Tag Archive | Hồ Chí Minh

Một số bài viết, bài nói và hình ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “Tết trồng cây”

1. Ngày 30/5/1959, trên Báo Nhân Dân số 1901 đăng bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Nông dân phải trồng cây chuẩn bị làm nhà ở” với bút danh Trần Lực. 1

1Bác Hồ chăm sóc cây vú sữa của đồng bào miền Nam gửi tặng Người (12/1957)

2. Với bút danh Trần Lực, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Tết trồng cây” đăng trên Báo Nhân Dân, số 2082, ngày 28/11/1959; 2

3. Ngày 19/1/1960, với bút danh T.L, Bác đã viết “Tết trồng cây đã thắng lợi bước đầu” đăng trên Báo Nhân Dân số 2133;3

4. Bác viết bài “Thêm vài ý kiến về Tết trồng cây” đăng trên Báo Nhân Dân số 2198 ngày 25/3/1960, bút danh Trần Lực; 4

5. “Tết trồng cây” với bút danh Trần Lực, đăng trên Báo Nhân Dân số 2506 ngày 28/1/1961; 5

2Chủ tịch Hồ Chí Minh trồng cây đa tại Công viên Thống Nhất mở đầu Tết Trồng cây do Người phát động (11/1/1960). Ảnh internet

3Ngày 25 tháng 1 năm 1961, Người đã về thăm HTX nông nghiệp Lạc Trung, nay là thôn Lạc Trung, xã Bình Dương, huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc. Đây là nơi có nhiều thành tích trong phong trào “Tết trồng cây” và trở thành điển hình tiên tiến của tỉnh
và toàn miền Bắc. 
Ảnh internet

6. Chủ tịch Hồ Chí Minh có bài nói chuyện với thanh niên trong buổi trồng cây tại vườn hoa thanh niên ngày 5/2/1961 – Theo tường thuật của Báo Nhân Dân số 515 ngày 6/2/1961; 6

7. Ngày 30/12/1961, Bác viết bài “Tết trồng cây” với bút danh T.L đăng trên Báo Nhân Dân số 2839 ngày 30/12/1961; 6

4Về thăm HTX Yên Trường (Yên Định) năm 1961, Bác Hồ khen việc trồng cây gây rừng cũng có tiến bộ, đã trồng được 1 vạn cây lấy gỗ và cây ăn quả. Ảnh: Internet

            8. Với bút danh T.L, Bác viết bài “Tết trồng cây” đăng trên Báo Nhân Dân số 3228 ngày 27/1/1963; 8

9. Ngày 5/2/1964, với bút danh T.L Bác viết bài “Ngày Xuân vui Tết trồng cây nơi nơi phấn khởi, người người thi đua” đăng trên Báo Nhân Dân số 3600; 9

10. Ngày 1/1/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh với bút danh T.L đã viết bài “Năm mới hãy nhiệt liệt tổ chức Tết trồng cây”. 9

11. Với bút danh T.L, Bác viết bài “Tết trồng cây” đăng trên Báo Nhân Dân số 5411 ngày 5/2/1969. 1

5Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng bà con xã Vật Lại, Ba Vì, Hà Tây (nay là Hà Nội) trồng cây vào mùa Xuân năm Kỷ Dậu, 16/2/1969. Ảnh internet

6Bác Hồ cùng cán bộ, nhân viên trồng cây trong Phủ Chủ tịch . Ảnh Internet

7Hình ảnh giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi đang tưới nước, chăm sóc cây trong Phủ Chủ tịch. Ảnh internet

—————————————-

1, 2, 3, 4: Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, XB lần thứ 3, tập 12, trang 227; 337; 442; 535;
5, 6, 7: Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, XB lần thứ 3, tập 13, trang 22; 541; 302;
8, 9, 10: Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, XB lần thứ 3, tập 14, trang 19, 248, 445;
11: Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, XB lần thứ 3, tập 15, 549.

Huyền Trang (tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Mùa Xuân Cụ Hồ… Mùa Xuân Cụ Hồ…

Bác Hồ chúc TếtTrong cuộc đời 79 mùa Xuân của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, có 30 mùa Xuân “Tha hương”, cộng thêm hai mùa Xuân vừa tha hương vừa nằm trong ngục Tưởng Giới Thạch. Trong 30 mùa Xuân cách xa Tổ quốc ấy cũng có hai lần đón Xuân tại nhà tù Víctoria ở Hồng Kông và 5 cái Tết ở trên đất Liên Xô, chỉ có đọc sách mà không được hoạt động nhiều (từ năm 1934 đến năm 1938).

Nếu tính từ tuổi 17 đã biết tự lập thì trừ đi những năm thơ ấu, những năm “ly hương” và tù ngục, Bác Hồ thân yêu thực sự chỉ “ăn” được 30 cái Tết trong nước. Chưa được một nửa cuộc đời – 17 mùa Xuân lênh đênh biển cả, 4 Xuân trong xà lim, 5 Xuân ít được hoạt động… Những mùa Xuân đắng cay ấy cũng không dồn đủ ngọt ngào cho những Xuân còn lại của Người. Bác Hồ đã một lần nói với đồng chí Hoàng Đạo Thuý rằng: “Người ta ai cũng là người, ai cũng có vui, có buồn… Với anh em, đồng chí, đồng bào, tôi cố giữ cho mình được vui…”

Bác không nói tới vế sau, nhưng ai cũng hiểu. Với niềm tin tưởng và tinh thần lạc quan cách mạng. Người đã có những mùa Xuân tươi đẹp nhất. Phải chăng đó là mùa Xuân năm 1923 trên đất Pháp, khi Người viết truyền đơn cổ động mua báo Le Paria. Mùa Xuân ấy, lần đầu tiên, sau bao nhiêu năm kiểm nghiệm cuộc sống, Nguyễn Ái Quốc viết: “Cho đến nay chủ nghĩa tư bản chỉ là những vách tường dày ngăn cản những người lao động trên thế giới hiểu nhau và thương yêu nhau”. Mùa Xuân năm 1924, Người đã đến Mátxcơva quê hương của một mùa Xuân mới. Mùa Xuân năm 1930 là một mùa Xuân tươi đẹp, sung sướng nhất của Bác Hồ, vì “từ nay đã có Đảng lãnh đạo, cách mạng sẽ thành công”. Mùa Xuân năm 1941, sau 30 năm cách xa Tổ quốc, sau khi mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ ở biên giới Việt – Trung, theo nội dung sách sau này được in lưới tên gọi Con đường giải phóng.Con đường mới đi được chặng đầu trong khí trời trong lành của một buổi sớm xuân, trong hương thơm của hoa rừng biên cương, Người trở về Tổ quốc.

Những mùa Xuân phấn khởi như vậy rất ít với Người, vì rằng Người đã nghĩ mình trong bước gian truân, tai ương rèn luyện tinh thần thêm cao, như Nguyễn Trãi đã tự nói “vì trời giao ta làm việc lớn nên thử thách ta”.

Mùa Xuân của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một mùa Xuân của nghĩa tình, chan chứa lòng yêu thương đồng cảm với nhau. Xuân năm 1959, trên đất Liên Xô, Bác nói với các cháu thiếu nhi: “Tết bây giờ khác trước rồi. Mùa Xuân của chúng ta không phải là ba tháng mà là dài hơn, gia đình, họ hàng của ta là cả gia đình quốc tế vô sản”. Người mong muốn mùa Xuân cho mọi người, xuân ở trong mọi ngày. Trong ngày xuân, gặp được đồng bào, đồng chí, bạn bè, người lại thấy Xuân này, xuân lại thêm xuân, nước non xa, anh em gần, vui thật là vui.

Khi Tết đến, Xuân về, dù không có tiền bạc, bánh quà để tặng những người nghèo khổ, Bác vẫn đến với họ, sẻ chia một tấm lòng, một sắc xuân của trái tim Người. Cô công nhân vệ sinh bất ngờ “không bao giờ nghĩ là Bác đến”. Hiền lành như một ông Tiên, ông Bụt, Bác xót xa mà nói “Bác không đến thăm cháu, còn thăm ai?”. Mùa Xuân ấy đối với căn nhà rách nát nghèo nàn, trong một hẻm phố nhỏ của chị công nhân thật là “một mùa Xuân cả thế gian, phải đâu lãng phí cỗ bàn mới xuân” như lời Bác dạy.

Nếu như “Chủ nghĩa cộng sản là mùa Xuân của nhân loại” còn quá cao trên đỉnh núi, mà ta chỉ chiêm ngưỡng được trong những ngày trời đẹp, hoặc còn quá xa như một viễn cảnh, thì trong những ngày này, thế giới này, quả đất này, có thể đã có một mùa Xuân “không gì ngăn cản được những người lao động trên thế giới hiểu nhau và thương yêu nhau”. Đó là lời tuyên bố của Nguyễn Ái Quốc trong mùa Xuân năm 1923. Đó là mong mỏi của Bác suốt cả cuộc đời mình mong muốn “Mùa Xuân dài hơn”, mùa Xuân với áo ấm, cơm no, với tự do, hạnh phúc, với cái “tâm”, cái “thiện” cho mỗi con người./.

Theo cuốn: Một số lời dạy và mẩu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh  do Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hải Dương phát hành năm 2007

Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Gặp “cô bé Trung Quốc” được chụp ảnh với Bác Hồ

1
Bà Vương Phong và bức ảnh quý chụp với Bác Hồ khi xưa.
Ảnh: Xuân Vịnh/Vietnam

Cách đây hơn nửa thế kỷ, Báo Tiền Phong số 190, ra từ ngày 1-4/6/1957 đã trang trọng in trên trang nhất bức ảnh “Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh” chụp Bác Hồ kính yêu cùng một bé gái khoảng 5 tuổi, mặc váy màu trắng có đôi mắt to, đen láy đang cầm cành hoa hồng.

Bức ảnh của tác giả Mai Nam, minh họa cho bài viết “Một bức thư của các bạn nhỏ ở Mátxcơva nhân ngày 1/6.”

Do bức ảnh in trên báo khi đó không chú thích cụ thể nên nhiều người không biết nhân vật đặc biệt đã vinh dự được chụp ảnh với Bác Hồ chính là cô bé Tiểu Hồng, con gái của nhà báo Vương Duy Chân, nguyên Trưởng Phân xã Tân Hoa xã tại Hà Nội từ năm 1955-1960.

Tìm lại người trong ảnh

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, kỷ niệm về những người bạn Việt Nam cùng Thủ đô Hà Nội thơ mộng vẫn mãi mãi khắc sâu trong trái tim cô bé Tiểu Hồng khi xưa và bà Vương Phong đang sống tại Bắc Kinh (Trung Quốc) hiện nay.

Đầu năm 2013, chúng tôi có dịp đến thăm gia đình cố nhà báo Vương Duy Chân tại Bắc Kinh và bất ngờ được nghe bà Vương Phong, con gái của nhà báo xúc động kể lại giây phút vinh dự được gặp Bác Hồ tại Thủ đô Hà Nội gần 60 năm về trước. Đặc biệt hơn, bà Vương Phong còn cho biết mình chính là cô bé Tiểu Hồng, nhân vật đặc biệt trong bức ảnh “Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh” in trên báo Tiền phong năm 1957.

Năm tháng đã dần lùi xa, nhưng bà Vương Phong vẫn nhớ như in giây phút vô cùng xúc động mà mình vinh dự được gặp Bác Hồ tại sân bay Gia Lâm ngày 20/5/1957. Bà Vương Phong cho biết, vào năm 1956, khi đó bà hơn 5 tuổi, được theo phụ thân là nhà báo Vương Duy Chân sang công tác tại Phân xã Tân Hoa Xã ở Thủ đô Hà Nội.

Cô bé Tiểu Hồng khi đó mặc dù còn rất nhỏ nhưng qua sự giới thiệu cũng như những câu chuyện kể của cha mình hàng ngày đã cảm thấy vô cùng khâm phục các nhân vật anh hùng của dân tộc Việt Nam, trong đó đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Hình ảnh Bác Hồ giản dị mà vô cùng kính yêu cũng theo đó dần khắc sâu trong tâm trí của Tiểu Hồng. Cô bé thầm nghĩ mình nhất định sẽ phải gặp bằng được con người vĩ đại đó. Cuối cùng, cơ hội đã đến khi Nguyên soái Liên Xô Kliment Yefremovich Voroshilov (1881-1969) sang thăm Việt Nam vào tháng 5 năm 1957. Sau khi nghe phụ thân nói Bác Hồ hôm nay sẽ ra sân bay Gia Lâm đón khách, Tiểu Hồng muốn gặp Người thì hãy nhanh chóng chuẩn bị, cô bé lập tức thay chiếc váy màu trắng mà mình yêu thích nhất, ra vườn hái một cành hoa hồng mang theo rồi cùng cha ra sân bay.

Tại sân bay Gia Lâm, do phải tác nghiệp để đưa tin phản ánh về chuyến thăm tới Việt Nam của Nguyên soái Voroshilov nên nhà báo Vương Duy Chân đã để cô con gái Tiểu Hồng của mình đứng cùng với gia đình Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam – La Quý Ba. Trong lúc chờ máy bay đến, bé Tiểu Hồng bỗng nghe thấy mọi người hô to “Hồ Chủ tịch đến rồi! Bác Hồ đến rồi!” và đồng loạt vỗ tay hoan hô. Lúc đó, cô đã nhìn thấy Bác Hồ – một ông cụ râu tóc bạc phơ – đang ung dung đi đến nên vui mừng nhảy lên gọi to :” Bác Hồ! Bác Hồ!” và cầm cành hoa vẫy liên tục.

Cho đến tận bây giờ, bà Vương Phong vẫn nhớ như in hình ảnh ngộ nghĩnh của mình và những gì diễn ra sau đó.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đi đến nói chuyện với Đại sứ La Quý Ba và phát hiện ra bé Tiểu Hồng đáng yêu đang đứng bên cạnh liên tục gọi “Bác Hồ! Bác Hồ” bằng tiếng Trung. Bác cúi xuống, dẫn Tiểu Hồng ra khỏi đội hình đang xếp hàng chuẩn bị đón khách và hỏi: “Cháu mấy tuổi rồi? Cháu có thích Việt Nam không?”

Ngay lập tức bé Tiểu Hồng trả lời: “Cháu thích Việt Nam! Cháu yêu Bác Hồ.”

Lúc này rất nhiều phóng viên đang có mặt tại sân bay chạy đến và đèn flas của các máy ảnh chớp sáng liên tục. Bác Hồ lại âu yếm hỏi: “Cháu có biết tiếng Việt Nam không?” Tiểu Hồng đáp “Cháu có!” và nói liền một mạch cả ba câu mà mình đã học thuộc mặc dù chưa biết nghĩa của chúng là gì: “Ăn cơm chưa? Ăn cơm rồi! Chào đồng chí!” Nghe vậy, Bác Hồ và mọi người xung quanh đều bật cười vui vẻ.

Sau này, mỗi khi nhớ lại giây phút đó bà Vương Phong đều cảm thấy vô cùng xúc động, hình ảnh kính yêu của Bác Hồ cùng những câu nói nghộ nghĩnh “tự hỏi, tự trả lời” của một cô bé 5 tuổi mãi mãi khắc sâu trong tâm khảm.

Giây phút cô bé Tiểu Hồng được gặp Bác Hồ tại sân bay Gia Lâm khi đó đã được rất nhiều phóng viên đang có mặt tại đây ghi vào ống kính máy ảnh và sau đó tặng lại cho nhà báo Vương Duy Chân.

Bà Vương Phong cho biết bức ảnh “Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh” đăng trên báo Tiền Phong nhân ngày 1/6/1957 kể trên chính là khoảnh khắc Bác Hồ bật cười vui vẻ khi nghe Tiểu Hồng nói “Ăn cơm chưa? Ăn cơm rồi! Chào đồng chí!”

Tờ báo này đã được nhà báo Vương Duy Chân sưu tầm và tự tay ghi vào bên cạnh dòng chữ “Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tiểu Hồng.”

Hiện nay, tờ báo vẫn đang được bà Vương Phong trân trọng lưu giữ và coi như bảo vật vô cùng quý giá của bản thân cũng như cả gia đình.

Ngoài ra, bà Vương Phong hiện cũng đang lưu giữ một số tấm hình khác cùng chụp khoảnh khắc được gặp Bác Hồ ở các góc độ khác nhau, trong đó có hai bức ảnh do Phóng viên ảnh Tạ Sỹ Phong thuộc Tân Hoa Việt báo chụp sau đó tặng lại cho nhà báo Vương Duy Chân.

“Bác Hồ kính yêu mãi mãi trong trái tim tôi”

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, bà Vương Phong hiện đang sống cùng mẹ và con trai tại một khu phố yên tĩnh nằm ở khu vực phía Tây của Thủ đô Bắc Kinh. Trong căn nhà tập thể giản dị này, chúng tôi thấy rất nhiều hình ảnh cũng như các bức tranh về phong cảnh Việt Nam và Thủ đô Hà Nội được chủ nhân nâng niu đặt tại những vị trí trang trọng.

Nhắc lại kỷ niệm được gặp Bác Hồ khi xưa, bà Vương Phong cho biết trong suốt những năm tháng sau này và cho đến tận bây giờ hình ảnh cùng nhân cách của Người vẫn mãi mãi khắc sâu trong tâm khảm, mỗi ngày một thêm rực rỡ và vĩ đại hơn. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng giống như các lãnh đạo cách mạng tiền bối của Trung Quốc đều hy sinh tất cả cho nhân dân, cho tổ quốc, cho độc lập tự do và bình đẳng. Một sự hy sinh cao cả mà mọi lời nói, mọi lời ca đều khó có thể diễn đạt hoặc ngợi ca hết, mãi mãi được khắc ghi trong lòng mọi người.

Bà Vương Phong cho biết mình luôn cảm thấy tự hào khi kể lại cho bạn bè nghe về kỷ niệm quý báu của đời mình và thường nói với mọi người “Chủ tịch Hồ Chí Minh của Việt Nam mãi mãi trong trái tim tôi.”

Trong khi trò chuyện, chúng tôi lại vô cùng bất ngờ và trân trọng khi được biết bà Vương Phong không những yêu thích mà còn học thuộc và hát rất hay nhiều ca khúc Việt Nam. Bà cho biết khoảng năm 2000, bà đã có dịp quay lại thăm Việt Nam sau đó tự sưu tập, nhờ người dịch sang tiếng Trung một số bài hát nổi tiếng của Việt Nam như “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người,” “Hà Nội mùa Thu” và “Em ơi Hà Nội phố”… để về Trung Quốc giới thiệu và hát lại cho mọi người nghe./.

Xuân Vịnh/Bắc Kinh (Vietnam+)
Phương Thúy
(st)

bqllang.gov.vn

“Thép Bác Hồ”

Ngày ấy, công trường Khu Gang thép được mở mang trên một vùng đồi núi Thái Nguyên. Những cánh bộ đội chuyển ngành của từng Sư đoàn kéo đến đầu quân. Trong đầu mọi người đều hình dung và mơ tưởng một cách khác, những tưởng nơi đây chí ít cũng đã thành nhà cửa đàng hoàng, có máy móc, có xe cộ. Ai dè, một con đường cho ô tô vào cũng chưa có. Đồi núi nhấp nhô, xung quanh bạt ngàn các thứ cỏ dại. Những nhát cuốc đầu tiên bổ xuống tóe lửa lại bật lên. Mọi người từ chỗ chưng hửng, đến phát ngán.

Người là niềm tin tất thắngGiữa lúc ấy, Bác Hồ về thăm. Bác về bất ngờ. Một ngày tháng sáu năm 1959, nắng hầm hập như lửa. Anh em đang đào đất, dựng nhà, bận rộn với tre, với nứa ngoài bến… thì bỗng nghe tin Ban Chỉ huy công trường triệu về có việc gấp. Tự nhiên có người reo lên: “Hay là Bác Hồ về thăm?!”. Mọi người chẳng ai bảo ai, cuốc xẻng trên vai quáng quàng chạy một mạch về phía một bãi rộng, sườn một quả đồi đang san dở. Một chiếc ô tô đen, bám đầy bụi đường vừa đỗ, anh em đã ùa tới. Hàng trăm, hàng nghìn người vây đặc kín quanh chiếc xe. Bác Hồ từ cửa xe hiện ra râu tóc đều bạc phơ, mặt hồng hào. Bác mặc bộ quần áo ta, màu gụ, chiếc áo hở khuy cổ, để lộ lần áo lót trắng trông vừa khỏe mạnh vừa phóng khoáng. Anh em công nhân hò reo, hoan hô vui sướng. Người xúm đông, xúm đỏ, Bác nhích lên một cách khó khăn.

Những người được ở gần Bác nhất cố sức lấy tay cản mọi người đang ùa tới, lấy chỗ cho Bác đi.

Sườn đồi cao, anh em phải kéo, nâng Bác lên. Nắng quá. Có mấy anh chạy đi ngay kiếm mấy tàu lá cọ còn tươi xòe che nắng cho Bác. Bác giơ tay  cho chúng tôi trật tự rồi bắt đầu nói chuyện:

– Công trường của các cô, các chú rất rộng lớn. Sau này sẽ có tới ba vạn người tới ở. Thế mà bây giờ các cô, các chú mới có mấy nghìn người. Như vậy các cô các chú có cái vinh dự là người đi trước.

Bác giải thích về “tiền đồ”:

– Xã hội chủ nghĩa là gì ? Là không có người bóc lột người, mọi người đều no ấm. Đó là tiền đồ của chúng ta, không có tiền đồ, bạc đồ nào khác.

Rồi Bác hỏi:

– Muốn ăn quả thì phải làm gì ?

– Phải trồng cây ạ !

– Khi mới trồng cây thì đã có quả chưa ?

– Chưa ạ !

– Muốn uống nước thì phải làm gì ?

– Phải đào giếng ạ !

– Khi đang đào giếng thì đã có nước chưa ?

– Chưa ạ !

– Đào giếng có khó nhọc không ?

– Có ạ !

– Đào giếng rồi còn phải múc nước lên, đun sôi thì mới có bát nước trong lành mà uống. Xây dựng Xí nghiệp bây giờ cũng thế. Tiền đồ là ở các cô, các chú. Xây dựng Xí nghiệp nhanh thì chóng có tiền đồ. Bác nghe nói có một số cô chú thắc mắc đó là vì chưa hiểu thôi. Bác tin rồi mọi người sẽ làm rất hăng hái.

Hôm đó, Bác còn dặn rất nhiều điều: Công nhân, cán bộ phải có tinh thần đoàn kết, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, phải tăng gia lấy cái mà ăn, phải giữ gìn vệ sinh, không được uống nước lã, phải đánh ruồi, mỗi người một cái vỉ ruồi sau lưng, thấy ruồi là đánh… Mỗi điều dặn, Bác đều lấy ví dụ cho dễ hiểu.

Nói về đoàn kết, Bác chỉ vào chiếc xe hơi đang đỗ dưới đường:

– Nếu mười người cùng đẩy xe, cùng dô hò thì xe sẽ chạy bon bon. Còn nếu người thì đẩy, người thì không, có mấy người lại chỉ vờ đẩy thôi thì không thể đẩy xe chạy được.

Nói về đánh ruồi, Bác hỏi:

– Đế quốc to hơn hay con ruồi to hơn ?

– Đế quốc to hơn ạ !

Bác ôn tồn:

– Thằng đế quốc to lù lù, có máy bay, đại bác, xe tăng, tầu bò, các cô các chú còn đánh được nó, lẽ nào các cô, các chú lại chịu thua mấy con ruồi.

Cuối cùng, Bác nói:

– Hôm nay, Bác không đi thăm khắp công trường được. Bác nhờ các cô, các chú ở đây chuyển lời hỏi thăm của Bác đến các cô các chú vắng mặt.

Tiễn Bác đi rồi mà lòng chúng tôi còn ngẩn ngơ, bàng hoàng như vừa qua một giấc mơ. Chúng tôi bàn tán, khoe với nhau những gì mình được thấy ở Bác, suy nghĩ không dứt về những lời Bác dạy. Nhưng trước nhất, chúng tôi thấy có cái vẻ vang là có đi xây dựng khu gang thép mới được gặp Bác Hô, trong một kỷ niệm thắm thiết như vậy.

(Theo “Hồ Chí Minh – Một huyền thoại kỳ vĩ” – NXB Lao động)
Nguồn hcmpc.vn
Phương Thúy (st).

bqllang.gov.vn

Nỗi nhớ Bác Hồ và tiếng hát mùa xuân

Tư tưởng Hồ Chí Minh đi tới mùa XuânNhững ca khúc viết về Bác đều đạt đến độ chín mùi của tấm lòng và thăng hoa bởi tài năng của người nghệ sĩ, nhanh chóng đi vào lòng người và trở thành một phần máu thịt của tâm hồn Việt Nam. Một xuân nữa chúng ta không được nghe thơ chúc Tết của Người, nhưng hình bóng và tình yêu mà Người dành cho toàn dân là điều không thể phai nhòa.

Một trong những ca khúc viết về Bác thường được nhắc đến là “Trồng cây lại nhớ đến Người” của Đỗ Nhuận. Nhiều ca sĩ, người dẫn chương trình đã giới thiệu ca khúc này là dân ca Nghệ An một cách vô tư. Sự nhầm lẫn này là một minh chứng hết sức tuyệt vời về sự phổ biến của nó. Trên nền dân ca được chỉnh lí, chất thô mộc, đầm ấm của ca từ dường như đã hòa lẫn vào chất giọng đậm, ngọt của người xứ Nghệ : “Trồng cây tôi lại nhớ đến Người. À ơi… (chừ) rừng bao nhiêu cây mọc tôi lại ơn Người bấy nhiêu…” Cũng những rung động tương tự nhưng nhạc sĩ An Thuyên lại đưa dân ca Nghệ An reo trên cung bậc khác. “Một khúc dân ca sâu lắng quê nhà, đêm sông Lam dạt dào sóng nước. Vọng câu đò đưa tình người mộc mạc bát ngát nhớ thương mà thoảng hương giữa đời”. Nếu ai đã từng nghe NSƯT Thanh Hoa trình bày ca khúc này hẳn sẽ đồng ý: Dường như An Thuyên đã cộng hưởng với dân ca xứ Nghệ, chan hòa máu thịt mình vào để hình dung ra tâm tư Bác thời niên thiếu một cách đằm thắm nhất, sâu lắng nhất .

Hầu hết những ca khúc mang chủ đề Bác đều có sự thành công lớn khi sử dụng lợi thế phổ biến của những làn điệu dân ca. Dân ca Nghệ An có “Trồng cây lại nhớ đến Người” của Đỗ Nhuận, “Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác của An Thuyên’. Dân ca Trung bộ có “Miền Trung nhớ Bác’ của Thuận Yến. Dân ca Nam bộ có “Miền Nam nhớ mãi ơn Người” của Nguyễn Đồng Nai, Vào Lăng viếng Bác của Hoàng Hiệp… Đặc biệt là tiếng reo vui của những người con Tây Nguyên: “Mùa xuân đến rồi bản làng ơi, thư Bác Hồ gởi tới non sông đem chiến công vang dội khắp hai miền. Bác Hồ ơi đây là mùa chiến thắng…”

Dân ca là tiếng nói tâm hồn của một miền đất. Gần nửa thế kỷ qua đã có nhiều ca khúc mới sử dụng làn điệu, âm hưởng dân ca để nói về sự kiện hiện đại. Nhưng viết về một người thì không chủ đề nào lại tập trung và thành công như viết về Bác. Câu trả lời cho hiện tượng này không quá khó – ấy là do dân ta mang nặng lòng kính yêu người lãnh tụ vĩ đại của dân tộc. Người miền Trung tỏ bày chân thành không một chút màu mè: “Chúng con sinh ra khi nước còn chia cắt, nỗi nhớ Bác Hồ dằn dặt đến miền Trung. Để sớm nay con đi giữa đoàn quân, trong gió biển chan hòa đi theo dấu chân Bác. Đường miền Trung non xanh nước biếc, xin hỏi đường nào Bác đã qua đây khi Bác tìm đường cứu nước ai hay (Miền Trung nhớ Bác – Thuận Yến). Nếu Chế Lan Viên từng bộc bạch qua những vần thơ : “Lũ chúng ta sống trong giường chiếu hẹp, giấc mơ con đè nát cuộc đời con. Hiểu sao hết những tấm lòng lãnh tụ, vạch đường đi cho dân tộc đi theo” thì Thuận Yến lại bày tỏ bằng dân ca. Hầu như tất cả các nhạc sĩ khi hòa âm cho ca khúc này đều phối cho những giọt đàn bầu rải đều và xuyên suốt bài ca. Chính nét nhạc chủ đạo này đã mang lại ấn tượng tấm lòng sâu nặng của người miền Trung với Bác. Người miền Trung nhớ Bác như thế thì dân Nam bộ lại gọi tên Người như tìm đến một niềm tin tất thắng. “Trên cánh đồng miền Nam mây đen bao phủ chân trời khi ca lên Hồ Chí Minh nghe lòng phơi phới niềm vui (Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người –Trần Kiết Tường). Chất ngọt ngào của dân ca Nam bộ đã làm ca khúc như rộng hẳn ra, bàng bạc khắp không gian và mênh mông như lúa đồng Nam bộ. Có nhiều chuyện kể về tấm lòng người dân Nam bộ với Bác: chuyện người Đồng Tháp dựng đình thờ Bác, Mỹ – Ngụy phá hoài không được, chuyện người dân miệt rừng đước Cà Mau lấy ảnh Bác làm tín vật biểu lộ lòng thủy chung với cách mạng … Những câu chuyện ấy không hề cá biệt mà khắp miền Nam đâu đâu cũng có (chẳng phải thế mà ngay cả sách vở nhiều lúc cũng nhầm thơ của Bảo Định Giang là ca dao đấy thôi – Tháp Mười đẹp nhất bông sen, Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ. Rồi một chiều ghé qua bến Nhà Rồng, nhạc sĩ Trần Hoàn đã xúc động mà viết nên ca khúc thật sự thấm đượm chất Nam Bộ: “Ai về Thủ Thiêm ai qua Bến Nghé. Ai xuôi ai ngược nhớ ghé bến Nhà Rồng. Chiều về khói tỏa trên sông, lẳng nghe câu hát mà chạnh lòng nước non (Thăm bến Nhà Rồng – Trần Hoàn ). Nhạc sĩ trong ca khúc chỉ hỏi một câu, chỉ băn khoăn một điều mà đã phả được cái hồn người Nam Bộ dân dã, chất phác vào trong ca khúc. Lúc cập thuyền ai tiễn Người đi hay chỉ một mình khăn gói biệt ly vì nước vì dân. Cũng bằng những chi tiết rất nhỏ như vậy nhưng với sự khai thác độc đáo nhiều ca khúc lớn đã ra đời, điển hình là Đôi dép Bác Hồ của Văn An – “Đôi dép đơn sơ đôi dép Bác Hồ, Bác đi từ ở chiến khu Bác về. Phố phường trận địa nhà máy đồng quê đều in dấu dép Bác về Bác ơi …” Ra đời sau ngày Bác mất, cho đến nay mỗi khi nghe lại ca khúc nhiều người vẫn thấy lòng mình rưng rưng tưởng như Người vẫn còn đâu đây.

Bác của chúng ta vĩ đại vì nhiều lẽ nhưng lẽ đầu tiên đó là sự vĩ đại của cái bình thường. Sẽ không ai quên cuộc đời bình dị, hết lòng vì dân vì nước của Người, và vì thế khi viết về những điều giản đơn như vậy các nhạc sĩ đã khơi dòng suy tưởng về Bác trong trái tim ta. Những ca khúc viết về Bác sẽ còn xuyên suốt nhiều thời đại bởi lẽ chỉ riêng tên Người đã là cả một bài ca.

Bá Phùng
Theo http://www.baobinhdinh.com.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Nhớ “Tết trồng cây” của Bác Hồ

 Trong không khí rộn ràng khi Tết đến Xuân về, mỗi chúng ta lại nhớ tới cái “Tết” khác –  một mỹ tục do Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu khởi xướng từ cuối năm 1959, đó là “Tết trồng cây”. Quan tâm đến môi trường thiên nhiên và hiểu được ý nghĩa sâu sắc, giá trị thiết thực của môi trường sống, Bác đã động viên và kêu gọi nhân dân ta tích cực trồng cây, giữ lấy màu xanh của đất nước:

“Mùa xuân là Tết trồng cây,
Làm cho đất nước càng ngày càng Xuân”.

Từ lâu, câu thơ của Bác Hồ đã thấm sâu vào tâm trí của hàng triệu trái tim con người Việt Nam, kể từ đó cho tới nay, đã thành một truyền thống tốt đẹp, mỗi dịp Xuân về là “Tết trồng cây” thực sự trở thành ngày hội của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trồng cây, gây rừng và bảo vệ môi trường sinh thái. Truyền thống đó đã mang lại giá trị thực tiễn, góp phần làm đẹp cảnh quan môi trường, nhất là trong tình hình biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường như hiện nay.

trong cay 1
Bác Hồ trồng cây đa tại xã Vật Li, Ba Vì, Hà Tây (nay là Hà Nội) ngày 16/02/1969

Chủ tịch Hồ Chí Minh vốn yêu thiên nhiên, sống gần gũi với thiên nhiên nên từ những ngày hoạt động cách mạng, dù bận trăm công nghìn việc nhưng Người vẫn luôn chú trọng tới việc xây dựng môi trường để bảo đảm cho điều kiện sống và công tác bí mật trong kháng chiến. Ở thời điểm đó, cơ quan thường xuyên phải di chuyển, Người căn dặn cán bộ phải chọn những nơi:“Trên có núi, dưới có sông, có đất ta trồng, có bãi ta vui”. Đến địa điểm mới, Người cùng cán bộ bắt tay ngay vào việc cuốc đất trồng cây vừa để cải thiện đời sống, vừa để hòa nhập vào thiên nhiên. Người coi việc sống gần gũi, hòa mình với thiên nhiên như một cách để nuôi dưỡng tâm hồn, trí tuệ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt vấn đề phải đấu tranh chống lại những tai họa của thiên nhiên,“quan tâm đến việc trồng cây” và bảo vệ rừng, cấm phá rừng. Theo Bác, trồng cây ngoài ý nghĩa to lớn là để cho môi trường tự nhiên và quang cảnh đất nước trở nên tươi đẹp hơn thì còn ý nghĩa thiết thực nữa là để chuẩn bị lấy gỗ làm nhà ở cho nhân dân. Ngày 30-5-1959, với bút danh Trần Lực, Bác đã viết bài: “Nông dân phải trồng cây chuẩn bị làm nhà ở”, đăng trên Báo Nhân dân số 1901, trong đó Bác chỉ ra: “Muốn làm cửa nhà tốt, phải ra sức trồng cây, chúng ta chuẩn bị từ nay, dăm năm sau, sẽ bắt tay dựng nhà”. Ngày 28-11-1959, trên Báo Nhân dân số 2082, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài “Tết trồng cây” và đề nghị tổ chức một ngày Tết trồng cây để thiết thực kỷ niệm ngày thành lập Đảng. Trong bài viết, Bác nêu rõ tác dụng của việc trồng cây là công việc đó “tốn kém ít mà ích lợi nhiều”, tất cả nhân dân miền Bắc mỗi người phụ trách trồng một hoặc vài ba cây và chăm sóc cho tốt. Tại thời điểm đó, Bác đã tính “ở miền Bắc có độ 14 triệu, trong số đó độ 3 triệu là trẻ em thơ ấu, còn 11 triệu người từ tám tuổi trở lên đều có thể trồng cây…Như vậy, mỗi Tết trồng được độ 15 triệu cây. Từ năm 1960 đến 1965, chúng ta sẽ có 90 triệu cây, vừa cây ăn quả, cây có hoa, vừa cây làm cột nhà. Và trong hai mươi năm, nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp hơn, khí hậu điều hòa hơn, cây gỗ đầy đủ hơn. Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân ta”. Cuối bài báo, Bác Hồ đã viết Tết trồng cây “cũng là một cuộc thi đua dài hạn nhưng nhẹ nhàng mà tất cả mọi người – từ các cụ phụ lão đến các em nhi đồng đều có thể hăng hái tham gia”. Điều đó có thể thấy, ý nghĩa của “Tết trồng cây” là hết sức thiết thực và lớn lao.

trong cay 2

Vào buổi sáng ngày 11/1/1960, không khí Tết trồng cây đầu tiên mừng Đảng, mừng Xuân thật sôi nổi. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đồng bào Thủ đô đã trồng cây ở Công viên Hồ Bảy Mẫu (nay là Công viên Thống Nhất). Tại nơi đây, Bác đã tự tay cầm xẻng, xúc đất vun cho một cây đa nhỏ. Trồng cây xong, Bác nói chuyện thân mật với mọi người về lợi ích của việc trồng cây. Người nói đại ý rằng, mấy năm trước nơi đây còn là bãi rác, nhờ có lao động của mọi người mà nay cây đã lên xanh tốt. Ngày nghỉ, các cô, các chú dẫn con cái ra đây hóng mát, xem hoa, ngắm cây vui chơi. Đây chính là vườn hoa của các cô, các chú. Vậy chúng ta phải lao động cho thật tốt, ta làm cho ta và cho con cháu đời sau.

trong cay 3
Cây đa Bác Hồ trồng ở Công viên Thống Nhất (Hà Nội) năm 1960, nay sum suê xanh tốt, tỏa bóng mát quanh năm. Ảnh internet

52 mùa Xuân kể từ ngày ấy, Công viên Thống Nhất hôm nay đã trở thành một khu vui chơi giải trí lớn của Thủ đô Hà Nội. Cây đa nhỏ năm xưa Bác trồng giờ đã là một cây đa cổ thụ sum suê xanh tốt, tỏa bóng mát quanh năm.

Mùa Xuân năm 1969, sức khỏe của Bác yếu nhiều, việc bố trí để Bác trồng cây ở một địa phương nào đó theo ý của Bác là một vấn đề hết sức khó khăn. Những người phục vụ Bác rất lo lắng nên nhiều lần đề nghị Bác hoãn lại việc trồng cây. Nhưng Bác rất kiên quyết. Người nói: “Đây là dịp kỷ niệm 10 năm ngày phát động Tết trồng cây nên các chú phải bố trí cho Bác trồng cây ở một địa phương nào đó có nhiều thành tích…”. Sau đó, Bác gợi ý chọn xã Vật Lại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội) là nơi có phong trào trồng cây tốt.

Theo kế hoạch đã chuẩn bị, Bác đến địa điểm trồng cây. Đông đảo các đại biểu, các tầng lớp nhân dân đã đứng trên những đồi cây đón Bác. Bác trực tiếp trồng thêm một cây đa. Nhìn những xẻng đất, bình nước Bác tưới mát cho cây, mọi người ai cũng xúc động. Trồng cây xong, Bác cùng mọi người quây quần dưới tán bạch đàn và thân mật hỏi chuyện và chúc Tết mọi người. Bác căn dặn: “Đất nước này là của chúng ta nên phải thi đua sản xuất giỏi, trồng cây giỏi”.

Bác không chỉ nêu rõ giá trị của việc trồng cây, gây rừng mà còn chỉ rõ những hậu quả và thiệt hại khi chặt phá rừng bừa bãi, khai thác không hợp lý: “Ảnh hưởng đến khí hậu, ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống rất nhiều” và “nếu rừng kiệt thì không còn gì và mất nguồn nước thì ruộng mất màu, gây ra lụt và hạn hán”. Chính vì thế mà Bác ví rừng là vàng và căn dặn: “Chớ lãng phí vàng mà phải bảo vệ vàng của chúng ta”. Đau xót trước cảnh rừng bị tàn phá, bị khai thác bừa bãi, Bác nói: “Những cây gỗ to bị chặt để đốt hay cho mục nát không khác gì đồng bào mình tự đem tiền bạc bỏ xuống sông”. Và rồi Bác kêu gọi nhân dân ta “phải có kế hoạch trồng rừng và tích cực bảo vệ rừng… Phải bảo vệ rừng như bảo vệ nhà của mình”.

Ngay cả đến giờ phút sắp đi xa, trong Di chúc, Bác Hồ cũng không quên nhắc nhở nhân dân ta phải tiếp tục công việc trồng cây gây rừng: “Nên có kế hoạch trồng cây trên đồi. Ai đến thăm thì trồng một cây hoa làm kỷ niệm. Trồng cây nào phải tốt cây ấy. Lâu ngày cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho công nghiệp”.

Như vậy có thể thấy, trong suốt cuộc đời mình, Bác Hồ rất quan tâm tới công cuộc trồng cây, gây rừng và bảo vệ rừng. Tết trồng cây là bài học lớn của Bác để lại cho thế hệ sau về cách sống gần gũi với thiên nhiên, bảo vệ tài nguyên môi trường, về phát triển bền vững, công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước nhưng phải luôn giữ được màu xanh cây cỏ, vì chất lượng cuộc sống của người dân.

Ngày nay, trong bối cảnh trái đất của chúng ta đang đứng trước những vấn nạn như ô nhiễm môi trường, trái đất nóng lên do hiệu ứng nhà kính, biến đổi khí hậu, thiên tai lũ lụt, hạn hán…..thì công cuộc bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu đã trở thành một trong những chính sách quan trọng hàng đầu của Chính phủ các nước trên thế giới, trong đó có Đảng và Nhà nước Việt Nam. Hơn 50 năm đã trôi qua, “Tết trồng cây” do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động và những lời căn dặn của Người về giữ gìn, bảo vệ môi truờng sinh thái thân thiện, bền vững với đời sống con người càng có ý nghĩa lớn lao và thiết thực. Tấm gương sống giản dị, gần gũi với thiên nhiên, tư tưởng, triết lý sống tiến bộ về bảo vệ cảnh quan môi trường sinh thái và tài nguyên thiên nhiên để phát triển bền vững của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành kim chỉ nam hành động đúng đắn cho các thế hệ hôm nay và mãi về sau./.

Huyền Trang (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Những mùa xuân lịch sử

Người Việt Nam có một truyền thống rất đẹp: Hằng năm, cứ mỗi dịp chào đón xuân về, cả dân tộc ôn lại lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước với biết bao chiến công chói lọi giành được vào mùa xuân. Những chiến công đó đã làm nên những mùa xuân lịch sử.

Những mùa xuân lịch sử trước khi Đảng ra đời

Mùa xuân năm 1077 diễn ra trận quyết chiến chiến lược Như Nguyệt (18/1 đến 2/1077) của quân dân Đại Việt do Lý Thường Kiệt chỉ huy nhằm tiêu diệt quân Tống xâm lược trên phòng tuyến sông Cầu (Bắc Ninh). Kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ II (1075-1077).

Mùa xuân năm 1258 diễn ra cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông lần thứ I, trong đó quân và dân ta dưới thời nhà Trần tổ chức phản công bằng trận Đông Bộ Đầu (ngày 29/1/1258), đập tan âm mưu xâm lược Đại Việt của quân Nguyên-Mông.

Mùa xuân năm 1285 diễn ra trận phòng ngự ở Vạn Kiếp (2/1285) do Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn chỉ huy, đánh thắng quân Nguyên-Mông trong cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông lần thứ II.

Mùa xuân năm 1288 ghi lại trận phục kích đường sông của quân dân nhà Trần (Đại Việt) trên sông Bạch Đằng (9/4/1288) do Trần Quốc Tuấn chỉ huy nhằm tiêu diệt quân Nguyên-Mông trên đường rút chạy, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông lần III (1287-1288).

Mùa xuân năm 1785 chứng kiến trận Rạch Gầm-Xoài Mút (20/1/1785) do Nguyễn Huệ chỉ huy, đập tan âm mưu can thiệp của phong kiến Xiêm, đánh đổ các tập đoàn phong kiến của chúa Nguyễn ở Đàng Trong.

Mùa xuân năm 1789, chỉ trong vòng 5 ngày đêm (từ ngày 30/12 đến 5/1 năm Kỷ Dậu – 1789), dân tộc ta dưới sự lãnh đạo tài tình của Quang Trung – Nguyễn Huệ đã quét sạch 20 vạn quân xâm lược Mãn Thanh ra khỏi bờ cõi, giải phóng kinh thành Thăng Long, giải phóng Tổ quốc.

Đây là một trong những chiến công vĩ đại và hiển hách vào bậc nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta.

Những mùa xuân lịch sử gắn với sự ra đời và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Mùa xuân năm 1930 ghi lại dấu mốc lịch sử ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3/2/1930. Từ đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam giành được nhiều thắng lợi vĩ đại, có ý nghĩa dân tộc và thời đại.

Mùa xuân năm 1931: Chứng kiến sự ra đời của Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương vào ngày 26/3/1931, tiền thân của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, là tổ chức chính trị – xã hội lớn nhất của thanh niên Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

moi do xuan ve
Ảnh Tư liệu

Mùa xuân năm 1949: Chiến dịch Cao – Bắc – Lạng (mở màn ngày 15/3/1949, kết thúc ngày 30/4/1949), là chiến dịch tiến công của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đánh vào tuyến phòng thủ đường 4 và lực lượng chiếm đóng của Pháp ở Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn.

Mùa xuân năm 1950:

Từ ngày 25 đến ngày 27/1/1950 diễn ra Chiến dịch Bến Cát I của lực lượng vũ trang khu Sài Gòn – Chợ Lớn tiêu diệt một bộ phận quân Pháp, mở rộng khu căn cứ Long Nguyên – Thanh Tuyền;

Ngày 18/1/1950, diễn ra trận sân bay Bạch Mai của Tiểu đoàn 108 (Mặt trận Hà Nội) tập kích sân bay Bạch Mai – một căn cứ không quân quan trọng của Pháp ở Hà Nội;

Từ ngày 26/1 đến ngày 1/2/1950, diễn ra chiến dịch Cao Lãnh của lực lượng vũ trang Khu 8 trên địa bàn tổng An Tịnh (huyện Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc, nay thuộc tỉnh Đồng Tháp) nhằm tiêu hao sinh lực, phá vỡ hệ thống lô cốt, tháp canh của quân Pháp, mở rộng vùng giải phóng, xây dựng cơ sở cách mạng trong vùng địch tạm chiếm.

Mùa xuân năm 1951: Chiến dịch Trần Hưng Đạo kết thúc thắng lợi vào ngày 18/1/1951, do Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp tổ chức, chỉ huy đánh vào phòng tuyến của quân Pháp ở vùng trung du Bắc Bộ, nhằm phát huy quyền chủ động chiến lược sau thắng lợi chiến dịch Biên Giới (năm 1950).

Mùa xuân năm 1954:

Chứng kiến trận sân bay Cát Bi (7/3/1954) do 32 chiến sĩ bộ đội địa phương Kiến An tập kích vào sân bay Cát Bi, góp phần phát triển chiến tranh du kích trong chiến cục Đông Xuân 1953-1954;

Chiến dịch Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia từ 30/1 đến 4/1954, là chiến dịch tiến công của quân đội nhân dân Việt Nam phối hợp với lực lượng vũ trang cách mạng Lào và Campuchia đánh quân Pháp ở Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia;

Chiến dịch Thượng Lào (29/1 đến 13/2/1954) là chiến dịch tiến công của Đại đoàn 308 và một bộ phận lực lượng vũ trang Phathét Lào trong chiến cục Đông Xuân 1953-1954;

Chiến dịch Điện Biên Phủ (từ 13/3 đến 7/5/1954), chiến dịch quyết chiến chiến lược của quân đội nhân dân Việt Nam, là đòn tiến công tiêu diệt lớn nhất, điển hình nhất của quân và dân Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp, giáng đòn quyết định đánh bại ý chí xâm lược của thực dân Pháp.

Mùa xuân năm 1963: Trận Ấp Bắc (2/1/1963) là trận chống càn điển hình của quân và dân miền Nam Việt Nam đánh bại lực lượng càn quét của ngụy quân Sài Gòn được cố vấn Mỹ chỉ huy. Báo hiệu sự phá sản của chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ.

Mùa xuân năm 1964: Trận chiến đấu đầu tiên của không quân Việt Nam (16/2/1964), trong đó máy bay T-28 (số hiệu 963 do Nguyễn Văn Ba và Lê Tiến Phước điều khiển) thuộc Trung đoàn không quân vận tải 919 Quân chủng Phòng không-Không quân, bằng 2 loạt đạn bắn rơi máy bay địch, diệt toàn bộ toán biệt kích và tổ lái. Không quân Việt Nam lập chiến công đầu ở mặt trận trên không.

Mùa xuân năm 1965: Trận chiến đấu không quân (3/4/1965) của biên đội máy bay MIG-17 thuộc Trung đoàn không quân tiêm kích 921, là trận đầu đánh thắng của Không quân nhân dân Việt Nam, mở ra mặt trận trên không chống chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc Việt Nam. Mỹ phát động cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ I (7/2/1965 đến 1/11968). Quân và dân miền Bắc bắn rơi 3.243 máy bay (có 6 B 52 và 3 F 111), bắn chìm, bắn cháy 143 tàu chiến, tàu biệt kích của Mỹ.

Mùa xuân năm 1967: Chiến dịch phản công của quân giải phóng miền Nam Việt Nam đánh bại cuộc hành quân Gianxơn Xiti (Junction City) của Mỹ (từ 22/2 đến 15/4/1967), loại khỏi chiến đấu hơn 14.000 quân địch, phá huỷ 992 xe quân sự, 112 khẩu pháo, bắn rơi và phá huỷ 160 máy bay; bảo vệ vững chắc căn cứ, cơ quan đầu não kháng chiến; đánh bại cố gắng lớn nhất của Mỹ trong cuộc phản công chiến lược lần II và cả cuộc chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam.

Mùa xuân năm 1968: Đêm 30 rạng ngày 31/1/1968, quân dân miền Nam nhất tề tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt ở 64 thành phố, thị xã và nhiều vùng nông thôn rộng lớn, tiến công hàng loạt căn cứ quân sự, đánh trúng các sào huyệt, cơ quan đầu não quan trọng của quân Mỹ và quân Ngụy, là đòn quyết định giáng vào chiến lược chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ.

Mùa xuân năm 1971: Diễn ra Chiến dịch phản công của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam nhằm đánh bại chiến dịch Quang Trung của ngụy quân Sài Gòn ở vùng giáp giới 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia từ 27/2 đến 16/4/1971, tiêu diệt 3 tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng 9 tiểu đoàn, đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân Quang Trung của địch. Chiến dịch đường 9 Nam Lào (từ 30/1 đến 3/3/1971), trong đó Quân giải phóng miền Nam Việt Nam phối hợp với lực lượng cách mạng Lào đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 (30/1 đến 23/3/1971) của ngụy quân Sài Gòn được Mỹ yểm trợ hoả lực.

Mùa xuân năm 1973: Ngày 15/1/1973, sau nhiều thất bại thảm hại, Chính phủ Mỹ buộc phải tuyên bố chấm dứt mọi hành động ném bom, bắn phá miền Bắc Việt Nam. Ngày 27/1/1973, Mỹ buộc phải ký Hiệp định Pari lập lại hoà bình tại Việt Nam.

Mùa xuân năm 1975: Chiến dịch Tây Nguyên (4/3 đến 24/3/1975) là chiến dịch chiến lược tiến công của Quân giải phóng Mặt trận Tây Nguyên mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975, làm thay đổi cơ bản so sánh lực lượng và thế chiến lược giữa ta và địch, tạo bước ngoặt quyết định, đưa cuộc tiến công chiến lược của ta phát triển thành Tổng tiến công trên toàn miền Nam Việt Nam.

Đặc biệt, Chiến dịch Hồ Chí Minh (26/4 đến 30/4/1975), chiến dịch quyết chiến chiến lược của quân và dân ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975, là điển hình về hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng, các binh chủng, quân chủng, sự kết hợp trên quy mô lớn giữa tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng; đòn quyết chiến chiến lược táo bạo, kịp thời, chính xác, kết thúc chiến tranh.

Thái Công Trường Giang
Theo http://www.gdtd.vn
Thu Hiền
(st)

bqllang.gov.vn

Một năm hai lần đến thăm trại giam

Ngày 18 tháng 1 năm 1946, mới 5 tháng sau ngày 19 tháng 8, nhân dân ta giành được chính quyền ở Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu đi kiểm tra công tác “giác ngộ” những người lầm lỗi ở nhà giam Hỏa Lò và ở Nha Công an.

Chuyện kể về NgườiTháng 1 năm 1946 là một tháng trong những tháng “ngàn cân treo sợi tóc” của nước cộng hòa non trẻ Việt Nam. Và ngày 16/2/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ sáng sớm đã gửi thư cho Tổng thống Mỹ H.Truman qua bài diễn văn ngày 28 tháng 10 năm 1945 của Tổng thống. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã viết trong thư lên án sự trở lại của quân đội Pháp và yêu cầu Tổng thống Mỹ “can thiệp ngay lập tức và có giải phóng để nhân dân Việt Nam thoát ra khỏi cuộc chiến tranh đó”.

Thư viết xong, đã thấy một cán bộ của Văn phòng Phủ Chủ tịch, trình Chủ tịch nước ký một loạt sắc lệnh, trong đó có Sắc lệnh giải tán tổ chức Quỹ cứu trợ mang tên Toàn quyền Đông Dương Brêviê và của Hội Bảo trợ Phụ nữ và Nhi đồng An Nam do chính quyền cũ tổ chức, để lại.

Sau đó, Hồ Chủ tịch tới nhà giam ở trên phố Hỏa Lò. Người đến đây với tư cách người ông, người cha, xót thương cho những con cháu lỗi lầm, nước đã độc lập tự do mà họ còn ngồi trong bốn bức tường nhà tù.

Bác đi một vòng xem nhà bếp, nhà ăn, phòng tắm, phòng giam. Ngôi bên họ, không sợ hôi hám, bẩn thỉu, Bác nghe những đứa con nhẹ dạ, không hiểu biết đầy đủ luật pháp đã phạm sai lầm phân trần. Thông cảm với sự hồi tâm, hối tiếc của những người bị giam giữ, Bác khuyên họ mau chóng sửa chữa để xứng đáng là công dân của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, để góp công, góp sức vào công cuộc kiến thiết nước nhà…

Nước mắt lưng tròng, những người đeo số tù ấy không ai vận động ai đều đứng lên hô to: “Hồ Chủ tịch muôn năm!”

Họ có biết đâu là Hồ Chủ tịch của họ cũng rưng rưng nước mắt. Bác nói: “Nên đổi chữ trại giam thành khu giác ngộ”. Giác ngộ là danh từ nhà Phật. Tự mình răn mình, lánh xa điều ác, chăm giữ điều thiện để trở về với con người chân chính, là giác ngộ. Bác không vui, dù rằng nếu có đổi ra “Khu giác ngộ” cũng là “trại giam” mà thôi… ý xót thương, tấm lòng bao dung của Bác muốn cho cán bộ trại không nên coi đấy là nơi đọa đầy họ và họ cũng chẳng nên phẫn chí, cùng đường ở nơi “đầy đọa” này…

Có lẽ hình ảnh những con người Việt Nam ấy, sau 80 năm nô lệ, chưa được độc lập tự do luôn trở về trong tâm trí Bác.

Mười tháng sau, mới 2 ngày sau khi từ Paris về Hà Nội, Bác lại đến thăm “Khu giác ngộ”, thăm số công an viên đang chuẩn bị đi làm nhiệm vụ.

Nói chuyện với trại viên “Khu giác ngộ”, Bác an ủi họ: “Anh chị em vì hám lợi mà làm sai nên phải vào đây chờ pháp luật xét xử”. Nhưng khi gặp cán bộ khu, Bác căn dặn: “Nên chăm sóc hơn đối với người bị giam. Phải xét ngay và xét kỹ cho họ khỏi bị oan uổng”.

Trong cơn lốc của cuộc cách mạng, trong buổi đầu lập nước, tránh sao khỏi những việc oan uổng trong dân… Bác biết và Bác nói hộ lời của dân “xin đừng giam lâu, xin đừng xét oan…”

Trích trong “120 chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
Baclieu.gov.vn
Tâm Trang
(st)

bqllang.gov.vn

Những câu truyện kể về Bác Hồ với bà con nông dân

Chuyện kể về NgườiĐể Bác tự đi

Được cấp trên cho biết Bác Hồ sẽ về thăm Hợp tác xã cấp cao Vĩnh Thành, huyện Yên Thành, lãnh đạo Đảng, chính quyền và Ban chủ nhiệm Hợp tác xã đều lo toan chuẩn bị. Nào là bố trí làm tổng vệ sinh khu vực làm việc của Đảng ủy, ủy ban và trụ sở Hợp tác xã. Cuộc họp lãnh đạo nhất trí là phải thông báo cho dân biết tin này để cùng chuẩn bị đón Bác. Thế là Ban Chủ nhiệm Hợp tác xã phân công cán bộ đến từng nhà dân ở gần trụ sở ủy ban và gần nơi đón Bác. Những nhà gần đó đều được xã cử thanh niên đến sửa soạn lại trong nhà sao cho ngăn nắp. Có 4 gia đình ở gần hội trường nhất thì cho người mượn thêm tủ, bàn ghế sang trọng ở những nhà khác xa hơn đưa đến đặt vào, để khi Bác đến sẽ thấy đời sống của dân ở đây khấm khá thật.

Thế là ngày hôm sau, Bác Hồ đã đến thăm Hợp tác xã Vĩnh Thành. Sau khi nói chuyện xong với cán bộ và nhân dân, Bác nói cho Bác đi thăm một số gia đình. Lãnh đạo xã mời Bác đi và dẫn Bác theo con đường có mấy nhà đã chuẩn bị trước. Ra khỏi hội trường đi được khoảng mươi mét đến ngã ba đường làng, ông Chủ tịch xã chỉ mời Bác đi đường này. Nhưng Bác xoa tay nói: “Để Bác tự đi để biết đúng thực tế, có lẽ ở đó các chú đã bố trí rồi”. Thế là Bác Hồ đi theo con đường khác. Bác đi vào nhà một gia đình bình thường có ngôi nhà tranh nhỏ bé. Trong nhà chỉ có một cái sập nhỏ đựng lúa làm bàn thờ và hai cái giường gỗ nhỏ cũ kỹ. Sau khi nói chuyện và hỏi thăm bà già đang ngồi bồng cháu trên chiếc võng, Bác lại đi thăm một số gia đình khác.

Trích theo sách: Tư tưởng lớn qua những câu chuyện nhỏ, Nxb Nghệ An, 2005

 Bác hướng dẫn làm kinh tế thời kháng chiến

 Thời gian rỗi, Bác cùng anh em trong cơ quan chơi bóng chuyền, tập thể thao, tăng gia sản xuất, trồng bí trồng bầu, nuôi gà, nuôi bò. Trong thời gian này, Bác nảy ra ý quản lý kinh tế theo phương thức khoán sản phẩm. Bác bảo các đồng chí, giao bò cho dân địa phương nuôi, khi bò phát triển thì một phần để lại cho nhân dân còn một phần cho tập thể. Trồng được nhiều bí, cả một bãi rộng dày đặc quả, khi thu hoạch anh em kiểm số lượng quả vì nhiều nên bị lẫn liên tục, Bác bày cho cách: Đếm xong quả nào cắm một que tre, khi cắm hết chỉ cần gom số que là ra số quả tăng gia được và giao cho người quản lý.

Trích theo sách: Những kỷ niệm cảm động về Bác Hồ
, Nxb Văn hóa thông tin, H.2008

 Biết mực nước lụt thường xuyên như chỉ huy nắm địch

 Vào mùa nước sông Hồng đang lên, Bác cho gọi đồng chí Thứ trưởng Bộ Thuỷ lợi lên hỏi: Chú cho Bác biết mực nước sông Hồng lên bao nhiêu?” “Thưa Bác tối qua mực nước là…” Bác ngắt lời: “Tối qua Bác biết rồi, Bác muốn biết lúc này là bao nhiêu?”. Đồng chí Thứ trưởng không trả lời được, Bác nghiêm giọng nói: “Thủy – hỏa – đạo – tặc, giặc lụt tai hại bao nhiêu chắc chú đã biết rõ, vậy sao chú nắm tình tình không sát, phải như Bộ Chỉ huy nắm địch ấy.

Trích theo sách: Những kỷ niệm cảm động về Bác Hồ
Nxb Văn hóa thông tin, H.2008

“Trăm năm trong cõi người ta,

Chống úng thắng lợi mới là người ngoan”.

 Đó là một sáng tháng 8 năm 1962, tất cả xã viên và cán bộ Mai Xá đang dồn hết sức mình ứng cứu lúa trên trận tuyến dài gần một cây số ở cánh đồng Sao. Hàng trăm chiếc gầu, hàng chục chiếc guồng nghiêng đồng đổ nước ra sông. Bác đến rất bất ngờ. Cả công trình chống úng của Mai Xá tưng bừng nhộn nhịp hẳn lên trong niềm vui được đón Bác. Mọi người chạy xô lại phía Bác. Bác bước tới dáng hồng hào khoẻ mạnh. Người mặc bộ quần áo gụ giản dị, đầu đội mũ cát, chân đi đôi dép cao su. Đến một chiếc guồng nước của hai cô xã viên, Bác bước lên và cùng đạp guồng với đồng chí Bí thư tỉnh uỷ. Sau đó Bác nói chuyện với bà con xã viên. Bác căn dặn tất cả mọi người phải đoàn kết chống úng đẩy mạnh sản xuất. Và Bác đọc một câu lẩy kiều:

“Trăm năm trong cõi người ta,

Chống úng thắng lợi mới là người ngoan”.

Giọng nói của Bác ấm áp đã đi sâu vào trong tâm trí mọi người. Cuộc gặp gỡ diễn ra hơn một giờ đồng hồ. Sau đó Bác ra về. Xã viên Mai Xá nhìn theo Bác lòng đầy lưu luyến. Tất cả mọi người đều muốn được mãi mãi nhìn Bác, nghe những lời dạy dỗ của Bác như lời người cha hiền từ dạy bảo con cái. Và từ hôm đó mọi người cùng nêu cao quyết tâm thực hiện lời dạy của Bác hăng hái chống úng đẩy mạnh sản xuất. Ngay vụ mùa đó cánh đồng Sao, cánh đồng hay ngập úng của xã Mai Xá mà Bác cùng guồng nước với mọi người đã đạt năng suất 3 tấn một héc ta.

Trích theo sách: 118 chuyện kể về Bác Hồ, Nxb Lý luận chính trị, H2008

Bác là người lao động

 Vào khoảng cuối năm 1953, đầu năm 1954, tuy đã ở trong ATK (an toàn khu) nhưng đội bảo vệ của Bác vẫn đào hầm sâu trong núi để đề phòng giặc. Anh em không quen nên làm việc có phần lúng túng. Bác đến và làm động tác mẫu quai búa cho đồng chí phụ trách búa xem. Rồi Bác lấy một thanh tre bánh tẻ làm kẹp cây “choòng” cầm chống, ra lệnh cho người quai búa cứ quai cho đều tay. Sợ Bác mệt, anh em nói:

– Thưa Bác, chúng cháu hiểu rồi ạ.

Đến lúc anh em tranh cãi về tăng gia, Bác lại “tham gia”. Có anh phát biểu nên trồng cà, anh thì bảo nên trồng rau muống cạn. Bác hỏi:

– Các chú đều là nông dân phải không?

– Dạ, chúng cháu đều là nông dân.

Bác giải thích: Vì các chú mỗi người một quê khác nhau, thời tiết mỗi vùng một khác. Kinh nghiệm trồng trọt cũng khác nên tranh cãi là bình thường. Song phải chú ý tới người xưa đã dạy ta rằng: “Bao giờ đom đóm bay ra, cành xoan chân chó trồng cà mới nên…” Thế các chú thấy cây xoan nảy mầm tức là thò chân chó chưa”

– Dạ, chưa ạ

– Thế thì chưa trồng cà được đâu!

Trích theo sách: Chuyện kể về Bác Hồ, Nxb Công an nhân dân, H.2009

Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

Tấm gương cần kiệm của Bác

Theo gương Bác HồBác Hồ thường căn dặn mọi người phải thực hành tiết kiệm, tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thời giờ, tiền bạc; phải tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, không xa xỉ, hoang phí, không bừa bãi, phô trương hình thức. Bác đã sống cả cuộc đời thanh bạch từ ăn, ở đến phương tiện sử dụng phục vụ công việc hàng ngày.

Sinh thời, để tiết kiệm thời gian, Bác dạy: “Ai mang vàng vứt đi là người điên rồ. Ai mang thời giờ vứt đi là người ngu dại”, “Từ Chủ tịch Chính phủ cho đến người chạy giấy, người quét dọn trong một cơ quan nhỏ, đều là những người ăn lương của dân, làm việc cho dân… làm việc phải đến đúng giờ, chớ đến trễ về sớm… Phải nhớ rằng: Dân đã lấy tiền mồ hôi nước mắt để trả lương cho ta trong những giờ đó. Ai lười biếng tức là lừa gạt dân”.

Nhà ở của Bác chỉ là một ngôi nhà sàn gỗ lợp ngói, trên gác có hai phòng mỗi phòng hơn 10m2, vậy mà, Bác đề nghị để đồng chí Phạm Văn Đồng sử dụng một phòng để khỏi lãng phí. Một Tổng Biên tập nước ngoài được Bác tiếp tại nơi đó đã kể lại: “Chúng tôi được dẫn vào tầng dưới ngôi nhà sàn của Bác Hồ. Chúng tôi đợi Người ở đấy. Tôi còn kịp lướt nhìn mọi thứ được xếp đặt trong phòng khách của Người. Gọi là phòng khách của vị nguyên thủ quốc gia mà thật vô cùng giản dị, có lẽ không khác những gian nhà của nông dân Việt Nam mà tôi có dịp tới. Trong gian phòng này có lẽ chỉ có bộ bàn ghế mây được coi là nổi bật”.

Bữa ăn của Bác như bữa ăn của mọi nhà: Bát canh, quả cà, con cá kho, hoặc lát thịt kho. Bác luôn nghĩ đến người nghèo “lúc chúng ta nâng bát cơm ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi đề nghị với đồng bào cả nước và tôi xin thực hành trước, cứ 10 ngày nhịn ăn 1 bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa 1 bơ) để cứu dân nghèo”. Một hôm, Bác đi họp ở đâu về, sợ Bác đói, nhà bếp vẫn để dành cơm cho Bác, nhưng Bác kiên quyết từ chối không ăn, mặc dầu Bác chưa ăn cơm. Vì hôm đó đúng bữa nhịn của Bác để góp vào hũ gạo tiết kiệm.

Khi ăn, không bao giờ Bác để rơi cơm. Đồng chí Phạm Văn Đồng có lần kể: Ăn cơm với Cụ hàng trăm lần, lần nào cũng thấy Cụ tém vén không để rơi một hạt cơm. Bởi vì Cụ trọng và tiết kiệm công sức của người làm ra lúa gạo. Chuyện nhỏ, đức lớn hài hoà ở một con người.

Khi dùng các món ăn bao giờ Bác cũng dùng hết, không để thừa lãng phí. Hồi 1957, Bác về thăm quê, lần ăn cơm với lãnh đạo tỉnh, khi đưa thêm các món ăn, Bác gạt đi: Dùng hết lấy thêm, đừng để người khác ăn thừa của mình.

15 năm cuối ở Hà Nội, lúc dân đói, kinh tế còn khó khăn, Bác đã thực hiện: Chiều thứ 7 hàng tuần ăn cháo để tiết kiệm thêm một chút gạo cho người nghèo. Dân, cán bộ ăn cơm độn ngô, khoai, sắn bao nhiêu phần trăm, thì Bác cũng thực hiện bấy nhiêu phần trăm giống như cán bộ, như dân. Khi đi công tác, Bác mang cơm nắm với muối vừng.

Một đồng chí ở Hội Luật gia Việt Nam kể lại: Đến Hội nghị Tư pháp toàn quốc năm 1950, Bác không cho Hội nghị làm cơm mời Bác. Buổi trưa, Bác bày ra bãi cỏ nắm cơm, lọ cà, lọ thịt kho và cho gọi tôi cùng ăn. Tôi gắp miếng thịt nhai không đứt, phải dúi xuống cỏ. Bác mang cơm nắm, vì rằng: Bác dặn đồng chí phục vụ đi công tác nắm cơm ở nhà đi. Trên đường tính toán đến giờ ăn dừng lại chỗ nào đó giữa đường, Bác cháu ăn với nhau. Đến nơi nói với địa phương Bác ăn cơm rồi, Bác thích thế, đỡ phiền bữa cơm, mất thời giờ của mọi người. Bác nói: Người ta dọn ra một bữa cơm sang, có khi Bác chẳng ăn đâu, nhưng rồi để lại cái tiếng đấy. Bác Hồ đến thăm cũng làm một bữa cơm sang, cũng điều người này, người khác từ giao tế sang, chuẩn bị cả buổi. Thế là tự Bác bao che cho cái chuyện xôi thịt. Như thế nắm cơm theo ăn cho tiện, ăn no rồi đến làm việc.

Bác còn chỉ thị cho những người phục vụ: Vá khăn mặt cho Bác, vá áo lót cho Bác, vá chiếu nằm cho Bác. Có lần, khi tất rách chưa kịp vá, anh em đưa đôi mới để Bác dùng. Bác cầm đôi tất xoay chỗ rách vào bên trong người Bác, rồi cười: Đấy có trông thấy rách nữa đâu… Những việc này thật quá bình thường. Nhưng trên đời này không ai làm được những điều bình thường ấy. Bác làm những điều bình thường ấy có làm cho Bác nhỏ bé đi đâu.

Mùa đông, Bác Hồ có một cái áo bông của đồng bào biếu. Bác dùng nhiều năm, mền bông xẹp xuống không ấm nữa. Nhưng không ai dám nghĩ đến việc xin Bác bỏ mền bông đi, chỉ nghĩ đến việc thay vỏ ngoài. Vì dùng mãi vỏ áo đã đứt chỉ ở khuỷu tay và ở cổ. Bác bảo mạng nó lại. Nó rách ở vai thì Bác bảo vá vai, đến khi nó rách lần hai, đồng chí phục vụ xin cho thay vỏ ngoài, Bác bảo: Này chú ạ, Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mặc áo vá vai thế này là cái phúc của dân đấy, đừng bỏ cái phúc đó đi.

Bác mặc bộ quần áo ka ki đã sờn cổ, sờn tay, xin được thay bộ khác, Bác bảo: Nếu thi sang thì thua, thi tiết kiệm thì thắng. Bác mặc như thế phù hợp với hoàn cảnh của nước của dân không phải thay. Xưởng may X biếu Bác bộ quần áo ka ki mới, Bác nhận, nhưng rồi Bác lại gửi lại xưởng may để làm phần thưởng thi đua.

Nhớ lại lần Bác sang thăm In-đô-nê-xi-a, đồng chí bảo vệ được cùng đi với Bác, và đồng chí đã sắm bộ com-lê mới. Sang bên đó, đồng chí mặc nó, thấy vậy, Bác nói với đồng chí rằng: Không phải Bác không muốn các chú ăn sang, mặc đẹp, nhưng lương của các chú có hạn, cái sang, cái đẹp dễ biến thành nô lệ của nó.

Ô tô phục vụ Bác là chiếc Pô bê đa (Thắng lợi) của Liên Xô trước đây. Đã nhiều lần Trung ương xin thay ô tô khác, nhưng Bác bảo ô tô là phương tiện phục vụ cho công việc, chứ không phải là sự phân biệt cấp bậc, chức tước, ô tô phục vụ Bác còn dùng được, không phải thay. Và một lần chiếc ô tô phục vụ Bác bị lão hoá ở vòng tay lái, toả mùi cao su khó chịu nhưng chưa kịp sửa, thì đúng lúc Bác có việc phải đi, đồng chí bảo vệ lấy chút nước hoa vẩy vào trong xe để át mùi cao su. Khi Bác lên ô tô phát hiện có mùi nước hoa, Bác tỏ ý không vui. Bác bảo: Không phải Bác không thích nước hoa, nhưng nhân dân mình còn nghèo khổ. Vị Chủ tịch của những người nghèo khổ dùng nước hoa sao đành.

Bác tiết kiệm đến cái nhỏ như tờ giấy: “Giấy bút, vật liệu đều tốn tiền của Chính phủ, tức là của dân; ta cần phải tiết kiệm. Nếu một miếng giấy nhỏ đủ viết, thì chớ dùng một tờ to. Một cái phong bì có thể dùng hai, ba lần”. Và Bác đã làm để mọi người bắt chước là hàng ngày các văn bản Bác đều viết ở mặt sau của bản tin Thông tấn xã Việt Nam; còn phong bì Bác đều dùng lại phong bì của các nơi gửi tới đến hai, ba lần.

Làm được những việc nhỏ thì sẽ thành cái to như Bác đã chỉ rõ “nơi nào cũng tiết kiệm một chút, thì trong một năm đỡ được hàng vạn tấn giấy, tức là hàng triệu đồng bạc. Nhờ tiết kiệm…mà lợi cho dân rất nhiều”. Qua những việc làm đó mà một chính khách nước ngoài được gặp Bác từ năm 1951 đã nói: Tôi hiếm khi được gặp một người sống thanh đạm đến thế và khinh thường mọi xa hoa đến thế.

Bác đã dạy: “Người ta ai cũng muốn ăn ngon, mặc đẹp, nhưng phải đúng thời, đúng hoàn cảnh. Trong lúc nhân dân còn khó khăn, một người nào đó muốn sống hưởng ăn ngon, mặc đẹp thì không có đạo đức”. Và Bác thường xuyên nhắc nhở phải coi đạo đức là cái gốc của người cách mạng, của con người, phải thực hành cần, kiệm, liêm, chính. Người chỉ rõ: “Một dân tộc biết cần, kiệm, liêm, chính là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, một dân tộc văn minh tiến bộ”.

Ôn lại những điều cụ thể trên đây về cuộc sống tiết kiệm của Bác, như đồng chí Phạm Văn Đồng đã nói: Chớ có hiểu lầm rằng, Bác Hồ sống khắc khổ theo kiểu nhà tu hành, thanh tao theo kiểu nhà hiền triết ẩn dật. Bác Hồ sống tiết kiệm, thanh bạch trong đời sống và cuộc đấu tranh gian khổ, ác liệt của quần chúng nhân dân. Đời sống vật chất càng giản dị thì càng phù hợp với đời sống tâm hồn phong phú, với những tình cảm, những giá trị tinh thần cao đẹp nhất. Đó là cuộc sống thật sự văn minh mà Bác Hồ đã nêu gương sáng.

Và cũng chính vì thế, lịch sử biến thiên, nhưng Bác Hồ vẫn sống mãi. Tuy Bác đã đi xa, nhưng con cháu Bác vẫn hàng ngày tìm về cái đẹp cuộc đời Bác nêu gương để chau chuốt cái đẹp cho đời. “Học tập, làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ” chính là học tập và làm theo những mẫu mực cao đẹp đó của Người.

Theo TS. Trần Viết Hoàn
Nguyên Giám đốc Khu di tích Phủ Chủ tịch/ VietNamnet

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Mùa xuân nhớ Bác

Kính tặng đồng chí Lê Đức Thọ, tác giả bài thơ “Lẽ sống” và đồng chí Hồ Thiện Ngôn, tác giả bài thơ “Đọc thơ anh”.

Hình nền

Mùa xuân về nhớ Bác khôn nguôi
Tiếng pháo giao thừa nhớ ngày xuân Bác còn chúc Tết

Vần thơ thân thiết
Ấm áp lòng người
Bác đã đi xa rồi
Để lại chúng con bao nỗi nhớ
Người cha đã đi xa.

Các anh ơi, Mùa xuân về đọc thơ xuân các anh trên báo Đảng
Lòng càng nhớ Bác nhiều hơn
Làm sao có thể quên
Mỗi lần gặp Bác
Bác bắt nhịp bài ca đoàn kết
Người thường nhắc nhở:
Yêu nước, thương dân
Dẫu thân mình có phải hy sinh
Cũng chỉ vì trường xuân cho đất Việt.

Mùa xuân về đọc thơ xuân các anh
Tuổi trẻ chúng tôi thấy lòng mình day dứt
Day dứt vì mình chưa làm được
Những điều hằng ước mơ
Những điều chúng tôi thề
Dưới cờ Đoàn trong giờ kết nạp,
Tuổi trẻ chúng tôi tha thiết
Được Đảng chăm lo
Được cống hiến cho quê hương nhiều nhất

Nhưng tuổi trẻ chúng tôi
Không ít người đang lỡ thì, mai một.

Theo năm tháng cuộc đời
Ngoảnh lại nhìn, mình chưa làm được bao nhiêu
Bởi một lẽ chịu hẹp hòi, ích kỷ
Thanh niên chúng tôi thường nghĩ:
Bỏ công gieo cấy, ai quên gặt mùa màng

Mỗi vụ gieo trồng
Có phải đâu là lép cả?

Tuổi trẻ chúng tôi vẫn tự hào
Những trang sử vẻ vang dân tộc
Chúng tôi được học
Được thử thách nhiều trong chiến tranh

Chúng tôi nghĩ: Nguyễn Huệ – Quang Trung
Lứa tuổi hai mươi lập nên nhiều chiến công hiển hách.
Lẽ nào tuổi trẻ hôm nay thua thiệt
Có học hành, lại phải sống cầu an
Phải thu mình, xin hai chữ “bình yên”
Bởi lẽ đấu tranh – tránh đâu cho được?

Đồng chí không bằng đồng tiền
Bằng lòng vẫn hơn bằng cấp
Có ai thấu chăng
Và ai phải sửa?
Mỗi xuân về con càng thêm nhớ Bác

Lòng vẫn thầm mơ ước
Bác Hồ được sống đến hôm nay
Làm nắng mặt trời xua tan hết mây
Trừ những thói đời làm dân oán trách

Có mắt giả mù, có tai giả điếc
Thích nghe nịnh hót, ghét bỏ lời trung
Trấn áp đấu tranh, dập vùi khốn khổ

Cùng chí hướng sao bầy mưu chia rẽ?
Tham quyền cố vị
Sợ trẻ hơn già

Quên mất lời người xưa:
“Con hơn cha là nhà có phúc”
Thời buổi này,
Không thiếu người xông pha thuở trước
Nay say sưa trong cảnh giàu sang
Thoái hóa, bê tha khi dân nước gian nan?

Mùa xuân đất nước
Nhớ mãi Bác Hồ
Ta vẫn hằng mong lý tưởng của Người

Cho đất nước khải hoàn, mùa xuân mãi mãi.

Phạm Thị Xuân Khải – Xuân Bính Dần

Theo nguồn Báo Tiền Phong 
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Hai Tết với Bác Hồ

Bà Lê Tâm là một cán bộ hoạt động Công đoàn chuyên nghiệp. Suốt cuộc đời tham gia cách mạng, bà đã vinh dự 2 lần được đến chúc Tết và ăn Tết cùng với Bác Hồ. Kỷ niệm về hai sự kiện này đã ghi sâu trong tâm khảm của bà. Khi chạm tới niềm sâu thẳm đó, bà rưng rưng tâm sự:

Tết Độc lập đầu tiên năm 1946, tôi công tác ở Hội Công nhân cứu quốc, trụ sở tại 51 Hàng Bồ (quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) được cơ quan cử tham gia Đoàn đại diện cho các đoàn thể đi chúc Tết Bác Hồ và ông Vĩnh Thụy.

Đoàn đến 51 Trần Hưng Đạo – nơi ở của ông Vĩnh Thụy. Ông ta mặc bộ comlê vải đũi, đầu chải bóng loáng ra tiếp. Chị Hải đại diện cho Đoàn cầm hoa tặng, ông Vĩnh Thụy cảm ơn nhận hoa và tỏ ra xúc động lắm. Sau đó, Đoàn về Nhà khách Chính phủ chúc tết Bác. Các đồng chí Văn phòng bảo Đoàn chờ tại phòng khách. Bác mặc bộ đồ kaki màu vàng đã bạc, giày vải, nhanh nhẹn đi ra phòng khách tươi cười chào mọi người.

2 tet
Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh cùng cán bộ – nhân viên
Văn phòng Phủ chủ tịch – Tết 1963. Ảnh: Tư liệu

Nhìn Bác gầy, đôi mắt trũng sâu nhưng ánh mắt vẫn sáng, ai cũng xúc động và thương Bác quá. Chúng tôi kính tặng Bác bó hoa layơn trắng rồi vây quanh Bác như đàn con cháu tíu tít bên người cha, người ông trong ngày Tết cổ truyền. Bác vui lắm cảm ơn cả Đoàn. Bác chúc Tết mọi người rồi căn dặn, chúng ta vừa giành chính quyền, dân còn khổ, các cô các chú phải tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm.

Ai nấy đều thắc mắc, ở thành phố lấy đâu ra đất để tăng gia. Bác nói: “Phải tận dụng mọi chỗ nếu tận dụng được… phải chống mù chữ… Lần sau đến chúc Tết Bác, chỉ cần báo cáo cho Bác biết trồng được bao nhiêu rau, giúp được bao nhiêu người biết chữ”. Rồi Bác hỏi thăm và gửi lời chúc Tết gia đình, thăm hỏi bà con. Khi về cơ quan, tôi đã đi vận động nữ công nhân trồng rau ở bãi Phúc Tân, Phúc Xá, vận động nhau học chữ. Công việc tăng gia và học chữ quốc ngữ được mọi người thực hiện tốt cho đến khi Hà Nội cùng cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 9 năm gian khổ.

Đầu năm 1952, đồng chí Trần Danh Tuyên cho phép 2 đại biểu đến ăn Tết ở Trung ương. Đại diện cho nam giới là đồng chí Trần Bảo, còn tôi đại diện cho phụ nữ. Hai anh em, sáng 30 Tết khăn gói lên đường từ cơ quan Tổng Liên đoàn (Sơn Dương- Tuyên Quang) đến trưa tới đèo De thì mở cơm nắm ra ăn, chiều đến chiến khu gặp anh Hoàng Quốc Việt – Thường vụ Trung ương Đảng phụ trách dân vận trực tiếp phụ trách công vận.

Anh Việt đưa đến thăm anh Thận (đồng chí Trường Chinh), anh Thận mời ở lại ăn Tết với vợ anh vừa ở khu Ba lên. Buổi chiều, chúng tôi trở về chỗ anh Hoàng Quốc Việt. Thời gian này chị Thục Chinh chuẩn bị tổ chức đám cưới với anh Nguyễn Lương Bằng; nhưng có việc đột xuất ở biên giới, anh Bằng đi công tác ở đó nên hoãn đám cưới lại. Chị Thục Chinh đang ở chỗ Bác. Các anh cho phép tôi lên cùng chị Thục Chinh ăn Tết với Bác. Vừa tới nơi, Bác quan tâm hỏi:“ Cháu có mệt không?”. Tôi phấn khởi quá trả lời: “Thưa Bác, cháu không thấy mệt ạ!”.

Tối 30 Tết, Bác ngồi đọc tài liệu. Tài liệu rất nhiều, nhiều nhất là thư của công nhân, nông dân, bộ đội, thiếu nhi gửi Bác. Bác bảo tôi đọc những bức thư đó cho Bác nghe, chỗ nào lưu ý Bác bảo dừng lại, Bác đánh dấu để dễ tìm khi cần đọc lại. Khuya Bác bảo tôi đi ngủ, còn Bác vẫn chong đèn đọc tiếp. Bác ở nhà sàn, còn chúng tôi ở nhà ngang, đêm ấy chúng tôi không ngủ được vì thấy Bác vẫn thỉnh thoảng ho nên lo cho sức khỏe của Bác. Bảo vệ giục Bác đi ngủ nhiều lần nhưng Bác vẫn thức.

Sáng mùng 1 Tết, tỉnh dậy chúng tôi xuống bếp đã thấy Bác ở đấy, chúng tôi ùa vào chúc Bác mạnh khỏe sống lâu muôn tuổi. Bác nói, muốn Bác mạnh khỏe sống lâu, các cô cần làm việc tăng gấp 2 – 3 lần… Một lúc sau, các cháu thiếu nhi con em của các đồng chí lãnh đạo đến chúc Tết, Bác đưa các cháu lên nhà sàn bắt nhịp cho các cháu hát rồi chia kẹo, chia quà. Gần trưa, gia đình các đồng chí Trường Chinh, Lê Văn Lương, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt… đến chúc Tết Bác, không khí lúc này rất vui và quá đầm ấm.

Tất cả quây quần bên Bác như một gia đình lớn có nhiều thế hệ. Bữa cơm trưa mùng một Tết có một đĩa thịt lợn kho tàu, cá kho, trứng rán, dưa chua và một bát canh tôm nấu với rau cải soong. Rau cải soong do tự tay Bác trồng. Đến đâu Bác cũng ở gần suối. Dưới suối Bác thả bè rau cải soong, ở trên đồi Bác trồng rau cải, rau muống. Tôi hỏi đồng chí phụ trách bếp, Tết của Bác sao lại không có bánh chưng.

Đồng chí đó nói đồng bào gửi biếu Bác nhiều thứ, bánh chưng, giò, còn có cả con bò, bà con vùng kháng chiến cũng gửi quà cho Bác nhưng Bác bảo mang cho bộ đội, thiếu nhi… Thức ăn mỗi bữa, Bác bảo chia nhau ăn hết không được lãng phí. Đang ăn, anh Cù Huy Cận đến, một lúc sau bác sĩ Chánh là bác sĩ phục vụ Bác cũng tới. Mọi người cười nói, chuyện trò rôm rả. Sau bữa ăn là tiết mục sinh hoạt văn nghệ, có người lấy soong nồi lên gõ đệm cho người khác hát, anh Huy Cận đọc thơ, có người hát chèo, tôi và chị Thục Chinh rụt rè e ngại. Bác động viên mãi, tôi đọc bài thơ của anh Tố Hữu:

“Em là con gái Bắc Giang, Rét thời mặc rét nước làng em lo…”. “Nhà em con bế con bồng, Em cũng theo chồng đi phá đường quan”… Bác cười, bây giờ không được vận động bà con phá đường mà vận động bà con đắp đường để bộ đội, dân công có đường đi đánh giặc. Bác cháu sinh hoạt văn nghệ vui quá, vui đến tận chiều… Tối hôm đó khi Bác cháu cơm nước xong, Bác bảo hai chị em đi xem phim do Văn phòng Trung ương Đảng tổ chức. Ở chỗ chiếu phim, hai chị em gặp anh Trường Chinh, anh Hoàng Quốc Việt,… phim hay thích xem, nhưng hai chị sốt ruột muốn về.

Các anh Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt cũng đốt đuốc về cùng. Tới nhà, thấy Bác vẫn chăm chú đọc tài liệu. Mấy anh chị em trước cảnh tượng Bác ngồi làm việc áo đại cán khoác hờ trên vai, quên cả cái rét cắt thịt cắt da ở miền núi mà thấy nao lòng. Chúng tôi ăn Tết với Bác hết ngày mùng 3, hằng ngày hai chị em xuống bếp giúp các đồng chí phục vụ làm bữa… Bác bận tiếp khách ban ngày, ban đêm đọc tài liệu, đọc sách.

Sáng mùng 4, chúng tôi chào Bác để trở về cơ quan công tác. Bác cho mỗi chị em một gói cơm nếp lạc và dặn chúng tôi lúc chia tay: “Các cháu đi đâu cũng phải gần gũi dân mới được dân giúp đỡ… Công tác tốt sang năm lại lên ăn Tết với Bác”.

Đỗ Văn Phú
Theo http://www.tinmoi.vn
Thu Hiền
(st)

bqllang.gov.vn