mọi người, các cô giáo, thầy giáo, các cán bộ, công nhân viên cũng như các cháu học sinh đều có tinh thần khắc phục khó khǎn làm tròn nhiệm vụ. Đó là một điều tốt.

– Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách mạng. Đó là cái gốc, rất là quan trọng. Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng. Đạo đức cách mạng là triệt để trung thành với cách mạng, một lòng một dạ phục vụ nhân dân.

– Một ưu điểm nữa là phong trào thi đua “hai tốt” ở đây làm khá. Bác nói rằng khá, chứ chưa phải trǎm phần trǎm tốt đâu nhé!

Hiện nay, có mấy trǎm cô giáo, thầy giáo thanh niên xung phong đi miền núi, để đưa cái hiểu biết vǎn hóa lên cho đồng bào miền rẻo cao. Bác chỉ nói hai ví dụ:

Một cháu gái là giáo viên lên đây, không biết tiếng nói và chưa hiểu phong tục tập quán của địa phương. Không có trường và không có học trò. Xóm này cách xóm kia rất xa, đi lại khó khǎn. Cháu gái ấy đã nói rằng: Đảng và nhà trường đã phái lên đây, thì mình quyết phải làm tròn nhiệm vụ. Cháu đó đã cùng ǎn, cùng ở, cùng lao động với đồng bào, do đấy mà tuyên truyền cho bố mẹ và các cháu bé, vừa học tiếng địa phương. Làm như thế dần dần từng bước, cháu ấy đã xây dựng nên nhà trường hẳn hoi. Đây là một cô giáo anh hùng.

Lại có một cháu trai, lên vùng rẻo cao. Trong bản có một cháu bé muốn học, nhưng vì bị bại chân không đi được. Thầy giáo hằng ngày tới nhà cõng cháu đó đến trường học. Đây là một thầy giáo anh hùng.

Hiện nay có hàng vạn học sinh tốt nghiệp lớp 7, lớp 10 đã xung phong đi tham gia sản xuất ở các công trường, ở miền núi; có 797 cháu cấp I, cấp II, cấp III học giỏi được giải thưởng. Trong phong trào “Làm nghìn việc tốt” có 40 vạn cháu thiếu nhi có nhiều thành tích.

Những kết quả tốt đó đều là công lao của nhà trường, của các cô giáo, thầy giáo. Vì vậy Bác có thể nói Bác đối với nhà trường, đối với nền giáo dục của ta, tuy chưa phải là trǎm phần trǎm mãn nguyện, nhưng càng ngày Bác càng bằng lòng hơn: nǎm nay bằng lòng hơn nǎm ngoái và sang nǎm chắc sẽ bằng lòng hơn nǎm nay.

Nhân đây, Bác kể một chuyện để so sánh. Quốc hội Mỹ có một ban trông nom trẻ con, ban ấy báo cáo rằng nǎm 1963 hơn 1/5 trẻ con Mỹ từ 7 tuổi đến 10 tuổi đã phạm tội: ǎn trộm, ǎn cắp, thậm chí giết người cũng có, v.v.. Vậy thử hỏi: Mỹ vǎn minh hơn hay ta vǎn minh hơn? Ta có 40 vạn cháu ngoan mà Mỹ có 1/5 trẻ em phạm tội. Ta có thể nói: ta vǎn minh hơn!

Lần trước đến thǎm trường, Bác có nói 2 điểm: một là vệ sinh, hai là trồng cây. Về vệ sinh ở đây còn kém! Về trồng cây, Bác bảo

nên trồng cây nhiều. Nhưng hiện nay cây sống ít. Do là vì các cô, các chú tham trồng cây nhiều, nhưng không chǎm bón cho tốt, ở trường này, cả thầy và trò có gần 4 nghìn rưởi người. Nếu mỗi nǎm một người trồng một cây là được gần 5.000 cây. Hai nǎm sẽ được gần 1 vạn cây. Nhưng trồng cây nào thì phải chǎm bón cho tốt cây đó. Như thế, hơn là tham trồng nhiều mà kết quả ít. Các cô, các chú và các cháu phải làm cho vườn của trường thành một vườn hoa, vườn cây tươi đẹp.

Đã hứa với Bác thì phải làm, làm thì phải có tổ chức. Vệ sinh cũng như trồng cây, có tổ chức thì nhất định làm được tốt.

Bây giờ đến mấy việc Bác muốn nhắc nhở các đồng chí cán bộ và các cháu học sinh:

1- Trướchết là phải đoàn kết

Đoàn kết thật sự, giữa thầy và thầy, giữa thầy và trò, giữa trò và trò, giữa cán bộ và công nhân. Toàn thể nhà trường phải đoàn kết thành một khối, đoàn kết phải thật sự trǎm phần trǎm chứ không phải chỉ là đoàn kết miệng.

2- Các cháu học sinh không nên học gạo, không nên học vẹt. Bác không cần giải thích học gạo, học vẹt là thế nào vì các cháu biết cả rồi. Học phải suy nghĩ, học phải liên hệ với thực tế, phải có thí nghiệm và thực hành. Học với hành phải kết hợp với nhau.

3- Cần phải giữ gìn kỷ luật cho tốt, phải sạch sẽ, gọn gàng. Kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa tự do, chống lề mề, luộm thuộm.

4- Thầy cũng như trò, cán bộ cũng như nhân viên, phải thật thà yêu nghề mình. Có gì vẻ vang hơn là nghề đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản? Người thầy giáo tốt – thầy giáo xứng đáng là thầy giáo- là người vẻ vang nhất. Dù là tên tuổi không đǎng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh. Đây là một điều rất vẻ vang. Nếu không có thầy giáo dạy dỗ cho con em nhân dân, thì làm sao mà xây dựng chủ nghĩa xã hội được? Vì vậy nghề thầy giáo rất là quan trọng, rất là vẻ vang; ai có ý kiến không đúng về nghề thầy giáo, thì phải sửa chữa.

5 – Một điểm nữa là các cháu gái chưa được giúp đỡ tốt. Các cháu trai, cháu gái chưa thật sự coi nhau như anh em, chị em ruột thịt trong một nhà. Trái lại, còn có ý ganh tị, bắt bẻ, sợ bạn học sinh gái hơn mình thì mất thể diện “anh hùng nam tử”. Cháu nào còn rơi rớt tư tưởng, tác phong ấy, thì cần phải sửa chữa.

Cô giáo, thầy giáo trong chế độ ta cần phải góp phần vào công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa. Phải có chí khí cao thượng, phải “tiên ưu hậu lạc” nghĩa là khó khǎn thì phải chịu trước thiên hạ, sung sướng thì hưởng sau thiên hạ. Đây là đạo đức cách mạng.

6 – Trong việc học tập cũng như trong mọi việc, đảng viên và đoàn viên của nhà trường cần phải xung phong gương mẫu, phải giúp đỡ anh em, chị em cùng tiến bộ. Ở đây có ngót 4.000 học sinh, 1/4 là cháu gái. Như thế là có tiến bộ nhưng đương còn ít. Ngày nay ở các nước xã hội chủ nghĩa anh em, nghề dạy học và nghề làm thuốc thì phụ nữ làm nhiều hơn.

Có 100 học sinh đồng bào thiểu số, Bác thấy vậy còn ít, cần dần dần có thêm.

Có 800 các cháu miền Nam, như vậy là rất tốt, dần dần phải thêm nữa. Bởi vì chúng ta phải gắn liền nhiệm vụ ủng hộ miền Nam với việc xây dựng miền Bắc. Vì vậy, ở miền Bắc, trong mọi việc, việc dạy và học cũng thế, mọi người phải làm việc bằng hai đểđền đáp cho đồng bào miền Nam ruột thịt. ở đây cũng như các ngành khác, phải đào tạo cán bộ cho miền Nam để đến ngày nước nhà thống nhất, các cháu ấy về góp phần xây dựng miền Nam thân yêu.

Cuối cùng, Bác mong các cô, các chú và các cháu nhớ làm được những điều kể trên. Tất cả thầy trò, cán bộ, công nhân phải phấn khởi thi đua phát triển ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, làm thế nào để nhà trường này chẳng những là trường sư phạm mà còn là trường mô phạm của cả nước.

—————————–

Bản gốc lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I.
cpv.org.vn

Diễn vǎn trong buổi tiễn Tổng thống Môđibô Câyta (22-10-1964)

Thưa Tổng thống Môđibô Câyta và bà Tổng thống thân mến,

Thưa các vị cùng đi với Tổng thống,

Thưa các đồng chí và các bạn,

Hôm nay, Tổng thống Môđibô Câyta và các vị khách quý Mali kết thúc cuộc đi thǎm hữu nghị nước ta và lên đường tiếp tục cuộc đi thǎm hữu nghị nhiều nước anh em khác.

Trong những ngày ở thǎm nước chúng tôi, Tổng thống và các vị đã đem lại cho nhân dân và Chính phủ chúng tôi tất cả những tình cảm nồng nàn và sự đoàn kết thắm thiết của những người anh em, những người bạn chiến đấu Mali và châu Phi.

Chúng tôi rất vui mừng đã được trao đổi ý kiến thật thà và thân mật với Tổng thống và các vị lãnh đạo nước Cộng hoà Mali về những vấn đề quan hệ đến lợi ích của hai nước chúng ta cũng như về tình hình á – Phi và thế giới. Chúng ta đã nhất trí về mọi vấn đề.

Cuộc đi thǎm của Tổng thống và các vị đã làm cho quan hệ hữu nghị giữa hai nước chúng ta thêm tốt đẹp và góp phần vào sự nghiệp đoàn kết nhân dân các nước á – Phi đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới, để giành lại và giữ gìn độc lập dân tộc, bảo vệ hoà bình thế giới.

Gặp nhau mớiđược mấy ngày,

Bây giờ đã tạm chia tay,

Tiễn đưa nhớ buổi hôm nay,

Bạn về,chúc bạn ngày ngày thành công.

Một lần nữa, chúng tôi chúc Tổng thống và bà Môđibô Câyta cùng các vị lên đường mạnh khoẻ. Chúng tôi nhờ Tổng thống và các vị chuyển đến nhân dân Mali và nhân dân châu Phi anh em tình đoàn kết thân thiết nhất.

Tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Mali đời đời bền vững!

Tình đoàn kết giữa nhân dân các nước á – Phi và Mỹ latinh muôn nǎm!

Độc lập dân tộc và hoà bình thế giới muôn nǎm!

Ka Maliny Việt Nam Balu!

Đọc ngày 22-10-1964.

————————

Báo Nhân dân,số 3858, ngày 23-10-1964.
cpv.org.vn

Trò xiếc tuyển cử Tổng thống Mỹ (3-11-1964)

Hôm nay, Hoa Kỳ lại có cuộc bầu Tổng thống.

Theo Hiến pháp Hoa Kỳ từ nǎm 1789 đến nay, cứ 4 nǎm thì bầu Tổng thống mới. Có mấy vị Tổng thống được nhân dân Mỹ thật sự kính mến, như:

Hoa Thịnh Đốn (1732-1799), đã đánh đuổi thực dân Anh giành lại độc lập cho Mỹ.

Linhcôn (1809-1865), đã tuyên bố giải phóng người Mỹ da đen khỏi ách nô lệ.

F. Rudơven (1882-1945), đã đưa Mỹ tham gia cuộc Thế giới đại chiến thứ hai, góp phần đánh bại phát xít Đức, Ý, Nhật.

Tuy nói rằng Tổng thống là người cầm đầu Chính phủ, bảo vệ lợi ích của nhân dân. Nhưng sự thật thì thế nào? Mồ ma Tổng thống Uynxơn (1856-1924) đã trả lời như sau:

“Bọn tài phiệt và chủ công nghiệp là người chủ của Chính phủ Mỹ. Chính phủ Mỹ là con nuôi của lợi quyền đặc biệt Mỹ. Chính phủ Mỹ không được phép có ý kiến của mình…”.

Ở Mỹ có hai chính đảng lớn là Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hoà, thuộc hai phe tư bản độc quyền. Khi thì người đảng này, khi thì người đảng kia được bầu làm Tổng thống. Trong cuộc bầu cử này tổng Giôn là người của Đảng Dân chủ. Gônoatơ thuộc Đảng Cộng hoà. Những ngày vận động tranh cử, chúng hết lời bêu xấu nhau. Ví dụ: Gônoatơ thì nói Giôn là một tên địa chủ độc ác, đã bốn lần phản đối việc bỏ thuế thân cho người Mỹ da đen. Mấy triệu đôla của Giôn từ đâu mà có. Tên cố vấn thân cận nhất của Giôn đã hai lần bị bắt vì tội hiếp dâm…

Giôn thì nói Gônoatơ là bạn thân của bọn đầu trộm đuôi cướp, chủ trương phân biệt chủng tộc, chống người Mỹ da đen, v.v..

Mặt khác, cả hai chàng đều ra vẻ dân chủ, bắt tay với người này, cụng chén với người kia. Cả hai chàng đều ra sức lừa bịp nhân dân, hứa hươu hứa vượn, miễn là câu được lá phiếu của cử tri.

Mạt cưa mướp đắng hai bên cũng vừa.

Nhưng cả hai gã đều không dám nói làm thế nào để cải thiện tình trạng đen tối ở nội bộ Hoa Kỳ. Tình trạng đó là hơn nǎm triệu công nhân hoàn toàn thất nghiệp. Hơn 20 triệu gia đình áo không đủ mặc, bánh không đủ ǎn. 20 triệu người Mỹ da đen bị đày đoạ như nô lệ. Hơn chín triệu người không có nhà ở. Hàng triệu nông dân bị phá sản. Số người tự sát vì cực khổ và số người phạm tội ngày càng tǎng, v.v..

Hai gã đều không dám nói đến tình hình thế giới đối với Mỹ. Tình hình ấy sa sút làm cho các báo tư sản Mỹ đã phải than phiền.

Ví dụ:

Gần 20 nǎm nay “Mỹ đã xài 108 tỉ đôla viện trợ các nước ngoài và 684 tỉ để xây dựng quốc phòng. Nhưng hiện nay trên thế giới, ở đâu Mỹ cũng gặp chuyện lôi thôi. Các nước đồng minh của Mỹ như Anh, Pháp, ý, v.v. đều khiêu chiến với sự lãnh đạo của Mỹ. Khối Bắc Đại Tây Dương thì ba bè bảy mảng, Khối Đông – Nam á thì đương đi đến chỗ tan hoang…” (báo Tin tức Mỹ và thế giới, tháng 2-1964).

“Cục diện thế giới rất không lợi cho Mỹ. Nǎm 1960 đến nay, từ Cuba đến Dandiba, Mỹ đều mất hết địa bàn…” (báo Ngôi sao Hoa Thịnh Đốn, tháng 2-1964).

Báo Luận đàm Nữu ước (tháng 2-1964) thì viết rằng “Ngoại giao của Mỹ chúng ta đang vấp phải nhiều khó khǎn, thất bại và tuyệt vọng. Nếu tập đoàn Giôn cứ ngoan cố theo đuổi chính sách cũ, thì Mỹ còn vấp phải nhiều thất bại và thất vọng hơn nữa…”.

Vì vậy nhân dân Mỹ đối với cuộc tuyển cử này “tỏ ra chán ghét và lạnh nhạt (báo Tin tứchàng tuần, tháng 9-1964).

Thật vậy, ở đâu trên thế giới cũng có phong trào chống Mỹ, nhất là ở Á – Phi và Mỹ latinh. Ở Nam Việt Nam thì Mỹ và tay sai đã thất bại và sa lầy đến tận cổ. Dù Giôn hay là Gônoatơ được bầu làm Tổng thống, nếu muốn tránh khỏi thất bại và thất vọng hoàn toàn, Mỹ chỉ có một con đường là rút lui có trật tự khỏi miền Nam Việt Nam, để nhân dân Việt Nam tự giải quyết công việc nội bộ của mình như Hiệp định Giơnevơ 1954 đã quy định.

Chiến sĩ

———————

Báo Nhân dân,số 3869, ngày 3-11-1964.
cpv.org.vn

Uy danh lừng lẫy khắp nǎm châu (12-11-1964)

Sân bay Biên Hoà vừa là một sân bay “bí mật nhất”, vừa là một trong ba sân bay to nhất của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Chung quanh sân bay dầy đặc mấy lớp dây thép gai có điện. Ngoài thì có bãi mìn. Ngoài nữa là những “ấp chiến lược”. Bên trong có nhiều tháp canh. Mấy tiểu đoàn lính Mỹ và lính nguỵ cùng chó ngao ngày đêm canh gác. Bọn Mỹ cho đó là một sân bay tuyệt đối vững chắc, trời cũng không làm gì được”.

Thế mà đêm 31-10-1964, trường bay đó đã bị một đội du kích miền Nam đánh tan tành. Thắng lợi đó đã vang ầm thế giới. Bạn ta thì phấn khởi vui mừng. Bọn Mỹ thì hoang mang kinh sợ. Ví dụ:

– Báo Sao đỏ Liên Xô viết: “Đã đến lúc Mỹ phải chấm dứt ngay cuộc chiến tranh bẩn thỉu và rút hết lực lượng xâm lược ra khỏi miền Nam Việt Nam”. Các báo Trung Quốc đều nhiệt liệt hoan hô thắng trận Biên Hoà và viết: “ở Nam Việt Nam, việc Mỹ thất bại nhất định không thể tránh khỏi”. Báo Anmana ở Irắc viết: “Du kích đánh vào sân bay Mỹ ở Biên Hoà chứng tỏ rằng không lực lượng nào ngǎn được bước tiến của cách mạng Nam Việt Nam”.

– Các báo phương Tây thì mỉa mai Mỹ. Báo Anh viết: Trận Biên Hoà “đối với Mỹ là một đòn rất đau về quân sự cũng như về chính trị… Đó là một hành động đốt râu chú Sam…”. “Đó là một vố sấm sét giáng vào uy tín Mỹ”. Báo Pháp Lơ Phigarô viết: “Biên Hoà gần Sài Gòn mà du kích đã đánh được, thì họ có thể đánh bất cứ nơi nào”. BáoNhân đạo viết: “Thắng trận của du kích ở Biên Hoà đã chứng tỏ rằng dù bọn đế quốc dùng cách gì cũng không thể thành công trong cuộc chiến tranh xâm lược của chúng, chứng cớ ấy càng hùng hồn vì ở Nam Việt Nam là một cuộc đọ sức giữa một đế quốc rất mạnh với một xứ bé nhỏ nhưng mà anh dũng”.

– Dư luận Mỹ thì rất bi. Báo thì viết: “Đó là một cuộc tập kích cực kỳ tai hại cho Mỹ”. Báo thì viết: “Trận này làm cho Mỹ mất cả mặt. Nếu ở vào địa vị tổng Giôn, Taylo, v.v. thì chúng tôi phải đỏ mặt tía tai”. Báo thì viết: “Việt cộng đã giành được một thắng lợi đột xuất… Người Mỹ chúng ta ở đó còn làm được việc quái gì nữa!…”.Thời báo Nữu ước viết: “Du kích đánh vào sân bay Biên Hoà nhanh chóng và trúng đích một cách làm cho người ta phải kinh ngạc. Cuộc chiến tranh chống Việt cộng bây giờ tuyệt vọng hơn bao giờ hết… Dù Mỹ bỏ vào bao nhiêu sức người và tiền bạc cũng không ngǎn được thế đang tiến lên của Việt cộng”. Luận đàm Nữu Ước viết: “Người Mỹ chúng ta hiện đang bị thất bại nhiều hơn bao giờ hết”.

Những lời thú nhận của tướng tá và chính khách Mỹ cũng thú vị. Ví dụ: tên tổng tư lệnh Mỹ ở Sài Gòn nói: “Du kích đã dùng súng cối Mỹ bắn lại quân đội Mỹ và máy bay Mỹ!”. Níchxơn, cựu Phó Tổng thống Mỹ, thì thú nhận rằng:

“Cuộc thất bại ở Biên Hoà là một tai hoạ to nhất cho Mỹ từ sau cuộc thất bại to lớn ở cảng Trân Châu” (cảng Trân Châu là một cǎn cứ to nhất của hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương bị Nhật Bản đánh chiếm cuối nǎm 1941).

Cuộc thắng lợi ở Biên Hoà rất lừng lẫy mà cũng rất giản đơn.

Chín chiến sĩ Quân giải phóng mò đến gần sân bay Mỹ 800 thước, bắn độ 100 phát súng cối của Mỹ vào sân bay, sau 15 phút thì rút lui an toàn vô sự.

Kết quả là bắn tan 21 máy bay phản lực và 8 máy bay loại khác. Phá huỷ một đài quan sát, hai kho chứa dầu, bốn trại lính, 18 nhà sĩ quan. Giết 4 và làm bị thương 72 tên Mỹ.

Về số Mỹ chết và bị thương, một thượng nghị sĩ Mỹ là Thớtmơn tuyên bố rằng “đến ba bốn trǎm Mỹ chết và bị thương, nhưng Chính phủ Mỹ đã che giấu sự thật”.

Nếu cộng kết quả chiến đấu trong chín tháng đầu nǎm nay với cuộc thắng lợi Biên Hoà, thì càng thấy thắng lợi này to lớn. Trong chín tháng đầu nǎm, đồng bào miền Nam đã:

Tiêu diệt 83.000 địch (trong số đó có 625 “cố vấn” Mỹ).

Thu được 11.770 súng các loại.

Bắn rơi và bắn hỏng 660 máy bay.

Phá huỷ hơn 3.100 “ấp chiến lược”.

Giải phóng thêm 174 vạn đồng bào khỏi ách kìm kẹp.

Giác ngộ 58.000 binh sĩ nguỵ bỏ hàng ngũ địch.

Trước trận Biên Hoà, dư luận Hoa Kỳ đã thấy tình trạng bi và bí của Mỹ. Như báo Tin tức Mỹ và thế giới đã viết: “Mỹ đang sụp đổ ở Nam Việt Nam cũng như đã sụp đổ ở Trung Quốc trước đây… Mỗi ngày Mỹ càng đến gần thất bại thảm hại… Phải chǎng Mỹ đang nhanh chóng nhận lấy một Điện Biên Phủ ở Nam Việt Nam”.

Chắc bà con còn nhớ rằng hồi tháng 3-1954, du kích ta phá 60 máy bay Pháp ở Cát Bi và 25 chiếc ở Gia Lâm, để báo hiệu cho cuộc đại thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Rất có thể trận thắng ở sân bay Biên Hoà báo hiệu một Điện Biên Phủ ở miền Nam, như tờ báo Mỹ đã nói.

Nếu muốn tránh thất bại nhục nhã như ở Điện Biên Phủ thì Mỹ chỉ có một cách là chấm dứt ngay cuộc chiến tranh xâm lược ở miền Nam, rút ngay quân đội của chúng về nước mẹ, để nhân dân miền Nam giải quyết công việc nội bộ của họ, như Hiệp định Giơnevơ đã quy định.

Đồng bào miền Nam ngày càng đánh mạnh, càng mạnh càng thắng, nhưng không vì thắng mà kiêu, không chủ quan khinh địch và tin chắc rằng cuối cùng thắng lợi nhất định về tay ta. Vậy có thơ rằng:

Uy danh lừng lẫy khắp nǎm châu
Đạn cối tuôn cho Mỹ bể đầu,
Thành đồng trống thắng lay Lầu trắng 1*
Điện Biên, Mỹ chẳng phải chờ lâu!

Chiến sĩ

———————–

Báo Nhân dân,số 3878, ngày 12-11-1964.
cpv.org.vn

Lớp học viết báo “Huỳnh Thúc Kháng”

 – Ngày 18/7/1946, tiếp tục chuyến thăm nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp gỡ các tầng lớp nhân dân ở nhiều địa phương, tìm hiểu đời sống và công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh của Chính phủ và nhân dân Pháp. Cùng trong ngày, Bác tiếp Tổng bí thư Đảng Cộng sản Pháp Maurice Thorez.

Tháng 7/1941, để động viên quần chúng tham gia cách mạng, Nguyễn Ái Quốc viết bài thơ “Hoan nghênh thanh niên học quân sự” gồm 44 câu theo thể lục bát.

Thơ có đoạn: “Nước ta mất đã lâu rồi/ Đồng bào cực khổ suốt đời gian nan/ Suốt đời chịu kiếp lầm than/ Sưu cao thuế nặng, cơ hàn xót xa! Vì ai tan cửa nát nhà?/ Chồng lìa vợ, con lìa cha tơi bời? Vì ai non nước giã rời/ Giống nòi sỉ nhục chơi vơi thế này? Vì giặc Nhật! vì giặc Tây!/” để đi đến kết luận: “… Muốn đánh Nhật, muốn đánh Tây/ Thanh niên ta phải ra đây học hành/ Một là học việc nhà binh/ Hai là học biết tình hình người ta/ Thanh niên là chủ nước nhà/ Phải cho oanh liệt mới là thanh niên”.

dNgày 7/1/1958, Bác tiếp Đoàn đại biểu ĐCS Pháp do đồng chí Gianet Vecmet dẫn đầu thăm VN.

Tháng 7/1949, Bác gửi thư cho lớp học viết báo mang tên “Huỳnh Thúc Kháng”. Là một nhà báo lão luyện, với tình đồng nghiệp Bác diễn giải: “Có thể thí dụ rằng, 3 tháng này các bạn đã học cửu chương. Còn muốn giỏi các phép tính thì phải học nữa, phải học mãi. Học ở đâu? Học với ai? Học trong xã hội, học nơi công tác thực tế, học ở quần chúng. Nếu các bạn viết báo mà quần chúng hiểu, quần chúng ham đọc, quần chúng khen hay, thế là các bạn tiến bộ. Trái lại, là các bạn chưa thành công. Các bạn nên thật thà phê bình ban huấn luyện, để các lớp sau học tập mỹ mãn hơn…”.

Cũng vào thời điểm tháng 7/1949, Bác viết thư gửi báo “Quân Du Kích” là tờ báo của Cục Dân quân là một thành phần tiền thân của báo “Quân Đội Nhân Dân” hiện tại.

Trong thư Bác viết: “Làm cho “Mỗi quốc dân là một chiến sĩ, mỗi xóm làng là một pháo đài. Làm cho Quân đội giặc đến đâu cũng bị khuấy, bị phá, bị diệt; bộ đội ta đến đâu cũng được giúp đỡ đầy đủ về vật chất và tinh thần. Đó là nhiệm vụ của báo: Quân Du Kích”.

Ngày 17/7/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh kết thúc chuyến đi thăm hữu nghị chính thức Liên Xô đầu tiên. Phát biểu tại sân bay Moscow, Bác cảm ơn sự giúp đỡ của Liên Xô đối với sự nghiệp kháng chiến chống Pháp, đấu tranh ngoại giao ở Hội nghị Genève và đánh giá:

“Sự giúp đỡ vô tư ấy làm cho nhân dân Việt Nam thêm tin tưởng và thêm sức mạnh, đồng thời làm cho chúng tôi thấy rõ trách nhiệm to lớn của mình trong việc mau chóng khôi phục lại nền kinh tế, cải thiện đời sống và bồi dưỡng lực lượng của nhân dân”.

Ngày 18/7/1960, Bác đi thăm huyện Quảng Xương, một huyện nghèo nhất tỉnh Thanh Hoá, thăm trại nuôi dưỡng thương binh và trại an dưỡng của cán bộ miền Nam tập kết. Cùng ngày, trên báo “Nhân Dân” đăng bài “Nhà máy giúp đỡ nông thôn” nêu rõ mối quan hệ cần có giữa giai cấp công nhân với quảng đại quần chúng nông dân.

Bài báo cũng lưu ý: “Về phía nông thôn thì tuyệt đối không nên có tâm lý ỷ lại, cái gì cũng chờ Chính phủ, hoặc các đoàn thể giúp”. 

Tháng 7/1967, ghi nhận câu chuyện, Bác Hồ quan tâm đến điều kiện trực chiến của đơn vị phòng không bố trí trên nóc Hội trường Ba Đình nên đã cử cán bộ của mình lên khảo sát. Bác đã quyết định rút hết số tiền tiết kiệm mình đang có để chuyển cho quân đội bổ sung các thứ giải khát cho bộ đội trực chiến.

X&N
bee.net.vn

Người phương Tây cuối cùng được phỏng vấn Bác Hồ

Sinh ngày 17/9/1920, Charles Fourniau đỗ thạc sĩ năm 1949 và tiến sĩ sử học năm 1983 với luận án Cuộc chinh phục Trung Kỳ và Bắc Kỳ 1885-1896 (La conquête de l’Annam et du Tonkin 1885-1896). Phần lớn thời gian được ông dành để nghiên cứu lịch sử Việt Nam thời cận đại. Ông đã viết nhiều sách như: Trung Kỳ – Bắc Kỳ 1885-1896: Sĩ phu và nông dân Việt Nam đối đầu với cuộc chinh phục thực dân (Annam – Tonkin 1885-1896: Lettrés et paysans viêtnamiens face à la conquête coloniale ) (1989); Việt Nam: Sự thống trị thuộc địa và cuộc kháng chiến dân tộc 1858-1914 (Vietnam: domination coloniale et résistance nationale 1858-1914) (2002).

TS. Phan Văn Hoàng (nguyên Tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử TP.HCM):

Một đồng nghiệp của báo L’Humanité (cơ quan của Đảng Cộng sản Pháp) báo tin buồn: Giáo sư Charles Fourniau, một người bạn lớn của Việt Nam, qua đời ngày 21/4/2010 ở tuổi 90 tại Paris và được an táng ngày 29/4/2010 tại nghĩa trang La Chaise.

dNhà sử học Charles Fourniau. Nguồn: Internet.

Sinh ngày 17/9/1920, ông đỗ thạc sĩ năm 1949 và tiến sĩ sử học năm 1983 với luận án Cuộc chinh phục Trung Kỳ và Bắc Kỳ 1885-1896 (La conquête de l’Annam et du Tonkin 1885-1896). Phần lớn thời gian được ông dành để nghiên cứu lịch sử Việt Nam thời cận đại. Ông đã viết nhiều sách như: Trung Kỳ – Bắc Kỳ 1885-1896: Sĩ phu và nông dân Việt Nam đối đầu với cuộc chinh phục thực dân (Annam – Tonkin 1885-1896: Lettrés et paysans viêtnamiens face à la conquête coloniale ) (1989); Việt Nam: Sự thống trị thuộc địa và cuộc kháng chiến dân tộc 1858-1914 (Vietnam: domination coloniale et résistance nationale 1858-1914) (2002).

Ông từng chủ trì cuộc hội thảo về lịch sử chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam (tổ chức tại Đại học Provence).

Dưới sự hướng dẫn khoa học của ông, nhiều sinh viên đã trở thành những nhà Việt Nam học có uy tín.

Không chỉ là một nhà sử học uyên thâm, ông còn là một chiến sĩ đấu tranh cho hòa bình.

Là đảng viên Đảng cộng sản Pháp, ông phản đối mãnh liệt cuộc “chiến tranh bẩn thỉu” (la sale guerre) mà thực dân Pháp tiến hành ở Việt Nam sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai.

Sau khi Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam ra đời không bao lâu, ông là một trong những người sáng lập Hội hữu nghị Pháp – Việt (Association d’amitié Franco-Viêtnamienne) (1961), từng làm Tổng thư ký và Chủ tịch của Hội. Năm 1962, Hội xuất bản cuốn Vấn đề Nam Việt Nam (La question du Sud-Vietnam) giúp nhân dân Pháp và thế giới hiểu được cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Miền Nam.

Từ tháng 10/1963 đến tháng 7/1965, ông được báo L’Humanité cử làm phóng viên thường trú ở Hà Nội. Ông tận mắt chứng kiến những trận ném bom dã man của Mỹ và cuộc chiến đấu ngoan cường của nhân dân Việt Nam. Là một nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam, ông nhận thức được truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc ta qua hàng nghìn năm, nên trong những bài báo gửi về Paris, ông khẳng định: Nhân dân Việt Nam cuối cùng sẽ thắng.

Vào thời điểm 1965, nhiều người trên thế giới lo ngại cho một nước nhỏ và nghèo như Việt Nam trước sự tàn phá khủng khiếp của Không lực Hoa Kỳ, nên không phải ai cũng nghĩ như ông. Hiệp định Paris 27/1/1973 và chiến thắng 30/4/1975 cho thấy dự đoán của ông hoàn toàn chính xác.

Ông nhiều lần gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt, ông là người phương Tây cuối cùng phỏng vấn Bác Hồ hai tuần lễ trước khi Người qua đời (1969). Năm sau, ông cùng Léo Figuères biên tập cuốn Hồ Chí Minh, đồng chí của chúng ta (Hô Chi Minh, notre commarade).

Sau ngày Việt Nam hòa bình và thống nhất, Hội hữu nghị Pháp – Việt tiếp tục hoạt động cho sự hợp tác nhiều mặt giữa hai nước.

Ở tuổi 83, ông cho xuất bản cuốn hồi ký Việt Nam mà tôi đã thấy 1960-2000 (Le Viêtnam que j’ai vu 1960-2000).

dBìa quyển sách Việt Nam mà tôi đã thấy 1960-2000
(Vietnam: domination coloniale et résistance nationale 1858-1914).

Charles Fourniau qua đời, nhân dân Việt Nam mất một người bạn thủy chung, giới sử học Việt Nam mất một đồng nghiệp khả kính.

Xin chúc ông an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng.

TS ALAIN RUSCIO (Nhà Việt Nam học của Pháp):

Charles Fourniau là một nhà sử học được nhiều đồng nghiệp biết tên tuổi, nhưng ông còn là một người có niềm tin vững chắc, là nhà sáng lập Hội Hữu nghị Pháp – Việt (AAFV) mà ông từng giữ chức vụ Tổng thư ký trong một thời gian dài. Ông vừa qua đời ở tuổi 89, để lại một khoảng trống mà với thời gian, chúng ta sẽ ngày càng thấm thía.

Trong cuộc chiến tranh của Pháp ở Đông Dương, ông là một chiến sĩ của phong trào Hòa bình, bắt đầu dấn thân vào việc bảo vệ dân tộc Việt Nam dũng cảm. Sau đó, trong cuộc chiến tranh của Mỹ – màn thứ hai của cuộc xâm lược từ phương Tây, ông sang Việt Nam lần đầu tiên. Khi trở về Pháp, ông đã bị dân tộc Việt Nam chinh phục: ông đã có một sự lựa chọn dứt khoát cho cả đời mình.

dBìa quyển sách Trung Kỳ – Bắc Kỳ 1885-1896: Sĩ phu và nông dân Việt Nam đối đầu với cuộc chinh phục thực dân (Annam – Tonkin 1885-1896: Lettrés et paysans viêtnamiens face à la conquête coloniale).

Hai năm sau, ông trở lại đất nước này với tư cách là một nhà báo. Tờ L’ Humanité (cơ quan ngôn luận của Đảng cộng sản Pháp) yêu cầu ông sang đó làm phóng viên thường trú của báo. Ở đó, ông tự hào được gần gũi các nhà lãnh đạo của nước này, được tiếp xúc với Hồ Chí Minh, trở thành một người thân cận của Người và là người nước ngoài cuối cùng được gặp Người (trước khi Người qua đời).

Ông là một trong những người đầu tiên chứng kiến tận mắt việc Mỹ leo thang chiến tranh. Ông thường kể lại bài báo đầu tiên ông gửi về cho báo L’ Humanité năm 1965 sau những trận ném bom ồ ạt của Mỹ. Trong bài báo ấy, ông dự đoán rằng cuối cùng Việt Nam sẽ chiến thắng. Lúc đó, sự chênh lệch về lực lượng (giữa Việt Nam và Mỹ) quá lớn khiến tòa soạn ở Paris phải do dự một lúc trước khi cho đăng. Mười năm sau, Việt Nam thống nhất và độc lập. Chính kiến thức của một nhà sử học đã giúp ông nhìn xa hơn những gì đang diễn ra trước mắt.

Charles Fourniau là một trong những người đầu tiên tự hỏi về nguồn gốc của sức đề kháng độc đáo của dân tộc này (ông rất ghét gọi nước này là một nước “nhỏ”).

Và ông đã tìm thấy câu trả lời từ trong lịch sử Việt Nam, chẳng hạn khái niệm “chiến tranh toàn dân” đã bén rễ từ nhiều thế kỷ qua trong tâm trí người Việt Nam, từ nhà vua đến người làm ruộng, trong vô số những cuộc chiến tranh tự vệ chống lại người Trung Quốc, rồi trong cuộc kháng chiến chống lại sự chinh phục của thực dân Pháp (mà ông lấy làm đề tài cho luận án tiến sĩ của ông). Ông giải thích: Rốt cuộc, ở thế kỷ XX, tướng Giáp chỉ đơn giản sử dụng lại những truyền thống cổ xưa này, đồng thời thêm vào đó nét thiên tài của chính ông.

Ông có một đức tính đặc biệt mà những người ở gần ông đều biết rất rõ: ông là một người truyền đạt kiến thức giỏi, một ông thầy dạy hay. Ông hướng dẫn nhiều thế hệ sinh viên. Họ nghe ông giảng, chia sẻ nhiệt tình của ông và sau đó trở thành những nhà Việt Nam học có tên tuổi.

“Trong nhiều năm, tên tuổi của ông đã gắn liền với cuộc đấu tranh vì tự do của nhân dân Việt Nam”

Marie – George Buffet, Bí thư toàn quốc Đảng cộng sản Pháp

Nhà khoa học này là một người dấn thân. Ông là một nhà thông thái, đồng thời cũng là một nhà tranh đấu. Tất cả ở ông là sự kết hợp hài hòa hai từ này mà ông không muốn tách rời nhau. Ông có thể đọc một bản tham luận xuất sắc tại một cuộc hội thảo quốc tế và ngay trong tuần lễ đó, nhân dân Hội Hữu nghị Pháp – Việt mà ông quý mến, ông đi dự một cuộc họp mặt của làng hay của khu phố.

Là một trí thức cộng sản, ông có những xác tín cơ bản – mà có người cho là quá thẳng – song ông không tìm cách che giấu rằng trong đó có những vấn đề và những hoài nghi mang tính phê phán gay gắt. Có lẽ ông có cả hai nét này nhờ ông hiểu một cách sâu sắc cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh.

Mong bà Paulette và năm người con của ông – mà trước đây ông đã đưa sang Việt Nam cùng ông – cùng các cháu mà ông yêu quý, hãy nhận những lời phân ưu chân thành của tất cả những người yêu mến Charles của họ mà cũng là một phần của chúng tôi.

(Bài đăng trên website http://www.humanite.fr V.H. dịch)

GS Nguyễn Văn Hoàn
:

Tôi quen Fourniau từ năm 1963, năm ông sang Hà Nội làm việc. Tôi quen toàn bộ gia đình, cả vợ và con Fourniau. Sau này, lần nào qua Ý, tôi cũng ghé ở nhà ông ấy. Khi Fourniau về hưu, có một hội nghị khoa học về ông, tôi có viết bài.

dĐại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp Nhà sử học Charles Fourniau (người ngồi bên phải) tại nhà riêng. Ảnh: Nguyễn Văn Kự.

Đó là một con người làm việc nghiêm túc, đến nơi đến chốn, một người Pháp thân tình thực sự với Việt Nam. Một lần, ông đến Vân Kiều, một vùng dân tộc thiểu số ở Vĩnh Linh, họ rất ngạc nhiên thấy một “ông Tây” hiền và tốt đến như vậy. Tôi nói với ông điều đó, và ông, với vẻ mặt buồn buồn, nói: “Nếu tôi có thể gây một ấn tượng tốt cho người Việt Nam (khác với những người Pháp thực dân) thì tôi rất hạnh phúc”.

Tại đại hội Đảng bộ Vĩnh Linh, một đại biểu người Vân Kiều nói: “Ngày xưa, gặp một người Kinh ở trong rừng thôi, tôi đã bỏ chạy. Nay ngồi cạnh một ông Tây mà tôi rất an tâm, tự hào, vì tôi tin tưởng ở Bác Hồ”. Cả hội trường vỗ tay như sấm. Fourniau sung sướng khi nghe dịch lại.

Từ thời sinh viên cho đến lúc mất, Fourniau là một người bạn chí tình của Việt Nam. Từ Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng… đều có “biệt nhỡn” đối với ông. Giới học giả như Trần Huy Liệu, Nguyễn Khánh Toàn, Đặng Thai Mai, Cao Xuân Huy, Phạm Thiều… đều gặp và nói chuyện trực tiếp với ông bằng tiếng Pháp. Ông cũng thân thiết với Võ Nguyên Giáp. Ông thường đến thăm Võ Nguyên Giáp, nói chuyện bằng tiếng Pháp với Võ Nguyên Giáp.

Những tác phẩm sử học của ông rất nghiêm túc về công tác tư liệu. Khi làm phóng viên tại Hà Nội, ông đã tìm các tư liệu về lịch sử cận đại Việt Nam và tôi đã giúp ông tìm các tư liệu lịch sử chưa in như Gia phả Nguyễn Quang Bích và Ngọ Phong thi tập. Sau đó, ông nhờ Cao Xuân Huy, Phạm Thiều giảng lại từng câu. Ông vào thăm chiến khu Ba Đình – Thanh Hóa và ghi âm bài vè Ba Đình rồi dịch toàn văn ra tiếng Pháp. Trung tâm lưu trữ ở Aix en Provence coi ông như người nhà, và ông đã giới thiệu tôi đến đó đọc tư liệu và photocoppy miễn phí.

aBìa quyển sách Việt Nam: Sự thống trị thuộc địa và cuộc kháng chiến dân tộc 1858-1914 (Vietnam: domination coloniale et résistance nationale 1858-1914)

Suốt đời ông gắn bó với Hội hữu nghị Việt – Pháp, từ cương vị Tổng thư kí đến cương vị Chủ tịch đại diện lúc cuối đời. Ông thuộc diện người Pháp hết lòng với Việt Nam. Như Henry Martin, Raymon Dienne, Madelain Rifaud…, những người bị bọn xấu cho là cuồng tín. Ông sống suốt đời vì Việt Nam với trái tim chân thành, công khai chống lại cuộc “chiến tranh bẩn thỉu” ở Việt Nam.

Ông là một trong nhóm phóng viên nước ngoài chịu đựng cuộc ném bom của Mỹ xuống Đồng Hới ngày 11/2/1965. Ông đã ở đó cùng với đứa con trai lớn nhất của mình 11 tuổi.

Nhóm phóng viên đó, trong đó có phóng viên Liên Xô, gửi về sứ quán Liên Xô rồi từ đó gửi về Mạc Tư Khoa rồi gửi về Pháp một bức điện: “Chúng tôi đã chứng kiến cảnh Mỹ ném bom Đồng Hới tại Việt Nam, một máy bay Mỹ bị bắn hạ và một phi công Mỹ đã bị bắt”. Vợ ông ở Paris đọc tin ấy phát hoảng: “Ông muốn làm gì thì làm, nhưng ông hãy trả con về cho tôi”. Và ông đã gửi con về Paris qua ngã Praha. Đó là một người “dấn thân” vào cuộc chiến tranh chính nghĩa của Việt Nam.

Một hôm, Thủ tướng Phạm Văn Đồng mời cả nhà ông đến ăn cơm, một lát thì Bác Hồ xuất hiện. Cô con gái lớn của ông xúc động, xin phép hôn Bác Hồ. “Khi Hồ Chí Minh vào phòng, con có cảm tưởng cả phòng sáng rực lên”. Từ đó, cả nhà gọi Bác Hồ là L’oncle Hồ. Ông cũng là người vinh dự được Bác Hồ tiếp trước khi Bác mất một tuần. Đó là điều vừa tự hào vừa đau buồn sâu sắc đối với ông.

Theo Tạp chí Hồn Việt
bee.net.vn

Thư gửi đồng bào các tỉnh bị bão lụt ở miền Nam (17-11-1964)

Thân ái gửi đồng bào các tỉnh bị bão lụt ở miền Nam,

Vừa qua, mấy tỉnh miền Nam bị bão lụt dồn dập. Hàng nghìn đồng bào bị hy sinh. Hàng vạn nhà cửa bị đổ nát. Làng mạc xơ xác, vườn ruộng tơi bời.

Máu chảy ruột mềm, được tin tức đó, tôi và toàn thể đồng bào miền Bắc rất là đau xót như muối xát vào lòng.

Hội chữ thập đỏ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chuẩn bị gửi tặng đồng bào bị nạn một số gạo, vải và thuốc gọi là no đói có nhau, sẻ cơm nhường áo.

Đồng bào ta sẵn có truyền thống anh hùng, không vì tai hoạ mà nản chí. Tôi chắc rằng đồng bào sẽ đoàn kết chặt chẽ, giúp đỡ lẫn nhau, anh dũng vượt mọi khó khǎn, mau chóng hàn gắn vết thương do bão lụt vừa qua gây nên, ổn định đời sống. Đồng thời đồng bào sẽ ra sức cùng toàn thể nhân dân miền Nam kề vai sát cánh tiếp tục cuộc đấu tranh gian khổ và tất thắng để giải phóng miền Nam, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc, Bắc Nam sum họp một nhà.

Hồ Chí Minh

—————–

Báo Nhân dân,số 3883, ngày 17-11-1964.
cpv.org.vn

Bài nói tại Hội nghị quốc tế đoàn kết với nhân dân Việt Nam chống Mỹ và bảo vệ hoà bình (30-11-1964)

Thưa các bạn và các đồng chí thân mến,

Hội nghị quốc tế đoàn kết với nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược, bảo vệ hoà bình đã thành công rất tốt đẹp. Từ khắp nǎm châu đến Thủ đô Hà Nội chúng tôi, các bạn và các đồng chí đã mang đến cho nhân dân Việt Nam cả hai miền Nam Bắc, tình đoàn kết chiến đấu vô cùng quý báu của nhân dân tiến bộ và yêu chuộng hoà bình toàn thế giới.

Tiếng nói mạnh mẽ của Hội nghị là tiếng nói của chính nghĩa, của hàng nghìn triệu con người đang quyết tâm đấu tranh cách mạng, chống chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ, để bảo vệ hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Nghị quyết của Hội nghị ủng hộ nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược là một sự cổ vũ to lớn đối với cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân miền Nam Việt Nam và đối với cuộc đấu tranh để hoà bình thống nhất nước nhà của nhân dân Việt Nam chúng tôi. Tôi xin thay mặt đồng bào cả nước chúng tôi trân trọng cảm ơn các bạn và các đồng chí.

Tôi tin chắc rằng: Với sự ủng hộ nhiệt tình của nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa, nhân dân các nước châu á, châu Phi, châu Mỹ latinh, nhân dân tiến bộ Mỹ và các nước khác, đồng bào miền Nam chúng tôi sẽ chiến đấu mạnh mẽ hơn nữa chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Miền Nam Việt Nam nhất định sẽ được giải phóng. Cuộc đấu tranh thiêng liêng để thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà của nhân dân Việt Nam chúng tôi nhất định sẽ thắng lợi hoàn toàn.

Nhân đây, tôi xin ngỏ vài lời cùng nhân dân Mỹ: nhân dân Việt Nam rất yêu chuộng hoà bình, nhưng quyết không chịu làm nô lệ. Đế quốc Mỹ hiếu chiến và xâm lược là kẻ thù của chúng tôi, cũng là kẻ thù của các bạn và của toàn thể loài người. Chúng tôi mong rằng nhân dân tiến bộ Mỹ sẽ kiên quyết đấu tranh hơn nữa đòi Chính phủ Mỹ phải thi hành đúng Hiệp định Giơnevơ nǎm 1954 về Việt Nam, phải chấm dứt ngay cuộc chiến tranh xâm lược đầy tội ác ở miền Nam Việt Nam và mọi hành động khiêu khích và gây chiến đối với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đối với Lào và Campuchia.

Hội nghị quốc tế lần này đã ra một nghị quyết rất quan trọng ủng hộ phong trào đấu tranh vĩ đại của nhân dân tất cả các nước, nhất là ở châu á, châu Phi và châu Mỹ latinh, chống chủ nghĩa đế quốc thực dân, bảo vệ hoà bình thế giới. Hội nghị lịch sử này là kết tinh của mặt trận nhân dân toàn thế giới đoàn kết đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc thực dân, nhất là đế quốc Mỹ.

Tôi tin chắc rằng: sau Hội nghị quốc tế này, tình đoàn kết vĩ đại và làn sóng đấu tranh của nhân dân toàn thế giới chống chủ nghĩa đế quốc thực dân sẽ dâng cao hơn nữa, mạnh mẽ hơn nữa, giành được nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa.

Mỗi thắng lợi của nhân dân thế giới là một thắng lợi của nhân dân Việt Nam. Và mỗi thắng lợi của nhân dân Việt Nam cũng là một thắng lợi của nhân dân thế giới.

Một lần nữa tôi xin cảm ơn các bạn và các đồng chí.

Chúng ta cùng hô to:

Mặt trận nhân dân toàn thế giới chống chủ nghĩa đế quốc thực dân đứng đầu là Mỹ, vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội muôn nǎm!

Nói ngày 30-11-1964.

—————

Báo Nhân dân, số 3897, ngày 1-12-1964.
cpv.org.vn

Chi bộ tốt thì hợp tác xã tốt (4-12-1964)

Nói về hợp tác xã nông nghiệp, Thái Nguyên là một trong những tỉnh khá. Nhưng Võ Nhai là một huyện kém nhất ở Thái Nguyên: lúc đầu 85% nông hộ vào hợp tác xã, về sau tụt xuống 24%. Vì sao?

Chi bộ xã Hoà Bình đã thật thà trả lời câu hỏi đó.

Nǎm 1960, ở xã Hoà Bình, 80% nông dân đã vào hợp tác xã. Nhưng cuối nǎm 1963, thì chỉ còn lại non 40% số xã viên!

Nhờ Khu uỷ Việt Bắc và Tỉnh uỷ Thái Nguyên kiên trì giúp đỡ, chi bộ Hoà Bình đã thật thà tự phê bình và thấy rõ mình đã phạm những khuyết điểm sau đây:

– Trong chi bộ từ bí thư, thường vụ cho đến đảng viên không đoàn kết nhất trí.

– Cán bộ và đảng viên không gương mẫu. Thậm chí có cán bộ và đảng viên xin ra hợp tác xã.

– Ba nǎm liền, lãnh đạo không dân chủ, tài chính không công khai. Mức sản xuất không tǎng thêm. Đời sống của xã viên không cải thiện. Vì vậy mà xã viên thắc mắc, không đoàn kết, không phấn khởi làm ǎn và xin ra hợp tác xã .

Khi tất cả cán bộ và đảng viên đã sâu sắc nhận thấy sai lầm của mình, mọi người đều hối hận và quyết tâm sữa chữa. Thay mặt cho chi bộ, đồng chí bí thư đã thành khẩn nói: “Để cho hợp tác xã sút kém như vậy, là chi bộ ta đã có tội lớn đối với Đảng, với nhân dân! Mà người có tội lớn nhất là tôi, bí thư chi bộ…”.

Cái ba lô cá nhân chủ nghĩa đã quẳng được rồi, tinh thần trách nhiệm đã được phổ biến, toàn thể đảng viên đồng tâm nhất trí, ra sức củng cố và phát triển hợp tác xã. Chi bộ khai hội với nhân dân, thật thà tự phê bình trước quần chúng. Rồi gợi ý cho bà con tự do bàn bạc về hai con đường phát triển nông thôn, đường tư bản chủ nghĩa và đường xã hội chủ nghĩa.

Bà con nông dân chẳng những hoan nghênh thái độ chân thành của cán bộ và đảng viên mà còn thật thà nói ra những khuyết điểm của bản thân họ và tố cáo những người xấu đã xúi giục họ đi vào con đường sai lầm.

Từ đó, mọi người thấm nhuần tinh thần làm chủ tập thể, phấn khởi lao động, mọi việc đều đổi mới như hoa nở mùa xuân. Chi bộ được củng cố và phát triển, đã kết nạp thêm bốn đảng viên mới và chuẩn bị kết nạp tám đảng viên nữa, lựa chọn trong những thanh niên xuất sắc nhất. Đảng viên đều đǎng ký thi đua “bốn tốt”.

Nhóm hợp tác xãcũ đã được củng cố và phát triển thêm một hợp tác xã mới. Số xã viên từ 40% lên gần 90%.

Sản lượng cũng tǎng nhiều. Vụ mùa vừa rồi bình quân mỗi mẫu vượt mức kế hoạch 50 cân, hơn vụ mùa nǎm ngoái 130 cân.

Các xã viên hǎng hái làm thuỷ lợi, trữ phân bón, nung vôi để cải tạo đất, v.v. quyết tâm giành một vụ chiêm thắng lợi.

Chi bộ đã ra sức xây dựng dân quân. Hiện nay cả xã đã có ba trung đội vững mạnh, đều do các đồng chí chi ủy làm chính trị viên.

Việc trên đây chứng tỏ rằng hợp tác xã kém vì chi bộ kém. Chi bộ khá thì hợp tác xã khá. Chi bộ Hoà Bình đã thu được những kết quả bước đầu tốt đẹp và đáng khen. Cần phải tiếp tục cố gắng hơn nữa để giành thắng lợi to hơn nữa. Các đảng bộ xã Liên Minh, Dân Tiến, Phú Thượng, Sáng Mộc cũng khá.

Trong thời kỳ cách mạng và những nǎm kháng chiến đánh Tây, đồng bào Võ Nhai đã rất dũng cảm. Ngày nay chúng ta đang ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và ủng hộ đồng bào miền Nam chống đế quốc Mỹ, đồng bào Võ Nhai cần phải góp phần xứng

đáng vào công cuộc vẻ vang đó. Các chi bộ và các hợp tác xã khác ở Võ Nhai cần phải học tập và thi đua với chi bộ và hợp tác Hoà Bình. Phải làm cho Võ Nhai từ một huyện kém trở nên một huyện tốt.

Võ Nhai cố gắng vươn lên!

T.L.

———————–

Báo Nhân dân, số 3900, ngày 4-12-1964.
cpv.org.vn

Điện mừng (8-12-1964)

Kính gửi đồng chí Antônin Nôvốtni, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Tiệp Khắc, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc,

Praha

Nhân dịp mừng lần thứ 60 ngày sinh của đồng chí, tôi xin gửi đến đồng chí lời chào thân ái và lời chúc mừng tốt đẹp nhất.

Tôi chân thành chúc đồng chí luôn luôn mạnh khoẻ để cùng với Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản và Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc lãnh đạo nhân dân Tiệp Khắc anh em thu được nhiều thắng lợi to lớn trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, góp phần củng cố phe xã hội chủ nghĩa, bảo vệ hoà bình ở châu Âu và thế giới.

Chúc tình hữu nghị và sự hợp tác anh em giữa nhân dân hai nước chúng ta ngày càng củng cố và phát triển.

Hà Nội, ngày 8tháng 12 nǎm 1964
Hồ Chí Minh

———————–

Báo Nhân dân,số 3923, ngày 27-12-1964.
cpv.org.vn