Tag Archive | Thời sự

13. Giai cấp nông dân

Giai cấp nông dân, chủ chốt là bần nông và trung nông là quân đội chủ lực của kháng chiến và của cách mạng dân chủ mới (cố nông thuộc về giai cấp công nhân).

Ở nông thôn, bần nông là lớp người đông nhất, và nghèo khổ nhất. Họ chân bùn tay lấm quanh nǎm, mà vẫn suốt đời đói rách, vì họ bị địa chủ phong kiến bóc lột tàn tệ. Bần nông hǎng hái kháng chiến, hǎng hái cách mạng, và rất mong muốn thực hiện chính sách dân cày có ruộng. Vì vậy họ là đồng minh chắc chắn nhất của giai cấp công nhân.

Trung nông là lớp người mình cày ruộng của mình, không bóc lột ai, cũng không phải làm thuê cho ai. Họ sinh sống khá hơn bần nông. Song gặp mất mùa thì họ cũng chật vật. Vả lại họ cũng bị bọn địa chủ, bọn cho vay nặng lãi, và bọn đế quốc áp bức bóc lột. Thực hiện chính sách “dân cày có ruộng” thì họ cũng có lợi. Cho nên họ cũng hǎng hái kháng chiến, hǎng hái cách mạng. Vì vậy, họ là đồng minh chắc chắn của giai cấp công nhân.

Cách mạng ta hiện nay là chống đế quốc, chống phong kiến. Nông dân là lớp người đông nhất trong nhân dân, cho nên họ là quân chủ lực của cách mạng.

Trong cuộc kháng chiến của ta, nông dân đóng góp nhiều nhất, hy sinh nhiều nhất. Trong quân đội ta, tối đại đa số là nông dân. Trong công cuộc xây dựng dân chủ mới, muốn phát triển công nghệ và thương nghiệp, ắt phải do nông dân được giải phóng, thi đua sản xuất, cung cấp nguyên liệu và lương thực, đồng thời tiêu thụ dồi dào những thứ công nghệ sản xuất ra.

Nhưng vì hoàn cảnh kinh tế lạc hậu, mà nông dân thường có tính thủ cựu, rời rạc, tư hữu. Cho nên giai cấp công nhân phải đoàn kết họ, giúp tổ chức họ, và lãnh đạo họ, thì họ là một lực lượng rất to lớn vững chắc. Thế là công nông liên minh.

cpv.org.vn

14. Giai cấp tiểu tư sản

Giai cấp này gồm có: phần tử trí thức, các nhà công nghệ và thương nghiệp nhỏ, thủ công nghệ, những người làm nghề tự do (như thầy thuốc, luật sư…), công chức.

Đại đa số trí thức và học sinh thuộc giai cấp tiểu tư sản. Nói chung, thì họ cũng bị đế quốc và phong kiến áp bức, thường bị thất nghiệp, thất học.

Họ có học thức, dễ có cảm giác chính trị. Họ không trực tiếp bóc lột lao động. Vì vậy, họ dễ tiếp thụ sự giáo dục cách mạng và cùng đi với công nông.

Song trí thức và học sinh thường mắc những nhược điểm rất to, như: lý luận không đi đôi với thực hành, xem khinh lao động, tư tưởng mơ hồ, lập trường không vững, khi hành động thì hay lung lay.

Những lớp tiểu tư sản khác (những nhà công nghệ và thương nghiệp nhỏ, những người làm nghề tự do, v.v.) cũng bị đế quốc và phong kiến bóc lột. Kinh tế của họ bấp bênh, thường bị thất nghiệp, phá sản. Cho nên số đông cũng tham gia và ủng hộ kháng chiến, cách mạng. Họ cũng là đồng minh quan trọng của giai cấp công nhân.

Nói chung là giai cấp tiểu tư sản có những nhược điểm: tự tư tự lợi, rời rạc, kém kiên quyết… Cho nên đối với họ, giai cấp công nhân cần phải tuyên truyền, tổ chức họ, giúp họ phát triển ưu điểm, sửa chữa nhược điểm, cần phải khôn khéo lãnh đạo họ, làm cho họ quyết tâm phụng sự nhân dân, cải tạo tư tưởng, cùng với công nông kết thành một khối, thì họ mới trở nên tác dụng to lớn trong công cuộc kháng chiến, cách mạng.

cpv.org.vn

15. Giai cấp tư sản dân tộc

Là giai cấp tư sản không dính líu với đế quốc, hoặc dính líu rất ít. Một mặt thì họ bị đế quốc và phong kiến ngǎn trở, cho nên họ cũng muốn chống đế quốc và phong kiến. Nhưng mặt khác, họ là giai cấp bóc lột, cho nên họ cũng sợ giai cấp bị bóc lột nổi lên đấu tranh. Vả lại về mặt kinh tế, họ còn dính líu ít nhiều với địa chủ phong kiến, cho nên đối với việc cải cách ruộng đất, họ còn do dự. Do đó mà tư sản dân tộc vừa muốn cách mạng vừa muốn thoả hiệp. Bởi vậy, giai cấp công nhân cần phải vừa đoàn kết với họ, vừa đấu tranh với họ để bảo vệ quyền lợi của công nhân. Có như vậy, giai cấp tư sản dân tộc mới phát triển được tác dụng cách mạng của họ, và phát triển kinh tế của họ.

Dù đặc điểm khác nhau, tác dụng khác nhau, song trong kháng chiến, trong cách mạng dân chủ mới, các giai cấp công, nông, tiểu tư sản và tư sản dân tộc, đều có lợi ích chung, mục đích chung, cần phải đoàn kết lại thành mặt trận dân tộc thống nhất mạnh mẽ, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và chính đảng của giai cấp ấy tức là Đảng Lao động Việt Nam. Như thế, thì kháng chiến nhất định thắng lợi, kiến quốc nhất định thành công.

cpv.org.vn

16. Cách mạng và kháng chiến

Trước đây Việt Nam ta là một nước thuộc địa và phong kiến. Cho nên cách mạng của ta là cách mạng dân tộc và dân chủ mới, tức là chống đế quốc, chống phong kiến. Rồi tiến dần đến chủ nghĩa xã hội.

Cách mạng ta đã trường kỳ và gian khổ, mới đến thành công.

Nǎm 1917, cách mạng Nga thành công. Chủ nghĩa Mác – Lênin dần dần truyền đến nước ta. Chính đảng của giai cấp công nhân là Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập nǎm 1930. Đảng ra sức tuyên truyền, tổ chức. Phong trào công nông bắt đầu tiến mạnh. Cách mạng Trung Quốc cũng ảnh hưởng rất lớn đến cách mạng ta.

Trải 15 nǎm đấu tranh gian khổ, bị đế quốc và phong kiến khủng bố, giết chóc, tù đầy, nhưng Đảng Cộng sản chẳng những không bị tiêu diệt, mà lại được thử thách dùi mài, càng ngày càng phát triển mạnh mẽ.

Nǎm 1939, Thế giới chiến tranh lần thứ hai nổ bùng. Nǎm 1945, Liên Xô đánh thắng phát xít Đức và Nhật. Nhờ đó, nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Việt Minh, nổi lên cách mạng, tranh lấy chính quyền, lập thành Nhà nước dân chủ cộng hoà.

Nhưng đế quốc Pháp – Mỹ muốn cướp nước ta. Đồng minh của chúng là địa chủ phong kiến muốn bán nước ta. Cho nên ta phải kháng chiến cứu nước.

Nǎm 1945, Đảng còn nhỏ, Việt Minh còn yếu, song nhờ sức đoàn kết của nhân dân, mà cách mạng ta thắng lợi.

Ngày nay, ta có chính quyền nhân dân mạnh mẽ, có Mặt trận dân tộc vững chắc, có Quân đội nhân dân hùng mạnh. Có Đảng Lao động tiếp tục truyền thống anh dũng của Đảng Cộng sản Đông Dương, theo chủ nghĩa Mác – Lênin, kinh qua những cuộc chỉnh Đảng, chỉnh phong làm cho tổ chức và tư tưởng của Đảng thêm mạnh mẽ và trong sạch. Nhân dân ta ngày thêm đoàn kết chặt chẽ. Đó là những điều kiện làm cho kháng chiến nhất định thắng lợi.

cpv.org.vn

17. Chế độ Nhà nước dân chủ cộng hoà

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã đánh đổ nền thống trị tối tǎm của đế quốc và phong kiến, đã đưa nhân dân ta lên con đường sáng sủa, vẻ vang. Nhà nước ta đã thành nhà nước của nhân dân.

Nhà nước là gì? Trải mấy muôn nǎm, xã hội cộng sản nguyên thuỷ không có chế độ tư hữu, không có sự bóc lột, không có giai cấp, thì không có nhà nước.

Từ khi có chế độ tư hữu, người giàu thành giai cấp bóc lột, người nghèo thành giai cấp bị bóc lột. Giai cấp người giàu xây dựng bộ máy thống trị gồm có chính phủ, quân đội, toà án, cảnh sát, v.v.. Bộ máy ấy gọi là nhà nước để thống trị giai cấp bị bóc lột. Nhà nước phong kiến là công cụ của địa chủ để thống trị nông dân. Nhà nước tư bản là công cụ của giai cấp tư sản để thống trị giai cấp công nhân.

Song từ cách mạng Nga thành công, một xã hội mới ra đời, nhà nước đã trở nên công cụ thống trị của nhân dân lao động.

Nhà nước ta cũng là nhà nước của đại đa số nhân dân, để thống trị thiểu số phản động, để giữ gìn lợi ích của nhân dân, bằng cách dân chủ chuyên chính của nhân dân.

cpv.org.vn

Bác Hồ và Phật giáo

 Xuất thân trong các cuộc vận động của Phật giáo (1963-1966), thời đi theo kháng chiến (1966-1975), tôi có nhiều dịp chuyển thư từ, hình ảnh của Hoà thượng Thích Đôn Hậu và bà con Phật tử tập kết ngoài miền Bắc vào cho các chùa và đồng bào theo Đạo Phật ở Huế.

Nhờ thế, sau ngày thống nhất đất nước (1975), nhiều lần tôi được các Sư bà Thích nữ Diệu Không, Sư bà Thích nữ Cát Tường, Sư cô Tịnh Giải (thế danh là Trương Thị Bích Vân) tiếp tại chùa Hồng Ân và chùa Kiều Đàm (Huế). Sư bà Cát Tường cho tôi chiếc xe Jeep của trường Mẫu giáo Kiều Đàm trước năm 1975.

Tôi không được dùng xe riêng nên đã chuyển cho anh Võ Đông – Trưởng phòng TTVH TP Huế sử dụng vào việc công. Chiếc xe ấy đã giúp nhiều việc cho phòng, mãi đến thời gian gần đây mới cho “giải nghiệp”.

aẢnh IE

Biết tôi là người rất lịch sử, thích chuyện cũ và thơ văn, Sư bà Thích nữ Diệu Không đã kể cho tôi nghe chuyện các gia đình Hồ Đắc – Cao Xuân của Sư bà quan hệ với gia đình Bác Hồ, chuyện Phật giáo cứu dân và đặc biệt chuyện Sư bà làm thơ Kỷ niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, thơ mừng Ngày thống nhất đất nước 30/4/1975.

1. Chuyện ông Tư Sinh

Sau ngày đất nước thống nhất, tôi quan tâm ngay việc nghiên cứu Huế để giải toả những thắc mắc về lịch sử Huế mà suốt thời gian theo kháng chiến, tôi không tự trả lời cho mình được.

Một trong những thắc mắc đó là thời gian gần mười năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sống và học hành ở Huế. Nhờ có ý thức sớm như vậy, tôi đã may mắn gặp được những người bạn học, những “người cùng thời” với Bác ở Huế.

Một trong những “người cùng thời” đó là Sư bà Thích nữ Diệu Không. Sư bà không những là người cùng thời mà còn từng làm dâu trong gia đình Cao Xuân Nghệ An – gia đình có mối quan hệ sâu sắc với gia đình thân sinh của Bác.

Sư bà Diệu Không nhũ danh Hồ Thị Hạnh, ái nữ của cụ Thượng Hồ Đắc Trung, lúc chưa xuất gia là vợ ông Cao Xuân Xang (con trai thứ của cụ Cao Xuân Dục). Sư bà tiếp tôi trong phòng khách của chùa Kiều Đàm (Huế).
[…]

Sư bà kể:

-“Năm lên 10 tuổi, tôi theo thầy tôi là cụ Hồ Đắc Trung vào ở trong Bộ Học. Lúc ấy tôi mới học chữ Hán nên hễ thấy đâu có chữ Hán là để mắt đọc, đọc không hiểu thì hỏi. Bỗng tôi thấy trên tường vừa quét vôi trắng có chừa một khoảng tường cũ ám khói.

Trong khoảng ấy có ghi một câu cách ngôn bằng chữ Hán nét chữ đã cũ nhưng rất đẹp. Tôi đọc lõm bõm được vài chữ những không hiểu hết ý nghĩa nên hỏi thầy tôi. Thầy tôi đáp:

-“Nghe nói trước đây, gian phòng này dành cho ông Tư Sinh ở. Ông hay đặt cách ngôn và viết lên vách để dạy con. Ông viết nhiều lắm nhưng thợ bên Bộ Công qua sửa nhà bôi hết. Còn câu ấy chữ đẹp và có ý nghĩa răn dạy con cái rất tốt nên thầy truyền cho thợ phải để lại.”

Bà kể tiếp:

– “Sau đó, thầy tôi không làm ở Bộ Học nữa. Tôi lớn lên, lấy chồng là ông Cao Xuân Xang – con trai cụ Cao Xuân Dục – bạn với thầy tôi (1). Nhớ chuyện cũ, có lần tôi hỏi nhà tôi:

– “Anh có biết ông Tư Sinh đã từng ở trong Bộ Học – nơi anh ở trước đây không?”

Ông nhà tôi đáp:

– “Biết rõ. Ông Tư Sinh là người cùng quê Nghệ An với mình, năm Ất mùi (1895) ông có nhận học điền của họ Cao Xuân (Diễn Châu) để vào Kinh thi Hội, đi một lần với anh Cả (2). Nhưng khoa đó ông không đậu. Cho mãi đến khoa Tân Sửu (1901), ông mới đỗ Phó bảng. Sau này, con ông là Nguyễn Sinh Côn, học sinh trường Đông Ba và trường Quốc Học cũng được họ Cao Xuân cấp học điền. Gia đình ông Phó bảng có nhiều ân nghĩa với gia đình mình”.

Tôi (Sư bà Diệu Không) có cái tính hay hỏi nên hôm đó đã hỏi ông nhà tôi: “Ai là người Nghệ có chí học hành thì được họ Cao Xuân cấp học điền, chứ có riêng chi cha con ông Tư Sinh mà anh nói nhiều ơn nghĩa?”. Ông nhà tôi không muốn kể nhưng biết tính tôi cứ đeo hỏi nếu chưa được trả lời đầy đủ.

Để khỏi bị “quấy rầy”, ông đã giải thích tiếp: “Năm ấy, ông mình (3) đang chuẩn bị thành lập Bộ Học cho Triều đình thì một hôm, ông Phó bảng từ Nghệ An vào thăm ông.

Ông hỏi Phó bảng: “Chú Bảng vào Kinh làm chi?”

Ông Phó bảng đáp: “Xin thú thật với cụ, từ ngày mẹ các cháu mất, tôi phải nuôi dạy các cháu một mình. Nuôi dạy và thương yêu các cháu cũng là một cách làm vừa lòng mẹ các cháu dưới suối vàng. Tôi không rõ các cháu nghe ai xúi giục, các cháu muốn học chữ Tây. Ngoài quê mình ngặt một điều không có ai dạy và cũng chẳng ai trọng nể việc học chữ Tây, nên tôi phải vào Kinh”.

Ông cười rồi vặn hỏi ông Bảng: “Thế chú có biết dưới mắt người Tây, những người đỗ đại khoa như chú mà không làm quan thì làm chi không?” – Ông Phó bảng ngẫm nghĩ mãi mà vẫn không tìm được câu trả lời.

Ông mới nói tiếp: “Không làm quan thì làm giặc đó. Đời nào người Tây để cho chú yên để dạy con ở giữa chốn Kinh kỳ này”.

Ông Bảng lo lắng: “Thế cụ bảo cháu phải làm gì?” Ông dạy: “Chú phải làm quan”. Ông Phó bảng phân trần: “Cái đời làm quan vào lòn ra cúi, cháu không muốn!”. Ông bảo: “Thế thì chú không ở đây được”. Ông Bảng van nài: “Thế thì cụ cho cháu một chức quan mà chẳng ai thèm làm để cháu được ở đây!”.

Thế là ông Phó bảng Nguyễn Sinh Huy được bổ làm Tư vụ Học chánh (tùng bát phẩm 7-2) và được đến ở ngay trong nhà của Bộ. Ông Bảng làm Tư vụ nhưng chẳng mấy khi ông chịu làm việc. Suốt ngày ông uống rượu, ngâm thơ và đặt cách ngôn viết lên vách dạy con cái thôi. Quan lại và nhân viên chung quanh ông rất khó chịu trước thái độ của ông. Sở dĩ không ai dám nói ra điều gì vì họ nể ông.

Về sau ông Phan Châu Trinh đi hoạt động cách mạng, bỏ trống chức Thừa biện ở Bộ Lễ lâu ngày, ông Bảng bị chuyển sang điền khuyết. Từ đó ông được Triều đình cấp cho một gian nhà ở dãy trại đường Đông Ba”.

Chuyện kể của Sư bà đã giúp tôi thông tin để viết về chuyện cụ Nguyễn Sinh Huy vào Huế làm quan. Thông tin này chưa từng được phát hiện nên tôi đã phải ghi chép xong rồi đem đọc lại cho Sư bà nghe. Sư bà sửa chữa nhiều lần rồi tôi mới dám đưa vào cuốn sách Đi tìm dấu tích thời niên thiếu của Bác Hồ ở Huế (Nxb Văn Học tái bản năm 2003).

2. Phật giáo cứu dân

Và Sư bà cũng kể những hoạt động của Phật tử Sài Gòn trước và sau ngày 30/4/1975 để tôi viết báo.

Sư bà dạy tôi:“Kháng chiến lo cứu nước, mình là Phật giáo còn phải hoạt động cứu dân. Không những cứu bớt đổ máu, cứu những đổ nát mà còn phải cứu thoát ra khỏi sự sợ hãi để hưởng thống nhất hoà bình an lạc!

Tôi rất thấm thía lời dạy của Sư bà. Đây không phải là một lời nói, một khẩu hiệu suông mà cả một thực tế rất quý báu. Suốt những năm chiến tranh, sau các cuộc giao tranh diễn ra ở vùng nông thôn, nhiều xác cán bộ, bộ đội du kích cách mạng…không may nằm lại giữa ruộng đồng, dân chúng, và người thân của liệt sĩ ít người dám ra mặt nhận xác về chôn.

Gặp những tình huống như thế, các Khuôn hội Phật giáo chắp tay trước mọi hiểm nguy đứng ra đảm nhận việc chôn cất. Một số nơi còn dựng cả am miếu để thờ người chết trận. Sau chiến dịch Huế xuân 1968, nhiều người Huế bị chính quyền VNCH bắt giam vào lao Thừa Phủ vì bị tình nghi đã cộng tác với Mặt trận Giải phóng.

Đến ngày Rằm tháng bảy năm Mậu Thân (1968), Sư bà Diệu Không tổ chức ngày “Xá tội vong nhân”, đứng ra xin Chính quyền VNCH trả tự do cho hàng trăm tù chính trị chưa xác định được “tội danh” – một trong những người được trả tự do năm ấy là anh Hoàng Phủ Ngọc Phan.

Nếu không được Sư bà “cứu” thì địch đã phát hiện ra Hoàng Phủ Ngọc Phan  một người Cộng sản thứ thiệt ở Huế, và chắc chắn không làm gì còn có nhà báo viết chuyện cười Hoàng Thiếu Phủ sau này. Và, anh của Phan là Hoàng Phủ Ngọc Tường và tôi – ba anh em cùng thoát ly và cùng hoạt động ở chiến khu Huế – khó lòng được yên ổn để đi cho đến tận cùng cuộc kháng chiến cứu nước.

Thời gian cuối tháng 4/1975, Sư bà Diệu Không đang ở Sài Gòn. Ngày nào Phật tử cũng đem đến cho Sư bà những tin tức chiến sự nghe được qua các đài phát thanh Sài Gòn, Hà Nội, BBC, VOA…

Sau khi nghe tin vùng cao nguyên và các tỉnh dọc bờ biển miền Trung phần từ Huế vô đến Xuân Lộc đã được giải phóng, đêm 29/4, sân bay Tân Sơn Nhất lại bị pháo kích dữ dội, Sư bà nghĩ thế nào ngày mai Quân giải phóng cũng vào đến Sài Gòn.

Trưa ngày 30/4/1975, Sư bà cho tổ chức các xe phóng thanh chạy khắp thành phố kêu gọi binh lính Sài Gòn bỏ súng. Tại Đại học Vạn Hạnh gần cầu Trương Minh Giảng (nay là đường Lê Văn Sĩ), thanh niên sinh viên Phật tử đeo băng xanh đỏ thiết lập trạm tiếp nhận súng ống bên cạnh các xe tải cắm cờ Ngũ sắc của Phật giáo.

Những binh lính ở xa nhà, lỡ đường có thể vào tá túc trong các chùa Phật. Bà vận động các chùa nấu cơm tiếp tế cho dân chúng đang tham gia công tác trên các đường phố và binh lính Sài Gòn vừa giải giáp. Những việc này chưa hề được ghi lại trong trang sử Giải phóng Sài Gòn 30/4/1975.

Tôi hỏi cảm tưởng của Sư bà trước sự kiện 30/4/1975, Sư bà trả lời bằng một bài thơ ngắn nói về công ơn Hồ Chủ tịch :

Tặng Việt Nam Độc lập

Trăm tám năm rồi mới thấy đây,
Tên Người vang dội cả thời nay.
Non sông là vợ bao tình nghĩa,
Cha của con dân nước Việt nầy.

3. Thơ kỷ niệm Hồ Chủ tịch

Cuối những năm tám mươi của thế kỷ trước, tôi được Thành ủy Huế mời đóng góp bài cho cuốn sách Bác Hồ trong lòng dân Huế. Trong tay tôi đã có sẵn bài Ba lần được gặp Cụ Hồ của Hòa thượng Thích Đôn Hậu đã ghi được ngay sau ngày Việt Nam thống nhất, tôi xin bà Tâm Hải Đào Thị Xuân Yến (tức bà Nguyễn Đình Chi), đệ tử của Hòa thượng Thích Đôn Hậu bổ sung thêm bài Vinh dự lớn lao.

Bà Tâm Hải bảo tôi: “Sư bà Thích nữ Diệu Không” rất quý trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh, nên xin gặp bà và đề nghị bà viết cho một bài”.

Tôi thực hiện ý kiến của bà Tâm Hải ngay. Nhưng lúc Sư bà Diệu Không lại đi Thành phố Hồ Chí Minh nên chuyện “xin bài” của Sư bà chưa thành. Sau này có dịp lên thăm Sư bà ở chùa Hồng Ân, tôi kể lại chuyện cũ, Sư bà rất tiếc.

Để chứng tỏ gợi ý của bà Tâm Hải là đúng, Sư bà Diệu Không đứng dậy mở tủ lục trong cặp tư liệu lấy đưa cho tôi bài thơ Kỷ niệm Hồ Chủ tịch 3 khổ, đánh máy trên nửa trang giấy Ronéo vàng rộm và một chùm thơ đánh máy trên giấy pơ-luya mỏng. Chùm thơ 16 bài vừa sáng tác vừa dịch, mang tựa đề Thăng Long ký sự. 

Kỷ niệm Hồ Chủ tịch

Giải phóng quê hương khỏi đọa đày
Chí Người như núi vững không lay.
Tình người như nước lan tràn cả,
Kỷ niệm người như một bậc Thầy.
Bậc Thầy cao cả của non sông
Cùng với Thuyền Sư đôi điểm đồng
Cách mạng tình người về nẻo chánh,
Phá vòng nô lệ thoát lao lung.
Lao lung vì chẳng rõ đường ra,
Dẹp hết ma tâm, sạch giống tà.
Cần kiệm thanh cao nuôi chí lớn,
Lòng thành trong sạch nước Nam ta.

Tác giả không ghi thời điểm sáng tác bài thơ này. Theo văn cảnh và ý tứ trong thơ, có lẽ Sư bà đã sáng tác bài Kỷ niệm Hồ Chủ tịch ngay trong những ngày vui đất nước được giải phóng và thống nhất vào cuối tháng 4 đầu tháng 5/1975.

Đối với chùm thơ Thăng Long ký sự, Sư bà ghi rõ thời gian sáng tác “Mùa thu Bính Thìn 1976”, trong dịp Sư bà đi thăm miền Bắc. Trong 16 bài trong Thăng Long ký sự có hai bài thơ dịch: Bài Cảm thời  của Nguyễn Trãi do cụ Cao Xuân Huy (Giáo sư Bác Cổ Hà Nội) sao lục và bài Đi chùa của Hồ Chủ tịch do cán bộ Phật giáo Vũ Ngọc Hồng sao lục tặng Bà. Xin trích bài Đi chùa của Hồ Chủ tịch

Sơn trung tiều phu xướng
Thủy thượng khách thuyền quy.
Như thi trung họa họa
Trung thi kỳ họa thi             

Thích nữ Diệu Không dịch,

Chú tiều trong núi hát
Khách Thuyền trên sông về.
Như thơ trong bức vẽ
Bức vẽ trong lời thi

(Mùa thu Bính Thìn 1976).

Trong chuyến đi thăm Thăng Long Hà Nội cuối năm 1976 ấy, bà đã đến viếng nhiều cảnh, nhiều người như Thăm chùa xưa, Thăm tháp Quảng Đức (chùa Hòa Giai Hà Nội), Thăm tháp Bổn Sư Hồ Chủ tịch, Thăm trường Quảng Bá, Đêm thu trên Hồ Tây, Đi thăm mộ.v.v. và đặc biệt, xin trích bài Sư bà đi:

Thăm lăng Hồ Chủ tịch
Dù người còn mất chẳng hề chi,
Thống nhất non sông mới lạ kỳ.
Bất diệt muôn đời đều nhớ rõ,
Những lời di chúc lúc ra đi.

Tâm và ý của Sư bà đối với Hồ Chủ tịch thể hiện đầy đủ trong thơ của Sư bà. Qua đó ta thấy tâm và ý của một Ni trưởng Phật giáo khác với tâm và ý của các nhà yêu nước khác, khác với các vị lãnh đạo cách mạng đối với Hồ Chủ tịch.

Sư bà là một trong những người biết gia đình Bác từ thuở ấu thơ. Sư bà không những viết về sự nghiệp cứu nước của Bác mà Sư bà cùng đồng hành hoạt động yêu nước, yêu dân với Bác. Tuy nhiên, Bác là người đứng đầu Cách mạng Việt Nam, Sư bà là một Ni trưởng của Phật giáo Việt Nam. Sư bà không phải là người của Bác.

Theo Sư bà, Bác Hồ có “đôi điểm đồng” với Phật giáo. Đôi điểm đồng đó là khát vọng “Giải phóng quê hương khỏi đọa đày”, là “Cách mạng tình người về nẻo chánh/ Phá vòng nô lệ thoát lao lung”. Cách mạng Việt Nam đã thỏa mãn được khát vọng của dân tộc. Bác Hồ trở thành “Bậc Thầy cao cả của non sông“. Dân tộc Việt Nam, trong đó đa số là Phật tử “muôn đời đều nhớ rõ” ơn Bác, ơn Cách mạng Việt Nam.

Gác Thọ Lộc (Huế), tháng 12/2007    
bee.net.vn

Chú thích:

1.Sư bà Diệu Không thế danh là Hồ Thị Hạnh,  sinh năm 1905 (có nơi ghi 1906) em gái út trong gia đình 9 anh chị em con của cụ Hồ Đắc Trung.

Năm 1930, cô Hạnh lập gia đình với Cử nhân Cao Xuân Xang, sinh được một người con trai (Cao Xuân Chuân), hương lửa chưa quá một năm thì phu quân của bà mất vì bệnh lao.

Từ đó, bà lao vào việc từ thiện xã hội, rồi gởi con cho chị nuôi, bà xuất gia đầu Phật với pháp hiệu Thích nữ Diệu Không. Sư bà đã thành lập nhiều chùa Sư nữ ở miền Nam VN, ba ngôi nổi tiếng nhất  Diệu Đức, Hồng Ân, Kiều Đàm ở Huế.

2.Tức Cao Xuân Tiếu (1865-1939)

3.Tức Cụ Cao Xuân Dục thân sinh của Cao Xuân Tiếu và Cao Xuân Xang.

18. Nhân dân dân chủ chuyên chính

Trước kia Việt Nam ta vẫn có Nhà nước và chính phủ. Song đó là công cụ của đế quốc và phong kiến để áp bức nhân dân.

Cách mạng Tháng Tám thành công, ta lập ra chính phủ mới, quân đội, công an, toà án, pháp luật mới của nhân dân để chống kẻ địch trong và ngoài, và để giữ gìn quyền lợi của nhân dân.

Nhà nước mới của ta và Nhà nước cũ, tính chất khác nhau.

Tính chất của một Nhà nước là: trong nhà nước ấy, giai cấp nào thống trị, giai cấp nào bị thống trị. Nhà nước ấy bảo vệ lợi ích của giai cấp nào, đàn áp giai cấp nào.

Nhà nước cũ nằm trong tay đế quốc và phong kiến, tính chất nó là đế quốc và phong kiến, là phản động.

Nhà nước ta ngày nay là nằm trong tay nhân dân chống đế quốc và phong kiến. Tính chất nó là nhân dân dân chủ chuyên chính.

Nhân dân là: bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản và tư sản dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và của Đảng, các giai cấp ấy đoàn kết lại, bầu ra chính phủ của mình. Đối với nội bộ nhân dân thì thực hành dân chủ. Đối với đế quốc, phong kiến và lũ phản động, thì thực hành chuyên chính chống lại chúng, đàn áp chúng.

Trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà của chúng ta, tất cả mọi quyền lực đều là của nhân dân, tức là của các giai cấp công, nông, tiểu tư sản và tư sản dân tộc. Bốn giai cấp ấy do giai cấp công nhân lãnh đạo, lấy công nông liên minh làm nền tảng, đoàn kết các giai cấp dân chủ và các dân tộc trong nước, để thực hành dân chủ chuyên chính.

cpv.org.vn

19. Mặt trận dân tộc thống nhất (Liên – Việt)

Trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ, bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản và tư sản dân tộc đều là động lực của cách mạng.

Dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và của Đảng, bốn giai cấp đoàn kết và tổ chức thành mặt trận thống nhất to lớn mạnh mẽ. Vì trong công cuộc cách mạng chống đế quốc, chống phong kiến, trong sự nghiệp kiến quốc, phát triển kinh tế, bốn giai cấp ấy đều có lợi, cho nên bốn giai cấp ấy cần phải đoàn kết, cần phải hợp tác, cùng nhau xây dựng nhân dân dân chủ chuyên chính, để đưa kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công.

Vì sao cần phải lấy công nông liên minh làm nền tảng?

Vì giai cấp công nông là đông nhất, hơn 9 phần 10 trong nhân dân. Vì trong cuộc đấu tranh cách mạng, hai giai cấp ấy là kiên quyết nhất. Liên minh của hai giai cấp ấy là nền tảng rộng rãi và chắc chắn nhất của dân chủ chuyên chính. Trong cuộc kháng chiến cứu nước, hai giai cấp ấy cũng đóng góp nhiều nhất, hy sinh to nhất, thành tích lớn nhất. Giai cấp công nông là lực lượng chủ chốt để giữ gìn Tổ quốc, xây dựng nước nhà. Vì vậy công nông liên minh là nền tảng tự nhiên của mặt trận dân tộc thống nhất.

cpv.org.vn

20. Dân chủ tập trung

Ở nước ta chính quyền là của nhân dân, do nhân dân làm chủ. Nhân dân bầu ra các Hội đồng nhân dân, Uỷ ban kháng chiến hành chính địa phương, và Quốc hội cùng Chính phủ Trung ương.

Trong các cuộc bầu cử, công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt gái trai, tôn giáo, mức tài sản, trình độ vǎn hoá, không phân biệt nòi giống đều có quyền tham gia. Đó là một cách rất hợp lý, để nhân dân lao động thực hành quyền thống trị của mình.

Chế độ xô viết ở Liên Xô và chế độ nhân dân đại biểu đại hội ở các nước dân chủ mới đại khái cũng như vậy. ở Liên Xô không có giai cấp tư sản nữa. Xô viết tức là đại biểu cho toàn thể nhân dân: công nhân, nông dân trong các nông trường tập thể và tầng lớp trí thức.

ở Trung Quốc và ở nước ta, thì ngoài liên minh công nông, còn có giai cấp tiểu tư sản và tư sản dân tộc tham gia.

Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ.

Các cơ quan chính quyền là thống nhất, tập trung.

Từ Hội đồng nhân dân và Uỷ ban kháng chiến hành chính xã đến Quốc hội và Chính phủ Trung ương, số ít phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng trung ương. Thế là vừa dân chủ vừa tập trung.

Chế độ dân chủ tập trung khiến cho toàn thể nhân dân (công, nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc) đều trở nên chủ nhân chân chính của nước nhà, đều đoàn kết để kháng chiến kiến quốc.

cpv.org.vn

21. Quyền lợi và nghĩa vụ của nhân dân

Dưới sự thống trị của đế quốc và phong kiến, nhân dân chỉ có nghĩa vụ, như nộp sưu đóng thuế, đi lính đi phu mà không có quyền lợi. Câu tục ngữ dân ngu khu đen, đập đi hò đứng, đã nói rõ tình trạng ấy.

Dưới chế độ dân chủ cộng hoà, thì khác hẳn. Nhân dân có nghĩa vụ, đồng thời có quyền lợi. Nhân dân có quyền tự do tư tưởng, tự do tổ chức, tự do tín ngưỡng, v.v. có quyền ứng cử và bầu cử. Đàn bà có mọi quyền lợi như đàn ông. Các dân tộc trong nước đều có quyền lợi như nhau.

Nhân dân được hưởng những quyền lợi ấy, cho nên mọi người cần phải hǎng hái làm tròn nghĩa vụ của mình trong mọi công việc kháng chiến, cứu nước, xây dựng nước nhà.

Nhân dân và quốc dân khác nhau.

Nhân dân là bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và những phần tử khác yêu nước. Đó là nền tảng của quốc dân.

Những bọn phản động chưa đến nỗi bị xử tử, vẫn là quốc dân. Nhưng chúng không được ở trong địa vị nhân dân, không được hưởng quyền lợi như nhân dân. Chúng không có quyền tuyển cử, ứng cử; không có quyền tổ chức tuyên truyền, v.v.. Song chúng cần phải làm tròn nghĩa vụ, như phục tùng trật tự, tuân theo pháp luật của nhân dân.

Đối với nhân dân, thì công cụ của nhà nước dân chủ mới – (Chính phủ, pháp luật, công an, quân đội, vân vân) – là để giữ gìn quyền lợi của nhân dân.

Đối với bọn phản động, thì những tổ chức ấy là để bắt buộc chúng phải làm tròn mọi nghĩa vụ.

cpv.org.vn

22. Nhiệm vụ của nhà nước dân chủ mới

Mục đích của cách mạng là xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, tự do, giàu mạnh. Làm cho nhân dân được hưởng hạnh phúc và xây dựng một xã hội sung sướng, vẻ vang.

Muốn đạt mục đích ấy, thì phải ra sức kháng chiến, đánh tan bọn đế quốc xâm lược và tiêu diệt bọn phong kiến phản quốc.

Để kháng chiến thắng lợi, nước nhà phải xây dựng nhiều mặt:

– Xây dựng quân đội – một quân đội nhân dân thật mạnh, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và của Đảng. Quân đội ta phải được trang bị đầy đủ, phải học tập nhiều để tiến bộ mãi về mặt kỹ thuật. Phải luôn tǎng cường công tác chính trị để bảo đảm là quân đội cách mạng, quân đội quyết chiến quyết thắng.

– Xây dựng chính quyền – Phải cải tiến công tác trong các cơ quan chính quyền, tẩy sạch bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân. Phải giáo dục nhân dân biết sử dụng quyền lợi của mình và hǎng hái làm tròn nghĩa vụ của mình. Phải đàn áp nghiêm ngặt bọn phản động, ngǎn ngừa và trừng trị mọi hoạt động phá hoại.

– Xây dựng kinh tế – Phát triển nông nghiệp, công nghệ, thủ công nghệ, thương nghiệp, giao thông vận tải, để cải tiến kinh tế và tài chính của Nhà nước, cải thiện đời sống của nhân dân.

– Xây dựng vǎn hoá – Phải xây dựng một nền vǎn hoá dân tộc, khoa học, đại chúng. Phải nâng cao trình độ vǎn hoá của nhân dân. Phải đề xướng đạo đức công dân tức là yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, bảo vệ của công… Phải chống vǎn hoá nô lệ của đế quốc và phong kiến. Phải tǎng cường công việc vệ sinh, phải phát triển báo chí…

Những công việc xây dựng đó quan hệ mật thiết với nhau, lại quan hệ mật thiết với cuộc phát động quần chúng triệt để thi hành chính sách ruộng đất.

cpv.org.vn

Nhà sư cưu mang Hồ Chủ tịch trên đất Thái

– Năm 1929, Bác Hồ bị sự truy lùng ráo riết của chính quyền thực dân Pháp. Thời điểm này, Bác sang Thái Lan. Để có thể tiếp tục sự nghiệp cách mạng, Bác ẩn mình trong một ngôi chùa trên đất bạn. Những thông tin liên quan đến thời gian này của Bác vẫn là một khoảng trống trong các tư liệu được công bố về Bác.

Ngôi chùa trên đất Thái 

Vào tháng 7/1928, Bác Hồ từ Đức sang Thái Lan. Thời điểm đó, Pháp biết tin Người đang ở Xiêm nên đã phối hợp với cảnh sát Xiêm lúc ấy để truy bắt để giao nộp cho Pháp. Gặp lúc hiểm nguy, Bác Hồ đã lánh nạn vào một ngôi chùa Việt trên đất Thái vào tháng 7/1929. Hồi ký bà Đặng Quỳnh Anh (một Việt Kiều Thái Lan) cũng đã viết, lúc ấy, Bác từ U đon đi bộ 70km đến huyện Sa Vàng (tỉnh Sa Côn) mất 1 ngày.

su-3.jpgNhà sư Bình Lương chụp ảnh với bà con Việt Kiều Thái Lan trước khi về nước năm 1964.

Sau đó, Bác từ Sa Côn lên Băng Kok (cách đó hơn 600km) và vào chùa Từ Tế vào thời gian trên. Ngôi chùa này có tên Việt là Từ Tế Tự và tên Thái Lan là Vắt Lô Ca Nu Kho ở xã Chặc Ca Văn, huyện Xẳm Phăn Tha Vông – Băng Kok. Để tránh sự theo dõi và truy lùng gắt gao của cảnh sát Thái Lan và mật thám Pháp, Bác Hồ phải cạo đầu, mặc áo cà sa giả làm sư và ẩn dật trong ngôi chùa này. Sau thời gian trên, Bác hồ mới rời Thái Lan sang Thượng Hải, rồi sang Hồng Kông.

Việc Bác có mặt tại ngôi chùa đã được tác giả Trần Dân Tiên đề cập tới ở cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” do Nhà xuất bản Sự Thật in năm 1975. Trang 71 cuốn sách này có ghi:

“…Gặp nguy hiểm quá, bị theo dõi riết, ông Nguyễn đã lãnh nạn vào một ngôi chùa, tạm cắt tóc đi tu để tiếp tục hoạt động. Sự việc cũng được khẳng định trong cuốn “President Ho Chi Minh” của tác giả Vi Nay Khun U Đôm của Thái Lan. Trang 53 của cuốn này viết: “ để che mắt cảnh sát và mật thám Pháp, ông Hồ Chí Minh đã dùng áo cà sa làm vật che thân, bằng cách đi tu ở trong một ngôi chùa của người Việt ở thủ đô Băng Cốc”.

Sự việc trên cũng được minh chứng bởi hình ảnh Bác mặc áo cà sa vàng. Bức ảnh này từng được Hội Việt kiều Thái Lan tại Uông Bí tặng cho Hội Việt kiều Hà Nội. Tại khu lưu niệm về Hồ Chí Minh tại U đon Tha Ni của Thái Lan cũng có treo một bức ảnh Bác Hồ trong trang phục áo cà sa tương tự.

Nhà sư Bình Lương là người đã từng cưu mang Bác Hồ

Theo ông Ngô Vĩnh Bao – người đã có hơn 40 năm tìm hiểu các thông tin về Bác Hồ khi ở Thái Lan , thì thời gian Bác Hồ ở chùa Từ Tế, nhà sư Bình Lương đang làm trụ trì và nhà sư chính là người đã cưu mang Bác trong suốt thời gian từ tháng 7 đến tháng 11/1929. Trong một số tài liệu viết về Hồ Chí Minh của Thái Lan, có khá nhiều đoạn nhắc đến vị sư này.

Các bác sĩ bệnh viện Việt Xô sang tận nơi đón nhà sư Bình Lương về nước. Các bác sĩ bệnh viện Việt Xô sang tận nơi đón nhà sư Bình Lương về nước.

Nhà sư Bình Lương còn được cộng đồng người Việt ở Thái gọi là cụ sư Ba. Ông sinh năm 1882 tại xã Sơn Bằng, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh. Tên thật của nhà sư là Phan Ngọc Đạt.

Tháng 3/1964, nhà sư Bình Lương bị bệnh nặng. Thể theo nguyện vọng của nhà sư được về nước để sống những ngày cuối cùng và gặp lại chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ nguyện vọng này, phía ta đã có sự thoả thuận với Hội đồng thập tự Thái Lan và phía Việt Nam đã tổ chức một chuyến bay đặc biệt đưa nhà sư từ Băng Kok qua Viên Chăn và về Hà Nội. Bệnh viện Việt Xô lúc ấy cũng đã cử 2 bác sỹ sang tận nơi đón vị hoà thượng này về nước.

Và cũng từ đó, Bác Hồ nhiều lần vào thăm hoà thượng Bình Lương trong bệnh viện Việt Xô. Hiện Bảo tàng Hồ Chí Minh vẫn còn lưu giữ bức thư mà hoà thượng Bình Lương gửi cho Bác Hồ lúc hoà thượng đang nằm viện. Trong bức thư này, hoà thượng Bình Lương đã tường thuật lại câu chuyện Bác và thăm ông. Một lần, Bác vào thăm nhà sư nhưng nhà sư đang hôn mê. Bác hỏi: “Ông còn nhớ tôi không?”

Khi đó, nhà sư đang sốt và hôn mê nên ông lắc đầu. Khi tỉnh dậy, nhà sư được các bác sỹ kể lại. Ông lấy làm tiếc và đã viết thư cho Bác Hồ bày tỏ điều đó.

Chuyện người có công sưu tầm 

Phần thông tin về Bác tại Thái Lan trong các tư liệu hiện nay còn khá mờ nhạt. Ông Ngô Vĩnh Bao – một cán bộ ngoại giao nay đã về hưu đã dành hơn 40 năm qua để sưu tầm và nghiên cứu các tư liệu về Bác trong hành trình ở Thái Lan. Việc Bác từng ở chùa mới chỉ được đề cập qua loa trong một số tài liệu. Chính ông Bao là người trực tiếp tìm tòi những thông tin liên quan đến sự việc này một cách kỹ lưỡng.

Ông cho biết, ông đã dành rất nhiều thời gian để đi tìm lại nơi an táng cụ sư Bình Lương. Thời cụ mất (1966) đang chiến tranh loạn lạc nên những thông tin về cụ hoàn toàn không được chú ý. Ngay từ năm 1969, khi bắt đầu để tâm nghiên cứu các tư liệu về Bác, ông Bao đã mong tìm thấy mộ cụ sư Bình Lương nhưng ông không thể thực hiện được mong ước này vì các thông tin về cụ không có ai biết.

Mãi đến năm 2008, trong một lần vô tình đến chùa Long Ân (Quảng Bá, Tây Hồ, Hà Nội), ông Bao mới được biết nhà sư Bình Lương đang an bài tại đây. Cốt của nhà sư Bình Lương được đặt trong tháp cùng phần cốt của hoà thượng Thích Chí Độ.

Trong chùa Long Ân cũng có một bảng ghi công của hoà thượng Bình Lương. Bản ghi công này đã ghi rõ quá trình hoà thượng định cư tại chùa Từ Tế – ngôi chùa có công che giấu nhiều thế hệ làm cách mạng. Bảng ghi công này cũng cho biết lúc hoà thượng viên tịch Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã thay mặt Hồ chủ tịch đến đặt vòng hoa viếng.

Ngân Giang
bee.net.vn