Tag Archive | Thời sự

Bài nói với nhân dân và cán bộ tỉnh Hà Bắc (17-10-1963)

Đồng bào thân mến,

Nhân dịp về dự Đại hội Đảng tỉnh ta, Bác thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ thân ái hỏi thǎm đồng bào và cán bộ, đồng bào các dân tộc miền núi, các đồng chí bộ đội, công an và dân quân, các chiến sĩ thi đua và công nhân các xí nghiệp, các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng, các cô giáo, thầy giáo và các cháu học sinh.

Trước đây hai nǎm rưỡi (6-4-1961), Bác đã về thǎm và nói chuyện với đồng bào ở đây. Lần này Bác về thǎm, tỉnh nhà có một sự biến đổi rất quan trọng và rất tốt đẹp. Đó là việc hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh hợp thành một tỉnh lớn hơn, người đông hơn, sức mạnh hơn, của nhiều hơn. Hà Bắc đã thành một trong những tỉnh to nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đó là một vinh dự cho đồng bào tỉnh ta. Để xứng đáng với vinh dự đó, đồng bào và cán bộ phải ra sức thi đua sửa chữa khuyết điểm và phát huy ưu điểm.

Về ưu điểm.Từ ngày hai tỉnh hợp thành một tỉnh lớn, đồng bào và cán bộ đã cố gắng trong việc sản xuất vụ mùa,đã ra sức chống hạn, đã chống úng cứu được 7.000 mẫu tây lúa, đã trừ sâu bệnh cho 4.000 mẫu tây. Việc làm cỏ, bón phân cũng khá hơn trước. Trong một tháng qua đã làm được 45 vạn thước khối thuỷ lợi.

Vềviệc cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật. Đã làm đợt 1 với 114 hợp tác xã và đang bắt đầu đợt 2 với 224 hợp tác xã. Vì sao Bác không nói “làm xong” đợt 1? Bởi vì trong đợt 1 có 60 hợp tác xã làm khá, 40 hợp tác xã vừa, phải cố gắng tiến lên nữa. Còn 14 hợp tác xã làm kém, thì phải tiếp tục làm cho tốt.

Cải tiến hợp tác xã cũng như tu bổ một ngôi nhà. Phải cố gắng tu bổ cho thật tốt thì ngôi nhà mới đẹp đẽ, chắc chắn, vững bền. Nếu làm qua loa, thì ngôi nhà sẽ xấu xí, ọp ẹp mãi. Đồng bào và cán bộ cần phải rút kinh nghiệm trong đợt 1 và đợt 2 và cải tiến hợp tác xã cái nào phải làm cho thật tốt cái ấy.

Về vǎn hoá giáo dục. Tỉnh ta có: Các trường phổ thông nông nghiệp với 5.000 học sinh, Trường thanh niên các dân tộc với 200 học sinh vừa học tập vừa lao động sản xuất để tự túc. Đó là một cách giáo dục rất tốt, nên phát triển thêm. Học sinh các trường khác cũng có tham gia lao động. Có 8 vạn người học bổ túc vǎn hoá. Nạn mù chữ đã xoá xong. Nǎm học này, các cô giáo, thầy giáo và các cháu học sinh đang thi đua dạy tốt và học tốt. Thế là tốt và đáng khen. Bác khuyên các trường chú ý dạy cho học sinh nhiều hơn nữa về đạo đức cách mạng. Bác khuyên các cháu thanh niên và nhi đồng thi đua thực hiện “5 tốt” (đoàn kết tốt, học tập tốt, lao động tốt, kỷ luật tốt, vệ sinh tốt).

Về trật tự trị an. Các đồng chí bộ đội, công an và dân quân biết dựa vào lực lượng nhân dân và ra sức giữ gìn trật tự trị an. Đồng thời cố gắng học tập và tham gia lao động sản xuất. Bác có lời khen và khuyên các đồng chí phải luôn luôn nâng cao cảnh giác và sẵn sàng chiến đấu, đập tan mọi âm mưu của địch.

Trên đây là tóm tắt một số ưu điểm của đồng bào và cán bộ tỉnh ta.

Để làm cho tỉnh ta ngày càng giàu có, nhân dân ngày thêm ấm no, đồng bào và cán bộ phải ra sức phát triển những ưu điểm nói trên và càng phải ra sức sửa chữa những khuyết điểm dưới đây:

Mấy nǎm qua, nǎng suất lúa sụt dần và kém thua nǎng suất trung bình cả miền Bắc. Mỗi mẫu tây nǎm 1960 là hơn 18 tạ 36; nǎm 1961 là hơn 16 tạ 50; nǎm 1962 là hơn 17 tạ 53.

Ở miền Bắc, bình quân diện tích trồng hoa màu là 22%, trồng cây công nghiệp là 12%, mà ở tỉnh nhà thì hoa màu chỉ đạt hơn 16% và cây công nghiệp 5%.

Về chǎn nuôi.Phát triển chậm và có thứ còn giảm sút:

So với 1960, trâu có tǎng 2,8%; lợn chỉ tǎng 5,8%; bò chỉ đạt độ 76%.

Vì phát triển hoa màu ít mà ảnh hưởng đến chǎn nuôi. Vì chǎn nuôi kém mà phân bón ít, lại vì phân bón ít mà sản lượng lúa và hoa màu giảm sút.

Thuỷ lợi trước kia làm kém. Gần đây có tiến bộ, nhưng vẫn lãng phí nhiều. Muốn làm thuỷ lợi tốt thì phải tổ chức nhữngđội thuỷ lợi chuyên nghiệp của hợp tác xã. Các tỉnh khác đã làm như vậy và kết quả rất tốt. Hiện nay tỉnh ta mới vẻn vẹn có 33 đội. Vì sao mà tỉnh ta chậm chạp như vậy? Vì sao thấy kinh nghiệm tốt mà không học, thấy việc có lợi mà không làm?

Việc trồng cây, gây rừng. Cây và rừng là nguồn lợi lớn. Nhưng trồng cây nào phải chǎm nom cho tốt cây ấy. Nếu để cây khô héo thì trồng nhiều mấy cũng như không. Tục ngữ ta có câu “Rừng vàng biển bạc”. Gây rừng và bảo vệ rừng là rất cần thiết. Hiện nay tỉnh ta còn có cái tệ phá rừng, thế thì khác nào đem vàng đổ xuống biển? Đồng bào và chính quyền phải nghiêm khắc ngǎn ngừa tệ hại ấy.

Tỉnh ta có hơn 13 vạn rưỡi mẫu tây đồi. Nếu đồng bào có biện pháp và có quyết tâm trồng cây cho tốt thì trong 5-7 nǎm sau, những quả đồi ấy sẽ là những đống tiền bạc vô tận.

Sẵn đây Bác kể vài chuyện gương mẫu về trồng cây gây rừng cho đồng bào nghe:

Cụ Nông Vǎn Mun, 83 tuổi, ở Nghệ An, đã trồng được hơn 500 cây. Cụ Nguyễn Chung, 65 tuổi, ở Phú Thọ, đã trồng ngót 1 vạn cây các loại trên đồi. Đoàn viên thanh niên Cao Xuân Nhị, 22 tuổi, ở Vĩnh Phúc, tuy mù hai mắt, nǎm ngoái đã trồng được hàng nghìn cây, nǎm nay đã trồng thêm được 4.000 cây.

Nếu ở Hà Bắc các cụ phụ lão cũng làm được như các cụ Mun, cụ Chung; và thanh niên dám thi đua với đồng chí Nhị, thì hơn 13 vạn mẫu tây đồi của Hà Bắc sẽ thành những rừng cây xanh tươi, tốt đẹp.

Củng cố hợp tác xã nông nghiệp. Như đã nói trên, cuộc vận động “cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật” phải làm cho thật tốt. Đó là lợi ích thiết thân của đồng bào nông dân nói riêng và của toàn dân nói chung. Trong kế hoạch vận động đã nói rõ ràng, đầy đủ. Đây Bác chỉ nhấn mạnh vài điểm: ở các hợp tác xã, lãnh đạo phải thật sự dân chủ,tài chính phải thật sự công khai. Phải tẩy sạch tệ tự tư tự lợi, lãng phí, tham ô. Phải nâng cao ý thức của các xã viên “hợp tác xã là nhà, xã viên là chủ”. Phải làm cho cán bộ và xã viên phấn khởi và vui vẻ thực hiện khẩu hiệu “cần kiệm xây dựng hợp tác xã”. Phải tiếp tục chǎm sóc lúa mùa, ra sức chống nạn sâu, chuột, phòng hạn những ruộng cấy muộn. Chuẩn bị đầy đủ để gặt lúa mùa cho nhanh, gọn, tốt. Chuẩn bị cho tốt vụ Đông – Xuân. Làm mọi biện pháp để giành vụ mùa này và vụ Đông – Xuân tới đạt được thắng lợi.

Đồng bào nông dân cần biết rằng: mỗi nǎm Nhà nước phải tiêu hàng chục triệu đồng để xây dựng thuỷ lợi, làm phân hoá học, làm thuốc trừ sâu, v.v. để phục vụ nông nghiệp. Vì vậy, đồng bào nông dân phải hǎng hái làm trọn, làm tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước, như trả nợ cho ngân hàng, bán lương thực và lâm thổ sản, v.v. cho Nhà nước.

Công nghiệp.ở tỉnh ta có xí nghiệp địa phương. Nhà nước thì đang xây dựng nhà máy phân đạm. Công nghiệp của tỉnh cần có phương hướng sản xuất rõ ràng đúng đắn, đặc biệt là phải chú trọng phục vụ nông nghiệp; phải nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành. Nhà máy phân đạm phải làm đúng kế hoạch Nhà nước. Công nhân và cán bộ phải nâng cao tinh thần làm chủ.

Thủ công nghiệp.Tỉnh ta có 2 vạn đồng bào làm nghề thủ công, 80% đã vào hợp tác xã. Về tổ chức như thế là khá. Nhưng về mặt sản xuất thì còn kém, nhiều hàng hoá phẩm chất xấu, giá thành cao. Vì vậy mà hàng ế, xã viên thu nhập bấp bênh. Đó là vì quản lý chưa tốt. Cán bộ lãnh đạo cần phải giúp chỉnh đốn các hợp tác xã đó cho tốt.

Thuần phong mỹ tục. Nước ta là một nước xã hội chủ nghĩa. Trong nước xã hội chủ nghĩa thì mọi người công dân phải có đạo đức xã hội chủ nghĩa, tức là đoàn kết chặt chẽ, tǎng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm; ra sức góp phần làm cho nước mạnh dân giàu, phát triển thuần phong mỹ tục. Vì vậy, phải chấm dứt những tệ nạn xấu xa do xã hội cũ để lại, như lười biếng, cờ bạc, tệ nấu rượu lậu, buôn gian bán lận, tiêu xài xa xỉ, gả bán cưỡng ép, v.v.. Chúng ta phải thực hiện nếp sống mới, lành mạnh, vui tươi, một nếp sống xã hội chủ nghĩa.

Ba cuộc vận động lớn. Đảng và Chính phủ đã đề ra ba cuộc vận động lớn là:

– Cuộc vận động “cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật, nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc”,

– Cuộc vận động “3 xây, 3 chống” tức là “nâng cao tinh thần trách nhiệm, tǎng cường quản lý kinh tế tài chính, cải tiến kỹ thuật; chống tham ô, lãng phí, quan liêu”.

– Cuộc vận động “đồng bào miền xuôi đi tham gia phát triển kinh tế và vǎn hoá ở miền núi”.

Đồng bào và cán bộ Hà Bắc phải cố gắng làm tốt ba cuộc vận động ấy.

Để sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm, đồng bào các dân tộc phải nâng cao ý thức làm chủ và tinh thần cần kiệm xây dựng nước nhà. Cán bộ phụ trách các ngành từ tỉnh đến xã phải đi sâu, đi sát đến cơ sở, phải thật sự quan tâm đến đời sống của nhân dân, đặc biệt là quan tâm đến đồng bào dân tộc ít người. Phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân.

Tỉnh ta hiện nay có hơn 23.000 đảng viên và 34.000 đoàn viên thanh niên lao động. Đó là một đội quân chủ lực hùng mạnh để đẩy mạnh mọi công tác. Mỗi đảng viên và đoàn viên phải ra sức làm trọn nhiệm vụ Đảng và Chính phủ giao cho, phải xung phong gương mẫu trong lao động, trong học tập, trong sản xuất và tiết kiệm. Phải ra sức giúp đỡ đồng bào cùng tiến bộ.

Đảng viên và đoàn viên nào còn lười biếng lao động, trốn tránh nghĩa vụ, thiếu đạo đức cách mạng, nêu gương xấu trong nhân dân, thì phải quyết tâm sửa đổi để trở thành đảng viên và đoàn viên tốt.

Nếu không thì sẽ bị loại ra ngoài phong trào cách mạng.

Đồng bào Hà Bắc sẵn có truyền thống anh dũng trong thời kỳ cách mạng và kháng chiến. Như tiểu đoàn Thiên Đức, đội du kích Tân An, nhân dân Yên Dũng, Gia Lương và nhiều nơi khác, đã đánh nhiều trận diệt giặc lập công cực kỳ oanh liệt.

Hiện nay chúng ta cũng đang kháng chiến chống lại nghèo nàn, lạc hậu, bão lụt, thiên tai. Trong cuộc kháng chiến này, tỉnh ta cũng có những nơi giữ vững truyền thống anh dũng đó và thành những gương mẫu tốt. Ví dụ: hợp tác xã Tân An, hợp tác xã Thanh Phương, hợp tác xã Nhân Định có nhiều ưu điểm về sản xuất, vǎn hoá, vệ sinh; đời sống xã viên được nâng cao, làm tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước; hợp tác xã Trung Hoà thì làm tốt việc cải tạo đất bạc màu, thực hiện luân canh, tǎng vụ, v.v..

Cán bộ cần phải phổ biến và các hợp tác xã khác cần phải học tập những kinh nghiệm tốt ấy và thi đua với Tân An, Thanh Phương, Nhân Định và Trung Hoà, để ngày càng tiến bộ.

Toàn thể đồng bào và cán bộ quyết tâm thi đua làm tốt những điều Bác nói trên thì Hà Bắc sẽ có thể là một trong mấy tỉnh vừa to nhất, vừa tốt nhất ở miền Bắc nước ta. Làm được như vậy là đồng bào Hà Bắc thiết thực đóng góp vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và sự nghiệp hoà bình thống nhất nước nhà.

Cuối cùng, Bác gửi lời hỏi thǎm tất cả đồng bào, bộ đội và cán bộ ở các địa phương và chúc nhân dân tỉnh ta đoàn kết, thi đua, thắng lợi.

Nói ngày 17-10-1963.

————————

Báo Nhân dân,số 3491, ngày 19-10-1963.
cpv.org.vn

Bài nói tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Bắc(17-10-1963)

Các đồng chí,

Bác thay mặt Trung ương thân ái chào mừng Đại hội và cảm ơn các đồng chí chuyên gia Trung Quốc đang hết lòng giúp chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Một số vấn đề, Bác đã nói trong cuộc mít tinh. ở đây, Bác chỉ góp thêm mấy ý kiến để các đồng chí thảo luận.

Tỉnh ta có một vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị và quân sự Đồng thời tỉnh ta có hơn 1 triệu dân. Có 153.000 mẫu tây ruộng. Có nhiều của cải thiên nhiên như gỗ, mỏ than, mỏ đồng, v.v.. Đồng bào tỉnh ta lao động cần cù và có truyền thống anh dũng trong những nǎm cách mạng và kháng chiến.

Thế là Hà Bắc người đông, đất rộng, của nhiều, có điều kiện để trở thành một tỉnh giàu mạnh.

Các đồng chí đều biết rằng: Nǎm 1945, Đảng ta chỉ có non 5.000 đảng viên mà đã lãnh đạo cả nước làm Cách mạng Tháng Tám thành công. Nǎm 1946, lúc đầu Đảng ta chỉ có gần 2 vạn đồng chí mà đã lãnh đạo toàn dân kháng chiến thắng lợi. Có thành tích vĩ đại đó là vì Đảng ta đoàn kết nhất trí, nhân dân ta đoàn kết nhất trí.

Hiện nay tỉnh ta có hơn 23.000 đảng viên và 34.000 đoàn viên thanh niên lao động. Đó là một lực lượng khá to và khá mạnh, một lực lượng nhiều gấp mấy lực lượng của Đảng trong thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám và bắt đầu kháng chiến.

Trong thời kỳ vừa qua, đảng bộ và Đoàn thanh niên Hà Bắc đã có cố gắng và có thành tích. Những thành tích ấy đã nêu rõ trong báo cáo chính trị trước Đại hội, Bác không kể lại nữa mà chỉ nói rằng thành tích đáng lẽ nhiều hơn và to hơn nếu đảng viên và cán bộ thực hiện được những điều sau đây:

Đoàn kết nhất trí: đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công. Đảng ta là một Đảng cách mạng theo chủ nghĩa Mác – Lênin. Tất cả cán bộ và đảng viên phải đặt quyền lợi của Đảng, của giai cấp và của nhân dân lên trên hết, cao hơn hết.

Đảng ta là một Đảng lãnh đạo. Tất cả cán bộ và đảng viên dù ở cương vị khác nhau, làm công tác khác nhau, cũng đều phải đoàn kết nhất trí để làm tròn nhiệm vụ của Đảng giao cho. Ví dụ: trong cái đồng hồ có nhiều máy móc khác nhau, nhưng tất cả các bộ phận đều phải ǎn khớp với nhau, thì đồng hồ mới chạy tốt. Muốn thật sự đoàn kết thì phải có dân chủ thật sự trong Đảng. Phải thường xuyên nghiêm chỉnh phê bình và thật thà tự phê bình để giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm, để cùng nhau tiến bộ. Làm cách mạng thì có đúng có sai. Cố nhiên đúng phải là chính, sai là phụ. Có sai thì chúng ta giúp nhau kiên quyết sửa chữa và cùng nhau hǎng hái tiến lên.

Giữa đảng viên và cán bộ với nhau, phải kiên quyết bỏ hết thành kiến. Thành kiến là một thói xấu, có hại. Do thành kiến mà sinh ra dè dặt với nhau, đối phó với nhau, kèn cựa lẫn nhau. Nó làm cho trống đánh xuôi kèn thổi ngược, nó làm cho công tác bị tê liệt, hư hỏng.

Ngày nay, hai tỉnh mới nhập thành một. Đảng viên và cán bộ hai tỉnh cũ phải tuyệt đối tránh địa phương chủ nghĩa. Không nên nghĩ rằng tỉnh này bị nhập vào tỉnh kia. Sự thật là hai tỉnh sáp nhập với nhau thành một tỉnh lớn của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đó là một sự mở rộng tốt đẹp. Sáp nhập tổ chức là về hình thức. Cần phải nhất trí về tư tưởng, về hành động, về tình cảm. Đồng thời do nhận thức nhất trí về tình hình và nhiệm vụ, nâng cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng và trước nhân dân mà tǎng cường đoàn kết nhất trí – đó là điều chính.

Phải khắc phục bệnh cá nhân chủ nghĩa, bệnh công thần, óc địa vị. Nó đẻ ra nhiều cái xấu như xích mích, kèn cựa giữa cán bộ và giữa đảng viên, không ai phục ai, không giúp đỡ nhau, không cộng tác chặt chẽ với nhau. Bệnh cá nhân còn dẫn đến tệ bảo thủ, quan liêu, tham ô, lãng phí, sợ khó, sợ khổ, thấy khó khǎn thì đâm ra tiêu cực bi quan.

Phải khắc phục những khuyết điểm, sai lầm như cảnh giác cách mạng kém, không tích cực thực hiện đường lối giai cấp của Đảng ở nông thôn, không ra sức bồi dưỡng lực lượng bần nông và trung nông lớp dưới, không chấp hành thật đúng các chính sách của Đảng, v.v..

Công việc ngày càng nhiều và càng phức tạp. Xã hội ngày càng tiến lên. Vì vậy, trình độ của đảng viên và cán bộ cũng phải tiến lên mới làm trọn được nhiệm vụ. Cho nên đảng viên và cán bộ phải cố gắng học tập chính trị, vǎn hóa và chuyên môn.

Tỉnh uỷ cũng phải ra sức chǎm sóc đến cơ sở đảng, phải củng cố chi bộ cho thật tốt. Chi bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt. Hiện nay có 40 chi bộ đạt tiêu chuẩn “4 tốt”. Bác thay mặt Trung ương khen 40 chi bộ ấy và khuyên tất cả các chi bộ khác phải học tập những chi bộ tốt ấy.

Ở Hà Bắc trong 100 người dân mới chỉ có độ hơn 2 đảng viên. Như thế là ít. Cần phải xem công tác củng cố và phát triển đảng là một công tác quan trọng và thường xuyên. Và phải nắm vững phương châm phát triển đảng là trọng chất hơn lượng.

Trong số 23.000 đảng viên chỉ có 1.780 đồng chí gái. Như vậy là quá ít. Cần phải lựa chọn và kết nạp thêm đảng viên phụ nữ và đảng viên các dân tộc miền núi.

Đoàn Thanh niên Lao động công tác khá. Các cấp đảng uỷ cần phải lãnh đạo chặt chẽ và ra sức giúp đỡ Đoàn phát triển cho tốt.

Đảng uỷ từ tỉnh đến xã phải thật sự phụ trách làm ba cuộc vận động cho tốt.

Nói tóm lại: Từ nay phải có một sự chuyển biến mạnh dạn, mới mẻ và vững chắc trong mọi công tác để giành lấy những thắng lợi ngày càng to lớn hơn.

Chúc Đại hội thành công tốt đẹp.

Nói ngày 17-10-1963.

—————————-

Báo Nhân dân, số 3491, ngày 19-10-1963.
cpv.org.vn

Điện mừng (19-10-1963)

Kính gửi ông Apđunlát An Xalan Tổng thống nước Cộng hoà A Rập Yêmen,

Xana

Nhân dịp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nước Cộng hoà A Rập Yêmen chính thức đặt quan hệ ngoại giao và trao đổi đại sứ, thay mặt nhân dân Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân, tôi vui mừng gửi tới Ngài, Chính phủ và nhân dân nước Cộng hoà A Rập Yêmen lời chào mừng nhiệt liệt.

Nhân dân và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thành tâm chúc nhân dân Yêmen dưới sự lãnh đạo của Ngài ngày càng thu được nhiều thắng lợi trong công cuộc xây dựng đất nước phồn vinh, góp phần giữ gìn hoà bình ở châu á và thế giới.

Chúc mối quan hệ hữu nghị giữa nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nước Cộng hoà A Rập Yêmen ngày càng củng cố và phát triển tốt đẹp.

Chúc Ngài sức khoẻ và hạnh phúc.

Hà Nội, ngày 19 tháng 10 nǎm 1963
Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hoà
Hồ Chí Minh

————————

Báo Nhân dân, số 3501, ngày 29-10-1963,
cpv.org.vn

Lời chào mừng các đoàn đại biểu công đoàn quốc tế (23-10-1963)

Thưa đồng chí Chủ tịch Bitốtxi thân mến,

Thưa các đồng chí đại biểu thân mến,

Cuộc Hội nghị của ủy ban công đoàn quốc tế đoàn kết với lao động và nhân dân miền Nam Việt Nam đã thành công tốt đẹp.

Hội nghị đã thông qua những nghị quyết thiết thực ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân miền Nam Việt Nam cả về tinh thần và vật chất. Hội nghị cũng quyết định lấy 20-12 là ngày thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam làm “Ngày lao động và nhân dân thế giới đoàn kết với lao động và nhân dân miền Nam Việt Nam”.

Đó là một sự cổ vũ vô cùng to lớn đối với đồng bào miền Nam chúng tôi nói riêng và đối với toàn thể nhân dân Việt Nam nói chung. Tôi xin thay mặt nhân dân Việt Nam nhiệt liệt cảm ơn Hội nghị, cảm ơn giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới.

Nhân đây, tôi xin phép nói với Đoàn đại biểu Hội lao động giải phóng miền Nam Việt Nam rằng:

Trái tim của tôi và 17 triệu đồng bào miền Bắc luôn luôn đập một nhịp với trái tim của đồng bào miền Nam.

Giai cấp công nhân và đồng bào miền Bắc đang phấn đấu để xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm no hạnh phúc, không một giờ một phút nào không nhớ đến đồng bào ruột thịt ở miền

Nam đang chiến đấu anh dũng chống bọn Mỹ – Diệm để cứu nước cứu nhà.

Tôi chắc rằng dưới ngọn cờ của Mặt trận dân tộc giải phóng, đồng bào miền Nam ta đoàn kết ngày càng chặt chẽ và rộng rãi, chiến đấu ngày càng kiên quyết và bền bỉ, lại được giai cấp công nhân và nhân dân thế giới ủng hộ ngày càng tích cực, thì nhân dân miền Nam anh dũng nhất định sẽ thắng lợi vẻ vang.

Trong bài khai mạc Hội nghị, đồng chí Chủ tịch Bitốtxi đã nói rằng: “Giai cấp công nhân thế giới ôm vào lòng giai cấp công nhân và nhân dân miền Nam và bảo đảm với họ rằng: giai cấp công nhân thế giới và những người yêu chuộng tự do, công lý đều đoàn kết và gần gũi với họ trong cuộc đấu tranh để giúp họ giành lấy thắng lợi cuối cùng, vì thắng lợi đó cũng là thắng lợi bảo đảm cho hoà bình, hạnh phúc cho toàn thể giai cấp công nhân trên thế giới”.

Đúng như vậy, chính đế quốc Mỹ cũng thú nhận rằng cuộc chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam là một cuộc chiến tranh thí nghiệm. Chúng sẽ mở rộng những cuộc chiến tranh xâm lược như thế đối với những dân tộc khác đang đấu tranh cho độc lập, tự do. Bởi vậy, ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam Việt Nam đánh bại đế quốc Mỹ tức là ngǎn chặn âm mưu xâm lược của chúng, tức là bảo vệ hoà bình, độc lập tự do của các dân tộc trên thế giới.

Như để hoan nghênh Hội nghị Uỷ ban công đoàn quốc tế đoàn kết với lao động và nhân dân miền Nam Việt Nam họp ở Thủ đô Hà Nội, mà hôm 19 vừa rồi Quân giải phóng và nhân dân miền Nam đánh thắng một trận lớn ở Lộc Ninh phía Tây Nam Sài Gòn.

Và như để hưởng ứng Hội nghị này mà 14 tổ chức quần chúng ở Mỹ đã đứng lên đấu tranh với những khẩu hiệu: “Chúng tôi phản đối cuộc chiến tranh bẩn thỉu ở miền Nam Việt Nam”, “Vai trò của Mỹ ở miền Nam Việt Nam là xấu xa”, “Chúng tôi đòi phải rút hết quân lính Mỹ và viện trợ quân sự Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam!”.

Nhân đây, tôi tỏ lời cảm ơn các đoàn thể nhân dân tiến bộ, các nhân sĩ trí thức và các nhà tôn giáo Mỹ yêu chuộng công lý và hoà bình đã lên án Chính phủ Mỹ và ủng hộ chính nghĩa của nhân dân miền Nam chúng tôi.

Mặc dù đế quốc Mỹ có nhiều tiền, nhiều lính, nhiều vũ khí, nhưng chúng đã nhiều lần thất bại nhục nhã ở Trung Quốc, Triều Tiên, Cuba… thì chúng nhất định cũng sẽ thất bại ở miền Nam Việt Nam. Nhân dân miền Nam nhất định sẽ thắng lợi!

Để hoà bình giải quyết vấn đề miền Nam Việt Nam hiện nay, chỉ có một cách là: đế quốc Mỹ phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, vấn đề miền Nam Việt Nam phải do nhân dân Việt Nam tự giải quyết lấy, như Hiệp định Giơnevơ 1954 đã quy định.

Một lần nữa, xin cảm ơn các đồng chí, cảm ơn 120 triệu đoàn viên của Liên hiệp công đoàn thế giới, cảm ơn tất cả anh chị em công nhân trên thế giới đã nhiệt tình ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng của giai cấp công nhân và đồng bào miền Nam chúng tôi.

Hội nghị này đủ mặt đại biểu của giai cấp công nhân khắp nǎm châu, đã nêu cao tình đoàn kết chặt chẽ của giai cấp công nhân quốc tế như lời dạy của Mác: “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại!”. Thật là:

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người chung giai cấp phải thương nhau cùng!”.

Nói ngày 23-10-1963.

————————

Báo Nhân dân, số 3496, ngày 24-10-1963.

Điện mừng Tổng thống Xucácnô nhân dịp Đại hội GANEFO (8-11-1963)

Kính gửi Bác sĩ A.Xucácnô, Tổng thống nước Cộng hoà Inđônêxia,

Giacácta

Thưa tổng thống thân mến,

Đại hội thể dục thể thao các lực lượng mới trỗi dậy (GANEFO) lấy tinh thần chống chủ nghĩa đế quốc thực dân và tinh thần Bǎngđung làm nguyên tắc chỉ đạo, được đông đảo các nước tham gia, là một thắng lợi to lớn mới của tình đoàn kết hữu nghị giữa các nước và các dân tộc đang đấu tranh cho độc lập dân tộc, tự do dân chủ, tiến bộ xã hội và hoà bình thế giới.

Những sáng kiến và cố gắng của Ngài trong việc triệu tập Đại hội GANEFO đã thu được kết quả tốt đẹp.

Nhân dịp này, tôi xin gửi tới Ngài lời chào mừng nhiệt liệt nhất.

Tôi xin chúc Đại hội thành công rực rỡ.

Kính chúc Ngài sức khoẻ và hạnh phúc.

Hà Nội, ngày 8 tháng 11 nǎm 1963
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
Hồ Chí Minh

——————

Báo Nhân dân, số 3512, ngày 9-11-1963.
cpv.org.vn

Điện mừng Quốc khánh Vương quốc Campuchia (9-11-1963)

Kính gửi Thái tử Quốc trưởng Nôrôđôm Xihanúc, Vương quốc Campuchia,

Phnôm Pênh

Nhân dịp chúc mừng Quốc khánh lần thứ 10 của Vương quốc Campuchia, thay mặt nhân dân Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân, tôi kính gửi đến Thái tử Quốc trưởng và nhân dân Campuchia lời chúc mừng nhiệt liệt nhất.

Tôi chân thành chúc nhân dân Campuchia dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Thái tử Quốc trưởng ngày càng thu được nhiều thắng lợi trong sự nghiệp giữ gìn nền hoà bình trung lập của Vương quốc Campuchia và xây dựng đất nước Campuchia phồn vinh.

Chúc tình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt Nam và Khơme ngày càng củng cố và phát triển, góp phần tǎng cường sự đoàn kết của nhân dân châu á và bảo vệ hoà bình ở Đông Dương, Đông – Nam á và thế giới.

Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
Hồ Chí Minh

———————–

Báo Nhân dân,số 3512, ngày 9-11-1963.
cpv.org.vn

Trả lời phóng viên báo Cờ đỏ (21-11-1963)

Hỏi: Hiện nay ở miền Bắc Việt Nam, kế hoạch 5 nǎm lần thứ nhất hùng vĩ đang bước vào nǎm thứ 3, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đang giành được những thành tựu lớn lao, cơ sở vững mạnh cho công cuộc hoà bình thống nhất đất nước Việt Nam đang được xây dựng. Mặt khác, như mọi người đã thấy qua sự sụp đổ của chính quyền Diệm gần đây, ở miền Nam Việt Nam sức kháng chiến mãnh liệt của nhân dân đang làm cho sự thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng lâm vào cuộc khủng hoảng sâu sắc. Tôi nghĩ rằng những sự thật đó chứng tỏ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam đang tiến những bước lớn lao. Xin Chủ tịch cho biết ý kiến về đặc điểm và triển vọng của tình hình đó ở Việt Nam hiện nay?

Trả lời: Từ chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ đến nay đã hơn 9 nǎm, nhân dân Việt Nam chúng tôi đã trải qua một thời kỳ đấu tranh có nhiều khó khǎn, song cũng có nhiều thắng lợi. ở miền Bắc tự do, chỉ trong 3 nǎm (1955-1957), dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, nhân dân chúng tôi đã hàn gắn xong những vết thương chiến tranh và chia ruộng đất cho dân cày. Trong 3 nǎm sau (1958-1960), chúng tôi đã cǎn bản hoàn thành thắng lợi công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ chế độ người bóc lột người. Từ 3 nǎm nay, chúng tôi đã bắt tay vào thực hiện kế hoạch 5 nǎm lần thứ nhất, bước đầu xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Hiện nay, với quyết tâm chiến thắng nghèo nàn và lạc hậu, nhân dân miền Bắc chúng tôi đang ra sức tiến mạnh trên con đường công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa. Toàn dân đang sôi nổi thi đua yêu nước trên các mặt trận nông nghiệp, công nghiệp và vǎn hoá, kỹ thuật. Về kinh tế cũng như về vǎn hoá, chúng tôi đã giành được nhiều thắng lợi. Chúng tôi đã xây dựng một đời sống ấm no, tiến bộ. Mọi người lao động đã thật sự làm chủ đất nước, làm chủ cuộc đời của mình. Mặc dù còn nhiều khó khǎn, miền Bắc chúng tôi nhất định sẽ xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, làm cơ sở vững mạnh cho công cuộc đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà.

Trong lúc đó, 14 triệu đồng bào chúng tôi ở miền Nam đang phải chịu muôn ngàn đau khổ dưới chế độ tàn khốc của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, không một ngày nào không bị bắn giết, khủng bố. Hàng chục vạn người đã chết dưới bom đạn, trong các nhà tù, trại giam của Mỹ – Diệm. Nhưng đồng bào miền Nam chúng tôi không bao giờ chịu khuất phục, luôn luôn đoàn kết chặt chẽ, chiến đấu anh dũng để tự giải phóng mình. Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam đang đoàn kết và lãnh đạo mọi lực lượng yêu nước, kiên quyết chiến đấu chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng. Cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân miền Nam chúng tôi đã thu được những thắng lợi to lớn. Kẻ địch đang bị đẩy vào “con đường hầm không có lối thoát”, như Tổng thống Kennơđi đã thú nhận. Chính vì những thất bại của chúng mà đế quốc Mỹ đã buộc phải “thay ngựa giữa dòng”, gây ra cuộc đảo chính quân sự đầu tháng 11 vừa qua ở Sài Gòn. Nhưng dù thay ngựa mới, cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ nhất định sẽ thất bại. Đồng bào miền Nam chúng tôi nhất định sẽ thắng lợi. Cuộc chiến tranh yêu nước của đồng bào miền Nam chúng tôi dù còn khó khǎn gian khổ, nhưng với sự ủng hộ của đồng bào cả nước, của nhân dân tiến bộ toàn thế giới (kể cả nhân dân Mỹ yêu chuộng hoà bình và công lý), cuối cùng đồng bào miền Nam chúng tôi sẽ là người chiến thắng, miền Nam Việt Nam sẽ được giải phóng hoàn toàn.

Vấn đề miền Nam chỉ có một cách giải quyết là: đế quốc Mỹ phải rút khỏi miền Nam để nhân dân Việt Nam tự giải quyết lấy công việc của mình, theo tinh thần của Hiệp định Giơnevơ.

Hỏi: Từ ngày 20 đến 23-10 vừa rồi các đại biểu công đoàn của 33 nước và các tổ chức quốc tế, trong đó có đại biểu Nhật Bản, đã họp hội nghị tại Hà Nội và đã quyết định thành lập “Uỷ ban công đoàn quốc tế đoàn kết với lao động và nhân dân miền Nam Việt Nam”. Tôi nghĩ rằng đó là một sự kiện có ý nghĩa rất trọng đại, là hành động đoàn kết quốc tế của công nhân toàn thế giới chống đế quốc Mỹ. Về điểm này, xin Chủ tịch cho biết nhận định của Chủ tịch như thế nào?

Trả lời: Hội nghị đại biểu công đoàn của 33 nước họp tại Hà Nội tháng 10 vừa qua đã quyết định thành lập “Uỷ ban công đoàn quốc tế đoàn kết với lao động và nhân dân miền Nam Việt Nam” và quyết định lấy ngày 20-12 làm Ngày quốc tế đấu tranh ủng hộ miền Nam Việt Nam. Đó là một sự kiện có ý nghĩa to lớn, nó nêu cao tinh thần đoàn kết quốc tế của giai cấp công nhân toàn thế giới đối với lao động và nhân dân miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến tranh giải phóng chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Chắc chắn rằng sự ủng hộ nhiệt tình của công nhân toàn thế giới sẽ tǎng thêm nhiều sức mạnh cho đồng bào miền Nam chúng tôi tiến lên giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chính nghĩa của mình. Tôi mong rằng, với tinh thần đoàn kết quốc tế ấy, giai cấp công nhân toàn thế giới luôn luôn đi tiên phong trên mặt trận chống chủ nghĩa đế quốc, sẽ đánh bại đế quốc Mỹ, kẻ thù hung ác nhất của nhân dân toàn thế giới ngày nay.

Hỏi: Nhân dân Nhật Bản đang tiếp tục đấu tranh bất khuất chống đế quốc Mỹ và bọn phản động Nhật Bản mưu mô vũ trang vũ khí hạt nhân cho Nhật Bản và biến Nhật Bản thành cǎn cứ chiến tranh hạt nhân ở châu á. Trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ, nhân dân Nhật Bản và nhân dân Việt Nam đang cổ vũ lẫn nhau và cùng đang đấu tranh ở tuyến đầu. Xin Chủ tịch gửi cho nhân dân Nhật Bản chiến đấu những lời thǎm hỏi của Chủ tịch?

Trả lời: Việt Nam và Nhật Bản là hai nước láng giềng. Nhân dân Việt Nam và nhân dân Nhật Bản là anh em. Vì vậy nhân dân hai nước chúng ta cần đoàn kết và ủng hộ lẫn nhau để đấu tranh chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ và bọn phản động.

Tôi tin rằng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và mọi người Nhật Bản yêu chuộng hoà bình, chính nghĩa và tiến bộ xã hội sẽ giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh vĩ đại chống chính sách đô hộ của đế quốc Mỹ, thực hiện một nước Nhật Bản độc lập, dân chủ, hoà bình và hạnh phúc.

Kính chúc tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước ngày càng củng cố và phát triển.

Kính chúc Đảng Cộng sản Nhật Bản đứng đầu là đồng chí Nôxaca và các đảng tiến bộ ở Nhật Bản giành được thắng lợi to lớn trong cuộc tuyển cử ngày 21-11 sắp tới.

Tôi gửi đến các đồng chí phụ trách báo Cờ đỏ và các bạn đọc của báo, cùng anh em chị em lao động Nhật Bản lời chào thân ái.

——————–

Báo Nhân dân,số 3524, ngày 21-11-1963.
cpv.org.vn

Nói chuyện tại phiên họp Hội đồng Chính phủ cuối nǎm 1963 (26-12-1963)

Hôm nay, Hội đồng Chính phủ họp phiên cuối nǎm. Đồng chí Tôn Đức Thắng và tôi, đến thǎm và chúc Tết các đồng chí.

Sắp sang nǎm mới, xin chúc các đồng chí hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước nǎm 1964 và ngân sách Nhà nước nǎm 1964.

Muốn như vậy, phải làm tốt ba cuộc vận động:

+ Cuộc vận động cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật, nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc.

+ Cuộc vận động nâng cao tinh thần trách nhiệm, tǎng cường quản lý kinh tế tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống tham ô, lãng phí, quan liêu (gọi tắt là cuộc vận động 3 xây, 3 chống).

+ Cuộc vận động đồng bào miền xuôi đi tham gia phát triển kinh tế và vǎn hoá ở miền núi.

Hiện nay, chúng ta làm 3 xây, 3 chống còn kém. Anh chị em công nhân và nhân viên ở cơ sở thì rất hǎng hái, nhưng từ cấp giám đốc lên đến bộ trưởng, thứ trưởng thì còn nhiều người chưa chuyển, cho nên có chỗ cuộc vận động bị tắc lại. Bây giờ phải làm 3 xây, 3 chống cả hai chiều, từ dưới lên và từ trên xuống. Bản thân các đồng chí bộ trưởng, thứ trưởng, các cán bộ lãnh đạo phải 3 xây, 3 chống. Hơn ai hết, người lãnh đạo phải nhận rõ cuộc vận động 3 xây, 3 chống này rất quan trọng để làm cho tốt.

Phải kiên quyết chống lãng phí, đặc biệt là phải chống lãng phí lương thực.

Phải quyết tâm trừ sạch tệ nấu rượu lậu. Muốn như vậy, ở những xã đang còn nấu rượu lậu, đảng viên phải làm gương mẫu cho nhân dân; đảng viên không ai nấu rượu lậu và kiên trì vận động giải thích cho nhân dân thì nhân dân cũng sẽ không nấu rượu lậu nữa. Một mặt khác, ngành công nghiệp nhẹ phải cố gắng nâng cao chất lượng rượu quốc doanh.

Trong các ngành: công nghiệp, xây dựng cơ bản, lâm nghiệp, thuỷ sản, nội thương, ngoại thương, giáo dục, vǎn hoá, y tế, v.v. cũng như ở các địa phương còn nhiều hiện tượng lãng phí, phô trương hình thức. Qua cuộc vận động 3 xây, 3 chống, phải kiên quyết xoá bỏ tệ nạn ấy.

Một điều rất quan trọng nữa là các đồng chí bộ trưởng, thứ trưởng và cán bộ lãnh đạo phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, phải nêu gương sáng về đạo đức cách mạng: cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn tác phong gian khổ phấn đấu, phải không ngừng nâng cao chí khí cách mạng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Có như thế mới xứng đáng với đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng chống đế quốc Mỹ và tay sai của chúng để giải phóng miền Nam và hoà bình thống nhất nước nhà.

Nhân dân ta rất tốt. Nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khǎn đến đâu cũng nhất định làm được.

Một lần nữa, chúc tất cả các đồng chí sang nǎm mới thực hiện thắng lợi kế hoạch Nhà nước nǎm 1964 và ngân sách Nhà nước nǎm 1964 và muốn thế thì phải làm tốt 3 cuộc vận động lớn, cán bộ lãnh đạo các ngành, các địa phương phải đi sâu, đi sát xuống cơ sở và phải làm gương mẫu.

Nói ngày 26-12-1963.

—————————

Bản gốc lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I.
cpv.org.vn

Thư chúc mừng nǎm mới (1-1-1964)

Đồng bào thân mến,

1964 là nǎm thứ tư của kế hoạch Nhà nước 5 nǎm lần thứ nhất. Để hoàn thành thắng lợi kế hoạch, đồng bào miền Bắc hãy hǎng hái thi đua yêu nước, đẩy mạnh hai phong trào trong công nghiệp, nông nghiệp và cuộc vận động đồng bào miền xuôi đi tham gia xây dựng miền núi.

Đồng bào miền Nam đang anh dũng chiến đấu cho tự do độc lập và đang giành được nhiều thắng lợi vẻ vang. Đồng bào miền Bắc phải hết lòng ủng hộ đồng bào miền Nam. Phải ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội thắng lợi làm cơ sở vững mạnh cho công cuộc đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà.

Bắc Nam như cội với cành,
Anh em ruột thịt, đấu tranh một lòng.
Rồi đây thống nhất thành công,
Bắc Nam ta lại vui chung một nhà.
Mấy lời thân ái nôm na,
Vừa là kêu gọi, vừa là mừng xuân.

Xuân 1964
Hồ Chí Minh

——————–

Báo Nhân dân, số 3565, ngày 1-1-1964.
cpv.org.vn

Bài nói với đồng bào tỉnh Thái Nguyên và công nhân khu gang thép (1-1-1964)

Bác và đồng chí Nguyễn Chí Thanh thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ thân ái chúc mừng nǎm mới:

Các đồng chí chuyên gia Trung Quốc,

Đồng bào các dân tộc,

Cán bộ và công nhân,

Bộ đội, công an, dân quân,

Các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng.

Gần bốn nǎm trước, Bác đã về thǎm Thái Nguyên. Lần này về thǎm, Bác rất vui lòng thấy tỉnh ta có nhiều tiến bộ mới: có nông nghiệp tiến bộ và công nghiệp gang thép.

Nông nghiệp- Nhờ hợp tác hoá mà nǎm ngoái và nǎm nay khá được mùa. Nhân dân no ấm hơn. Nghĩa vụ “ba thu” đối với Nhà nước cũng làm được tốt. Nhưng đồng bào vẫn phải ra sức tǎng gia sản xuất, tiết kiệm lương thực để góp phần xây dựng nước nhà.

Thuỷ lợi làm khá. Nhưng tổ chức đội thuỷ lợi ở các hợp tác xã làm còn chậm, cần phải đẩy mạnh hơn nữa.

Phân bón có khá hơn. Nhưng bình quân mỗi mẫu tây mới được 5 tấn phân, như thế là còn ít. Đồng bào miền núi nên dùng phân

trâu, phân bò bón ruộng nương cho quen. Phân và nước là cái ǎn, cái uống cho ruộng đất. Muốn ruộng đất sản xuất tốt, thì phải cho ruộng đất uống đủ nước, ǎn đủ phân.

Hoa màu trồng khá. Nhưng cây công nghiệp mới trồng được 5% diện tích, thế là quá ít.

Chǎn nuôi có tiến bộ, cần phải nhân đà đó mà đẩy mạnh chǎn nuôi hơn nữa.

Trồng cây gây rừng – Theo báo cáo thì tỉnh ta đã trồng được hơn 5 triệu cây. Cần nhớ trồng cây nào phải tốt cây ấy. Các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng đã góp phần khá vào công việc này. Đồng bào phải cố gắng để đến nǎm 1965, tỉnh ta sẽ có 4 triệu cây trẩu trên các đồi trọc. Làm được như thế, tỉnh ta sẽ có một nguồn lợi rất to.

Việc bảo vệ rừng tỉnh ta làm còn kém. Nhiều nơi đồng bào và nông trường còn phá rừng bừa bãi. Đảng uỷ và chính quyền cần phải có biện pháp thiết thực để chấm dứt tệ hại phá rừng.

Công tác vỡ hoang- Tỉnh ta đã giúp đỡ 2 vạn đồng bào miền xuôi lên phát triển kinh tế miền núi. Đồng bào mới lên cũng giúp đỡ đồng bào địa phương về kinh nghiệm làm thêm ngành, nghề. Đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau như thế là tốt, như thế là làm đúng chính sách đoàn kết dân tộc của Đảng. Tỉnh ta còn phải cố gắng nhiều để hoàn thành kế hoạch, nghĩa là đón thêm 3 vạn đồng bào nữa cho đủ số đã định.

Tỉnh ta cũng đã đón nhiều kiều bào từ Thái Lan và Tân Đảo về. Trước kia kiều bào ta rất ái ngại vì không được trực tiếp tham gia cách mạng và kháng chiến. Nay được về nước để cùng toàn dân xây dựng Tổ quốc, thế là nguyện vọng thiết tha nhất của kiều bào đã được thoả mãn. Bác mong rằng kiều bào sẽ vượt mọi khó khǎn, ra sức lao động để góp phần xứng đáng vào công việc xây dựng miền Bắc và ủng hộ miền Nam.

Về phong trào hợp tác hoá, Bác nói tóm tắt mấy điểm:

a) Hiện nay cả tỉnh có 72% nông hộ vào hợp tác xã. Tức là so với trước không tǎng mà lại giảm. Thế là chưa tốt.

b) Có những hợp tác xã như Tân Tiến (vụ mùa đạt hơn 35 tạ 1 mẫu tây), Hồng Kỳ, Thành Công, v.v. phát triển khá tốt, đời sống xã viên được nâng cao. Đó là do cán bộ, đảng viên và đoàn viên thanh niên công tác tốt, gương mẫu tốt.

c) Nhưng có những nơi như huyện Võ Nhai trước kia 80% nông hộ vào hợp tác xã, nay tụt xuống. Như thế là không tốt. Đó là vì một số cán bộ, đảng viên và đoàn viên còn tự tư tự lợi, còn lãng phí, tham ô. Các cấp đảng uỷ từ khu, tỉnh đến huyện, xã cần phải thật sự phụ trách chỉnh đốn lại những chi bộ như ở Võ Nhai, để củng cố và phát triển các hợp tác xã những nơi đó cho tốt.

Công nghiệp địa phương – Xưởng phốt phát núi Vǎn, xưởng phân mêtan, các lò nung vôi, công nghiệp chế biến nông sản, v.v. đều có cố gắng phục vụ nông nghiệp và có thành tích. Mỏ than Quán Triều trước kia kém, nay có tiến bộ. Nhà máy giấy Hoàng Vǎn Thụ có nhiều sáng kiến và đã hoàn thành kế hoạch nǎm 1963 trước thời hạn, như thế là tốt.

Nhưng cũng có những xí nghiệp vì quản lý kém, để lãng phí sức của, sức người, như xưởng gỗ Tháng Tám. Những xưởng khá phải cố gắng thêm. Những xưởng kém phải có quyết tâm sửa chữa để trở nên tốt. Tất cả các xí nghiệp cần phải chuẩn bị tốt để đến lượt thì làm tốt cuộc “3 xây, 3 chống”.

Vǎn hoá giáo dục- Tỉnh ta đã có nhiều trường cấp II, cấp III. Lại có những trường vừa học vừa làm như ở Tân Cương, Dương Thành, v.v.. Và những trường thanh niên lao động xã hội chủ nghĩa ở Phú Lương, Đại Từ, Định Hoá, v.v.. Những trường đó học kết hợp với hành. Như thế là rất tốt. Nên củng cố tốt và phát triển tốt những trường như thế để đào tạo cán bộ cho nông thôn.

Củng cố quốc phòng và giữ gìn trị an – Bộ đội, công an và dân quân tự vệ đều cố gắng làm trọn nhiệm vụ. Đảng viên, đoàn viên thanh niên và các đồng chí bộ đội phục viên đều biết làm kiểu mẫu. Bác gửi lời khen tất cả.

Toàn thể đồng bào đều phải luôn luôn nâng cao cảnh giác để đập tan mọi âm mưu của đế quốc Mỹ và bọn tay sai hòng phá hoại miền Bắc ta. Mọi người đều phải góp phần vào việc củng cố quốc phòng và giữ gìn trị an để nhân dân được yên vui sản xuất, xây dựng nước nhà.

Đảng và Đoàn- Tỉnh ta có hơn 11.850 đảng viên và 15.000 đoàn viên, cộng thành một đội quân hùng mạnh với 26.850 chiến sĩ dẫn đầu lao động. Cần phải củng cố tốt và phát triển tốt Đảng và Đoàn hơn nữa. Mỗi đảng viên và mỗi đoàn viên cần phải xung phong trong mọi công tác, cần làm gương mẫu tốt cho đồng bào noi theo.

Trong kháng chiến, Đảng lấy việc giết giặc lập công mà đánh giá chi bộ. Ngày nay, Đảng lấy thành tích ở các hợp tác xã và các xí nghiệp mà đánh giá các chi bộ. Ví dụ: Hiện nay tỉnh ta có 24 chi bộ “4 tốt” vì các hợp tác xã ở những nơi ấy sản xuất tốt, đoàn kết tốt. Một ví dụ khác: Trong kháng chiến, Võ Nhai là một huyện chiến đấu anh dũng, có thành tích to. Nhưng hiện nay trong công việc hợp tác hoá thì Võ Nhai lại tụt lại sau. Đó là vì các chi bộ ở Võ Nhai bây giờ kém. Từ nay các đảng viên và đoàn viên Võ Nhai phải cố gắng vươn lên.

Hiện nay toàn Đảng, toàn dân ta đang làm mấy cuộc vận động lớn:

– Ở nông thôn là vận động cải tiến quản lý hợp tác xã.

– Ở các xí nghiệp là vận động “3 xây, 3 chống”.

– Cuộc vận động đồng bào miền xuôi đi xây dựng kinh tế miền núi.

– Cuộc vận động làm thuỷ lợi.

Trước mắt, ở nông thôn phải hoàn thành tốt “ba thu” trong vụ Đông này và phấn đấu cho vụ Đông – Xuân thắng lợi.

Bây giờ Bác nói về khu gang thép.

Trước đây mấy nǎm, nơi đó là những đồi núi hoang vu. Hiện nay đồi núi đó đã biến thành khu gang thép đồ sộ. Thành tích đó, một mặt là do sự cố gắng của Đảng ta và dân ta. Và mặt khác, chúng ta vô cùng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc anh em, đã cung cấp cho chúng ta các thứ máy móc, đã phái các đồng chí chuyên gia sang vừa giúp chúng ta xây dựng, vừa giúp đào tạo cán bộ và công nhân ta.

Chính sách của Đảng ta là làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi. Ngày nay chính sách đó đã bước đầu thực hiện. Với khu gang thép, đồng bào Thái Nguyên có thể tự hào rằng về công nghiệp nặng thì miền xuôi cần thi đua với miền núi!

Cán bộ và công nhân có thể tự hào rằng sau hơn ba nǎm lao động cần cù, tự tay mình đã ngǎn sông xẻ núi, xây dựng một khu gang thép to lớn đầu tiên của nước ta.

Khu gang thép là một đại gia đình với gần 2 vạn 2 nghìn anh em, chị em công nhân và cán bộ, trong số đó người Trung – Nam – Bắc và các dân tộc đều có. Mọi người đã đóng góp phần mình vào việc công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa; mọi người đã trưởng thành với khu gang thép.

Công nhân và cán bộ đã có nhiều thành tích khá, như:

Mỗi nǎm đã hoàn thành kế hoạch,

Nǎng suất lao động có tǎng,

Số sáng kiến, số chiến sĩ thi đua, lao động tiên tiến và tổ lao động xã hội chủ nghĩa mỗi nǎm một tǎng, v.v..

Nhân dịp này, Bác dặn 10 điều mà cán bộ và công nhân phải cố gắng thi đua thực hiện cho tốt:

1. Phải tǎng cường quản lý kỹ thuật để đảm bảo chất lượng. Phải chống làm ẩu, làm bừa. Chống lãng phí nguyên liệu, vật liệu.

2. Phải giữ gìn tốt máy móc, làm việc phải đúng nội quy.

3. Quản lý sức người, sức của phải chặt chẽ; phải theo đúng các chế độ Nhà nước đã ban hành; trách nhiệm mỗi người, mỗi cấp phải rõ ràng; việc cấp phát phải rất cẩn thận.

4. Phải thực hiện tốt kế hoạch xây dựng nǎm 1964 để sớm hoàn thành tốt khu gang thép. Phải phấn đấu hoàn thành kế hoạch sản xuất nǎm 1964, phải tǎng chất lượng và hạ giá thành…

5. Phải nâng cao cảnh giác, giữ gìn nhà máy, bảo vệ sản xuất.

6. Phải thực hiện tốt bảo hộ lao động. Kỷ luật lao động phải thật chặt chẽ.

7. Phải ra sức học tập các đồng chí chuyên gia; học chính trị, vǎn hoá, kỹ thuật để tiến bộ không ngừng.

8. Phải đẩy mạnh phong trào tǎng gia để tự túc, tǎng cường việc cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ và công nhân. Phải chú ý chǎm sóc các cháu bé ở nhà trẻ, mẫu giáo. Phải bảo đảm sức khoẻ cho công nhân và cán bộ gái.

9. Phải chuẩn bị tốt để làm tốt cuộc vận động “3 xây, 3 chống”.

10. Phải đoàn kết chặt chẽ, đoàn kết nội bộ, đoàn kết trên dưới, đoàn kết giữa công nhân và đồng bào địa phương. Phải đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước.

Trong số 2 vạn 2 nghìn công nhân và cán bộ có hơn 13.600 đảng viên và đoàn viên. Mỗi đảng viên và đoàn viên phải gương mẫu trong mọi công tác, phải giúp đỡ anh chị em ngoài Đảng, ngoài Đoàn cùng tiến bộ, phải làm được như thế mới xứng đáng là người đảng viên tốt, đoàn viên tốt.

Sẵn đây Bác đặt một câu hỏi, các chi bộ và chi đoàn sẽ trả lời sau: Theo báo cáo thì cả khu gang thép có non 1 vạn chiến sĩ thi đua và lao động tiên tiến, trong số đó đảng viên và đoàn viên có non 8.000 người. Còn hơn 5.000 đảng viên và đoàn viên chưa phải là chiến sĩ thi đua, cũng không phải là lao động tiên tiến. Thế thì các đồng chí đó làm gì?

Để làm ra gang thép tốt thì người công nhân và cán bộ phải tôi luyện tinh thần cách mạng, lập trường giai cấp và ý thức làm chủ cho cứng rắn như thép, như gang. Nhất là cán bộ, đảng viên và đoàn viên phải làm như vậy.

Tỉnh ta sẵn có truyền thống cách mạng vẻ vang, có tài nguyên phong phú, có nông nghiệp hợp tác hoá, có thủ công nghiệp, công nghiệp nhẹ và công nghiệp nặng. Đồng bào các dân tộc sẵn có đức tính cần cù. Nói tóm lại, tỉnh ta có nhiều điều kiện rất thuận lợi, toàn thể đồng bào và cán bộ phải ra sức làm cho Thái Nguyên trở nên một trong những tỉnh giàu có, phồn thịnh nhất ở miền Bắc nước ta.

Nhân đây, Bác có vài ý kiến về Khu tự trị Việt Bắc. Toàn Khu đã có nhiều thành tích, các dân tộc có nhiều tiến bộ: đoàn kết khá, sản xuất và tiết kiệm khá hơn trước, vǎn hoá giáo dục, y tế vệ sinh đều có tiến bộ.

Để xứng đáng với truyền thống của cǎn cứ địa cách mạng vẻ vang, Khu tự trị Việt Bắc phải cố gắng thực hiện những điều sau đây:

1. Các dân tộc phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau.

2. Phải tǎng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm hơn nữa.

3. Phải thanh toán xong nạn mù chữ. Phải xây dựng nếp sống mới từ bản làng đến thành phố.

4. Phải nâng cao cảnh giác, giữ gìn tốt trật tự trị an.

5. Cán bộ phải gần gũi nhân dân, nắm vững chính sách, cùng với nhân dân hoàn thành mọi nhiệm vụ Đảng và Nhà nước giao cho.

6. Phụ nữ là một lực lượng lao động rất quan trọng. Các cấp lãnh đạo phải quan tâm hơn nữa về công tác phụ nữ và chú ý hơn nữa đào tạo cán bộ, phát triển đảng viên và đoàn viên phụ nữ.

Bác mong rằng: Nǎm mới đồng bào Khu tự trị Việt Bắc, công nhân và cán bộ khu gang thép vui vẻ, phấn khởi, cố gắng nhiều và đạt nhiều thắng lợi mới để góp phần nhiều vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc làm cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Bác thân ái gửi lời chúc nǎm mới đến tất cả đồng bào và cán bộ các địa phương.

Nói ngày 1-1-1964.

——————–

Báo Nhân dân, số 3567, ngày 3-1-1964.
cpv.org.vn

Nguyễn Ái Quốc và Hội nghị Trung ương tháng 10-1930

Kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911/5-6-2011)

QĐND – Tháng 10-1930, Hội nghị Trung ương lần thứ nhất Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức ở Hồng Kông, Hội nghị đã thông qua Luận cương cách mạng tư sản dân quyền do đồng chí Trần Phú khởi thảo, bầu Ban chấp hành Trung ương do đồng chí Trần Phú làm Tổng bí thư. Cho đến nay, vẫn còn nhiều câu hỏi xung quanh việc đánh giá vai trò của đồng chí Nguyễn Ái Quốc đối với hội nghị trên. Bài viết này chỉ tập trung làm rõ câu hỏi đó.

Sau sự kiện đồng chí Nguyễn Ái Quốc chủ trì hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 2-1930, đến tháng 10-1930 diễn ra Hội nghị Trung ương lần thứ nhất Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức ở Hồng Kông. Hội nghị cũng đồng thời phê phán Hội nghị Hợp nhất tháng 1-1930 là kết luận không xác đáng, vấn đề thổ địa không rõ ràng và có nhiều chỗ không đúng.

Hội nghị đề ra Nghị quyết: Thủ tiêu Chánh cương, Sách lược và Điều lệ của Đảng.

Cho đến hôm nay, nội dung được thông qua tại Hội nghị Trung ương tháng 10-1930 gây cho nhiều người băn khoăn: Liệu đồng chí Nguyễn Ái Quốc có dự không, mà Hội nghị lại bác bỏ hầu hết những văn kiện do Hội nghị hợp nhất thông qua trước đó 9 tháng?

Bác Hồ đón Tết Trung thu với các cháu thiếu nhi quốc tế. Ảnh tư liệu.

Sự kiện Nguyễn Ái Quốc tham dự Hội nghị Trung ương tháng 10 năm 1930 đã được các nhà viết tiểu sử Hồ Chí Minh của Viện Hồ Chí Minh ghi nhận khi biên soạn cuốn “Hồ Chí Minh – Tiểu sử”, do GS Song Thành chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật xuất bản năm 2006 và tái bản năm 2010. Tuy nhiên, cho đến nay, trong giới nghiên cứu Lịch sử Đảng và Hồ Chí Minh học, vẫn còn ý kiến tồn nghi liệu sự kiện đó có chính xác không? Tôi tán thành ý kiến của Viện Hồ Chí Minh, thông qua 8 tư liệu hiện có, thuộc 4 khối tài liệu hiện đang có ở Kho tư liệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh:

– Tài liệu do chính đồng chí Nguyễn Ái Quốc báo cáo.

– Báo cáo của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương.

– Hồi ký của những người đã từng tham dự Hội nghị này.

– Tài liệu mật thám.

I. Tài liệu của đồng chí Nguyễn Ái Quốc

1.Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị cho Hội nghị

Thư đề ngày 2-9-1930 gửi Ban Phương Đông – Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc cho biết Người dự kiến chương trình nghị sự của Hội nghị sẽ gồm có 4 việc:

a. Tự phê bình trong quá khứ

b. Kế hoạch công tác tiến tới Đại hội Đảng

c. Kế hoạch cho Đại hội Đảng

d. Kế hoạch gửi học viên đi đào tạo tại Mát-xcơ-va

2. Ngày 29-9-1930, Nguyễn Ái Quốc gửi báo cáo Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, cho biết: “Ba Ủy viên Trung ương từ Nam Kỳ đã tới đây ngày 19-9, chờ các đồng chí ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ tới…”.

3. Ngày 28-10-1930, báo cáo nhanh gửi Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc thông báo Hội nghị đã họp từ 12-10 và kết thúc 27-10, tóm tắt những Nghị quyết Hội nghị đã thảo luận và thông qua, như Cương lĩnh, Điều lệ Đảng; nhiệm vụ trước mắt của Đảng; bầu Tổng bí thư… kèm báo cáo tài chính chi tiêu cho Hội nghị.

II. Báo cáo của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương

1. Thư của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương gửi cho các cấp đảng bộ ngày 9-12-1930, viết: “Đồng chí ấy (tức Nguyễn Ái Quốc – Chu Đức Tính chú thích) nay đã nhận rõ những sai lầm và cũng đồng ý với Trung ương mà sửa đổi những chỗ sai lầm lúc trước”.

2. Báo cáo của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương gửi Quốc tế Cộng sản ngày 17-4-1931 cho biết “Các Nghị quyết của phiên họp đầu tiên của Ủy ban Trung ương, chúng tôi đã gửi các đồng chí qua đồng chí Quốc và nhờ đồng chí Quốc dịch ra tiếng Anh hoặc tiếng Pháp”.

III. Hồi ký của đồng chí Bùi Lâm

Đồng chí Bùi Lâm là người được Nguyễn Ái Quốc giác ngộ cách mạng từ hồi còn ở Pháp. Năm 1927, học tại Trường Đại học Phương Đông ở Mát-xcơ-va, rồi về công tác ở Văn phòng Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản. Năm 1931, đồng chí Bùi Lâm về nước tham gia Xứ ủy Nam Kỳ, sau đó bị địch bắt và bị tù… Sau Cách mạng Tháng Tám, đồng chí Bùi Lâm công tác ở Tòa án Quân sự Liên khu III, Tòa án Hà Nội, Bộ Tư pháp, rồi Viện trưởng Viện Công tố, Đại sứ Việt Nam tại Bun-ga-ri. Trước khi từ trần năm 1974, là Viện phó Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao.

Tạp chí Cộng sản số ra tháng 9-1982 đăng Hồi ký của Bùi Lâm, do Thế Tập ghi, về Nguyễn Ái Quốc với Hội nghị lần thứ nhất Ban chấp hành Trung ương tháng 10-1930: “Hội nghị thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng khai mạc dưới sự chủ tọa của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, tại một nhà (không nhớ số) ở phố Cửu Nghĩa (Hương Cảng)… Tuy có vị trí và uy tín lớn trong Hội nghị này, nhưng đồng chí Nguyễn Ái Quốc rất khiêm tốn, lắng nghe và tôn trọng những ý kiến của tập thể. Chúng tôi thấy rất rõ ở Người ý thức tổ chức và tinh thần trách nhiệm rất cao. Ngay sau Hội nghị kết thúc, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã báo cáo ngay với Quốc tế Cộng sản và Ban Phương Đông về kết quả của Hội nghị, đồng thời Người cũng trình bày thêm với các đồng chí lãnh đạo Ban Phương Đông về những Nghị quyết của Hội nghị”.

IV. Tài liệu mật thám Pháp

1. Hồ sơ về Nuolens:

Nuolens tức Paul Ruegg – Trưởng ban Viễn Đông của Quốc tế Cộng sản, phụ trách Chi nhánh Ban Phương Đông tại Thượng Hải. Theo tài liệu của Kho lưu trữ lịch sử chính trị – xã hội quốc gia Nga (ký hiệu 495.153.569) và tài liệu mật thám Pháp (bản dịch lưu Kho tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh) thu được trong hồ sơ của Nuolens, có tài liệu tóm tắt về Đông Dương, trong đó có một văn bản ghi “Tháng 10-1930, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã được nhóm họp. Theo báo cáo của đồng chí K.V (tức Nguyễn Ái Quốc, chú thích của tài liệu) mà chúng tôi nhận được từ chính đồng chí ngày 16-11-1930 thì đã có 6 đồng chí tham dự tại Hồng Kông, dưới sự chủ tọa của Nguyễn Ái Quốc”.

2. Lời khai của Ngô Đức Trì:

Bảo tàng Hồ Chí Minh hiện lưu bản dịch “Lời khai của Ngô Đức Trì với mật thám Pháp” trong tháng 5 và 6-1931, do đích thân Viện trưởng Hà Huy Giáp dịch từ bản tiếng Pháp. Theo tài liệu thì Ngô Đức Trì đã khai rõ mình cùng Trần Phú từ Liên Xô về Việt Nam. Cuối tháng 8-1930, Ban Chấp ủy Nam Bộ nhận được thư của Nguyễn Ái Quốc triệu tập các ủy viên Trung ương ở Nam Bộ sang Hồng Kông để họp Hội nghị Trung ương vào tháng 9. Ngày 4-9-1930, Ngô Đức Trì và Nguyễn Trọng Nhã (Sáu) xuống tàu Holiko đi Hồng Kông, đến nơi được đồng chí Lương (Hồ Tùng Mậu) đưa đi gặp Nguyễn Ái Quốc tại gác 2, nhà số 49, đường Khải Nghĩa, Cửu Long. Ngô Đức Trì còn khai với mật thám Pháp vì bị đau ruột thừa nên không tham dự suốt thời gian Hội nghị họp, nhưng “… cuối tháng 10, Sáu có đến thăm Trì tại bệnh viện và báo cho Trì biết Hội nghị đã kết thúc. Quốc và Lý Quý (Trần Phú) sẽ đi Thượng Hải trong vài ngày tới để liên lạc với Ban thư ký Bộ Đông Phương…”.

Như thế, câu hỏi “Nguyễn Ái Quốc có tham dự Hội nghị Trung ương tháng 10-1930 không?” đã có câu trả lời là có. Vậy sẽ xuất hiện câu hỏi thứ hai: Đồng chí Nguyễn Ái Quốc có mặt, vậy tại sao Hội nghị lại bác bỏ hầu hết những văn bản của Hội nghị hợp nhất do Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì? Câu trả lời này ở ngay thư của Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương gửi các cấp đảng bộ ngày 9-12-1930. Ngay đầu thư, Thường vụ Trung ương đã phê phán: “Đảng hiệp nhất kể đã có sinh hoạt gần một năm rồi nhưng vẫn chưa có thể thống gì, đó là vì:

1. Hội nghị hiệp nhất chủ trương các công việc rất sơ sài, mà có nhiều điều không đúng với chủ trương của quốc tế.

2. Lâm thời Trung ương cử ra sau lúc Hội nghị hiệp nhất đã không nhóm một lần hội nào”.

Thư thông báo “Nay toàn thể Trung ương Hội nghị lần thứ nhất đã xong” và chỉ ra nguyên nhân vì sao chủ trương của Hội nghị hợp nhất lại có nhiều chỗ không đúng với chủ trương của Quốc tế Cộng sản?, bởi là vì: “Đồng chí đứng ra triệu tập Hội nghị hợp nhất năm trước kia thì được Quốc tế cho về tùy hoàn cảnh mà làm việc chứ chưa có được kế hoạch rõ ràng gì. Khi đồng chí ấy về đến nơi thì thấy phong trào cộng sản tuy mới nổi nhưng đã chia rẽ rồi, nên mới tự ý hành động có nhiều việc sai lầm không đúng với kế hoạch của quốc tế… Đồng chí ấy nay đã nhận rõ những điều sai lầm và cũng đồng ý với Trung ương mà sửa đổi những sai lầm lúc trước”.

Do nhiều nguyên nhân, trong đó rõ nhất là ảnh hưởng tả khuynh của Đại hội lần thứ VI – Quốc tế Cộng sản năm 1928, mà Quốc tế Cộng sản đã đánh giá chủ trương của Hội nghị hiệp nhất có nhiều điểm không đúng với chủ trương của Quốc tế Cộng sản, nên tất yếu Hội nghị Trung ương lần thứ nhất tháng 10-1930 phải “sửa đổi những sai lầm trong công việc của Hội nghị hợp nhất” và như thế, dù Nguyễn Ái Quốc là người tổ chức Hội nghị, hay chỉ tham dự Hội nghị thì nhất định phải tuân thủ chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, phải tự giác “nhận rõ sai lầm” và buộc phải sửa chữa sai lầm. Đây đúng là một sự trớ trêu nhưng đã diễn ra trong lịch sử. Vì ngay khi đó, Nguyễn Ái Quốc đã tin tưởng rằng mình đúng, không sai, nhưng không thể không chấp hành chỉ thị cấp trên. Đó là nguyên tắc số một của xây dựng Đảng: “Tập trung dân chủ” – nghĩa là cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức, bộ phận phục tùng toàn thể. Nguyễn Ái Quốc đúng mà bị hiểu sai – tình trạng đó không phải một năm mà kéo dài gần hết thập kỷ 30. Nhưng chính thời kỳ đó càng lấp lánh bản lĩnh kiên cường, trí tuệ và tấm lòng son sắt của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh với sự tồn tại và phát triển của Đảng, như chính người đồng chí – học trò của Người, Lê Hồng Phong đã nhận xét năm 1935: “Tôi biết rằng đồng chí Quốc rất tích cực trong hoạt động cách mạng và các vấn đề sự nghiệp của Đảng luôn được đồng chí đặt cao hơn cuộc sống cá nhân. Có thể nói rằng đồng chí ấy luôn sống và làm việc vì Đảng”.

TS Chu Đức Tính – Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh
qdnd.vn

Cả cuộc đời vì sự chấn hưng dân tộc

Kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911/5-6-2011)

QĐND – Đã có rất nhiều học giả, nhà nghiên cứu dành không ít thời gian và tâm huyết để làm sáng rõ và hiểu sâu sắc, toàn diện hơn ý nghĩa lịch sử, giá trị thời đại của chân lý, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Nhân dịp kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, trong bài viết này, chúng tôi xin ghi lại buổi trò chuyện, trao đổi với PSG, nhà giáo nhân dân Lê Mậu Hãn – nguyên Chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường Đại học Khoa học-Xã hội và Nhân văn và Trường Đại học Khoa học tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội).

3 kỳ tích làm nên thắng lợi

Suốt cả cuộc đời, Hồ Chí Minh hiến dâng cho sự nghiệp chấn hưng của dân tộc Việt Nam. Hiện nay, dân tộc Việt Nam tiếp tục đi theo con đường của Người đã vạch ra. Đặc biệt, một điều vô cùng đáng khâm phục ở Hồ Chí Minh là Người luôn đi trước, đi trong hoặc song hành chứ không đi sau các sự kiện lớn của dân tộc và của thế giới. Nói riêng về quá trình tìm đường cứu nước của Bác, có thể đưa ra 3 luận cứ làm sáng tỏ điều này.

Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp trên con tàu Amiran Latusơ Tơrêvin, đưa Người ra đi tìm đường cứu nước năm 1911. Ảnh tư liệu.

Thứ nhất, phải là người có tư duy mẫn cảm với thời cuộc thì Hồ Chí Minh mới có thể lựa chọn một con đường cứu nước, cứu dân mới vào đầu thế kỷ XX, khi các con đường cứu nước mà các vị tiền bối thực thi đều bế tắc và thất bại. Phải có một tinh thần phê phán đúng đắn, sự thấm nhuần vượt trội chủ nghĩa yêu nước nồng nàn, mới có được chuyến ra đi lịch sử của Người vào ngày 5-6-1911. Theo Người, con đường cứu nước của Hoàng Hoa Thám còn nặng cốt cách phong kiến đã không thể dẫn tới thắng lợi; con đường cầu viện Nhật Bản của Phan Bội Châu chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”; còn con đường cải lương của Phan Châu Trinh thì chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương. Việc không lặp lại thất bại của những người đi trước là một điều khó khăn, nhưng tìm ra một con đường mới phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử, đưa dân tộc giành được độc lập, tự do là một điều còn khó khăn hơn nhiều lần. Đây chính là một sự khước từ cái sai để đi tìm cái đúng; sự từ bỏ cái lạc hậu, lỗi thời để đi tìm cái tiên tiến, phù hợp với thời đại mới. Đó là sự vượt qua những lối mòn cũ kỹ để đi tìm được con đường mà dân tộc cần đi. Đó là sự khẳng định một bản lĩnh, một khả năng suy nghĩ độc lập và sáng tạo mà lịch sử đang đòi hỏi.

Có thể nói, vào thời đó, yêu nước nhiệt thành thì có rất nhiều người. Nhưng yêu nước để có một tư duy mẫn cảm, tư duy phê phán sắc sảo về các con đường yêu nước trước đó hoặc đương thời của các bậc cha anh rồi ra đi tìm con đường cứu nước mới, thì dường như chỉ có ở Nguyễn Tất Thành.

Điểm thứ hai trong sự nghiệp cách mạng tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc thể hiện rất rõ ở chỗ: Không phải bất cứ ai đều thành công trong việc đi tìm con đường cứu nước mới. Ở Hồ Chí Minh hội tụ đủ những yếu tố cần thiết cho sự dấn thân vào quá trình tìm đường, mở đường, dẫn đường cho dân tộc Việt Nam phát triển: Ý chí lớn lao, tinh thần ham học hỏi, sẵn sàng vượt qua mọi gian khó, sẵn sàng hòa mình vào cuộc sống của người lao động để cảm nhận thời cuộc. Người không có bằng cấp của học đường, nhưng ở Người hội tụ những tri thức uyên bác, cổ kim Đông – Tây, là sự chắt lọc, tiếp biến văn hóa, đúc kết thành khối tri thức và bản lĩnh chính trị, nhân cách cao đẹp. Nguyễn Tất Thành tiếp nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, qua đó tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn là bởi những yếu tố đó, khác với những bậc tiền bối yêu nước trước kia.

Điểm thứ ba làm nên thắng lợi trong sự nghiệp tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh là đã tìm được con đường cứu nước đúng đắn, nhưng phải vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với tình hình thực tiễn của dân tộc, của đất nước. Sau năm 1920 là thời gian trường kỳ truyền bá, huấn luyện, tổ chức để đưa con đường cứu nước đúng đắn về thực hành trên đất nước Việt Nam, mà một vấn đề có tính chất then chốt là thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam – một tổ chức để lãnh đạo, đoàn kết toàn dân tộc, hòa cùng thời thế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại và sức mạnh quốc tế để dân tộc ta phát triển theo con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Hồ Chí Minh luôn sống trong nhịp đập của đất nước bởi sự nghiệp của Người, tư tưởng của Người vẫn đồng hành cùng dân tộc. Tư tưởng của Người có trong hành trang của dân tộc Việt Nam và nhân loại cần lao tiến bước vào văn minh, tiến bộ. Cả cuộc đời Hồ Chí Minh là một thông điệp cho sự phát triển. Điều đó trở thành một tài sản tinh thần quý báu cho dân tộc Việt Nam, cho nhân dân lao động trên toàn thế giới.

Giá trị thời đại – nhìn từ góc độ hội nhập quốc tế

Xuất phát từ các giá trị văn hóa – văn minh nhân loại, lấy văn hóa soi đường cho quốc dân đi, đem văn minh chống lại dã man, vì vậy, sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng con người dưới sự dẫn dắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự nghiệp văn hóa – văn minh vĩ đại ở Việt Nam, trong đó, kết hợp chặt chẽ giữa giải phóng với phát triển và hoàn thiện con người. Đó là bí quyết thành công của cách mạng Việt Nam mà Người đúc rút từ tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại vận dụng vào nước ta. Điều đó cắt nghĩa trong mọi hoàn cảnh lịch sử, Người luôn chủ trương nâng cao dân trí, phát triển văn hóa, đẩy mạnh giáo dục đạo đức và nhân cách cho toàn dân, đi đôi với mở cửa tiếp thu tinh hoa văn hóa – văn minh nhân loại. Xã hội mà Người chủ trương xây dựng là sự kết hợp giữa việc thừa kế, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của văn hóa – văn minh dân tộc với tiếp thu tinh hoa văn hóa – văn minh nhân loại, thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa yêu nước – nhân văn Việt Nam và chủ nghĩa quốc tế trong sáng.

Suy cho cùng, con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm thấy và dẫn dắt dân tộc thực hiện đã đưa tới những thắng lợi vĩ đại của dân tộc, đồng thời cũng là đóng góp vào giải quyết khát vọng lớn lao nhất, mục tiêu văn hóa – văn minh cao cả nhất của nhân loại là cải tạo thế giới để giải phóng con người.

Một thế kỷ đã trôi qua, chúng ta càng thêm thấu hiểu ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại của sự kiện Hồ Chí Minh “đi ra thế giới” để thâu thái những giá trị văn hóa – văn minh nhân loại, tìm đường cho sự sinh tồn và phát triển của dân tộc. Ngày 5-6-1911 không chỉ là sự kiện đánh dấu sự khởi đầu của quá trình tìm đường cứu nước của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, mà còn là sự kiện mở ra quá trình Việt Nam từng bước hội nhập vào dòng tiến hóa theo xu thế mới của nhân loại dưới sự dẫn dắt của Người. Trong quá trình đó, trên cơ sở tiếp nhận những giá trị văn hóa – văn minh nhân loại và nắm bắt được xu thế phát triển của loài người trong thời đại mới, thông qua con đường cách mạng mà Người đã lựa chọn, Việt Nam đã kết hợp thành công sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo nên sức mạnh tổng hợp đem đến những thắng lợi vĩ đại cho cách mạng Việt Nam trong một thế kỷ qua. Mặt khác, trong quá trình đó, dân tộc ta đã góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại, làm cho thế kỷ XX trở thành thế kỷ phi thực dân hóa, thúc đẩy lịch sử loài người tiến lên theo hướng tiến bộ. Bởi vậy, kiên trì con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn không chỉ giữ vững mục tiêu độc lập – tự do – hạnh phúc cho dân tộc và mỗi người dân Việt Nam, mà còn là giữ vững các nhân tố đảm bảo cho thắng lợi của cách mạng nước ta để đất nước tiếp tục tiến bước mạnh mẽ, nhằm hoàn thiện những mục tiêu vì dân tộc, vì con người Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với các giá trị trên đây, sự kiện lịch sử Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước càng có ý nghĩa thực tiễn. Với đường lối đổi mới của Đảng, trên thực tế, sự hội nhập quốc tế của Việt Nam cũng là tiếp tục quá trình dân tộc ta đi ra thế giới trong điều kiện lịch sử mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh để thâu nhận các giá trị văn hóa – văn minh nhân loại và nắm bắt xu thế phát triển của loài người, nhằm vận dụng và tiến hành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo ra các điều kiện để thực hiện ngày một hoàn chỉnh các nội dung của tiêu chí độc lập – tự do – hạnh phúc cho dân tộc và con người Việt Nam.

100 năm đã trôi qua nhưng sự kiện Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước vẫn còn nguyên ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại. Ngày nay, trong hành trình hội nhập cùng nhân loại đi đến tương lai, chúng ta càng tin tưởng và kiên trì phấn đấu theo con đường Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã chỉ ra, quyết tâm đưa ngọn cờ tiên phong của Người đến đích thắng lợi.

Đào Hồng (ghi)
qdnd.vn