Tag Archive | Nhân dân với Bác

Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi trong lòng nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới

Giữa lúc nhân dân ở hai miền Nam – Bắc đang giành được những thắng lợi to lớn trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước và xây dựng CNXH thì Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu của chúng ta lâm bệnh.

Trong những năm cuối đời, tuy tuổi cao, sức khoẻ có giảm, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn rất sáng suốt, vẫn cố gắng làm việc, vẫn cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và xây dựng CNXH. Nhưng bước sang năm 1969, sức khoẻ của Người giảm sút nhiều. Từ lúc Người lâm bệnh, Trung ương Đảng tập trung mọi khả năng và phương tiện để chăm sóc sức khoẻ của Người.

Khi thấy sức khoẻ giảm sút hơn nhiều năm trước, ngày 10/5/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tiếp và hoàn thiện bản di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân, phòng khi Người qua đời thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn thế giới khỏi phải đột ngột.

Nằm trên giường bệnh, Hồ Chủ tịch vẫn thường xuyên theo dõi tình hình cuộc kháng chiến chống Mỹ của đồng bào miền Nam, và công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc. Người còn quan tâm nhắc nhở những công việc như: gửi lụa cho các cụ già thọ 100 tuổi, mở cống thoát lũ… Gần đến ngày 2/9/1969 Chủ tịch Hồ Chí Minh còn dặn các đồng chí lãnh đạo Đảng và nhà nước ta tổ chức bắn pháo hoa cho đồng bào vui tết độc lập. Người dự định sẽ cố gắng ra dự lễ kỷ niệm Quốc khánh để gặp các đồng chí đồng bào… Nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng ta không thực hiện được điều mong muốn cuối cùng đó. Lúc này bệnh tình của Người trầm trọng, mặc dù được tập thể các thầy thuốc tận tình cứu chữa, nhưng do tuổi cao, sức yếu, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã trút hơi thở cuối cùng vào lúc 9giờ47phút ngày 2/9/1969, thọ 79 tuổi.

Bác mất đi là sự mất mát to lớn đối với cả dân tộc Việt Nam và toàn thế giới, ngày 3/9/1969, Ban chấp hành Trung ương Đảng ra lời kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nén đau thương thành hành động cách mạng để thiết thực tỏ lòng tưởng nhớ và biết ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sáng 4/9/1969, Ban chấp hành Trung ương Đảng, Ủy ban thường vụ Quốc Hội, Hội đồng chính phủ, Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã họp Hội nghị liên tịch truyền đi bản thông cáo đặc biệt về việc Hồ Chủ tịch qua đời. Sau đó Ủy ban lễ tang nhà nước được thành lập do đồng chí Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng làm trưởng ban.

Trung ương Đảng và chính phủ quyết định để tang Chủ tịch Hồ Chí Minh 7 ngày trong cả nước (từ ngày 4 – 10/9/1969) và tổ chức lễ tang theo nghi thức cao nhất của Nhà nước.

Lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh được cử hành trọng thể từ 6/9/1969 tại Hội trường Ba Đình. Yên nghỉ trong quan tài bằng kính, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn mặc bộ quần áo kaki bạc màu giản dị.

Trong những ngày ấy, từng đoàn người từ khắp muôn nơi xếp hàng với nét mặt đau thương vô hạn ngày đêm tiến vào hội trường kính viếng Hồ Chủ tịch. Trong 7 ngày đã có hơn 20 vạn người đến viếng thăm, phúng điếu và chịu tang Người.

Lễ truy điệu Hồ Chủ tịch được tổ chức trọng thể trên khắp đất nước. Sáng 6/9/1969, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam, Ủy ban Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam đã tổ chức truy điệu trọng thể Chủ tịch Hồ Chí Minh tại căn cứ kháng chiến ở miền Nam.

Cùng với nhân dân Việt Nam, cả loài người tiến bộ trên thế giới đều tỏ lòng thương tiếc và quý mến Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khắp 5 châu đã có hơn 22.000 bức điện và thư từ 121 quốc gia đã gửi đến Hà Nội chia buồn với Đảng, chính phủ và nhà nước ta. Để tưởng nhớ Người, chính phủ nhiều nước đã quyết định lấy tên Hồ Chí Minh đặt tên cho các công trình, các đường phố, trường học, nhà máy, quảng trường… Một số đoàn thể quần chúng ở các nước cũng lấy tên Hồ Chí Minh đặt tên cho tổ chức của mình. Một số Đảng cộng sản tổ chức kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh, tổ chức học tập Di chúc của Người, giới thiệu rộng rãi cuộc đời hoạt động và các tác phẩm nổi tiếng của Người. Đó là biểu hiện của tất cả những tình cảm tốt đẹp, sâu sắc và chân tình của nhân dân các nước đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tư tưởng vĩ đại và đạo đức cao cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi là ánh sáng soi đường cho chúng ta dũng cảm tiến lên. Đại hội IX của Đảng đã khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, truyền thống đoàn kết nhất trí, ý chí cách mạng tiến công, ý thức tự lực, tự cường, chúng ta vững bước tiến lên theo con đường cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã và đang phấn đấu thực hiện theo Di chúc thiêng liêng của Người và nguyện mãi mãi xứng đáng với công lao và sự nghiệp vĩ đại của Người. Tư tưởng của Người soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc ta.

Để ghi nhớ và biết ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta cần ra sức học tập tư tưởng, đạo đức và tác phong của Người, quyết tâm phấn đấu thực hiện bằng được Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng và các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, biến các Nghị quyết đó thành hiện thực.

Dưới ngọn cờ trăm trận trăm thắng của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, thắng lợi huy hoàng nhất định thuộc về nhân dân ta!.

Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại!
Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh !

————————-

Theo website Bác cùng chúng cháu hành quân của Bảo tàng Hồ Chí Minh Thừa Thiên Huế

bachovoihue.com

Anh bưu tá 2 lần chở Bác Hồ về thăm quê

(Nguoiduatin.vn) – Là nguyên thủ quốc gia, thế nhưng khi về thăm quê, Chủ tịch Hồ Chí Minh có khi lại chỉ đi chiếc ô tô giản dị do một người bưu tá điều khiển.

Ông Nguyễn Đình Ngọc, người có vinh dự được Bác 2 lần ngồi trên chính chiếc ô tô do mình cầm lái kể lại dù đã hơn 50 năm kể từ lần đầu tiên được gặp Bác nhưng với ông, đó là kỷ niệm và niềm vinh dự lớn nhất trong cuộc đời.

Ông Ngọc (bên phải) kể chuyện 2 lần chở Bác về thăm quê cho con trai nghe

Vị lãnh tụ giản dị

Ông Nguyễn Đình Ngọc sinh ra và lớn lên tại Thọ Hạc, Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa (nay là phường Điện Biên, TP Thanh Hoá). Năm 1946 ông vào quân ngũ và học lái xe. Đến năm 1953, ông được điều động lái xe chở hàng chi viện phục vụ chiến trường Điện Biện Phủ. Trong giai đoạn này, ông còn vinh dự được Chính phủ giao chở đoàn công tác của Ấn Độ sang thực hiện Hiệp định Giơnevơ ở Việt Nam.

Sau khi giải phóng Điện Biên Phủ, ông Ngọc được điều chuyển về Nghệ An lái xe cho Tỉnh uỷ, với nhiệm vụ vận chuyển công văn, thư từ hoả tốc đến các vùng. Cũng từ đó, anh về sinh sống cùng vợ con ở khối 4, phường Lê Lợi (TP Vinh).

Ông Ngọc kể: Ngày 13/6/1957, Tỉnh uỷ họp phiên đột xuất và thông báo sáng mai (tức 14/6) tỉnh sẽ đón một cán bộ cao cấp của trung ương tại sân bay Vinh. Tất cả thông tin về chuyến đi này được tuyệt đối giữ bí mật, kể cả danh tính của vị lãnh đạo ấy. ông Ngọc được giao nhiệm vụ lái xe phục vụ và bảo vệ vòng ngoài.

Giờ G đã đến, tất cả thực hiện đúng nhiệm vụ đã được phân công. Khi chiếc máy bay trực thăng hạ cánh, ai nấy đều hồi hộp. Một người đàn ông mang bộ ka ki bạc màu bước ra cầu thang máy bay. Dù chưa một lần gặp mặt, nhưng ai nấy đều nhận ra đó là Bác Hồ. Tất cả chạy ùa về phía Bác. Bác bắt tay, ôm hôn mọi người và bất ngờ bước lên chiếc xe commăngca cũ kỹ của ông Ngọc chứ không phải chiếc xe chở khách chuyên dụng sang trọng hơn mà Tỉnh uỷ Nghệ An đã chuẩn bị trước đó.

“Lúc đó xe cộ đông đúc và lộn xộn. Vui và hồi hộp quá, tôi quên mất nhiệm vụ cấp trên giao mà chỉ biết thực hiện theo mệnh lệnh của Bác. Theo lời Bác, tôi cho xe chạy thẳng về trung tâm TP Vinh. Những chiếc xe khác cứ chạy theo phía sau, các cận vệ tỏ ra lo lắng. Bác bảo tôi chở Bác tham quan một vòng để vẫy chào bà con 2 bên đường và đi về thăm quê hương Kim Liên (Nam Đàn). Thông qua hệ thống phát thanh nên hầu hết người dân Nghệ An, Hà Tĩnh đều đã biết Bác Hồ về thăm quê nên người ở dọc tuyến đường từ Vinh lên Kim Liên cứ nườm nượp từng đoàn người”, ông Ngọc kể lại.

Ông Ngọc cho biết, là người rất cẩn thận, giữ an toàn nên trên quãng đường, Bác không nói chuyện với lái xe mà chỉ vẫy tay chào nhân dân 2 bên đường đứng đón Bác. Nghe tin Bác về quê, ai ai cũng náo nức, phấn khởi chờ Bác từ rất sớm. Trong một buổi sáng tháng 6 nắng chan hoà, với bộ quần áo ka ki, đôi dép cao su mòn gót, Bác tươi cười vẫy chào nhân dân. Cả rừng người hò reo mừng đón Bác.

Câu chuyện xúc động

Khi về tới quê, một vị lãnh đạo tỉnh mời Bác đi vào nhà khách mới được xây dựng, nhưng Bác ngăn lại: “Bác xa nhà, xa quê đã lâu rồi nên phải về thăm nhà trước đã. Nhà khách là dành để tiếp khách, cho khách ở. Chứ Bác là người nhà chứ có phải là khách đâu!”.

Ông Nguyễn Đình Ngọc bên chiếc xe đã 2 lần chở Bác Hồ về thăm quê

Đến trước chiếc cổng tre dẫn lối đi vào nhà ngang thấy hàng chữ ghi trên tấm bảng nhỏ “Nhà Bác Hồ”, Bác liền quay lại bảo: “Viết thế này là chưa đúng. Đây là nhà cụ Phó Bảng chứ có phải là nhà của Bác Hồ đâu”. Đúng như Bác nói, ngôi nhà này chính dân làng Kim Liên đã góp công, góp sức dựng mừng quan Đại khoa Nguyễn Sinh Sắc nhân dịp ông thi đậu Phó bảng khoa thi Hội năm Tân Sửu 1901.

Rồi Bác bước vào trong và tiếp tục phê bình: “Các chú mở lối như thế này là sai. Cổng nhà cụ Phó Bảng ở hướng Đông, chứ đâu phải chỗ này”. Điều này cho thấy trí nhớ của Bác rất tốt. Đã 50 năm Bác bôn ba khắp nơi, nay mới trở về thăm quê, thăm nhà lần đầu nhưng Bác vẫn không quên bất cứ điều gì ở đây.

Bác đứng tần ngần, nhìn bao quát 2 ngôi nhà và chỉ cho những người đi theo, đâu là nơi trồng cây ổi, chỗ nào có cây thanh yên… đã mọc trên mảnh vườn xưa của nhà Bác. Bác đi vào nhà, đi đến đâu Bác chỉ cho mọi người vị trí đặt, để các đồ vật. Tất cả vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức của Người.

Bác lại đi ra sân, đứng ngắm lại ngôi nhà đã gắn bó một giai đoạn rất quan trọng trong cuộc đời Bác. Ngôi nhà này là nơi chứng kiến quá trình lao động, học tập và trưởng thành của Bác; là nơi ghi dấu những cảm xúc đầu tiên về lòng yêu nước, về nhận thức xã hội và ghi dấu những hoạt động cứu nước bước đầu của Người.

Trong buổi sáng mùa hè đặc biệt ấy, ngay trước sân nhà mình, Bác đã xúc động nói: “Tôi xa quê đã 50 năm rồi. Thường tình người ta xa nhà, lúc trở về thì mừng mừng tủi tủi. Nhưng tôi không tủi mà chỉ thấy mừng. Bởi, khi tôi ra đi, nhân dân ta còn nô lệ, bị bọn phong kiến đế quốc đè đầu cưỡi cổ. Bây giờ tôi về thì đất nước đã được giải phóng, nhân dân đã được tự do”.

Gần 4 năm sau, ngày 8/12/1961, Bác Hồ lại về thăm quê lần thứ 2. Đảng bộ và nhân dân Nghệ An tiếp tục được đón Bác tại sân bay Vinh trong niềm vui vô bờ. Lần này, ông Ngọc được lãnh đạo tỉnh tin tưởng giao nhiệm vụ tháp tùng Bác. ông Ngọc còn nhớ rất rõ, đó là chiếc máy bay mang ký hiệu BS 58482. Lần về thăm quê này, Bác tóc đã bạc hơn.

“Gặp ai Bác cũng dặn dò. Bác căn dặn phải siêng năng lao động sản xuất, phải yêu nước. Không ai ngờ đó cũng là lần cuối cùng Bác trở về nơi “chôn nhau cắt rốn” của mình”, ông Ngọc kể.

Khi bài viết này lên trang thì nhân vật Nguyễn Đình Ngọc vì tuổi cao sức yếu đã qua đời. Trong lần gặp chúng tôi cuối cùng để cung cấp tư liệu cho bài viết, ông Ngọc bồi hồi: “Chỉ là một anh bưu tá, đưa thư, trước đó tôi chưa bao giờ dám tin một ngày được gặp Bác. Vậy mà đã 2 lần tôi có vinh dự được lái xe chở Bác về thăm quê. Vinh dự này không phải ai trong đời cũng 1 lần có được”.

Phan Xuân Hồng

nguoiduatin.vn

Kiều nữ Thành Nam lần đầu gặp Bác

(Nguoiduatin.vn) – “Thế cháu là nông dân, mặc áo dài đi cày, áo quấn vào cày, cháu cày làm sao?”. Câu hỏi của Bác làm nữ đại biểu Quốc hội thẹn thùng, mặt nóng như đổ lửa.

Với bất cứ ai, được trực tiếp nhìn thấy Bác một lần trong đời là niềm hạnh phúc lớn. Riêng đối với bà Nguyễn Thị Kim Dung – Nguyên cán bộ Ban Tổ chức Thành ủy Nam Định, nguyên đại biểu Quốc hội khóa III – niềm hạnh phúc đó thật to lớn vì bà không chỉ được gặp Bác hai lần mà còn được Người trò chuyện và dạy bảo.

Bà Nguyễn Thị Kim Dung thời trẻ

Sinh năm 1937 tại xã Hải Quang (Hải Hậu), bà Kim Dung cùng gia đình chuyển tới sống tại xã Nam Phong vào năm 1963. Một năm sau, bà được Mặt trận Tổ quốc tỉnh Nam Định giới thiệu ra ứng cử rồi được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa III. Tại kỳ họp thứ nhất ở Thủ đô Hà Nội, bà và các đại biểu trẻ vinh dự được vào gặp Bác ở vườn cây gần nơi Bác ở.

Quá xúc động và bỡ ngỡ vì lần đầu tiên trong đời được gặp Bác, bà không nghe thấy Bác gọi tên mình. Phải tới khi Bác gọi đến lần thứ ba và mọi người xung quanh nhắc, bà mới vội vàng đứng dậy, lúng túng đến nỗi để chiếc áo dài quấn vào ghế.

Bác nhìn bà đôn hậu rồi hỏi đùa: “Thế cháu là nông dân, mặc áo dài đi cày, áo quấn vào cày, cháu cày làm sao?”. Câu hỏi làm nữ đại biểu Quốc hội thẹn thùng, mặt nóng như đổ lửa. Thấy vậy, Bác nói ngay: “Thôi, Bác đùa đấy. Thế Chi bộ Vạn Phong và Đảng bộ Nam Phong vẫn 4 tốt chứ?”.

Sau khi trò chuyện, hỏi han, Bác cùng mọi người ra cửa Phủ Chủ tịch chụp ảnh kỷ niệm. Hôm đó, các đại biểu trẻ được về gặp Bác rất đông, ai cũng muốn được đi gần Bác. Các anh chị em khác chen nhau đi trước còn bà Dung đi sau.

Bỗng Bác dừng lại bên cạnh rồi nắm lấy tay bà nói: “Những thành tích của cháu đạt được, Bác rất hoan nghênh. Bác sẽ tặng cho cháu Huy hiệu của Bác. Cháu cố gắng học tập để có đủ trình độ làm tốt nhiệm vụ của nguời Đảng viên, người đại biểu Quốc hội nhưng Bác cũng phê bình cháu, cháu ít tuổi nhưng nhiều con. Cháu phải sinh đẻ có kế hoạch thì mới tiến bộ được”.

Những lời dạy bảo của Người làm bà vô cùng vui sướng và xúc động. Bà không ngờ một vị Chủ tịch nước bận trăm công nghìn việc như vậy mà lại có thể nắm rõ một cách tường tận thành tích của một Chi bộ, một Đảng bộ và hơn thế là cả lai lịch chi tiết của một đảng viên trẻ ở vùng quê như bà. Lời Bác như những lời dạy bảo chân tình của người ông nội, người cha đối với con, cháu trong nhà.

Bà Kim Dung được Bác nắm tay dẫn đi tiếp trên con đường rải sỏi, dưới hàng cây mát rượi. Trong bàn tay ấm áp của Người, bà cảm thấy như được truyền thêm sức mạnh để có thể vượt qua tất cả mọi khó khăn và sự khốc liệt của chiến tranh.

Trong lần chụp ảnh đó, Bác còn bảo với bà: “Cháu thấp, cháu đứng đằng trước để thợ chụp ảnh nhìn cho đẹp”. Khi lấy ảnh, bà mới biết được rằng mình được đứng ngay dưới chân Bác. “Trải qua mấy chục năm rồi nhưng thời khắc thiêng liêng đó vẫn không phai mờ trong ký ức của tôi” – Bà nói, tay nâng niu bức ảnh cũ đã sờn, khóe mắt ngấn lệ vì xúc động xen lẫn vẻ tự hào.

Bác Hồ tại Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc lần 3, tháng 5-1962

Sau lần gặp đó, vào năm 1968, bà được Đảng bộ tỉnh cử đi dự Hội nghị tổng kết công tác xây dựng Đảng 4 tốt toàn miền Bắc tại Hội trường Ba Đình. Đến giờ giải lao, các đại biểu xôn xao vì không thấy Bác đến dự.

Khi đang đứng ở hội trường, bà thấy đồng chí Lê Hoành – Chuyên viên Ban Tổ chức Trung ương – đến tìm và nói: “Bác đang hỏi cô. Cô về chụp ảnh với Bác”. Lúc gặp, Bác vẫy vẫy tay gọi bà đến bên và bảo: “Bác cháu ta ngồi xuống để chụp ảnh”.

Bà ngồi xuống ôm chân Bác như một đứa cháu nhỏ. Nhìn thấy Bác gầy và xanh, bà hỏi: “Thưa Bác, Bác có khỏe không ạ?”. Bác hiền từ nhìn bà và bảo: “Bác vẫn khỏe”. Bác còn quan tâm hỏi han bà rất nhiều về chuyện chồng con, cuộc sống gia đình… Bà không ngờ đó là lần cuối cùng bà được gặp Bác và được chụp ảnh chung với Bác.

Trong 8 năm làm đại biểu Quốc hội cũng như trong quá trình công tác và về địa phương nghỉ hưu sau này, bà vẫn luôn nhớ và làm theo lời Bác dặn: Phấn đấu rèn luyện phẩm chất lối sống để mãi là người đảng viên tốt được quần chúng tin yêu.

Năm 1993, bà nghỉ hưu nhưng vẫn tích cực tham gia hoạt động trong các tổ chức như Hội Cựu chiến binh, Hội Người cao tuổi, Mặt trận Tổ quốc… Cách đây 2 năm, bà xin thôi giữ chức Chủ tịch Hội Khuyến học xã Nam Phong và bàn giao công việc cho người khác.

Trong cuộc sống hàng ngày, bà luôn xông xáo, miệng nói tay làm, sẵn sàng đi đầu giải quyết những vụ việc khó khăn, phức tạp ở địa phương với tinh thần “bất cứ lúc nào, bất cứ đâu cần là mình có mặt”.

Bà tâm niệm phải cố gắng làm tốt nhất những gì mình có thể, làm những gì có lợi cho Đảng, cho dân và rất tự hào đến nay vẫn giữ được cốt cách, đạo đức của người đảng viên. Điều hạnh phúc nhất của bà là cả 5 người con đều đã thành đạt và có gia đình êm ấm. ở bất kỳ vị trí nào, các con bà đều luôn phấn đấu để xứng đáng với truyền thống cách mạng của gia đình.

Bà Kim Dung chia sẻ, năm tới sẽ được nhận Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng. Bà cũng kể thêm, có một cán bộ trên Trung ương vừa tìm về xin mượn tấm huy hiệu mà Bác đã trao tặng cho bà cách đây gần 50 năm cùng tấm huy hiệu đại biểu Quốc hội để trưng bày tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, bà quyết định xin giữ lại tấm Huy hiệu cao quý Bác tặng để làm kỷ niệm cho mình và cho con cháu sau này.

Hữu Chiến

nguoiduatin.vn

Hơn nửa thế kỉ đam mê sưu tầm tem về Bác

(Dân trí) – “Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn” – đó là câu giải thích cho niềm đam mê sưu tầm tem về Bác trong hơn 50 năm qua của ông Nguyễn Lương Hốt (82 tuổi) ở 10/38 Lê Thánh Tôn, TP Huế, người có nhiều bộ sưu tập tem về Bác Hồ trong CLB tem Huế.

Ông Nguyễn Lương Hốt và bộ sưu tập tem về Bác.

Hơn nửa thế kỷ sưu tầm tem, đến nay ông Hốt đã có những bộ sưu tập đồ sộ, nhiều bộ tem thuộc nhóm quý hiếm như: gần 1 vạn con tem các loại về các chủ đề như: Bác Hồ, Điện Biên Phủ, Cây Tre Việt Nam, chính quyền, thanh niên, lực lượng vũ trang, hoa, bướm, thú … trong đó, bộ tem về Bác Hồ là lớn nhất.

Câu chuyện “bén duyên” với tem được ông cho biết, đó là vào năm 1945, ông tham gia cách mạng với nhiệm vụ bình dân học vụ và xây dựng cơ sở cách mạng tại Hương Trà, TT Huế.

“Hồi đó nhận được thư gia đình, bạn bè là quý lắm, thư trở thành niềm vui chung cho mọi người trong đơn vị. Từ đó, mình luôn trân trọng những cái bì thư có tên những người thân yêu của mình gửi, cũng là lúc tôi yêu những con tem”, ông Hốt nhớ lại.

Năm 1957, ông bị thương phải ra Bắc để điều trị. Khi vết thương lành, ông vào làm việc tại văn phòng Ban thống nhất Trung ương. “Mỗi ngày văn phòng nhận rất nhiều thư của các cơ quan ở miền Nam gửi ra, thư Liên Hiệp Quốc, thư từ nước ngoài, từ đó dễ dàng thực hiện niềm say mê của mình”, ông nói.

Mãi cho đến khi về hưu (năm 1987), ông mới “toàn tâm toàn ý” cho thú chơi tem của mình. “Chơi tem ngoài giải trí, còn rất nhiều cái lợi, vừa văn học nghệ thuật, vừa trí tuệ. Đó là thú chơi tao nhã, lành mạnh. Khi đã say mê rồi thì sẽ từ bỏ được thói hư tật xấu”, ông tâm sự.

Bộ sưu tầm tem kỉ niệm 80 năm sinh nhật Bác Hồ trên tem.

Theo ông, chơi tem ngoài những kiến thức về nội dung in trên tem còn có những cái “ngón nghề” bắt buộc của người chơi tem: đó là sự tỉ mỉ, cẩn thận, cần mẫn, nhờ đó mà cũng tạo nên tính cách thông qua chơi tem.

Ông nói: Tôi học tập được ở Bác nhiều bài học như cần kiệm liêm chính, chí công vô tư qua những hình ảnh Bác đi tát nước, đi đạp nước với nhân dân qua những con tem.

Một bộ sưu tập tem màu về Bác.

Nhân dịp kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Bác năm nay (19/5/2010), ông sẽ triển lãm bộ sưu tập “Bác Hồ sống mãi với Đảng, Nhà nước, Nhân dân Việt Nam, Nhân loại thế giới” tại Nghệ An, quê Bác, sau đó sẽ dự triển lãm quốc gia tại Hà Nội, kỉ niệm 1000 năm Thăng Long.

Trước đó, ông Hốt cũng đã cho ra mắt độc giả các tỉnh 5 bộ tem quý về Bác Hồ như bộ sưu tập “Thơ ca, ca ngợi Bác Hồ trên tạp chí tem”, “Chủ tịch Hồ Chí Minh trên tem bưu chính hiện nay”, “Hồ Chí Minh cuộc đời và sự nghiệp”… Trong đó, bộ tem “Hồ Chí Minh cuộc đời và sự nghiệp” đã đoạt giải khuyến khích tại triển lãm các tỉnh Miền Trung – Tây Nguyên năm 2004. Bộ tem này sau đó mang đi dự triển lãm tranh tại Bảo tàng trung ương và đoạt giải đồng năm 2005.

Trọng Bình

dantri.com.vn

Học và làm theo Bác, cho “lòng ta trong sáng hơn”

(TCTG) – Cách đây 5 năm, đầu xuân Đinh Hợi vào ngày thành lập Đảng, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã phát động Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Ngay từ những ngày đầu, Cuộc vận động đã nhận được sự hưởng ứng sôi nổi, nhiệt tình của đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân
Qua mỗi năm, nội dung học tập và các hình thức tổ chức hoạt động tập thể nối tiếp nhau được tổ chức, tạo nên những phong trào có dấu ấn sâu đậm trong dư luận xã hội, mang lại những kết quả bước đầu đầy ấn tượng, đặc biệt là về nhận thức, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng.

Qua thực hiện Cuộc vận động, nhận thức chung trong xã hội về sự cần thiết phải học tập, rèn luyện đạo đức theo tư tưởng, tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày càng đầy đủ và đúng đắn hơn. Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường đầy biến động, tác động đến lối sống của mỗi người, mỗi gia đình và xã hội, chúng ta càng nhận thức sâu sắc hơn lời dạy của Bác “đạo đức không phải là cái gì từ trên trời rơi xuống, nó do rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà có, giống như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Với cán bộ, đảng viên, những người đã tuyên thệ dưới cờ Đảng, nguyện phấn đấu hy sinh vì lý tưởng của Đảng của dân tộc qua cuộc vận động thêm một lần được ôn lại lời dạy của Bác: “Làm cách mạng là công việc to tát. Người cách mạng phải có đạo đức. Nếu không có đạo đức, tự mình tham ô, hủ hóa thì làm nổi việc gì”. Với Đảng, với những người cộng sản chân chính đã có nhiều đóng góp cho cách mạng, từng trải qua những chặng đường đầy gian lao, thử thách, bao “uy vũ không khuất phục”, có dịp để suy ngẫm thêm quan niệm Hồ Chí Minh về rèn luyện đạo đức suốt đời. Đó là: “Một Đảng, một dân tộc và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, được mọi người yêu mến, kính phục, không có nghĩa là hôm nay vẫn được mọi người tôn trọng, nếu như lòng dạ không trong sáng nữa, sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Tổng kết 4 năm triển khai Cuộc vận động, Ban Chỉ đạo Trung ương đã báo cáo những kết quả bước đầu quan trọng của Cuộc vận động với Đại hội lần thứ XI của Đảng. Đại hội đã đánh giá cao kết quả của Cuộc vận động, nhất là trong việc hình thành nhận thức mới về việc rèn luyện đạo đức và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, từ đó yêu cầu phải đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành công việc thường xuyên quan trọng trong Đảng và xã hội. Thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, ngày 14-5-2011 Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Chỉ thị 03-CT/TW về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Nội dung việc học tập và làm theo lần này là tiếp tục những nội dung đã thực hiện trong Cuộc vận động, đồng thời có mở rộng và làm sâu sắc hơn, đặc biệt thêm điểm mới là học tập và làm theo phong cách của Bác.

Học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là học tập tư tưởng đạo đức mang đậm những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, kết hợp với tư tưởng đạo đức tiên tiến nhất của thời đại, đạo đức cách mạng, đạo đức cộng sản. Đó là tư tưởng đạo đức vì con người, cho con người, vì nước vì dân, trung với nước, hiếu với dân, yêu thương, quý mến, kính trọng nhân dân. Tư tưởng đạo đức đó thể hiện một cách sống động trong tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, trong sáng, giản dị, thật sự khiêm tốn…, xuyên suốt cuộc đời của Người.

Nội dung học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh là một nội dung mới, có ý nghĩa thiết thực đối với mỗi chúng ta trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là trong thực hiện giải pháp đột phá cải cách hành chính. Phong cách là sự kết hợp giữa tư tưởng đạo đức, phương pháp và lối sống của mỗi người được thể hiện ra bên ngoài. Phong cách có liên quan chặt chẽ với đạo đức. Đạo đức được thể hiện qua phong cách, qua phong cách có thể đánh giá được tư tưởng đạo đức, nhân cách của một con người. Phong cách Hồ Chí Minh thể hiện tư tưởng đạo đức, nhân cách, phương pháp làm việc của Người, là một chỉnh thể, tạo thành một hệ thống với những thể hiện quan trọng nhất là phong cách tư duy, phong cách làm việc, phong cách diễn đạt, phong cách ứng xử, phong cách sinh hoạt .v.v.

Phong cách tư duy Hồ Chí Minh là tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo. Độc lập, tự chủ là sẵn sàng từ bỏ những cái cũ đã qua thực tiễn kiểm nghiệm là sai, những cái cũ lạc hậu, lỗi thời, những cái cũ đã đúng trước kia nhưng nay không còn phù hợp, để tìm tòi, đi tới những cái mới mang tính thời đại, trả lời được những câu hỏi mà cuộc sống đang đặt ra. Sự sáng tạo ở Hồ Chí Minh là luôn xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn để tìm tòi, phát triển lý luận, tìm ra cái mới phù hợp với quy luật khách quan của cách mạng Việt Nam, góp phần bổ sung, phát triển, làm phong phú thêm nhận thức về các quy luật phát triển chung của xã hội và thời đại. Tư duy đó luôn hướng tầm nhìn ra thế giới, không ngừng nâng cao trình độ văn hóa, làm giàu trí tuệ của mình bằng những kiến thức rất phong phú, sâu rộng.

Phong cách làm việc của Hồ Chí Minh bao gồm nhiều nội dung, chủ yếu là tác phong quần chúng, tác phong tập thể – dân chủ, tác phong khoa học.

Tác phong quần chúng được thể hiện qua niềm tin yêu và tôn trọng con người; sự sâu sát quần chúng, chú ý lắng nghe ý kiến và giải quyết những kiến nghị chính đáng của quần chúng; sẵn sàng tiếp thu phê bình của quần chúng và sửa chữa khuyết điểm của mình. Tác phong tập thể – dân chủ Hồ Chí Minh là luôn luôn tạo ra không khí sôi nổi, hoạt bát, phấn khởi, hăng hái và đầy sáng tạo trong tập thể. Người chỉ ra những hệ lụy của làm việc không tập thể, không dân chủ trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm cho “nội bộ của Đảng âm u”, “uất ức mà hóa ra oán ghét, chán nản”, cấp trên cấp dưới cách biệt nhau, quần chúng xa rời cán bộ, đảng viên… Tác phong khoa học Hồ Chí Minh tập trung ở những điểm chủ yếu như: làm việc đi sâu, đi sát cơ sở, có điều tra nghiên cứu, nắm việc, nắm người, nắm tình hình cụ thể… Biết sàng lọc những thông tin sai lệch, những báo cáo dối trá, những phương án thiếu trung thực. Biết sử dụng bộ máy, những người cộng sự, những cơ quan giúp việc. Thường xuyên đặt ra chương trình, kế hoạch sát hợp, thiết thực; thường xuyên kiểm tra việc thực hiện của cấp dưới và quần chúng…

Phong cách diễn đạt Hồ Chí Minh là cách nói, cách viết trong sáng, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm, có sức cuốn hút mạnh mẽ đối với người nghe, người đọc. Người đặt ra bốn vấn đề khi nói và viết là: Nói, viết cái gì?; Nói, viết cho ai?; Nói, viết để làm gì?; Nói, viết như thế nào? Đây là những vấn đề có tính nguyên tắc, định hướng cho việc nói và viết của mỗi người, nhất là đối với người lãnh đạo. Mặc dù công việc rất bận nhưng Hồ Chí Minh đã viết hơn 2.000 bài báo với hơn 100 bút danh khác nhau. Đặc trưng cơ bản trong cách nói, cách viết của Hồ Chí Minh là: chân thực, ngắn gọn, rõ ràng, trong sáng, giản dị, dễ hiểu, đi thẳng vào vấn đề, không màu mè, lắt léo, quanh co… Người căn dặn phải chống các bệnh hay nói chữ, ham dùng chữ, sính dùng chữ nước ngoài, thậm chí không hiểu cũng dùng; chống “thói ba hoa”…

Phong cách ứng xử Hồ Chí Minh là sự ứng xử trên một bình diện văn hóa cao. Đối với nhân dân, bạn bè, đồng chí, anh em thì tự nhiên, bình dị, cởi mở, chân tình, vừa chủ động linh hoạt lại vừa ân cần, tế nhị, tự nhiên, làm cho bất cứ ai được gặp Người đều cảm thấy không khí chan hòa, ấm cúng, thoải mái, không e ngại, sợ sệt, không còn sự cách biệt giữa lãnh tụ và quần chúng, giữa vĩ nhân với bình dân. Trong quan hệ với mọi người, Hồ Chí Minh luôn luôn thể hiện thái độ yêu thương, quý mến, trân trọng, khiêm nhường, sự khoan dung, độ lượng với con người. Chính vì vậy mà sức cuốn hút, cảm hóa, cảm phục, ngưỡng mộ và thôi thúc mọi người hướng tới Người, hướng tới cái chân, thiện, mỹ trong cuộc sống, trong công tác, học tập, trong xây dựng và phát triển…

Phong cách sống, sinh hoạt Hồ Chí Minh có nhiều nét đã trở thành huyền thoại không những đối với nhân dân Việt Nam mà còn đối với cả thế giới. Đó là sự giản dị, thanh đạm, thanh cao trong sinh hoạt hàng ngày; là cách sống chừng mực, điều độ, ngăn nắp, yêu lao động, quý trọng thời gian, không ham muốn danh lợi riêng cho mình. Đó là tình thương yêu con người quyện với tình yêu thiên nhiên, tạo nên tinh thần lạc quan của người chiến sỹ, kết hợp chặt chẽ với những rung động say mê của một tâm hồn nghệ sĩ.

Phong cách Hồ Chí Minh là sự kết hợp một cách nhuần nhuyễn của tư tưởng, đạo đức, phương pháp, nhân cách, lối sống Hồ Chí Minh, thể hiện một cách tự nhiên trong cuộc sống của Người, để Người trở thành sự toàn vẹn, với một cuộc sống trọn vẹn. Phong cách Hồ Chí Minh thể hiện cuộc đời của Người, không cần đến bất cứ sự trang sức nào. Người không phải cố ý sống khác đời để mọi người ca ngợi, mà phong cách của Người xuất phát từ một triết lý nhân sinh là lấy khiêm tốn, giản dị làm nền; lấy chừng mực đức độ làm chuẩn; lấy trong sạch thanh cao làm vui; lấy gắn bó với con người, với thiên nhiên làm niềm say mê vô tận.

Học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, mỗi tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên cần phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trên vị trí công tác. Trên cơ sở trung thành, kiên định với mục tiêu lý tưởng của Đảng, của cách mạng, lợi ích quốc gia, dân tộc và nhân dân, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giải quyết những vấn đề thực tiễn đang đặt ra trong giai đoạn mới, góp phần tạo nên những động lực mới cho sự phát triển đất nước.

Học tập và làm theo phong cách làm việc Hồ Chí Minh, cần thực sự sâu sát quần chúng, tin yêu và tôn trọng quần chúng, chú ý lắng nghe ý kiến và giải quyết những kiến nghị chính đáng của quần chúng, sẵn sàng tiếp thu phê bình của quần chúng và sửa chữa khuyết điểm của mình. Thực hiện và phát huy dân chủ, trước hết là dân chủ trong Đảng, trong tổ chức sinh hoạt Đảng. Có tác phong làm việc khoa học, hiệu quả, hợp tác; có chương trình, kế hoạch sát hợp, thiết thực. Nói và viết dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm, có sức cuốn hút mạnh mẽ đối với người nghe, người đọc; duy trì kỷ luật phát ngôn.

Học tập phong cách ứng xử Hồ Chí Minh, xây dựng cho mình cách ứng xử có văn hóa với nhân dân, bạn bè, đồng chí, anh em. Xuất phát từ thái độ yêu thương, quý mến con người, trân trọng con người, khoan dung, khiêm nhường, độ lượng với con người để có sự ứng xử tự nhiên, bình dị, cởi mở, chân tình với mọi người. Xây dựng thái độ ứng xử với tự nhiên, môi trường đúng đắn, trách nhiệm, cùng toàn Đảng, toàn dân xây dựng môi trường sinh thái trong sạch, bền vững.

Học tập phong cách sinh hoạt Hồ Chí Minh, xây dựng lối sống giản dị, thanh cao, điều độ, ngăn nắp, yêu lao động, quý trọng thời gian; tinh thần lạc quan, tự trọng và tôn trọng cộng đồng, xã hội.

Học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh để mỗi chúng ta tự phấn đấu, vươn lên, tự làm cho mình trở lên tốt đẹp, hoàn thiện hơn, làm việc có hiệu quả hơn.

Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh những năm qua mang lại cho chúng ta một nhận thức mới, giản dị nhưng rất quan trọng là học tập và làm theo Bác là công việc của mỗi người và mọi người.

Với mỗi người, khi trăn trở, vật lộn với cuộc sống làm cho chúng ta đôi khi sao lãng việc rèn luyện đạo đức. Với toàn xã hội, sự tập trung quá mức vào các mục tiêu kinh tế, đặc biệt là tốc độ tăng trưởng để khắc phục nguy cơ tụt hậu, đuổi kịp các nước trong khu vực…, với bối cảnh kinh tế thị trường như một cơn lốc ập đến, tình trạng lệch chuẩn, loạn chuẩn trong xã hội ngày càng gia tăng. Tình trạng xem thường, không đánh giá đúng, hoặc không coi trọng vấn đề giáo dục đạo đức, chạy theo lối sống thực dụng, vị tiền… đã dẫn đến những trả giá… Và Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh hơn bốn năm qua đã góp phần mang đến sự thay đổi trong nhận thức, dù không phải là mới, được nhiều người chấp nhận: học tập và rèn luyện về đạo đức trước hết là của mỗi người, vì chính mình và phải luôn nêu gương về đạo đức. Sự trả giá nào đó trong những cuộc đời, gia đình và xã hội làm cơ sở để mọi người càng thấy rõ hơn “tính di truyền xã hội” của đạo đức, ý nghĩa và trách nhiệm trong sự nêu gương. Bác Hồ dạy, ông bà nêu gương cho con cháu, cha mẹ nêu gương cho con, anh chị nêu gương cho em, đảng viên nêu gương cho quần chúng. Đó là sự khẳng định về một nguyên tắc thực hành đạo đức, đồng thời xác định rõ trách nhiệm tự mình rèn luyện đạo đức của mỗi người.

Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, bên cạnh sự cố gắng tự thân của mỗi người, rất cần sự hỗ trợ, nâng đỡ của tập thể để mỗi người tự vươn lên cùng tập thể. Đứng trước những bão táp, mưa sa của cuộc sống vận động với tốc độ của âm thanh, ánh sáng thời công nghệ số, mỗi người đều cần đến một chỗ dựa từ tập thể. Việc đưa nội dung học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào sinh hoạt thường xuyên của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể, cơ quan, đơn vị là một biện pháp quan trọng. Duy trì sinh hoạt thường xuyên, trong sinh hoạt định kỳ có nội dung trao đổi, thảo luận về học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác trong tập thể, phát hiện những vấn đề nảy sinh về đạo đức, lối sống để chấn chỉnh, phát hiện những việc tốt, người tốt, nêu gương những điển hình tiên tiến để học tập và noi theo… Hàng năm có tiến hành sơ kết, tổng kết, đánh giá, chú trọng công tác thi đua khen thưởng, động viên, khuyến khích kịp thời để các điển hình tiên tiến ngày càng nhiều thêm, nảy nở như hoa mùa xuân. Tổ chức đảng, chính quyền cấp trên chú trọng công tác kiểm tra, giúp cơ sở thực hiện đúng định hướng và có hiệu quả thiết thực.

Trong thực hiện Chỉ thị lần này cần chú trọng hơn nữa đến việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ, đặc biệt trong các nhà trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Bác Hồ đã dạy “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ”. Điều ấy đang được thể hiện trong mục tiêu “dạy chữ, dạy người, dạy nghề” của ngành giáo dục. Dạy chữ luôn luôn là quan trọng hàng đầu. Nhưng trong điều kiện cách mạng công nghệ và “thời của Internet”, không thể và không cần đưa hết tri thức của nhân loại hiện có vào các chương trình đào tạo, đặc biệt là trong các trường phổ thông. Một số môn học có thể được giảm tải, tích hợp, chuyển thành môn tự chọn theo các định hướng nhất định…, để dành thời gian cho dạy người và dạy nghề. Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị yêu cầu xây dựng các chương trình giáo dục đạo đức theo tư tưởng, tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh cho các cấp học, bậc học. Thực hiện “đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo” nêu trong Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, đưa nội dung giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh vào chính khóa là thực hiện lời dạy của Người, đó là “giáo dục thế hệ trẻ, đào tạo thế hệ cách mạng cho đời sau là việc làm rất quan trọng và rất cần thiết”.

Bước vào năm mới, vào thời kỳ phát triển mới của đất nước, của dân tộc, mỗi người trong chúng ta hãy tự mình học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, học tập và làm theo Bác cho “lòng ta trong sáng hơn”./.

Theo Tạp chí Tuyên giáo
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Lễ chào cờ hàng ngày trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đội hình chào cờ tiến ra Quảng trường Ba Đình

Lễ chào cờ hàng ngày trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được Thủ tướng Chính phủ quyết định giao cho Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện từ sáng ngày 19/5/2001, nhân dịp kỷ niệm 111 năm Ngày sinh của Người. 10 năm qua, Đoàn H75, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện trang trọng hơn 7 ngàn lần lễ chào cờ, tạo được ấn tượng, tình cảm tốt đẹp về hình ảnh Tổ quốc Việt Nam – Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tâm trí mỗi người dân Việt Nam và bầu bạn quốc tế.

Ngay từ ngày khánh thành Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (29/8/1975), trước Lăng Bác, ngày cũng như đêm, luôn tung bay lá cờ Tổ quốc. Việc treo, hạ cờ khi đó không diễn ra thường xuyên, không thực hiện nghi lễ. Nhớ lại những ngày đầu, đồng chí Triệu Văn Siền, nguyên Đoàn trưởng Đoàn H75 cho biết: “Chỉ khi nào lá cờ bạc màu, rách, cuốn nhiều vòng quanh cột cờ, hoặc chuẩn bị kỷ niệm những ngày lễ lớn, những chiến sỹ Cảnh vệ vũ trang mới hạ lá cờ cũ xuống và thay lá cờ mới, bằng phương pháp thủ công”.


Tự hào Việt Nam

Lăng Bác và Quảng trường Ba Đình là nơi hội tụ tình cảm, niềm tin của đồng bào và bầu bạn quốc tế đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và đất nước, con người Việt Nam. Mọi người đều mong muốn các nghi thức, nghi lễ và mọi hoạt động diễn ra nơi đây thật trang trọng. Theo Thiếu tướng Đặng Nam Điền, Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng thì ý tưởng thực hiện nghi lễ chào cờ từ hơn 10 năm về trước xuất phát từ việc: Đầu năm 2000, Hãng Truyền hình NHK của Nhật Bản đến Ban Quản lý Lăng đề nghị được ghi hình Lễ kéo cờ trước Lăng Bác, để tuyên truyền về những ngày lễ lớn năm 2000 của Việt Nam. Nhưng sau đó, Bạn không thực hiện, vì ta chưa có nghi lễ treo, hạ cờ. Biết được thông tin như vậy. Thiếu tướng Nguyễn Quang Tấn, Trưởng ban Ban Quản lý Lăng kiêm Tư lệnh, khi đó đã quyết định: Ta phải thực hiện nghi lễ chào, hạ cờ trước Lăng Bác”.

“Lễ chào cờ, hạ cờ trước Lăng Bác là nghi thức quốc gia, được thực hiện nơi trang trọng và thiêng liêng, nên phải nghiên cứu kỹ cách thức tổ chức để báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của Bộ Quốc phòng và Thủ tướng Chính phủ. Cách tổ chức tốt nhất là cử Đoàn cán bộ sang nghiên cứu, học tập kinh nghiệm chào cờ ở Quảng trường Thiên An Môn, Bắc Kinh, Trung Quốc”. Đó là suy nghĩ mà Thiếu tướng Nguyễn Quang Tấn nhớ lại.

Lễ chào cờ hàng ngày trước Lăng

Đến tháng 8/2000, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định giao nhiệm vụ luyện tập nghi lễ chào cờ hàng ngày trước Lăng Bác cho Đoàn H75, đơn vị chuyên làm nhiệm vụ bảo đảm an ninh, nghi lễ. Những cán bộ, chiến sỹ Đội Tiêu binh danh dự có chiều cao từ 1m7 trở lên, quân dung đẹp và động tác điều lệnh đội ngũ chuẩn được tập trung luyện tập. Đội hình chào cờ gồm 37 đồng chí. Khối trưởng và vác Quân kỳ là sỹ quan. Còn lại, 3 đồng chí trong Tổ Quốc kỳ, 2 đồng chí bảo vệ Quân kỳ và 30 đồng chí thành 10 hàng ngang trong khối nghi lễ đều do chiến sỹ đảm nhiệm.

Là khối trưởng đầu tiên, đồng chí Nguyễn Anh Thi, nguyên Đội trưởng đội Tiêu binh kể lại: Được giao nhiệm vụ chúng tôi rất tự hào, nhưng cũng đầy nỗi lo. Suốt 4 tháng dòng, nắng cũng như mưa, ngày đêm cán bộ, chiến sỹ dày công luyện tập. Từng động tác đi đều, đi nghiêm, vác súng, bồng súng … đều phải tập cơ bản lại từ đầu. Khó nhất là động tác tung cờ khi chào cờ và động tác thu cờ khi hạ cờ. Bàn cách xử lý tình huống khi cờ xoắn vào cột, không lên, hoặc không xuống được; kể cả khi mất điện phải quay bằng tay. Mọi động tác phải thuần thục, trang nghiêm, không được sai sót, dù là nhỏ nhất. Chỉ một khẩu lệnh hô: “Chào cờ!…. Chào” mà đến 4 sỹ quan tập đi tập lại nhiều lần. Khẩu lệnh đó mười năm rồi, nay nghe lại, tôi vẫn nghẹn lòng xúc động”.

Sau buổi thực hiện Lễ chào cờ “Đón chào thiên niên kỷ thứ 3” vào 0giờ ngày 1/1/2001 thành công tốt đẹp. Ban Quản lý Lăng đã báo cáo và được Thủ tướng Chính phủ quyết định từ ngày 19/5/2001 thực hiện nghi lễ chào cờ hàng ngày trước Lăng Bác.

Từ 5 giờ 30 sáng ngày 19/5/2001, mọi công việc chuẩn bị đã hoàn tất. Trên Quảng trường Ba Đình, hàng ngàn người là bộ đội, công an, công nhân, nông dân, trí thức, đủ các lứa tuổi, cả các phụ lão, thiếu niên, nhi đồng và đoàn viên thanh niên đã tề tựu đông đủ. 6 giờ 24 phút, bản nhạc “Vừng đông đã hửng sáng” từ các loa truyền thanh vang lên, 37 cán bộ, chiến sỹ Đội Tiêu binh danh dự (hiện nay là 34 đồng chí), do đồng chí Nguyễn Anh Thi, Khối trưởng và đồng chí Vũ Quý Dương vác Quân kỳ hùng dũng, oai phong tiến ra Quảng trường.

6 giờ 30 phút, sau lời thông báo: “Sắp đến giờ thực hiện nghi lễ chào cờ, đề nghị đồng bào trên Quảng trường ngừng mọi hoạt động, đứng tại chỗ, hướng về phía cột cờ, để nghi lễ được thực hiện trang trọng”, khẩu lệnh “Chào cờ!…. Chào” vang lên, Quốc thiều cử hành, cờ Tổ quốc từ từ được kéo lên, hàng ngàn, hàng vạn ánh mắt dõi theo trầm trồ khen ngợi. Ông Nguyễn Văn Tân, cán bộ hưu ở Khu tập thể số 3 Ông Ích Khiêm thật cảm động nói: Sau khi dự buổi lễ đầu tiên, từ đó đến nay, 10 năm rồi, sáng và tối nào tôi cũng đi dạo trên đường Hùng Vương, đường Độc Lập, quanh 240 ô cỏ của Quảng trường Ba Đình, ngắm Lăng Bác, đường Bắc Sơn với Tượng đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ, thấy Thủ đô đẹp tuyệt vời. Mỗi khi nghe Quốc ca và nhìn lá cờ Tổ quốc từ từ kéo lên trước Lăng Bác, tôi thật xúc động, thật tự hào, trang trọng và thiêng liêng quá. Với tôi, Quốc ca Việt Nam là bài hát hay nhất. Tổ quốc Việt Nam lúc nào cũng đẹp nhất. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của cả dân tộc”.

Kể từ ngày hôm đó, không kể thời tiết nắng nóng, dông bão, hay mưa rét, cứ sáng sáng vào 6 giờ mùa hè, hoặc 6 giờ 30 phút mùa đông, Lễ chào cờ trước Lăng Bác được tiến hành trọng thể và hạ cờ vào lúc 21 giờ được thực hiện. Suốt 10 năm, với gần một ngàn lần đi khối trưởng, đồng chí Nguyễn Đức Tuấn, Phó Đội trưởng Đội Tiêu binh danh dự, cho biết: Chỉ khi nào mưa ngập trắng đường Hùng Vương, tràn lên cả thềm sỏi phía Đông, thì mới thực hiện nghi lễ rút gọn. Còn khi mưa vừa, hoặc bắt đầu nghi lễ, dẫu thời tiết thế nào, cũng đều phải thực hiện thật trang nghiêm. Gặp buổi mưa to, gió lớn, lễ phục ướt sũng, giầy ngập trong nước, nhưng ý chí, nghị lực của mọi người đều quyết tâm “tiếng hát, át tiếng mưa”, để nghi lễ không bị gián đoạn. Thực hiện đúng lời dạy của Bác: Khó khăn nào cũng vượt qua”.
Mười năm trôi qua, với 12 lớp chiến sỹ Tiêu binh danh dự của các tỉnh Hòa Bình, Thái Bình,

Hải Dương, Nam Định, Ninh Bình, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hưng Yên, Hà Nam, Bắc Giang, Thái Nguyên đã và đang có vinh dự đặc biệt: Thực hiện nghi lễ chào cờ trước Lăng Bác. Để giữ mãi hình ảnh lá cờ Tổ quốc luôn tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử, trước Lăng Bác, giữ mãi hình ảnh tuyệt đẹp Việt Nam – Hồ Chí Minh trong lòng đồng bào và khách quốc tế mỗi khi về viếng Bác và tham quan khu vực Lăng của Người./.

Nguyễn Hữu Mạnh

bqllang.gov.vn

Một lần đưa Bác về thăm chiến khu xưa

Với Trung tá về hưu Lương Văn Vở một lần được lái xe cho Bác Hồ là vinh dự vô cùng lớn lao. Đã hơn 50 năm trôi qua nhưng với ông từng lời nói, cử chỉ, việc làm của Bác đều trở thành những hình ảnh đẹp trong ký ức không thể nào quên.

Hành trình đưa Bác về thăm chiến khu xưa

Trong biết bao ký ức cuộc đời, ông Lương Văn Vở 75 tuổi ở phường Suối Hoa (thành phố Bắc Ninh) vẫn luôn dành một vị trí trang trọng nhất cho kỷ niệm lần được gặp Bác. Ông xúc động kể lại câu chuyện của hơn 50 năm về trước.

“Năm 1958, Bác Hồ về thăm căn cứ địa cách mạng Việt Bắc. Theo yêu cầu của cấp trên cần có đồng chí lái xe giỏi, quen đường rừng, núi, đèo, dốc, để đưa Bác đi. Còn đồng chí lái xe chính cho Bác đi sau để khi quay về lái cho quen đường. Lúc đó, tôi đang là lái xe của đồng chí Lê Quảng Ba, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu Việt Bắc. Sáng sớm, tôi được chỉ huy đơn vị thông báo sẽ nhận nhiệm vụ lái xe cho Bác. Bấy lâu chỉ được nhìn Bác qua ảnh, nghe giọng Bác nói trên đài, nay sẽ được trực tiếp lái xe cho Bác. Vinh dự lớn lao ấy làm tôi vô cùng xúc động. Mặc dù có kinh nghiệm lái xe đường rừng núi, nhưng trong lòng cũng không khỏi lo lắng vì đây là lái xe cho Bác Hồ. Tôi lập tức đi kiểm tra và chuẩn bị xe thật cẩn thận.

Khoảng 9 giờ sáng, xe của Bác đến Bộ Tư lệnh Quân khu tại Thái Nguyên. Giây phút đầu tiên được gặp Bác, tôi rất hồi hộp. Bằng tác phong nhanh nhẹn, Bác chủ động bắt tay tôi và tươi cười nói: “Chú lái xe của Tư lệnh trẻ lắm!”. Cử chỉ thân mật của Bác khiến tôi thấy ấm áp và gần gũi biết bao. Theo bố trí, tôi lái xe cho Bác Hồ, đồng chí Lê Quảng Ba cùng ngồi để tiện trao đổi công việc.

Cả đoàn khởi hành, đi trước là xe làm nhiệm vụ dẹp đường và bảo vệ. Đường hồi đó hẹp, xấu, đèo, dốc cao cua liên tiếp cây cối rậm rạp khó đi. Xuất phát được vài trăm mét, Bác hỏi tôi: “Chú học lái xe bao giờ mà trẻ thế?”. Đồng chí Lê Quảng Ba báo cáo Bác: “Đồng chí Vở học khóa đầu tiên trường lái xe Tiến Bộ khi trường chuyển từ Quảng Tây, Trung Quốc về nước và được giữ lại làm giáo viên. Quân khu sang nhà trường xin về làm lái xe cho Tư lệnh vì đồng chí học giỏi nhất trường. Đồng chí còn tham gia thêm công tác thanh niên, làm Bí thư chi đoàn Bộ tham mưu Quân khu”. Bác bảo ngay: “Chú làm Bí thư thanh niên bản thân phải gương mẫu, trong sáng, làm tốt, nói thật, sống ngay thẳng. Luôn giản dị, khiêm tốn và biết vận động anh, em cùng làm tốt. Phải thương yêu đồng chí và giúp đỡ mọi người cùng tiến bộ”.

Suốt hành trình, Bác tranh thủ thời gian trao đổi, dặn dò đồng chí Lê Quảng Ba rất nhiều điều. Còn tôi thì tập trung tất cả tinh thần để lái xe cho thật tốt, làm sao vừa an toàn vừa thật êm để Bác đỡ mệt. Những chặng đường này với tôi đã rất quen thuộc. Tôi nhớ từng ổ gà, đoạn cua, con đèo… Lái thạo ở những cung đường khó nhất như: đèo Giàng, đèo Gió, đèo Colia… với những dốc cao, đường hẹp, cua tay áo. Sau khi thăm và nghỉ trưa tại Tỉnh ủy tỉnh Bắc Cạn, đoàn đi thẳng lên Cao Bằng. Sáng hôm sau, tôi lại được lái xe đưa Bác đi thăm những nơi Người từng ở và làm việc, thăm một số gia đình đồng bào các dân tộc tỉnh Cao Bằng. Buổi trưa, trước khi về xuôi, Bác đã khen tôi: “Chú Vở trẻ nhưng lái xe rất giỏi! Đưa Bác vượt qua đường dài, xấu mà không thấy mệt mỏi…”.

Hơn một ngày được bên Bác là khoảng thời gian ngắn ngủi nhưng đã để lại trong tôi ấn tượng vô cùng sâu đậm về tấm gương đạo đức của Người. Với cấp dưới, Bác gần gũi, tận tình chỉ bảo. Với đồng bào, Bác ân cần thăm hỏi, động viên. Bác luôn căn dặn cán bộ, chiến sỹ phải không được quên công ơn của đồng bào đã cưu mang, giúp đỡ cách mạng. Nhắc nhở ăn uống phải đơn giản, phải tiết kiệm trong sử dụng tiền của nhân dân… Tất cả với tôi có ý nghĩa khích lệ to lớn để tiếp tục cố gắng phấn đấu tu dưỡng rèn luyện chuyên môn, nghiệp vụ thực hiện tốt mọi nhiệm vụ được giao”.

Lời Người soi sáng đường ta đi

“Khi chưa được gặp Bác, tôi đã sớm đi theo con đường cách mạng của Đảng. Khi được gặp Bác, tôi càng thấy con đường mình đi là đúng đắn”, ông Vở chia sẻ. Sự chia sẻ bằng trải nghiệm từ chính cuộc đời.

Ông Lương Văn Vở sinh năm 1935 trong 1 gia đình nghèo (ông Vở cùng 3 anh, chị của mình phải chịu cảnh đi ở cho nhà giàu để nuôi thân) thuộc huyện Việt Yên (Bắc Giang). 15 tuổi tham gia cách mạng. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp chiến đấu trong vùng địch hậu, tham gia tiễu phỉ ở vùng Đông Bắc rồi được đi học lái xe… Từ đó, cuộc đời như gắn với buồng lái cơ động khắp các chiến trường.

Đi cùng những cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc, nhiệm vụ liên tục thay đổi, đối diện với biết bao gian khổ, hứng chịu sự hành hạ của bệnh sốt rét rừng, 4 lần bị sức ép của bom, 3 lần bị thương, trải qua 3 lần phẫu thuật mà vẫn còn mảnh đạn trong người… nhưng thương binh hạng 2/4 Lương Văn Vở vẫn luôn tâm niệm: “Trong tim tôi khắc ghi lời Bác dạy vượt qua khó khăn vững vàng vị trí chiến đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao”.

Trọn nghĩa với nước non, bước ra khỏi cuộc chiến về trong thời bình tiếp tục công tác rồi nghỉ hưu, ông Vở vẫn không ngừng phấn đấu để xứng đáng là người đảng viên, “bộ đội cụ Hồ” gương mẫu trong mọi công việc: ngược xuôi tất bật vận động, xin tài trợ để thành lập Ban Liên lạc Bộ đội Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh tỉnh Bắc Ninh và tổ chức thành công cho đồng đội đi thăm chiến trường xưa (gia đình ông Vở đã ủng hộ hơn 10 triệu đồng); động viên con cháu ủng hộ tích cực các loại quỹ nhân đạo… Nay dù tuổi đã cao, sức đã yếu, vết thương hay tái phát nhưng ông Vở vẫn vững vàng một niềm tin: “Tôi sẽ tiếp tục cùng đồng đội tích cực cống hiến sức lực và trí tuệ góp phần xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh như Bác Hồ hằng mong”.

Bài: Bảo Anh

baobacninh.com.vn

“Học tập và làm theo lời Bác là tâm nguyện suốt đời”

Chân thành, cởi mở và không ngại khó khăn, luôn có cách làm sáng tạo, hiệu quả trong mọi phong trào- đó là hình ảnh người cựu TNXP, cựu chiến binh Nguyễn Thanh Khiết, 62 tuổi, thôn Tử Nê (Minh Đạo, Tiên Du). Ông là tấm gương tiêu biểu tích cực trong cuộc vận động “Học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, hình ảnh bộ đội cụ Hồ “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường” trong bài thơ “Núi đôi” của Vũ Cao đã gieo vào tâm trí chàng thanh niên trẻ Nguyễn Thanh Khiết một hình tượng lý tưởng thúc giục ông làm đơn tình nguyện nhập ngũ năm 1965. Không đủ sức khỏe ông quay sang làm đơn cùng hơn 200 thanh niên của quê hương Tiên Sơn lên đường vào đơn vị TNXP Quyết Thắng, tham gia làm các con đường giao thông huyết mạch như quốc lộ 1A, đường đi cầu Treo, cầu Cài, đường ngầm Cầu Lường, đường xuống các bến phà Bố Hạ, Lục Nam (Bắc Giang), Đáp Cầu và Cầu Phao… Mặc dù tuổi đời còn rất trẻ, chàng TNXP Nguyễn Thanh Khiết hồi đó đã cùng đồng đội quyết tâm “sống bám cầu đường, chết kiên cường dũng cảm”. Sau đó, ông được đơn vị cử đi học tại trường THCN Đường sắt 3 năm. Đúng dịp chuẩn bị nhận công tác mới, có đơn vị bộ đội về tuyển quân, ông lại làm đơn tình nguyện, xung phong đi bộ đội và huấn luyện tại Đoàn 4, Bộ Tư lệnh thông tin.

Qua hơn 20 năm quân ngũ ở cương vị nào ông cũng tâm niệm lời dạy thiêng liêng của Bác Hồ đối với TNXP: “Không có việc gì khó/Chỉ sợ lòng không bền/ Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên” và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Ông được tham dự Đại hội Đoàn toàn quân lần thứ 3 ở Hà Nội, được vào Phủ Chủ tịch, được nghe đồng chí Vũ Kỳ (thư ký riêng của Bác Hồ) kể những mẩu chuyện xúc động về Bác.

Mang tinh thần của TNXP và bộ đội cụ Hồ ông trở về quê hương, gia đình và tham gia công tác xã hội. Nghỉ hưu được 20 năm thì 19 năm tham gia công tác tại địa phương, ông cùng vợ con tăng gia sản xuất, làm thêm nghề phụ, từng bước đưa cuộc sống gia đình ổn định và phát triển. Vẫn phong thái trẻ trung và lòng nhiệt huyết với các phong trào, người TNXP năm xưa nay là Phó Chủ tịch Hội cựu TNXP huyện Tiên Du, Chủ tịch Hội CCB xã Minh Đạo với bao thành tích đáng nể. Đặc biệt ông đã đưa phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” lan tỏa trong quần chúng.

Bản thân ông đã nhận thức được tư tưởng và tấm gương đạo đức của Bác, luôn kính trọng và ghi nhớ công ơn to lớn của Bác đối với dân tộc. “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người là biện pháp quan trọng để mỗi cán bộ, đảng viên sửa chữa, khắc phục tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống, giữ vững lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng”.- ông Khiết chia sẻ. Ông đã dành nhiều thời gian, công sức sưu tầm, tìm hiểu các câu chuyện về Bác, ra tận Bảo tàng Hồ Chí Minh để xin tư liệu, lựa chọn những câu chuyện mà mình ấn tượng nhất để xây dựng đề cương, tích cực luyện tập kể chuyện về tấm gương đạo đức của Bác. Bằng tình cảm tha thiết và kính trọng của mình, ông dự thi ở các cấp đều đạt giải cao: Giải nhất cụm 38, Nhất huyện Tiên Du, Nhất tỉnh Bắc Ninh và giải 3 khu vực I các tỉnh phía Bắc tại vòng thi sơ khảo toàn quốc, mang niềm vinh dự tự hào cho quê hương. Đặc biệt, năm 2009 vừa qua, ông vinh dự là đại biểu tham dự Hội nghị đại biểu cựu TNXP tiên tiến toàn quốc, Đại hội thi đua CCB gương mẫu toàn quốc lần thứ 5… Ông đã được Ban Tuyên giáo Trung ương và các cấp, hội khen thưởng, ghi nhận có nhiều thành tích xuất sắc trong các phong trào thi đua nhiều năm liền.

Nay tuổi đã ngoài 60, với cương vị Chủ tịch Hội nhiều năm liền, ông Khiết đã cùng tập thể chăm lo xây dựng Hội vững mạnh, đi đầu trong các phong trào VHVN-TDTT của địa phương cũng như tham gia các cuộc vận động ủng hộ nghĩa tình như quỹ “Vì người nghèo”, quỹ khuyến học, ủng hộ hội viên CCB có hoàn cảnh khó khăn… “Tôi luôn tự nhủ, khi nào còn sức lực, còn trí tuệ thì còn cống hiến, vì học tập và làm theo gương Bác là tâm nguyện suốt đời tôi”.

Bài: Thu Huyền

baobacninh.com.vn

“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” gắn liền với xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư

Tổng kết 4 năm thực hiện cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Đảng bộ xã Đông Cứu được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen, đó là kết quả phấn đấu vươn lên không ngừng của toàn Đảng bộ và nhân dân Đông Cứu trong nhiều năm qua.

Để có thành tích này, ngay từ khi triển khai Chỉ thị 06-CT-TW của Bộ Chính trị về cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Đảng uỷ đã xây dựng kế hoạch thành lập Ban chỉ đạo xã cũng như Ban chỉ đạo của 10 Chi bộ cơ sở, xây dựng chương trình hành động thực hiện các giá trị chuẩn mực đạo đức Hồ Chí Minh; tổ chức học tập, quán triệt các chuyên đề về tấm gương đạo đức của Bác cho toàn Đảng bộ và các đoàn thể nhân dân. Trên cơ sở học tập, thảo luận, xây dựng các tiêu chí cụ thể cho cán bộ đảng viên, đoàn viên, hội viên.

Từ ngày triển khai cuộc vận động đến nay, Đông Cứu được đánh giá là một đơn vị điển hình tiên tiến trong việc triển khai sâu rộng cuộc vận động và thực hiện làm theo có hiệu quả thiết thực. Ở mỗi chuyên đề từng cán bộ, đảng viên đều có những chương trình hành động cụ thể cho bản thân cũng như gia đình mình làm theo Bác, thực hiện theo chương trình viết thu hoạch, kiểm điểm ở từng đơn vị gắn với nhiệm vụ được giao. Cán bộ, đảng viên đi đầu gương mẫu trong mọi hoạt động xã hội ở nông thôn, nói và làm theo nghị quyết của Đảng, đó là nền tảng tạo ra sức mạnh đại đoàn kết toàn dân.

Đông Cứu khéo kết hợp cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”. 6 nội dung cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa được cụ thể hóa thành các giá trị chuẩn mực đạo đức Hồ Chí Minh, được đông đảo nhân dân đồng tình hưởng ứng tạo sự lan tỏa rộng khắp thành phong trào xã hội.

Trên lĩnh vực kinh tế: tốc độ tăng trưởng hàng năm là 12%, hoàn thành dồn điền đổi thửa ở 6/6 cơ sở, tạo năng lực mới cho sản xuất, năng suất lúa ổn định 64 tạ/ha/vụ, hệ số sử dụng đất là 2.5  lần. Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, ổn định đàn gia cầm 40.000 con/năm, là địa phương có nhiều mô hình chăn nuôi gia cầm năng động, cung cấp con giống cho nông dân trong vùng. Toàn xã có 31,4 ha chăn nuôi thuỷ sản theo mô hình trang trại cho hiệu quả kinh tế cao, có 29 ha rừng cảnh quan rừng đã được phủ xanh. Đẩy mạnh phát triển kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, ai giỏi nghề gì làm nghề đó, thu hút 16,6% lao động nông nghiệp làm ngành nghề phụ tạo thu nhập cao. Xã không còn hộ đói, hộ nghèo chỉ còn dưới 10% theo tiêu chuẩn mới. 100% các thôn có đường bê tông, có hệ thống điện chiếu sáng ban đêm, có tổ vệ sinh môi trường hoạt động nền nếp.

Trường học đạt chuẩn quốc gia ở cả 3 khối lớp, xã-thôn có quỹ khuyến học, nhiều dòng họ có quỹ khuyến học. Hàng năm vào năm học mới xã tổ chức phát thưởng cho các thầy cô giáo và các học sinh đạt loại giỏi cấp huyện, tỉnh cũng như tổ chức tốt lễ dâng hương tại đền Thái sư Lê Văn Thịnh để phát huy truyền thống hiếu học. Địa phương không có trẻ em bỏ học, trẻ em mắc tệ nạn xã hội, 100% trẻ em trong độ tuổi được đến trường, liên tục từ năm 2005 đến nay trường Mầm non, trường Trung học cơ sở đạt tiên tiến xuất sắc.

Tỉ lệ sinh con thứ 3 ngày càng giảm, chất lượng dân số ngày càng tăng, tỉ lệ phát triển dân số hàng năm là 0,7%. Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân được chú trọng, trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia, cộng tác viên dân số, y tế ở thôn làm tốt công tác tuyên truyền chăm sóc sức khoẻ cộng đồng nên ở Đông Cứu chưa hề xảy ra dịch bệnh.

Phong trào đền ơn đáp nghĩa và các hoạt động xã hội nhân đạo ở Đông Cứu ngày càng được tăng cường, 100% hộ gia đình chính sách có cuộc sống ổn định, hộ nghèo được quan tâm hỗ trợ vốn học nghề cũng như về khoa học kỹ thuật giúp họ vươn lên trong cuộc sống.

Phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh chính trị ở Đông Cứu thực sự có bước phát triển bền vững, các vụ vi phạm trên địa bàn đều được giải quyết dứt điểm đúng thẩm quyền. Đã xử lý 151 vụ, lập hồ sơ giáo dục tại cộng đồng 14 đối tượng, đưa đi cai nghiện tập trung 8 đối tượng, xây dựng 2 mô hình điểm phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội ở Bảo Tháp và Cứu Sơn. Công an xã liên tục nhiều năm đạt đơn vị Quyết thắng.

Thực hiện tốt quy chế dân chủ nên xã không có khiếu kiện đông người, khiếu kiện vượt cấp. Các mâu thuẫn nhỏ trong cộng đồng đều được hoà giải thành ở cơ sở thôn xóm, số việc chuyển lên xã trong 4 năm qua đã hòa giải thành 20/24 việc; án dân sự chuyển giao về xã hoàn thành 100% số việc.

Kinh tế phát triển, an ninh nông thôn ổn định bền vững là tiền đề quan trọng nâng cao chất lượng đời sống văn hóa xây dựng nông thôn mới. Việc cưới, việc tang, tân gia, mừng thọ và lễ hội thực sự theo đúng quy ước thôn làng, đúng theo lời dạy tiết kiệm của Bác. Cán bộ đảng viên thật sự gương mẫu đi đầu trong các phong trào thi đua yêu nước. Các thiết chế văn hóa ở Đông Cứu ngày càng được tăng cường, 100% khu dân cư đều có nhà sinh hoạt cộng đồng, có hệ thống loa truyền thanh thôn xã cũng như có nhiều loại hình câu lạc bộ cùng nhóm sở thích, 6/6 thôn đều có đội bóng đá thiếu niên. Toàn xã có 90% số hộ đạt chuẩn văn hóa, 5/6 đạt Làng văn hóa.

Nhờ xác định tốt phát triển kinh tế gắn với nâng cao đời sống văn hóa là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt nên từ khi triển khai cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Đảng bộ xã Đông Cứu luôn đạt Trong sạch vững mạnh tiêu biểu. Đó chính là kết quả của sự sáng tạo, gắn bó hữu cơ giữa cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” với xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư.

Lê Ba

baobacninh.com.vn

Chế Lan Viên viết về Bác Hồ

Ngoài hai bài thơ rất quen thuộc viết về Bác là Người đi tìm hình của nước và Người thay đổi đời tôi, Người thay đổi thơ tôi, nhà thơ Chế Lan Viên còn có một loạt bài viết từ năm 1954 đến 1976 in trong tập Hoa trước Lăng Người.

Những bài viết của Chế Lan Viên về Bác hay ở sự sâu sắc, ở những phát hiện tài tình về sự giản dị – vĩ đại trong tư tưởng, tâm hồn của Bác.

Thơ Chế Lan Viên thiên về triết luận, lý trí, lý sự, lật ngược lật xuôi vấn đề nên độc giả phổ thông khó đọc, khó nhớ. Trên đài phát thanh, truyền hình, thơ ông cũng được giới thiệu không nhiều.

Nói về vai trò quan trọng quyết định vận mệnh của đất nước, của dân tộc, không ai có thể nói hay hơn Chế Lan Viên:

Mà hình đất nước hoặc còn hoặc mất
Sắc vàng nghìn xưa, sắc đỏ tương lai
Thế đi đứng của toàn dân tộc
Một cách vinh hoa cho 25 triệu con người.

(Người đi tìm hình của nước)

Bác lãnh đạo cách mạng thành công, làm sống dậy những tinh hoa của văn hóa dân tộc :

Người đánh thức hồn dân tộc đã về kia.
Ta nghe bừng tỉnh dậy
Câu quan họ, xẩm xoan xưa vứt ngã ba đường
Ðiệu lục bát và màu nâu nơi ruộng rẫy
Bức tranh làng Hồ và cô tố nữ dáng quê hương.

(Người thay đổi đời tôi,
Người thay đổi thơ tôi
)

Nhà thơ nhận ra trong dòng nước mắt nhân dân ta khóc Bác một sức mạnh đã kết tinh :

… Tổ quốc khóc Người Cha. Ðấy là Việt Nam
Ðấy là sức mạnh
Tiếng khóc lọc hồn ta như lửa chói ngời
Mình nhận ra ta, ta nhận ra Người
Cả dân tộc tìm ra mình qua tiếng khóc

(Tiếng khóc đúc Việt Nam thành một khối)

Chế Lan Viên có khi không quen viết kịp thời. Bài thơ vừa dẫn ở trên, ông viết năm 1971, hai năm sau khi Bác qua đời. Những năm sau, ông vẫn tiếp tục phát hiện tầm lớn lao của trí tuệ và lòng nhân ái bao la trong trái tim của Bác ở những bài thơ khác :

Với tất cả chúng ta, Bác là một người ông
Râu như bông và tóc trắng như bông
Màu tinh khiết một đời đạm bạc
Ðây cũng là nhà hiền triết, hiểu chỗ đến chỗ đi sự vật
Người về nơi phải về, Người rất ung dung
Người trồng cây, suốt một đời trồng
Chỗ Người khổ công gieo, ta sẽ hái
Nhân loại biếc màu xanh Người để lại
Trong thế giới bạo tàn này, Người là những bóng cây xanh.

(Ta nhận vào ta phẩm chất của Người)

Trong bài thơ Cách mạng chương đầu, tái hiện lại những tháng năm Bác về Pắc Bó, Chế Lan Viên có những khổ thơ thấm đượm chất anh hùng ca :

Dân tộc rét chưa che Người đủ ấm
Hang đá này Bác đắp chiếc chăn sui
Khớp xương buốt vì hơi rêu lạnh thấm
Gió rừng đừng thổi nữa, gió rừng ơi

Những đêm ấy Bác thức cùng ngọn lửa
Thảo từng trang sử lớn cho đời
Tượng Mác trầm ngâm trong hình thạch nhũ
Rồi từng dòng từng chữ qua vai.

(Hang mở nước)

Còn nhiều … còn nhiều những ý thơ lạ, những phát hiện sâu sắc của nhà thơ Chế Lan Viên về Bác Hồ mà trong một bài viết ngắn không thể nào chứa được.

NGUYỄN BÙI VỢI (Báo Nhân Dân)

sites.google.com