Tag Archive | Lãnh tụ vĩ đại

Một ngày và mãi mãi

Ngày mồng một Tết Kỷ Dậu (1969), Bác dành chuyến xuất hành đầu năm cho bộ đội Phòng không – Không quân. Bác hiểu rằng: Tới đây, bộ đội Phòng không – Không quân phải đương đầu với Không lực Hoa Kỳ – một lực lượng không quân hùng hậu và hiếu chiến bậc nhất thế giới.

Tháp tùng Bác đi chúc Tết bộ đội, tôi luôn trong trạng thái xúc động, nhói đau con tim. Tôi nhận ra một điều có ý nghĩa hết sức quan trọng là: Sức khoẻ của Bác đã giảm sút nhiều. Hoà cùng vào niềm vui của bộ đội, tôi vẫn muốn nói to lên với các đồng chí của mình: “Các đồng chí ơi, sức khỏe của Bác không tốt lắm. Bác gắng gượng để đến với anh em ta đấy”. Nhưng tôi không được phép làm như vậy. Bác không được khoẻ, thế mà tiếng nói của Bác vẫn ấm áp, nụ cười của Bác khi gặp chiến sỹ thật hiền hậu, tin yêu. Những gương mặt ngời sáng kính trọng, tự hào của bộ đội Phòng không- Không quân càng làm cho Bác vui. Lúc ấy, không ai nghĩ rằng: Đây là lần cuối cùng mọi người được gặp Bác. Trong tôi trào dâng một xúc cảm bồi hồi. Tôi nghẹn giọng, nuốt nước mắt.

Sau khi thăm bộ đội Phòng không – Không quân, Bác đi thăm và chúc Tết nhân dân huyện Bất Bạt, Hà Tây. Tới làng Vật Lại Anh hùng, Bác dừng chân nghỉ trên đồi Vật Lại ngắm nhìn núi Tản Viên, Bác như thấy lòng thư thái trước cảnh non xanh, nước biếc… Bác đã trồng cây đa trên đồi Vật Lại. Cây đa ấy đến nay vẫn toả bóng mát như nhắc nhở các thế hệ cháu con phải có trách nhiệm bảo vệ thiên nhiên.

Dịp sinh nhật Bác năm 1969, trong một buổi gặp mặt với các tướng lĩnh, chỉ huy, lãnh đạo các cơ quan Bộ Quốc phòng, quân khu, quân binh chủng dự hội nghị quân chính toàn quân, tại phòng họp của Phủ Thủ tướng. Buổi gặp mặt có Bác, các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Song Hào… Bác nói chuyện, động viên, nhắc nhở cán bộ dự hội nghị. Đồng chí Vương Thừa Vũ thay mặt cho các tướng lĩnh, cán bộ cao cấp toàn quân kính chúc sức khỏe Bác và tặng hoa chúc mừng nhân ngày sinh của Bác. Bác tặng lại các đại biểu và chúc các đại biểu sau hội nghị về cần cố gắng hơn nữa, có nhiều hoa chiến công hơn nữa.

Sau buổi gặp gỡ này, các bác sĩ chăm sóc sức khỏe cho Bác vô cùng lo lắng, báo cáo với Bộ Chính trị rằng Bác đã có dấu hiệu nhồi máu cơ tim. Bộ Chính trị quyết định mời bác sĩ Trung Quốc sang chữa bệnh cho Bác. Từ tháng 8 năm 1969 sức khoẻ của Bác ngày càng xấu đi.

Ngày 12 tháng 8 năm 1969, trong khi trời nổi cơn giông, nhưng nghe tin phái đoàn ngoại giao ta ở Pa-ri vừa về nước, Bác lập tức tới nhà nghỉ Hồ Tây thăm anh em trong đoàn. Bác tới để nghe tình hình và động viên tinh thần anh em trong cuộc đấu tranh trên bàn hội nghị; sau đó Bác lại đi thăm, kiểm tra công tác bảo vệ đê điều chống bão lụt của Hà Nội.

Khi về, Bác bị cảm lạnh. Ngày hôm sau, Bác ho nhiều. Ngày 23 tháng 8 năm 1969, bác sĩ phải dùng thuốc kháng sinh tiêm cho Bác và làm điện tim, thấy có dấu hiệu nhồi máu cơ tim.

Ngày 28 tháng 8 năm 1969, tim Bác có dấu hiệu loạn nhịp và rối loạn phần tuyến nhĩ thất.

Trước tình hình sức khỏe của Bác ngày càng có nhiều dấu hiệu xấu, trung tuần tháng 8 năm 1969, Quân ủy Trung ương ra quyết định thành lập Ban chỉ đạo công tác giữ gìn thi hài Bác gồm các đồng chí: Thiếu tướng Lê Quang Đạo, Uỷ viên Trung ương Đảng – Ủy viên Quân ủy Trung ương – Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị – Trưởng ban; Thiếu tướng Phạm Ngọc Mậu – Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Đại tá Phùng Thế Tài – Phó tổng Tham mưu trưởng; Đại tá Vũ Văn Cần – Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần – Cục trưởng Cục Quân y; Đại tá Trần Kinh Chi – Cục trưởng Cục Bảo vệ Quân đội.

Ban chỉ đạo phân công đồng chí Phùng Thế Tài làm Phó ban và tôi là ủy viên thường trực, điều hành mọi công việc cụ thể của Ban chỉ đạo. Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ trong từng thời gian, Ban chỉ đạo đã huy động thêm lực lượng nhằm đáp ứng với tình hình ngày một khẩn trương.

Theo dõi từng giờ, từng ngày sức khỏe của Bác, chúng tôi biết thời điểm nghiệt ngã nhất đang đến gần. Ban chỉ đạo khẩn trương tiến hành kiểm tra mọi khâu trong công tác chuẩn bị; khẩn trương hoàn thành các công việc còn lại; đình chỉ mọi việc đi phép, đi học của cán bộ, chiến sĩ có liên quan đến nhiệm vụ. Cục Bảo vệ và Tiểu đoàn 144 tổ chức ngay một đoàn xe làm nhiệm vụ di chuyển thi hài Bác, gồm năm chiếc: Hai xe cứu thương, ba xe Gat, chọn các đồng chí: Hoàng Đình Thinh – lái xe của Tổng cục Hậu Cần; Nguyễn Văn Nhích – lái xe của Bộ Tổng tham mưu, Nguyễn Văn Hợp – lái xe cứu thương của Viện Quân y 108 làm nhiệm vụ lái xe cứu thương. Các xe khác do lái xe của Cục Bảo vệ đảm nhiệm. Hàng đêm, các chiến sỹ lái xe đã không quản vất vả, gian khổ miệt mài luyện tập, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ lái xe trong các tình huống, trên các đoạn đường, đến các địa điểm khác nhau.

Một số cán bộ, chiến sĩ của Tiểu đoàn 144 và Cục Bảo vệ được chọn làm nhiệm vụ luyện tập, mặc trang phục cảnh sát hoặc hóa trang là người dân bình thường ém và tuần tra ở các con đường mà đoàn xe đi qua; mọi tình huống xấu có thể xảy ra (xe hỏng, kẹt tắc đường, gặp tai nạn, bị phá hoại…) đều được lường tính trước và vạch sẵn giải pháp xử trí.

Cục Đối ngoại – Bộ Quốc phòng được giao chuẩn bị nhà cửa, sửa chữa trang bị nội thất tốt nhất, chuẩn bị người phục vụ, hai xe du lịch; cử người nấu ăn, lái xe, công vụ cùng hai cán bộ Cục Bảo vệ Quân đội (đồng chí Vũ Quang Kha phiên dịch, đồng chí Hoan – cán bộ bảo vệ tiếp cận) và một tiểu đội cảnh vệ của Tiểu đoàn 144 thành một bộ phận phục vụ đoàn chuyên gia y tế Liên Xô. Đồng chí Vũ Quang Kha được cử phụ trách chung. Một số cán bộ của Bộ Tư lệnh Công binh, Tiểu đoàn 144 và một số cán bộ, chiến sĩ Cục Bảo vệ Quân đội (Tống Xuân Đài, Mạc Hồ, Nhu, Tấn…) chuyên trách làm mọi công tác do Ban chỉ đạo điều hành. Đồng chí Nguyễn Văn Hanh – Trưởng phòng Cục Bảo vệ Quân đội được giao nhiệm vụ thống nhất quản lý các bộ phận có trách nhiệm trực tiếp phục vụ ở công trình 75A, 75B.

Cuối tháng 8 năm 1969, Ban chỉ đạo kiểm tra lại tất cả các công trình, các đơn vị và mọi công tác chuẩn bị. Sau đó, chúng tôi báo cáo với các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Trần Quốc Hoàn, Lê Văn Lương và Bộ Chính trị: Mọi công việc chuẩn bị đã hoàn tất với chất lượng cao nhất. Tất cả mọi người, mọi bộ phận, mọi công trình đều đã sẵn sàng cho tình huống xấu nhất xảy ra.

Trong thời gian này, thấy tình hình sức khỏe của Bác ngày càng giảm sút nghiêm trọng, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta đã điện thông báo cho Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, đề nghị Bạn cho đoàn y tế làm nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác Hồ sang Hà Nội ngay.

Ngày 28 tháng 8 năm 1969 đoàn cán bộ y tế Liên Xô đến Hà Nội. Đoàn do đồng chí X.X.Đê-bốp – Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, Phó chủ tịch Viện Hàn lâm y học Liên Xô, Viện trưởng Viện khoa học giữ gìn thi hài Lê-nin làm Trưởng đoàn. Ngay khi tới Hà Nội, đoàn đã được các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta tiếp đón và làm việc. Sau đó, đoàn tiến hành kiểm tra các Công trình 75A và 75B; kiểm tra công việc chuẩn bị của Tổ y tế đặc biệt. Sau khi kiểm tra xong, đoàn kết luận: Đã có đủ điều kiện để tiến hành công tác giữ gìn thi hài Bác giai đoạn đầu để phục vụ lễ viếng và lễ tang Bác. Đến lúc này, Ban chỉ đạo chúng tôi thực sự như trút được một gánh nặng.

Trong khi ấy ở phòng bệnh, hàng ngày các bác sĩ vẫn thay nhau theo dõi và chăm sóc sức khỏe của Bác; các đồng chí trong Bộ Chính trị vẫn tới thăm và báo cáo tình hình của cả nước với Bác. Mỗi tin chiến thắng từ chiến trường miền Nam đều làm cho Bác vui thêm.

Ngày 30 tháng 8 năm 1969, đồng chí Phạm Văn Đồng sang thăm và báo cáo với Bác tình hình chuẩn bị tổ chức ngày Lễ Quốc khánh 2- 9. Nghe báo cáo xong, Bác dặn: “Các chú phải nhớ bắn pháo hoa để động viên tinh thần nhân dân”. Nhưng do tình hình sức khỏe của Bác đang trầm trọng nh­ư vậy, ai còn tâm trạng nào để bắn pháo hoa nữa !

Ngày 31 tháng 8 năm 1969, nghe tin Bộ đội Phòng không bắn rơi máy bay không người lái của Mỹ (chiếc máy bay này bị bắn rơi ngày 30-8) Bác rất phấn khởi. Người nhắc Văn phòng Chủ tịch nước gửi ngay lẵng hoa chúc mừng và khen ngợi Bộ đội Phòng không. Các chiến sĩ Sư đoàn Phòng không 361 không ngờ rằng, đó là lẵng hoa cuối cùng mà họ thay mặt quân và dân ta được đón nhận từ lãnh tụ kính yêu.

Hôm đó, tâm trạng Bác rất vui, Người đã gắng ăn hết một bát cháo. Các đồng chí phục vụ bên Bác mừng khôn tả. Các bác sĩ chăm sóc Bác vừa ngạc nhiên, vừa lo lắng. Họ hiểu rằng, chính tin vui thắng trận đã tạo nên điều kỳ diệu đó, nhưng chỉ là tình trạng nhất thời.

Và thời điểm khắc nghiệt nhất đã đến.

Sáng 2 tháng 9 năm 1969, cả nước đang hân hoan trong ngày Quốc khánh, thì trong căn nhà nhỏ, giản dị, cách ngôi nhà sàn của Bác không xa, trên một chiếc giường gỗ trải chiếu đơn sơ, Bác Hồ kính yêu của cả dân tộc ta đang trút những hơi thở cuối cùng. Vây quanh Bác là các đồng chí trong Bộ Chính trị và Trung ương Đảng, các giáo sư, bác sĩ, nhân viên y tế được giao nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho Bác. Đồng chí Vũ Kỳ – người phục vụ thân cận nhất của Bác ngồi bên giường với chiếc quạt lá cọ trên tay không ngừng quạt nhẹ cho Bác.

Nhưng rồi, đúng 9 giờ 47 phút, trái tim Bác ngừng đập.

Chiếc quạt lá cọ rời khỏi tay, đồng chí Vũ Kỳ gục xuống khóc nức nở. Các bác sĩ vẫn không ngừng xoa bóp, hô hấp nhân tạo với hy vọng mong manh rằng, trái tim vĩ đại tràn đầy yêu thương của Bác sẽ đập trở lại. Nhưng tất cả đã vô vọng. Một giờ sau, khi trao đổi với các bác sĩ làm công tác cấp cứu, đồng chí Phạm Văn Đồng đau đớn khoát tay: “Thôi, các đồng chí để yên cho Bác nghỉ”. Tất cả mọi người có mặt bên giường Bác đều òa lên khóc nức nở.

Diễn biến tình hình về sức khoẻ của Bác đã liên tục được thông báo về 75A. Tại Công trình 75A, các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Lê Quang Đạo, Phùng Thế Tài và tôi luôn bám sát tình hình ở Phủ Chủ tịch qua máy điện thoại. Các chuyên gia Liên Xô và Tổ y tế đặc biệt được lệnh sẵn sàng.

10 giờ, tôi đau đớn buông máy điện thoại, nói với các anh có mặt tại 75A “Bác mất rồi”. Anh Phùng Thế Tài vừa khóc vừa ra lệnh cho mọi người: “Tất cả vào vị trí”.

Tôi cũng gạt nước mắt lao ra xe chỉ huy. Chúng tôi được lệnh cho xe tới Phủ Chủ tịch. Trên xe còn có các đồng chí Nguyễn Gia Quyền, Nguyễn Văn Châu, Nguyễn Trung Hát, Tổ y tế đặc biệt và đồng chí Đỗ Hải – Chính trị viên Tiểu đoàn 144.

Tới cổng Phủ Chủ tịch, đoàn xe dừng lại, riêng chiếc xe cứu thương mang biển số FH1468 do đồng chí Nguyễn Văn Hợp lái được lệnh đi tiếp. Xe vừa đến trước cửa ngôi nhà sàn của Bác, đã thấy đồng chí Trần Quốc Hoàn ra đón. Anh Hoàn ôm lấy tôi, vừa khóc vừa nói: “Sự việc xảy ra rồi! Các đồng chí phải bình tĩnh làm tốt nhiệm vụ của mình”. Khi nhìn thấy tôi và Tổ y tế đặc biệt, đồng chí Phạm Văn Đồng cũng vừa khóc, vừa vẫy tay: “Thôi, mọi người hãy dãn ra cho các đồng chí chuyên môn làm nhiệm vụ”.

Thấy Bác nằm thanh thản trên giường, nước mắt tôi trào ra. Nhưng tôi chợt hiểu rằng, đây là lúc mà mình phải tỉnh táo nhất; mình là cận vệ của Bác Hồ, lúc này mình phải bảo vệ Bác như tất cả những lần Bác đi công tác. Nghĩ vậy, tôi trấn tĩnh lại cùng các đồng chí trong Tổ y tế đặc biệt tiến vào. “Các đồng chí thận trọng” – Tôi nhắc nhở trong khi mọi người chuyển Bác từ giường sang cáng thương. Tôi vẫn đi bên cạnh Bác trên quãng đường từ nhà ra xe. Lúc này tôi không còn chú ý tới mọi người xung quanh. “Tất cả dãn ra cho Bác đi” – hình như tôi đã nói như vậy. Mọi người dãn sang hai bên tạo thành một đội danh dự. Đó là tất cả các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị – những người học trò ưu tú của Bác.

Khi Bác đã yên vị trên xe, tôi quan sát nhanh rồi ra lệnh: “Lên đường”. Chiếc xe nhẹ nhàng lăn bánh ra cổng Phủ Chủ tịch. Lúc đó, tất cả các xe đều giữ đúng vị trí, giữ đúng cự ly. Đoàn xe hộ tống Bác qua các phố Phan Đình Phùng, Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải, Lê Thánh Tông về 75A. Trên xe chỉ huy, tôi quan sát thấy phố phường Hà Nội vẫn bình yên, cuộc sống vẫn ồn ào, sôi động trong ngày Quốc khánh. Chưa ai biết một mất mát lớn lao, một nỗi đau khôn cùng đã đến với toàn dân tộc. Ở những ngã ba đường, tôi thoáng nhìn thấy các chiến sĩ cảnh vệ đang làm nhiệm vụ, họ đứng nghiêm khi đoàn xe đi qua. Nhìn ánh mắt những người lính, tôi hiểu rằng họ đang gửi lời chào vĩnh biệt Bác kính yêu. Là những người biết một cuộc chia ly lớn nhất trong lịch sử dân tộc đã tới, nhưng họ vẫn phải yên lặng, tỉnh táo. Họ là những chiến sĩ cảnh vệ đang bảo vệ cho một chuyến đi của lãnh tụ. Họ không được rời vị trí, không được để lệ rơi.

Khi xe dừng lại trước Công trình 75A, mọi người ùa ra đón. Tôi chỉ kịp nhảy xuống xe báo cáo với các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Lê Quang Đạo, Phùng Thế Tài: “Thưa các anh! Bác đã tới”.

Tôi đã nhiều lần được bảo vệ, tiếp cận Bác trong những chuyến đi công tác, nhưng chưa bao giờ có chuyến đi nào buồn đến như vậy. Suốt chặng đường từ Phủ Chủ tịch đến 75A, tôi luôn cắn răng tự nhủ với mình: “Không được khóc! Không được rơi nước mắt”. Nhưng lúc này, sau khi làm biên bản khám nghiệm xong, các chuyên gia y tế của Liên Xô và của Tổ y tế đặc biệt bắt đầu đưa thi hài Bác vào buồng đặc biệt thì tôi không sao kìm nén được nữa.

Trong buồng đặc biệt lúc đó có đoàn chuyên gia y tế Liên Xô, các đồng chí trong Tổ y tế đặc biệt, anh Phùng Thế Tài và tôi lui tới ra vào theo dõi tiến trình công việc để báo cáo kịp thời với các đồng chí lãnh đạo, đồng thời cũng làm nhiệm vụ chăm sóc các chuyên gia Liên Xô và Việt Nam.

Nội dung và yêu cầu chung của khoa học giữ gìn lâu dài thi hài là:

– Phải giữ được những nét đặc trưng của thi hài Bác như khi Người còn sống.

– Phải giữ thi hài được lâu dài.

– Phải đảm bảo được yêu cầu có thể để đông đảo người tới viếng thăm trong điều kiện môi trường bình thường.

Theo chúng tôi được biết, khoa học giữ gìn thi hài với nội dung và yêu cầu như thế thì trên thế giới cho đến lúc đó chỉ mới có Liên Xô làm được.

Các đồng chí trong Tổ y tế đặc biệt của Việt Nam đã từng là những nhà chuyên môn giỏi, được học tập, thực hành công tác giữ gìn thi hài trong hai năm có thể đảm đương nhiệm vụ, nhưng xuất phát từ tinh thần trách nhiệm cao, từ tấm lòng yêu kính Bác nên Giáo sư Viện sĩ Iu.M. Lô-pu-khin, Viện sĩ X.X. Đê-bốp và Giáo sư I.N. Mi-khai-lốp đã trực tiếp làm công tác y tế giữ gìn thi hài Bác cùng với sự phụ giúp của hai bác sĩ là Nguyễn Gia Quyền và Lê Điều – thành viên của Tổ y tế đặc biệt Việt Nam. Trong phòng im phăng phắc. Tôi như nghe được nhịp đập của trái tim mỗi người. Các đồng chí chuyên gia cũng rất xúc động. Sau khi mọi động tác chuẩn bị đã hoàn tất, mọi người đứng lặng trước Bác vài giây rồi đồng chí Iu.M. Lô-pu-khin mới ngẩng lên ra lệnh “bắt đầu”.

Có một điều đặc biệt là tuy tuổi cao, sức yếu nhưng hệ thống mạch máu của Người về cơ bản vẫn thông suốt đến các hệ thống mao mạch. Điều đó chứng tỏ sinh thời Người rất chăm chỉ rèn luyện thân thể. Đây cũng là một thuận lợi rất cơ bản cho công tác giữ gìn thi hài Bác. Bởi vì, để giữ gìn lâu dài, thi hài Bác phải được trau chuốt đến từng mao mạch. Đó là công việc hết sức tỉ mỉ. Các chuyên gia y tế Liên Xô đã làm công việc đó với một tấm lòng yêu thương, trân trọng lãnh tụ, với tinh thần khoa học rất cao và một tài năng tuyệt vời.

Sau này, mỗi khi ngoài trời đổ mưa là tôi lại có cảm giác ớn lạnh, rùng mình. Cuộc đời tôi tuy đã trải qua không ít những ngày gian khổ, hiểm nguy, trải qua không ít những đau thương, mất mát, nhưng chưa bao giờ tôi phải sống một ngày nặng nề, đau đớn đến vậy. Vào những ngày Bác mất, Hà Nội lúc nào cũng như bị đè nặng dưới một bầu trời u ám, sũng nước. Tin về nỗi đau lớn của dân tộc chưa được phép loan đi, nhưng dường như dần dần mọi người Hà Nội và cả cỏ cây thiên nhiên đều cảm được nỗi mất mát lớn lao đó.

Với tôi, ngày 2 tháng 9 năm 1969 là một ngày không thể nào phai mờ trong ký ức. Cũng từ ngày hôm đó, tôi hiểu ra rằng, nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ, nhất là bảo vệ những di sản tinh thần của Người vẫn là một nhiệm vụ trọng đại của những người lính thuộc thế hệ chúng tôi và rồi chúng tôi sẽ phải giao lại nhiệm vụ thiêng liêng ấy cho các thế hệ mai sau. Nhiệm vụ của người bảo vệ vì thế không chỉ dừng lại ở một không gian, thời gian nhất định. Bác đã ra đi, nhưng những người lính cận vệ của Người luôn ở bên Người, luôn sẵn sàng hành động để bảo vệ những giá trị thiêng liêng mà Người để lại cho dân tộc, cho Đảng và cho cả nhân loại. Đó là điều quan trọng mà tôi đã nhận thức sâu sắc được trong ngày bi tráng ấy.

Thiếu tướng Trần Kinh Chi
Nguyên Tư lệnh, kiêm Chính uỷ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi trong trái tim nhân loại

Lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã sinh ra nhiều anh hùng giải phóng dân tộc, nhiều người được vinh danh…

Người người nối tiếp nhau, viết lên trang sử vẻ vang cho dân tộc, trong đó Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị anh hùng vĩ đại nhất, trang sử Người để lại là trang sử vẻ vang nhất.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là anh hùng dân tộc vĩ đại, bởi vì, Người là người Việt Nam đầu tiên đã tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam, con đường cách mạng vô sản. Người sinh ra và lớn lên trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động của đất nước – giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, bao cuộc khởi nghĩa đấu tranh anh dũng, bất khuất giành độc lập và thống nhất Tổ quốc đều lần lượt thất bại. Phong trào cứu nước của nhân dân Việt Nam đứng trước một cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối. Nhà yêu nước tiền bối Phan Bội Châu đã sớm nhận rõ tư tưởng vĩ đại của người lãnh tụ mới của phong trào cách mạng Việt Nam Nguyễn Ái Quốc, đặt niềm tin vào Nguyễn Ái Quốc. Cụ từng nói với nhiều người khi đến thăm cụ ở Bến Ngự rằng: “… đời hoạt động cách mạng của tôi rốt cuộc là một thất bại lớn. Đó là bởi tuy tôi có lòng mà thực bất tài. Nhưng dân tộc ta thế nào rồi cũng độc lập. Nhất định phải thế. Hiện nay đã có người khác lớn hơn lớp chúng tôi nhiều, đứng ra đảm đương công việc để làm tròn cái việc mà chúng tôi không làm xong. Ông có nghe tiếng ông Nguyễn Ái Quốc không? Ông ấy còn thì nước ta nhất định sẽ độc lập. Vì ông ấy giỏi.”

Đúng như đánh giá của Phan Bội Châu, chính lúc đó, bằng sự mẫn cảm chính trị và qua tìm hiểu thực tiễn cách mạng thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vượt qua hạn chế của các bậc tiền bối, Người là người đầu tiên đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, đỉnh cao của văn hóa nhân loại, tìm ra con đường cứu nước cho cách mạng Việt Nam – cách mạng vô sản, đó là sự kết hợp chủ nghĩa yêu nước nồng nàn với chủ nghĩa quốc tế chân chính, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Từ đó, Người mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đồng thời cũng mở ra con đường giải phóng cho tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Không chỉ kế thừa, vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin vào phong trào cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn góp phần phát triển học thuyết của V.I Lênin về cách mạng thuộc địa, làm sáng tỏ mối quan hệ khăng khít giữa cách mạng vô sản ở chính quốc và cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa; đưa ra luận điểm về tính chủ động của cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa và khẳng định sự nghiệp đấu tranh giải phóng của nhân dân thuộc địa chỉ có thể thực hiện được bằng nỗ lực của bản thân các nước thuộc địa. Hơn thế nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định từ rất sớm: cách mạng thuộc địa không những không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc mà có thể tiến hành trước, và thắng lợi của nó sẽ “giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”

Đối với cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa Đảng lên vị trí đảng cầm quyền. Từ ngày Đảng ra đời, Người luôn chăm lo từng bước trưởng thành của Đảng, rèn luyện Đảng thành đội tiên phong vững vàng, sáng suốt của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập Mặt trận dân tộc thống nhất. Đó là khối đại đoàn kết dân tộc vững chắc, tạo ra sức mạnh vô địch vượt qua mọi thử thách khó khăn, chiến thắng mọi kẻ thù: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công”. Đây chính là tư tưởng chiến lược xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam. Mặt trận là nhân tố quan trọng bảo đảm cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam và góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập và rèn luyện Quân đội nhân dân Việt Nam thành một đội quân cách mạng “trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Những nhân tố quyết định trên đảm bảo vững chắc cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Mở đầu là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà – Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á, khẳng định vị trí của Việt Nam trên bản đồ thế giới, đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và tự do, sánh vai cùng các dân tộc đấu tranh không mệt mỏi cho một xã hội công bằng, tiến bộ, văn minh.

Tiếp đó, những thắng lợi vĩ đại, vang dội khắp năm châu của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX, đã đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam, là người anh hùng kiệt xuất trong lịch sử dân tộc. Công lao to lớn và sự nghiệp vĩ đại của Người gắn liền với lịch sử quang vinh của Đảng Cộng sản Việt Nam, với những trang hào hùng nhất trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người anh hùng dân tộc vĩ đại, đã đi vào lịch sử và sống mãi với muôn đời sau.

Vượt lên trên tất cả các bậc tiền bối, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là “biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội” , mà Người còn có “sự đóng góp quan trọng và nhiều mặt trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật” . Người là “kết tinh của truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc” , Người đã được ghi danh vào danh sách “các nhân vật trí thức lỗi lạc và các danh nhân văn hoá trên phạm vi quốc tế góp phần thực hiện các mục tiêu của UNESCO và đóng góp vào sự hiểu biết trên thê giới” như Nghị quyết 24C/18.65, phiên họp Đại Hội đồng UNESCO, khoá họp lần thứ 24 , tại Pari đã tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và khuyến nghị các nước thành viên cùng tham gia kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Người.

Thật khó mà tách rời Hồ Chí Minh – anh hùng giải phóng dân tộc với Hồ Chí Minh – nhà văn hóa kiệt xuất. Bởi vì, lãnh đạo toàn dân đánh đuổi giặc ngoại xâm, với vinh dự lớn là một nước nhỏ đã đánh thắng hai đế quốc to là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giải phóng nhân dân khỏi thân phận nô lệ, khỏi cái đói, cái rét, giành lại cho nhân dân Việt Nam những quyền sống của con người, một cuộc sống có văn hóa, đó không chỉ là một sự nghiệp chính trị phi thường của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà là cuộc đấu tranh không mệt mỏi của Người cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, chính là sự nghiệp văn hóa cao cả nhất.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, là nhà văn hóa kiệt xuất, kiến trúc sư của nền văn hóa mới Việt Nam, Người sớm nhận thấy vai trò và sức mạnh của văn hoá, đưa văn hoá vào chiến lược phát triển của đất nước. Để xây dựng một nền văn hoá mới, ngay từ khi nước nhà mới giành được độc lập (1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc là phát triển văn hóa, xoá mù chữ, nâng cao dân trí, phát triển giáo dục. Người nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Do vậy, phải chống giặc dốt đi đôi với chống giặc đói và chống giặc ngoại xâm, trước hết phải là xóa nạn mù chữ, để tất cả mọi người Việt Nam đều phải biết đọc, biết viết “Mọi người Việt Nam đều phải hiểu biết quyền hạn của mình, phải có kiến thức mới để tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà”. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn phát động phong trào xây dựng đời sống mới, để xây dựng một nền đạo đức mới, con người mới; chống những thói quen xấu và hủ tục lạc hậu; phát triển những thuần phong, mỹ tục mới trong nhân dân. Nền văn hoá mới mà Người chủ trương xây dựng là một nền văn hoá luôn hướng con người tới chân, thiện, mỹ, tới hoà bình và hữu nghị giữa các dân tộc, tới tình hữu ái giữa người với người.

Trên hành trình vạn dặm đi tìm chân lý, đến nhiều nước, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa, Người đã học tập và làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn văn hoá phương Đông và phương Tây. Người đã từng hấp thụ văn hoá nhân đạo và dân chủ của phương Tây, đặc biệt là tinh thần tự do, bình đẳng, bác ái của truyền thống văn hoá Pháp. Người trân trọng mọi giá trị văn hoá nhân loại, tôn trọng và chấp nhận những giá trị khác biệt với sự lựa chọn của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm đề ra chủ trương kế thừa truyền thống tốt đẹp của văn hoá dân tộc phải đi đôi với việc học tập và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá của nhân loại: “Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt, ta học lấy để tạo ra một nền văn hoá Việt Nam. Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hoá xưa và văn hoá nay, trau dồi cho văn hoá Việt Nam thật có tinh thần thuần tuý Việt Nam để hợp với tinh thần dân chủ ” .

Là linh hồn của công cuộc kháng chiến, kiến quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời xúc tiến công cuộc xây dựng nền văn hóa mới nước nhà với các tiêu chí: Dân tộc, khoa học và đại chúng. Người đã sáng tạo ra một thời đại mới, một nền văn hoá mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng là những giá trị đóng góp vào sự phát triển văn hoá của thế giới. Đi trước thời gian, nhiều chủ trương văn hoá được Người để ra rất sớm – từ giữa những năm 40 và 50 của thế kỷ XX, như: Xoá mù chữ, trồng cây, trồng người, phủ xanh đồi trọc, cải tạo môi trường sinh thái, v.v.., đến thế kỷ XXI này đã trở thành những vấn đề nóng, cấp bách, mang tính toàn cầu, mà nhân loại bắt buộc phải quan tâm, giải quyết.

Những tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hoá đang là kim chỉ nam cho chúng ta trong việc xây dựng một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đồng thời không ngừng mở rộng sự giao lưu văn hoá với thế giới.

Một trong những điều kiện giúp Chủ tịch Hồ Chí Minh hoạt động cách mạng, hoạt động văn hóa, tiếp thu tri thức nhân loại, là Người biết nhiều ngôn ngữ khác nhau, sử dụng một cách thành thạo trong viết văn, viết báo, làm thơ, viết kịch. Trải qua mấy chục năm học tập và rèn luyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng bước vươn lên tầm cao của trí tuệ thời đại để từ đó mà vận dụng và phát triển, sáng tạo và đổi mới, đóng góp vào kho tàng văn hoá thế giới những giá trị đặc sắc, in đậm dấu ấn Việt Nam – Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà thơ, nhà văn lớn. Thơ của Người phần lớn viết bằng tiếng Việt, có nhiều bài viết bằng chữ Hán, không chỉ là những những vần thơ tuyên truyền, đuổi giặc, mà thơ của Người còn thể hiện khát vọng tự do, công lý, cơm áo, hoà bình, cổ vũ cho cái đẹp và mối quan hệ nhân văn giữa người với người, đậm chất chữ tình, với nghệ thuật uyên bác. Đó là những nội dung chủ yếu làm nên thơ Hồ Chí Minh, với những giá trị nhân văn cao quý, toả sáng từ một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn. Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là nhà văn lớn, là người mở đầu và đặt nền móng cho nền văn xuôi cách mạng Việt Nam. Người viết nhiều thể loại: truyện ngắn, ký, kịch, tiểu phẩm, văn chính luận,… Ở lĩnh vực nào cũng có những thành công nổi trội. Văn chính luận của Người giàu tri thức văn hoá, giàu tính luận chiến, lập luận chặt chẽ, lý luận sắc sảo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là nhà báo vĩ đại, người thầy của báo chí cách mạng Việt Nam. Người rất khiêm tốn, không nhận mình là nhà báo, chỉ nhận mình là “người có duyên nợ với báo chí”. Chính Người đã sáng lập và là linh hồn của nhiều tờ báo cách mạng: Le Paria (1922); Thanh niên (1925); Việt Nam Độc lập (1941)… Với trên 60 bút danh khác nhau, Người đã viết hàng nghìn bài báo, góp phần thức tỉnh các dân tộc bị áp bức, truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, lên án chủ nghĩa thực dân, chỉ đạo phong trào cách mạng ở thuộc địa, hướng tới CNXH, giáo dục về CNXH, xây dựng kinh tế, bồi dưỡng con người mới… “Suốt đời, Hồ Chí Minh là người cầm bút, chiến đấu trên mặt trận văn hóa, báo chí, với một văn phong đa dạng nhiều sắc thái mà điểm nổi bật là tính quần chúng, cách suy nghĩ và diễn đạt dân gian, dễ hiểu, đi sâu vang vọng trong lòng người, gợi mở những tư tưởng lớn lao, thúc đẩy những việc làm tốt đẹp, bằng những lời lẽ bình dị giàu hình tượng, nói lên được điều lớn, bằng chữ nhỏ” .

“Văn hóa là sợi dây có khả năng nối liền nhân dân các nước và các dân tộc. Những tinh hoa văn hóa của một dân tộc đều là tài sản chung của nhân loại và ngược lại, những đỉnh cao văn hóa loài người là những của báu không dành cho riêng ai. Sự hiểu biết lẫn nhau, sự học tập và tôn trọng nhau xưa nay đều thể hiện sâu sắc qua văn hóa, nơi tập trung những biểu hiện rực rỡ nhất của tâm huyết và sức sáng tạo của con người” . Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng sự nghiệp hoạt động cách mạng, hoạt động văn hóa của mình, đã là người Việt Nam đầu tiên bắc nhịp cầu hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với các dân tộc trên thế giới.

Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà văn hóa và nhà cách mạng thống nhất hữu cơ làm một, tri thức văn hóa chỉ nhằm mục đích phục vụ cho hoạt động cách mạng. Không những vậy, chính yếu tố văn hóa trong con người Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm cho Người có một sức thu hút mạnh mẽ, một khả năng cảm hóa đặc biệt đối với người xung quanh, ngay cả đối với những người nước ngoài, dù cho từ đâu tới và thuộc hệ tư tưởng nào. Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà văn hóa lớn còn bởi vì chính bản thân Người, cuộc sống của Người, là hiện thân của nền văn hóa mới Việt Nam, là mẫu mực của con người mới Việt Nam và là đề tài không bao giờ cũ, là nguồn cảm hứng vô tận cho các nhạc sĩ, họa sĩ, nhà thơ, nhà văn, nhà báo… tạo ra những tuyệt tác, bởi vì, “ngay giữa cuộc đời mình”, Người đã đi vào truyền thuyết, “Cuộc sống của Người là một bài thơ đầy nét anh hùng ca” .

Là một vĩ nhân đã để lại dấu ấn đặc biệt trong thế kỷ XX, từ khi xuất hiện trên vũ đài chính trị (1919), đến khi từ biệt thế giới này (1969), sau đó 10 năm, 20 năm…sự kính trọng, ngưỡng mộ, đánh giá cao của nhân loại đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh không hề thay đổi. Một vài nhận thức của chúng tôi trên đây chỉ là đôi nét phác thảo về Chủ tịch Hồ Chí Minh-Lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, người Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất mà nhân loại đã ghi nhận. Cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh là tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam, đã và đang được các nhà nghiên cứu tiếp tục khai thác, nhằm phát hiện, tôn vinh những giá trị văn hóa, tư tưởng trong cuộc đời Người cho công cuộc bảo vệ và xây dựng cuộc sống mới hôm nay. “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”, Người sẽ sống mãi và đồng hành cùng dân tộc trên con đường “xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Hà Nội, tháng 5-2010

Theo TS. Chu Đức Tính, Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

baotanghochiminh.vn

Thay cho lời cám ơn

Sáng ngày 24 tháng 1 năm 2005, tại Lễ đón nhận danh hiệu Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ đổi mới, thay mặt Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh, tôi đọc bản báo cáo được chuẩn bị kỹ lưỡng, công phu, tóm lược và nêu bật những thành tích đặc biệt xuất sắc của đơn vị đã đạt được trong quá trình xây dựng và trưởng thành. Khi đề cập tới các yếu tố để đơn vị có được thành tích và phần thưởng cao quý, điều tôi nhắc tới đầu tiên và nhấn mạnh là đơn vị luôn luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt và sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của Đảng, Nhà nước và Quân đội, mà thường xuyên, trực tiếp là các đồng chí cán bộ cấp cao được Chính phủ, Bộ Quốc phòng phân công phụ trách.

Sau lời biểu dương và căn dặn của Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa, khi đáp lễ tôi trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự quan tâm đặc biệt của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội, của cá nhân đồng chí Đỗ Mười, nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nguyên Phó Thủ tướng, Trưởng ban phụ trách xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Với đồng chí Đỗ Mười, các thế hệ cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ công tác tại Lăng Bác đã từng được chứng kiến những đóng góp vừa chiến lược, vừa cụ thể của một đồng chí lãnh đạo qua nhiều cương vị khác nhau đối với công trình Lăng, Quảng trường Ba Đình và nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác. Sự có mặt của đồng chí trong buổi lễ trọng thể này càng có ý nghĩa động viên gấp bội khi tuổi đã cao và sức khoẻ trước đó của đồng chí Đỗ Mười chưa thật ổn định. Kết thúc buổi lễ, khi rời Hội trường, bước chậm rãi ra xe, đồng chí hỏi cụ thể thêm về tình trạng thi hài Bác, kết quả nghiên cứu thực nghiệm và khả năng hợp tác với chuyên gia Nga. Đồng chí căn dặn phải cải tiến công tác đón tiếp nhân dân sao cho thuận tiện và chu đáo, chăm lo đời sống cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên để mọi người yên tâm, hết lòng với công việc được giao.

Cũng như mọi khi, vào viếng Bác nhân dịp kỷ niệm lần thứ 116 Ngày sinh của Người, đồng chí Đỗ Mười chăm chú ngắm nhìn hồi lâu. Lúc ra đồng chí nhận xét thi hài Bác vẫn rất đẹp và hỏi vui: “Râu Bác có còn đủ không?”. Đồng chí lắng nghe và hài lòng khi tôi báo cáo về khả năng tự đảm nhiệm của đơn vị trong giai đoạn hiện nay.

*
*    *

Sự quan tâm đặc biệt, sự lãnh đạo chỉ đạo sâu sát của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng đối với nhiệm vụ chính trị của đơn vị là nhất quán và xuyên suốt.

Đồng chí Nguyễn Khánh, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã có thời kỳ được Chính phủ phân công trực tiếp chỉ đạo công tác ở Lăng. Với tác phong làm việc sâu sát, khoa học, đồng chí đã dành nhiều thời gian kiểm tra công việc, lắng nghe ý kiến cấp dưới, các nhà chuyên môn và đưa ra các ý kiến định hướng, chỉ đạo quan trọng.

Quá trình trực tiếp chỉ đạo công tác ở Lăng của đồng chí Nguyễn Khánh có thời điểm không thể nào quên. Đó là từ cuối năm 1990 đến khoảng giữa năm 1991, khó khăn tích tụ, tình hình rất khẩn trương.

Tại Liên Xô, quyền lãnh đạo Nhà nước của Đảng Cộng sản mất dần, từng bước rơi vào tay các lực lượng đối lập. Khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng và đã xuất hiện một tình thế chính trị đặc biệt – tình thế phản cách mạng. Nguy cơ Liên bang Xô Viết bị xoá bỏ đã hiện hữu.

Đối với Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đây là giai đoạn nhiều khó khăn, thách thức. Viện trợ không hoàn lại của Liên Xô cho hoạt động của công trình Lăng cùng với chế độ chuyên gia thường xuyên không còn nữa. Sự giúp đỡ quan trọng và rất hiệu quả của Bạn bị gián đoạn và có nguy cơ mất hẳn.

Ngày 10 tháng 7 năm 1991, đồng chí Nguyễn Khánh chủ trì cuộc họp quan trọng để thống nhất nhìn nhận, đánh giá tình hình, xác định chủ trương định hướng lớn, đưa ra các nội dung ưu tiên, bước đi cần thiết cả trước mắt và lâu dài. Ngay tại cuộc họp cũng như sau này, các đồng chí có mặt hôm đó đều hiểu rõ ý nghĩa đặc biệt quan trọng kết luận của Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Nguyễn Khánh. Kết luận thể hiện bản lĩnh vững vàng, quyết tâm rất cao trên cơ sở thực tiễn và khoa học đối với sự nghiệp giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác. Theo đó, trong tình hình mới, nhiệm vụ giữ gìn lâu dài và bảo vệ thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn là trọng trách của Bộ Quốc phòng, nhưng cần huy động khả năng chuyên môn của các nhà khoa học cả trong và ngoài quân đội. Tập trung nghiên cứu làm rõ những vấn đề đã có kết quả nhưng chưa thật đầy đủ, chưa thật chắc chắn về lý luận và thực tiễn. Bên cạnh đó, yêu cầu các Bộ, ngành có liên quan tăng cường đầu tư cho đơn vị xây dựng lực lượng và cơ sở nghiên cứu, cần thành lập ngay Hội đồng Khoa học cấp Nhà nước để tư vấn giúp Chính phủ, chỉ đạo công tác đặc biệt quan trọng này. Chủ động chuẩn bị để đủ sức tự đảm nhiệm công việc, nhưng vẫn tiếp tục duy trì mối quan hệ truyền thống, nhờ Bạn giúp đỡ khi khả năng này vẫn còn.

Những năm sau đó, bằng năng động sáng tạo, Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cụ thể hoá và đưa các chủ trương, định hướng trên thành hiện thực, vượt qua khó khăn thử thách, trụ vững và trưởng thành.

*
*    *

Cuối tháng 9 năm 1992, kỳ họp thứ nhất Quốc hội Khoá IX đã bầu Thủ tướng, các Phó Thủ tướng và phê chuẩn danh sách thành viên Chính phủ nhiệm kỳ mới. Phó Thủ tướng thường trực Phan Văn Khải được Chính phủ phân công trực tiếp chỉ đạo công tác ở Lăng. Ngay đầu tháng 10, đồng chí đã trực tiếp tham dự và chỉ đạo phiên họp đầu tiên của Hội đồng Khoa học bảo quản thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa có Quyết định thành lập trước đó ít ngày.

Đây là Hội nghị khoa học có ý nghĩa mở đầu một giai đoạn mới rất quan trọng, động viên và phát huy nội lực, đẩy nhanh quá trình tạo dựng khả năng tự đảm nhiệm việc giữ gìn lâu dài thi hài Bác.

Hội nghị được tổ chức giản dị nhưng trang trọng, chu đáo tại Nhà khách 19/5 trên đường Liễu Giai. Thành phần dự họp đều đến từ rất sớm và đông đủ. Phó Thủ tướng Phan Văn Khải cũng đến sớm, bước vào phòng họp với tác phong quen thuộc: Nhanh nhẹn, gần gũi và vui tính. Mọi người đứng dậy chào và được đồng chí đáp lại bằng cái bắt tay rất chặt và vỗ vai thân tình.

Đến giờ khai mạc, sau phần tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu là công bố Quyết định thành lập Hội đồng Khoa học bảo quản thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo đó, Hội đồng có nhiệm vụ tư vấn về các vấn đề, giải pháp khoa học nhằm bảo quản lâu dài thi hài Bác. Thành phần của Hội đồng gồm: Chủ tịch do đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Hưng Phúc, Giáo sư, Tiến sĩ, Phó Viện trưởng Học viện Quân y đảm nhiệm; các uỷ viên: Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Trung Phấn (Bộ Y tế); Giáo sư, Tiến sỹ Khoa học Hoàng Thuỷ Nguyên (Bộ Y tế); Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Phạm Ngọc Đăng (Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp); Tiến sĩ Nguyễn Hồng Vũ (Bộ Quốc phòng); Tiến sĩ Nguyễn Quang Tấn (Bộ Quốc phòng); Bác sĩ Chuyên khoa cấp 2 Đỗ Văn Dai (Bộ Quốc phòng) và 2 thư ký : Tiến sĩ Vũ Văn Bình (Bộ Quốc phòng); Tiến sĩ Đào Hữu Nghĩa (Bộ Quốc phòng). Trong Quyết định thành lập Hội đồng Khoa học còn có một số điều khoản quy định trách nhiệm, thẩm quyền của Trưởng ban Ban Quản lý Lăng, các Bộ trưởng có liên quan để đảm bảo cho hoạt động của Hội đồng và cộng tác viên.

Đồng chí Phan Văn Khải thay mặt Chính phủ phát biểu giao nhiệm vụ và chỉ đạo hoạt động cho Hội đồng Khoa học. Đề cập ngắn gọn tình hình quốc tế không thuận lợi, ý nghĩa và yêu cầu nhiệm vụ, đồng chí khẳng định quyết tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác trong bất kỳ hoàn cảnh nào, một nhiệm vụ đặc biệt đã và sẽ tiếp tục giao cho Quân đội với sự tin tưởng tuyệt đối “Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Đồng chí biểu dương những kết quả đã đạt được trong quá trình vươn lên làm chủ một số lĩnh vực về kỹ thuật và y tế, coi đó là cơ sở ban đầu để định ra chương trình, kế hoạch, nội dung và bước đi tiếp theo. Hội đồng Khoa học được thành lập không chỉ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ở thời điểm khó khăn hiện nay, mà phải xác định chiến lược lâu dài. Phó Thủ tướng nêu rõ trách nhiệm của Hội đồng vừa tư vấn, vừa hỗ trợ tối đa trong phạm vi chuyên môn được phân công, nhất là hỗ trợ cộng tác viên, trang thiết bị phục vụ nghiên cứu, bồi dưỡng đào tạo cán bộ. Về quản lý Nhà nước, đồng chí yêu cầu các Bộ, ngành có liên quan như Bộ Quốc phòng, Y tế, Khoa học – Công nghệ và Môi trường, Viện Khoa học Việt Nam có trách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện để Hội đồng hoạt động hiệu quả.

Ngay sau khi được giao nhiệm vụ và tiếp nhận ý kiến chỉ đạo của đồng chí Phó Thủ tướng, thay mặt các thành viên trong Hội đồng Khoa học, đồng chí Chủ tịch phát biểu xác định trách nhiệm, cảm ơn sự tin cậy và quan tâm của trên, hứa hẹn sẽ có những đóng góp xứng đáng. Cũng trong phiên họp đầu tiên này, Hội đồng giành thời gian thảo luận báo cáo của Ban Quản lý Lăng về phương án tự đảm nhiệm và những nội dung ưu tiên cần tập trung nghiên cứu, đồng thời thống nhất quy chế làm việc của Hội đồng.

Nhiều năm đã qua đi, song sự kiện thành lập Hội đồng Khoa học bảo quản thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ là một dấu ấn đậm nét thể hiện sự quan tâm đặc biệt, kịp thời, hiệu quả của Đảng và Nhà nước ta. Đây là thuận lợi lớn, yếu tố rất quan trọng, có ý nghĩa mở đầu một giai đoạn mới, phát huy nội lực, vượt qua khó khăn thách thức, tiếp tục hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị đặc biệt của Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời kỳ mới.

*
*    *

Ngay từ những năm đầu của thời kỳ đổi mới, trong khi tập trung lãnh đạo, chỉ đạo chấn chỉnh tổ chức- biên chế, nâng cao chất lượng tổng hợp và kỷ luật Quân đội, Đảng uỷ Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng vẫn dành sự quan tâm đặc biệt và kịp thời đối với nhiệm vụ của đơn vị, mà tiêu biểu là Nghị quyết 50 (tháng 2 năm 1988). Đó là Nghị quyết chuyên đề về lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tình hình mới. Tổ chức thực hiện Nghị quyết, bên cạnh lãnh đạo, chỉ huy đơn vị, gắn bó và chỉ đạo trực tiếp đơn vị có đồng chí Trung tướng, Phó Tổng Tham mưu trưởng Trần Hanh.

Được Bộ phân công, với tác phong sâu sát, đồng chí Trung tướng Trần Hanh dành nhiều thời gian kiểm tra công việc, tham dự các hội nghị Đảng uỷ, hội nghị khoa học và cả các cuộc họp sơ kết quý, 6 tháng và tổng kết năm của đơn vị. Khi bàn công việc, đồng chí điềm tĩnh lắng nghe ý kiến nhiều chiều, chắt lọc, cân nhắc thận trọng, rồi nhẹ nhàng, nhưng sâu sắc phân tích, đưa ra những gợi ý hoặc ý kiến chỉ đạo. Quá trình phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ ở thời điểm trước, trong và sau khi Liên Xô tan rã, khi nhìn nhận đánh giá tình hình, lúc bàn chủ trương và cơ chế tiếp tục hợp tác với Bạn, kế hoạch và nhiệm vụ ưu tiên nâng cấp Viện 69… những đóng góp của đồng chí Trần Hanh rất thiết thực, cụ thể.

Có một sự kiện ở thời điểm nhạy cảm gắn liền với sự chỉ đạo của Trung tướng Trần Hanh – Phó Tổng Tham mưu trưởng. Đó là đầu năm 1992, khi nhóm chuyên gia y tế của Bạn không kịp sang giúp ta làm thuốc thường xuyên thi hài Bác, chúng ta vừa lo tự đảm nhiệm, vừa tính toán để có thể tiếp nhận và quản lý dung dịch đặc biệt như một người chủ thực thụ. Đồng chí Trần Hanh dành nhiều thời gian làm việc với lãnh đạo, chỉ huy Bộ Tư lệnh, bàn kỹ, bàn cụ thể từ ý định, quyết tâm và cách làm, đến phân công tổ chức thực hiện. ở đồng chí, ngoài lo toan chung như những người trong cuộc, còn có sự cân nhắc cẩn trọng của một người anh cả dày dạn kinh nghiệm. Đồng chí đã căn dặn mọi người lưu ý khi làm việc với người đại diện của Bạn cần có bước thăm dò, bên cạnh cơ sở pháp lý cần vận động thuyết phục bằng tình cảm và nhất là phải khẩn trương nhưng không được nóng vội.

Việc tổ chức thực hiện chuyển giao dung dịch đặc biệt từ Bạn sang ta đã diễn ra đúng với dự kiến. Sau khi Bạn đồng ý chuyển giao, chúng ta đã tiếp nhận đầy đủ, chu đáo và đảm bảo an toàn tuyệt đối.

Sự kiện này bắt đầu một thời kỳ mới – thời kỳ đẩy nhanh quá trình làm chủ toàn diện và vững chắc nhiệm vụ giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

*
*    *

Khác với mọi khi, tu bổ định kỳ tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh năm nay được tiến hành sớm và đẩy nhanh tiến độ, kịp phục vụ lễ viếng của các Đoàn đại biểu sang dự Hội nghị APEC – 14. Hà Nội dịp này được trang trí đẹp. Lăng Bác và Quảng trường Ba Đình thắm đỏ màu cờ và rực rỡ sắc hoa.

Trong đoàn kiểm tra chuẩn bị mở cửa Lăng sau tu bổ định kỳ, tôi yên tâm thấy mọi việc đã hoàn tất, từ công tác y tế, kỹ thuật, an ninh – nghi lễ, đón tiếp tuyên truyền đến đảm bảo vệ sinh, cảnh quan môi trường. Chất lượng và tiến độ công việc khẳng định thêm khả năng làm chủ toàn diện, vững chắc của các lực lượng phục vụ tại Lăng.

Tất cả đã sẵn sàng, để ngày mai, sau buổi kiểm tra lần cuối của Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng – người vừa được Thủ tướng phân công trực tiếp chỉ đạo công tác ở Lăng, Lăng Bác mở cửa đón khách.

Ngắm nhìn Lăng Bác với vóc dáng uy nghiêm nhưng gần gũi vốn có, thêm những nét đẹp vừa mới được tôn tạo, trong tôi một niềm tin thật rõ ràng: Bác là vĩnh hằng và Người đang rất vui chứng kiến đất nước đổi mới, hội nhập và phát triển.

Thiếu tướng Đào Hữu Nghĩa
Trưởng ban Ban Quản lý Lăng, kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Bên Lăng Bác Hồ

Lời nói đầu

Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là đơn vị quân đội làm nhiệm vụ chính trị đặc biệt: Giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác, công trình Lăng của Người và tổ chức đón tiếp đồng bào và khách quốc tế đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đáp ứng nguyện vọng, tình cảm của đồng bào, chiến sĩ cả nước.

Phát huy bản chất truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế hệ cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ của đơn vị trong mọi hoàn cảnh luôn trung thành tuyệt đối với Đảng, với Bác Hồ, một lòng một dạ phục vụ nhân dân, đoàn kết, chủ động, sáng tạo vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vinh dự được Đảng và Nhà nước trao tặng những phần thưởng cao quý: Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Giải thưởng Nhà nước về Cụm công trình khoa học- công nghệ giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh; Viện 69 được tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng Lao động; Đoàn 195 được tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Năm 2004 Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được Đảng, Nhà nước trao tặng danh hiệu cao quý: Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ đổi mới.

Nhân dịp kỷ niệm 30 năm Ngày truyền thống Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (29/8/1975- 29/8/2005) và đón nhận danh hiệu Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ đổi mới, Bộ Tư lệnh đã phát động Cuộc vận động sáng tác về đề tài Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; lựa chọn những bài viết trong Cuộc vận động sáng tác và một số tác phẩm, bài viết của chuyên gia Nga, phóng viên, nhạc sĩ xuất bản cuốn sách Bên Lăng Bác Hồ.

Cuốn sách góp phần tái hiện một cách trung thực, sinh động những chặng đường xây dựng và trưởng thành, thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị dưới sự lãnh đạo chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng. Đó là những trang viết đầy xúc động khi tác giả chứng kiến giờ phút đau thương của toàn dân tộc vĩnh biệt Bác kính yêu; nén đau thương, cùng chuyên gia Bạn làm nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác trong những ngày đầu. Đó là những dấu ấn sâu đậm về công tác bảo vệ, công tác kỹ thuật trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, những cuộc hành quân bí mật đến nơi căn cứ nằm sâu trong núi rừng. Tiếp đến là thời kỳ thực hiện nhiệm vụ tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, một nhiệm vụ khó khăn chưa có tiền lệ ở Việt Nam. Một số sự kiện đã được kể lại một cách chân thực giúp người đọc hình dung những công việc thầm lặng được thực hiện với ý chí độc lập tự chủ, chủ động, sáng tạo vượt qua thử thách, vươn lên làm chủ nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Bác.

Tập sách được xuất bản vào dịp kỷ niệm 62 năm Ngày Quốc khánh, 38 năm Ngày Bác đi xa là tình cảm thiêng liêng, lòng biết ơn sâu sắc của cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, những người trực tiếp được làm nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác và công trình Lăng của Người kính dâng lên Đảng, Bác Hồ muôn vàn kính yêu, là món quà tinh thần gửi tới đồng bào, đồng chí cả nước.

Nhân dịp cuốn sách xuất bản, Thường vụ Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh chân thành cảm ơn các đồng chí tướng lĩnh, các cán bộ, công nhân viên đã dành công sức, thời gian ghi lại hồi ức, hồi ký, kỷ niệm của mình về Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; cảm ơn Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã giúp đỡ, tạo điều kiện để cuốn sách được xuất bản.

Chúng tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp của bạn đọc và nhận được những bài viết mới về Bộ đội Bảo vệ Lăng cho những tập sách tiếp theo.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc !

Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Hồ Chí Minh – Nhà văn hóa lớn

Theo nhận thức chung thì: danh nhân văn hóa là những con người, những nhân vật nổi tiếng, kiệt xuất, có cống hiến lớn lao cho nền văn hóa dân tộc, được lịch sử, dân tộc biết đến, ghi nhận và đánh giá cao; là đại diện, biểu trưng cho một nền văn hoá dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là danh nhân văn hoá bởi tư tưởng sự nghiệp của Người đã trở thành văn hoá và tư tưởng văn hoá đó, vượt giới hạn của không gian, thời gian, mang giá trị vô giá, vĩnh cửu. Tại khoá họp lần thứ 24, ngày 20/11/1987, Nghị quyết của UNESCO (Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên hợp quốc) đã khẳng định: Năm 1990 sẽ được đánh dấu bằng lễ kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam và là một nhà văn hóa kiệt xuất. Tổ chức đại diện của trên một trăm quốc gia với các chế độ chính trị, xã hội khác nhau và những nền văn hóa khác nhau đã thừa nhận hai vĩ nhân trong Hồ Chí Minh: vừa là anh hùng giải phóng dân tộc, vừa là danh nhân văn hóa. Mỗi dân tộc, mỗi nền văn hóa dân tộc có thể có nhiều danh nhân văn hóa, song rất hiếm người cùng lúc đạt hai danh hiệu như vậy.

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hoá, nhưng tổng hợp lại thì văn hoá là nhằm “hoá thành văn minh, thoát khỏi dã man”. Vươn lên thoát khỏi “sự dã man”, dù đó là trong cuộc sống tự nhiên hoặc bởi cuộc sống nô lệ, luôn là ý chí của con người ngay từ thuở còn sơ khai. Và mọi sáng tạo văn hoá đều bắt nguồn từ cuộc đấu tranh mang ý chí giành lấy cuộc sống có nhân cách và tự do của con người. Đồng thời mọi sáng tạo văn hoá cũng đều nhằm phục vụ mục tiêu giải phóng con người thoát khỏi vòng nghèo nàn và lạc hậu, thoát khỏi ách nô lệ áp bức. Khởi xướng cuộc đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi với tinh thần “văn minh chống bạo tàn”. Bởi vậy, Hồ Chí Minh là nhà văn hoá lớn trước hết vì một sự nghiệp văn hóa cao cả: luôn nỗ lực đấu tranh không ngừng để giải phóng con người khỏi sự tối tăm và lạc hậu; khỏi mọi áp bức, bóc lột và bất công tàn bạo; luôn mưu cầu tự do, hạnh phúc cho tất cả mọi người. Người mong mỏi làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành; mong nhân dân biết sống có tình có nghĩa đồng bào; Hơn thế còn là sự ước muốn cho mọi người cần lao trên trái đất, không phân biệt màu da, sắc tộc, được sống đời tự do. Từ những năm 20 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã coi văn hóa vừa là mục đích, vừa là phương tiện của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Với bút danh Nguyễn Ái Quốc, Người đã là tác giả của hàng trăm bài báo, thơ, tranh đả kích trên các trang báo Người cùng khổ, báo Nhân đạo, … lên tiếng tố cáo tội ác dã man của chủ nghĩa thực dân đối với nhân dân Việt Nam, nhân dân ở các nước thuộc địa, cũng như nhân dân lao động ở chính quốc. Người đã sử dụng ngòi bút để thức tỉnh, kêu gọi những con người đang bị đè nén, bị bóc lột đứng lên đấu tranh giành lấy quyền con người với đúng nghĩa của nó. Hồ Chí Minh đã đưa ánh sáng văn hóa đến với những người cần lao, để họ đến với cách mạng, giúp họ hiểu và thực hiện có hiệu quả việc tự giải phóng bản thân. Cả cuộc đời Người cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại, giải phóng con người. Trong hội thảo quốc tế, kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Hồ Chí Minh tại Hà Nội, Tổng giám đốc UNESCO đã khẳng định: “Chỉ có ít nhân vật trong lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh là một trong số đó. Người sẽ được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ, mà còn là một nhà hiền triết hiện đại đã mang lại viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đấu tranh không khoan nhượng, để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này“.

Sự nghiệp giành độc lập cho dân tộc được thực hiện thì nền văn hoá dân tộc được phục hưng. Với tầm nhìn chiến lược của một nhà văn hoá: không chỉ để phục hưng mà còn phát triển nền văn hoá của dân tộc Việt Nam lên tầm thời đại, góp phần làm phong phú thêm nền văn hoá của các dân tộc trên thế giới,

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khởi xướng và trực tiếp lãnh đạo sự nghiệp xây dựng nền văn hoá mới của nước ta theo phương châm và nguyên tắc “dân tộc, khoa học, đại chúng” (Đề cương văn hóa Việt Nam nam 1943). Nắm được các nhu cầu cơ bản và cấp thiết của quần chúng, Người đã quan tâm tới việc đưa văn hoá vào đời sống sinh hoạt của người dân: từ vận động thanh toán giặc dốt, đến phát động phong trào đời sống mới, cải cách lối sống và phong cách làm việc, thực hiện chủ trương “Kháng chiến hóa văn hóa và văn hóa hóa kháng chiến“… Mọi hoạt động trên lĩnh vực văn hóa, văn nghệ đều lấy dân làm đối tượng phục vụ. Giải phóng về văn hóa chính là giải phóng triệt để cho con người và phát triển con người, mà trước hết là những con người cùng khổ. Bởi nạn đói, nạn dốt chính là căn nguyên của cuộc sống tối tăm và nô lệ cả ở góc độ tự nhiên và quan hệ xã hội; là mối hoạ không chỉ với ở những nước nghèo đói chậm phát triển, mà còn ngay ở các cường quốc có nền kinh tế và khoa học phát triển. Theo Hồ Chí Minh văn hóa là mục đích cuộc sống, giúp con người tồn tại và phát triển: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng chúng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” 1.

Được tiếp xúc với nhiều nền văn hoá lớn trên thế giới, Hồ Chí Minh đã dành thời gian, dày công nghiên cứu văn hoá của phương Đông và phương Tây, tìm hiểu các tôn giáo khác nhau để học hỏi làm giàu vốn tri thức của bản thân bằng kho tàng kiến thức mà nhân loại đã sáng tạo, đúc kết nên trong quá trình hình thành và phát triển. Để nghiên cứu và học hỏi từ những nền văn hoá đó Người đã làm chủ và sử dụng thành thạo nhiều ngôn ngữ khác nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh trân trọng tất cả các nền văn hoá, nhưng tiếp thu một cách có chọn lọc, gạn đục khơi trong, kiểm nghiệm, vận dụng và sáng tạo trong thực tiễn. Người tìm thấy điểm gặp gỡ và giao thoa giữa hai nền văn hoá phương Đông và phương Tây, giữa các tôn giáo, các học thuyết chính trị, các vị lãnh tụ, các chính khách lớn

Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó là chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên cõi đời này, nếu họ họp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mĩ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy” 2.

Nhận là “ngưòi học trò nhỏ” của các bậc vĩ nhân của nhân loại, đặc biệt quan trọng là của Mác và Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện thái độ, sự khiêm nhường của một nhà văn hoá lớn. Cũng trong sự khiêm nhường học hỏi đó, Hồ Chí Minh đã tìm ra một phong cách ứng xử văn hoá cho riêng mình – một phong cách mang dấu ấn Hồ Chí Minh đậm nét trong cả quá khứ, hiện tại và tương lai. Dấu ấn văn hoá đó, từ năm 1923 được nhà báo Liên Xô Ô-xíp Man-đen-xtam nhận xét: “Từ Nguyễn Ái Quốc toả ra một thứ văn hoá, không phải văn hoá Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hoá tương lai” 3.

Nhận xét này chỉ có thể giải thích bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp xúc và hấp thụ những giá trị tiến bộ của văn hóa nhân loại trên nền văn hóa truyền thống hàng nghìn năm phát triển của dân tộc Việt Nam. Đó là nhân tố cơ bản và hành trang xuyên suốt trong cuộc đời nhà văn hoá kiệt xuất Hồ Chí Minh. Và cho dù ở thời điểm nào, phong cách giao tiếp ứng xử cũng như văn phong của Hồ Chí Minh luôn thể hiện bản chất, sắc thái Việt Nam, nhưng lại rất hiện đại phù hợp với thực tế. Văn hóa truyền thống Việt Nam và sự tiếp thu, kế thừa tinh hoa văn hóa nhân loại đưa tới một nền văn hoá tương lai nơi Hồ Chí Minh. Nhờ sự hiểu biết sắc thái, tôn trọng những đặc điểm văn hoá khác nhau của văn hoá phương Đông, phương Tây trong mọi thời đại mà trong mọi cách xử thế, Hồ Chí Minh đã giải quyết thành công các vấn đề lớn thuộc về chính trị, tôn giáo, dân tộc ở trong nước cũng như trong quan hệ quốc tế. Theo Người, trân trọng mọi giá trị của văn minh nhân loại, hài hoà giữa lợi ích cá nhân, dân tộc và nhân loại cũng chính là để mưu cầu hạnh phúc cho con người. Vì thế, Hồ Chí Minh luôn là biểu tượng của văn hoá, nhân cách, trí tuệ và tâm hồn Việt Nam “đậm chất nhân văn, giàu lòng vị tha và bác ái”. Dù đã từng được gặp hay chỉ được nghe kể thì tất cả đều bị cuốn hút bởi Người như nhận xét của Tiến sĩ M.Amét, Giám đốc UNESCO Khu vực châu Á – Thái Bình Dương “Hồ Chí Minh đã thành công trong việc liên kết nhiều sắc thái văn hóa vào một nền văn hóa Việt Nam duy nhất. Người đã làm được việc này nhờ sự hiểu biết sâu sắc và tôn trọng những đặc điểm văn hóa khác nhau“.

Nhưng không dừng ở đó, Hồ Chí Minh là nhà văn hoá kiệt xuất còn bởi tư cách là chủ thể sáng tạo văn hoá. Từ vốn sống thực tế và sự hiểu biết phong phú về văn hoá trong quá trình học tập nghiên cứu, đặc biệt khi đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, tinh hoa của văn hoá nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng tạo ra một nền văn hoá mới – nền văn hoá cách mạng trong lịch sử dân tộc. Trong nền văn hoá đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã là người sáng lập ra nhiều tờ báo cách mạng đầu tiên ở Việt Nam, là người đặt nền móng cho nền giáo dục văn học, thơ ca cách mạng của nước ta. Bằng những tác phẩm mang tầm vóc lớn lao của một nhà văn, nhà thơ, nhà giáo dục, Người đã đóng góp những giá trị đặc sắc vào kho tàng văn hóa thế giới, nhưng in đậm bản sắc văn hoá Việt Nam. Sáng tạo văn hoá của Chủ tịch Hồ Chí Minh có mặt ở nhiều thể loại: từ tiểu thuyết tới truyện ngắn, từ thơ tới kịch, từ văn chính luận tới bút ký … Và ở lĩnh vực nào sự sáng tạo đó cũng đạt tới trình độ bậc thầy với tầm nhìn thời đại, vì thế luôn mang tính thời sự và giá trị thực tiễn sâu sắc. Sáng tạo văn hoá của Người thực chất là sự sáng tạo vì cuộc đời và con người, vì hạnh phúc của nhân dân; là làm sao cho mỗi người biết hướng thiện và hoàn lương; biết kết đoàn, chung lưng đẩy lùi cái xấu xa, tàn bạo, phi nhân tính, để cùng nhau xây dựng một đất nước giàu mạnh, một xã hội công bằng, văn minh – một xã hội mà trong đó: “Mọi người vì mỗi người, mỗi người vì mọi người” và “sống để cho nhau”. Sáng tạo văn hoá của Hồ Chí Minh luôn có mặt chủ thể con người với khát vọng tự do, công lý, hoà bình, ấm no, hạnh phúc …. điều đó đã làm nên giá trị nhân văn của một nhân cách lớn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà văn hoá kiệt xuất còn với tư cách là khách thể trong sáng tạo văn hóa. Khi còn sống cũng như lúc đã đi xa, Người luôn là một tấm gương sáng ngời về đạo đức, tác phong để chúng ta học tập và noi theo. Hình ảnh cao quý, tư tưởng vĩ đại của Người luôn có sức cảm hoá lớn và là niềm cảm hứng, là đề tài vô tận cho sự sáng tác của các nhà văn, các hoạ sỹ, các nhà lý luận …

Hình ảnh “anh hùng giải phóng dân tộc” và “danh nhân văn hoá” đã hoà quyện tạo nên một nét riêng độc đáo ở Hồ Chí Minh không chỉ là trong quá khứ, mà đang sống ở hiện tại và sẽ tiếp tục toả sáng trong nền văn hoá tương lai, như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhận định “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một kho tàng đầy của báu, là di sản chứa đựng bao giá trị, giá trị đó, nói cho cùng là giá trị văn hoá mà chúng ta khai thác chưa được bao nhiêu“. Người đã để lại không chỉ cho nhân dân Việt Nam, còn để lại cho nhân loại một di sản tư tưởng văn hoá vô giá, có giá trị bền vững, như Nghị quyết khoá họp lần thứ 24 của tổ chức UNESCO đã viết “… Sự đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh của truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau…”. Với tinh thần đó Hồ Chí Minh không chỉ thuộc về dân tộc Việt Nam, mà còn là của nhân loại. Để minh chứng cho điều đó, chúng ta hãy kiểm nghiệm trong thực tế để nhận thấy rằng rất nhiều công trình tưởng niệm, những không gian Hồ Chí Minh đang phát triển rộng khắp không chỉ ở trong nước mà còn ở nhiều nước trên thế giới. Đặc biệt, một trong những Đề án lớn của “Năm Ngoại giao Văn hoá – 2009” là “Tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hoá kiệt xuất, ở nước ngoài“. Ngay từ những ngày đầu xuân Kỷ Sửu này chúng ta đã có những dự án hợp tác mới trong việc dựng tượng và xây dựng không gian, nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở một số nước như Mêhicô, Mông Cổ, Lào…

Tóm lại, Hồ Chí Minh là một nhà văn hoá lớn chính bởi sự kết hợp hài hoà giữa dân tộc với quốc tế, giữa giai cấp với nhân loại, giữa truyền thống với hiện đại trên cơ sở chủ nghĩa nhân văn vì hạnh phúc và sự hoàn thiện của con người.

—————-

1. Hồ Chí Minh toàn tập, T.3, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tr.431
2. Trần Dân Tiên. Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch. Bản tiếng Trung văn. Nxb Bát Nguyệt xã. Thượng Hải 1949.
3. Sđd, T.1, tr. 478

Theo Nguyễn Thúy Đức

baotanghochiminh.vn

Những kỷ niệm về Bác Hồ của Giáo sư – bác sỹ Tôn Thất Tùng

Giáo sư – bác sĩ Tôn Thất Tùng sinh ngày 10 tháng 5 năm 1912, tại Thanh Hoá. Ông lớn lên ở Huế. Khoảng năm 1931, ông ra Hà Nội, học ở Trường Bưởi (nay là Trường Chu Văn An) và sau đó là Trường Y.

080916154051-165-747.jpgChủ Tịch Hồ Chí Minh và một số vị trong Chính phủ kháng chiến ở Việt Bắc năm 1948. GS Tôn Thất Tùng, người thứ hai hàng trước, từ phải sang, mặc áo sơ-mi cổ bẻ, hai túi ngực, lúc bấy giờ giữ chức Thứ trưởng Bộ Y tế. (Ảnh: hochiminhhoc.com)

Ông muốn sau này sẽ làm một nghề “tự do”, không phụ thuộc vào đám quan lại hay chính quyền thực dân. Năm 1938, khi thực dân Pháp tổ chức thi nội trú cho các bệnh viện, ông là người duy nhất được nhận. Ông đã chọn Khoa Ngoại, Trường đại học Y khoa Hà Nội (nay là Bệnh viện Việt – Đức, Hà Nội) là nơi làm việc của mình.

Ngày 19 tháng 8 năm 1945, Cách mạng Thánh Tám nổ ra tại Hà Nội, ông tham gia cướp chính quyền tại Bệnh viện Phủ Doãn, tham gia mổ xẻ ở Hà Đông và chữa bệnh cho các đồng chí Việt Minh ở Bắc Bộ phủ, những nơi mà chính quyền của ta chiếm lại được.

Trong những ngày bừng bừng khí thế của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lần đầu tiên ông được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông được mời đến chữa bệnh cho Bác. Tại cuộc gặp gỡ này, một “ông già gầy xanh, nhưng có đôi mắt rất sáng” ấy đã để lại trong ông một ấn tượng và niềm tin sâu sắc. Và cũng chính từ lần gặp ấy, “dưới ánh sáng của đôi mắt Bác Hồ”, tâm hồn ông đã đi theo cách mạng.

Mỗi khi đến chữa bệnh cho Bác, sau khi tiêm thuốc xong, Bác hay hỏi chuyện ông về công việc và gia đình. Khi biết tin ông đã có con trai đầu lòng, Bác nói: “Để tôi đặt tên cho nó. Tên chú có bộ mộc, nên đặt cho con chú tên Bách”1

Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ông được cử giữ chức Giám đốc Bệnh viện Phủ Doãn, Hà Nội. Cũng như các trí thức khác của nước ta, Giáo sư – bác sĩ Tôn Thất Tùng luôn luôn được Bác quan tâm, giúp đỡ và đặt nhiều niềm tin.

Không lâu sau ngày nước nhà giành được độc lập, thực dân Pháp bội ước, ngày 23 tháng 9 năm 1945, chúng tái chiếm Nam Bộ. Ngày 19 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Cả dân tộc ta lại tiếp tục một cuộc chiến đấu mới, trường kỳ và gian khổ chống thực dân Pháp xâm lược. Cũng từ đây ông bắt đầu đi theo kháng chiến, lên chiến khu Việt Bắc cùng với gia đình.

Những năm đầu của cuộc kháng chiến, để tránh sự tàn phá ngày càng dữ dội và ác liệt của bom đạn địch, ông cùng đồng nghiệp phải di chuyển chỗ ở và làm việc nhiều lần, tới nhiều nơi. Cuộc sống cũng như điều kiện làm việc lúc đó vô cùng khó khăn, thiếu thốn, lúc thì ở Hoà Xá, Sơn Tây, khi thì lên Phú Thọ, Chiêm Hoá, Tuyên Quang, v.v.. Tuy vậy, ông vẫn cùng Giáo sư Hồ Đắc Di (là thầy giáo của ông và một nhà phẫu thuật giỏi) xây dựng Trường đại học Y khoa kháng chiến tại làng Ải, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang.

Ông tham gia cứu chữa cho nhiều thương bệnh binh ở các mặt trận, trên các chiến trường, từ Sông Lô, Hoàng Hoa Thám cho đến chiến dịch Điện Biên Phủ. Ông cũng cùng các đồng nghiệp của mình chữa bệnh cho nhân dân ở nhiều địa phương. Có lần ông cùng các đồng nghiệp mổ liên tiếp trong suốt hai ngày đêm liền. Cuốn sách “Viêm tụy cấp tính và phẫu thuật” của ông là cuốn sách khoa học đầu tiên của nước ta được xuất bản khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mới được thành lập. Một cuốn sách thuộc về ngành y.

Cũng như nhiều nhà khoa học khác, trong cuộc đời cách mạng của mình, Giáo sư – bác sĩ Tôn Thất Tùng đã có nhiều lần được gặp Bác, được Bác ân cần chỉ bảo và quan tâm chăm sóc. Ông có một kỷ niệm đặc biệt về Bác, một vinh dự mà rất ít người có được, đó là ông được Bác cho phép tự chọn huân chương cho mình.

Năm 1949, bác sĩ Đặng Văn Ngữ từ Nhật về có mang theo hai chủng nấm Pê-nê-xi-lin nô-ta-tum và Strep-tô-mi-xét Gri-dê-ut. Pê-nê-xi-lin nô-ta-tum và Strep-tô-mi-xét Gri-dê-ut dễ gây kháng sinh Pê-nê-xi-lin và Strep-tô-mi-xin mà Quân y ta đang rất cần. Lúc đó ở Việt Bắc còn nhiều khó khăn và dụng cụ y tế còn rất thô sơ. Sau khi thí nghiệm thành công, mỗi chiến dịch, quân y đưa ra tiền tuyến một tổ Pê-ni-xi-lin, để sản xuất kháng sinh dùng ngay ở mặt trận. Đây là một thành tích kỳ diệu mà từ trước đến nay trong các cuộc chiến tranh du kích chưa ai làm được.

Bác rất quan tâm tới việc sản xuất thành công thuốc kháng sinh Pênêxilin, một loại thuốc quý dùng để chữa bệnh cho thương binh. Vì thành tích đó, bác sĩ Đặng Văn Ngữ và ông được thưởng huân chương. Bác sĩ Đặng Văn Ngữ được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Ba. Còn với ông, Bác nói: “Bác cho phép chú lựa một huân chương nào mà chú muốn, chú tự bình bầu đi!”2. Ông đã tự chọn cho mình Huân chương Kháng chiến hạng Ba. Mấy hôm sau, vào một buổi tối, Bác mời Hội đồng Chính phủ đến dự bữa cơm để trao huân chương cho ông. Bác mời cụ Tôn Đức Thắng gắn huân chương. Bác nói: “Chú Tùng là một xi-đờ-văn (cidevant, danh từ mà cách mạng Pháp 1789 dành cho các nhà quý tộc) mà nay được Chính phủ ta tặng huân chương. Chú phải cố gắng hơn nữa!”.

Nhận Huân chương Kháng chiến đầu tiên là kỷ niệm đẹp nhất trong đời cuộc đời ông, một vinh dự mà ông chưa bao giờ nghĩ tới. Ông kể lại rằng sau này về Hà Nội, Bộ Y tế đề nghị đổi Huân chương Kháng chiến hạng Ba thành Huân chương kháng chiến hạng Nhất, nhưng ông từ chối, vì đó là huân chương duy nhất trong năm huân chương mà ông có, là do Bác Hồ và Bác Tôn trao cho trong những ngày gian khổ ở chiến khu Việt Bắc.Những đóng góp của ông đối với nền y học nước nhà đã được Bác theo dõi rất sát sao. Trong những ngày ở Phú Thọ ông đã nhận được một tấm thiếp của Bác. Tấm danh thiếp đánh máy bằng mực màu tím, trên đó, Bác viết:

“Bác sĩ Tùng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Y tế báo cáo: chú làm việc rất hăng hái. Tôi rất vui lòng. Chú cứ gắng sức. Kháng chiến nhất định thắng lợi. Tổ quốc sẽ nhớ công con hiền cháu thảo. Thím và các cháu đều mạnh khoẻ chứ? Tôi luôn luôn bình an. Gửi chú và thím lời chào thân ái và quyết thắng”3.

Những lời khen ngợi, căn dặn, thăm hỏi ân cần và tình cảm của Bác đã động viên ông rất nhiều, giúp ông làm việc ngày càng tốt hơn trong công tác chuyên môn của mình, bởi ông nghĩ rằng: “Với sự quan tâm của Bác, việc gì mà tôi lại không làm?”.

Năm 1948, ông được chỉ định vào Chính phủ kháng chiến, làm Thứ trưởng Bộ Y tế – một công việc mà ông không muốn lắm, vì ông không quen công tác lãnh đạo. Ông thích làm việc ở một cơ sở sản xuất, như là ở một bệnh viện. Song mỗi tháng được họp Hội đồng Chính phủ một lần do Bác chủ tọa, cũng là dịp để ông được gặp Bác. Mỗi lần được gặp Bác, ông lại như được tiếp thêm tinh thần để làm việc càng tốt hơn.

Từ năm 1954, ông là Giám đốc Bệnh viện Việt Đức, Hà Nội. Là một bác sỹ, ông cho rằng đối với bệnh nhân phải làm sao gây được cho họ lòng tin ở thầy thuốc. Với ông “sự cảm thông giữa người bệnh và thầy thuốc là yếu tố quyết định của nghệ thuật điều trị”.

Giáo sư – bác sĩ Tôn Thất Tùng là một người nổi tiếng ở Việt Nam và trên thế giới trong lĩnh vực gan và giải phẫu gan. Tên ông có trong danh sách những người đã tiên phong xây dựng ngành phẫu thuật gan của thế giới.

Trong thời kỳ chiến tranh ác liệt, dù phải di chuyển nhiều lần, ở nhiều địa điểm khác nhau, ông vẫn tham gia tổ chức điều trị, phát triển ngành y tế, đồng thời nghiên cứu khoa học, đào tạo sinh viên để xây dựng nền tảng Trường Y khoa Việt Nam. Ông đã từng làm Cố vấn phẫu thuật ngành Quân y của Bộ Quốc phòng.

Với những đóng góp to lớn về y học ở trong nước và quốc tế, ông được bầu là Viện sĩ Viện Hàn lâm Y học Liên Xô, Hội viên Hội quốc gia những nhà phẫu thuật Cộng hoà Dân chủ Đức, thành viên Viện Hàn lâm phẫu thuật Paris, thành viên Hội Quốc gia Những nhà phẫu thuật Algeri…

Ông đã được Nhà nước ta phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động và tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Lao động hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Ba, Giải thưởng Hồ Chí Minh.

Từ năm 2000, Nhà nước ta đã đặt ra một giải thưởng Y học mang tên ông: Giải thưởng Tôn Thất Tùng.

Giáo sư Malêghi (Pháp) đã viết về ông như sau: “Trường đại học Y khoa Hà Nội có thể tự hào đã có hai thành tựu trong lịch sử của mình, một là đã nghiên cứu lần đầu tiên về cơ cấu các mạch trong gan, hai là lần đầu tiên đã thành công trong việc cắt gan có kế hoạch” (Báo Lyon Phẫu thuật -1964).

Còn Đại tướng Võ Nguyên Giáp thì viết: “Giáo sư Tôn Thất Tùng là một nhà bác học có tiếng, đã từng làm cố vấn quân y cho Bộ Tổng Tư lệnh trong thời kỳ kháng chiến, hiện nay là một chiến sĩ xuất sắc trên mặt trận cách mạng khoa học kỹ thuật ở nước ta”.

Cố Bộ trưởng Bộ Y tế Đặng Hồi Xuân nhận xét: “Cuộc đời của Giáo sư Tôn Thất Tùng là một bài học sống động và phong phú, một tấm gương trong sáng đối với những người đang sống, nhất là đối với những người làm công tác khoa học và đối với thanh niên”.

Ngót một phần tư thế kỷ, Giáo sư – bác sĩ Tôn Thất Tùng đã sống, làm việc và trưởng thành dưới sự chỉ bảo ân cần của Bác. Khi nghe tin Bác mất ông đã viết những dòng vô cùng xúc động:

“Bác ơi! Công ơn Bác với con thật như trời, như bể. Con nhắc lại mấy kỷ niệm đánh dấu từng chặng đời con, để ghi vào lòng, tạc vào dạ rằng, chính Bác là người đã thay đổi đời con, quyết định cả sự nghiệp khoa học của con. Bác là cha, người thầy đã tái sinh và dạy dỗ con”4./.

————————–

1. Giáo sư Tôn Thất Tùng: Đường vào khoa học của tôi, Nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội, 1981, tr. 37. Tên PGS, Viện sĩ – bác sĩ Tôn Thất Bách, nguyên Hiệu trưởng Trường đại học Y Hà Nội.
2. Giáo sư Tôn Thất Tùng: Đường vào khoa học của tôi, Sđd, tr. 49.
3. Giáo sư Tôn Thất Tùng: Đường vào khoa học của tôi, Sđd, tr. 44.
4. Trần Đương: Bác Hồ với Nhân sĩ, Trí thức, Nhà xuất bản Thông tấn, Hà Nội, 2005, tr. 140.

baotanghochiminh.vn

Bối cảnh lịch sử tác động đến hành trình cứu nước của Hồ Chí Minh

Vừa tròn một thế kỷ, kể từ khi Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc và sau này là Hồ Chí Minh rời bến cảng Nhà Rồng, Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh) ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911 – 5/6/2011). Đối với Nguyễn Tất Thành, đây không phải là quyết định giản đơn, tình cờ, mà là kết quả tổng hợp của một quá trình phân tích, lý giải khoa học những nhân tố thuận- nghịch của bối cảnh trong nước và thế giới tác động đến cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, để lựa chọn đúng hướng đi và xác định con đường cứu nước thành công.

1. Đối với tiến trình giải phóng dân tộc, đây là sự kiện mang nội dung cách mạng và ý nghĩa lịch sử lớn lao. Bởi lẽ, sự kiện lịch sử này vừa là mốc kết thúc một quá trình tổng hợp những yếu tố chủ quan và khách quan của bối cảnh lịch sử, vừa là bước khởi đầu hành trình cứu nước của Hồ Chí Minh hồi đầu thế kỷ XX. Vì vậy, ý nghĩa và tầm vóc lớn lao của nó mãi mãi được ghi nhận và phát huy trong suốt hành trình cứu nước của Người trước đây và trên con đường đổi mới đất nước hiện nay.

Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội lần thứ XVIII của
Đảng Xã hội Pháp ở Tua, tháng 12/1920 (ảnh tư liệu)

Trước hết, cần hiểu rõ khái niệm “tác động của bối cảnh lịch sử” là gì? Theo chúng tôi: Một là, Không phải toàn bộ bối cảnh lịch sử (trong nước và thế giới) đều tác động đến hành trình cứu nước của Hồ Chí Minh. Do đó, bài viết này sẽ không nghiên cứu toàn bộ bối cảnh cuộc hành trình, mà chỉ đi sâu nghiên cứu những sự kiện lịch sử được Người biết đến và gây tác động đến quá trình hình thành con đường cứu nước của Người. Hai là, bối cảnh không phải là bức tranh bất động mà nó thường xuyên thay đổi và gây ảnh hưởng đến xu thế phát triển, hoạt động của mỗi tổ chức, con người. Vì vậy, bối cảnh lịch sử tác động đến hành trình cứu nước của Hồ Chí Minh bao gồm những sự kiện lịch sử mà Người nhận thức, mà trước hết phải kể đến những sự kiện mang ý nghĩa thời đại, gắn liền với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam…

Điểm khởi đầu hành trình cứu nước của Hồ Chí Minh là sự kiện ngày 5 tháng 6 năm 1911. Tiếp đó là quá trình vừa lao động, vừa học tập lý luận và hoạt động thực tiễn để tìm ra con đường giải phóng dân tộc thành công. Đó là những năm tháng bôn ba đầy khó khăn của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh ở nhiều quốc gia, châu lục. Vì vậy, nghiên cứu tác động của bối cảnh lịch sử đến hành trình cứu nước của Hồ Chí Minh không chỉ là nghiên cứu những nhân tố hình thành quyết tâm và hướng đi mà còn nghiên cứu làm rõ hàng loạt yếu tố mới Người “bắt gặp”- nhận thức trong quá trình hình thành đường lối cứu nước của mình.

Vì vậy, ở đây không cần thiết phải thống kê đầy đủ tình hình trong nước và thế giới, cũng không phải mô tả kỹ lưỡng những sự kiện lịch sử đã diễn ra vì đó là bối cảnh chung mà bất kỳ con người đương thời nào đều sống trong đó, dù họ có nhận thức được “bối cảnh” ấy hay không.

Vậy bối cảnh lịch sử tác động đến sự hình thành quyết tâm và hướng xuất dương tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh là gì ?

2. Cuối thế kỷ XIX, sự kiện lịch sử tác động mạnh mẽ đến tình hình chính trị, kinh tế, xã hội Việt Nam; làm thay đổi kết cấu giai cấp, ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống mọi người dân (trong đó có họ hàng, gia đình và bản thân Hồ Chí Minh) là thực dân Pháp xâm lược Việt Nam. Sau thời kỳ “bình định”, thực dân Pháp thi hành chính sách “khai thác thuộc địa” – thực chất là tăng cường bóc lột, vơ vét thuộc địa. Vì vậy, đời sống nhân dân lao động đã khó khăn, càng thêm khốn đốn. Hậu quả là Việt Nam từ một nước phong kiến độc lập trở thành nước thuộc địa nửa phong kiến.

Sang đầu thế kỷ XX, đời sống các tầng lớp nhân dân càng bị bần cùng hoá. Mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và chế độ thuộc địa ngày một gay gắt, trở thành mâu thuẫn vừa cơ bản, vừa chủ yếu. Bên cạnh đó, mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ càng gay gắt. Đây là trở lực lớn, kìm hãm sự phát triển của xã hội Việt Nam.

Vì vậy, chỉ có giải quyết thành công những mâu thuẫn trên đây – đồng nghĩa với việc tìm ra con đường cứu nước, giành lại độc lập dân tộc thì xã hội Việt Nam mới tiếp tục phát triển. Đó là đòi hỏi khách quan, cấp bách của cách mạng Việt Nam từ đầu thế kỷ XX.

Để giải quyết mâu thuẫn trên, nhiều phong trào đấu tranh diễn ra sôi nổi với mục tiêu “Phen này quyết chống cả Triều lẫn Tây”. Đó là phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục… do các sỹ phu yêu nước chịu ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản như: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh lãnh đạo hay khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc Dân đảng dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Thái Học, Phạm Tuấn Tài…rồi khởi nghĩa nông dân Yên Thế dưới sự lãnh đạo của Hoàng Hoa Thám kéo dài hơn 30 năm… Đó là trang sử đấu tranh vẻ vang của dân tộc trên con đường đấu tranh giành độc lập. Mặc dù diễn ra sôi nổi, rộng khắp các vùng miền, nhưng tất cả các cuộc đấu tranh cuối cùng đều thất bại. Bối cảnh lịch sử này, sau này, Hồ Chí Minh viết trong bài Con đường cứu nước và giải phóng dân tộc trong thời đại ngày nay: “Trong suốt gần một thế kỷ thống trị của thực dân Pháp, phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam không ngừng phát triển, kẻ trước ngã, người sau đứng dậy. Nhưng tất cả những cuộc khởi nghĩa yêu nước ấy đã bị dìm trong máu. Những đám mây đen lại bao phủ đất nước Việt Nam”[1]

Thực tế thất bại của lớp cha ông đã chỉ ra rằng: sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến và hệ tư tưởng tư sản trước nhiệm vụ lịch sử đặt ra là lãnh đạo toàn dân chống Pháp, giành lại độc lập dân tộc. Cách mạng Việt Nam khủng hoảng về đường lối, tức là thiếu hệ thống lý luận cách mạng tiên tiến của giai cấp công nhân có khả năng dẫn dắt cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam thành công. Câu hỏi của “bài toán thế kỷ” đặt ra cho dân tộc ta: Ai là người lãnh đạo thành công nhiệm vụ giải phóng dân tộc ở Việt Nam ? đến lúc này vẫn chưa có lời giải.

Bối cảnh trên đây, sau này được Hồ Chí Minh nói rõ khi trả lời nhà văn Mỹ Anna Luy Xtơrông: “Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Nhật, người khác lại nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ”[2]!?

Xuất thân từ gia đình trí thức phong kiến có truyền thống yêu nước, trọng nghĩa, Hồ Chí Minh sớm mang trong mình lòng yêu nước, thương dân. Tuổi học đường của Người gắn bó với những năm tháng quan trường ngắn ngủi đầy trắc trở của người cha Nguyễn Sinh Huy. Người đã theo cha đến cả ba miền đất nước, biết được cuộc sống khó khăn của người dân mất nước dù họ ở xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ “bảo hộ” hay Nam Kỳ “thuộc địa”. Người có thời gian sống ở Huế. Đó là điều kiện để Người tìm hiểu, làm quen với cuộc sống quan chức, Hoàng triều. Tuy nhiên, thực tế ấy đã làm cho Người thấy rõ hơn cuộc sống phụ thuộc, thấp hèn của giới quan chức, tay sai. Từ những trải nghiệm đầu đời của mình và cuộc sống lận đận, trắc trở của người cha, Hồ Chí Minh càng thấu hiểu ý nghĩa thực tế của câu chuyện cha mình thường bình giải “Quan trường thị nô lệ, trung chi nô lệ, hựu nô lệ”. Cho nên, đầu năm 1910, sau khi ông Nguyễn Sinh Huy bị bãi chức thì ông vào Nam Kỳ hành nghề bốc thuốc trị bệnh cứu người, còn Hồ Chí Minh thì thấy rõ hơn sự thối nát của chế độ quan trường. Điều này càng thôi thúc Người quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước. Trong tác phẩm Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Trần Dân Tiên đã viết: “Người thiếu niên ấy đã sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào. Lúc bấy giờ, Anh đã có chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào. Anh tham gia công tác bí mật, nhận công việc liên lạc”[3].

Tuy nhiên, đi đâu và làm gì để tìm ra con đường cứu nước thành công luôn là công việc hết sức khó khăn. Bởi lẽ, bọn thực dân rất bưng bít tư tưởng mới, ngăn trở sách báo tiến bộ với âm mưu giam hãm dân ta trong vòng nô lệ. Người đã nói với nhà báo Liên Xô Ôxip Manđenxtam: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế…Trong những trường học cho người bản xứ, bọn Pháp dạy người ta như con vẹt.Chúng giấu không cho người nước tôi xem sách báo. Không phải chỉ sách của các nhà văn mới, mà cả Rútô và Môngtexkiơ cũng bị cấm. Vậy thì làm thế nào bây giờ? Tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài[4]…

Trong quá trình xác định con đường cứu một dân tộc, lòng căm thù giặc và quyết tâm chưa đủ, mà còn phải lý giải được nguyên nhân thất bại của các bậc tiền bối, hiểu được điều kiện chủ quan và khách quan của bối cảnh lịch sử, trên cơ sở đó mà vạch ra hướng đi của con đường cũng như những yếu tố đảm bảo thắng lợi.

Trước thất bại liên tiếp về con đường cứu nước của các bậc tiền bối, Người nhận xét:

“Cụ Phan Chu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương…Điều đó là sai lầm, chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương.

Cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp. Điều đó rất nguy hiểm, chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”.

Cụ Hoàng Hoa Thám còn thực tế hơn, vì còn trực tiếp đấu tranh chống Pháp. Nhưng theo người ta kể thì Cụ còn mang nặng cốt cách phong kiến”[5].

Từ những trải nghiệm cuộc sống và với quyết tâm lớn, Hồ Chí Minh đã sớm phát hiện ra mâu thuẫn giữa chế độ đàn áp bóc lột dã man của bọn thực dân ở Việt Nam với cái lý tưởng cao đẹp của nước Pháp – quốc gia đã đề xướng ra lý tưởng cao đẹp và hấp dẫn mọi con người ” Tự do – Bình đẳng – Bác ái”, muốn biết cái gì bí mật ẩn náu ở “nước Mẹ” xa xôi ! Người cho rằng “Muốn đánh hổ thì phải vào hang hổ!”. Và chính những nhận thức về bối cảnh đất nước và những tìm hiểu của Hồ Chí Minh về nước Pháp đã thôi thúc Người sang Pháp và các nước khác… Đây không phải là hành động ngẫu nhiên, tự phát mà là sự lựa chọn, trăn trở; một quyết tâm lớn, nhằm đáp ứng đòi hỏi khách quan của cách mạng Việt Nam.

Quyết định sang phương Tây của Hồ Chí Minh là sự phủ nhận sự tồn tại nhà nước thực dân nửa phong kiến ở Việt Nam. Đó là đòn tiến công đầu tiên của Hồ Chí Minh đối với nhà nước đương thời, mở cửa ra thế giới để đón nhận những nhân tố mới của thời đại, tiếp thu lý luận tiên tiến, tích hợp tinh hoa văn hoá nhân loại để hình thành con đường cứu nước Việt Nam thông qua Hành trình cứu nước của một con người – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.

Ngày 3 tháng 6 năm 1911, Người xuống tàu buôn Pháp Amiran Latusơ Tơrêvin( Amiral Latouche Treville) thuộc Hãng Năm sao đang cập cảng Nhà Rồng gặp thuyền trưởng Maixen (Maisen) và được nhận vào làm phụ bếp trên tàu. Ngày 5 tháng 6 năm 1911 tàu Amiran Latusơ Tơrêvin rời bến cảng Nhà Rồng mang theo người thanh niên Việt Nam 21 tuổi với khát vọng cháy bỏng là tìm ra con đường cứu nước Việt Nam khỏi ách thống trị thực dân phong kiến.

3. Khi rời Tổ Quốc, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh có quyết tâm cao, nhưng sự hiểu biết về thế giới còn hạn chế. Sự ra đi ấy khẳng định một quyết tâm lớn, nhưng biết bao câu hỏi còn bỏ ngỏ. Vốn hiểu biết của Người chưa có thể nhận thức được đặc điểm, xu thế của thời đại. Từng bước một, vừa lao động kiếm sống, vừa học tập lý luận và hoạt động xã hội, Hồ Chí Minh dần dần nhìn ra bối cảnh của hành trình tìm đường cứu nước. Từ hoạt động trong nhiều tổ chức chính trị, xã hội, những trải nghiệm cuộc sống trong nhiều quốc gia thập niên 10, 20 thế kỷ XX, Hồ Chí Minh sớm nhìn ra những yếu tố ảnh hưởng đến cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam như con đường Cách mạng Tháng Mười Nga, tư tưởng Lênin và đường lối giải phóng thuộc địa của Quốc tế Cộng sản (QTCS). Nhiều bài viết, bài nói, báo cáo của Hồ Chí Minh gửi QTCS đã thể hiện quá trình nhận thức của Người về thời cuộc và sự tổng hợp, vận dụng sáng tạo những nhân tố tích cực của bối cảnh lịch sử để hình thành con đường cứu nước của mình.

Điều cần lưu ý ở đây là Hồ Chí Minh rời Tổ quốc hoà nhập vào thế giới trong thời điểm chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc. Hệ thống thuộc địa đã hình thành trên phạm vi thế giới. Trong Tham luận trình bày tại Đại hội lần thứ V của QTCS (1924), Hồ Chí Minh chỉ rõ: Năm 1876: 1/4 tỷ người dân thuộc địa thì năm 1914: 1/2 tỷ dân thuộc địa. Đến đầu những năm 20, diện tích các nước thuộc địa gấp 5 diện tích các nước chính quốc, còn dân số chính quốc chưa bằng 3/5 số dân các nước thuộc địa. Số dân thuộc địa Anh đông gấp hơn 8,5 số dân nước Anh còn đất đai rộng gấp 252 lần của nước Anh[6]… Cuộc đấu tranh giải phóng của các thuộc địa và phụ thuộc tuy đã được đẩy mạnh ở các nước châu Âu như: Airơlen, Ba Lan nhưng chưa có nước nào giành được độc lập. Còn ở châu Á, tuy đã trỗi dậy một “Châu Á thức tỉnh” nhưng các quốc gia lớn như: Ấn Độ, Trung Quốc, Inđônêxia vẫn đang là thuộc địa của bọn đế quốc. Trên phạm vi toàn thế giới, chưa có một thuộc địa nào được giải phóng. Con đường giải phóng dân tộc chưa có một hình mẫu, tấm gương soi chung!

Vì vậy, hành trình cứu nước của Hồ Chí Minh lúc này cũng mới chỉ là quyết tâm và định hướng. Người bắt đầu bằng nghề phụ bếp rồi sau đó là công nhân trên tàu buôn Pháp. Nhờ đó, Người có dịp qua nhiều quốc gia như: Xinhgapo, Côlômbô, Aicập, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Angiêri, Tuynidi, Cônggô, Đahômây, Mỹ. Đầu năm 1913, Người từ Mỹ về Lơ Havơrơ sau đó sang Anh. Tại đây, Người làm nghề đốt lò, quét tuyết, phục vụ khách sạn. Bất kỳ hoàn cảnh nào, Người thường xuyên chú ý tìm hiểu đời sống và gần gũi với người lao động. Người rất xúc động trước điều kiện sống cực khổ và bị đàn áp của người da đen[7]. Sau những tháng năm trải nghiệm cuộc sống người dân thuộc địa làm thuê, Người dần dần nhận ra một điều: Ở đâu cũng có người nghèo và sự giàu nghèo không phụ thuộc vào màu da, chủng tộc. Người lao động ở đâu cũng khổ cực và biết thương yêu nhau.

Cuối năm 1917, Người từ Anh trở lại Pháp, vừa tiếp tục lao động kiếm sống, vừa tích cực tham gia hoạt động chính trị xã hội. Người liên hệ chặt chẽ với công nhân Pháp, những đại biểu thuộc địa và những người Việt Nam yêu nước tại Pháp. Đây là thời kỳ hoạt động sôi nổi và có hiệu quả trong hành trình tìm thấy con đường cứu nước Việt Nam. Đầu năm 1919, Người vào Đảng Xã hội Pháp: “Chỉ vì đây là tổ chức duy nhất ở Pháp theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại cách mạng Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái” [8]. Giữa năm 1919, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi “Bản yêu sách tám điểm “của nhân dân An Nam tới Hội nghị các nước đế quốc họp tại Vécxây (Versailles). Mặc dù Yêu sách chỉ nêu những yêu cầu tối thiểu trong khuôn khổ cải cách, nhưng các tác giả của bản Yêu sách ấy đã không nhận được một lời phúc đáp. Từ thực tế ấy, Người kết luận: “Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình”[9]. Thực tế trên đây đã giúp Hồ Chí Minh hiểu thêm bối cảnh khách quan mà hành trình cứu nước không thể bỏ qua. Hành trình đi tìm con đường cứu nước của Hồ Chí Minh vẫn đang tiếp tục.

Sự kiện cực kỳ quan trọng làm chuyển biến cơ bản nhận thức con đường cứu nước giải phóng dân tộc của Người là được đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin đăng trên báo Nhân đạo (L’Humanité) tháng 7-1920. Luận cương đã mang lại cho Người ánh sáng về con đường cách mạng giải phóng dân tộc ở một nước thuộc địa. Khẳng định ý nghĩa to lớn của Luận cương trong hành trình tìm ra con đường cứu nước, sau này Người viết: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đoạ đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”[10]. Cho đến cuối đời, Hồ Chí Minh càng trung thành với con đường độc lập dân tộc bao nhiêu, thì càng trung thành bấy nhiêu với những lý luận Lênin viết trong Sơ thảo Luận cương và đường lối của Quốc tế Cộng sản về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Điều này thể hiện rất rõ khi Người trả lời phỏng vấn nhà báo Pháp Sáclơ Phuốcniô: “Từ ngày Luận cương của Lênin đã hoàn toàn soi sáng cho tôi, tôi không còn chỉ dự các cuộc họp của Đảng một cách thụ động nữa. Tôi lao vào cuộc chiến đấu, hăng hái bàn cãi, tiến công mạnh mẽ những kẻ chống lại Lênin và Quốc tế thứ ba”[11].

Sự kiện được đọc bản Sơ thảo những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin cùng với những hoạt động sát cánh với công nhân, trí thức Pháp và các đại biểu thuộc địa cùng đồng bào mình trên đất Pháp trước đó đã tạo tiền đề quan trọng để tại Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp họp tại thành phố Tua tháng 12 năm 1920, Hồ Chí Minh tích cực thảo luận và sớm quyết định bỏ phiếu ủng hộ Đảng mình gia nhập Quốc tế thứ ba. Người đã tham gia dự thảo Nghị quyết về chủ nghĩa Cộng sản và các thuộc địa và Lời kêu gọi những người bản xứ ở các thuộc địa tại Đại hội lần thứ nhất (1921) và lần thứ hai (1922) Đảng Cộng sản Pháp. Người đã trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên có nhiều đóng góp tích cực cho vấn đề giải phóng thuộc địa.

Với những sự kiện trên đây, Hồ Chí Minh đã từ người yêu nước trở thành người cộng sản chân chính. Và đây còn là mốc quan trọng đánh dấu việc Hồ Chí Minh đã tìm thấy con đường cứu nước. Người đã hoàn thành sứ mạng Người tìm thấy con đường cứu nước Việt Nam .

Tiếp theo là những hoạt động của Hồ Chí Minh với sứ mạng Người dẫn đường cứu nước đến thắng lợi.

Tìm thấy đường lối, con đường cứu nước đã khó, tiến hành tuyên truyền vận động quần chúng và tổ chức thắng lợi đường lối ấy trên thực tế còn khó hơn nhiều. Vì trong suốt tiến trình thực tế hoá đường lối ấy, người lãnh đạo có quyết tâm chưa đủ mà còn phải đánh giá đúng tình hình, lựa chọn đúng thời điểm, địa bàn”đối nội” và phải tìm được những cộng sự có thực tế và kinh nghiệm vận động tổ chức quần chúng. Tháng 6-1923, trong thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp Người phác họa công việc của mình – Người dẫn đường cứu nước khi trở về Tổ quốc là: “Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng là trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”[12]. Tuy nhiên con đường ấy còn nhiều gian truân. Người đã trải qua nhiều công việc, hoạt động ở nhiều quốc gia như: Nghiên cứu lý luận tại Đại học Phương Đông, dự nhiều Hội nghị quốc tế tại Liên Xô, làm cán bộ Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản và nhiều năm làm phiên dịch trong Phái bộ Bôrôđin tại Trung Quốc (1924-1927). Cũng trong thời gian này, tại Quảng Châu, Người đã thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên – Tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Giữa năm 1927 Người trở lại Liên Xô, thực hiện nhiệm vụ do Quốc tế Cộng sản giao ở Pháp, Bỉ, Đức, Thuỵ Sĩ, Italia rồi về Xiêm, Thái Lan, Trung Quốc.

Đầu năm 1930 tại Hồng Kông (Trung Quốc), Người đã chủ trì Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Cũng tại đây, từ giữa năm 1931 đến năm 1933, Người bị thực dân Anh bắt giam. Đầu năm 1934 sau khi thoát tù, Người trở lại Liên Xô học Trường Quốc tế Lênin và làm nghiên cứu sinh tại Viện nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa (thuộc Ban Phương Đông, Quốc tế Cộng sản). Thành công nổi bật trong hoạt động cách mạng của Người là nhận thức và giải quyết thoả đáng mối quan hệ dân tộc và giai cấp – vấn đề quan trọng và nhạy cảm mà ngay Quốc tế Cộng sản cũng có lúc mắc sai lầm. Người rất chú ý đặc điểm và truyền thống dân tộc, nhưng không vì thế mà xa rời lập trường giai cấp. Điều này được thể hiện qua luận điểm: “Vậy là màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”[13]. Những luận điểm sáng tạo về mối quan hệ giữa cách mạng vô sản ở chính quốc với cách mạng thuộc địa còn được thể hiện rõ trong nhiều bài báo , đặc biệt trong tham luận của Người được trình bày tại Đại hội V của QTCS năm 1924. Trong bối cảnh QTCS chịu ảnh hưởng sâu sắc của trào lưu “tả” khuynh, biệt phái từ sau khi Lênin qua đời (1924), đặc biệt sau Đại hội VI của QTCS (1928), Người vẫn kiên trì học tập lý luận và thường xuyên lập kế hoạch về nước thực thi con đường cứu nước để bắt liên lạc với Ban Chấp hành Trung ương Đảng ở trong nước.

Nét đặc sắc nhất cuộc hành trình cứu nước 30 năm là không bao giờ Người xa rời mục đích về nước cứu đồng bào. Khi ở Liên Xô dự Đại hội lần thứ VI Quốc tế Thanh niên, Người nói với nhà văn I. Êrenbua: “Tôi chỉ có một mong ước là sớm trở và Tổ quốc”[14]. Khi đang hoạt động trong Bát lộ quân Trung Quốc, Người vẫn bí mật liên lạc với Ban lãnh đạo Đảng trong nước chuẩn bị xây dựng căn cứ địa vùng biên giới Việt Trung. Cuối tháng 6 năm 1940, ngay sau khi Pháp đầu hàng phát xít Đức, Người chỉ thị gấp cho đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp không đi học Trường Quân chính của Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Diên An nữa mà cùng các đồng chí Phùng Chí Kiên, Vũ Anh đi Quế Lâm, Nam Ninh (Quảng Tây) hướng về Cao Bằng đón thời cơ mới. Đầu năm 1941, sau 30 năm ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh kết thúc Hành trình cứu nước, về vùng rừng núi Cao Bằng – địa đầu Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo dân tộc thực hành đường lối cứu nước mới, mở ra giai đoạn mới trong công cuộc giải phóng dân tộc Việt Nam.

4. Ra đi tìm đường cứu một quốc gia là nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Nhưng tìm thấy con đường ấy và điều quan trọng tiếp theo là bổ sung, hoàn thiện nó cho phù hợp với điều kiện cụ thể rồi đưa về áp dụng trong nước là việc khó gấp bội phần. Sau nhiều lần thất bại của các bậc tiền bối, Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên kết hợp thành công sức mạnh trong nước và quốc tế – dân tộc và thời đại, yếu tố khách quan và chủ quan để tìm ra lời giải cho “Bài toán thế kỷ” đã đặt ra trước dân tộc từ đầu thế kỷ XX. Người đã khảo sát thực tế, nghiên cứu lý luận, tổng kết kinh nghiệm của nhiều thế hệ đã tìm thấy con đường cứu Việt Nam khỏi ách thống trị thực dân phong kiến. Tuy nhiên cần thấy rõ, đây không phải đơn giản là việc lựa chọn một mô hình con đường có sẵn để vận dụng vào Việt Nam. Mặc dù Luận cương của Lênin cũng như những quan điểm của Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Pháp có vị trí quan trọng trong “con đường cứu nước” mà Hồ Chí Minh tìm đến; song chỉ ngần ấy thôi, chưa phải là con đường cứu nước Hồ Chí Minh, bởi lẽ đó chỉ là những nguyên tắc lý luận, định hướng mang tính phổ biến. Con đường cứu nước Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo những nguyên tắc, quan điểm ấy vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam không chỉ được tạo ra bởi tác động mạnh mẽ của bối cảnh lịch sử mà còn bởi những đóng góp đầy sáng tạo của Hồ Chí Minh. Thắng lợi công cuộc giải phóng ở Việt Nam đã mở đầu cho sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân trên phạm vi thế giới. Đó tác động trở lại của cách mạng Việt Nam với thế giới, dấu ấn của Hồ Chí Minh với thời đại. Do đó, thế giới đã tôn vinh Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hoá kiệt xuất Việt Nam.

Nguồn Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam

[1]. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb.CTQG, H.1996,T1,tr.314
[2].Dẫn theo báo Nhân Dân, ngày 18 tháng 5 năm 1965
[3] Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb.CTQG-Nxb.TN,H.1994,tr.12
[4] . Hồ Chí Minh Toàn tập,Nxb. CTQG, H.1995,t.1,tr.477
[5] Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện…, Sđd,tr.12
[6] Xem: Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb.CTQG,H.1995,t1,tr.273-289
[7]. Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 40-50
[8] Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện…Sđd, tr.41-42
[9] Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện…Sđd,tr.31
[10] Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd,t. 10 tr.127
[11] Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd,t12,tr.471
[12] Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd,t.1 tr.192
[13] Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd,t.1,tr.266
[14] Hồ Chí Minh-Biên niên tiểu sử, xuất bản lần thứ 2,Nxb.CTQG, H.2006,t.2,tr.63

baoninhthuan.com.vn

Nguyễn Tất Thành với cuộc trường chinh tìm đường cứu nước – Một trăm năm nhìn lại

Báo tin tức – Nhân kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911-5/6/2011), báo Tin Tức giới thiệu bài viết “Nguyễn Tất Thành với cuộc trường chinh tìm đường cứu nước – Một trăm năm nhìn lại” của Giáo sư Song Thành, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.

Việt Nam, vào đầu thế kỷ XX, đã có một lớp thanh niên ưu tú rời nước ra đi, không phải vì mưu sinh mà vì khát vọng giành lại độc lập cho Tổ quốc, tự do và phẩm giá cho đồng bào. Họ nô nức Đông du theo lời kêu gọi đầy nhiệt huyết của Phan Bội Châu. Duy có một người thanh niên mảnh khảnh dám một mình tìm đường sang phương Tây. Đó là Nguyễn Tất Thành. Thành tựu chung cuộc đã làm cho việc ra đi đó trở thành một sự kiện lịch sử trọng đại, mở ra bước phát triển mới cho Cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam. Chỉ có thể đánh giá hết ý nghĩa, giá trị và bài học của sự kiện này khi đặt nó vào hoàn cảnh khó khăn, bế tắc của phong trào cứu nước hồi đầu thế kỷ trước.

I. BỐI CẢNH XÃ HỘI VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX

1. Sau thất bại của các cuộc khởi nghĩa vũ trang cuối thế kỷ XIX, tư tưởng của các sĩ phu yêu nước đã có sự chuyển biến. Họ cố thoát ra khỏi ý thức hệ phong kiến, đi tìm một con đường mới trong ý thức hệ tư sản Âu-Mỹ qua các tân thư được truyền vào từ Trung Hoa. Song những cố gắng ấy cũng đều lần lượt bị thất bại. Cuộc vận động chống sưu thuế bị đàn áp, Trần Quý Cáp bị xử tử, Phan Châu Trinh bị đày đi Côn Đảo. Vụ Hà Thành đầu độc thất bại, các nghĩa sĩ bị chặt đầu; Trường Đông Kinh nghĩa thục bị đóng cửa; căn cứ nghĩa quân Yên Thế bị bao vây, đánh phá; phong trào Đông du bị tan rã, Phan Bội Châu và các đồng chí của ông bị trục xuất khỏi nước Nhật,… Những nỗ lực cuối cùng của các sĩ phu yêu nước đầu thế kỷ hầu như đều đã thất bại.

Phong trào cứu nước, giải phóng dân tộc đứng trước một cuộc khủng hoảng, bế tắc cả về lý luận, đường lối và phương thức đấu tranh. Làm thế nào để đánh đuổi được chủ nghĩa thực dân xâm lược, giành lại độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào? Câu hỏi đó ngày đêm nung nấu, day dứt tâm can lớp thanh niên yêu nước thế hệ Nguyễn Tất Thành lúc bấy giờ.

Sinh ra và lớn lên trong một giai đoạn đầy biến động của đất nước; được kế thừa truyền thống yêu nước, bất khuất của quê hương và gia đình, khi còn là một thiếu niên 15 tuổi, Nguyễn Tất Thành đã sớm biết đau nỗi đau mất nước, xót xa trước nỗi thống khổ của đồng bào, đã sớm có chí đuổi giặc, cứu nước, giải phóng dân tộc.

Nhưng bằng con đường nào? Liên minh với ai, dựa vào ai để chiến đấu? Cuộc tranh luận không phải về mục tiêu mà về con đường: Dựa vào Pháp để cải cách như Phan Châu Trinh hay dựa vào Nhật để cứu nước như Phan Bội Châu? Mặc dù uy tín của hai chí sĩ họ Phan đều rất lớn, nhưng anh không đứng về phe nào. Trước khi đi đến quyết định, theo tinh thần “cách vật, trí tri”, anh cần tìm hiểu đến tận cùng thực chất của thời cuộc. Sau này, trong một lần trò chuyện với nhà báo Mỹ Anna Louise Strong, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Nhân dân Việt Nam, trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau: Ai là người sẽ giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp? Người này nghĩ là Nhật, người khác nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”[1]. Điều đó cho thấy, Nguyễn Tất Thành đã sớm có ý thức khám phá thời đại để tìm ra con đường đúng đắn cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc.

2. Bước sang thế kỷ XX, chủ nghĩa đế quốc đã trở thành một hệ thống thế giới, mỗi thuộc địa là một mắt khâu của hệ thống đế quốc, do đó cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc không thể chỉ là hành động riêng rẽ của một quốc gia này chống lại sự xâm lược và thống trị của một quốc gia khác như trước kia, mà đã trở thành một bộ phận của cuộc đấu tranh chung chống chủ nghĩa đế quốc quốc tế. Trong điều kiện lịch sử mới, cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi, phải trở thành một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới, như Lênin đã nói. Đây chính là đặc điểm mới của thời đại mà các sĩ phu trong nước thời đó chưa có điều kiện để nhận ra.

Với nhạy cảm chính trị của một trí tuệ hiếm có, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành đã có được dự cảm nhất định về sự chuyển biến của thời đại. Kẻ xâm lược mới đến từ phương Tây, mang theo sức mạnh của văn minh phương Tây. Muốn thắng được họ, phải đi tìm một con đường khác. Đó là con đường nào? Ở tuổi 20, người thanh niên ấy chưa thể trả lời ngay được, nhưng sự lựa chọn đầu tiên đã tỏ ra vô cùng sáng suốt: Ngược với làn sóng Đông du, anh một mình đi sang phương Tây, nơi sớm nổ ra các cuộc cách mạng dân chủ tư sản, nơi các trào lưu tư tưởng tự do dân chủ và khoa học kỹ thuật đang phát triển mạnh mẽ. Phải ra đi xem xét họ làm ăn thế nào để trở về giúp đồng bào. Khát vọng đó của anh đã nảy nở từ rất sớm và lớn dần lên theo năm tháng.

Ngày 2/6/1911, Nguyễn Tất Thành ra bến Nhà Rồng liên hệ xin việc. Ngày 3/6/1911, anh được giới thiệu và nhận vào làm phụ bếp trên tàu Đô đốc Latusơ Tơrêvin. Ngày 5/6/1911, với tên mới Văn Ba, anh theo tàu rời nước ra đi. Không khoác áo thân sĩ, ra đi trong tư cách một người lao động, khởi nghiệp với đôi bàn tay trắng, với một ý chí mãnh liệt, một nghị lực phi thường, một mình tiến hành cuộc trường chinh 30 năm đi tìm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc.

II. QUÁ TRÌNH TÌM TÒI VÀ HÌNH THÀNH CƠ BẢN CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC CỦA VIỆT NAM

1. Tiến hành cuộc khảo sát rộng lớn thế giới tư bản

Nguyễn Tất Thành nhận làm bồi tàu, thủy thủ để có điều kiện được đi. Từ cảng Nhà Rồng, anh đã đi qua Xinhgapo, Côlômbô, vượt Hồng hải, qua Suez đến cảng Saïd, Marseille, Le Havre. Từ Pháp, anh trở lại Sài Gòn, rồi đi vòng quanh châu Phi, qua các nước Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Angiêri, Tuynidi, trở lại các cửa biển Đông Phi, vòng qua Cônggô, Dahomey, Ghinê, Xênêgan, vượt Đại Tây Dương tới Hoa Kỳ, vòng xuống Nam Mỹ, tới Áchentina,… Sau đó, trở lại Anh, về Pháp, qua Đức, tới Liên Xô, về Trung Quốc, sang Thái Lan…, tất cả hơn 30 nước.

Có thể nói, vào đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh là một trong số rất ít các nhà cách mạng đương thời có điều kiện đi nhiều, có một vốn hiểu biết khá tường tận về chủ nghĩa đế quốc và hệ thống thuộc địa của chúng. Bản thân là người dân thuộc điạ, ra nước ngoài hòa mình vào cuộc sống lao động và đấu tranh của vô sản ở chính quốc, có gần 10 năm bôn ba, khảo sát các thuộc địa của đế quốc Anh, Pháp, Đức – từ châu Á, châu Phi đến châu Mỹ la tinh, nên có hiểu biết về bản chất chung và màu sắc riêng của mỗi nước đế quốc cũng như trình độ phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội khác nhau giữa các nước thuộc địa. Nhờ vốn hiểu biết thực tế đó, cùng với một năng lực tư duy độc lập, tự chủ, đã giúp Người không rơi vào các khuynh hướng cơ hội nhưng cũng không dễ dàng chấp nhận một cách giáo điều những công thức lý luận không phù hợp với thực tế các nước thuộc địa, nhất là ở phương Đông.

2. Bắt đầu tham gia hoạt động chính trị, từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Lênin

Cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành từ Anh trở lại Pháp vào lúc cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga vừa bùng nổ thắng lợi, mở ra một hướng phát triển mới trong lịch sử loài người. Nhân Hội nghị Hòa bình Versailles, cùng với Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường, thay mặt những người Việt Nam yêu nước, dưới tên ký Nguyễn Ái Quốc, anh thử nghiệm sử dụng pháp lý tư sản và hình thức đấu tranh bằng phương pháp hòa bình, đưa ra bản Yêu sách tám điểm, đòi quyền bình đẳng về pháp lý và các quyền tự do, dân chủ tối thiểu cho nhân dân Việt Nam. Bản Yêu sách không được các đế quốc thắng trận để mắt tới, anh rút ra kết luận: Chương trình 14 điểm của Tổng thống Mỹ W. Wilson chỉ là một trò bịp lớn, “muốn giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào bản thân mình” [2].

Cuối năm 1919, Nguyễn Ái Quốc gia nhập Đảng Xã hội Pháp, một chính đảng duy nhất ở Pháp tỏ ý quan tâm đến số phận các dân tộc thuộc địa. Tuy nhiên, anh đã thất vọng, vì họ nói rất hay, “thông qua những nghị quyết rất kêu, để sau đại hội đưa vào viện bảo tàng” [3].

Giữa lúc đó, ai đã chìa bàn tay thân ái đối với anh, với các dân tộc thuộc địa? – Chính phái tả của cách mạng Pháp, Quốc tế 3, Lênin và Cách mạng Nga! “Họ đã không vừa lòng với việc đọc những bài diễn văn rỗng tuếch và viết ra những nghị quyết “nhân đạo”… “Mặc dù đang vấp phải những khó khăn trong nước và ngoài nước, nước Nga cách mạng không hề một chút do dự trong việc giúp đỡ các dân tộc mà nó đã thức tỉnh bằng cuộc cách mạng anh dũng và thắng lợi” [4].

Chính nhờ thắng lợi của cách mạng Nga, rồi đọc Luận cương của V.I. Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa mà Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy ánh sáng cho con đường giải phóng dân tộc mình trong sự nghiệp giải phóng tất cả các dân tộc bị áp bức. Đêm kết thúc Đại hội Tours của Đảng Xã hội Pháp (30/12/1920), Người bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế 3, đánh dấu bước ngoặt trong đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc: Từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, đồng thời mở ra bước chuyển cho bao thế hệ người Việt Nam: Từ người yêu nước thành người cộng sản.

3.Vừa hoạt động thực tiễn, vừa nghiên cứu lý luận, góp phần bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác

– Nguyễn Ái Quốc khởi đầu hoạt động đấu tranh cách mạng của mình bằng việc tố cáo những tội ác man rợ của bọn thực dân ở thuộc địa, nhằm làm cho nhân dân Pháp và nhân dân thế giới biết được sự thật về cái gọi là “chính sách khai hóa” của bọn thực dân, gây men căm giận, phẫn nộ, từ đó kêu gọi “nô lệ thức tỉnh”: “Mọi chế độ thực dân đế quốc đều tiêu diệt hết các nòi giống bản xứ, muốn cứu vãn những nòi giống này, ta phải lật đổ chủ nghĩa đế quốc” [5]. Sử dụng hình ảnh “chủ nghĩa tư bản là con đỉa 2 vòi”, nếu muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả 2 cái vòi của nó đi, Nguyễn Ái Quốc nêu lên sự cần thiết phải thực hiện sự liên minh chiến đấu giữa cách mạng vô sản ở chính quốc với cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa, hai cuộc cách mạng đó phải phối hợp nhịp nhàng với nhau như hai cánh của một con chim.

Trong cuộc đấu tranh giải phóng đó, sự ủng hộ của quốc tế là rất quan trọng, song nhân tố quyết định vẫn là sự nỗ lực của bản thân nhân dân các dân tộc thuộc địa. Người viết: “Vận dụng công thức của C. Mác, tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em, chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em” [6].

Những bài báo đó của Nguyễn Ái Quốc đã đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành lý luận về con đường giải phóng các dân tộc thuộc địa theo con đường cách mạng vô sản.

– Sau khi đến Liên Xô, tham gia một khóa học lý luận ngắn hạn, rồi được mời tham dự nhiều đại hội và hội nghị quốc tế lớn, Nguyễn Ái Quốc có cơ hội vừa lắng nghe, học tập, vừa vận dụng vốn lý luận và kinh nghiệm thực tiễn của mình, tham gia vào cuộc tranh luận, đưa ra những ý kiến sắc sảo, những luận điểm riêng, góp phần bổ sung và phát triển lý luận của Lênin về cách mạng ở thuộc địa.

Thời kỳ sau khi Lênin qua đời, về mặt lý luận, phong trào cộng sản quốc tế có xu hướng bị “xơ cứng hóa”, còn tỏ ra chịu ảnh hưởng nhiều của thuyết “dĩ Âu vi trung”(Européo-centrisme=lấy châu Âu làm trung tâm), thường chỉ nhấn mạnh vai trò quyết định của cách mạng vô sản ở chính quốc mà coi nhẹ hoặc đặt cách mạng giải phóng dân tộc ở địa vị phụ thuộc.

Sớm nhận ra tình hình này, tại các diễn đàn quốc tế đó, bằng những lời lẽ tâm huyết và lập luận thuyết phục, Nguyễn Ái Quốc đã “thức tỉnh” các đồng chí cộng sản châu Âu về tầm quan trọng của cách mạng thuộc địa, rằng “vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa…” , rằng “nọc độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các thuộc địa hơn là ở chính quốc,… Thế mà các đồng chí khi nói về cách mạng, lại khinh thường thuộc địa… trong lúc chủ nghĩa tư bản lại dựa vào nó để tự bảo vệ và chống lại các đồng chí?” [7].

Từ luận điểm đó, Nguyễn Ái Quốc làm sâu sắc thêm mối quan hệ giữa cách mạng vô sản và cách mạng thuộc địa. Người yêu cầu giai cấp vô sản ở chính quốc và đảng tiên phong của nó “không phải chỉ tỏ tình đoàn kết với những anh em cùng giai cấp ở đấy bằng lời nói, mà còn phải giác ngộ họ, giáo dục họ về ý thức tổ chức và về phương pháp tổ chức” [8]; “cần nêu một tấm gương về những điều họ có thể và phải làm cho những anh em của họ đang bị áp bức” [9], chỉ có sự hợp tác đó mới có thể đảm bảo cho giai cấp công nhân quốc tế giành được thắng lợi cuối cùng.

Trước khi rời Mátxcơva đi về phương Đông, Nguyễn Ái Quốc thấy cần thiết phải chính thức phát biểu quan điểm của mình (báo cáo bằng văn bản) với BCH quốc tế cộng sản. Người nhấn mạnh sự cần thiết phải vận dụng sáng tạo, bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác sao cho phù hợp với điều kiện thực tế của mỗi nước. Người đặt vấn đề: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? – Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại” [10]. Đây không phải Nguyễn Ái Quốc phản biện Mác mà chỉ thể hiện sự phản ứng với khuynh hướng “lấy châu Âu làm trung tâm” vào lúc đó, vẫn coi châu Âu là mẫu mực, là điển hình cho sự phát triển của nhân loại, cho rằng khi nào cách mạng vô sản ở châu Âu thắng lợi thì các dân tộc thuộc địa đương nhiên sẽ được giải phóng,… (trong khi Nguyễn Ái Quốc, do đánh giá cao chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc của nhân dân thuộc địa, lại cho rằng cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc và bằng thắng lợi của mình mà góp phần “giúp đỡ những người anh em ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”) [11].

Xuất phát từ tư duy biện chứng và yêu cầu phải vận dụng chủ nghĩa Mác một cách sáng tạo, phù hợp với đặc điểm phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội các nước phương Đông và Việt Nam, trong báo cáo gửi quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đề xuất 3 luận điểm lớn:

+ “Cuộc đấu tranh giai cấp ở đó (tức Việt Nam) không diễn ra giống như ở phương Tây”, do ở đó sự phân hóa giai cấp chưa triệt để và sâu sắc; sự đối lập về tài sản và mức sống giữa các giai cấp chưa thật lớn, do đó, “sự xung đột về quyền lợi giữa họ được giảm thiểu”; hơn nữa các dân tộc Viễn Đông không trải qua chế độ chiếm hữu nô lệ, nên cuộc đấu tranh giai cấp ở đó không quyết liệt như ở đây (tức phương Tây).

+ “Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước” – hơn nữa còn là động lực vĩ đại và duy nhất của họ, vì ở các thuộc địa đang đấu tranh giành độc lập thì mâu thuẫn dân tộc và đế quốc là mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu nhất, mâu thuẫn giai cấp trong nội bộ dân tộc vẫn tồn tại, nhưng được giảm thiểu, vì dù là tư sản hay địa chủ (hạng vừa và nhỏ) cũng đều là người nô lệ mất nước.

+ Từ đó, Người mạnh dạn kiến nghị: “Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông. Đó chính là nhiệm vụ các Xô viết phải đảm nhiệm” [12].

Những quan điểm trên đã thể hiện một năng lực tư duy độc lập, sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc về lý luận, dựa trên quan điểm thực tiễn, quan điểm biện chứng vốn là linh hồn của chủ nghĩa Mác. Tiếc rằng 3 luận điểm đó được đưa ra vào thời điểm sau khi Lênin đã mất, quan điểm “giai cấp chống giai cấp” đang thắng thế, “chủ nghĩa dân tộc” bị coi là rơi vào phạm trù tư tưởng tư sản, nên không được quốc tế cộng sản chấp nhận. Tuy vậy, các quan điểm đó vẫn được Nguyễn Ái Quốc kiên trì vận dụng để chỉ đạo cách mạng Việt Nam, vì nó đúng với hoàn cảnh và điều kiện của Việt Nam.

4. Từ Đường Kách mệnh đến Chính cương, Sách lược vắn tắt đánh dấu sự hình thành cơ bản tư tưởng Nguyễn Ái Quốc về con đường cách mạng Việt Nam

– Tác phẩm Đường Kách mệnh là sự phát triển các quan điểm lý luận đã được Nguyễn Ái Quốc sơ bộ nêu lên trước đó, nay được trình bày tương đối có hệ thống về con đường cách mạng Việt Nam.

+ Đường Kách mệnh khẳng định cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam phải đi theo con đường cách mạng Nga, tức là phải đặt nó trong quỹ đạo cách mạng vô sản.

+ Đường Kách mệnh xác định rõ con đường cách mạng Việt Nam phải trải qua 2 giai đoạn: Dân tộc cách mệnh và thế giới cách mệnh, hai giai đoạn này có quan hệ mật thiết với nhau, nhưng mỗi giai đoạn có mục tiêu và phương pháp vận động cách mạng khác nhau. Trong cách mạng giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đề cao sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, chủ trương đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, trên nền tảng “công nông là người chủ cách mệnh”, “là gốc cách mệnh”, “còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ,… ba hạng ấy chỉ là bầu bạn của công nông thôi”.

+ Đường Kách mệnh sớm chỉ ra tầm quan trọng của vấn đề đoàn kết quốc tế, vấn đề phương pháp cách mạng như phương pháp tuyên truyền, giảng giải về lý luận, về chủ nghĩa, về giác ngộ và cách tổ chức – vận động quần chúng ra đấu tranh,…

+ Đường kách mệnh nhấn mạnh tầm quan trọng hàng đầu của công tác xây dựng Đảng, “Đảng có vững, cách mệnh mới thành công. Đảng muốn vững, phải có chủ nghĩa làm cốt… Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”.

+ Đường Kách mệnh chỉ rõ sức mạnh của đảng cách mạng là ở lý luận, ở tổ chức, đồng thời còn ở phẩm chất chính trị và đạo đức của mỗi đảng viên. Vì vậy, Nguyễn Ái Quốc đặt lên hàng đầu vấn đề đạo đức cách mạng, nhắc nhở phải “ít lòng tham muốn về vật chất, phải xem thường danh vị, ngôi thứ và tiền bạc,…” vì chúng là cội nguồn sinh ra đố kỵ, hận thù, chỉ điểm, phản bội, làm tổn hại nghiêm trọng đến sự nghiệp cách mạng.

Những nội dung trên cho thấy Đường Kách mệnh đã đặt cơ sở cho sự hình thành đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc của cách mạng Việt Nam theo đường lối cách mạng vô sản; nó đánh dấu sự chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước đã diễn ra từ cuối thế kỷ XIX cho đến những năm 20 của thế kỷ XX.

– Chính cương, Sách lược vắn tắt và các văn kiện của Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, do Nguyễn Ái Quốc thảo ra, đã đánh dấu sự hình thành cơ bản tư tưởng của Người về con đường cách mạng Việt Nam.

+ Về tiến trình của cách mạng Việt Nam, Chính cương nêu rõ “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”, nghĩa là tiến trình đó gồm 2 giai đoạn cách mạng như Lênin đã nói; vì thổ địa cách mạng cũng chỉ là một trong 2 nhiệm vụ cơ bản của giai đoạn tư sản dân quyền cách mạng. Còn để “đi tới xã hội cộng sản”, đó là nhiệm vụ của giai đoạn cách mạng sau (giai đoạn thế giới cách mạng, tức cách mạng vô sản).

Xuất phát từ thực tiễn của cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: đế quốc và phong kiến là 2 đối tượng phải đánh đổ trong cách mạng dân tộc dân chủ, nhưng không coi 2 nhiệm vụ đó phải thực hiện ngang nhau, song song, đồng thời, mà đặt lên hàng đầu nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc, cần tập trung mũi nhọn vào kẻ thù chính, còn nhiệm vụ chống phong kiến, đem lại ruộng đất cho dân cày sẽ thực hiện từng bước, nhưng phải phục tùng nhiệm vụ chống đế quốc. Đó là chỗ khác với quan điểm của Staline và quốc tế cộng sản.

+ Về đường lối tập hợp quần chúng: Sách lược vắn tắt đề ra chủ trương mềm dẻo, nhằm tập hợp rộng rãi các tầng lớp dân chúng, lôi kéo họ đi về phe vô sản giai cấp, còn đối với bọn phú nông, trung tiểu địa chủ và tư bản An Nam chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít ra làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (như Đảng Lập hiến,…) thì phải đánh đổ.

Sách lược vắn tắt của Đảng cứng rắn về nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược, cùng với Chính cương vắn tắt trở thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, nguồn gốc tạo nên mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đó là sự thấm nhuần và vận dụng sáng tạo những tư tưởng của Lênin được Người đề ra trong Sơ thảo Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa.

Tuy nhiên, ở thời kỳ sau Lênin, nhất là sau Đại hội VI quốc tế cộng sản (1928), khi mà cuộc tổng khủng hoảng của CNTB đang đến gần, quốc tế cộng sản cho rằng thời kỳ bùng nổ và thắng lợi của cách mạng vô sản châu Âu đã tới, càng nhấn mạnh hơn khẩu hiệu “giai cấp chống giai cấp”, coi cách mạng giải phóng của các dân tộc phương Đông chỉ nằm ở vòng ngoài, hỗ trợ cho thắng lợi của cách mạng vô sản; lúc này mặt trận Quốc-Cộng hợp tác ở Trung Quốc cũng đã thất bại và tan vỡ,… nên Chính cương, Sách lược của Nguyễn Ái Quốc bị phê là “sặc mùi hợp tác giai cấp”. Chỉ sau những thất bại liên tiếp của cách mạng vô sản ở châu Âu cuối những năm 20 đầu 30, trước nguy cơ của chủ nghĩa phát xít và sự bùng nổ chiến tranh thế giới mới, Đại hội VII cách mạng vô sản (7/1935) mới thay đổi đường lối, mới trở lại với tư tưởng của Lênin về chính sách mặt trận, khi đó tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về con đường cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam mới được thừa nhận và triển khai trong thực tế.

III. TRỞ VỀ TỔ QUỐC LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG THÁNG TÁM THẮNG LỢI MỞ RA MỘT KỶ NGHUYÊN MỚI CHO LỊCH SỬ DẬN TỘC

Đến với cánh tả của cách mạng Pháp rồi với Lênin và Cách mạng tháng Mười, Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường đúng đắn cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc. Người nóng lòng trở về Tổ quốc, “đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập”. Sau nhiều năm dày công chuẩn bị về chính trị và tổ chức cho việc thành lập Đảng, đào tạo và huấn luyện cán bộ cho cách mạng Việt Nam, để chủ động đón thời cơ giải phóng dân tộc đang đến gần, ngày 28/1/1941, Người đã vượt qua biên giới Việt – Trung, đặt chân lên mảnh đất địa đầu của Tổ quốc thân yêu sau mấy chục năm xa cách.

Ba mươi năm trước, khi Người bước chân ra đi, con đường cứu nước, giải phóng dân tộc vẫn còn mù mịt, chưa thấy đường ra. Ba mươi năm sau, Người trở về với Chính cương, Sách lược sáng trong lòng. Người chủ trì Hội nghị Trung ương 8 (5/1941), cùng với Trung ương Đảng ta chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và sách lược, xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp. Hội nghị nhận định: Cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền… (mà) là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Hội nghị quyết định tạm gác khẩu hiệu ruộng đất, chỉ tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc, Việt gian, đề thêm khẩu hiệu giảm tô, giảm tức, chia lại ruộng công,… Làm như vậy, như Hội nghị phân tích, không phải là bỏ mất nhiệm vụ điền địa, mà nhằm ngay nhiệm vụ bức thiết trước mắt là giải phóng dân tộc, vì “Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được” [13].

Thi hành chính sách “dân tộc tự quyết”, Hội nghị cũng rút khẩu hiệu thành lập liên bang Đông Dương. Về vấn đề chính quyền, Hội nghị chỉ rõ: “Sau khi đánh đuổi được Pháp – Nhật sẽ thành lập một nước Việt Nam dân chủ mới… Chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng của một giai cấp của chung cả toàn thể dân tộc… ai là người dân sống trên giải đất Việt Nam thảy đều được một phần tham gia giữ chính quyền, phải có một phần nhiệm vụ giữ lấy và bảo vệ chính quyền” [14] .

Cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 đã lôi cuốn hàng chục triệu nông dân, dù chưa được chia lại ruộng đất của địa chủ, vẫn hăng hái tiến bước cùng giai cấp công nhân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, làm nên cuộc cách mạng long trời lở đất. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc – kỷ nguyên Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Dân tộc Việt Nam từ thân phận nô lệ đã vươn lên hàng các dân tộc tiên phong trên thế giới.

Công lao đó thuộc về Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, Người đã xông pha trên con đường vạn dặm để tìm ra cái “cẩm nang thần kỳ”, đưa sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc đến thắng lợi vẻ vang, lập nên nhà nước dân chủ cộng hòa đầu tiên ở châu Á. Bài học khảo sát tận cùng thời đại với một tư duy dộc lập, tự chủ, sáng tạo nhằm tìm ra con đường đúng đắn cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh từ 100 năm trước đây vẫn đang là tấm gương sáng mà chúng ta phải thấm nhuần, quán triệt, để tìm ra con đường phát triển phù hợp cho Việt Nam ở thời đại toàn cầu hóa hiện nay.

——————————-

[1] Ba lần nói chuyện với Chủ tịch Hồ Chí Minh, báo Nhân Dân số ra ngày 18/5/1965.
[2] Hồ Chí Minh TT, 1995, t.1, tr.281
[3] Hồ Chí Minh TT, t.1, tr.281
[4] Hồ Chí Minh TT, t.1, tr.298
[5] Hồ Chí Minh TT, t.2, tr. 340
[6] Hồ Chí Minh TT, t.2, tr.128
[7] Hồ Chí Minh TT, t. 1.tr. 273-275
[8] Hồ Chí Minh TT, t.2, tr. 114
[9] Hồ Chí Minh, sđd, t. 1,tr.302
[10] Hồ Chí Minh, sđd, t.1,tr. 466
[11] Hồ Chí Minh TT, t.1, tr. 36
[12] Xem Hồ Chí Minh TT, t.1, tr. 466 – 467
[13] Văn kiện Đảng TT, t. 7 1940 -1945, tr.113.
[14] Văn kiện Đảng TT, t.7 tr.114

baotintuc.vn

GS Hoàng Minh Giám kể về những ngày vận nước “nghìn cân treo sợi tóc” (phần 10)

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ tại Hà Nội.

(DVT.vn) – Tháng 4/1947, tại vùng căn cứ kháng chiến Thái Nguyên, Hồ Chủ tịch tiếp đặc phái viên của cao ủy Bollaert, bác bỏ những yêu sách láo xược của phía Pháp.

Sau ngày kháng chiến toàn quốc bùng nổ (19/12/1946), quan hệ ngoại giao giữa ta và Pháp còn rất thưa thớt. Ngoài một vài bức điện hoặc lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho đại diện Chính phủ Pháp (Léon Blum, Moutet), có một vài cuộc tiếp xúc giữa đại diện Chính phủ ta với các lãnh sự Mỹ, Anh, Ấn Độ và đại biểu Hội Chữ thập đỏ quốc tế; các cuộc tiếp xúc đó là do Pháp đề nghị, nhằm giải quyết cái gọi là “vấn đề tù binh Pháp”.

Hạ tuần tháng 4/1947, ta gửi cho Pháp một thông điệp đề nghị ngừng bắn. Lúc đó đô đốc d’Argenlieu cao ủy Pháp tại Đông Dương đã bị về vườn và cao ủy mới là Bollaert đã đến Đông Dương.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong ngày đầu kháng chiến ở căn cứ địa Việt Bắc.

Một ngày đầu tháng 5/1947, có cuộc gặp gỡ giữa tôi và lãnh sự Anh Tressor Wilson gần cầu Đuống. Sau mấy phút trao đổi ý kiến về “vấn đề tù binh” và tình hình chung, viên lãnh sự Anh nói:

– Ông có biết ông Paul Mus? Ông ấy nói đã có dịp gặp ông ở Hà Nội và đã được yết kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh trước ngày 19 tháng 12/1946.

– Có, đúng như vậy.

– Ông P. Mus muốn gặp ông. Ông ấy đã đi theo tôi đến phía bên kia cầu Đuống, cách đây độ một cây số, và đang chờ ở đó. Nếu ông đồng ý tiếp, thì ông ấy sẽ đến ngay.

– Ông ấy muốn gặp tôi về việc gì? Ông có biết không?

– Ông ấy nói rằng có một việc rất quan trọng, và ông ấy tha thiết muốn gặp ông. Hiện nay ông ấy là một người giúp việc thân cận, một cố vấn của cao ủy Bollaert.

– Được. Nhờ ông báo cho ông P.Mus rằng tôi vẫn sẵn sàng gặp ông ấy.
Một lát sau, P.Mus đến. Sau khi chào hỏi, ông ta vào đề ngay:

– Tôi có một việc rất quan trọng, bí mật và gấp, muốn được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi được ủy nhiệm chuyển trực tiếp đến Chủ tịch một thông điệp của cao ủy Bollaert. Nếu có thể, tôi sẵn sàng đi theo ông ngay bây giờ.

– Rất tiếc. Đi ngay bây giờ thì không được. Tôi sẽ báo cáo với Chủ tịch. Tôi sẽ trả lời cho ông biểt quyết định của Người. Ông cho biết nên trả lời cho ông bằng con đường nào, vừa nhanh chóng vừa đảm bảo bí mật?

– Cảm ơn. Đề nghị ông trả lời cho tôi bằng điện đài.

Các chiến sĩ vệ quốc quân lên đường chiến đấu chặn bước tiến của quân thù.

P. Mus đọc một câu có nghĩa lóng, và nói tiếp: “Bắt đầu từ ngày kia, mỗi buổi sáng, hồi 9 giờ, bộ phận nghe đài của chúng tôi sẽ đón nghe đài của các ông, nghe được câu lóng đó, tôi sẽ đến địa điểm này, đúng giờ hẹn, để được dẫn đến gặp Hồ Chủ tịch và trao trực tiếp bản thông điệp của cao ủy Bollaert.

Sau đó, điện đài của ta báo cho phía Pháp biết Hồ Chủ tịch bằng lòng tiếp đặc phái viên của cao ủy Bollaert. Đúng hẹn, người của ta chờ P. Mus ở cầu Đuống và dẫn vào vùng giải phóng. Để bảo đảm bí mật và vì các đường cái đã bị dân công đào, cắt, ông ta đã phải đi bộ qua các làng phần lớn đã sơ tán, và đi ban đêm. Và một buổi tối trung tuần tháng 5/1947, P. Mus đã được Hồ Chủ tịch tiếp, lúc đó khoảng 22 giờ, tại Thái Nguyên.

Phát thanh truyền lệnh kháng chiến toàn quốc tại Hà Nội.

Thị xã Thái Nguyên đã tản cư triệt để, và tiêu thổ kháng chiến. Các đồng chí bảo vệ đã tìm được một ngôi nhà tuy không nguyên vẹn, nhưng cũng còn được một gian tương đối khả quan, có bàn và ghế, có thể dùng làm nơi Bác tiếp người phái viên bí mật của Bollaert.

Tôi chờ P.Mus và đưa ông ta vào gian nhà yết kiến Hồ Chủ tịch. Dưới ánh sáng của ngọn đèn măng-sông, tôi cảm thấy ông ta xúc động được gặp Bác, được Bác tiếp, giản dị, lịch sự như lúc ở phòng khách tại nhà 12 Ngô Quyền, Hà Nội.

P. Mus cảm ơn Hồ Chủ tịch đã vui lòng cho ông ta gặp để làm nhiệm vụ do cao ủy Đông Dương giao cho và xin phép đọc cho Bác nghe (đọc thuộc lòng) bản thông điệp không ghi vào giấy (messenger verbal) của Bollaert, trả lời bức thư đề nghị ngừng bắn của Chính phủ ta đề ngày 25/4/1947.

Thông điệp của Bollaert nêu lên bốn điều kiện cho ngừng bắn:

1- Quân đội Việt Nam phải nộp vũ khí cho Pháp.
2- Quân đội Pháp được quyền đi lại tự do trên đất nước Việt Nam.
3- Chính phủ Việt Nam phải trả lại cho Pháp tất cả những người nước ngoài (ý nói: người Nhật và người Pháp) đã chạy sang phía Việt Nam.
4- Chính phủ Việt Nam phải trao cho Pháp tất cả những người nước ngoài (ý nói người Nhật và người Pháp) đã chạy sang phía Việt Nam.

Sau khi nghe những điều kiện láo xược đó của cao ủy Pháp, Hồ Chủ tịch nghiêm nét mặt, nhưng bình tĩnh và giọng nói ôn tồn. Người nói:

– Ông Mus, tôi biết ông đã tham gia cuộc kháng chiến chống Hitler của nhân dân Pháp, điều đó có đúng không?

– Thưa Chủ tịch, đúng.

– Vậy ông hãy trả lời tôi: Nếu ở địa vị tôi, ông sẽ có thái độ thế nào với bản thông điệp của ông Bollaert? Ông có nhận những điều kiện đó không?

P. Mus lúng túng… Bác nói tiếp:

– Tôi nghe nói ông Bollaert cũng đã tham gia cuộc kháng chiến chống Hitler và có thành tích. Những điều kiện ông ấy đòi chúng tôi phải đầu hàng. Ông Mus, bản thân ông có nghĩ rằng chúng tôi có thể đầu hàng không? Lại còn điều kiện liên quan đến những người nước ngoài đứng trong hàng ngũ kháng chiến Việt Nam chống thực dân. Phải là một con người hèn mạt, mới chấp nhận điều đó. Nếu tôi chấp nhận, tôi là kẻ “hèn mạt” (Si j’acceepte, je serais un lâche). Và tôi nghĩ rằng trong Liên hiệp Pháp không có chỗ cho những kẻ hèn mạt (Je pense que dans l’ Union française, il ne doit pas y avoir de place pour des lâches).

P. Mus im lặng, gật đầu, tỏ ý đồng tình. Rồi nói:

– Tôi hiểu, thưa Chủ tịch, tôi hiểu…

Thế rồi không nói đến bản thông điệp nữa.

Bác giải thích về lập trường của Chính phủ và nhân dân ta: Yêu chuộng hòa bình, muốn có quan hệ tốt với nhân dân Pháp, nhưng kiên quyết kháng chiến để bảo vệ độc lập và thống nhất của Tổ quốc mình.

P. Mus thừa nhận rằng đó là những tình cảm và ý chí chính đáng, hứa sẽ báo cáo với cao ủy Bollaert những ý kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông ta chúc sức khỏe Bác, và lúc chào từ biệt, tỏ ra cảm động thực sự. Lời cuối cùng của ông ta lúc ra về là:

– Chúc Chủ tịch dũng cảm (Du courage, Monsieur le Président!).

Bác đáp lại:
– Luôn luôn! Tất nhiên! (Toujours! Naturellement!).

Một sự việc nhỏ có lẽ đã làm cho P. Mus ngạc nhiên: Khi cuộc tiếp kiến kết thúc, các đồng chí phục vụ đã bưng ra mấy cốc rượu sâm banh để Bác mời khách uống trước khi ông ta rút lui vào bóng tối đêm khuya.

(Còn nữa)

dvt.vn

Đi tìm ẩn tích Hồ Chí Minh

Nhà Văn Sơn Tùng

Nguyễn Tất Thành làm đơn xin vào học trường Thuộc địa là một “thông báo” về nước – Nguyễn Tất Thành con Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đã có mặt tại nước Pháp “mẫu quốc của dân An Nam!”. Cho nên, bỏ vào thùng thư tại Marseille đơn xin học trường Thuộc địa Paris, Nguyễn Tất Thành xuống tàu đi tiếp đến Havre.

Một ngày giáp Tết. Rét xuyên xương. Một cán bộ của Trung tâm Dịch vụ báo chí của Bộ Ngoại giao đến gặp, đề nghị tôi tiếp ông J.Edward Milner, một nhà báo, nhà đạo diễn và quay phim của Hãng ACACIA và Hãng Truyền hình Channel Four Television của nước Anh. Vị cán bộ ngoại giao cho biết: “Ông ta đang ấp ủ đề tài Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Từ ngày bị thương nặng ở mặt trận trở về, tôi rất ngại ngùng khi phải tiếp xúc với những người lạ vì đã bị mất nhiều thứ… mất cả cái ứng xử nhạy bén, cái giao tiếp linh hoạt do cơ thể không còn lành lặn!

Nhưng đối với các vị khách nhà văn, nhà báo từ nước ngoài đến Việt Nam tìm hiểu về đất nước, về con người, về Bác Hồ… tôi không thể từ chối gặp được.

Ông J.E.Milner bước vào phòng với cái bắt tay trân trọng, lịch thiệp, nhưng ông hơi ngỡ ngàng vì bàn tay tôi không còn nguyên vẹn và ông phải vất vả xếp đôi chân dài của mình để ngồi bệt xuống cái chiếu dưới sàn nhà! Ông cười với một cử chỉ bạt thiệp và giọng nói có màu ấm:

– Tôi đang tập ngồi kiểu này.

– Tính nhẫn nại của người phương Đông có từ trong cách ngồi. Ngồi kiểu này là vững chắc nhất, ngồi được lâu, thưa ngài.

Ông J.E.Milner ứng đáp rất nhà báo:

– Ngồi trên ghế có khi ngã vì ghế mọt.

Thế là chủ khách cùng cười, hội nhập. Tôi mời ông nâng chén:

– Ngài là khách từ một vương quốc rượu ngon, xin ngài nhấp với tôi ly rượu gạo của xứ sở nền văn minh lúa nước.

Ông J.E.Milner cạn chén:

– Tuổi thọ của rượu bằng tuổi thọ của loài người. Rượu cất bằng ngũ cốc là ngon, bằng gạo lại càng ngon, thưa ngài.

Nhà văn Sơn Tùng (người cầm sổ) trong chuyến được đi cùng Bác Hồ để viết về Người (năm 1964). Ảnh tư liệu do nhà văn Sơn Tùng cung cấp.

Qua những phút khởi đầu, ông J.E.Milner vào việc:

– Được biết ngài là một ký giả, một nhà văn đã viết nhiều sách và nhiều bài về Chủ tịch Hồ Chí Minh, được nhiều giới bạn đọc mến mộ. Hiện nay có người nói rằng: Cụ Hồ lúc còn là chàng trai Nguyễn Tất Thành phải đến cảng Nhà Rồng làm phu khuân vác, làm bồi tàu viễn dương để kiếm sống… Gặp thế cuộc, Tất Thành mới tham gia hoạt động chính trị ở Paris với tên gọi Nguyễn Ái Quốc nổi tiếng và trở thành lãnh tụ của phong trào đấu tranh chống đế quốc thực dân, giành độc lập dân tộc. Ngài có luận cứ gì khác để khẳng định Hồ Chí Minh – người yêu nước từ thời mang tên Nguyễn Tất Thành?

Ông J.E.Milner nhìn tôi vẻ thăm dò… sau lúc nêu câu hỏi. Tôi vui vẻ:

– Thưa ngài, sách Khế ước xã hội của triết gia đại văn hào J.J.Rousseau ra đời từ 1762. Ở nước chúng tôi gần đây mới dịch ra tiếng Việt được trọn quyển (Dịch giả, nhà sử học Hoàng Thanh Đạm). Tôi rất thấm thía một điều trong sách ấy: “…Những tâm hồn thấp kém không thể hiểu thấu các bậc vĩ nhân, cũng như kẻ nô lệ nhe răng cười khi nghe hai tiếng tự do”. Có thể một ác ý của sự thiên kiến, cũng có thể do không có được những cứ liệu chuẩn xác về quá trình hình thành của một nhân cách mà hiểu sai lệch về nhân vật lịch sử… Còn Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng tôi là một nhà yêu nước từ thuở còn nằm trong bào thai của mẹ. Thật vậy, mẫu thân của Người lúc gánh gạo đi tiếp tế cho nghĩa quân Phan Đình Phùng chống giặc Pháp thì bụng bà đang mang thai, khi đứa bé ra đời được mang tên “lót nôi” Nguyễn Sinh Côn thì được bú dòng sữa, được uống lời ru của người mẹ yêu nước, căm thù giặc Pháp về đốt làng, giết người, cướp của. Tuổi lên năm, lên mười, Nguyễn Sinh Côn đã được nghe cha đàm đạo việc nước, việc nhà với các nhà đại cách mạng Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế… Ngày Nguyễn Tất Thành đang ngồi trên ghế trường Quốc học Huế, là con quan Thừa biện Bộ lễ, Nguyễn Tất Thành đã đứng vào hàng ngũ những người cùng khổ trong làng quê đấu tranh đòi giảm thuế, bỏ sưu, chống đàn áp bóc lột (1908). Mật thám Trung Kỳ truy nã, Nguyễn Tất Thành phải bỏ học trốn vào cực Nam Trung Kỳ. Một nhà có bốn cha con thì cả bốn người đều bị ghi “sổ đen” của mật thám Trung Kỳ: Nguyễn Sinh Sắc A. 3760; Nguyễn Thị Thanh A.1166; Nguyễn Tất Đạt A.3781; Nguyễn Tất Thành A.3607.

Đó là “Những phần tử nguy hiểm cho nền cai trị của chính phủ bảo hộ“.

Nói rằng Nguyễn Tất Thành không có công ăn việc làm… “phải đi làm phu khuân vác”. Thiết tưởng thân mẫu của Nguyễn Tất Thành là con một gia thế. Cụ tú Hoàng Xuân Đường giàu chữ giàu của cải để nuôi con gái đèn sách hơn mười năm, khi kết duyên với thân phụ của Nguyễn Tất Thành thì bà mới nghỉ việc học. Thân phụ của Nguyễn Tất Thành được ông bà cụ Tú nuôi ăn học từ nhỏ, thi đỗ cử nhân, gả con gái cho và nuôi tiếp chàng rể ăn học, thi đỗ Phó bảng, phải ba lần cụ Tú bán ruộng cho chàng rể sắm “lều chõng”, lộ phí thi Hương trường Nghệ, thi hội tận kinh đô Huế. Rồi thân phụ của Tất Thành làm quan Thừa biện Bộ lễ triều vua Thành Thái, làm quan huyện Bình Khê triều vua Duy Tân. Thế thì, Nguyễn Tất Thành là “cậu ấm”, con quan, đang dạy học tại trường Dục Thanh, Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, thầy giáo Thành đang “ngồi cùng chiếu nhà giáo” với các bậc thầy danh tiếng: Hồ Tá Bang, Trần Lê Chất, Nguyễn Trọng Lội, Nguyễn Quý Anh, Nguyễn Hiệt Chi, Robert Hải, Ngô Văn Nhượng… Nguyễn Tất Thành đã hoàn thiện một nhân cách thanh niên trí thức yêu nước cháy bỏng tâm hồn trước thảm cảnh nước mất: Hai vua Hàm Nghi, Thành Thái bị đế quốc Pháp bắt đi đày biệt xứ, hàng trăm ông nghè, ông cử, ông tú yêu nước bất khuất bị giam chật nhà ngục Côn Lôn, cha làm quan huyện Bình Khê bị triều đình Huế triệu hồi về kinh đô hạ ngục ngày 19/5/1910… Nguyễn Tất Thành quyết dấn thân vào con đường “năm châu bốn bể” để tìm cho được cái phương cách mà trở về giúp dân, cứu nước…

– Thưa ngài, trong cuốn sách “Hồ Chí Minh L’Indochine au Vietnam”, ông Daniel Mémery công bố một tờ đơn của Nguyễn Tất Thành gửi Tổng thống nước Cộng hòa Pháp, xin được vào học trường Thuộc địa tại Paris, ngài có suy nghĩ gì về lá đơn xin được học trường Thuộc địa của Nguyễn Tất Thành?

– Cho tôi được hỏi ngài một chi tiết nhỏ.

– Xin mời ngài hỏi.

– Ngài có nhận xét gì về chữ viết, về trình độ tiếng Pháp của Nguyễn Tất Thành qua lá đơn bằng Pháp ngữ ấy?

– Chữ viết tuyệt đẹp, lời chuẩn, diễn đạt mạch lạc, rõ ràng. Chứng tỏ sự học của Nguyễn Tất Thành chuyên cần và tài hoa.

– Như ngài thấy ở lá đơn của Nguyễn Tất Thành viết tại: “Marseille le 15 Septembre 1911”. Dấu triện đỏ hình bầu dục đóng trên lá đơn ngày “20 – Septembre 1911”. Vậy là Nguyễn Tất Thành rời cảng Nhà Rồng ngày 5/6/1911 với tên gọi Văn Ba (không phải là anh Ba) nghĩa là vượt qua muôn trùng sóng cả để nghe và hiểu, mà biết… Lần đầu tiên Nguyễn Tất Thành đến nước Pháp in bước chân ban đầu xuống thành phố Marseille. Từ thành phố này, Thành làm đơn xin học trường Thuộc địa với một chủ đích khác chứ không phải “đi du học”. Nếu Thành học với lý tưởng ra làm công chức, làm quan để có vợ đẹp, nhà lầu, xe hơi thì Nguyễn Tất Thành đã chịu làm “tờ thú” với khâm sứ Trung Kỳ lúc anh tham gia cuộc đấu tranh của nông dân Thừa Thiên – Huế 1908, sẽ được tiếp tục học và thi tốt nghiệp năm sau đó. Thành biết rất rõ mục đích của trường Thuộc địa Paris là đào tạo ra các ông quan cai trị cho các xứ thuộc địa, tiêu chuẩn hàng đầu phải là con quan từ Nhị phẩm trở lên và trung thành tuyệt đối với mẫu quốc Pháp mới được tuyển vào trường này. Thầy học của Thành là cụ Lê Văn Miến, một trong ba người Việt Nam đầu tiên sang Paris học trường Thuộc địa. Ông Hoàng Trọng Phu, ông Thân Trọng Huề học trường này trở về làm quan rất to, riêng cụ Lê Văn Miến, học xong lại xin học tiếp trường mỹ thuật Paris rồi về dạy học và vẽ tranh sơn dầu.

Nguyễn Tất Thành làm đơn xin vào học trường Thuộc địa là một “thông báo” về nước – Nguyễn Tất Thành con Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đã có mặt tại nước Pháp “mẫu quốc của dân An Nam!”. Cho nên, bỏ vào thùng thư tại Marseille đơn xin học trường Thuộc địa Paris, Nguyễn Tất Thành xuống tàu đi tiếp đến Havre. Các bạn cùng chuyến với Thành tiếp tục phục vụ trên tàu quay trở về Đông Dương… Thành ở lại Havre ít lâu rồi xuống tàu viễn dương khác để “đi xem các nước” và anh đã xuyên qua các đại dương, ghé các bến bờ: Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Algéria, Tunisie, Libye, các cửa biển Đông Phi, đến Cônggô, sang Anh quốc, sang Mỹ quốc, xuống Nam Mỹ, đến tận Granđe de Ile de terre de feu, xuyên sang Port Elizabeth xuống Sydney, Australia… Cuối năm 1913, Nguyễn Tất Thành trở lại London và dừng chân tại đây một thời gian lâu. Qua bao năm tháng ấy, Nguyễn Tất Thành chẳng hề quan tâm đến cái đơn xin học trường Thuộc địa.

Ông J.E.Milner lại đặt tiếp một câu hỏi rất “kẹt” cho tôi:

– Chủ tịch Hồ Chí Minh được Tổ chức Giáo dục, Khoa học, Văn hóa (UNESCO) của Liên hiệp quốc tôn vinh trong dịp kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Người: “Vị anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hóa kiệt xuất (…heros de la libération nationale et éminent homme de culture…), một biểu tượng kiệt xuất và quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội (…éminent symbole de I’affirmation nationnale, a consacre toute sa vie à la libération nationale de peuple Vietnamien, contribuant à la lutte commune des peuples pour la paix, I’indépendan nationale, la démocratie et le progrès social…). Tại sao trong bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh lại có một điều tôi cảm nhận như “trái ngược” với cái đức lớn của Người, đó là “…phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác”… Chẳng lẽ Hồ Chí Minh quên đi gặp các vị anh hùng dân tộc tiền bối của mình?

– Tôi chân thành cảm tạ ngài đã cho tôi một lời thẩm luận rất có ý nghĩa và lý thú. Với sự lãnh hội của tôi về vấn đề này thì, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất nhuần nhuyễn học thuyết Đại Đồng trước khi tiếp nhận học thuyết Mác – Lênin. Người thấy trong học thuyết của các vị Các Mác, Lênin có những vấn đề phải được tiếp tục nghiên cứu… Mà lúc sinh thời Hồ Chí Minh không gặp được các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin, cho nên phải “đi gặp các cụ” ở thế giới bên kia. Còn các anh hùng dân tộc tiền bối, Hồ Chí Minh không thấy có điều gì phải “chất vấn” nữa…

Nhà báo, nghệ sĩ điện ảnh J.E.Milner nâng chén rượu.

– Vậy là… có những “ẩn tích Hồ Chí Minh”, phải đi tìm như Người đã từng đi vào mọi cuộc đời trên khắp hành tinh của chúng ta… Chúng ta chúc mừng Bác Hồ của bạn, và Bác Hồ của chúng ta – Người hằng sống.

Đặt chén xuống, ông nói giọng tha thiết:

– Tôi đã làm một bộ phim về Việt Nam và đã tặng Bộ Ngoại giao Việt Nam trong chuyến thăm Việt Nam lần này. Bộ phim Việt Nam của tôi ra không gặp thời điểm lịch sử, ít được hoan nghênh. Nhưng dòng chảy của lịch sử không bao giờ dừng lại… Cho nên, tôi sẽ tiếp tục làm một bộ phim về Hồ Chí Minh. Với tình đồng nghiệp, tôi xin bạn cho tôi được hỏi một lời về nghề nghiệp: Là nhà văn, bạn tiếp nhận điều gì sáng nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh cho sáng tác của mình?

– Tôi luôn luôn nhớ lời của Người: “Chỉ có nhân dân mới nuôi dưỡng sáng tác của nhà văn bằng những nguồn nhựa sống. Còn nếu nhà văn quên điều đó nhân dân cũng sẽ quên anh ta“…

Con chim cu gáy tự do trên giá sách mở tiếng gáy trưa đồng nội… Mười một giờ. Gặp bữa cơm trưa của gia đình, theo tập tục của Việt Nam và nếp nhà, vợ tôi thành tâm mời vị khách quý từ “viễn quốc” tới cùng ăn bữa cơm đạm bạc với gia đình. Ông J.E.Milner cảm động và ngỡ ngàng giây lát:

– Thưa… bà! Tôi được một vinh hạnh bất ngờ! Đến Việt Nam nhiều lần, lần này tôi mới gặp sự ước mong được ăn một bữa cơm gia đình người Việt Nam. Tôi chân thành cảm tạ lòng hiếu khách của ông bà dành cho tôi. Nhưng tôi lại chưa được cái may mắn hưởng bữa cơm gia đình của một nhà văn Việt Nam. Bởi tôi đã có hẹn dự tiệc của một cơ quan mời 12 giờ hôm nay. Chúng ta còn có dịp tái ngộ, tôi sẽ được như thành ngữ Việt Nam “Cùng đồng bàn đồng bát” với ông bà… Vì tôi sẽ còn làm một bộ phim về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chúng tôi chia tay ông J.E.Milner trong tiếng vang cu gáy mênh mang thành phố vào xuân!

(Theo “Hoa râm bụt”, NXB Thanh niên năm 2010)

GS Hoàng Minh Giám kể về những ngày vận nước “nghìn cân treo sợi tóc” (P 9)

Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946

(DVT.vn) – Hội nghị Fontainebleau thất bại. Bác Hồ ký với Moutet bản Tạm ước, rồi rời Toulon ngày 19/9/1946 cùng một số trí thức Việt kiều: Trần Đại Nghĩa, Trần Hữu Tước…

Về chương trình nghị sự, hai đoàn quyết định một chương trình gồm 5 điểm:

1- Vị trí của Việt Nam trong Liên hiệp Pháp, và quan hệ ngoại giao của Việt Nam với các nước ngoài;
2- Liên bang Đông Dương;
3- Vấn đề thống nhất ba kỳ và trưng cầu dân ý;
4- Vấn đề kinh tế;
5- Dự thảo một hiệp ước.

Thành lập các tiểu ban:

1- Tiểu ban chính trị (gồm tất cả hai đoàn);
2- Kinh tế – Tài chính;
3- Văn hóa;
4- Quân sự;
5- Chương trình nghị sự.

Lâu đài Fontainebleau.

Ngày 13/7 bắt đầu thảo luận vấn đề 1.

Ngày 12. Bác mở Hội nghị báo chí để trình bày lập trường của Việt Nam. Bác nói: “Quan hệ giữa Pháp và Việt Nam phải do một Hiệp ước quy định.

Về kinh tế và văn hóa, chúng tôi tán thành một “liên kết” (association) với nước Pháp trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp (dans le cadre de l’Union Française).

Lý do tồn tại của Liên bang Đông Dương là sự cần thiết phải phối hợp các hoạt động (coordonner les activités) của Việt Nam, Lào và Campuchia. Nó phải chủ yếu là kinh tế (économique). Liên bang Đông Dương không được biến thành một Phủ toàn quyền trá hình (gouvernement général déguisé).

Nam bộ là đất của Việt Nam, là thịt của thịt chúng tôi, là máu của máu chúng tôi. Một cuộc trưng cầu ý dân (référandum) sẽ tốn kém lắm. Nếu chúng ta có thể thỏa thuận với nhau và miễn tổ chức trưng cầu ý dân thì tốt hơn. Nếu không thể miễn, thì chúng ta sẽ tổ chức một cách thành thực và thẳng thắn, và kết quả sẽ cũng thế thôi.

Phái đoàn Chính phủ Việt Nam tại Hội nghị Fontainebleau năm 1946.

Người Pháp sẽ có quyền tiếp tục lập các xí nghiệp (entreprises), quyền tự do kinh doanh của họ sẽ giống như người Việt Nam…”

Ngay từ lúc các tiểu ban bắt đầu thảo luận các vấn đề ghi trong chương trình nghị sự, rõ ràng là quan điểm của hai bên xa nhau rất nhiều, nếu không muốn nói là trái ngược nhau.

Các tiểu ban làm việc một tuần, rồi hai tuần, rồi ba tuần, vẫn chưa kết thúc được vấn đề nào. Ngày 26/7, chính trưởng đoàn Pháp Max André đã phải thốt lên:

– Bao thời gian đã trôi qua! Các tiểu ban của chúng ta chưa “xây dựng” được gì cả? Vì sao?
Trưởng đoàn Phạm Văn Đồng nói thẳng:
– Cái gì cản trở chúng ta, làm cho chúng ta chưa kết luận được một điểm nào? Đó là sự thiếu lòng tin cậy.

Ngày 26/7, có tin d’Argenlieu đã có một hành động mới, nhằm phá hoại Hội nghị: Ông ta triệu tập một hội nghị sẽ họp ngày mồng 1/8 tại Đà Lạt; thành phần hội nghị đó gồm những đại biểu của Nam kỳ, Campuchia, Lào, các dân tộc thiểu số Tây Nguyên và những quan sát viên miền Nam Trung kỳ, để thảo luận vấn đề “Liên bang Đông Dương”.

Hôm đó, mở đầu buổi họp Tiểu ban chính trị, anh Đồng phản đối quyết định của Cao ủy Đông Dương, vì nó là một sự vi phạm Hiệp định 6/3 tiếp theo nhiều vi phạm khác, một chứng cớ “mới” của chính sách “việc đã rồi” mà “chúng tôi kịch liệt phản đối”.

Trưởng đoàn Phạm Văn Đồng và thiếu nhi Việt kiều.

Anh Đồng nhờ Max André chuyển lời phản đối đó cho Chính phủ Pháp, và mong được trả lời càng sớm càng tốt.

Ngày mồng 1/8, Tiểu ban nghiên cứu vấn đề Liên bang Đông Dương bắt đầu họp, anh Đồng đứng dậy và nói:

“Ngày 26/7, tôi đã nhờ ông trưởng đoàn Pháp chuyển một thư phản đối về việc triệu tập Hội nghị họp ngày hôm nay tại Đà Lạt. Chúng tôi vẫn chưa được trả lời. Lập trường của chúng tôi là:

Nêu vấn đề Nam bộ nam Trung bộ và Liên bang Đông Dương là do các nhà chức trách Pháp ở Nam kỳ quyết định, thì Hiệp định sơ bộ 6/3 không có giá trị, và Hội nghị Fontainebleau không có lý do tồn tại; nếu Hiệp định sơ Bộ 6/3 có giá trị, thì chỉ Hội nghị Fontainebleau có thẩm quyền để thảo luận vấn đề nói trên.

Vì lòng tự trọng, chúng ta phải chấm dứt tình trạng nhập nhằng này, và đình chỉ Hội nghị của chúng ta cho đến khi nào cái nhập nhằng đó chấm dứt”.

Thế là buổi họp chấm dứt. Và Hội nghị cũng chấm dứt bởi vì, sau đó, chỉ có những cuộc gặp và trao đổi ý kiến lẻ tẻ, không có cuộc họp giữa hai Đoàn. Bác quyết định sẽ rời nước Pháp ngày 14/8.

Ngày 8/8, Max André nói với ta: Hội nghị Đà Lạt do d’Argenlieu triệu tập ngày 1/8 chỉ để trao đổi ý kiến, không quyết định gì cả, và đề nghị Hội nghị Fontainebleau lại họp.

Bác quyết định hoãn ngày về nước, và ngày 12/8 tuyên bố với báo Libération: “Tôi không đặt điều kiện cho việc tiếp tục Hội nghị. Và ngày 15/8, Bác tuyên bố với báo Franc-Tireur: “Tôi đến đây để xây dựng hòa bình. Tôi không muốn về nước với hai bàn tay không. Tôi muốn đem về cho nhân dân Việt Nam những kết quả cụ thể, sự hợp tác mà chúng ta đều mong muốn”.

Trong lúc đó, cũng có những lời phát biểu “ngược dòng” của một số nhân vật Pháp như de Gaulle và Herriot.

De Gaulle cảnh cáo: “Có nguy cơ tan rã Liên hiệp Pháp”.

Herriot lên tiêng: “Nếu Liên hiệp Pháp không có quyền quyết định về vấn đề ngoại giao và quốc phòng của các thành viên, thì còn gì là Liên hiệp Pháp?”.

Bắt đầu từ ngày 3/9, ta và Pháp thỏa thuận cử một tiểu ban gồm bảy đại biểu: ba người Pháp (Pignon, Torel, Gouron) và bốn người Việt Nam (Phạm Văn Đồng, Phan Anh, Trịnh Văn Bính, Dương Bạch Mai) dự thảo trong bảy ngày (3-10/9) một thỏa thuận về các vấn đề cơ bản là:

1- Độc lập của Việt Nam
2- Vấn đề ngoại giao
3- Vấn đề quân sự
4- Vấn đề Nam bộ

Nhưng sau bảy ngày, tiểu ban ấy không đi đến một thỏa thuận nào cả.

Thế là Hội nghị Fontainebleau đã kết thúc ngày mồng 10/9/1946, nếu không nói là ngày mồng 1/8/1946.

Đoàn ta rời Paris ngày 13/8 đi Toulon và ngày 16/8 xuống tàu Pasteur về nước.

Bác cũng về bằng tàu thủy, để có thể nghỉ ngơi. Chiếc tàu Dumont d’Urville mà Chính phủ Pháp dành cho Bác bị hư hỏng nhẹ, cần sửa chữa, cho nên Bác ở lại Paris thêm mấy ngày. Sáng 14/8, Bác gặp Moutet, trao đổi ý kiến về vấn đề ký một Tạm ước (Modus Vivendi), rồi Bác đi chào tạm biệt Bidault. Nửa đêm hôm đó, Bác gọi điện thoại cho Moutet, đến nhà ông ta, thảo luận thêm về nội dung bản Tạm ước, và ký bản đó với Moutet.

Nội dung bản Tạm ước không giải quyết cụ thể vấn đề nào cả, chỉ nêu những thỏa thuận về nguyên tắc mà những tiểu ban hỗn hợp (commissions mixtes) sẽ cụ thể hóa cách thức thực hiện. Như thế có nghĩa là cuộc đàm phán sẽ tiếp tục, một hiệp định đầy đủ và dứt khoát (un accord total et définitif) sẽ được thảo luận trong cuộc đàm phán sắp tới, chậm nhất vào tháng 1/1947.
Bác rời Paris ngày 16/9 và ngày 19 rời Toulon về nước.

Ngày 18/10, d’Argenlieu đón Bác ở vịnh Cam Ranh, trao đổi ý kiến về vấn đề thực hiện bản Tạm ước.

Bác về đến Hải Phòng ngày 21/10/1946. Bác đã cử một phái đoàn đại diện Chính phủ ta tại Pháp, gồm: Hoàng Minh Giám (trưởng đoàn) và hai đoàn viên (Trần Ngọc Danh, Dương Bạch Mai).

Bác đã nhận một số Việt kiều tình nguyện về nước hoạt động, phục vụ đất nước: Trần Hữu Tước, Võ Quý Huân, Đặng Chấn Liêu, Lâm Ngọc Huấn, Trần Đại Nghĩa…

(Còn nữa)

dvt.vn

Phong trào thi đua “Học tập và làm theo lời Bác” của tuổi trẻ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là đơn vị vinh dự được Đảng, Nhà nước, quân đội giao nhiệm vụ giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, tổ chức Lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tưởng niệm các AHLS tại Đài tưởng niệm Liệt sỹ Bắc Sơn. 33 năm đã trôi qua kể từ ngày đầu tiên mở cửa Lăng, các thế hệ cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ đơn vị đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, xây dựng nên truyền thống “Trung hiếu vẹn toàn, đoàn kết hiệp đồng, tự lực tự cường, chủ động sáng tạo”. Thành tích đó có sự đóng góp không nhỏ của tuổi trẻ đơn vị.

Từ khi Đảng ta phát động Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Đoàn thanh niên xác định đây là cơ hội rất lớn để tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục truyền thống, lý tưởng cách mạng cho đoàn viên thanh niên, góp phần thực hiện tốt phong trào “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác” do Trung ương Đoàn phát động.

Với phương châm triển khai Cuộc vận động thiết thực, cụ thể, tránh phô trương hình thức, gắn với việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, tuổi trẻ Bộ Tư lệnh đã thể hiện quyết tâm thực hiện Cuộc vận động, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ tích cực trong nhận thức và hành động. Bám sát vào hướng dẫn của trên, Đoàn Thanh niên Bộ Tư lệnh xác định tiến hành triển khai Cuộc vận động qua hai giai đoạn: Giai đoạn đầu từ tháng 4/2007 đến tháng 7/2007, các tổ chức Đoàn tập trung tổ chức học tập, nghiên cứu 2 chuyên đề về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cho toàn thể cán bộ, đoàn viên. Giai đoạn tiếp theo là triển khai hành động, cán bộ đoàn viên làm theo lời Bác, trong đó tập trung gắn việc thực hiện 5điều Bác Hồ dạy thanh, thiếu niên với những công việc thường ngày của từng đoàn viên.

Là đơn vị trực tiếp làm nhiệm vụ tại Lăng, đây chính là yếu tố thuận lợi cơ bản nhất để Đoàn thanh niên triển khai các hoạt động giáo dục tuyên truyền về ý nghĩa, nội dung, yêu cầu của Cuộc vận động. Với phương châm không máy móc, dập khuôn và mang sắc thái của tuổi trẻ, nhiều tổ chức Đoàn trong đơn vị đã có những cách làm sáng tạo, đổi mới hình thức tuyên truyền giáo dục như: Chi đoàn Cơ quan Văn phòng với mô hình “ngày đọc sách thanh niên”; các chi đoàn của Đoàn cơ sở H75 phát huy tác dụng của “hộp sách, báo thao trường”, khai thác, sử dụng hiệu quả Phòng Hồ Chí Minh. Đã chủ động phối hợp với thư viện Quân đội tổ chức 1 buổi giới thiệu sách về Chủ tịch Hồ Chí Minh cho cán bộ, đoàn viên thanh niên. Ngoài ra, Đoàn thanh niên của BTL còn phối hợp chặt chẽ với tuổi trẻ các lực lượng trong cụm Di tích Lịch sử Văn hoá Ba Đình tổ chức cho đoàn viên thanh niên tham gia các hoạt động sinh hoạt chính trị, học tập, tham quan tại Lăng, khu Di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch và Bảo tàng Hồ Chí Minh. Trong dịp kỷ niệm 117 năm ngày sinh của Bác, Đoàn thanh niên đơn vị đã phối hợp với Quận đoàn Ba Đình tổ chức cho cán bộ, đoàn viên giao lưu với các cán bộ lão thành cách mạng đã có thời gian làm việc bên Bác Hồ, được nghe những nhân chứng lịch sử kể lại những câu chuyện cảm động về tấm gương đạo đức của Bác. Thông qua các hoạt động giáo dục, tuyên truyền đó đã định hướng cho mỗi đoàn viên thanh niên, mọi suy nghĩ, hành động, việc làm đều gắn với tinh thần của Cuộc vận động.

Qua hơn một năm tổ chức thực hiện Cuộc vận động “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác” các tổ chức đoàn và đoàn viên thanh niên trong đơn vị đã sáng tạo triển khai nhiều cách làm bước đầu có hiệu quả. Đặc biệt, đoàn viên thanh niên là những nhân tố điển hình và tham gia tích cực vào Hội thi kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ở cấp cơ sở và cấp Bộ Tư lệnh do Thường vụ Đảng uỷ Đoàn 969 tổ chức năm 2007. Nhân dịp kỷ niệm 118 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đoàn thanh niên Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng đã tổ chức Hội thi kể chuyện “Bác Hồ với thanh niên, thanh niên với Bác Hồ” từ cấp cơ sở đến cấp BTL. Đã có hàng chục lượt cán bộ, đoàn viên thanh niên trong đơn vị tham gia với những câu chuyện cảm động sâu sắc, thể hiện tình cảm của Bác Hồ, những lời dạy của Bác đối với thanh niên và những tấm gương thanh niên tiêu biểu xuất sắc thực hiện tốt lời Bác Hồ dạy.

Từ thực tế phong trào thi đua, đã xuất hiện nhiều điển hình tiên tiến và các tấm gương tiêu biểu, có thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ. Mô hình “Chi đoàn làm theo lời Bác” của Đoàn cơ sở H75 đã phát huy tốt hiệu quả. Các chi đoàn đã tổ chức quán triệt nội dung Cuộc vận động đến từng đoàn viên, tổ chức đăng ký quyết tâm thi đua trong từng phân đoàn, lấy đây làm căn cứ để đánh giá chất lượng đoàn viên. Trong thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng đơn vị, đoàn viên phát huy tốt tinh thần trách nhiệm, chấp hành nghiêm kỷ luật quân đội, quy định của đơn vị; thực hiện nhiệm vụ nghi lễ quán triệt sâu sắc quan điểm đúng, đều, mạnh, đẹp, trang nghiêm trong thực hiện nhiệm vụ tiêu binh danh dự và nghi lễ chào cờ Quốc gia hàng ngày trước Lăng Bác; đón tiếp, phục vụ ân cần, chu đáo đồng bào và khách quốc tế tới viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tưởng niệm các Anh hùng Liệt sĩ. Xây dựng mô hình “Vọng gác thanh niên, ca gác, ca trực kiểu mẫu”.. . đã tạo ra sự chuyển biến tích cực, góp phần bảo đảm tuyệt đối an toàn an ninh khu vực Lăng Bác và tạo được ấn tượng về hình ảnh của người chiến sĩ tiêu binh bên Lăng Bác Hồ trong lòng đồng bào và du khách quốc tế.

Tháng 7 vừa qua, trong khi đang thực hiện nhiệm vụ tại khu vực Lăng, binh nhất Nguyễn Văn Phúc, đoàn viên thuộc Chi đoàn 4, Đoàn cơ sở H75 đã nhặt được một túi hành lý của khách đi viếng Bác đánh rơi, trong túi có tiền và một số hiện vật có giá trị, anh đã kịp thời báo cáo với chỉ huy đơn vị thông báo và trả lại người đánh mất. Việc làm của anh đã được chỉ huy đơn vị biểu dương và tổ chức Đoàn trong đơn vị lấy đó là tấm gương để mọi đoàn viên noi theo. Khi được hỏi vì sao anh lại có nghĩa cử cao đẹp như vậy, Phúc khiêm tốn trả lời: “Là người chiến sĩ cận vệ bên Lăng Bác, mình phải là những người gương mẫu học tập tấm gương đạo đức của Người. Ở vào hoàn cảnh của tôi, tất cả các đoàn viên trong đơn vị đều làm như vậy thôi”. Đó chỉ là một trong nhiều tấm gương tiêu biểu trong Cuộc vận động “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác” của đoàn viên thanh niên Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đánh giá về kết quả thực hiện Cuộc vận động của tuổi trẻ Bộ Tư lệnh trong thời gian qua, Đại tá Đặng Nam Điền, Phó Chính uỷ Bộ Tư lệnh cho biết: “Thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, tuổi trẻ Bộ Tư lệnh đã có nhiều hoạt động thiết thực cả nội dung và hình thức; góp phần xứng đáng vào việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị và xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện”

Để tiếp tục thực hiện Cuộc vận động có hiệu quả, trong thời gian tới, Đoàn thanh niên BTL Lăng xác định một số nhiệm vụ trọng tâm:

Một là: Tích cực cải tiến, đổi mới nội dung, hình thức nâng cao chất lượng hiệu quả công tác tuyên truyền giáo dục, làm cho mọi cán bộ, đoàn viên nhận thức đúng đắn, sâu sắc hơn về Cuộc vận động; tự giác, tích cực học tập, rèn luyện tu dưỡng theo lời dạy của Bác. Thực hiện tốt tiêu chuẩn đạo đức, lối sống của cán bộ, đoàn viên làm nhiệm vụ tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Xây dựng thành nề nếp, chế độ việc học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy trong nội dung sinh hoạt Đoàn hàng tuần, tháng.

Hai là: Tiếp tục thực hiện hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị của đơn vị: đón tiếp, tuyên truyền, phát huy ý nghĩa chính trị của công trình Lăng góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thực hiện tốt Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Đảng ta phát động.

Ba là: Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ban chấp hành Đoàn các cấp trong việc triển khai, kiểm tra, tổ chức thực hiện Cuộc vận động trong đoàn viên thanh niên; tích cực tham mưu với cấp uỷ, chỉ huy và Ban Chỉ đạo Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gưong đạo đức Hồ Chí Minh” của đơn vị để góp phần thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động lớn này.

Học tập và làm theo lời Bác là việc làm thường xuyên, liên tục, lâu dài và có ý nghĩa quan trọng đối với tuổi trẻ cả nước nói chung và tuổi trẻ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng nói riêng. Thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động do Trung ương Đoàn phát động sẽ tạo động lực lớn, thúc đẩy phong trào hành động cách mạng của tuổi trẻ Việt Nam dành được những kết quả tốt, xây dựng một thế hệ trẻ vừa “hồng”, vừa “chuyên” như Bác Hồ căn dặn trong Di chúc của Người trước lúc đi xa: “… Bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng và cần thiết…”

Trần Duy Hưng

bqllang.gov.vn

Video clip được trích trong bản tin thời sự tổng hợp 19h ngày 28/9/2011 của đài truyền hình Thông tấn xã Việt Nam.

Clip nguồn: avnews.vnanet.vn