Tag Archive | Hồ Chí Minh

Tìm hiểu một số nội dung tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đầu năm 1969, nhân dịp toàn Đảng, toàn dân ta chuẩn bị kỷ niệm 39 năm ngày thành lập Đảng, lần kỷ niệm đầu tiên sau mấy năm chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên miền Bắc, nhận rõ tính cấp thiết của công tác tư tưởng chính trị ở thời điểm có ý nghĩa bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, xác định đây là nhiệm vụ rất quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, để Đảng ta hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Hồ Chí Minh khẳng định, đối lập với đạo đức cách mạng là chủ nghĩa cá nhân, do đó, nâng cao đạo đức cách mạng không thể tách rời với chống chủ nghĩa cá nhân, luôn luôn gắn xây với chống. Xây là để nâng cao đạo đức cách mạng, chống là hướng tới mục tiêu quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Hồ Chí Minh chủ trương “Phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng” và nâng cao đạo đức cách mạng để tăng sức mạnh chống chủ nghĩa cá nhân. Những giải pháp chủ yếu đó là:

* Giải pháp từ phía Đảng:

Cán bộ, đảng viên là những người của tổ chức. Để nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên, Đảng phải:

Thứ nhất, tăng cường giáo dục trong toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh, để làm tròn sứ mệnh của mình, mỗi đảng viên phải ra sức học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, củng cố lập trường giai cấp vô sản, cố gắng nắm vững những quy luật của cách mạng Việt Nam, phải luôn luôn nâng cao đạo đức cách mạng, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân; bồi dưỡng chủ nghĩa tập thể của giai cấp vô sản, cần kiệm xây dựng nước nhà; một lòng, một dạ phấn đấu vì lợi ích tối cao của cách mạng và Tổ quốc.

Thứ hai, thực hành tự phê bình và phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng.

Tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, là vũ khí sắc bén trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Nghiêm túc trong tự phê bình và phê bình. Tự phê bình và phê bình phải có tình đồng chí thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, thấu lý, đạt tình, phải ráo riết, triệt để, không nể nang, không thêm, không bớt, không dùng những lời mỉa mai, cay độc, châm chọc, phải vạch rõ cả ưu điểm lẫn khuyết điểm, phê bình căn cứ vào việc làm, không suy diễn, quy kết.

Thứ ba, chế độ sinh hoạt và kỷ luật đảng phải nghiêm minh. Người cho rằng: “Chi bộ tốt thì mọi việc đều tốt” [1]. Với người cộng sản, sự nghiêm minh, chặt chẽ không tách rời tinh thần tự nguyện, tự giác, muốn nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân “công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”.

* Giải pháp từ phía cán bộ, đảng viên:

Thứ nhất, “mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết”.

Trong điều kiện Đảng cầm quyền, số đông cán bộ, đảng viên là những người có chức, có quyền; gắn liền với chức, quyền là danh và lợi. “Đảng viên là người thay mặt Đảng, đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Vì vậy, lợi ích của người đảng viên phải ở trong chứ không thể ở ngoài lợi ích của Đảng, của giai cấp, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết. Nếu khi lợi ích của Đảng và lợi ích của cá nhân mâu thuẫn với nhau, thì lợi ích cá nhân phải phục tùng lợi ích của Đảng” [2].

Thứ hai, “phải đi sâu, đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân”.

Mối quan hệ Đảng – Dân luôn là một nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, “Đạo đức cách mạng là hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng” [3].

Chiều ngày 15-5-2012, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã bế mạc. Thông báo Hội Nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã chỉ rõ “phải kiên trì và đẩy mạnh nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay;” tiếp tục thực hiện nghiêm túc, đồng bộ các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và các nhiệm vụ, giải pháp trong Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, người đứng đầu trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí; tăng cường công tác tổ chức, cán bộ; tiếp tục hoàn thiện thể chế về quản lý kinh tế-xã hội để phòng, chống tham nhũng, lãng phí; nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí; mở rộng dân chủ, công khai, minh bạch; phát huy vai trò giám sát của Quốc hội; Hội đồng Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, nhân dân và công luận”.

Để thực hiện thắng lợi các Nghị quyết của Đảng về công tác xây dựng Đảng, những giải pháp, từ phía các cơ quan đảng đến cán bộ, đảng viên được Hồ Chí Minh nêu ra trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân” vẫn còn nguyên giá trị. Phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong hệ thống chính trị, trước hết là trong cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ, đảng viên có chức, có quyền, công chức nhà nước phải bắt đầu từ phòng, chống chủ nghĩa cá nhân. Đây là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt để nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 10, tr 532.
[2] Hồ Chí Minh: toàn tập, Sđd, tập 9, tr 289.
[3] Hồ Chí Minh: toàn tập, Sđd, tập 9, tr 290.

ubmttq.gialai.gov.vn

Tấm gương đạo đức của Bác Hồ: Lời nói đi đôi với việc làm

Lời nói đi đôi với việc làm, đây là một trong những đạo lý làm người, mà Bác Hồ là một tấm gương sáng cho mọi thế hệ người học tập và làm theo.

Bác Hồ nhắc nhở: “Nói cái gì phải cho tin – nói và làm cho nhất trí – làm thế nào cho dân tin”(1). Trong suốt cuộc đời mình, Người đã giáo dục mọi người và chính bản thân Người đã thực hiện điều đó một cách nghiêm túc và đầy đủ nhất. ở Bác Hồ, lời nói đi đôi với hành động, lý luận đi đôi với thực tiễn, nói là để mà làm, làm phải đúng như điều đã nghĩ, đã nói. Hơn nữa, Người nói ít, nhưng làm nhiều, có những vấn đề đạo đức Người không nói mà chỉ làm. Phải đi sâu vào hành vi đạo đức của Người, chúng ta mới khám phá ra được những tầng bản chất sâu xa, cao đẹp của việc thống nhất giữa lời nói và việc làm là nguyên tắc đạo đức của Bác Hồ, bởi đó là sự thể hiện ở tấm gương đạo đức của bản thân Người và những lời Người răn về đạo đức.

Sức thuyết phục mạnh mẽ trong tấm gương đạo đức của Bác Hồ là ở chỗ, dù việc lớn hay nhỏ, đối với Người bao giờ cũng là lời nói đi đôi với việc làm. Bác nêu cho cán bộ đảng viên một luận điểm quan trọng: “Trước mặt quần chúng không phải ta cứ viết lên trán chữ cộng sản mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”… “Tự mình phải chính trước, mới giúp người khác chính. Mình không chính mà muốn người khác chính là vô lý”(2). “Nếu chính mình tham ô bảo người ta liêm khiết có được không? Không được. Mình trước hết phải siêng năng trong sạch thì mới bảo người ta trong sạch, siêng năng được”… Vậy là, Bác Hồ đã dạy chúng ta rằng nói và làm là tự bản thân mỗi người, bản thân người được nói để người khác nghe theo thì phải là con người lòng dạ trong sáng, phải chính tâm, phải thật sự là tấm gương.

Người đề xuất toàn dân tiết kiệm gạo để giúp đồng bào bị đói, thì Người thực hiện: “Lúc chúng ta nâng bát cơm ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi đề nghị với đồng bào cả nước và tôi xin thực hành trước, cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo”(3). Những năm Bác sống và làm việc tại Khu Phủ Chủ tịch, khi kinh tế khó khăn, đời sống của nhân dân còn nghèo khó, mọi người ăn cơm độn ngô, khoai, sắn, Bác bảo cán bộ, nhân dân ăn độn bao nhiêu phần trăm, độn cho Bác từng ấy giống như cán bộ, nhân dân. Khi về thăm các địa phương, Bác mang cơm nắm với muối vừng để tiết kiệm gạo, tiền của nhân dân, Bác nói: “Người ta dọn ra một bữa cơm sang, có khi Bác chẳng ăn đâu, nhưng rồi để lại cái tiếng đấy: Bác Hồ đến thăm cũng làm một bữa cơm sang, cũng điều người này, người khác từ giao tế sang, chuẩn bị cả buổi. Thế là tự Bác bao che cho cái chuyện xôi thịt. Như thế nắm cơm theo ăn cho tiện, ăn no rồi đến làm việc”. Khi ăn cơm không bao giờ Bác để rơi một hạt cơm, Bác bảo một hạt cơm là một giọt mồ hôi của người nông dân. Đúng như đồng chí Phạm Văn Đồng đã nói: ăn cơm với Cụ hàng trăm lần, lần nào cũng thấy Cụ tém vén không để rơi một hạt cơm. Bởi vì Cụ quý và tiết kiệm công sức của người làm ra lúa gạo. Chuyện nhỏ đức lớn hài hoà ở một con người.

Người khuyên cán bộ phải cần, kiệm, liêm, chính, phải thật sự là người đầy tớ của nhân dân, và chính Bác làm gương trước sống giản dị, thanh bạch, khiêm tốn để làm đúng điều Người dạy: “Cán bộ Đảng, chính quyền ngay cả Bác là cán bộ cao nhất đều là đầy tớ của nhân dân, phải hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, phải cần, kiệm, liêm, chính”. Bởi thế, việc Người làm là khước từ ở ngôi nhà sang trọng thuộc thời Toàn quyền Đông Dương, mà chỉ ở ngôi nhà của người công nhân phục vụ Toàn quyền Pháp thời đó; đi dép lốp, mặc áo vá vai, dùng loại ô tô xoàng nhất, cũ nhất, chính là “cái phúc của dân, đừng bỏ cái phúc đó đi”. Mùa hè nóng bức, Bác dùng chiếc quạt lá cọ, Bác bảo: Bác làm như thế để dành điện phục vụ cho sản xuất, dành điện phục vụ sinh hoạt cho nhân dân…

Bác Hồ làm những việc như thế, để thực hiện điều Người nói: “Cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng, đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra. Vì vậy, chúng ta phải đền bù xứng đáng cho nhân dân. Muốn làm được như vậy, chúng ta phải cố gắng thực hiện, cần, kiệm, liêm, chính” và “Ai chẳng muốn no cơm, ấm áo, nhưng cuộc sống vật chất hết đời người là hết. Còn tiếng tăm tốt xấu truyền đến ngàn đời sau”(4). Cán bộ, đảng viên nếu làm theo được những việc như trên sẽ thật sự quan liêm – mà quan liêm thì dân hạnh phúc và sẽ đẩy thuyền đi; và sẽ chẳng có những loại quan tham – mà quan tham nhiều thì dân khổ, nước nguy.

Người dạy mọi người chống chủ nghĩa cá nhân, thì Người đã nêu gương chống sùng bái cá nhân. Trong suốt thời kỳ đi tìm đường cứu nguy cho dân tộc, đến cả thời kỳ đứng đầu Nhà nước, và cho đến lúc ra đi “gặp Cụ Các Mác, Cụ Lênin”, cũng như những con người thật sự vĩ đại khác, Bác Hồ không bao giờ nghĩ mình là bậc vĩ nhân, không bao giờ đặt cái tôi cao hơn dân tộc và sự nghiệp của dân tộc, cho dù Bác là con người tiêu biểu nhất của dân tộc. Người chỉ ôm ấp một ước nguyện “làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Và cả cuộc đời Người đã phấn đấu cho ước nguyện đó, cho mục tiêu cao cả đó.

Bác Hồ dạy chúng ta: “Đem lòng chí công mà đối với người, với việc”, “Làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước”, “Không ham người tâng bốc mình”, thì Người nêu tấm gương sáng sống chân thành khiêm tốn, sống cho dân, vì dân, sống cho đời chứ không sống cho mình. Vào dịp kỷ niệm ngày sinh của mình, Người thường tìm cách vắng nhà để tránh việc mọi người đến chúc thọ, tặng quà. Bác làm việc này để thực hiện điều Người dặn các cơ quan, các địa phương là đến ngày sinh của Người không tổ chức kỷ niệm chúc thọ Người để tránh lãng phí thời giờ, tiền bạc. Khi đi vào cõi trường sinh, Người dặn không tổ chức điếu phúng linh đình để tiết kiệm tiền bạc của nhân dân…

Bác khuyên mọi người sống trong sạch, không tham lam, không tham tiền tài danh vọng, không cậy quyền thế mà ăn của đút, đục khoét, thì Bác đã làm những việc quang minh chính đại, để cán bộ, đảng viên nhất là những người có chức, có quyền bây giờ phải làm theo gương Bác, mà xem mình để khỏi phạm vào vòng tội lỗi. Đồng bào Thái Bình gửi biếu Bác 2 chai nước mắm, Bác san sẻ quà đó với người khác cùng hưởng: “Hôm chủ nhật đồng bào Thái Bình có cho tôi 2 chai nước mắm làm bằng tôm. “Vật khinh tình trọng”, từ chối không được, tôi phải nhận lấy cho bằng lòng anh em. Nay tôi xin gửi biếu Cụ 1 chai, và xin chúc Cụ mạnh khoẻ”(5); Lần Bác tới thăm xí nghiệp May X (nay là Công ty May X), xí nghiệp có gửi biếu Bác bộ quần áo ka ki, Bác nhận và sau đó Bác gửi thư và quà cảm ơn: “Bác cảm ơn các cô, các chú biếu Bác bộ quần áo, Bác đã nhận rồi, nay Bác xin gửi lại để làm phần thưởng thi đua”(6); Trong dịp Bác sang thăm Liên Xô, Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô gửi cho Bác 4000 rúp, đồng chí thư ký của Bác 1000 rúp. Trước khi rời Mạc Tư Khoa, Bác đã gửi lại Uỷ ban Trung ương Đảng Liên Xô 5000 rúp đó…

Nói đi đôi với làm mà Bác Hồ dạy chúng ta, và những việc Bác làm để làm “mực thước” cho mỗi chúng ta, đó chính là lẽ sống “Thật” và “Thật sự”. Vì “Thật” đối lập với giả, với dối. “Thật sự” đối lập với qua loa, nửa vời. Đó là thứ thuốc: “Thuốc hay đắng miệng chữa được bệnh; lời thẳng trái tai lợi cho việc làm” (Khổng Tử) – làm thứ vũ khí hữu hiệu để chống lại những kẻ gian giảo, xảo quyệt nói không đúng với làm, nói một đằng làm một nẻo, dùng lời nói để giấu diếm tội lỗi làm trắng đen lẫn lộn, chính tà bất nhất. Như Bác đã chỉ cho chúng ta rõ: “Có những kẻ miệng thì nói phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, nhưng bị vật chất dỗ dành mà phạm vào tham ô, lãng phí, hại đến Tổ quốc, nhân dân”.

Sự xuống cấp nghiêm trọng về đạo đức từ nhiều năm nay ở một bộ phận người có chức có quyền đã biến chất nhưng vẫn giữ vai trò lãnh đạo, quản lý, đang làm băng hoại nền tảng đạo đức xã hội, băng hoại truyền thống nhân văn của dân tộc, đang là thách thức lớn nhất của công cuộc đổi mới đất nước, là nguy cơ đe doạ sự sống còn của chế độ ta, đang làm mất thanh danh uy tín của Đảng, Nhà nước, làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ. Đồng chí Tổng Bí thư của Đảng Nguyễn Phú Trọng đã nói tại Hội nghị Trung ương lần thứ tư khoá XI: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, tệ tham nhũng, lãng phí hư hỏng trong một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên, kể cả cấp cao chưa được đẩy lùi mà thậm chí ngày càng có chiều hướng nghiêm trọng hơn, làm xói mòn lòng tin đối với Đảng”. Đảng ta phát động phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ”. Hội nghị Trung ương lần thứ tư khoá XI đã ra Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đáp ứng đúng ý Đảng, lòng dân và thực chất đây đúng là phong trào của đạo lý làm người, thành người, trong đó có nguyên tắc “Nói đi đôi với làm” – một nguyên tắc mà Bác Hồ đặc biệt chú ý nêu gương để cán bô,å đảng viên noi theo, tu dưỡng. Bác đã nói: “Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành. Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần kiệm. Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương, gắng làm gương trong anh em và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân. Làm gương về cả ba mặt: tinh thần, vật chất và văn hoá. Không có gì là khó. Khó như cách mạng mà ta đã làm được và đã thành công. Muốn làm được ta phải: quyết tâm, trí tâm và đồng tâm. Ta nhớ ba chữ ấy, thực hành làm gương nêu ba chữ ấy lên, tất cả các đồng chí phải thành công”(7).

Theo lời Bác dạy và việc Bác đã làm, lúc này cần lắm ở mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt những người lãnh đạo nhất là những lãnh đạo cấp cao hãy làm những việc gương mẫu dù là nhỏ còn gấp ngàn lần những lời nói suông./.

TS. Trần Viết Hoàn
Theo tuyengiao.vn

ubmttq.gialai.gov.vn

Chiếc thang tre Bác Hồ

TP – Đó chiếc thang tre Bác Hồ dùng ở Lán Khuổi Nặm (Pác Bó – Cao Bằng) từ năm 1941 (tức là đã được 71 năm). Chiếc thang đơn sơ nhưng thật vĩ đại.

Bác Hồ với thanh thiếu nhiBác Hồ với thanh thiếu nhi.

Đại bản doanh của Bác Hồ ở Pác Bó

Lãnh tụ cách mạng Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh về nước, lập căn cứ địa cách mạng tại Pác Bó từ năm 1941 đến năm 1945. Trong khoảng thời gian 5 năm ấy Người không chỉ ở Pác Bó mà còn xuống căn cứ địa Lam Sơn (Hòa An – năm 1942); Sang Trung Quốc (năm 1942, 1943).

Thời gian Người ở Pác Bó lâu nhất là hơn một năm (từ tháng 1-1941 đến tháng 3-1942). Trong thời gian đó theo sử sách thì Người chỉ ở hang Cốc Bó và hang Lũng Lạn hơn một tháng. Vậy còn hơn một năm Người sống và làm việc ở đâu?

Kể cũng lạ! Hơn một năm sống ở Pác Bó, Bác Hồ chỉ “ghi lại” có 2 bài thơ (Bài Pác Bó hùng vĩ và bài Tức cảnh Pác Bó). “Một người viết nhiều và hay làm thơ như Bác Hồ, sao chỉ “để lại”có vậy?” .

Nghĩ thế tôi lọ mọ đi tìm kiếm và thật may mắn, tôi “sưu tầm” thêm được 2 bài thơ nữa của Bác (bài Cảnh rừng Pác Bó và bài Tức cảnh hang Lũng Lạn).

Đặc biệt tôi tìm được một bài viết dài của Bác mà đoạn trích dưới đây chỉ rõ hơn một năm ở Pác Bó, Bác đặt đại bản doanh ở đâu: “Lần này dời vào một cái suối. Hai bên là núi cao, lội suối một đoạn khá xa thì có một cái thác cao độ ba thước, nước từ trên ào ào chảy xuống như một tấm lụa trắng. Lội suối một đoạn nữa, lại có một cái thác cũng cao như vậy. Đi qua ba đoạn suối và trèo lên ba cái thác thì chúng tôi đóng “đại bản doanh”.

Bắc tre từ bờ này đến bờ kia suối như một nhịp cầu, rồi làm lán trên cầu, dưới lán, nước chảy róc rách như tiếng ru con”. (Hồ Chí Minh – Chuyện kể dọc đường Cách mạng – Trang 492).

Con suối đó là Khuổi Nặm. Xin nói ngay một điều ít ai biết là trên Khuổi Nặm có tới 3 chiếc lán, chứ không phải chỉ có 1 (chiếc lán ở cửa rừng, nơi họp hội nghị Trung ương 8 là lán 1).

Bác Hồ ở lán 3, trên cùng, chỉ cách mốc 109 vài bước chân. Rõ ràng, khu di tích Pác Bó đã “bỏ quên” “đại bản doanh” của Bác Hồ. Cần sớm khôi phục, tôn tạo lại (Bài này không bàn tới chuyện đó).

Không chỉ có duy nhất một tài liệu nói tới lán Bác Hồ ở như đã dẫn mà còn có rất nhiều hồi ký nói tới lán Bác Hồ của các đồng chí Lê Quảng Ba, Dương Đại Long, Dương Đại Lâm, Nông Thị Trưng… Đây là một đoạn trong hồi ký Những ngày sống gần Bác của Nông Thị Trưng, cháu gái nuôi của Bác Hồ ở Pác Bó.

“Đi ngược con suối nước chảy khá mạnh, thỉnh thoảng lại có những mô đá cao, đi rất chật vật mới trèo qua được hai mô đá cao, đến cái thứ ba, cao gần như thác, tôi nhìn thấy khá cao và rùng rợn. Lúc này anh Đại Lâm ra hiệu bằng tiếng còi, tôi nhìn lên thấy đồng chí Vũ Anh đưa cái thang xuống (H.Q.U nhấn mạnh), anh Đại Lâm và tôi cùng leo lên hết thang thấy một cái lán nhỏ dựng trên suối nước. Vừa bước chân đến cửa lán, tôi chợt thấy một ông cụ mặc bộ quần áo Nùng màu chàm phai. Thoáng nhìn tôi thấy ông cụ có vầng trán cao, có chòm râu dài, trông rất quắc thước, đang ngồi xem sách” (trang 31, 32).

Đi tìm chiếc thang tre

Thang tre Bác Hồ ở Lán Khuổi Nặm 1941Thang tre Bác Hồ ở Lán Khuổi Nặm 1941.

Điều tôi đặc biệt lưu ý trong hồi ký của bà Nông Thị Trưng là chiếc thang tre bắc lên lán 3 (lán Bác Hồ ở).

Là dân miền núi, nhưng tôi không thể tưởng tượng ra chiếc thang tre đặc biệt này, tôi đem điều đó “phàn nàn” với nhà nghiên cứu Vương Hùng, người thầy, người anh, người bạn của tôi, một thời là Phó Ty Văn hóa Cao Bằng. Ông Vương Hùng bảo: “Trong Bảo tàng Cao Bằng có lưu giữ chiếc thang tre của Bác Hồ ở lán Khuổi Nặm từ những năm sáu mươi của thế kỷ trước, sau đó Bảo tàng Việt Bắc lên lấy về Thái Nguyên cùng 2 chiếc trống đồng to”.

Thông tin của ông Vương Hùng làm tôi thật sự phấn khích. Tôi xuống ngay Thái Nguyên tìm. Bạn bè Thái Nguyên mách nên về Hà Nội tìm ở chỗ anh Chu Đức Tính.

Tôi xuống Bảo tàng Hồ Chí Minh, xin vào “tìm chiếc thang” ở kho tư liệu nhưng việc không thành. Quay ngược trở lại Thái Nguyên, tôi cậy nhờ chị Nguyễn Thị Lệ Thu, Giám đốc Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch cùng anh Hưng làm ở phòng di sản, giúp lần tìm “manh mối”. Một tuần sau anh Hưng điện bảo “Cái thang ấy trả về Cao Bằng lâu rồi!”.

Tôi lại trở về Cao Bằng, bắt đầu lại từ điểm xuất phát, hỏi bảo tàng Cao Bằng, hỏi khu di tích Pác Bó… Chẳng ai biết chiếc thang tre từ thời “xa xưa” cả. Đột nhiên giữa tháng 8-2012, anh Phùng Chí Kiên, Giám đốc Bảo tàng Cao Bằng điện thoại bảo tôi “thấy rồi, thấy rồi!”.

Tôi lao vội đến chỗ anh Kiên, anh liền dẫn tôi vào một căn nhà xây 2 tầng, chỉ tay lên phía trên cầu thang: “Thang ở trên đầu chúng ta”.

Tôi ngước nhìn, thấy một chiếc thang tre cũ kỹ gác áp vào trần nhà. Phùng Chí Kiên cho người đem cái thang xuống, đưa ra sân rộng của bảo tàng, gác lên gốc cây để tôi chụp ảnh.

Đó là một chiếc thang được làm bằng một cây tre gai bổ đôi, dài 3,3m, đầu dưới rộng 45 cm; đầu trên rộng 29cm, có 8 bậc. Phùng Chí Kiên khẳng định: “Đây là chiếc thang tre Bác Hồ dùng ở lán Khuổi Nặm năm 1941”.

Đầu tháng 11-2012, trong buổi tiếp đoàn học giả Trung Quốc do giáo sư Hoàng Tranh dẫn đầu lên khảo cứu Pác Bó, ông Đinh Ngọc Hải, nguyên Giám đốc khu di tích Pác Bó thêm một lần khẳng định với tôi: “Cái thang tre ấy do tôi xuống Thái Nguyên lấy về. Hồ sơ có ghi rõ: Thang tre Bác Hồ dùng ở Khuổi Nặm!”.

Vàng đấy, chẳng phải thau đâu…

Nơi từng là đại bản doanh của Bác Hồ tại Pác Bó Nơi từng là đại bản doanh của Bác Hồ tại Pác Bó .

Hóa ra, việc “truy tìm” chiếc thang tre Bác Hồ lại đơn giản và ngẫu nhiên đến thế, chứ chẳng có gì là ly kỳ, lắt léo. Đó chỉ là sự may mắn! Ấy là việc thứ nhất, coi như xong, nhưng việc tiếp theo sau khi “phát hiện lại” thì sẽ làm gì với hiện vật quí đó?

Chẳng làm gì cả! Chiếc thang tre ấy vẫn nằm khuất vì những người có trách nhiệm chưa có thời gian xác minh và thẩm định lại, và dù có xác minh lại thì chưa biết đem trưng bày như thế nào? Giới thiệu ra làm sao? Thật không đơn giản!

Riêng tôi, tôi nghĩ chiếc thang tre đó là hiện vật rất quí, cần có chế độ bảo quản thật tốt chứ không thể để như bây giờ.

Tháng 11-2012, tôi cộng tác với Đài Truyền hình Việt Nam xây dựng bộ phim tài liệu về Pác Bó, quay nhiều hình ảnh về chiếc thang tre và lên ghi hình tại nơi ngày xưa Bác Hồ đặt đại bản doanh trên dòng Khuổi Nặm. Bộ phim được giới thiệu trên sóng VTV.

Còn bây giờ, tôi mơ một ngày sẽ được trèo lên chiếc thang tre, như các ông Dương Đại Lâm, bà Nông Thị Trưng đã từng trèo lên gặp Bác Hồ.

Thành phố Cao Bằng tháng 12-2012

Hoàng Quảng Uyên
tienphong.vn

Tư lệnh Cảnh vệ báo công Bác tại Pác Bó

TPO – Chiều 8-1, đoàn tư lệnh Cảnh vệ, dẫn đầu là Trung tướng Vũ Xuân Sinh đã tới báo công Bác tại Khu di tích lịch sử Pác Bó và có những hoạt động cùng Đoàn viên thanh niên Tư lệnh.

Đoàn đại biểu Tư lệnh Cảnh vệ, dẫn đầu là Trung tướng Tư lệnh Vũ Xuân Sinh đại diện cho hơn 2000 cán bộ cơ sở và hơn 1200 Đoàn viên thanh niên của lực lượng Cảnh vệ đã có hoạt động về nguồn tại Cao Bằng.

Đoàn đã thăm di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Pác Bó – Cao Bằng, nơi 72 năm trước Bác Hồ về nước lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Đây là một trong những hoạt động của Tư lệnh Cảnh vệ để kỉ niệm 60 năm thành lập.

Trung tướng Vũ Xuân Sinh dẫn đầu đoàn Tư lệnh Cảnh vệ Trung tướng Vũ Xuân Sinh dẫn đầu đoàn đại biểu Tư lệnh Cảnh vệ .

Dâng hương tại nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí MinhDâng hương tại Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Báo công lên Bác tại Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí MinhBáo công lên Bác tại Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đoàn đại biểu Tư lệnh Cảnh vệĐoàn đại biểu Tư lệnh Cảnh vệ.

Thăm bảo tàng và các hiện vật của Bác Hồ tại khu di tích Pác BóThăm bảo tàng và các hiện vật của Bác Hồ tại khu di tích Pác Bó.

Đoàn đại biểu Tư lệnh Cảnh vệ thăm suối LeninĐoàn đại biểu Tư lệnh Cảnh vệ thăm suối Lenin.

Thăm nơi ở của Bác Hồ trong hang Cốc BóThăm nơi ở của Bác Hồ trong hang Cốc Bó.

Trung tướng Vũ Xuân Sinh chụp ảnh lưu niệm cùng cán bộ Tư lệnh Cảnh vệ tại nguồn suối LêninTrung tướng Vũ Xuân Sinh chụp ảnh lưu niệm cùng cán bộ Tư lệnh Cảnh vệ tại nguồn suối Lênin.

Thăm di tích lịch sử bàn đá nơi Bác Hồ làm việcThăm di tích lịch sử bàn đá nơi Bác Hồ làm việc.

Đoàn Tư lệnh Cảnh vệ cũng trao quà tình nghĩa cho 10 gia đình có thân nhân liệt sĩ tại khu di tích Pác BóĐoàn Tư lệnh Cảnh vệ cũng trao quà tình nghĩa cho 10 gia đình có thân nhân liệt sĩ tại khu di tích Pác Bó.

Đoàn thắp hương tại mộ liệt sĩ Kim ĐồngĐoàn thắp hương tại mộ liệt sĩ Kim Đồng.

Tô Tùng
tienphong.vn

Học Bác Hồ chúc Tết

Sinh thời, cứ mỗi độ Tết đến, xuân về, Bác Hồ đi thăm và chúc Tết nhân dân. Qua cảnh Tết ở mỗi nhà, Bác biết được đời sống của nhân dân ra sao. Bác đến với dân thật tự nhiên, quen thuộc, thân thiết như người cha trong gia đình. Những lời chúc tết của Bác giản dị, chân thành nhưng sâu sắc đầy ý nghĩa và ấm áp tình người.

Một lần, vào dịp cuối tháng 1 năm 1963 (sau Tết Nguyên đán Quý Mão), Bác Hồ về thăm Nghiêm Xuyên và tiếp xúc với nhân dân. Theo chương trình, đồng bào hai huyện Thường Tín và Phú Xuyên sẽ tập trung ở cánh đồng Nghiêm Xuyên để nghe Bác Hồ nói về chuyện chống hạn. Bác đến sớm hơn giờ hẹn và đi thẳng đến khu cầu Bầu xem tình hình chống hạn. Khi qua Bác rẽ vào một ngôi nhà. Bác hỏi chủ nhà Tết vừa rồi, ăn Tết có vui không? Mọi người đều thưa với Bác vui, riêng có một bà chừng 60 tuổi nói: “Thưa Bác, nhà cháu ăn Tết không vui!”. Bác hỏi: Vì sao? Bà liền báo cáo, vốn gia đình đã nhiều năm có ngôi nhà ở gần đường, nay huyện có lệnh dời dân để mở rộng đường, không bồi thường, cũng không chỉ dẫn phương hướng cho gia đình chuyển đi đâu, vì thế gia đình ăn Tết không vui. Bác lắng nghe và chỉ thị cho cán bộ địa phương phải tìm cách giải quyết đất ở cho gia đình bà. Khi lên xe, Bác không vui và nói với các đồng chí đi cùng: “Đối xử với dân như thế là không tốt”. Bác Hồ của chúng ta là như thế. Bác quý dân, yêu dân, đến với dân rất thân ái, gần gũi nhưng rất cụ thể.

Thiết thực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh, lần đầu tiên, việc thăm, chúc Tết của lãnh đạo được Ban Bí thư Trung ương Đảng quy định rõ trong Chỉ thị mới đây. Ban Bí thư yêu cầu “Tết năm nay không tổ chức để các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đi thăm, chúc Tết các địa phương. Kỷ niệm 83 năm Ngày thành lập Đảng (3/02/2013) là năm lẻ, không tổ chức đón, tiếp khách tại trụ sở các cơ quan đảng”. Trước đó, trong chuyến thăm và làm việc tại địa phương, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lưu ý “Khác với các năm trước, năm nay Trung ương không cử cán bộ về địa phương chúc Tết, tránh gây phiền hà cho cơ sở. Ưu tiên chăm lo, thăm hỏi các đối tượng chính sách, gia đình có công với cách mạng, gia đình nghèo, vùng đặc biệt khó khăn…”

Chuyện lãnh đạo cấp trên xuống cấp dưới thăm hỏi, chúc Tết đã trở thành thông lệ lâu nay. Với lãnh đạo Trung ương xuống địa phương, việc đón tiếp tại trụ sở Tỉnh ủy, UBND tỉnh, rồi đi thăm một số địa điểm cũng đã được lên kế hoạch kỹ lưỡng với đầy đủ ban bệ, báo chí để tuyên truyền. Việc lặp lại thường niên như thế lâu dần trở thành thói quen. Chúc Tết, đương nhiên cái được thấy rõ, đó là sự động viên tinh thần, thể hiện sự quan tâm của lãnh đạo cấp trên với cấp dưới, của Trung ương với địa phương. Đó cũng là niềm tự hào của địa phương sau một năm tất bật. Nhưng có rất nhiều điều để ngẫm đằng sau đó. Thực tình ba ngày Tết, thời gian gấp gáp, lãnh đạo địa phương phải lo rất nhiều việc. Đoàn chúc Tết của lãnh đạo Trung ương thường đi theo “ban bệ”, phía sau người dẫn đầu là các “tùy tùng”: văn phòng, tham mưu, Bộ này, Cục nọ… Tiếp đón bộ phận “tùy tùng” ấy xem ra mới là cái khó, vì đã là chúc Tết thì mọi cái phải vui, đương nhiên quà cáp lót tay cũng không thể như ngày thường. Mà tất tật, không gì khác đều từ ngân sách, chỉ khác ngân sách đó trích ra sau khi đã phân bổ về địa phương!

Còn về nội dung, hình thức không gì khác là nghe “báo cáo tình hình” và phát biểu chỉ đạo, rồi chúc Tết cũng không ngoài văn bản. Sự lặp lại của điệp khúc nặng nề tính hình thức đó khiến các địa phương đều rập theo khuôn mẫu, lãnh đạo chúc Tết cũng không khác mẫu, chỉ khác tên địa phương nơi đến. Trong khi đó, đời sống thực tại của người dân như thế nào, làm sao để trực tiếp gặp họ mà xung quanh không có “tùy tùng”, lại là điều ít thấy. Do đó, sinh thời, Bác Hồ răn dạy “Làm sao để việc chúc Tết không sa vào hình thức, lãng phí. Chúc Tết kiểu vi hành, bình lặng đến với người nghèo, người có công để thăm hỏi, động viên đồng bào mà không cần kéo theo ban bệ, không cần nghe đọc văn bản ở hội trường, không cần “nhiệt liệt chào mừng”, ấy mới là chiều sâu của giá trị”.

Ngày nay, lệ chúc Tết đã khác xưa nhiều. Trong cái đổi mới của thời đại, người ta vẫn tha thiết nhớ những Tết xưa, nhớ những chuyến đi chúc Tết kiểu vi hành như Bác Hồ, ấm áp, giản dị mà thật sâu sắc, nghĩa tình. Bởi thế, Chỉ thị lần này của Ban Bí thư được dư luận hưởng ứng và chờ đợi sự biến chuyển.

vinacomin.vn

Câu chuyện đối nhân sử thế tài tình của Bác Hồ trong một cuộc đón khách quốc tế

Chuyện kể về NgườiCách đây hơn 50 năm về trước, một buổi sáng tháng 5 năm 1960, tại Quảng trường Ba Đình Hà Nội, diễn ra buổi lễ đón tiếp Tổng thống nước Cộng hoà Ghi Nê (*) là Xê – Cu Tu – Rê (Sekou Toure) theo lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cuộc Mít-tin trọng thể đã diễn ra từ 7 giờ sáng. Đồng bào Thủ đô, cán bộ công nhân viên chức, các giáo viên, học sinh, sinh viên các trường Đại học có mặt rất đông đúc và trên tay đều cầm cờ hoa vẫy chào Hồ Chủ tịch và Tổng thống Tu- Rê đi ra lễ đài.

Lớp chúng tôi đứng trong hàng ngũ sinh viên dự lễ phía trước lễ đài gần đó nên nhìn rất rõ Bác Hồ và Tổng Thống Xê Cu Tu- Rê.

Sau phần nghi thức ban đầu của buổi lễ rồi đến phần phát biểu của Tổng thống. Trong bài diễn văn thống thiết của Tổng thống, sau đó ông ta dừng lại, nhìn sang Bác Hồ và nói một giọng rất tôn kính:

“Chủ tịch Hồ Chí Minh không những chỉ là vị lãnh tụ rất quý mến của nhân dân Việt Nam mà còn của cả nhân dân Ghi- Nê chúng tôi”.

Tiếng pháo tay hoan hô vang dội cả quảng trường Ba Đình.

Ông nói tiếp:

“Đối với tôi, cái tên Hồ Chí Minh đã khắc sâu trong trái tim tôi, tôi rất yêu quý Người. Cho nên hôm nay khi tôi sang thăm Việt Nam thì được tin vợ tôi mới sinh được một đứa con trai rất khôi ngô tuấn tú, tôi liền điện về nói vợ tôi đặt tên cho nó là Hồ Chí Minh”.

Nói xong câu đó, ông Tổng thống nhìn sang Bác Hồ chúng ta và nói nhỏ gì đấy… chắc là ông ta xin phép Bác được đặt tên con ông như thế.

Khi nghe như vậy mọi người cứ xì xào râm ran lên mà không vỗ tay. Có người nói to: “Ông Tổng thống này trịch thượng thật, khinh người thật! dám cả gan đem tên vị lãnh tụ của chúng ta đặt cho con mình à!?”.

Nhiều người cũng nói như vậy và tỏ ra khó chịu, bực tức lắm. Nghe tiếng xì xào trong biển người dự lễ tại quảng trường Ba Đình hôm đó, Bác Hồ chúng ta đã hiểu ý của nhân dân Thủ đô không hài lòng về chuyện này và tiếp đó Bác Hồ liền đứng ra trước micrô nói ngay với tất cả đồng bào, cán bộ một cách nhẹ nhàng vui vẻ:

“Kính thưa đồng bào! Tổng thống Xê-Cu Tu-Rê rất quý mến Bác nên mới muốn đặt tên cho con trai yêu quý của mình là Hồ Chí Minh. Phong tục của nước họ là như vậy, chúng ta hãy thông cảm. Còn Bác thì không có vợ, không có con, đồng bào biết rồi đấy. Cho nên Bác có ý kiến đề nghị với đồng bào thế này nhé: Trong ngày hôm nay, nếu chị em phụ nữ nào ở nước Việt Nam ta mà sinh con thì ta đặt tên cho con là Xê- Cu Tu-Rê có được không ?”.

Bác tươi cười nói năng một cách hoà nhã, chân thành và hợp lý như vậy. Tiếng vỗ tay và hô vang: “Đồng ý, đồng ý !”.

Người thông dịch liền dịch ngay cho Tổng thống Tu- Rê biết điều đó và ông bày tỏ lời cám ơn nhân dân Việt Nam đã quý mến ông.

Thế là đồng bào ta không thắc mắc gì nữa mà lại thỏa mãn vô cùng cách giải thích ứng xử kịp thời của Bác Hồ.

Được chứng kiến sự kiện này, tôi cảm thấy Bác Hồ quá nhạy cảm, thông minh trong việc đối nhân xử thế tình huống tâm lý thật tài tình. Nhiều người bàn tán rằng: “Bác Hồ chúng ta đối đáp vấn đề tâm lý này thật hay quá! sâu sắc quá! Tổng thống Xê-cu Tu- Rê của nước Cộng hoà Ghi Nê chỉ sinh được một Hồ Chí Minh, còn nhân dân Việt Nam ngày hôm nay sẽ sản sinh ra được nhiều người con Tu- Rê. Như vậy không nói ra cũng đủ hiểu rằng chỉ một Chủ tịch Hồ Chí Minh là bằng bao nhiêu Tổng thống Tu- Rê…”.

Tôi cũng thầm nghĩ như vậy và vô cùng thích thú với một chuyện thực tế mà tôi đã mắt thấy, tai nghe như vậy. Có thể trong thâm tâm của Bác Hồ không bao giờ có tính so sánh đề cao mình như vậy đâu. Đó là một sự ngẫu nhiên đối nhân xử thế của Người một cách kịp thời cho thoả ý, thoả lòng mong muốn của đồng bào ta và của cả đôi bên. Đó cũng là xuất phát từ tấm lòng nhân ái của Bác “Trọng người như thể trọng ta”.

Từ thời tôi còn là học trò các trường phổ thông, tôi đã từng đọc sách báo và đã nghe nhiều chuyện về cách ứng xử rất thông minh tài tình của Hồ Chủ tịch, nhưng tôi vẫn chưa tin 100%. Tôi nghĩ rằng, chắc người ta đã thêu dệt thêm, tô điểm thêm câu chuyện cho hấp dẫn nhằm đề cao vị Chủ tịch của đất nước Việt Nam mà thôi. Đến khi tôi được trực tiếp chứng kiến sự kiện này vào giữa năm Canh Tý (1960), trong buổi lễ đón tiếp Tổng thổng Tu- Rê của nước Cộng hoà Ghi- Nê thì tôi mới cảm thấy thực sự Bác Hồ có cách đối nhân xử thế với khách Quốc tế thật nhạy cảm, thông minh tuyệt vời !…

——————–

Chú thích: * Nước Cộng hoà Ghi Nê (Guinea) nằm ở Tây Phi, trên bờ Đại Tây Dương.Diện tích: 245.857 Km2. – Dân số: 9.467.800 người. – Quốc khánh: 2/10/1958. Ghi-nê là nước dân tộc chủ nghĩa đầu tiên ở châu Phi có quan hệ ngoại giao với ta – 9/10/1958,

Trao đổi đoàn: Phía Ghi-nê: Cố Tổng thống Xê-cu Tu-rê (Sekou Toure) thăm Việt Nam năm 1960.

Phía Việt Nam: Phó Chủ tịch nước Nguyễn Hữu Thọ thăm Ghi-nê năm 1978, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình thăm Ghi-nê tháng 3/1994. Hai bên đã ra thông cáo chung, ký kết Hiệp định hợp tác kinh tế, Văn hoá, Khoa học kỹ thuật và Thương mại, hai bên thỏa thuận thành lập Uỷ ban về hợp tác giữa hai nước.

p5media.vn

Bác Hồ của chúng ta là như vậy đó

Việt Nam - Hồ Chí MinhHơn 40 năm làm công tác dân vận – Mặt trận, với trách nhiệm được giao, tôi có hạnh phúc lớn là được tiếp xúc với nhiều chính khách, nhiều nhân sĩ, trí thức nổi tiếng, các vị tiêu biểu của các dân tộc, các tôn giáo, trong đó không ít người đã được Bác Hồ cảm hóa, trở thành cộng sự thân thiết của Bác, tiếp thu tư tưởng của Người và đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc và xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất.

Mỗi lần kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh lại một lần anh chị em làm công tác Mặt trận chúng tôi có dịp được nghe chính những người trong cuộc kể lại những câu chuyện đầy xúc động về tầm nhìn xa, trông rộng, lòng bao dung, độ lượng, sức hút kỳ diệu và tài cảm hóa lạ thường của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Những câu chuyện đó được anh em chúng tôi ghi chép đầy đủ. Nhân dịp kỷ niệm 66 năm Ngày Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, tôi trích đăng chuyện kể của Luật sư Phan Anh, Phó Chủ tịch thứ nhất Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa III, tại buổi họp mặt của Mặt trận ngày 10-5-1990 kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Bác Hồ. Không ai nghĩ rằng đây là buổi nói chuyện cuối cùng của Luật sư tại cơ quan Mặt trận vì chỉ sau đó hơn một tháng, ngày 28-6-1990 luật sư Phan Anh đã vĩnh biệt chúng ta. Tiêu đề bài viết này chính là câu kết bài nói của Luật sư.

Ông kể: Theo tôi nhớ, từ trung tuần tháng 7 đến trung tuần tháng 8-1945, những cuộc thương lượng giữa Chính phủ Trần Trọng Kim với Việt Minh diễn ra dồn dập tại Hà Nội. Mở đầu là việc ông Lê Trọng Nghĩa với vai giáo sư Lê Ngọc đã có cuộc tiếp xúc đầu tiên với Khâm sai đại thần Phan Kế Toại ngay tại Phủ khâm sai trong giờ hành chính. Tiếp đó là cuối tháng 7, Thủ tướng Trần Trọng Kim ra Bắc Bộ để thị sát thực địa và điều đình với Nhật cũng đã được ông Phan Kế Toại bố trí tiếp xúc với đại diện Việt Minh ở Hà Nội.

Trước tình hình chuyển biến mau lẹ, ngày 18-8 Khâm sai Phan Kế Toại lại gặp các ông Nguyễn Khang, Lê Trọng Nghĩa, Trần Đình Long tại Phủ khâm sai, chính thức mời Việt Minh cộng tác với Chính phủ Trần Trọng Kim và sẵn sàng chờ Mặt trận cử người tham gia Chính phủ. Cùng ngày, Bộ trưởng Hoàng Xuân Hãn cũng xin gặp Việt Minh, mời Việt Minh tham gia Chính phủ mở rộng và đề nghị trong tình hình quân Đồng minh đang trên đường vào Việt Nam mong cuộc thương lượng tiếp tục, Việt Minh nên nắm vùng nông thôn, Chính phủ lâm thời quản lý các thành phố để có danh nghĩa nói chuyện với Đồng minh.

Tất cả các cuộc thương lượng đều không có kết quả. Ông Trần Trọng Kim giao tôi làm thuyết khách cuối cùng với hy vọng: Với “tài hùng biện của Phan Anh” may ra còn cứu vãn được tình thế.

Nể lời Thủ tướng Trần Trọng Kim, tôi nhận lời và chuẩn bị kỹ cho cuộc gặp.

Tôi còn nhớ, ngày 25-8 Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Tân Trào về Hà Nội. Ngày 26, Người chủ trì Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Ngày 28, báo chí Hà Nội công bố danh sách 15 thành viên của Chính phủ cách mạng do Bác làm Chủ tịch. Cũng ngày đó, tôi đến gặp lại giáo sư Hoàng Minh Giám – một trí thức tiêu biểu của nước ta, thầy Hiệu trưởng Trường Thăng Long xưa mà tôi đã một thời dạy học ở đó. Ông lúc này là Đổng lý Văn phòng Bộ Nội vụ và được Giáo sư cho biết Cụ sẽ tiếp tôi vào 9 giờ sáng hôm sau. Hay tin tôi ra “đấu tranh” với Chủ tịch Hồ Chí Minh, chú Phan Mỹ – em tôi, một cán bộ cách mạng, vội gặp tôi can ngăn:

– Từ trước đến nay, tôi vẫn phục anh, coi anh là thần tượng. Nhưng với việc anh định “đấu tranh” với Cụ thì anh mê muội quá chừng. Anh muốn “đội đá, vá trời” chăng? – Tôi chỉ mỉm cười, chẳng phản đối, cũng chẳng thanh minh.

Đúng giờ, tôi đến địa điểm hẹn. Tôi quá bất ngờ và đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Đón tôi là một ông Tiên thực thụ. Cụ vận bộ kaki bạc màu, đi đôi bata của đồng bào dân tộc Tày. Cụ không chờ tôi lên mà dáng nhanh nhẹn, Cụ vội bước xuống ngang chỗ tôi đứng bắt tay:

– Tôi đã chờ chú từ lâu. Người nói – Trước khi ra Bắc, chú đã về quê choa chưa?

Tôi bối rối và thực sự xúc động. Những điều lâu nay tôi chuẩn bị công phu nay tan biến cả trước một con người cao sang nhưng không xa cách, một vĩ nhân xa quê hương, đất nước hơn một phần ba thế kỷ nhưng vẫn không quên thổ ngữ thân thương. Tôi ấp úng trả lời:

– Thưa Cụ, con chưa kịp về quê nhà.

Cụ ôm eo tôi cùng bước lên, đưa tôi vào phòng khách. Đồng chí Đàm Quang Trung lúc đó là Đội trưởng Đội bảo vệ Bác vào định rót nước mời khách.

Cụ ngăn:

– Chú Phan Anh là khách của Bác, để Bác tiếp. Chú cứ lo việc của chú. Chính tay Bác rót nước mời tôi, thân mật như cha con lâu ngày gặp lại.

Vừa uống nước, Cụ vừa giải thích cho tôi hiểu tình hình thời cuộc và đời sống cùng cực của dân ta hiện nay. Cụ nói ý:

– Dân ta bao năm một cổ đôi tròng, sống dưới chế độ áp bức của thực dân, phong kiến và phát xít Nhật. Nay ta đã giành được độc lập, phải mau chóng tái thiết quốc gia để dân có cơm ăn, áo mặc, được học hành. Chú là người tài cao, học rộng, tôi đề nghị chú ra gánh vác việc nước và trực tiếp làm Chủ tịch Ủy ban Kiến thiết quốc gia.

Tôi ngỡ ngàng trước một sự việc mà mình chưa bao giờ nghĩ tới, liền thưa:

– Thưa Cụ, con chỉ được đào tạo về luật chứ chưa được đào tạo về kiến thiết xây dựng.

– Thế tôi có được ai đào tạo để làm Chủ tịch nước đâu? Dân giao thì mình phải làm, phải vừa làm, vừa học và làm cho tốt, cho thật tốt.

Bác Hồ của chúng ta là như vậy đó. Ngày 29-8-1945 là ngày mà Bác Hồ đổi đời cho tôi, cho gia đình tôi.

45 năm đã trôi qua, tôi lớn lên theo cách mạng, lớn lên theo sự dìu dắt, bảo ban của Người, của Bác Hồ kính yêu của chúng ta.

Con đường mà Luật sư đi theo cách mạng là như vậy. Luật sư Phan Anh là Chủ tịch đầu tiên của Ủy ban Kiến thiết quốc gia của nước ta.

Ngày 2-3-1946 Chính phủ liên hiệp quốc gia được thành lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, ông được mời giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Tháng 7-1946 ông được Chính phủ giao trọng trách Tổng Thư ký Phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đi dự Hội nghị Fontainbleau đàm phán với Chính phủ Pháp.

Trong những năm kháng chiến chống Pháp, ông từng đảm nhiệm các chức vụ: Bộ trưởng Bộ Kinh tế (1948), Bộ trưởng Bộ Công thương (1954). Tháng 7-1954, ông là phái viên Phái đoàn Việt Nam đàm phán tại Hội nghị Giơnevơ.

Sau Hiệp định Giơnevơ, Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao ông đảm nhận nhiều trọng trách: Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Bộ trưởng Bộ Thương nghiệp rồi Bộ trưởng Bộ Ngoại thương.

Luật sư Phan Anh là đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa VIII, là Phó Chủ tịch Quốc hội khóa VII. Ông cùng luật sư Nguyễn Mạnh Tường sáng lập Hội Luật gia Việt Nam và trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của Hội và là Ủy viên Thường vụ của Hội Luật gia dân chủ thế giới.

Đối với sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc và hoạt động của Mặt trận Dân tộc thống nhất, luật sư Phan Anh là thành viên của Ban Vận động thành lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam. Ngày 29-5-1946 khi Hội chính thức được thành lập, ông được cử làm Ủy viên Thường vụ.

Ngày 10-9-1955 MTTQ Việt Nam ra đời, ông tiếp tục được cử làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam cho đến khi Đại hội thống nhất các tổ chức Mặt trận trong phạm vi cả nước vào tháng 2-1977.

Tại Đại hội I và Đại hội II MTTQ Việt Nam, luật sư Phan Anh được cử làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch. Và tại Đại hội III ông được cử làm Phó Chủ tịch thứ nhất Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam.

Luật sư Phan Anh là một trí thức tiêu biểu, tài năng và đức độ, một nhà hùng biện nổi tiếng, một trong những nhân vật đã từng được cộng tác mật thiết bên cạnh Bác Hồ trong nhiều năm và đã có những cống hiến to lớn vào việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân và Mặt trận Dân tộc thống nhất.

Nguyễn Túc

(Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam)

  1. (1)Sau này là Thượng tướng, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước

Theo daidoanket.vn

Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

Trung đoàn Cảnh sát Bảo vệ mục tiêu báo công tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sáng ngày 20 tháng 02 năm 2013, nhân dịp đầu xuân mới, tại Quảng trường Ba Đình, trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã diễn ra lễ báo công của Trung đoàn Cảnh sát Bảo vệ mục tiêu. Tham dự buổi lễ có các đồng chí đại diện các hòng chức năng, đại diện Ban Chấp hành Đoàn cơ sở cùng với sự có mặt của 390 cán bộ, chiến sĩ tiêu biểu xuất sắc, đại diện cho hơn 1200 cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn Cảnh sát Bảo vệ mục tiêu.

1.a1.CSBV  bao congTrung đoàn Cảnh sát Bảo vệ mục tiêu báo công tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

 Trung đoàn Cảnh sát Bảo vệ mục tiêu là một bộ phận trong lực lượng Công an nhân dân, trực thuộc Cục Cảnh sát Bảo vệ – Tổng cục VII – Bộ Công an, được tái thành lập từ tháng 12 năm 1999 với chức năng, nhiệm vụ tổ chức lực lượng vũ trang canh gác bảo vệ các mục tiêu chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hoá, khoa học – kỹ thuật quan trọng của Đảng và Nhà nước trên địa bàn Thủ đô Hà Nội. Trong những năm qua, mặc dù điều kiện công tác còn nhiều khó khăn, gian khổ, song với ý chí quyết tâm và lòng trung thành sắt son với Đảng, với Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với sự lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp của các cấp uỷ Đảng, sự sáng tạo, nỗ lực vươn lên của cán bộ, chiến sĩ, qua 14 năm xây dựng, chiến đấu, Trung đoàn Cảnh sát Bảo vệ mục tiêu không ngừng lớn mạnh, trưởng thành về mọi mặt. Từ năm 2008 đến năm 2012, Đảng bộ cơ sở Trung đoàn đều đạt tiêu chuẩn trong sạch vững mạnh và danh hiệu Đơn vị Quyết thắng. Đặc biệt, năm 2011, Trung đoàn được Bộ Công an tặng Cờ “Đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua Vì an ninh Tổ quốc cấp cơ sở”, nhiều tập thể và cá nhân được Chính phủ, Bộ Công an tặng Bằng khen. Riêng năm 2012 Trung đoàn có 01 tập thể và 04 cá nhân được Bộ Công an tặng Bằng khen, 03 tập thể và 38 cá nhân được Tổng cục VII tặng Giấy khen, 07 tập thể và 69 cá nhân được Cục Cảnh sát Bảo vệ tặng Giấy khen, 68 cá nhân đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở, 760 cá nhân đạt danh hiệu Chiến sĩ tiên tiến và Lao động tiên tiến. Đó là những tấm gương tiêu biểu trong học tập và làm theo lời Bác dạy.

 Thay mặt Trung đoàn Cảnh sát Bảo vệ mục tiêu, đồng chí Thượng tá Vũ Tiến Triển – Bí thư Đảng uỷ, Trung đoàn trưởng xin hứa: “Tiếp tục phát huy truyền thống và thành tích đã đạt được trong chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, nỗ lực vượt qua khó khăn thử thách, ra sức khắc phục những tồn tại, thiếu sót. Đề cao cảnh giác cách mạng, không ngại gian khổ, hy sinh, tận tuỵ với công việc, mưu trí dũng cảm trong chiến đấu, lập công xuất sắc góp phần tô thắm thêm bảng vàng truyền thống của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam anh hùng, xứng đáng với những tình cảm mà Bác đã dành cho lực lượng Công an nhân dân”.

1.a2.CSBV vao lang vieng Bac
Đoàn đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Bác

Kết thúc buổi lễ, Đoàn đã đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Hải Yến
bqllang.gov.vn

Bác Hồ với mùa Xuân của Đảng, của dân tộc

1
Ảnh Tư liệu

“Một năm khởi đầu từ mùa Xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ…”, mùa Xuân luôn khiến ta cảm thấy tràn trề nhựa sống, thiên nhiên, vạn vật dường như cũng sinh sôi nảy nở hơn vào mùa Xuân. Với dân tộc ta, mùa Xuân không chỉ thể hiện cho sự giao mùa, sự kết thúc của một năm cũ bước sang năm mới mà mùa Xuân còn gắn với nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc. Kể từ mùa Xuân đầu tiên nhân dân ta có Đảng, ngày 3-2-1930 đến nay, đã có rất nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc ta diễn ra.

Từ mùa Xuân Canh Ngọ năm 1930, nhận được liên lạc của Quốc tế Cộng sản, Bác Hồ của chúng ta sau khi bàn bạc với các đồng chí của mình, Bác quyết định tổ chức Hội nghị hợp nhất các Đảng Cộng sản Việt Nam từ ngày 3 đến ngày 7 tháng 2 năm 1930 (trùng với ngày 6 đến ngày 8 tháng 1 âm lịch) tại Cửu Long (Trung Quốc). Ngày cuối cùng của Hội nghị, Người xúc động nói: “Các đồng chí! Hôm nay là ngày lịch sử của chúng ta. Lê-nin vĩ đại đã nói: Chỉ Đảng nào có được một lý luận tiên phong, mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong. Bây giờ chúng ta đã có một Đảng như thế rồi – Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam. Nhân dân ta từ xưa đã có truyền thống anh dũng, nhưng suốt những năm ấy nhân dân ta lại thiếu những người cầm lái sáng suốt. Giờ đây, Đảng của chúng ta phải gắn lấy vai trò này và tôi tin rằng Đảng ta phải dẫn dắt nhân dân ta đến thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc thân yêu”.Đúng như vậy, từ mùa Xuân năm 1930 cách mạng Việt Nam có Cương lĩnh đúng đắn do Bác Hồ khởi thảo, được Đảng  không ngừng hoàn thiện, đời sống chính trị, tinh thần, khí thế đấu tranh cách mạng của toàn dân ta đã chuyển qua một giai đoạn mới, đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua giông bão đi tới bến vinh quang.

Sau gần 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, mùa Xuân năm 1941, Bác Hồ đã trở về Cao Bằng – mảnh đất địa đầu của Tổ quốc, cùng Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc với bản Nghị quyết lịch sử của Hội nghị Trung ương VIII. Những công việc đầu tiên của Người là chỉ đạo Đảng ta thành lập Mặt trận Việt Minh, tập hợp lực lượng toàn dân đứng lên để “đem sức ta mà giải phóng cho ta”; tổ chức xây dựng căn cứ địa cách mạng làm nơi đứng chân để xây dựng lực lượng, tích lũy lương thực, súng đạn, chuẩn bị tiền đề vật chất cho tổng khởi nghĩa cách mạng giành chính quyền. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Bác Hồ và sự đồng lòng đồng sức của nhân dân, Tổng khởi nghĩa đã thành công. Sự thành công của Cách mạng Tháng Tám đã mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc ta: Kỷ nguyên của độc lập, tự do, hạnh phúc.Xuân Bính Tuất năm 1946 là mùa Xuân độc lập đầu tiên của dân tộc và cũng là lần đầu tiên cả nước ta được nghe Thơ chúc Tết của Bác Hồ vào giao thừa năm 1946. Mọi người vẫn còn nhớ lời Bác nhắn gửi các chiến sĩ lúc bấy giờ đang đánh thực dân Pháp xâm lược ở miền Nam:

Bao giờ kháng chiến thành công
Chúng ta cùng uống một chung rượu đào.

và chúc Tết toàn thể đồng bào:
Trong năm Bính Tuất mới
Muôn việc đều tiến tới
Kiến quốc mau thành công
Kháng chiến mau thắng lợi.
Việt Nam độc lập muôn năm.

Trong bài “Mừng báo Quốc gia”, nhân Tết độc lập đầu tiên, Người đã chúc:

“Tết này mới thật Tết dân ta
Mấy chữ chào mừng báo Quốc gia
Độc lập đầy vơi ba cốc rượu
Tự do vàng đỏ một rừng hoa.
Muôn nhà chào đón Xuân dân chủ,
Cả nước vui chung phúc cộng hòa”.

Lời chúc của Bác thật đơn sơ, mộc mạc nhưng thấm đẫm nghĩa tình với triết lý “Tết này mới thật Tết dân ta”, chỉ một câu này thôi đã đủ cho ta thấy được ý nghĩa lớn lao của cái Tết độc lập đầu tiên của dân tộc. Vì từ xưa đến nay  nhân dân ta chưa bao giờ được làm chủ mình, mà trước thì phải nghe lời vua quan, sau thì phải nghe lời thực dân cướp nước, luôn phải sống cuộc sống một cổ hai tròng. Chỉ từ khi Cách mạng Tháng Tám thành công, dân ta mới biết thế nào là tự do, bình đẳng, bác ái.

Sau mùa Xuân độc lập đầu tiên của dân tộc, mùa Xuân Bính Tuất năm 1946, cả dân tộc ta bước vào cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.Trong giai đoạn trường kỳ kháng chiến này vào mỗi độ Xuân về Bác vẫn luôn làm thơ chúc Tết đồng bào cả nước. Những vần thơ chúc Tết, chào đón mùa Xuân của Bác luôn gieo vào lòng mọi người niềm tin thắng lợi của ngày mai. Đó cũng là biểu hiện của tinh thần lạc quan cách mạng của người cộng sản. Khi cách mạng gặp khó khăn hay khi gần thắng lợi, Bác luôn thể hiện một niềm tin mãnh liệt vào tương lai. Vào những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, Bác đã nói:

Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi
Thống nhất độc lập nhất định thành công.

Chiến dịch Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” cũng bắt đầu từ những ngày đầu mùa Xuân năm 1954. Với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã mở đầu cho sự sụp đổ hoàn toàn của hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân trên phạm vi toàn thế giới, chấm dứt gần một trăm năm đô hộ của thực dân Pháp trên đất nước ta. Miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương lớn cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước lâu dài và vô cùng gian khổ, dân tộc ta đã có biết bao chiến công hiển hách được ghi dấu ấn lịch sử  từ những mùa Xuân. Mở đầu cho những chiến công to lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đó là khởi nghĩa Đồng khởi của quân và dân Bến Tre vào mùa Xuân năm 1960, tạo một bước phát triển mới quan trọng của cách mạng miền Nam. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 tạo tiếng vang lớn làm đau đầu cả Lầu Năm Góc, báo hiệu sự sụp đổ không thể nào tránh khỏi của quân xâm lược Mỹ và bè lũ tay sai.

Vào giao thừa Mậu Thân chuyển sang Kỷ Dậu (2 năm 1969), đồng bào và chiến sĩ cả nước quây quần bên nhau chăm chú lắng nghe bài thơ chúc Tết của Bác Hồ truyền qua làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam:

Năm qua, thắng lợi vẻ vang,
Năm nay, tiền tuyến chắc càng thắng to !
Vì độc lập, vì tự do,
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.
Tiến lên ! chiến sĩ, đồng bào,
Bắc Nam sum họp, Xuân nào vui hơn !

Đây cũng là lần cuối cùng đồng bào cả nước được nghe thơ của Bác, lời của Người thể hiện một ý chí sắt thép, một nghị lực phi thường. Lời thơ Xuân như hịch truyền cổ vũ cuộc đấu tranh cách mạng ngoan cường mà Hồ Chí Minh là ngọn cờ, là hồn thiêng sông núi.

Từ đó, hằng năm đến giao thừa, ta không còn có cái hạnh phúc được nghe giọng ấm cúng của Bác đọc thơ Xuân mới nữa, nhưng âm vang hào hùng và sâu lắng trong những bài thơ Xuân của Bác vẫn còn rung động lòng ta mãnh liệt. Theo những lời thơ chúc Tết của Bác và cũng là những mệnh lệnh, sự tiên đoán thần kỳ, để rồi cuộc tiến công chiến lược mùa Xuân năm 1972, đặc biệt là chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” cuối năm đó đã làm sụp đổ hoàn toàn uy lực của không lực Hoa Kỳ, buộc chúng phải ký Hiệp định Pa-ri rút quân về nước ngày 27/1/1973. Và cuối cùng là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc vẻ vang ba mươi năm chiến tranh giải phóng giành độc lập, thống nhất Tổ quốc, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng trong mùa Xuân năm 1975 như một điểm hẹn lịch sử, là sự kết tinh của đường lối cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn, theo tư tưởng Hồ Chí Minh “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Đã trải qua 83 năm, qua nhiều thăng trầm của lịch sử nhưng mỗi năm Tết đến, Xuân về, toàn dân tộc ta vẫn rộn ràng niềm vui, niềm tự hào: “Mừng Đảng, mừng Xuân” và mỗi mùa Xuân mới mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi người dân của dân tộc Việt Nam anh hùng luôn nguyện sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại, phấn đấu thực hiện thành công mục tiêu “ dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, hiên ngang sánh vai với các cường quốc năm châu như mong ước của Người

Kim Yến
bqllang.gov.vn

Đọc thơ Bác Hồ mừng Tết Quý Tỵ 60 năm trước

Bác Hồ chúc TếtQuân và dân ta vừa trải qua bảy năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, liên tiếp giành thắng lợi trên khắp các chiến trường, mà gần nhất là chiến thắng Tây Bắc Thu – Đông năm 1952 giải phóng hoàn toàn một vùng rộng lớn, nối liền nước ta với nước bạn Lào. Còn ở hậu phương, chính sách giảm tô, cải cách ruộng đất vừa được Chính phủ ban hành như luồng gió mới làm nức lòng hàng triệu nông dân. Trong bối cảnh ấy, thơ chúc Tết Quý Tỵ 1953 của Bác Hồ cũng hào sảng, phấn chấn và giục giã lòng người hơn năm trước.

Ngay từ câu mở đầu, Bác Hồ như không nén được niềm vui, muốn nói to lên, nhấn mạnh thêm cho mọi người cùng reo mừng một năm cũ vừa qua, năm mới đã tới, nông dân được phát động đứng lên giành ruộng đất về tay mình, biến ước mơ ngàn đời “người cày có ruộng” thành hiện thực, nên cả hậu phương đều tưng bừng phấn khởi; còn tiền tuyến thì toàn quân đang thi đua giết giặc lập công. Như một điệp khúc náo nức niềm vui, liên tiếp năm câu ở đoạn mở đầu bài thơ được bắt đầu bằng từ “mừng”. Quả là năm Nhâm Thìn 1952 qua, năm Quý Tỵ 1953 tới với nhiều niềm vui mừng khôn xiết.

Sau niềm vui lớn là những nhiệm vụ cụ thể của năm mới tới. Khác thơ chúc Tết mừng Xuân của Bác Hồ hai năm Tân Mão 1951, Nhâm Thìn 1952, thường được mở đầu bằng việc điểm lại năm cũ: “Xuân này kháng chiến đã năm Xuân” (1951), hoặc “Kháng chiến vừa sáu năm/ Trường kỳ và gian khổ” (1952), “Thơ mừng Tết Quý Tỵ 1953” của Bác Hồ đi thẳng vào nhiệm vụ lớn của đồng bào, chiến sỹ cả nước. Đó là, ở hậu phương cuộc phát động nông dân đứng lên làm giảm tô, cải cách ruộng đất thắng lợi, tạo ra động lực cách mạng và niềm phấn khởi của hàng triệu nông dân: “Mừng phát động nông dân/ Mừng hậu phương phấn khởi”. Chính cuộc phát động giảm tô, cải cách ruộng đất cũng tiếp thêm sức mạnh cho con em nông dân đang cầm súng chiến đấu ngoài tiền tuyến: “Mừng tiền tuyến toàn quân/ Thi đua chiến thắng mới”. Thơ mừng Tết của Bác Hồ đã nêu bật mối quan hệ máu thịt giữa tiền tuyến-hậu phương trong cuộc chiến tranh nhân dân thần thánh của dân tộc ta.

Để mối quan hệ ấy thực sự tạo sức mạnh vĩ đại, đưa kháng chiến đến thành công, Bác Hồ một lần nữa nhấn mạnh đến sự đoàn kết: “Mừng toàn dân đoàn kết”. Đoàn kết là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tư tưởng của Bác Hồ. Mỗi độ Xuân về Tết đến theo truyền thống mọi người có dịp sum họp, thì lại càng cần nhắc nhau giữ gìn sự đoàn kết, cội nguồn sức mạnh. Có lẽ vì thế, thơ chúc Tết mừng xuân của Bác Hồ từ bài đầu tiên (năm 1942) đến năm Quý Tỵ 1953, hầu như bài nào cũng nói tới đoàn kết. Chúng ta nhớ lại, năm 1942 cách mạng còn trong trứng nước, tập hợp quần chúng là nhiệm vụ hàng đầu của Mặt trận Việt Minh, thơ “Mừng xuân 1942” của Bác Hồ đã viết: “Chúc đồng bào ta đoàn kết mau”, đến thơ “Chúc năm mới Đinh Hợi 1947”, Tết đầu tiên của cuộc trường kỳ kháng chiến chín năm chống Pháp thì trong thơ, Bác Hồ lại khẳng định: “Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng”. Sang năm 1948, thơ chúc Tết Mậu Tý của Bác Hồ lại một lần nữa thể hiện sức mạnh đoàn kết không gì lay chuyển được: “Toàn dân đại đoàn kết/ Cả nước dốc một lòng”. Đoàn kết được Bác Hồ nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong thơ chúc Tết mừng Xuân như những điều tốt lành cầu chúc cho nhau mỗi dịp Xuân về Tết đến. Đọc thơ chúc Tết mừng Xuân của Bác Hồ chúng ta càng thấy tấm lòng trời biển của Người chăm lo cho sự đoàn kết toàn dân tộc.

Sau bảy năm trường kỳ kháng chiến, mùa Xuân Quý Tỵ 1953 đến với quân dân ta quả là một mùa Xuân vui. Niềm vui ấy như thấy hiện nên ngay từng câu thơ trong bài “Mừng Tết Quý Tỵ 1953” của Bác Hồ. Bài thơ có 12 câu được viết theo lối tự do, khoáng đạt mà có tới 10 câu được bắt đầu bằng chữ “mừng”. Đúng là niềm vui không thể kìm nén, nên giọng thơ hào sảng, dạt dào cảm xúc.

“Thơ mừng Tết Quý Tỵ 1953” Bác Hồ viết 60 năm về trước, nhưng mùa Xuân Qúy Tỵ này đọc lại vẫn mới, vẫn hợp vô cùng với những lời chúc đầu năm. Chẳng hạn hai câu: “Mừng năm mới, nhiệm vụ mới /Lực lượng mới, thành công mới” thì ngày nay mọi người vẫn chúc nhau như vậy để đón năm mới với bao vui mừng và niềm tin vào tương lại phía trước.

HỒ CHÍ MINH

Thơ mừng Tết Quý Tỵ

Mừng năm Thìn vừa qua,

Mừng Xuân Tỵ đã tới.

Mừng phát động nông dân,

Mừng hậu phương phấn khởi.

Mừng tiền tuyến toàn quân,

Thi đua chiến thắng mới.

Mừng toàn dân đoàn kết,

Mừng kháng chiến thắng lợi.

Mừng năm mới, nhiệm vụ mới,

Lực lượng mới, thành công mới.

Mừng toàn thể chiến sĩ và đồng bào,

Mừng phe dân chủ, hòa bình thế giới.

                                              Xuân Quý Tỵ 1953
Theo Báo Hải Dương online

Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Mùa Xuân này Bác về với Tây Nguyên

Gia Lai, những ngày đầu Xuân, trời trong veo. Và nắng, vàng tươi, rực rỡ. Và gió, sao bỗng dịu dàng, thơm mùi cơm mới. Vào bất cứ thời điểm nào trong ngày, nếu có dịp ngang qua Quảng trường Đại Đoàn Kết (TP. Pleiku), lòng tôi cũng lại ngân lên những câu thơ đắm lòng trong trường ca “Theo chân Bác” của nhà thơ Tố Hữu: “Ta hiểu. Miền Nam thương nhớ Bác/ Nóng lòng mong đợi Bác vào thăm/ Ta hiểu. Đêm nằm nghe gió gác/ Bác thường trăn trở, nhớ miền Nam!”. Vậy là, kể từ mùa Xuân Quý Tỵ này, Bác đã về với Tây Nguyên.

Từ nay, công trình Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên sẽ là nơi để đồng bào các dân tộc Tây Nguyên thể hiện lòng tôn kính đối với Bác Hồ; là nơi để chúng ta dâng hoa, báo công với Người và tự sửa mình khi làm những điều chưa tốt, có hại đối với đất nước, đối với nhân dân. Đặc biệt, đây còn là nơi có ý nghĩa giáo dục truyền thống cách mạng đối với các thế hệ, nhất là thế hệ trẻ”- Bí thư Tỉnh ủy Hà Sơn Nhin khẳng định.

2
Lễ khánh thành Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên. Ảnh: Đức Thụy

Thỏa niềm mong ước

Một lòng sắt son theo Đảng, theo Bác Hồ suốt từ những năm tháng đói cơm lạt muối trong 2 cuộc kháng chiến chống ngoại xâm cho đến công cuộc dựng xây và phát triển đất nước, lòng người Tây Nguyên lúc nào cũng khôn nguôi nhớ Bác. Bởi, người Tây Nguyên hiểu rằng, chính Bác Hồ là người yêu quý đồng bào, người luôn khẳng định, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên là anh em ruột thịt, không thể tách rời trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Từ ngày Bác đi xa, đã có biết bao người con của núi rừng Tây Nguyên hành hương về nơi Bác ở, mà thưa với Bác rằng: Chúng con khắc ghi và làm theo lời Bác dặn, đoàn kết cùng nhau bảo vệ và xây dựng quê hương; để lại bày tỏ nguyện vọng thiết tha mong được đón Bác về ở mãi với đồng bào Tây Nguyên. Nay thì nguyện vọng ấy đã trở thành hiện thực, khi ngày ngày, đã có biết bao người dân đến với Quảng trường Đại Đoàn Kết lộng gió – đến để ngước nhìn lên tượng Bác, để chiêm ngắm khuôn mặt sáng ngời của cụ già rất phương Đông, quần áo ka-ki, dép cao su, giản dị gần gũi mọi người và đặc biệt là để thấy Bác Hồ cười trong niềm vui mãi mãi. Giữa đất trời Tây Nguyên, Người đứng đó, cao sang mà gần gũi, vĩ đại mà giản dị, như chính cuộc đời của một vị lãnh tụ suốt đời vì nước vì dân.

Còn nhớ, tại lễ khánh thành Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên, bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã làm xúc động biết bao trái tim – những người dự lễ và xem trực tiếp trên sóng của Đài Truyền hình Việt Nam. Sau khi ôn lại tình cảm đau đáu của Bác Hồ với Tây Nguyên, tình cảm thủy chung, son sắt của đồng bào Tây Nguyên với Bác, Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Được biết, hiện nay ở Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Gia Lai và Kon Tum, vẫn đang lưu giữ một tượng Bác bằng đồng, cao 12,5 cm, do đồng bào Jrai đúc thủ công từ những năm đầu của thập niên 60 thế kỷ trước, trong những năm Mỹ – Diệm lê máy chém khắp miền Nam, hòng tiêu diệt những người cách mạng, những chiến sĩ cộng sản.

Bức tượng đã được truyền tay từ người ngã xuống cho thế hệ sau với lời dặn: “Đây là tượng Bác Hồ, các đồng chí hãy giữ lấy làm cách mạng, dù có phải hy sinh cũng quyết giữ gìn”. Cảm động biết bao tình dân với Bác, tình người Tây Nguyên một lòng son sắt với Bác. Và chính đó cũng là một nguồn sức mạnh để đồng bào Tây Nguyên cùng cả nước hoàn thành sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước và ngày nay đang tiến hành công cuộc đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần làm cho Tây Nguyên chúng ta ngày càng phát triển, trở nên trù phú, đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện…”.

Lời của Tổng Bí thư khiến tôi nhớ đến câu chuyện của ông Siu Yú ở làng Jít Jẻ, xã Ia Lang, huyện Đức Cơ một trong những người cùng các đảng viên và nhân dân trong xã cất giữ tượng Bác Hồ ngày ấy. Trong suốt câu chuyện với chúng tôi, chốc chốc ông Yú lại nghẹn lời, vì xúc động. “Chúng tôi đúc tượng là để tỏ lòng kính yêu với Bác, để ngày ngày anh em đồng chí đồng đội được gần Bác, kể cho Bác nghe câu chuyện chiến đấu đánh Mỹ của đồng bào Tây Nguyên – ông Yú xúc động nói – Ngày ấy, chính sự “có mặt” hàng ngày này của Bác đã giúp quân và dân Tây Nguyên kiên cường đánh Mỹ, là sự động viên khích lệ tinh thần to lớn để chúng tôi vượt qua mọi khó khăn gian khổ, góp sức cho thắng lợi chung”. Và hôm nay, Tượng đài Bác Hồ hiển hiện tại Quảng trường Đại Đoàn Kết, với Siu Ýu là cả niềm vui và tự hào, ông mừng rỡ thốt lên: “Mừng lắm, mừng lắm”, bởi với ông người từ khi còn trai trẻ, đã từng ấp ủ cất giấu tượng Bác nơi trái tim mình.

Muôn triệu tấm lòng hướng về Bác kính yêu

“Công trình Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên mang ý nghĩa sâu sắc về chính trị, tư tưởng, lịch sử và văn hóa, là món quà của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam dành cho Tây Nguyên, thể hiện tấm lòng của Đảng, Bác Hồ đối với Tây Nguyên và tấm lòng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đối với Đảng và Bác Hồ kính yêu (…). Vinh dự, tự hào với công trình văn hóa đầy ý nghĩa này, Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các dân tộc tỉnh Gia Lai trân trọng coi đây là báu vật của tỉnh và xin hứa với Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam sẽ nâng niu, gìn giữ, phát huy hết giá trị, ý nghĩa của công trình…” – Lời phát biểu của Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Thế Dũng tại lễ khánh thành Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên, ngày 9-12-2012.

Sâu lắng và thiết tha, kể từ khi phát lệnh khởi công xây dựng, đến khi hoàn thành Tượng đài Bác Hồ, không chỉ có cán bộ, đảng viên, quân và dân các dân tộc tỉnh Gia Lai, các nhà khoa học, các nghệ sĩ, họa sĩ, nhà điêu khắc và cán bộ, công nhân viên của các đơn vị thi công… dành nhiều tâm huyết, tình cảm chân thành đón đợi, mà các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước cũng luôn dành nhiều tâm huyết, đặc biệt quan tâm công trình “Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên”.

Thật cảm động và trân trọng biết bao, ngày khởi công công trình tượng Bác, có Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đến dự phát lệnh khởi công, ngày khánh thành được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về chung vui. Nhớ lại, trong suốt thời gian gần 2 năm thi công công trình, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang; Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đến thăm, cùng với Hội đồng Nghệ thuật kiểm tra công trình thi công mẫu “Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên” tại Hà Nội. Cũng trong thời gian ấy, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng còn có các chuyến đi về với đảng bộ, quân và dân các dân tộc Gia Lai. Lần nào cũng vậy, ngoài công việc chung, các đồng chí cũng dành thời gian đến kiểm tra tiến độ thi công, góp ý từng chi tiết tại công trình xây dựng Tượng đài Bác ở Quảng trường Đại Đoàn Kết, TP. Pleiku.

…Bây giờ, mỗi khi thấy các thanh, thiếu nhi ngày ngày quây quần bên tượng Bác, thấy khách xa gần về thăm và chụp ảnh lưu niệm bên tượng Bác Hồ, thăm Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Gia Lai và Kon Tum; bên thạch thư của Bác gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam họp tại Pleiku, ngày 19-4-1946. Hay bên tháp đá bazan với 54 cột đá tự nhiên, được hun đúc của tạo hóa hàng triệu triệu năm trên mảnh đất Tây Nguyên này, tượng trưng cho tinh thần đại đoàn kết của 54 dân tộc anh em… chính tại Quảng trường Đại Đoàn Kết, mà lòng ta thấy xốn xang, tự hào. Mới đây, nhà báo Bùi Đức Thịnh-Phó Tổng Biên tập Báo Đak Nông đã dẫn đoàn cán bộ, phóng viên đến TP. Pleiku, việc đầu tiên của Đoàn là đến thăm tượng Bác, anh xúc động: “Đứng bên tượng Bác, ta thấy Bác thật gần gũi, thấy lòng mình ấm áp lạ thường”, rồi anh khoe rằng mình có cả bộ sưu tập ảnh của mình bên tượng Bác, xem đây là kỷ vật về Bác Hồ của cuộc đời mình.

Theo Quốc Ninh/ Báo Gia Lai
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Mùa xuân, suy nghĩ về minh triết Hồ Chí Minh

Lời của Bác - Lời của non sông(NTO) Hồ Chí Minh là danh nhân văn hóa thế giới. Người đi xa, nhưng để lại cho dân tộc ta một kho tàng tư tưởng đồ sộ – tư tưởng Hồ Chí Minh. Gần đây, giới học thuật đã không dừng lại ở việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh mà đã xuất hiện những công trình nghiên cứu mới về “Minh triết Hồ Chí Minh”.

Minh triết, hiểu một cách chung nhất là sự sáng láng, mẫn tiệp, thông tuệ của trí tuệ mang tính cách phương Đông. Đó là những tư tưởng thuộc về nhân sinh, đạo lý, đi vào lối sống, là những đúc kết thành châm ngôn, gắn với đời sống, rất gần với thực tiễn và nó trở thành những chỉ dẫn về lối sống cho con người.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi của Bác, có thể kể ra hàng ngàn những câu chuyện về tấm gương đạo đức của Bác, mà đó có thể coi là những minh triết- minh triết Hồ Chí Minh.

Chuyện kể rằng tấm áo Bác mặc đã cũ, sờn. Các đồng chí giúp việc thương Bác quá, cứ năn nỉ đề nghị Bác thay bộ quần áo mới. Bác bảo không sao cả, Bác mặc được, cứ để Bác mặc, đỡ tốn kém. Mỗi đồng tiền, bát gạo mà chúng ta tiêu dùng đều là mồ hôi nước mắt của dân. Thương dân thì phải tiết kiệm. Lãng phí là không thương dân. Tham ô, ăn cắp của dân là có tội với dân, với cách mạng. Bác nói với các đồng chí phục vụ và ngay cả trong các phiên họp Trung ương là “Chủ tịch nước mà biết mặc áo vá là có phúc cho dân”. Đó chính là một tư tưởng minh triết. Trong điều kiện đất nước Việt Nam vừa giành được độc lập, vừa thoát khỏi trăm năm đô hộ của thực dân phong kiến, lại trải qua chín năm kháng chiến trường kỳ để bảo vệ nền độc lập, tự do vừa giành được, đời sống nhân dân còn gặp muôn vàn khó khăn, vất vả thì quan điểm, tư tưởng đó của Bác thật là thiết thực, gần gũi đời thường mà mấy người có được.

Khi bàn về chân lý, chúng ta đều hiểu một cách chung nhất chân lý là tri thức lý luận phục vụ cho việc nghiên cứu, tri thức phù hợp với khách quan. Nhưng Bác nói chân lý là cái gì tốt cho nhân dân, cái gì lợi cho nhân dân và cái gì đúng với nhân dân thì cái đó là chân lý. Đó cũng là một tư tưởng minh triết. Bác cũng nói là người có đạo đức thì tiếp thu chân lý dễ hơn. Như vậy, Bác đã soi vào chân lý từ góc độ đạo đức học. Luận điểm này của Bác rất sâu sắc, thâm thúy, tức là người có đạo đức thì dễ phục thiện hơn, dễ thừa nhận sự thật hơn, dễ thừa nhận đạo lý hơn. Và do vậy, trong khoa học có cả đạo đức. Đó là bệ đỡ tinh thần cho con người trong cuộc hành trình đi tìm chân lý.

Một chuyện nữa về Bác cũng rất đời thường. Có lần Bác mời một đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đi tát nước với Bác. Ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ, khi lấy nước vào các chân ruộng cao phải tát nước bằng gàu dai. Khi tát nước phải có hai người phối hợp nhịp nhàng mới tát nước được. Vào tát nước với Bác, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy cứ lúng túng không tát được làm nước bắn tung tóe lên cả râu, lên cả áo Bác, vì cả đời có tát nước bao giờ đâu. Trong khi đó Bác tát nước thành thạo như một lão nông tri điền. Bác hỏi chú chưa tát nước bao giờ à? Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy thưa với Bác là chưa ạ!. Bác bảo không sao cả, Bác sẽ huấn luyện cho chú biết tát nước. Sau đó Bác nói một câu là một minh triết: “Chú làm Bí thư một tỉnh nông nghiệp thì chú phải biết tát nước”. Tức là làm bí thư tỉnh ủy thì phải gắn với nhân dân, phải thấu hiểu cách nghĩ của nhân dân và sống trong cuộc sống của nhân dân thì mới lãnh đạo nhân dân được. Suy rộng ra, khi làm bất kể một công việc gì cũng cần phải sâu sát, phải thấu hiểu công việc mình làm thì mới có thể thành công. Làm người cán bộ trong bộ máy công quyền là nhằm phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội thì cần phải hiểu nhân dân, hiểu xã hội. Trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ của người cán bộ thì người cán bộ cần phải hiểu chức trách, nhiệm vụ của mình, và thực hiện chức trách, nhiệm vụ đó phải phù hợp với điều kiện cuộc sống, tránh quan liêu bàn giấy, tránh lý luận suông mù quáng.

Chính những quan điểm, tư tưởng của Bác rất đời thường, rất dung dị và hòa với cách nghĩ, lối sống của nhân dân nhưng lại bao hàm những tư tưởng nhân sinh rộng lớn, là những tư tưởng minh triết nên ai cũng có thể hiểu Bác, ai cũng có thể học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác được, miễn là người đó có tâm, miễn là người đó quyết tâm học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác để cho “…đời ta trong sáng hơn”.

Thiết nghĩ, mỗi cán bộ, đảng viên thường xuyên học tập, rèn luyện và mỗi tổ chức cơ sở Đảng, mỗi cơ quan, đơn vị phải tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh do Đảng ta phát động, tạo thêm động lực mạnh mẽ, có sức lan tỏa rộng lớn, góp phần quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” ở nước ta trong điều kiện hiện nay.

Trương Tiến Hưng
Phó Giám đốc Sở Tư pháp
laodong.com.vn