Tag Archive | Thời sự

8. Vì sao nhân dân Việt Nam cực khổ ?

Phong kiến địa chủ và tư sản mại bản, thà chịu kinh tế nước nhà phụ thuộc vào đế quốc, chứ không muốn giải phóng nông dân, không muốn công nghệ nước ta được phát triển.

Thêm vào đó, trước Cách mạng Tháng Tám, công nhân, nông dân, học sinh, công chức và những nhà tư sản dân tộc Việt Nam không có quyền chính trị, không có quyền tự do.

So với công nhân các nước, thì công nhân Việt Nam rất khổ, nhất là công nhân vùng tạm bị chiếm. Làm nhiều giờ tiền lương ít. Lại thêm chế độ phải lễ lạt đút lót cho bọn cai là một chế độ bóc lột có tính chất phong kiến. Nạn thất nghiệp thường xảy ra.

Nông dân thì nghèo khổ đã sẵn, lại bị sưu cao thuế nặng. Địa chủ lấy địa tô quá nặng, cho vay cắt họng, làm cho nông dân nhiều khi phải bán vợ đợ con. Nếu gặp hạn hán bão lụt, là chết đói đầy đường.

So với công nhân, nông dân, thì giai cấp tiểu tư sản sướng hơn nhưng sinh hoạt của họ cũng không chắc chắn:

Người có tiệm buôn, người có xưởng thủ công hoặc xưởng công nghệ nhỏ thì bị hàng ngoại hoá đè lên, không phát triển được. Lại bị thuế khoá nặng nề và tiền lãi cắt họng uy hiếp.

Người làm thầy giáo, thầy thuốc, vǎn nghệ, vân vân, cũng không thể sung sướng trong lúc cả nước bần cùng.

Những nhà tư sản dân tộc cũng bị đế quốc và phong kiến đè nén ngǎn trở, không có đường ra, doanh nghiệp của họ rất bấp bênh và thường dễ phá sản.

Vì lẽ đó, muốn giải phóng thì nhân dân, tức là công, nông, tiểu tư sản và tư sản dân tộc, phải đoàn kết để đánh đổ đế quốc, đánh đổ phong kiến và tư sản mại bản.

cpv.org.vn

9. Con đường giải phóng

Không chịu nổi đế quốc và phong kiến áp bức bóc lột, nhân dân Việt Nam nhiều lần nổi lên đấu tranh, song kết quả thất bại, vì lúc đó chưa có giai cấp công nhân lãnh đạo. Từ ngày Cách mạng Nga thành công, Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập, thì nhân dân Việt Nam tiến lên con đường giải phóng đúng đắn.

Tất cả những người lao động trên thế giới đều có một mục đích chung là thoát khỏi áp bức bóc lột, được sống sung sướng tự do, tức là thực hiện chế độ cộng sản. Nhưng để đi đến mục đích ấy, mỗi nước phải tuỳ theo điều kiện thiết thực của mình mà tiến dần.

Tính chất thuộc địa và phong kiến của xã hội cũ Việt Nam khiến cách mạng Việt Nam phải chia làm hai bước. Bước thứ nhất là đánh đổ đế quốc, đánh đổ phong kiến, thực hiện “người cày có ruộng”, xây dựng chính trị và kinh tế dân chủ mới. Trong giai đoạn này, phải bảo vệ tư sản dân tộc, vì họ cũng chống đế quốc, chống phong kiến, và họ là một lực lượng để phát triển công nghệ, nông nghiệp và thương nghiệp. Bước thứ hai là tiến lên chủ nghĩa xã hội, tức là giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản.

Thời đại mới khiến cách mạng Việt Nam phải là cách mạng dân chủ mới (tức là cách mạng dân tộc – dân chủ nhân dân hiện nay). Cách mạng Nga thành công, mặt trận đế quốc và tư bản thế giới đã tan vỡ một phần sáu trên quả đất, đồng thời đã lập thành một chế độ xã hội chủ nghĩa vững chắc. Tiếp đến cách mạng các nước dân chủ nhân dân Trung, Đông Âu thành công, mở rộng thêm chủ nghĩa xã hội. Gần đây cách mạng Trung Quốc thành công, xây dựng và phát triển nền dân chủ mới. Từ đó mọi phong trào cách mạng của giai cấp lao động và của nhân dân các thuộc địa đều nhằm đánh đổ kẻ thù chung là đế quốc, và có hai người bạn trung thành và to lớn nhất là Liên Xô và Trung Quốc.

Vì vậy, cách mạng Việt Nam phải là cách mạng dân chủ mới, chứ không thể là dân chủ cũ.

cpv.org.vn

10. “Canh giả hữu kỳ điền”

Nghĩa là dân cày có ruộng.

Phải chǎng đó là một chủ nghĩa cộng sản, hoặc chủ nghĩa xã hội?

Không phải. Chủ nghĩa xã hội hoặc cộng sản là không có chế độ tư hữu. Trái lại “canh giả hữu kỳ điền” là làm cho hàng chục triệu dân cày thành tư hữu, đều có ruộng, đều có quyền sở hữu ruộng đất.

Cách đây hơn 150 nǎm, Cách mạng tư sản Pháp đã chia ruộng cho nông dân. Cách đây độ 50 nǎm, lãnh tụ tư sản Trung Quốc là cụ Tôn Trung Sơn đã để lại khẩu hiệu ấy. Ngày nay, các nước dân chủ nhân dân đều thực hành chính sách ấy. Có những nước không phải dân chủ, (thậm chí bọn bù nhìn) cũng nêu ra khẩu hiệu ấy.

Dân cày có ruộng chỉ là một chính sách dân chủ. Ruộng đất do tay nông dân khai khẩn và cày cấy. Phong kiến địa chủ chiếm đoạt làm của họ, rồi áp bức bóc lột dân cày. Lại do phong kiến địa chủ mà công nghệ và thương nghiệp của giai cấp tư sản không phát triển được, và nước nhà lâm vào kinh tế lạc hậu.

Vậy “canh giả hữu kỳ điền” là ruộng đất của dân cày lại trả lại cho dân cày. Song phong kiến địa chủ “ngồi mát ǎn bát vàng” đã quen, chắc họ không tự nguyện trả đất ruộng lại cho dân cày. Cho nên dân cày cần phải đoàn kết chặt chẽ, tổ chức vững vàng, hǎng hái đấu tranh, mới đòi lại được ruộng đất của mình.

cpv.org.vn

11. Động lực cách mạng

Cách mạng tức là giai cấp tiến bộ đánh đổ giai cấp phản tiến bộ.

Những giai cấp ủng hộ và tham gia cách mạng tức là động lực cách mạng.

Theo tính chất cách mạng của mỗi nước mà quyết định động lực cách mạng bao gồm những giai cấp nào. Tính chất cách mạng của ta là cách mạng dân chủ mới, cho nên động lực cách mạng gồm có những giai cấp: công nhân, nông dân, tiểu tư sản.

Trong một thời kỳ và một trình độ nhất định, giai cấp tư sản dân tộc cũng là động lực cách mạng.

Vì bị đế quốc và phong kiến áp bức bóc lột tàn tệ, cho nên giai cấp công, nông, tiểu tư sản nhiệt liệt mong muốn đánh đổ chúng. Tư sản dân tộc cũng bị đế quốc và phong kiến áp bức ngǎn trở, cho nên họ cũng có thể đứng về phe cách mạng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động, 4 giai cấp ấy đoàn kết thành mặt trận thống nhất, đánh đế quốc và phong kiến đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi.

Tuy vậy, trong công việc sản xuất, địa vị của mỗi giai cấp khác nhau, cho nên đặc tính của mỗi giai cấp cũng khác nhau. Đặc tính khác nhau cho nên vai trò cách mạng cũng khác nhau.

cpv.org.vn

12. Vì sao công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng?

Tất cả những người không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động mà sống, là công nhân. Bất kỳ họ lao động trong công nghệ hay là trong nông nghiệp, bất kỳ họ làm nghề gì, cũng đều thuộc về giai cấp công nhân.

Chủ chốt của giai cấp ấy, là những công nhân ở các xí nghiệp như: nhà máy, hầm mỏ, xe lửa, vân vân… Những công nhân thủ công nghệ, những người làm thuê ở các cửa hàng, những cố nông, vân vân…, cũng thuộc về giai cấp công nhân. Nhưng chỉ công nhân công nghệ là hoàn toàn đại biểu cho cái đặc tính của giai cấp công nhân.

Đặc tính cách mạng của giai cấp công nhân là: kiên quyết, triệt để, tập thể, có tổ chức, có kỷ luật. Lại vì là giai cấp tiền tiến nhất trong sức sản xuất, gánh trách nhiệm đánh đổ chế độ tư bản và đế quốc, để xây dựng một xã hội mới, giai cấp công nhân có thể thấm nhuần một tư tưởng cách mạng nhất, tức là chủ nghĩa Mác – Lênin. Đồng thời, tinh thần đấu tranh của họ ảnh hưởng và giáo dục các tầng lớp khác. Vì vậy, về mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và hành động, giai cấp công nhân đều giữ vai trò lãnh đạo.

Có người nói: Giai cấp công nhân Việt Nam số người còn ít, không lãnh đạo được cách mạng.

Nói vậy không đúng. Lãnh đạo được hay là không, là do đặc tính cách mạng, chứ không phải do số người nhiều ít của giai cấp. Giai cấp công nhân có chủ nghĩa Mác – Lênin. Trên nền tảng đấu tranh, họ xây dựng nên Đảng theo chủ nghĩa Mác – Lênin là Đảng Lao động Việt Nam. Đảng đề ra chủ trương, đường lối, khẩu hiệu cách mạng, lôi cuốn giai cấp nông dân và tiểu tư sản vào đấu tranh, bồi dưỡng họ thành những phần tử tiên tiến. Lại có những phần tử trí thức tham gia cách mạng và vô sản hoá. Thành thử đội ngũ chính trị của giai cấp công nhân ngày càng phát triển. Mai sau, công nghệ của ta ngày càng phát triển, thì số công nhân ngày càng tǎng thêm.

Tuy hiện nay ở nước ta giai cấp công nhân còn nhỏ, song ở thế giới thì giai cấp công nhân rất to lớn. Cho nên quyền lãnh đạo cách mạng chỉ do giai cấp công nhân nắm.

cpv.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đời sống văn hóa mới

“Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ. Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lý. Cái gì cũ mà tốt thì phải phát triển thêm. Cái gì mới mà hay thì phải làm”.

HoChuTich02Bác Hồ với đồng bào dân tộc(Ảnh: Tư liệu)

Năm 1923, trong bài “Thăm một chiến sĩ quốc tế cộng sản – Nguyễn Ái Quốc” được đăng trên Tạp chí Ngọn lửa nhỏ – Liên Xô, nhà báo Liên Xô Ôxip Mandenxtan đã nhận xét rằng: “Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một nền văn hóa, không phải văn hóa Châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hóa của tương lai… Dân tộc Việt Nam là một dân tộc giản dị và lịch sự. Qua cử chỉ cao thượng, tiếng nói trầm lắng của Nguyễn Ái Quốc, tôi như thấy được ngày mai, như thấy được viễn cảnh trời yên bể lặng của tình hữu ái toàn thế giới bao la như đại dương”(1).

Trong tác phẩm Hồ Chí Minh – quá khứ, hiện tại và tương lai, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “Hồ Chí Minh là một nhà văn hóa lớn của dân tộc Việt Nam và của loài người với ý nghĩa đầy đủ nhất của danh hiệu Nhà văn hóa. Ở Hồ Chí Minh, nhà văn hóa lớn, gắn liền với nhân văn lớn, phát huy truyền thống của một dân tộc “văn hiến”. Hồ Chí Minh là một nhà văn hóa lớn vì cuộc đời và sự nghiệp của Người là tấm gương về nhân sinh quan và thế giới quan cao đẹp, làm sáng lên một chủ nghĩa nhân văn trùng với những ước mơ cổ truyền của dân tộc Việt Nam và các dân tộc, kết tinh những tư tưởng và tình cảm lớn của loài người” (2).

Tư tưởng về văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự tổng hợp các giá trị văn hóa Đông – Tây, trên nền tảng chủ nghĩa nhân văn Việt Nam được hình thành trong các phong trào lớn của thế kỷ XX, phong trào độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại của chúng ta mặc dù bận trăm công nghìn việc chuẩn bị cho cách mạng giải phóng dân tộc nhưng Người vẫn thường xuyên lo nghĩ, vẫn giành tâm trí xây dựng một nền văn hóa mới, Đời sống mới. Điều này càng thấy rõ trong phong trào xây dựng Đời sống mới do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động vào tháng 1 năm 1946 và đặc biệt tháng 4 năm 1946, Người đã ký Sắc lệnh thành lập Ủy ban Trung ương vận động Đời sống mới. Tháng 3 năm 1947, Người đã viết cuốn sách Đời sống mới để hướng dẫn việc xây dựng Đời sống mới trong các tầng lớp nhân dân, trong toàn xã hội. Đặc biệt, cuộc vận động ngay sau đó trở thành một phong trào quần chúng sôi nổi, rộng khắp ngay cả lúc cách mạng mới thành công và nhân dân ta phải đi ngay vào cuộc kháng chiến chống ngoại xâm hết sức khốc liệt, cuộc sống còn trăm bề thiếu thốn.

Khái niệm Đời sống mới được Hồ Chí Minh nêu ra bao gồm cả “đạo đức mới, lối sống mới và nếp sống mới”. Ba nội dung ấy, có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó đạo đức đóng vai trò chủ yếu. Đạo đức gắn liền với lối sống và nếp sống. Chính vì vậy, việc xây dựng đạo đức mới phải được tiến hành đồng thời với việc xây dựng lối sống mới và nếp sống mới. Có dựa trên cái nền đạo đức mới thì mới xây dựng được lối sống mới, nếp sống mới lành mạnh, vui tươi, hướng con người tới tầm cao của văn hóa, của một đất nước độc lập và xã hội chủ nghĩa. Ba nội dung đó được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ sau:

Muốn xây dựng Đời sống mới trước hết là phải xây dựng được đạo đức mới, vấn đề này, Người đã chỉ ra rằng: “… thực hiện Đời sống mới là Cần, Kiệm, Liêm, Chính”; “Nếu không giữ được Cần, Kiệm, Liêm, Chính dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân” còn “Nêu cao và thực hành Cần, Kiệm, Liêm, Chính tức là nhen lửa cho Đời sống mới” (3).

van hoaBác Hồ với đại biểu phụ nữ vùng cao(Ảnh: Tư liệu)

Thứ hai, phải xây dựng lối sống mới có lý tưởng, có đạo đức theo hướng văn minh, tiên tiến, kết hợp hài hòa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa của nhân loại. Cùng với việc bồi dưỡng, nâng cao đạo đức, việc xây dựng Đời sống mới đòi hỏi phải “sửa đổi những việc rất cần thiết, rất phổ thông, trong Đời sống của mọi người, tức là sửa đổi cách ăn, cách mặc, cách ở, cách đi lại, cách làm việc”. Theo Hồ Chí Minh, đó là năm cách phải sửa đổi đối với mỗi người cũng như đối với một tập thể, một cộng đồng. Cách ăn, mặc, ở không phụ thuộc vào những thứ dùng để ăn, mặc, ở nhiều hay ít, sang trọng hay đơn giản, mà lại phụ thuộc vào lối sống có hay không có văn hóa của mỗi con người(4).

Theo Hồ Chí Minh, phải xây dựng một phong cách khiêm tốn, giản dị, chừng mực, điều độ, ngăn nắp, vệ sinh, yêu lao động, biết quý trọng thời gian, ít lòng ham muốn về vật chất, về chức – quyền – danh – lợi. Trong quan hệ với nhân dân, bạn bè, đồng chí, anh em thì cởi mở, chân tình, ân cần, tế nhị; giàu lòng yêu thương quý mến con người, trân trọng con người; đối với mình thì chặt chẽ, đối với người khác thì khoan dung, độ lượng. Người cho rằng: “Cách ăn mặc phải sạch sẽ, giản đơn, chất phác, chớ lượt thượt, xa xỉ, lòe lẹt”. Không phải Người phủ nhận nhu cầu chính đáng của mỗi người trong việc cải thiện và nâng cao điều kiện sinh hoạt của mình ngày càng tốt hơn, ai mà chẳng muốn ăn ngon mặc đẹp, nhưng muốn phải đúng thời, đúng hoàn cảnh. Trong lúc nhân dân ta còn thiếu thốn mà một người nào đó muốn riêng hưởng ăn ngon mặc đẹp, như vậy không có đạo đức(5).

Thứ ba, là xây dựng nếp sống mới. Theo Người, quá trình xây dựng lối sống mới cũng là quá trình làm cho lối sống mới dần dần trở thành thói quen ở mỗi người, thành phong tục tập quán của cả một cộng đồng, trong phạm vi một địa phương hay mở rộng ra cả nước và gọi là nếp sống mới hay nếp sống văn minh. Nếp sống mới mà chúng ta xây dựng phải kế thừa những truyền thống tinh thần tốt đẹp, những thuần phong mỹ tục lâu đời của dân tộc ta.

Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy chúng ta chẳng những phải biết kế thừa mà còn phải phát triển cải tạo những phong tục tập quán cũ lạc hậu, bổ sung những cái mới tiến bộ mà trước đó chưa có. “Đời sống mới không phải cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì mới cũng làm hết. Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ, ví dụ: Ta phải bỏ hết những tính lười biếng, tham lam. Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý, thí dụ: Đơm cúng, cưới hỏi quá xa xỉ ta phải giảm bớt đi. Cái gì mới mà hay thì ta phải làm, thí dụ: Ăn ở hợp vệ sinh, làm việc ngăn nắp”.

hcm doi song van hoaBác Hồ với các cháu thiếu niên, nhi đồng (Ảnh: Tư liệu)

Việc xây dựng Đời sống mới phải bắt đầu từ từng người, từng gia đình, vì mỗi người là một cá thể để tạo nên gia đình, mỗi gia đình là một tế bào để tạo nên xã hội. Mỗi người, mỗi gia đình đều thực hiện Đời sống mới thì mới có thể xây dựng được Đời sống mới ở các tập thể, các đơn vị, ở làng xã, phố phường cho đến cả nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặc biệt nhấn mạnh và đòi hỏi mỗi người, mỗi gia đình phải thực hiện Đời sống mới. “Do nhiều người nhóm lại thành làng. Do nhiều làng nhóm lại mà thành nước. Nếu người này cũng xấu, người kia cũng xấu, thì thành làng xấu, nước hèn. Nếu mỗi người đều tốt, thì thành làng tốt, nước mạnh… Nếu mọi người đều cố gắng làm đúng Đời sống mới, thì dân tộc nhất định sẽ phú cường”, “Ai cũng làm như thế, thì tự nhiên nước Việt Nam ta trở nên một nước mới, một nước văn minh”. Ý nghĩa đó được thể hiện trong những câu nói của Người đã trở thành rất quen thuộc với chúng ta: “Văn minh thắng bạo tàn”, “Đảng là đạo đức, là văn minh”… Ngày nay, việc mở rộng Cuộc vận động xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa cũng là theo tinh thần đó.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, là tấm gương rèn luyện đạo đức cách mạng, trung với Đảng, với nước, hiếu với dân; Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư; lòng nhân ái bao la, trong sáng, thủy chung. Tấm gương rèn luyện hàng ngày như một nếp tự nhiên, không gượng ép để có lối sống của một nhà văn hóa kiệt xuất, một hình ảnh nhà văn hóa lớn Việt Nam vừa làm thơ, vừa đánh giặc “giữa dòng bàn bạc việc quân”, “chống gậy lên non xem trận địa”, và ung dung tự tại lái con thuyền Việt Nam vượt qua mọi thác ghềnh. Đồng thời, đó là lối sống giản dị, thiết thực, hòa đồng, chân thành, trung thực trong ứng xử với mọi người và làm chủ bản thân trong mọi hoàn cảnh.

Vận dụng tốt tư tưởng Hồ Chí Minh về Đời sống văn hóa mới là điều cần thiết, cấp bách trong thời đại hiện nay – thời đại kinh tế thị trường kéo theo nguy cơ biến đổi các giá trị văn hóa truyền thống. Sự thực đó đòi hỏi chúng ta càng phải nghiêm túc học tập và làm tốt Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” về xây dựng Đời sống văn hóa mới, sẽ đáp ứng được yêu cầu chung của công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đáp ứng được sự mong đợi của đông đảo cán bộ, Đảng viên và toàn thể nhân dân.

Theo Viên Đình Phong
Nguồn Tạp chí Văn hóa Du lịch Đà Nẵng
Phương Thúy (st).
bqllang.gov.vn

TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1,2). Nguyễn Nguyên Trứ, Cách viết của Bác Hồ, NXB Giáo dục, 1999.
(3,4,5). Nhiều tác giả, Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003.

Tư tưởng Hồ Chí Minh – Sự thống nhất giữa “Đức trị” với “Pháp trị”

Ra đi tìm đường cứu nước năm 1911, Hồ Chí Minh nuôi dưỡng khát vọng thành lập một nhà nước kiểu mới. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trên cơ sở những nhận thức trước đây về một nhà nước “phải có thần linh pháp quyền”, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến quyền lực của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải thuộc về nhân dân, lợi ích phải vì dân. Đó phải là một nhà nước dân chủ – dân là chủ và dân làm chủ. Đồng thời nhà nước đó phải được vận hành và quản lý bằng pháp luật kết hợp chặt chẽ với việc giáo dục đạo đức. Quan niệm về sự thống nhất giữa “Đức trị” với “Pháp trị” trong tư tưởng Hồ Chí Minh có nguồn gốc sâu xa từ truyền thống văn hóa phương Đông và từ tấm gương trị nước của các vị vua chúa hiền minh trong lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, vượt lên tất cả những ông vua đức độ và kẻ sĩ hiền tài, trong quá trình trị vì đất nước, Hồ Chí Minh đã thực thi triệt để vấn đề “Đức trị” với “Pháp trị” trên cơ sở cách mạng, khoa học và nhân nghĩa, nói đi đôi với làm vì hạnh phúc của nhân dân.

Pháp luật và đạo đức là hai lĩnh vực khác nhau thuộc hình thái ý thức xã hội. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, hai vấn đề này có mối quan hệ mật thiết với nhau. Pháp luật là một biện pháp để khẳng định một chuẩn mực đạo đức; ngược lại đạo đức là những nguyên tắc, chuẩn mực, định hướng giá trị được xã hội thừa nhận, có tác dụng chi phối, điều chỉnh hành vi con người trong quan hệ với người khác, nhưng nhiều khi rất cần sự hỗ trợ của pháp luật. Bởi vì nếu không kết hợp với tính nghiêm minh, khoa học của pháp luật thì giáo dục đạo đức trở thành vô nghĩa. Tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh cho thấy rõ điều này. Chẳng hạn khi trả lời vụ Chu Bá Phượng, Người nói Chính phủ đã cố gắng liêm khiết (tức là đạo đức). Nhưng nếu làm gương không xong, thì sẽ dùng pháp luật mà trị những kẻ ăn hối lộ. Trước khi ký lệnh bác đơn chống án của Trần Dụ Châu, với một trái tim bao dung, độ lượng, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất đau lòng, suy nghĩ nhiều đêm. Nhưng rõ ràng, những vụ tham nhũng kiểu đó mà nếu chỉ kêu gọi, giáo dục đạo đức không thôi thì không bao giờ giải quyết được vấn đề. Phải có một bộ máy thể hiện tính khoa học và nghiêm minh của pháp luật. Tư tưởng Hồ Chí Minh là nặng về giáo dục, nhẹ về xử phạt, nhưng cái gì cũng không dùng đến xử phạt thì không nên, sẽ mất cả kỷ luật. Trọn đời Hồ Chí Minh là một cuộc đời giáo dục mọi người làm người, lấy đức làm gốc. Bởi vì, dù tài giỏi đến mấy mà không có đức, không có căn bản thì không làm được cách mạng. Nhưng Người luôn quán triệt “Đức trị” phải thống nhất với “Pháp trị”. Trong Di chúc, Người viết: “Đối với nạn nhân của chế độ xã hội cũ, như trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu,v.v.. thì Nhà nước phải dùng vừa giáo dục, vừa dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện”(1).

Một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập khẳng định quyền con người và quyền của các dân tộc, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ (ngày 3/9/1945), trong 6 nhiệm vụ cấp bách, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra nhiệm vụ thứ ba là “chúng ta phải có ngay một hiến pháp dân chủ; phải tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu” để sớm có một Nhà nước hợp hiến do nhân dân bầu ra. Ngày 17/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh ấn định thể lệ Tổng tuyển cử. Ngày 20/9/1945, Người ký Sắc lệnh 34 thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để chuẩn bị đệ trình Quốc hội. Chính phủ liên hiệp kháng chiến được Quốc hội họp phiên đầu tiên ngày 2/3/1946 bầu ra là Chính phủ hợp hiến đầu tiên có đầy đủ tư cách và hiệu lực trong việc giải quyết mọi vấn đề đối nội và đối ngoại.

Hồ Chí Minh hiểu rõ rằng, từ một nền văn hóa nông nghiệp, trải qua hàng nghìn năm dưới chế độ phong kiến chuyên chế và hàng trăm năm dưới chế độ thực dân cũng không kém phần chuyên chế, chúng ta không thể đi nhanh tới việc xác lập một nhà nước pháp quyền. Tuy nhiên phải nhấn mạnh tới vai trò của pháp luật trong quản lý điều hành đất nước và phải có những hoạt động tích cực, kịp thời để từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật. Nói tới pháp luật của chế độ mới dân chủ cộng hòa là phải gắn với dân chủ, hai nội dung đó nương tựa vào nhau. Pháp luật là bệ đỡ của dân chủ và không thể có dân chủ ngoài pháp luật. Theo Hồ Chí Minh, mọi quyền dân chủ phải được thể chế hóa bằng pháp luật và pháp luật bảo đảm cho quyền tự do dân chủ được thực thi trong thực tế.

Hồ Chí Minh là người có công lớn nhất trong sự nghiệp lập hiến và lập pháp. Nhưng điều quan trọng hơn là Người tập trung chỉ đạo đưa pháp luật vào cuộc sống, làm cho pháp luật có hiệu lực trong thực tế, tạo cơ chế bảo đảm cho pháp luật được thi hành. Đối với một nước dân chủ, Hồ Chí Minh quan tâm tới năng lực làm chủ của người dân. Trước đây, dưới chế độ cũ, bọn thực dân phong kiến tìm cách làm cho dân ngu để dễ trị. Trong chế độ mới, Hồ Chí Minh quan tâm giáo dục lại nhân dân, nâng cao dân trí, làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm. Pháp luật chỉ có hiệu lực trong thực tế khi nhân dân có những hiểu biết nhất định về văn hóa, chính trị, về pháp luật, về quyền công dân. Người dân chỉ có thể “dám mở mồm ra” – như cách nói của Bác Hồ – khi có những hiểu biết nhất định về pháp luật.

Giáo dục nhân dân hiểu biết về pháp luật là cần thiết, vì điều đó tạo ra tính chủ động của người dân trong thực thi pháp luật. Nhưng cán bộ – nhất là cán bộ ngành tư pháp – làm gương trong việc tuân thủ pháp luật cũng rất cần thiết. Nói chung thì đạo làm gương cần thiết trong mọi hoạt động. Bởi vì văn hoá phương Đông chứa đựng một triết lý “một tấm gương sống còn có giá trị hơn hàng trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Trong thư gửi Hội nghị Tư pháp toàn quốc tháng 2 năm 1948, Hồ Chí Minh viết: “Các bạn là bậc trí thức. Các bạn có cái trách nhiệm nặng nề và vẻ vang là làm gương cho dân trong mọi việc… Các bạn là những người phụ trách thi hành pháp luật. Lẽ tất nhiên các bạn phải nêu cao cái gương “phụng công, thủ pháp”, chí công vô tư cho nhân dân noi theo”(2). Hồ Chí Minh là tấm gương sáng, mẫu mực trong việc thực thi pháp luật. Những câu chuyện về việc Người chấp hành nghiêm chỉnh luật giao thông, đèn đỏ dừng lại, hay đơn giản là tôn trọng quy định của nhà chùa cởi dép khi vào lễ Phật,… được nhân dân truyền tụng, học tập, có sức giáo dục to lớn cho cán bộ, nhân dân trong việc thực thi pháp luật.

Tư tưởng “pháp trị” của Hồ Chí Minh đặc biệt thể hiện nổi bật ở việc bảo đảm tính khoa học, hiệu lực và nghiêm minh của pháp luật. Hơn hai tháng sau khi tuyên bố độc lập, ngày 23/11/1945, Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 64-SL về việc thành lập Ban Thanh tra đặc biệt và một Toà án đặc biệt có nhiệm vụ giám sát và xét xử các sai phạm của các nhân viên từ trong các uỷ ban nhân dân các cấp đến cơ quan cao nhất của chính quyền (các Bộ).

Bốn ngày sau khi ký Sắc lệnh thành lập Ban Thanh tra đặc biệt và Toà án đặc biệt, Hồ Chí Minh lại ký tiếp Sắc lệnh ấn định hình phạt tội đưa và nhận hối lộ sẽ bị phạt từ 5 đến 20 năm khổ sai và phải nộp phạt gấp đôi số tiền nhận hối lộ. Cuối năm đó, khi giao cho đồng chí Lê Giản phụ trách ngành Công an (Ty Liêm phóng), Người đã dặn rằng: Chú phụ trách ngành này là phải “thiết diện vô tư”, tức là mặt sắt không thiên vị. Nếu chú không “thiết diện vô tư” thì Bác sẽ “thiết diện vô tư” đối với chú. Như vậy, chỉ trong vòng 3 đến 4 tháng sau ngày tuyên bố nước Việt Nam độc lập, Hồ Chí Minh đã tập trung cao độ cho việc xây dựng bộ máy, trong đó có khía cạnh pháp luật chống tham nhũng, một trong những vấn đề lớn liên quan tới sự sống còn của chế độ mới. Ngay cả khi nói về Đảng, gắn vấn đề pháp luật chống tham nhũng, Người khẳng định: “Nếu cần có đảng phái thì sẽ là đảng dân tộc Việt Nam. Đảng đó sẽ chỉ có một mục đích làm cho dân tộc ta hoàn toàn độc lập. Đảng viên của đảng đó sẽ là tất cả quốc dân Việt Nam, trừ những kẻ phản quốc và những kẻ tham ô ra ngoài”. Trong trường hợp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt ngang hàng kẻ tham ô với kẻ phản quốc. Và hai tội danh này đều xếp vào khung hình phạt tử hình theo Quốc lệnh 10 điều thưởng và 10 điều phạt ngày 26/1/1946 do Hồ Chí Minh ký.

Với tư cách là người đứng đầu Chính phủ, Hồ Chí Minh trăn trở với vận nước, với “nền dân chủ mới chưa hoàn toàn”. Năm tháng sau khi tranh được quyền độc lập, Hồ Chí Minh đã có bài “Tự phê bình” trên báo Cứu quốc số 153, ngày 28/1/1946. Sau khi khẳng định Chính phủ có làm được một số việc, Hồ Chí Minh đau lòng thừa nhận rằng “tuy nhiều người trong ban hành chính làm việc tốt và thanh liêm, song cái tệ tham ô, nhũng lạm chưa quét sạch”. Đây là lần đầu tiên trong chế độ mới, Hồ Chí Minh dùng hai từ “nhũng lạm” với nghĩa lạm dụng quyền lực để tham nhũng. Người lạm dụng quyền lực thì trước hết phải có quyền lực. Vậy thì ai là những người có quyền lực? Theo Hồ Chí Minh, đó chỉ có thể là những người làm việc trong các công sở, cán bộ các cơ quan, các đoàn thể. Và quyền lực ở đây được đặt trong mối tương quan giữa cán bộ công chức với nhân dân. Người dân không thể có quyền hành, quyền lực; chỉ có cán bộ công chức mới có quyền hành, quyền lực. Người viết: “Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính, thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”(3). Sau này Người lại viết: Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”(4).

Trong năm 1946, những chuyện về ăn hối lộ, tham nhũng trong Chính phủ đã được Quốc hội nước ta lúc bấy giờ hết sức quan tâm. Đặc biệt là sau vụ Chu Bá Phượng, Bộ trưởng Bộ Kinh tế trong Chính phủ liên hiệp kháng chiến, là đại biểu của Việt Nam Quốc dân Đảng, thành viên trong đoàn Chính phủ ta dự Hội nghị Fontainbleau, bị các nhà chức trách Pháp bắt được vì mang vàng đi buôn. Tại Kỳ họp thứ hai Quốc hội khoá I ( tháng 11 năm 1946), có đại biểu Quốc hội đã chất vấn Chính phủ về vụ việc này. Thay mặt Chính phủ, Bác Hồ đã trả lời thẳng thắn rằng, “Chính phủ hiện thời đã cố gắng liêm khiết lắm. Nhưng trong Chính phủ, từ Hồ Chí Minh đến những người làm việc ở các uỷ ban làng, đông lắm, phức tạp lắm. Dù sao, Chính phủ đã hết sức làm gương, và nếu làm gương không xong, thì sẽ dùng pháp luật mà trị những kẻ ăn hối lộ. Đã trị, đang trị và sẽ trị cho kỳ hết”. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tính nghiêm minh của pháp luật thật rõ ràng, dứt khoát: “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”(5).

Bước vào thập niên năm mươi, để tập trung mọi khả năng cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới công tác chỉnh Đảng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu, nghiêm minh với tội hối lộ. Ngày 24/1/1952, khi viết về “Sự nghiệp vĩ đại của Lênin”, Người đã nhắc tới tính nghiêm khắc của Lênin trong việc xử bọn ăn hối lộ: “Đối với tệ tham ô hủ hoá, Lênin rất nghiêm khắc. Có một lần Toà án Mạc Tư Khoa xử nhẹ một vụ ăn hối lộ, Lênin liền viết trong một bức thư: “Không xử bắn bọn ăn hối lộ mà xử nhẹ như thế, là một việc xấu hổ cho những người cộng sản, những người cách mạng”(6). Trong kháng chiến chống Pháp (9-1950), Bác Hồ – dù rất đau lòng – vẫn đã y án tử hình Trần Dụ Châu, Đại tá, Cục trưởng Cục Quân nhu, phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn, bớt xén phần cơm áo của bộ đội để sống trác táng, trụy lạc. Người tâm sự với Trần Đăng Ninh trước khi ký bác đơn chống án của Trần Dụ Châu: “Với loài sâu mọt đục khét nhân dân, nếu phải giết đi một con mà cứu được cả rừng cây, thì việc đó là cần thiết, hơn nữa là nhân đạo”(7).

Để bảo đảm nhà nước pháp quyền có hiệu lực mạnh, với tư tưởng ‘tìm người tài đức”, chiêu hiền đãi sĩ, cầu người hiền tài, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới việc xây dựng đội ngũ cán bộ công chức vừa “hồng” vừa “chuyên”. “Hồng” ở đây là nói tới phẩm chất đạo đức của người cán bộ công chức, mà hàng đầu và xuyên suốt là ý thức và tinh thần tận tụy phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc. Còn “Chuyên” là nói tới năng lực thực tế của công chức Việt Nam nói chung và năng lực trong việc giữ một nhiệm vụ cụ thể trong bộ máy nhà nước nói riêng với tinh thần “làm nghề gì cũng phải học” và “làm nghề gì phải giỏi nghề đó”.

Hiện nay, trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, chúng ta phải có tư duy toàn cầu về một Quốc hội, một Chính phủ thời hội nhập. Vấn đề rộng lớn, nhưng lõi cốt là tập trung xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; Chính phủ phải thật sự là công bộc của dân. Chúng ta coi việc giáo dục cán bộ, đảng viên, nhân dân học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là vấn đề có ý nghĩa cơ bản, lâu dài và cấp bách. Tuy nhiên, hội nhập quốc tế mà pháp luật không nghiêm thì phải trả giá đắt. Chúng ta đã có quá nhiều bài học về vấn đề này do sự kém hiểu biết về pháp luật (Việt Nam và quốc tế), non kém trong trình độ quản lý, không nghiêm và minh về pháp luật. Trước tình hình đó, việc nghiên cứu và quán triệt sâu sắc tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa “Đức trị” với “Pháp trị” là hết sức cần thiết, vì nó tiếp tục soi sáng công cuộc đổi mới của Đảng và dân tộc ta.

Theo PGS.TS Bùi Đình Phong
Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Thu Hiền (st)
bqllang.gov.vn

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H. 1996, t.12, tr.504.

2. Hồ Chí Minh, Sđd, t.5, tr.381-382.

3. Hồ Chí Minh, Sđd, t.5, tr.104.

4. Hồ Chí Minh, Sđd, t.5, tr.641.

5. Hồ Chí Minh, Sđd, t. 5, tr.641.

6. Hồ Chí Ming, Sđd, t.6, tr. 386.

7. Xem: Chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước KX.02, Đề tài KX.02.13: Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật (bài của PGS. Song Thành: Tư tưởng pháp quyền Hồ Chí Minh – sự thống nhất giữa “Đức trị” với “Pháp trị”), Bộ Tư pháp – Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, 1993, tr.214.

Hơn lúc nào hết cần “Sửa đổi lối làm việc”

hon luc nao het canTháng 10-1947, Bác Hồ đã viết cuốn sách “Sửa đổi lối làm việc”. Đây là một tác phẩm về xây dựng Đảng và công tác cán bộ qua thời gian vẫn bền sức sống, có giá trị tư tưởng sâu sắc. Nhà xuất bản Sự thật cho ra mắt bạn đọc lần đầu vào năm 1948, sau đó cuốn sách này được tái bản nhiều lần.

Những căn bệnh trong Đảng mà Bác đã viết ngày nay được Nghị quyết Trung ương (TƯ) 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” thẳng thắn chỉ rõ: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…”

Ngay trong phần đầu “Phê bình và sửa chữa”, Bác viết: “Cán bộ và đảng viên ta vì bận việc hành chính hoặc quân sự, mà xao nhãng việc học tập. Đó là một khuyết điểm rất to. Khác nào người thầy thuốc chỉ đi chữa người khác, mà bệnh nặng trong mình thì quên chữa. Từ nay, chúng ta cần phải thiết thực học tập, sửa chữa các khuyết điểm. Vì có tẩy sạch khuyết điểm, công việc mới có thể tiến bộ”. Theo Bác, Đảng ta phải chú ý cảnh giác, phòng ngừa và cần nhanh chóng có “thuốc trị” 3 căn bệnh chủ yếu làm mất tư cách người cách mạng là: Bệnh về tư tưởng, đạo đức, lối sống, chủ quan; bệnh hẹp hòi, xa dân; bệnh ba hoa, thích khoa trương thành tích, không trung thực, chạy theo thành tích. Bác khẳng định: Đó là ba chứng bệnh rất nguy hiểm. Nếu không chữa ngay, để nó lây lan thì có hại vô cùng. Phải cố sửa chữa cho tiệt nọc các chứng bệnh, khiến cho Đảng càng mạnh khoẻ, bình an.

Đặc biệt, khi nói về  đảng viên, Bác nêu  mọi cán bộ đảng viên phải hội tụ đủ 5 đức tính là: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm. Và cần chữa những căn bệnh: Cá nhân chủ nghĩa, lợi dụng to quyền, mạnh thế, cái gì cũng muốn vơ lợi về cho cá nhân, gia đình, vợ con dòng tộc của mình. Bác nêu thẳng thắn: Trong Đảng ta còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ “chí công vô tư”, cho nên mắc phải chứng chủ nghĩa cá nhân. Với bệnh cá nhân chủ nghĩa, Bác căn dặn, muốn chữa bệnh này, trước hết mỗi cán bộ, mỗi đảng viên phải hoàn toàn phục tùng lợi ích của Đảng, mà ngoài lợi ích của nhân dân, Đảng không có lợi ích nào hết. Không nên vì cá nhân mà làm tổn hại đến lợi ích của dân. Sau này, Bác còn viết bài “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Trong quan điểm của Người, do chủ nghĩa cá nhân mà cán bộ hư hỏng về đạo đức, tác phong, lối sống, mất hết phẩm chất cần có của người cộng sản. Người cho rằng chủ nghĩa cá nhân như một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm. Vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng trước, lợi ích của cá nhân sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng. Đó là “tính đảng”.

Nếu gặp khi lợi ích chung của Đảng mâu thuẫn với lợi ích riêng của cá nhân, thì phải kiên quyết hy sinh lợi ích của cá nhân cho lợi ích của Đảng. Khi cần đến tính mệnh của mình cũng phải vui lòng hy sinh cho Đảng. Lợi ích của Đảng cũng là lợi ích của dân tộc, không có gì mâu thuẫn nếu Đảng là một tổ chức cách mạng chiến đấu vì hạnh phúc của nhân dân. Sự phát triển và thành công của Đảng là thành công của dân tộc đồng thời cũng là thành công của đảng viên. Vì vậy, chỉ khi Đảng thành công và thắng lợi, thì đảng viên mới có thể thành công và thắng lợi. Do đó, đảng viên cần biết hy sinh lợi ích của mình cho lợi ích chung của Đảng. Nhất là những cán bộ, đảng viên càng phải xứng đáng với lòng tin của Đảng, của dân tộc. Hơn nữa, đảng viên phải làm gương cho tất cả quần chúng noi theo. Trước đây, người dân sẵn sàng đi theo tiếng gọi của Đảng, hi sinh thân mình vì tồn vong của dân tộc trong công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Ngày nay, trong điều kiện hòa bình, cuộc chiến đấu với nghèo nàn, lạc hậu, tham ô, tham nhũng cũng phức tạp không kém vì quan hệ “địch – ta” với giặc nội xâm nằm ngay trong tổ chức của Đảng. Không ít đảng viên thoái hóa, biến chất, hà hiếp nhân dân… đã làm giảm uy tín của Đảng, mất niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Những căn bệnh phổ biến của đảng viên Bác chỉ ra là:

Bệnh tham lam: Những người mắc phải bệnh này vì đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của Đảng, của dân tộc, do đó mà chỉ “tự tư tự lợi”. Dùng của công làm việc tư. Dựa vào thế lực của Đảng để theo đuổi mục đích riêng của mình. Sinh hoạt xa hoa, tiêu xài bừa bãi. Tiền bạc đó ở đâu ra? Không xoay của Đảng thì xoay của đồng bào. Thậm chí làm chợ đen buôn lậu. Không sợ mất thanh danh của Đảng, không sợ mất danh giá của mình, vơ vét công quỹ, tham ô, tham nhũng.

Bệnh lười biếng: Không hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ, khoán trắng cho cấp dưới và bộ máy cơ quan, lấy an nhàn cho cá nhân mình. Làm việc không có kế hoạch, gặp sao làm vậy, làm lấy lệ, làm không có ngăn nắp, làm không đến nơi đến chốn. Gặp dân chúng thì không gần gũi, không hỏi han, không tuyên truyền, không giải thích. Xem như dân chúng không có quan hệ gì với mình. Thấy những việc có hại đến dân chúng cũng mặc kệ, không khuyên răn, không ngăn cản, không giải thích. Những tật bệnh đó khiến cho Đảng xệch xoạc, ý kiến lung tung, kỷ luật lỏng lẻo, công việc bê trễ. Chính sách không thi hành được triệt để, Đảng xa rời dân chúng.

Các bệnh khác như: Bệnh kiêu ngạo, bệnh háo danh, bệnh tùy tiện, thiếu kỷ luật, coi thường pháp luật, làm sai pháp luật; bệnh có đầu óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ… Và còn những bệnh: “hữu danh, vô thực”, kéo bè kéo cánh thành phe nhóm. Bác yêu cầu mọi cán bộ đảng viên phải rất cảnh giác với thứ bệnh này. Theo Bác kéo bè kéo cánh lại là một bệnh rất nguy hiểm nữa. Từ bè phái mà đi đến chia rẽ. Ai hợp với mình thì dù người xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau. Ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho là xấu, việc hay cũng cho là dở, rồi tìm cách dèm pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống. Bệnh này rất tai hại cho Đảng. Nó làm hại đến sự thống nhất. Nó làm Đảng  mất nhân tài và không thực hành được đầy đủ chính sách của mình. Nó làm mất sự thân ái, đoàn kết giữa đồng chí. Nó gây ra những mối nghi ngờ.

Bác chỉ ra những bệnh làm suy thoái, giảm uy tín Đảng cầm quyền như: Bệnh cận thị, không trông xa thấy rộng; bệnh tị nạnh, cái gì cũng muốn mình phải được hưởng lợi hơn người; bệnh xu nịnh, a dua, bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, bệnh nóng tính, bệnh lụp chụp…

Bác đã cảnh báo thứ bệnh không trung thực trong khi thừa hành nhiệm vụ, “làm láo, báo cáo hay, báo cáo lông bông, báo cáo gian dối. Thành công ít thì xuýt ra nhiều. Còn khuyết điểm thì giấu đi, không nói đến. Các thứ bệnh mà Bác Hồ, với tầm nhìn xa rộng, đã chỉ ra từ 65 năm trước nay đang hiện hữu trong Đảng ta, có bệnh thuộc hàng “tứ chứng nan y”. Bác chỉ rõ: “Ngay từ bây giờ, các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa, và giúp đồng chí mình sửa chữa. Phải như thế, Đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công. Nếu không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của ta, thì cũng như giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mệnh”.

Từ gần 5 năm nay, các cấp bộ đảng tổ chức sâu rộng đến từng đảng viên “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đây là một chủ trương lớn, vừa mang tính cấp bách trong tình hình hiện nay, vừa có ý nghĩa lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Học tập là phải làm theo, noi theo tấm gương của Bác.

Trong thực tế, ai cũng thấy tuy học nhiều, nhưng cán bộ đảng viên ta làm theo còn ít, suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống chưa có chiều hướng thuyên giảm, có những mặt ngày càng nghiêm trọng. Thiết nghĩ, để thực hiện thắng lợi Nghị quyết TƯ 4, cần học kỹ, phân tích sâu, soi rọi để tự chỉnh đốn, trị cho hết các “căn bệnh” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra trong cuốn “Sửa đổi lối làm việc”. Thật tài tình, trong cuốn sách quý này, dường như 4 nhóm giải pháp mà Nghị quyết TƯ 4 nêu ra đã được Bác phân tích rất kỹ, chỉ dạy cách làm rất cụ thể, rõ ràng, thực sự thấu đáo, có lý, có tình. Đây cũng là cách làm thiết thực, có trọng tâm, trọng điểm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức của Người, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng.

Bác chỉ rõ: Mỗi chứng bệnh là một kẻ địch. Mỗi kẻ địch bên trong là một bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra. Vì vậy, ta phải ra sức đề phòng những kẻ địch đó, phải chữa hết những chứng bệnh đó. Nghị quyết Hội nghị TƯ 4 khẳng định: Nguyên nhân về sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; sa vào chủ nghĩa cá nhân, quên đi trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước dân; ngại khó, ngại khổ, ngại va chạm, bất chấp đạo lý, dư luận; kỷ luật, kỷ cương không nghiêm; cán bộ lãnh đạo, quản lý không gương mẫu… suy đến cùng là do không vượt qua được chủ nghĩa cá nhân.

Bác Hồ đã nhiều lần nhấn mạnh, chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù hung ác, là giặc nội xâm, nó không mang gươm, mang súng nhưng vô cùng nguy hiểm, gian giảo, xảo quyệt; nó kéo người ta xuống dốc không phanh. Mọi thứ xấu xa, hư hỏng đều sinh ra từ căn bệnh này. Nếu không đánh bại, không quét sạch chủ nghĩa cá nhân thì Đảng ta không thể trong sạch, vững mạnh được, không thể là một đảng cách mạng chân chính hết lòng vì nước, vì dân. Tuy cuốn sách Bác Hồ đã viết từ 65 năm trước, nhưng nay đọc lại, tưởng như đang nghe Bác nói với chúng ta hôm nay. Để ngăn chặn  và loại trừ suy thoái, để làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao sức chiến đấu, hơn lúc nào hết cần nghiêm túc, thật sự học và làm theo đúng những chỉ dẫn của Bác trong “Sửa đổi lối làm việc”./.

Theo Bùi Văn Bồng/Tạp chí Xây dựng Đảng
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bồi hồi nhớ kỷ niệm được Bác Hồ trao tặng Huy hiệu

Tròn 21 tuổi, làm Bí thư Đoàn xã và còn tham gia làm Đội trưởng trong Hợp tác xã (HTX) Đại Phong. Với những thành tích đóng góp cho HTX, ông Trịnh Gia Minh vinh dự được Bác Hồ trao tặng hai phần thưởng cao quý mang tên Người.

Vào những ngày giữa tháng 5, khi cả nước đang hân hoan tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm 122 năm Ngày sinh nhật Bác, chúng tôi tìm về xã Yên Trường, huyện Yên Định, gặp ông Trịnh Gia Minh – người Đội trưởng Đội 14, của HTX Yên Trường năm xưa (hay còn gọi là HTX Đại Phong).

Boi hoi 1Ông Trịnh Gia Minh bồi hồi nhớ lại ngày được gặp Bác
và được nhận huy hiệu của Người.

Đã hơn 70 tuổi, và hơn 50 năm kể từ ngày được gặp Bác Hồ, nhưng ông vẫn nhớ như in những khoảnh khắc đầy vinh dự, tự hào đó.

Vào những năm 1960, khi nước ta đang thực hiện hai nhiệm vụ chính, miền Bắc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục chiến đấu chống “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ. Để thực hiện công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc phát động 3 phong trào lớn: Gió Đại Phong, Sóng Duyên Hải, Cờ 3 Nhất.

Trong phong trào đó, HTX Yên Trường luôn có thành tích dẫn đầu của tỉnh Thanh Hóa và được Trung ương công nhận. Năm 1961, Bác Hồ đã trực tiếp về thăm và động viên các xã viên, bà con nhân dân trong xã tích cực hơn nữa trong tăng gia sản xuất, thực hiện thành công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội.

“Chiều ngày 10/12/1961, khi tôi cùng các xã viên đang làm ngoài đồng, thì có đồng chí lãnh đạo xã ra thông báo ngày mai các xã viên nghỉ sản xuất, xã ta được một phái đoàn cấp cao về thăm, và yêu cầu tôi tối nay phải họp thông báo cho các xã viên biết, đúng 6 giờ 30 phút ngày mai tất cả mọi người tập trung để ban tổ chức đưa tới vị trí mít tinh”, ông Minh nhớ lại.

Đúng 6 giờ 30 ngày 11/12, tất cả mọi người đều đã tập trung đông đủ. Ban tổ chức thông báo hôm nay cán bộ, nhân dân xã Yên Trường vinh dự được đón Bác Hồ về thăm. Hàng ngàn người vỡ òa trong niềm vui sướng, cùng hô to “Bác Hồ muôn năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!”. Lúc này chiếc máy bay trực thăng từ từ hạ cánh.

Boi hoi 2Bác Hồ biểu dương những thành quả mà HTX Yên Trường đạt được. (nh tư liệu)

Boi hoi 3Cán bộ, nhân dân, quết tâm làm theo lời dặn của Bác. (nh tư liệu)

Bác bước xuống, Ban tổ chức mời Bác lên lễ đài đứng nói chuyện nhưng Bác nói: “Các chú cứ để Bác đứng đây, Bác được gần dân, nói chuyện với dân, cho dân nghe rõ”. Gặp bà con, Bác hỏi chuyện rất thân tình. Bác quan tâm đến từng bữa ăn, sức khỏe của người già và trẻ nhỏ, cách thực hiện xây dựng đời sống mới của bà con.

Ông Minh trầm giọng xuống, rồi kể tiếp: “Sau khi Bác biểu dương thành tích phát triển kinh tế, sản xuất nông nghiệp của Đảng bộ, nhân dân xã Yên Trường. Bác nói trong thành tích tập thể có thành tích cá nhân. Bác hỏi: “Cháu Trịnh Gia Minh và cháu Hoàng Thị An, có ở đây không? Lúc này tôi vui sướng thốt lên: “Thưa Bác có cháu đây ạ!”.

Bác ân cần: “Bác đã nghe thành tích của cháu và cháu An”. Bác hỏi bà con có đồng ý để Bác biểu dương thưởng cho hai cá nhân xuất sắc này không? Bác quay sang gắn Huy hiệu của Người cho tôi và cô Hoàng Thị An, rồi Bác căn dặn: “Đoàn thanh niên phải tích cực hăng say lao động sản xuất, phát triển kinh tế nông nghiệp, xây dựng quê hương giàu mạnh. Thành tích của cháu Minh, cháu An mới là bước đầu, còn phải cố gắng hơn nữa, hàng năm nhớ viết thư về báo công cho Bác”.

Boi hoi 4
Bà Hoàng Thị An tâm sự cùng Bác sau khi được Người trao huy hiệu. (Ảnh tư liệu)

“Nhớ lời Bác dặn, cứ vào ngày 19/5 hàng năm, tôi đều gửi bảng báo công lên Bác. Vào năm 1962, sau khi tôi gửi bảng báo công ra cho Bác, thật bất ngờ Bác lại gửi cho tôi hai tấm vải, bên ngoài có ghi Phần thưởng Bác Hồ. Nhận trên tay món quà của Bác mà tôi không dám tin vào mắt mình. Đời tôi thế là đã có hai lần được nhận phần thưởng của Bác”./.

Theo Hoàng Văn – Nguyễn Thùy/Báo Dân trí
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Nghĩ về nét độc đáo trong Tư tưởng Hồ Chí Minh

Đến nay ở nước ta có nhiều công trình nghiên cứu về Tư tưởng Hồ Chí Minh dưới nhiều góc độ khác nhau; nhưng về cơ bản các nhà nghiên cứu đã thống nhất chung về nền tảng của Tư tưởng Hồ Chí Minh và quá trình hình thành hệ tư tưởng đó; đồng thời phân chia hệ tư tưởng ra làm 3 bộ phận lớn: Tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức Hồ Chí Minh và phương pháp phong cách Hồ Chí Minh.

Trong khuôn khổ phạm vi bài viềt này xin nói lên cảm nghĩ về một trong 3 bộ phận nói trên của hệ Tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là đạo đức Hồ Chí Minh. Thiết nghĩ đây là nét độc đáo nhất trong hệ tư tưởng của Người. Bởi lẽ bộ phận đạo đức trong hệ tư tưởng nói trên được thế hiện là đặc trưng kết hợp giữa tinh hoa dân tộc với tinh hoa thời đại, trong đó bao trùm là tính tư tưởng nhân văn được diễn đạt một cách khái quát: độc lập và thống nhất cho Tổ quốc, tự do và dân chủ cho nhân dân, công bằng và hạnh phúc cho mọi người; hòa bình và hữu nghị cho các dân tộc, sự phát triển các quan hệ văn hóa và nhân dân cho thời đại.

Đạo đức Hồ Chí Minh được các nhà nghiên cứu khẳng định là tấm gương đạo đức lớn, là sức mạnh chính trị, tinh thần to lớn cho toàn Đảng, toàn dân noi theo. Đạo đức Hồ Chí Minh bao gỗm 2 bộ phận là tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức.

Tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh đã đóng góp làm phong phú thêm tư tưởng đạo đức cách mạng của đạo đức học Mác-Lênin, được biểu hiện vận dụng nhuần nhuyễn giữa tính nhân văn của các dân tộc Việt Nam với đạo đức cách mạng của giai cấp công nhân.

Tấm gương đạo đức của Nguời là đỉnh cao đặc trưng con người mới. Đó là: Suốt đời hy sinh cho dân tộc không một chút riêng tư, hết lòng yêu thương nhân dân, lấy dân làm gốc; chí công vô tư, cần kiệm liêm chính; giản dị, khiêm tốn; suỗt đời học tập rèn luyện vươn lên. Từ đó Người đã hết lòng vì sự nghiệp giải phóng con người bao gổm: đồng bào bị đau khổ, nhân loại bị áp bức không phân biệt màu da, chủng tộc… yêu con người, tin vào sức mạnh con người và đem lòng chí công vô tư để đối xử với con người.

Đạo đức Hồ Chí Minh còn được thể hiện rõ nét và độc đáo trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc qua 2 thời kỳ, Người đã kế thừa và nâng cao truyền thóng đạo đức của dân tộc Việt Nam trong đấu tranh với kẻ thù: “Lấy chí nhân thay cường bạo, lấy đại nghĩa thắng hung tàn. Người không những thế hiện lòng nhân đạo đối với kẻ thù, cảm thông đối với những ai lầm đường lạc lối và với cả những người lính viễn chinh, công cụ của giai cấp bóc lột cũng là nạn nhân của chiến tranh phi nghĩa. Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Người vẫn mời Vĩnh Thụy (Bảo Đại) và giám mục Lê Hữu Từ làm cồ vấn cho Chính phủ.

Khi lập ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người đa chủ trương thực hiện chính sách thêm bạn bớt thù; đã cử các ông Nguyễn Hải Thần làm Phó Chủ tịch Chính phủ, NguyễnTườngTam, làm Bộ trưởng Ngoại giao, Vũ Hồng Khanh làm Phó Chủ tịch Quân ủy hội, cùng nhiều nhân vật khác của Quốc dân Đảng tham gia vào Ban Thường trực Quốc hội. Điều đó nói lên đức khoan hồng, đại độ và bản lĩnh của Người. Ngày 31-5-1946, trong thư gởi đổng bào Nam Bộ, Người viết: “Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. Năm ngón tay có ngón ngắn, ngón dài. Nhưng ngắn dài đều hợp lại nơi bàn tay, trong mấy triệu người cũng có người thế này, người thế khác, nhưng cả thảy đều là dòng dõi tổ tiên ta.

Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ, ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ; có thế mới thành đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc chắn sẽ vẻ vang. Trong công cuộc giải phóng miền Nam, Đảng và quân đội ta thực hiện tư tưởng của Người: Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Tuy nhiên, phải đánh như thế nào đề miền Nam ít tổn thất về sinh mạng và của cải nhân dân. Thể hiện tính nhân đạo của Người, lúc sinh thời là đánh thế nào làm tan rã về tỗ chức của quân ngụy, đánh sụp đổ về tinh thần và ý chí, đồng thời mở con đường sống cho quân ngụy còn có ngày cải tà qui chính quay về với dân tộc.

Ngày nay, đất nước đang tiếp tục sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, việc phát huy nâng cao Tư tưởng Hồ Chí Minh là rất to lớn. Điều đó sẽ giúp cho việc đổi mới chỉnh đốn Đảng trong sạch vững mạnh; đồng thời đoàn kết rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân và kiều bào ở nước ngoài, cũng như mở ra chính sách ngoại giao làm bầu bạn các nước trên thế giới; nhằm huy động sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

(Thành đoàn TP HCM)
bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh

“Tư tưởng Hồ Chí Minh” không khép kín, tự đủ, không nhất thành bất biến mà luôn luôn phát triển với dân tộc và thế giới.

Nói về thế kỷ XX vừa lùi vào quá khứ, có người đã khái quát bằng một hình ảnh thật độc đáo có ý nghĩa khơi gợi rất lớn: Nếu lịch sử hơn 4 triệu năm của loài người thu lại trong 1 năm thì thế kỷ XX chỉ là 13 phút, từ 23h47′ đến 24h của ngày 31/12 . Trong 13 phút ấy, đặc biệt trong 5 phút cuối cùng, loài người đã hiểu biết nhiều hơn toàn bộ hệ thống kiến thức tích luỹ trước đó, tức là từ khi trên trái đất bắt đầu có con người! Bình minh của thiên niên kỷ mới với những năm đầu của thế kỷ XXI đã cho ta những cảm nhận thật sống động, những biến động dữ dội khó mà tiên liệu được! Một sự dồn nén như vậy tất sẽ đưa đến những đột biển lớn lao trong lịch sử tư tường của loài người, “lượng” sẽ biển thành “chất”. Đúng là, “chúng ta đang làm biến đổi môi trường của ta đến tận gốc rễ đến mức rồi ta phải tự biến đổi chính mình để tồn tại được trong môi trường đó” (Nobert Wiener)

Chính những diễn biển của cuộc sống ở buổi bình minh của thiên niên kỷ đang khẳng định một sự thật: Chuẩn mực chính là sự thay đổi!

Với Hồ Chí Minh, chúng ta có tấm gương tuyệt vời vế sự nhất quán từ trước đến sau, từ lúc khởi đầu cuộc tìm đường cứu nước, với bao sức ép từ mọi phía cho đến khi Đảng ra đời qua bao thăng trầm, thử thách khốc liệt để có cách mạng Tháng Tăm 1945, ra đời nước cộng hoà non trẻ giữa vòng vây trùng điệp của kẻ thù, tiến hành hai cuộc kháng chiến với ý chí “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Đó là sự dân quyền về mục tiêu độc lập cho dân tạc, tự do cho nhân.

Với mục tiêu đó, Hồ Chí Minh đã đấu tranh cho sự hợp nhất và ra đời của Đảng năm 1930, thậm chí có lúc vì mực tiêu đó mà dám có quyết định táo bạo cho dù đau đớn là tuyên bố Đảng tự giải tán. Thực chất là Đảng rút vào hoạt động bí mật chính vào lúc giành được chính quyền vào năm 1945. Rồi cũng vì mục tiêu đó mà sáng suốt và kiên quyết đổi tên Đảng Cộng sản Đông Dương thành Đảng Lao động Việt Nam vào năm 1951.

Tên tuổi và sự nghiệp của Hồ Chí Minh đã thực sự là ngọn cờ trong khối óc và trái tim cửa người Việt Nam của dân tộc Việt Nam. Giương cao ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh để vẫy gọi và quy tụ mọi tấm lòng Việt Nam vốn nặng lòng vì quê hương, đất nước. Những người đã trải qua sự thử thách trong gần nửa thế kỷ chiến đấu và chiến thắng. Những người với những hoàn cảnh và điếu kiện khác nhau đã gửi gắm tình yêu nước thương nòi của mình trong nhiều hành động và nghĩa cử không ai giống ai. Làm cho mọi giọt máu của mỗi người Việt Nam cùng chảy về trái tim của dân tộc để rồi toả đi khắp bốn phương nuôi dưỡng hành động vì nghĩa lớn đất nước. Làm được điều đó cũng là cách tao nên được sự đồng thuận xã hội sâu sắc và rộng lớn, có sức vẫy gọi và hội được khối đại đoàn kết toàn dân tộc hường về mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ công bằng văn minh.

“Tư tưởng Hồ Chí Minh” không khép kín, tự đủ, không nhất thành bất biến mà luôn luôn phát triển với dân tộc và thế giới. Phải biết làm cho tư tường Hồ Chí Minh sống trong cuộc sống của mọi người Việt Nam, tiếp tục cho nghị lực và tâm hồn của mỗi con người đang xây dựng cuộc sống của mình, gia đình mình và góp phần vào sự nghiệp chung của đất nước. Có thể làm được điều đó vì tư tưởng Hồ Chí Minh gần gũi với mọi tấm lòng Việt Nam, gần gũi như khí trời, như cơm ăn nước uống trong mạch sống Việt Nam từ túp lều tranh cho đến ngôi biệt thự.

Tư tưởng Hồ Chí Minh gần gũi với người nông dân còn bao gian khó, đổ mồ hôi, sôi nước mắtt trên cánh đồng chưa có mấy trợ lực của khoa học và công nghệ, cũng như với bà con nghèo đô thị nơi xóm thợ nghèo khổ của những công nhân làm việc tại các khu chế xuất, các xí nghiệp liên doanh… với bao nỗi lo toan trong cuộc mưu sinh nhọc nhằn. Hồ Chí Minh đến được với họ vì bình sinh Người chỉ có một “ham muốn, ham muốn tột bậc là làm cho cuộc sống của họ được no ấm, con em của họ được học hành. Những người lao động lam lũ ấy hiểu Hồ Chí Minh vì tư tưởng của người lãnh tự nhân dân, đã quy tụ được những khát vọng, những mong mỏi hàng ngày vốn bình dị và nghiệt ngã như chính cuộc sống của họ vậy thôi.

Và, với những nhà doanh nghiệp đang có vai trò lớn trong xây dựng nến kinh tế thị trường lành manh, dấn bước trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế, Hồ Chí Minh không xa lạ với họ. Từ những ngây đầu của chính quyến cách mạng Hồ Chí Minh đã nhận rõ vi trí của các nhà công thương trong khối đại đoàn kết dân tộc để làm cho đất nước phú cường. “Tuyên ngôn Độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam mới được có trong căn phòng của một nhà tư sản lớn giàu lòng yêu nước.

Hơn ai hết, những người trí thức Việt Nam hiểu rõ Hồ Chí Minh, nhận ra tầm vóc lãnh tụ của dân tộc ở trí tuệ một nhà văn hoá lớn cùng trái tim ấp ủ những khát vọng nhân văn của một con người khao khát tự do: “Trên đời ngàn vạn điều cay đắng/ Cay đắng chi bằng mất tự do”. Hồ Chí Minh đã biết cách trả về lại cho người trí thức Việt Nam ngọn nguồn yêu nước truyền thống vốn nằm sâu trong tâm thức của họ, khơi dậy năng lực cống hiến của tiềm lực trí tuệ trong họ. Với Hồ Chí Minh, người trí thức Việt Nam hiểu được chỗ đứng của họ trong lòng dân tộc.

Thời gian đủ để kiểm nghiệm độ chính xác và sự tường minh của một tư tưởng, trải qua những biến động dồn dập cả trong nước và trên thế giới vẫn chứng minh được sức bền, độ “chín” của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là sự kết tinh trí tuệ và khí phách của một dân tộc, là sự tiếp nhận và hội tụ những tinh hoa của tư tưởng mà loài người đã giữ lại qua quá trình tiếp biến, thanh lọc và kiểm nghiệm. Vì thế nó đủ tầm cao của sự khái quát của lý luận và đường hướng phát triển, vừa gần gũi, đi thẳng vào lòng người Việt Nam vì nó diễn đạt được chân lý của cuộc sống.

Chân lý thì luôn luôn đơn giản, song hiểu được chân lý, đến được với chân lý thì thường lại cực kỳ gian chuân.

Cuộc sống đang sải những bước đi táo bạo và quyết đoán trong thời đại của những biến động dồn dập. Tầm mắt không ít người dã được mở rộng hơn nhờ vào “sự xé toang một tấm màng bưng bít, sự hiện ra và sáng lên của sự thật, sự tan vỡ một số huyền thoại, sự phá sản nhiều giáo điều, sự bộc lộ những sai lầm trầm kha, sự nhận thức mới, không phải về tưởng mà về lý luận cách mạng, thực tiễn hoạt động và thực tế đời sống, sự khơi dậy những niềm hy vọng mới, sự bắt đầu một quá trình thanh lọc và tái tạo đầy hứa hẹn” (trích từ bài viết thế kỷ XX của Việt Phương – thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ).

Để bắt đầu một quá trình thanh lọc và tái tạo đầy hứa hẹn ấy, mở rộng tầm mắt là điều kiện tiên quyết. Đó cũng là đòi hỏi trước tiên đề có thể chủ động đón nhận sự thách thức mới trong qúa trình hội nhập quốc tế. Tính chất gay gắt và chưa có tiền lệ của những thách thức ấy đang đòi hỏi một bản lĩnh mới của những người đang gánh trên vai mình trách nhiệm nặng nề của lịch sử. Bản lĩnh ấy, xét đến cùng lại cũng được quyết định quyết định bởi tầm nhìn mới, bởi “đôi mắt mới nhìn vào thế giới”.

Không phải là không có lý khi người ta cho rằng: thế giới đã thay đổi và kiểu tư duy tuyến tính không con thích hợp với một thế giới phi tuyến. Không có một bản đồ vạch sẵn cho con đường phía trước. Những kinh nghiệm có sẵn, những phương pháp truyền thống không còn đủ cho hành trình của dân tộc đi về phía trước. Vì thế, sáng tạo và linh hoạt trong tư duy cũng như trong hành động phải là phẩm chất hàng đầu của con người Việt Nam đang sống trong thế kỷ XXI. Để có được phẩm chất đó, đỏi hỏi phải có “sự nhận thức mới, không phải về lý tưởng mà về lý luận cách mạng, thực tiễn hoạt động và thực tế đời sống”. Để làm được điều đó, phải biết khai thác cái lợi thế vô song của chúng ta, đó là uy tín của tên tuổi và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh – anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hoá mà thế giới từng biết và đã tỏ lòng ngưỡng mộ.

Theo Báo Lao Động
bqllang.gov.vn

Thực hành tiết kiệm theo gương Bác

Thuc hanh tiet kiemSinh thời, không ít hơn hai lần Bác Hồ kể lại câu chuyện Người dùng phong bì gửi công văn, thư từ.

Lần thứ nhất, tháng 5-1949, Bác Hồ kể: “Trung bình một cái phong bì có kích thước giấy 180 phân vuông… Mỗi ngày các cơ quan, đoàn thể và tư nhân ít nhất cũng dùng hết một vạn cái phong bì, tức là 180 thước vuông giấy… Mỗi năm là 64.800 thước vuông giấy. Nếu ai cũng tiết kiệm, dùng một cái phong bì hai lần, thì mỗi năm chỉ tốn một nửa số giấy, tức là 32.400 thước vuông. Còn 32.400 thước để dành cho các lớp bình dân học vụ thì chẳng tốt sao? Hơn nữa, nhờ sự tiết kiệm giấy, mà tiền bạc và công phu làm giấy có thể làm thêm việc kiến thiết khác, thì càng ích lợi hơn nữa”. Lần thứ hai, năm 1952, nói về thực hành tiết kiệm, Bác Hồ dẫn thí dụ: “Cơ quan nào cũng dùng phong bì, nếu mỗi cơ quan đều tiết kiệm, một chiếc phong bì dùng hai, ba lần, thì mỗi năm Chính phủ có thể tiết kiệm được hàng chục tấn giấy”. Và Bác nhấn mạnh: “Đối với giấy như thế, đối với mọi thứ khác đều như thế”.

Dẫn ra hai thí dụ trên đủ thấy, Bác Hồ thường xuyên quan tâm thực hành tiết kiệm biết chừng nào. Hơn nữa, Bác còn rất coi trọng tiết kiệm từ những chi tiêu, sử dụng nhỏ như chiếc phong bì. Hẳn nhiều người còn nhớ, khi Bác Hồ qua đời, bản Di chúc viết tay của Bác được viết trên mặt sau bản tin hàng ngày của Thông tấn xã Việt Nam. Đối với Bác Hồ, bất cứ làm việc gì, sử dụng cái gì dù lớn dù nhỏ cũng đều phải tiết kiệm. Bởi theo Bác tiết kiệm cũng như cái thùng có đáy, nước đổ vào không thể đi đâu được. Thế nên, Bác Hồ luôn nhắc mọi người: “Cần với kiệm phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người”. Bác Hồ còn dẫn câu ngạn ngữ để mọi người dễ hình dung cái kiểu cần mà không kiệm: “làm chừng nào xào chừng ấy”, thì: “cũng như một cái thùng không có đáy; nước đổ vào chừng nào chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không”.

Trong cuốn “Cần, kiệm, liêm, chính” xuất bản tại Liên khu 1 năm 1949, Bác Hồ còn đi sâu phân tích về tiết kiệm thời giờ. Theo Bác: “Thời giờ cũng cần phải tiết kiệm như của cải”. Vì: “Của cải nếu hết, còn có thể làm thêm”. Nhưng đối với thời giờ, một khi đã qua rồi thì: “Không bao giờ kéo nó trở lại được”. Thế nên, Bác Hồ nhấn mạnh: “Tiết kiệm thời giờ là kiệm, và cũng là cần”. Bác Hồ dẫn ra hai câu, một của thánh hiền: “Một tấc bóng là một thước vàng”, một là tục ngữ châu Âu: “Thời giờ tức là tiền bạc”, để phê phán những kẻ không biết tiết kiệm thời giờ: “Ai đưa vàng bạc vứt đi là người điên rồ. Thì ai đưa thời giờ vứt đi, là người ngu dại”. Thiết nghĩ rất đáng để mọi người suy nghĩ, bởi không ít người trong chúng ta rất thiếu ý thức tiết kiệm thời giờ, nói “tám giờ vàng ngọc” nhưng thực ra họ chấm cha chấm chớ, chân trong chân ngoài cơ quan, đơn vị rồi mau chóng ra quán cà phê, bia hơi vỉa hè hay sân cầu lông, bãi bóng hoặc về vun vén cho nhà mình; chứ trong cơ quan, đơn vị thời giờ không những bị cắt xén mà năng suất cũng chẳng đáng là bao. Thế nên, để tiết kiệm được thời giờ, Bác Hồ chỉ rõ: “Việc gì trước kia phải làm hai ngày, nay vì tổ chức sắp xếp khéo, năng suất cao, ta có thể làm xong trong một ngày”. Không chỉ có “thời giờ là vàng bạc” Bác Hồ mới căn dặn kỹ, mà đối với sức lao động của mỗi người, Bác cũng yêu cầu phải biết tiết kiệm: “Chúng ta phải tiết kiệm sức lao động. Thí dụ: việc gì trước kia phải dùng 10 người, nay ta phải tổ chức sắp xếp cho khéo, phải nâng cao năng suất của mỗi người, nhờ vậy mà chỉ dùng 5 người cũng làm được”. Trong bài nói nhân dịp có phong trào sản xuất và tiết kiệm năm 1952, Bác Hồ lại chỉ rõ: “Chúng ta phải tiết kiệm tiền của. Việc gì trước phải dùng nhiều người, nhiều thời giờ, phải tốn 2 vạn đồng. Nay vì tiết kiệm được sức người và thời giờ, nguyên liệu, cho nên chỉ tốn 1 vạn là đủ”.

Trong khi căn dặn mọi người, mọi ngành, mọi cấp thường xuyên thực hành tiết kiệm, thì đồng thời, Bác Hồ cũng quan tâm làm cho mọi người hiểu rõ tiết kiệm không phải là khắc khổ, là bủn xỉn đến mức nhịn ăn, nhịn mặc, mà trái lại, tiết kiệm để tạo cho mức sống ngày càng được cải thiện, nâng cao hơn. Với cách phân tích chặt chẽ và dễ hiểu, Bác Hồ khẳng định dứt khoát: “Tiết kiệm không phải là bủn xỉn, không phải là “xem đồng tiền to bằng cái nong”, gặp việc đáng làm cũng không làm, đáng tiêu cũng không tiêu. Tiết kiệm không phải là ép bộ đội, cán bộ và nhân dân nhịn ăn, nhịn mặc. Trái lại tiết kiệm cốt để giúp vào tăng gia sản xuất, mà tăng gia sản xuất là để dần dần nâng cao mức sống của bộ đội, cán bộ và nhân dân. Nói theo lối khoa học, thì tiết kiệm là tích cực, chứ không phải là tiêu cực”. Vì thế, Bác Hồ yêu cầu: “Tất cả mọingười đều phải tiết kiệm. Trước nhất là các cơ quan, các bộ đội, các xí nghiệp”. Tiếp đó, Bác Hồ chỉ rõ cho quân đội, từ quân nhu, quân giới đến vận tải: “Các chiến sĩ cũng cần tiết kiệm và có thể tiết kiệm”, rồi: “Cơ quan nào cũng cần và có thể tiết kiệm, vì cơ quan nào cũng dùng phong bì”, ngay đến: “Cán bộ tư pháp nếu nâng cao năng suất, làm việc mau chóng, thì sẽ giúp cho đồng bào có việc đến tư pháp tiết kiệm được ngày giờ, để tăng gia sản xuất”. Tạo được phong trào thực hành tiết kiệm sâu rộng như thế, thì chắc chắn: “Nếu ta khéo tiết kiệm sức người, tiền của và thời giờ, thì với sức lao động và tiền tài của nước ta hiện nay, ta có thể tăng gia sản xuất gấp bội mà lực lượng của ta về mọi mặt cũng tăng gấp bội”. Quả là sự phân tích sắc sảo, tràn đầy lạc quan, tin tưởng mà cho đến hôm nay, giữa những ngày giá cả thị trường luôn biến động, đòi hỏi không chỉ riêng bà nội trợ mà tất cả những ai tiêu pha mua sắm hàng ngày, từ nhà lãnh đạo, quản lý hành chính đến nhà doanh nghiệp, từ thành thị đến nông thôn mỗi khi đọc lại những lời dạy của Bác Hồ về thực hành tiết kiệm đều thấy vô cùng cần thiết và giúp ích ngần nào cho chính bản thân, cũng như cơ quan, đơn vị.

Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn