Tag Archive | Tập 4 (1945 -1946)

Thư gửi Hội trưởng Hội hướng đạo Việt Nam

Hà Nội, ngày 31 tháng 5 nǎm 1946
Chủ tịch Chính phủ Việt Nam

Kính gửi ông Hội trưởng
Hội Hướng đạo Việt Nam
Hà NộI

Thưa ông,

Tiếp theo thư quý Hội yêu cầu tôi nhận làm DANH Dự HộI TRƯởNG cho Hội Hướng đạo Việt Nam, tôi trân trọng báo tin cho ông cùng quý Hội biết rằng tôi rất vui lòng nhận và xin chúc anh em trong Hội luôn luôn sẵn sàng “phụng sự Tổ quốc”.

Chủ tịch Chính phủ Việt Nam
Hồ Chí Minh

Báo Hướng đạo thẳng tiến, số 3, ngày 10-6-1946
cpv.org.vn

Thư gửi đồng bào Nam Bộ

Cùng đồng bào yêu quý Nam Bộ,

Được tin tôi cùng đoàn đại biểu qua Pháp để mở cuộc đàm phán chính thức, đồng bào cả nước, nhất là đồng bào Nam Bộ đều lấy làm bâng khuâng. Bâng khuâng là vì chưa biết tương lai của Nam Bộ sẽ ra thế nào?

1- Tôi xin đồng bào hiểu rằng nước Pháp mới không phải là đế quốc chủ nghĩa, đi áp bức, đi chia rẽ dân tộc và nước nhà người ta.

2- Tôi xin đồng bào cứ bình tĩnh. Tôi xin hứa với đồng bào rằng Hồ Chí Minh không phải là người bán nước.

Đồng bào Nam Bộ đã hy sinh tranh đấu mấy tháng trường, để giữ gìn non sông cho toàn nước Việt Nam. Cho nên đồng bào cả nước đều phải nhớ ơn đồng bào Nam Bộ.

Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam.

Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi!

*

Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. Nǎm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài. Nhưng vắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ. Ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hoá họ. Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc sẽ vẻ vang.

Giấy vắn tình dài, trước khi lên đường đi Pháp, tôi xin gửi lời chào thân ái cho tất cả đồng bào Nam Bộ.

Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 255, ngày 1-6-1946.
cpv.org.vn

Điện gửi Chính phủ Việt Nam

Ngày 2-6-46. Chúng tôi đã đến Cancútta được bình yên cả, sau một đêm nghỉ ở Pêgu (Rǎnggun). Hôm thứ, chúng tôi sẽ lại lên đường. Chúng tôi nhờ Chính phủ cảm ơn đồng bào ta và các bạn người Pháp đã tiễn chúng tôi ở Gia Lâm. Tôi gửi những cái hôn cho các cháu. Nhờ chuyển giao cho Quốc hội.

Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 257, ngày 4-6-1946.
cpv.org.vn

Điện vǎn gửi Đô đốc Đácgiǎngliơ

Tôi xin cảm ơn Ngài đã sǎn sóc về việc khởi hành sang Pháp của tôi và tôi thành thực cảm ơn Ngài đã viết thư chúc tôi trong lúc tôi lên đường. Tôi sẽ hy vọng và quả quyết rằng cuộc đàm phán chính thức ở Ba Lê sẽ được tốt đẹp và nhờ đó hai dân tộc Pháp-Nam sẽ cộng tác một cách chặt chẽ.

Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 258, ngày 5-6-1946.
cpv.org.vn

Binh pháp Tôn Tử – Đặt kế hoạch tác chiến – chiến lược, chiến thuật

Biết người, biết mình rồi lại phải so sánh mình với địch xem ai hơn, ai kém để định kế hoạch tác chiến. Về sự so sánh mình với địch, Tôn Tử nói “Xem đôi bên chính phủ bên nào đối với nhân dân thi hành chính sách nhân nghĩa, bên nào có những tướng tá đủ tài nǎng giúp việc, bên nào có đủ thiên thời, địa lợi hơn, bên nào thi hành kỷ luật và mệnh lệnh nghiêm ngặt, lại binh sĩ bên nào nhiều hay ít, và được huấn luyện thành thục hay không thành thục, vũ khí bên nào tinh nhuệ hơn. Thưởng phạt bên nào công minh hơn”.

Thật vậy, trước khi giao chiến nếu so sánh kỹ càng như lời Tôn Tử, có thể định đoạt được thắng bại. Nhưng chiến tranh ngày nay, không những riêng về mặt quân sự mà bao gồm cả chính trị, kinh tế, ngoại giao.

Vậy cần phải so sánh cả những phương diện trên đây nữa mới thực là toàn vẹn.

Đặt ra kế hoạch rồi, lại cần xem các tướng tá, binh sĩ thừa hành kế hoạch có phải là những người trung thực, chịu theo đúng kế hoạch không? nên Tôn Tử lại nói:

“Nếu tướng tá nào chịu theo mệnh lệnh, hết sức thừa hành kế hoạch đã định, là những tướng tá nên dùng làm chân tay giúp việc, thời dễ nắm được thắng lợi. Trái lại những tướng tá nào ngang ngạnh, không chịu theo kế hoạch, thích tự do hành động dễ làm hỏng việc, phải nên loại bỏ đi”.

Trong quân sự, phục tùng mệnh lệnh, trên dưới mới nhất trí, chỉ huy mới đắc lực. Nếu các cấp dưới thấy mệnh lệnh trên có chỗ không đi sát với hoàn cảnh, không thể thực hiện được, phải hỏi cấp trên có cho phép quyền biến mới được. Như thế là cốt để chỉ huy được thống nhất, mệnh lệnh thi hành được chu đáo.

Khi đã định kế hoạch có lợi cho mình rồi và khi đã dùng được tướng tá biết tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh rồi, người làm tướng chỉ huy còn phải theo như Tôn Tử chỉ dẫn “xem xét tình thế bên ngoài để tạo ra những điều kiện khách quan giúp ích cho những hành động quân sự của mình”, như phao tin đồn, đề xướng chính nghĩa, gây dư luận hoặc dùng mọi mánh khoé ngoại giao làm cho các nước láng giềng đối với mình có thiện cảm để giúp mình hoặc về vật chất, hoặc về tinh thần và làm cho nước địch bị cô lập.

Chiến tranh ngày nay, đánh ở mặt sau, đánh về kinh tế, về chính trị, về tinh thần cũng không kém phần quan trọng như đánh ngoài mặt trận. Phải biết phối hợp mọi phương pháp ấy mới có thể đi tới thắng lợi hoàn toàn.

Ngoài ra muốn định đoạt kế hoạch xác đáng, Tôn Tử còn nói thêm:

“Về việc binh, cần phải nghiên cứu kỹ càng địa hình, đo xem chiến trường cao thấp, rộng hẹp, xa gần và bằng phẳng hay hiểm trở thế nào. Rồi lại tính xem cần phải số quân nhiều ít, mạnh yếu thế nào để quyết định sức chiến đấu giữa quân mình với quân địch”.

Chiến lược, chiến thuật

Về chiến thuật – Tôn Tử định ra mấy điểm sau đây:

1- “Về việc quân, không thể đường đường chính chính được mà bao giờ cũng phải áp dụng chiến thuật lừa dối”.

Vẫn biết dụng binh là việc nhân nghĩa, muốn cứu dân, cứu nước. Nhưng muốn thắng quân địch phải bày mưu kế làm sao lừa được quân địch vào cạm bẫy, nên không thể không dùng chiến thuật giả dối được. Chẳng những giả dối đối với quân địch mà ngay với binh sĩ của mình cũng phải giả dối nữa. Đối với binh sĩ chỉ buộc họ phải làm theo mệnh lệnh, không nên cho họ biết nhiều, sợ lộ cơ mưu. Chiến tranh chỉ là thủ đoạn để đạt mục đích chính trị, nên dù phải dùng đến kế giả trá đến thế nào cũng không từ, chỉ cốt sao thắng được địch quân để bảo vệ đất nước là được.

2- “Muốn giả trá, thì dù mình có tài nǎng cũng làm như mình không có tài nǎng gì”.

Làm như thế để địch không lưu tâm đến mình, cho mình là yếu, không cần phải chuẩn bị nhiều rồi mình sẽ thừa cơ đánh úp. Ngày nay các nước chuẩn bị chiến tranh đều hết sức giữ bí mật, đợi chiến tranh bùng nổ mới xuất toàn lực ra để quyết thắng.

3- “Thời kỳ tiến đánh quân địch đã đến nơi nhưng làm thế nào để cho quân địch tưởng là chưa đánh vội”. Quân địch thấy mình không có ý đánh, không kịp chuẩn bị. Mình đem quân tới đánh, tất địch phải thua.

4- “Lấy lợi để dụ địch”.

Như thế có nghĩa là mình bỏ mặt không quan trọng để chiếm được mặt khác quan trọng hơn, hoặc hy sinh một bộ đội nhỏ để cho bộ đội khác được thắng lợi lớn. Ngoài ra, còn dùng kim tiền hay tước vị để dụ quân địch đầu hàng.

5- “Dùng mọi phương pháp để làm rối loạn nước địch hay bộ đội của nước địch rồi thừa cơ hưởng lợi”.

6- “Thấy quân bị của địch đã đầy đủ, ta phải thiết thực chuẩn bị để đề phòng”.

7- “Thấy quân địch mạnh, ta phải tạm lánh không cần đương đầu vội để đợi thời cơ”.

8- “Khiêu khích cho địch nổi giận, để làm rối loạn lý tính của địch”.

Lý tính đã rối loạn, địch sẽ hành động thất thố để cho mình dễ thừa cơ tiến đánh. Nhưng phải đợi cho địch tức đến nỗi phát khóc, rồi mình sẽ hành động mới có hiệu quả.

9- “Đối với địch nên tỏ thái độ khiêm tốn, nhã nhặn. Thấy vậy, địch sẽ lên mặt kiêu cǎng”.

Địch kiêu cǎng tưởng là giỏi không thiết gì chỉnh bị quân ngũ tức là có lợi cho mình.

10- “Quân địch đóng yên ổn ở một chỗ nào, mình đem quân đến đánh úp, hoặc uy hiếp mặt sau, hoặc phá hoại đường lối giao thông khiến cho quân địch bối rối, ứng phó nhọc mệt”.

11- “Tìm phương pháp ly gián nội bộ của quân địch hoặc ly gián nước địch với các nước khác”.

Trong nội bộ của địch, tướng tá và binh sĩ đã bất hoà với nhau, lực lượng sẽ yếu đi hoặc các nước đối với nước địch không có thiện cảm, nước địch sẽ bị cô lập.

12- “Tiến đánh chỗ địch không phòng bị hay thấy địch không để ý, mình tiến đánh một cách bất ngờ”.

Đánh lối như thế, bao giờ mình cũng giữ được địa vị chủ động làm cho địch không kịp ứng phó, mình sẽ chiếm được nhiều thắng lợi.

Để kết luận, Tôn Tử nói:

“Các chiến thuật nói trên đều là những bí quyết của các nhà quân sự. Nhưng trong việc quân, những việc bất trắc thực là thiên biến vạn hoá và thường xảy ra luôn luôn. Phải biết tuỳ cơ ứng biến, không thể biết trước mà bảo được. Chiến thuật cốt yếu để được thắng lợi là phải áp dụng thuật giả trá và tuyệt đối bí mật”.

Q.Th.

Báo Cứu quốc, số 260, ngày 7-6-1946.
cpv.org.vn

Noi gương anh em tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu

Anh em Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu thật đáng làm khuôn mẫu cho tất cả các anh em tự vệ các nơi về mọi phương diện.

Về mặt sinh hoạt hàng ngày, anh em bao giờ cũng giữ kỷ luật và trật tự rất nghiêm. Sáng dậy từ 5 giờ và chỉ trong 5 phút là đã chǎn chiếu gọn gàng, áo quần tề chỉnh để ra tập thể thao. Tuy quần áo thiếu thốn, nhưng anh em cũng cố gắng ǎn mặc sạch sẽ. Mỗi ngày anh em để riêng 1 giờ về việc chǎm nom vệ sinh trong trại. Lúc nào, nơi ǎn chốn ngủ cũng sạch sẽ. Người ta thường nói, muốn biết tinh thần của một bộ đội, chỉ cần xem cách xếp đặt và cách ǎn ở của các đội viên là đủ rõ. Thì đây, anh em Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu đã tỏ cho mọi người biết là những phần tử đủ tinh thần chiến đấu với cách sinh hoạt thật giản đơn.

Chẳng những thế, nhất cử nhất động, anh em đều tỏ ra rất nhanh nhẹn. Bất luận lúc nào tập hợp, chỉ dứt tiếng còi, là đã thành hàng ngũ chỉnh tề rồi.

ở trong trại, anh em coi nhau như anh em một nhà. Gặp chuyện gì xích mích, anh em cố nhẫn nhục đợi đến kỳ khai hội hàng tuần sẽ đem ra phân xử. Người có lỗi sẽ bị cảnh cáo, phê bình. Sự trừng phạt của anh em rất nghiêm. Trong khi tập tành mà phạm lỗi, bị phạt chạy chung quanh sân. Lỗi nặng vừa, phải lưu ở trong trại không được ra chơi ngoài vào ngày chủ nhật hay ngày lễ. Phạm lỗi nặng hơn, bị ǎn cơm muối hoặc bị khai trừ. Nhờ kỷ luật sắt đó, anh em luôn luôn sửa chữa nết hư, tật xấu, cố gắng làm những đội viên gương mẫu.

Về mặt học tập, ngoài tập luyện quân sự và lên giảng đường, anh em tối nào cũng hội họp để thảo luận thời cục hoặc nghiên cứu chính trị. Thừa thì giờ anh em vào thư viện xem sách, báo hay vào câu lạc bộ học hát, học đàn. Anh em rất thích học bắn, nên đối với súng, anh em giữ gìn và lau chùi cẩn thận lắm. Nói tóm lại anh em luôn luôn hoạt động, không một giờ, một phút nào nghĩ vơ, nghĩ vẩn.

Về mặt công tác, anh em Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu thật tranh giải nhất. Trong khu anh em đóng, dân chúng có điều gì thắc mắc khó hiểu về thời cục, anh em đi từng nhà giải thích, kỳ cho dân chúng hiểu rõ mới nghe. Tự vệ trong một ít phố đều do anh em huấn luyện về quân sự. Anh em rất sốt sắng với phong trào Bình dân học vụ. Những người không biết chữ trong phố đều là những bạn thân của anh em. Nhất là đối với đời sống mới, anh em thực hành thật chu đáo. Muốn cổ động vệ sinh có hiệu quả, anh em tổ chức thành từng ban đi quét và khai cống nước bẩn ở trong các ngõ sâu.

Tất cả các cuộc biểu tình khổng lồ rất nghiêm trang, rất có quy củ trên đường phố hoặc trước nhà hát lớn, trước Việt Nam học xá đều do anh em giữ trật tự và nhiều khi anh em hợp tác với ban tổ chức làm kỳ đài, chôn cột cờ, kẻ biểu ngữ, cổ động dân chúng. Anh em lại dự định đi các tỉnh để gây phong trào thể dục. Bất luận một việc xã hội nào do Chính phủ hay đoàn thể xướng ra đều được anh em xung phong.

Anh em Tự vệ chiến đấu thành Hoàng Diệu, thật đáng làm gương cho không những tự vệ các địa phương mà cho cả các hạng thanh niên nữa.

Q.T.

Báo Cứu quốc, số 266, ngày 14-6-1946.
cpv.org.vn

Những bức điện gửi Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trên đường sang Pháp

Đến Carasi (Karachi) 12 giờ ngày 5 tháng 6. Tôi vẫn khoẻ. Tướng Xalǎng và tôi là thượng khách của Chính phủ ở đây. Tôi lại khởi hành buổi sáng thứ ba.

Hồ Chí Minh

Ngày 7 tháng 6 đến Lơ Ke (Le Caire). Tất cả đều như thường. Cho chúng tôi biết ngày khởi hành của hai đại biểu và tin tức trong nước. Gửi cho phái đoàn ngoại giao. Chuyển lời chào thân ái của tôi cho các vị uỷ viên Pháp, tướng Lơcléc và tướng Valuy.

Hồ Chí Minh

Rời Lơ Ke 11 giờ sáng. Tất cả đều như thường. Từ khi rời Hà Nội, không được biết tin tức gì cả. Đánh điện cho biết ngay. Chào thân ái.

Hồ Chí Minh

Thứ tư ngày 11, chúng tôi tới Biarít (Biarritz), gặp Mạnh Hà, Trần Ngọc Danh, Bửu Hội và nhiều đại biểu của các đoàn thể kiều bào. Chúng tôi ở đây vài ngày để đợi Chính phủ Pháp thành lập. Nhắc những vị đại biểu còn thiếu đi ngay và cho chúng tôi biết ngày đi.

Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 269, ngày 18-6-1946
cpv.org.vn

Trả lời phái viên Hãng thông tấn A.F.P

Tôi rất tin cậy ở kết quả của cuộc hội nghị Pháp – Việt này. Hai nước Pháp – Việt xa nhau không phải vì vǎn hoá, lý tưởng mà chỉ vì quyền lợi của một vài cá nhân. Mục đích của Pháp là tự do, bình đẳng, bác ái, nếu Pháp thi hành đúng thì chắc chắn sẽ mua được tình thân thiện của nước Việt Nam.

Báo Cứu quốc, số 269, ngày 18-6-1946.
cpv.org.vn

Tại sao hợp tác xã chưa thấy xuất hiện ở thôn quê

Phong trào vận động hợp tác xã đã được Chính phủ cổ động và khuyến khích, lại được các báo nhiệt liệt hô hào. Song đến nay, ngó về thôn quê, chúng ta vẫn thấy vắng hình bóng hợp tác xã. Có một vài nơi đã mở hợp tác xã tiêu dùng; nhưng, trong lúc này vì giá hàng lên xuống không chừng nên buôn bán thua lỗ rồi sinh chán, không chịu tiến hành công việc đến nơi đến chốn.

Sở dĩ dân quê ta không chú ý lắm đến việc mở hợp tác xã là vì những nguyên nhân sau này:

1) Những tri thức phổ thông chưa được phổ cập ở thôn quê – ở các nước, hợp tác xã là hình thức tổ chức kinh tế rất thông thường trong dân chúng. Trong mỗi làng, mỗi phố, mỗi hầm mỏ, mỗi nhà máy, mỗi công sở, người ta đều tổ chức hợp tác xã tiêu dùng. Số tiền của mỗi cổ phần định rất nhẹ để cho người ít tiền cũng có thể góp được. Người nhiều tiền sẽ góp nhiều cổ phần hơn. Như vậy, hợp tác xã sẽ có đủ vốn để kinh doanh. Sự tiêu dùng của mọi người đều do hợp tác xã ở nơi mình làm việc cung cấp. Nhờ những hợp tác xã đó, đời sống của dân chúng nước người được đầy đủ và dễ dàng.

Còn ở xứ ta, dân chúng hình như vẫn còn bỡ ngỡ với hợp tác xã. Là vì dưới hồi thuộc Pháp, thuộc Nhật, chúng ta chẳng được phép tự do tổ chức những hợp tác xã. Đến nay, những tri thức về hợp tác xã đối với chúng ta bị coi như là mới lạ. Chúng ta chưa hiểu rõ lợi ích của hợp tác xã thế nào và cách thức tổ chức thế nào nên không dám bạo dạn đứng ra khởi xướng lập hợp tác xã.

2) Thiếu cán bộ hoạt động – Như trên đã nói, vì không hiểu biết nên không dám làm. ở nhà quê trừ một số ít người thạo việc buôn bán, kinh doanh, còn phần đông ngoài việc cày cuốc hay một vài thứ thủ công nghệ lặt vặt, không biết gì đến công việc làm ǎn khác nữa. Lại không thông thạo tính toán hay làm sổ sách nên bất luận kinh doanh nghề gì chỉ là làm theo lối buông trôi, gặp chǎng hay chớ, sao tránh khỏi được thất bại.

Những điều kiện cần thiết để phổ cập hợp tác xã thôn quê

1) Về việc cổ động tuyên truyền – Ngoài việc xuất bản sách báo nói về hợp tác xã phát cho dân quê, Chính phủ nên phái người đi các làng mở những cuộc diễn giảng làm cho dân chúng hiểu rõ lợi ích hợp tác xã và cách thức mở hợp tác xã.

2) Mở lớp huấn luyện cán bộ – Bất cứ công việc gì thiếu cán bộ, khó thực hiện được. Chính phủ nên mở ở các tỉnh những lớp huấn luyện cán bộ chuyên về hợp tác xã. Mỗi làng sẽ cử một hay hai người theo học lớp đó. Chương trình học, ngoài những thường thức về hợp tác xã, lại dạy cả những điều rất giản dị trong khoa kế toán và cách thức làm sổ sách. Kỳ hạn học nhiều nhất là một tháng. Học xong những người cán bộ đó về làng sẽ là những cái loa truyền bá lý tưởng hợp tác xã. Đồng thời, họ lại là những người giúp việc đắc lực cho dân chúng trong công cuộc vận động mở hợp tác xã.

3) Tại một vài công sở, hầm mỏ, xưởng máy, hay đồn điền, mở các hợp tác xã làm kiểu mẫu. Bắt đầu mở ngay hợp tác xã tiêu dùng và chỉ mở trong phạm vi nhỏ hẹp với một số vốn vừa đủ kinh doanh về sau sẽ dần dần mở rộng thêm. Chỉ khi nào dân chúng thấy lợi ích của hợp tác xã đã hiển nhiên thì khi đó phong trào hợp tác xã mới có thể sôi nổi, bồng bột được.

Q.Th.

Báo Cứu quốc, số 270, ngày 19-6-1946.
cpv.org.vn

Binh pháp Tôn Tử – Vấn đề quân nhu và lương thực

Về quân sự, quân nhu và lương thực rất quan trọng. Có binh hùng, tướng giỏi, nhưng thiếu quân nhu, lương thực, không thể thắng trận được. Nếu việc cung cấp lương thực, quần áo, thuốc men, súng ống, đạn dược cho quân đội ngoài mặt trận không làm được đầy đủ, chu đáo, binh sĩ bị hãm vào vòng thiếu thốn, sẽ mất hết tinh thần tác chiến. Trái lại, họ sẽ phấn khởi, họ sẽ hǎng hái khi được cấp dưỡng no đủ.

Nhưng quân nhu và lương thực nếu trông cả vào món chiến phí mà dân chúng phải chịu, sẽ làm cho họ gánh vác nặng nề, không thể kham nổi. Nên người làm tướng giỏi bao giờ cũng tìm cách cướp quân nhu, lương thực của bên địch làm của mình. Vì vậy Tôn Tử đã nói:

“Việc tải lương thực ra ngoài mặt trận chỉ hạn cho hai lần chứ không được đến ba lần. Phải lấy lương thực ở ngay nước địch mới tránh được nạn thiếu thốn cho quân đội mình”.

Tôn Tử nói không nên tải lương đến ba lần là vì, về đời Xuân Thu, khi quân đội đi đánh trận, dân chúng tải lương ra ngoài biên giới cho họ; đến khi họ thắng trận trở về, dân chúng lại tải lương đi đón mừng. Thế là chỉ có hai lần tải lương: lần đi, lần về, chứ không có đến ba lần. Là vì khi đã tiến ra mặt trận, không cần lương thực ở hậu phương tải đến nữa, mà phải tìm cách cướp của bên địch. Đó cũng là một chiến thuật tác chiến của Tôn Tử. Không tải lương

đến ba lần, phải cướp lương của địch là có ý tiết kiệm lương thực của nước mình mà làm hao tổn lương thực của nước địch.

Hơn nữa, vận tải lương thực lại là việc rất nhiêu khê, nếu mặt trận ở xa và đường lối giao thông không được tiện lợi. Cướp được lương của quân địch, tránh được nhiều phí tổn về vận tải, nên Tôn Tử lại nói:

“Đem quân đi đánh trận xa, nếu không cướp được lương của địch, mà phải chở lương thực của mình ra chiến trường để phải phí tổn nhiều, làm cho nền tài chính quốc gia kiệt quệ và dân chúng khổ sở khó nhọc về những thuế má nặng nề và vận tải vất vả, thật không có lợi cho kế hoạch tác chiến”.

Lại khi chiến tranh đã bùng ra, bao nhiêu tài nguyên trong nước đều bị tiêu dùng vào chiến tranh và thêm cái nguy phong toả về kinh tế nên nhất nhất vật gì cũng đắt đỏ. Vì vậy Tôn Tử khuyên:

“Khi đã đem quân sang nước địch rồi, phải cướp lương của địch làm của mình. Nếu không thế, mình phải mua đắt. Về quân nhu, lương thực, dù đắt đến đâu cũng phải mua. Nhưng mua tất phải dùng đến tiền của quốc gia. Muốn cung cấp tiền mua, chính phủ đã đánh thuế lại phải đánh thuế nữa, làm cho dân chúng vì gánh vác quá nặng nề không thể kham nổi. Lúc đó, chính phủ không còn có cách gì khác là dùng đến phương pháp trưng thu lương thực, lừa ngựa.

“Dân chúng vì phải đóng thuế, vì phải vận tải lương thực mà lực cùng sức kiệt, hao tài tốn của, đến nỗi nhà nào nhà ấy sạch không.

“Rồi lại còn tiền chi phí về việc sửa chữa vũ khí, xe cộ, thay đổi lừa ngựa.

“Cho nên, tướng giỏi phải tìm hết mưu kế để cướp lấy lương thực của quân địch vì lấy được một đấu gạo của quân địch có thể bớt đi được 20 đấu cho phu ǎn về việc vận tải. Như thế đỡ phí tổn và hao hụt rất nhiều.

“Vậy muốn cho binh sĩ giết được địch quân, trước hết phải khiêu khích quân địch nổi giận rồi hǎng tiết đánh liều, cũng như muốn cho binh sĩ lượm được thắng lợi như chiếm thành trì, cướp lương thực, quân nhu, phải hậu thưởng cho binh sĩ để họ sẽ gắng công”.

Q. Th. thuật

Báo Cứu quốc, số 272, ngày 21-6-1946
cpv.org.vn

Thư gửi chiến binh Việt Nam ở Pháp

Pari, ngày 2 tháng 7 nǎm 1946

Cùng đồng bào chiến binh yêu quý,

Việc các anh em về Tổ quốc, Chính phủ Pháp đã thoả thuận những điều sau này:

1. Ai cũng phải tiêm thuốc phòng bệnh dịch.

2. Mỗi 100 anh em thì có một sĩ quan hoặc hạ sĩ quan Việt Nam coi sóc. Chỉ có tối cao chỉ huy là quan binh Pháp.

3. Lúc đi tàu các anh em theo đẳng cấp được đãi ngộ như quân nhân Pháp.

4. Ai có tiền riêng thì được mang về, mỗi người chỉ được mang 80.000 quan (tám chục nghìn tiền Tây). Phải nói cho Commandant 1 biết, về nước 17 quan sẽ đổi được một đồng bạc ta.

5. Mỗi người được mang theo 50 kilô hành lý 1 .

6. Mỗi người được lãnh 1000 quan phụ cấp giải ngũ (démobilisation), và lúc đi tàu vẫn được ǎn lương như thường.

7. Mỗi người được lãnh tiền phụ cấp 3 tháng lương.

8. Về đến nước nhà (Hải Phòng) sẽ do đại biểu Chính phủ Pháp và đại biểu Chính phủ ta đón tiếp và xem xét việc giải ngũ.

9. Về đến nước nhà thì được thoái ngũ ngay.

Những điều đó đã do Chính phủ Pháp ưng thuận. Vậy tôi khuyên anh em:

1. Phải giữ kỷ luật tử tế.

2. Phải đoàn kết, phải thương yêu giúp đỡ lẫn nhau.

3. Về đến nhà phải giúp ích Tổ quốc, phải ủng hộ Chính phủ.

4. Phải ǎn ở cho xứng đáng với một người công dân của nước Cộng hoà Dân chủ Việt Nam.

Chúc anh em đi mạnh khoẻ.
Lời chào thân ái

Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
Hồ Chí Minh

Bản chụp bút tích,
lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Đáp từ trong buổi chiêu đãi của Chủ tịch G.Biđôn

Thưa Chủ tịch,

Sự đón tiếp mà dân chúng và Chính phủ Pháp dành cho tôi đã rung động đến chỗ sâu nhất của lòng tôi. Tôi xin gửi tới Chính phủ Pháp và dân chúng Pháp những lời cảm ơn thành thực của dân chúng Việt Nam, về những cảm tình và thân thiện mà dân chúng và Chính phủ Pháp đã dành cho tôi. Trước khi chính thức chào Chính phủ Pháp, tôi đã có dịp đi thǎm xứ Baxcơ 2 , một miền rất đẹp của Pháp. Sự tiếp xúc với xứ Baxcơ đã cho tôi nhiều giáo huấn.

Dân Baxcơ tuy vẫn giữ được những màu sắc riêng, ngôn ngữ riêng, phong tục riêng, nhưng vẫn là dân Pháp. Nước Pháp tuy có nhiều tỉnh khác nhau nhưng vẫn là nước thống nhất và không thể chia sẻ được. Ngày mai, khối Liên hiệp Pháp 39 sẽ làm cho thế giới phải ngạc nhiên về sự đoàn kết và thống nhất của mình. Khối Liên hiệp mà chúng ta sẽ xây dựng lên trên một cǎn bản dân chủ chỉ có thể thành lập dưới những dấu hiệu tốt đẹp. Chính ở Pari này, cái thành phố anh hùng và rộng lượng xướng xuất ra những nguyên tắc tự do, bình đẳng, bác ái, cái thành phố có thói quen bênh vực sự bình đẳng của các dân tộc, chính ở thành phố này tôi trân trọng tuyên bố nước Việt Nam gia nhập vào cái sự nghiệp rất nhân đạo ấy.

Pari là thành phố đã tìm ra những lý tưởng bất hủ của Cách mạng 1789 40 , Pari vẫn trung thành với lý tưởng của mình trong cuộc đổ máu giữa khối dân chủ và khối phát xít.

Pari đã cống hiến không ít để cho nước Việt Nam và nước Pháp có thể hoà hợp với nhau trong khối Liên hiệp Pháp gồm những dân tộc tự do bình đẳng cùng ôm một lý tưởng dân chủ và cùng say mê vì tự do. Chính ở Pari, nước Việt Nam sẽ tiến lên con đường độc lập, tôi tin rằng chẳng bao lâu nước Việt Nam sẽ đóng cái vai trò xứng đáng ở Thái Bình Dương là một nước độc lập làm vẻ vang lớn cho nước Pháp. Chắc hẳn nhiều sự khó khǎn đang chờ đợi Hội nghị Phôngtennơblô 41 có nhiệm vụ đặt nền móng cho sự giao thiệp giữa nước Pháp mới và nước Việt Nam mới. Nhưng sự thành thực và sự tin cẩn lẫn nhau sẽ san phẳng được hết thảy những trở ngại. Chúng ta chẳng đã ruồng bỏ được cái chủ nghĩa đế quốc xâm lược và cái chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi không còn thích hợp với thế giới hiện tại đấy ư? Chúng ta đều được kích thích bởi một tinh thần. Triết lý đạo Khổng, và triết lý phương Tây đều tán dương một nguyên tắc đạo đức: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” 1 . Tôi tin rằng trong những điều kiện ấy, hội nghị sắp tới sẽ đi tới những kết quả tốt đẹp.

Thưa Chủ tịch, tôi tin rằng sự hợp tác thành thực và thân thiện của hai nước sẽ là một gương lớn cho thế giới biết rằng, với một sự tin cẩn lẫn nhau, những dân tộc tự do và bình đẳng vẫn có thể giải quyết những vấn đề khó khǎn nhất. Thưa các ngài, tôi xin nâng cốc chúc mừng Chủ tịch và các nhân viên Chính phủ Pháp.

Báo Cứu quốc, số 284, ngày 5-7-1946.
cpv.org.vn