Tag Archive | Hồ Chí Minh

Lời dạy của Bác Hồ với sinh viên

Chân dung BácTrong cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc chăm lo đào tạo, giáo dục, bồi dưỡng con người. Bác coi con người là nhân tố hàng đầu, nhân tố quyết định mọi thành công.

Nghĩ về lời dạy của Bác Hồ với sinh viên

Mấy ngày qua, được xem những thước phim, được đọc nhiều bài viết, được nghe nhiều ca khúc về Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi chợt nhớ đến câu thơ của nhà thơ Tố Hữu: “Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn” và cũng chợt nghĩ về sinh viên, về quãng thời gian đã qua và sắp tới. Viết đôi điều suy nghĩ chia sẻ với mọi người.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc chăm lo đào tạo, giáo dục, bồi dưỡng con người. Bác coi con người là nhân tố hàng đầu, nhân tố quyết định mọi thành công. Khái niệm và tiêu chí về con người mới, con người xã hội chủ nghĩa được Bác đặt ra và ngày một được bổ sung, hoàn thiện trong xã hội. Tại buổi nói chuyện với cán bộ, sinh viên đang công tác và học tập ở Matxcơva ngày 1 tháng 2 năm 1959, nhân Bác sang dự Đại hội lần thứ XXI Đảng Cộng sản Liên Xô, Bác khẳng định: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, phải xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, con người cộng sản chủ nghĩa”.

Trong xây dựng con người xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bác quan tâm đến việc chăm lo đào tạo, giáo dục và bồi dưỡng thanh niên, trong đó có lớp thanh niên trí thức – những thanh niên sinh viên đang được đào tạo từ các trường đại học, cao đẳng. Bác đã nhiều lần nói chuyện trực tiếp với sinh viên đang học tập trong nước, ở nước ngoài và sinh viên các nước đến dự hội nghị chuyên đề sinh viên quốc tế tại Việt Nam.

Những bài nói, những huấn thị, liệt kê theo thời gian, chúng ta có được:

1, Bài nói tại buổi lễ khai mạc trường Đại học Nhân dân Việt Nam, ngày 19.1.1955.

2. Bài nói chuyện với anh chị em học viên, cán bộ, công nhân viên trường Đại học Nhân dân Việt Nam (khoá III), ngày 18.1.1958.

3. Bài nói tại Đại hội Sinh viên lần thứ hai, ngày 7.5.1958.

4. Bài nói tại lớp nghiên cứu chính trị trường Đại học Nhân dân Việt Nam, ngày 10.1.1959.

5. Bài nói chuyện với cán bộ, sinh viên Việt Nam tại Matxcơva, ngày 1.2.1959.

6. Thư gửi cán bộ giáo dục, học sinh, sinh viên các trường, các lớp bổ túc văn hoá, ngày 31.8.1960.

7. Bài nói tại Hội nghị chuyên đề sinh viên quốc tế tại Hà Nội, ngày 1.9.1961; và một số bài nói với thanh niên, học sinh, sinh viên…

Từ những bài nói, những huấn thị, thư gửi… chúng ta tìm hiểu Bác đã dạy thanh niên sinh viên những gì và thanh niên sinh viên thấm nhuần và phấn đấu thực hiện lời Bác dạy. Đó là:

1. Học và Hành: Đối với học sinh, sinh viên nhiệm vụ đầu tiên là học, học tốt và học giỏi, học để thành người hữu ích xây dựng xã hội, kiến thiết đất nước. Bác nói: “Nhiệm vụ chính của thanh niên là học”, đồng thời Bác đặt vấn đề rõ ràng để giúp thầy giáo và sinh viên nghiên cứu: “Phải hiểu rõ học thế nào” Học cái gì? Học để làm gì?”. Tại Đại hội sinh viên lần thứ hai, ngày 7.5.1958, một lần nữa Bác nhắc lại và nhấn mạnh: “Đối với thanh niên trí thức như các cháu ở đây thì cần đặt hai câu hỏi: Học để làm gì? Học để phục vụ ai? Đó là hai câu hỏi cần phải trả lời dứt khoát thì mới có phương hướng”. Bác chỉ rõ: “Dưới chế độ thực dân, phong kiến, mục đích đi học là cốt được mảnh bằng để làm ông thông, ông phán, lĩnh lương nhiều, ăn ngon, mặc đẹp. Thế thôi. Số phận dân tộc thế nào, tình hình thế giới biến đổi thế nào, không hay, không biết gì hết. Mục đích giáo dục nô lệ hầu hạ chúng. Ngày nay ta đã được độc lập, tự do, thanh niên mới thật là người chủ tương lai của nước nhà. Muốn xứng đáng vai trò là người chủ thì phải học tập. Học bây giờ với học dưới chế độ thực dân, phong kiến khác nhau”, “Học tập nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật và quân sự” và “Học để phụng dự ai? Để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân giàu, nước mạnh, tức là để làm tròn nhiệm vụ người chủ của nước nhà”. Bác còn nói: “Làm nghề gì cũng phải học” và mục đích của việc học là để “nâng cao năng lực làm cho kinh tế phát triển, chiến đấu thắng lợi, đời sống nhân dân càng no ấm, vui tươi”. Làm theo lời Bác dạy, đại bộ phận thanh niên sinh viên đang ra sức học tập, tích luỹ, nắm vững kiến thức cơ bản, kiến thức chuyên môn để thực sự có trình độ chuẩn bị, tự tin vào đời, lập nghiệp nhanh chóng đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi ngày càng cao của xã hội. Bác cũng căn dặn, nhắc nhở thanh niên, nhất là những đoàn viên TNCS Hồ Chí Minh cần ghi nhớ lời di huấn của Lênin: “Không học thì không thể trở thành người cộng sản”, “người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra”. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn một bộ phận không nhỏ thanh niên sinh viên chưa chăm chỉ học tập, còn hiện tượng chạy điểm, chạy bằng; một số thanh niên sinh viên mắc vào tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật. Thực trạng ấy đòi hỏi Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Hội Sinh viên Việt Nam cần tăng cường định hướng giá trị, giáo dục và đồng hành với thanh niên trên con đường học tập và luyện rèn.

Bác dạy học phải đi đôi với hành. Bác chỉ rõ tầm quan trọng của thực hành. Hành cũng chính là một nửa của học. Bác nói: “Chỉ biết lý luận (lý thuyết) mà không biết thực hành thì cũng là trí thức có một nửa. Vì vậy cho nên các cháu trong lúc học về lý luận thì cũng phải kết hợp với thực hành”, “lý luận phải gắn liền với thực tế”. Bác cũng đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết để xây dựng chủ nghĩa xã hội: “Cần có lao động, lao động trí óc và lao động chân tay. Và cần lao động trí óc kiêm lao động chân tay, nghĩa là lao động chân tay cũng phải có văn hoá, mà người lao động trí óc cũng phải làm được lao động chân tay. Nếu lao động trí óc không làm được lao động chân tay và lao động chân tay không có trí óc thì đó là người lao động bán thân bất toại…”. Bác nhắc nhở các nhà trường “không nên đào tạo ra những con người thuộc sách làu làu…”. Chúng ta rất vui mừng trước những thành công của các đội Robocon của các trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Bách Khoa Đà Nẵng, Đại học Kỹ thuật Quân sự, Đại học Công nghiệp Hà Nội… đã đạt được các giải thưởng trong nước và khu vực, chứng tỏ những sinh viên này đã đạt được trình độ cả lý thuyết và thực hành, lý thuyết và lao động sản xuất… Nhưng hiện tại, nhiều trường, trong đào tạo và nhiều sinh viên chưa kết hợp nhuần nhuyễn được giữa học và hành, lý thuyết và lao động sản xuất.

2. Đức và Tài: Tại Đại hội Sinh viên lần thứ hai, ngày 7.5.1958, Bác nhấn mạnh hai phẩm chất hàng đầu của học sinh, sinh viên phải rèn luyện trong nhà trường là đức và tài. Sau này Bác còn dùng khái niệm hồng và chuyênĐức và tài, hồng và chuyên phải đi đôi với nhau, song hành tồn tại cùng nhau trong một con người.

Về đức, ở đây như Bác nói là đạo đức, đạo lý làm người mà với thời đại chúng ta, Bác yêu cầu rèn luyện để có đạo đức cách mạng. Bác giải thích đạo đức cách mạng rất giản dị, cụ thể:“Đạo đức cách mạng không phải là những điều cao siêu, xa lạ mà đối với mỗi người bất kỳ ở cương vị nào, bất kỳ làm một việc gì đều không sợ khó, không sợ khổ, đều một lòng một dạ phục vụ lợi ích chung của giai cấp, của nhân dân, đều nhằm mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội”, “Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời rơi xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Bác coi “đạo đức là cái gốc của người cách mạng” và Bác chỉ rõ cách thức phấn đấu, rèn luyện đạo đức cách mạng: “Phải thấm nhuần đạo đức cách mạng, tức là học tập, lao động, sinh hoạt theo đúng đạo đức của thanh niên xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa”, “Để làm tròn trách nhiệm, thanh niên ta phải nâng cao tinh thần làm chủ tập thể, trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân, chớ phô trương hình thức, chớ kiêu ngạo tự mãn”. Sở dĩ Bác chỉ rõ cụ thể để mọi người hiểu thấu đáo nước ta xây dựng xã hội chủ nghĩa từ một nước nông nghiệp lạc hậu, nền sản xuất chủ yếu là thủ công phân tán cùng với chủ nghĩa cá nhân hẹp hòi là một lực cản lớn, hạn chế năng lực sáng tạo của tuổi trẻ. Bác coi trọng việc giáo dục thanh niên nói chung và thanh niên sinh viên nói riêng phải xoá bỏ chủ nghĩa cá nhân, xây dựng tinh thần làm chủ. Đương nhiên xóa bỏ chủ nghĩa cá nhân không có nghĩa là xóa bỏ lợi ích cá nhân chính đáng mà là sự hài hoà giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, lợi ích xã hội. Phấn đấu làm việc ích nước lợi nhà. Bác nói: “Muốn sửa chữa chủ nghĩa cá nhân thì phải làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, mà phải nghĩ đến đồng bào, đến toàn dân đã. Ta có câu nói: “khó nhọc thì mình nên đi trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”; làm việc gì mình cũng nghĩ đến lợi ích chung trước và lợi ích riêng sau. Đối với thanh niên trí thức như các cháu ở đây thì cần đặt lại câu hỏi: Học để làm gì? Học để phục vụ ai? Đó là hai câu hỏi cần phải trả lời dứt khoát thì mới có phương hướng sửa chữa khuyết điểm của mình”.

Về Tài, tức là năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ được tích luỹ và phát huy tác dụng, đóng góp thiết thực, làm lợi ích cho xã hội, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển. Bác mong muốn thanh niên sinh viên học tập, rèn luyện để thực sự có tài. Bác mong muốn xã hội có nhiều người tài và người tài đem hết tài năng, tâm huyết phục vụ xã hội.

Bác yêu cầu thanh niên sinh viên phải có đức, có tài nhưng Bác đặt đức trước tàihồng trước chuyên. Bởi vì theo Bác, đạo đức cách mạng là cái gốc, cái nền. Bác nói: “có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông bụt không làm hại gì nhưng cũng không lợi gì cho loài người.

3. Lý tưởng và Tình yêu:Giáo dục, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ Việt Namnói chung và cho thanh niên sinh viên nói riêng là một trong những vấn đề được Bác Hồ đặc biệt quan tâm. Bác ân cần khuyên nhủ: “Chúng ta không một chút nào được quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, cho chủ nghĩa xã hội hoàn toàn thắng lợi trên đất nước ta”. Lý tưởng cách mạng đối với tuổi trẻ như ánh sáng mặt trời với sự sống, là sự gắn bó hữu cơ, là sự tự nguyện, tự giác, là sự đòi hỏi tự thân, nó thường trực, hướng tới: “Không một chút nào được quên”. Theo Bác, để thanh niên sinh viên có lý tưởng cách mạng, trước nhất phải giáo dục nhận thức để giác ngộ lý tưởng. Thanh niên sinh viên là nhân vật trung tâm của nhà trường, hoạt động chính của thanh niên sinh viên là học tập. Vì thế giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên sinh viên trước hết là thông qua hoạt động học tập nhằm giúp cho họ tự trả lời câu hỏi: Học để làm gì? Học để phụng sự ai? Đương nhiên lý tưởng sống của thanh niên sinh viên không chỉ dừng lại ở nhận thức, ý thức và quan niệm, mà phải được tôi rèn trong thực tiễn học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tế, phải thành hành động, thông qua hành động, và hiệu quả của hành động. Bác dạy: “Điều gì phải thì cố làm cho kỳ được, dù là việc nhỏ. Điều gì trái, thì hết sức tránh, dù là một điều trái nhỏ”. Học để làm người cách mạng, học để phụng sự nhân dân là như thế. Giác ngộ lý tưởng vì nước, vì dân, vì chủ nghĩa xã hội và thực hiện lý tưởng cao đẹp đó bằng tình cảm, trí tuệ, tài năng, ý chí và nhiệt tình của tuổi trẻ lấy phục vụ sự nghiệp cách mạng, phục vụ nhân dân là lẽ sống cao quý của mình, đó chính là giá trị nhân cách của tuổi trẻ, là mục tiêu phấn đấu trở thành người trí thức cách mạng của thanh niên sinh viên hiện nay.

Về tình yêu: Khái niệm tình yêu mà Bác dạy hàm nghĩa rộng, nhưng rất thiết thực và Bác giải thích rất kỹ càng, cụ thể khi Bác nói tại Đại hội sinh viên toàn quốc lần thứ hai: 1- Yêu Tổ quốc;  2-Yêu nhân dân;  3- Yêu chủ nghĩa xã hội; 4– Yêu lao động; 5– Yêu khoa học;  6- Yêu kỷ luật. Tại buổi lễ khai mạc trường Đại học Nhân dân Việt Nam, Bác huấn thị các học viên 7 điều phải và 6 điều chống: 1- Phải yêu Tổ quốc yêu nhân dân; 2- Phải có tinh thần dân tộc vững chắc và tinh thần quốc tế đúng đắn; 3- Phải yêu và trọng lao động; 4- Phải giữ gìn kỷ luật; 5- Phải bảo vệ của công; 6- Phải quan tâm đến đời sống của nhân dân; 7- Phải chủ ý đến tình hình thế giới.  6 điều chống là: 1- Chống tâm lý tự ti tư lợi, chỉ lo lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình; 2-Chống tâm lý ham sung sướng và tránh khó nhọc; 3- Chống thói xem khinh lao động; 4- Chống lười biếng, xa xỉ; 5- Chống sinh hoạt uỷ mị; 6- Chống kiêu ngạo, giả dối, khoe khoang. Bác nói rõ, xây đi liền với chống, yêu đi liền với ghét: “Vì chưng hay ghét cũng là hay thương”.

Di huấn của Bác Hồ cho thanh niên sinh viên Việt Nam cũng là di huấn cho thế hệ trẻ Việt Nam, đó là tình cảm, là tư tưởng, là lời dạy, là định hướng cho lớp người sẽ làm chủ tương lai của đất nước. Vậy điều đơn giản nhất có thể làm được của các bạn sinh viên hiện nay là gì? 5 tốt: đạo đức tốt – học tập tốt – thể lực tốt – kỹ năng tốt – hội nhập tốt sinh viên Việt Nam cần đạt được. Và đây chính là hành động cụ thể thực hiện di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nguyễn Thị Vân NgaTrường đại học thủy lợi
Vknyo (st)

Chiều ba mươi Tết bên cạnh Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc

Bác Hồ chúc TếtNăm đó, 1951, như thường lệ, vào mùa đông cơ quan Phủ Chủ tịch và Phủ Thủ tướng đóng ở Bản Vèn, thuộc tỉnh Bắc Cạn, từ Đầm Hồng đi vào khoảng vài chục cây số. Rồi đến màu hè, hai cơ quan lại dọn về ở Châu Tự do, hoặc huyện Định Hóa, ở bên núi Hồng, từ Quảng Nạp đi vào cũng hơn 10 cây số. Hôm ấy chiều cuối năm âm lịch, trời tạnh ráo, nhưng gió buốt, lại các lán của cơ quan ở dưới bóng những cây to nên cái rét càng thấm vào da thịt.

Chúng tôi, anh em ở phủ Thủ tướng đốt củi ngồi sưởi ấm, nướng mấy củ sắn ngồi nói chuyện, kể những kỷ niệm về Tết ở quê nhà cho đỡ buồn, cho đỡ nhớ gia đình. Bếp của chúng tôi là những khúc gỗ to chụm lại, lúc lửa đã bén, thì các đầu gỗ cứ thế mà cháy âm ỉ, có khi suốt đêm suốt ngày không tắt, mường tượng như những đầu than âm và dương trong một bóng điện khổng lồ phát ra sức nóng và ánh sáng. Khoảng nửa tiếng đồng hồ một, mới cần đẩy các cây đầu gỗ lại gần với nhua. Bên bếp lửa hồng cháy đượm như vậy anh em đỡ rét, và đỡ lạnh lẽo trong lòng. Mọi người thi nhau nói những kỷ niệm lý thú nhất về cái Tết ở quê nhà, về những cái Tết lúc còn nhỏ, về cái thú đốt pháo, về cái thú theo mẹ theo cha, theo bà đi chợ Tết…

Câu chuyện đang đượm như lửa ấm thì Bác Hồ đi tới. Chúng tôi đứng dậy để chào thì Bác giơ tay ra hiểu bảo ngồi xuống và Bác cũng ngồi xen vào giữa chúng tôi bên cạnh bếp lửa trại. Ghế của Bác ngồi là một khúc gỗ được cưa bằng. Bác hỏi chúng tôi đã nấu bánh chưng chưa, và chương trình Tết của chúng tôi như thế nào. Chúng tôi báo cáo với Bác những trò vui mà chúng tôi định tổ chức với nhau ba ngày Tết. Bác dặn ngay là phải đi thăm đồng bào trong bản, cùng đồng bào tổ chức vui chơi ngày Tết đánh còn, thi bán chim, thi bắt cá trong hang suối…

Bỗng nhiên có một anh đứng dậy mạnh dạn thưa với Bác: “Thưa Bác tha cho, cho con được hỏi Bác một câu?”. “Chú cứ hỏi, và chú cứ ngồi xuống nói chuyện”. “Thưa Bác, tại sao Bác không lập gia đình?”. Tất cả chúng tôi lặng im đi một phút, một phần vì sợ Bác mắng do câu hỏi đường đột của đồng chí chúng tôi, một phần vì thấy nét mặt của Bác cũng dường như trầm ngâm trước câu hỏi đó. “Người ta ai cũng muốn có gia đình (giọng Bác nói thong thả và dường như có hạ cung bậc). Bác cũng là người như các chú, Bác cũng muón có đời sống gia đình đầm ấm. Nhưng các chú xem, hoàn cảnh của đời Bác không cho phép Bác lập được gia đình, đó là điều thiệt thòi cho Bác, mà Bác đâu có muốn thế!”. Rồi Bác cười: “Bây giờ thì muộn quá rồi! Bây giờ, gia đình Bác là tất cả các cô các chú, là tất cả bà con, đồng bào. Không có gia đình riêng, thì Bác lấy gia đình chung làm cái vui của Bác, làm cái ấm áp của Bác!”.

Giọng Bác nói khẽ trầm ngâm, chúng tôi nghe có người ứa nước mắt. Thấy vậy, Bác lại khuấy động không khí vào bảo chúng tôi hát lên cho vui, và bảo bới củ sắn ra cho Bác ăn với. Chúng tôi hát những bài kháng chiến quen thuộc, còn sắn thì mải câu chuyện không ai lật trở cho đều, cho nên đã cháy thui gần hết. Tuy vật Bác cũng cầm một mẩu nhỏ cùng ăn và khen sắn cháy càng thơm.

Trong đời chúng tôi đã ăn bao nhiêu cái Tết vui, ấm, lúc trong gia đình khi xa quê hương, nhưng chưa bao giờ lại có được một buổi chiều cuối năm ấm lòng như chiều Tết ở bản Vèn bên cạnh Bác. Rồi chiều mùng 1 Tết chúng tôi đi đánh còn với đồng bào ở ngoài đám ruộng khô, trong một thung lũng khá rộng, đi chúc Tết đồng bào, đi lội suối bắt cá… Sống cái Tết gần như cổ sơ, mà ngày tháng, giờ gấc tính theo độ lên xuống của mặt trời trên núi, mà sớm hay khuya không cần nhìn đồng hồ, chỉ nghe độ gió buốt lọt vào chăn cũng biết. ai có ngờ lúc đó, chúng tôi là một cơ quan đầu não kháng chiến là phủ Thủ tướng của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Theo vanhien.vn
Vknyo (st)

Tình cảm của nhân dân miền Nam đối với Bác Hồ kính yêu

“Bác Hồ là vị cha chung
Là sao Bắc Đẩu là vầng Thái Dương”

Vâng! Bác Hồ của chúng ta yêu thương dân bằng tấm lòng của người cha, yêu đất nước bao la như lòng mẹ. Sinh thời Bác Hồ đã từng tâm sự: “Mình sinh ra ở xứ Nghệ An, ra đi tìm đường cứu nước từ bến cảng Nhà Rồng. Qua Pháp, qua Anh, qua Mỹ, các nước châu Phi, đến Liên Xô rồi về Trung Quốc, thế mà đến nay mới vào đến Đồng Hới, chưa được vào tới miền Nam. Đáp lại tình cảm thiêng liêng của Bác, mỗi chiến sỹ trước khi ra trận đều khắc sâu hình bóng của Bác nơi trái tim mình. Nhiều chiến sĩ nói: Mỗi lần nhận nhiệm vụ hay trước một trận đánh lớn, nhớ tới Bác Hồ là chúng tôi lại thấy như được tiếp thêm sức mạnh. Khi đấu tranh với kẻ thù, người chiến sỹ có trái tim, trái tim mang hình Bác thiêng liêng rực rỡ.

Bác Hồ với các cháu thiếu niên dũng sĩ miền Nam (1969).

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nghĩ đến đồng bào miền Nam. Người nói: “Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”. Người luôn mong muốn được vào thăm nhân dân miền Nam. Và khi phải nằm trên giường bệnh, Người vẫn thường hỏi “Hôm nay miền Nam thắng đâu?”.

Mặc dù cho đến lúc đi xa, Bác Hồ chưa kịp vào thăm đồng bào miền Nam, nhưng tình cảm của Bác dành cho đồng bào miền Nam còn mãi như câu nói của Người: “Miền Nam trong trái tim tôi”…

Vào năm 1954, gia đình bà Lê Thị Sảnh (thường gọi là mẹ Tư) ngụ tại Cà Mau- đại diện nhân dân miền Nam gửi tặng Bác Hồ” cây vú sữa, Bác đã xúc động đến ngấn lệ khi biết đây là cây vú sữa của đồng bào vùng tận cùng của Tổ quốc. Cũng từ đó, cây vú sữa đã trở thành biểu tượng tấm lòng Bác Hồ đối với miền Nam và của miền Nam đối với Bác…và hình ảnh hàng ngày Bác tưới cây vú sữa do chính những người con miền Nam gởi tặng đã làm xúc động hàng triệu trái tim đồng bào miền Nam. Cây vú sữa bên nhà sàn, vẫn xanh tươi, minh chứng cho tấm lòng thủy chung của nhân dân miền Nam đối với Bác Hồ kính yêu…

Được tin Bác qua đời, cả nước vô cùng tiếc thương. Dân Cà Mau ai ai cũng treo ảnh Bác Hồ ở nơi trang trọng nhất trong nhà. Có người còn lập bàn thờ ngay tại gia đình để tưởng nhớ Bác. Nhiều gia đình đã ba đời thờ cúng Bác, như gia đình ông Nguyễn Văn Tân ở ấp Phủ Thờ, xã Trí Lực…Bà con nơi đây luôn tâm niệm, đó niềm vinh dự lớn lao của họ khi được thờ một vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc. Vào các ngày lễ, ngày Tết, ngày sinh, ngày mất của Bác, bà con đều nấu mâm cơm, hoa, quả làm giỗ Bác theo tục thờ cúng tổ tiên. Bà Lê Thị Thanh Hải – nguyên PGĐ Bảo tàng HCM– Chi nhánh TPHCM, người đã từng nghiên cứu chuyên đề “ Bác Hồ với Miền Nam- Miền Nam với Bác Hồ”, kể lại:

Chưa từng được gặp Bác, chỉ nghe về Bác qua báo, đài, nhưng những người con của xã Lương Tâm, huyện Long Mỹ luôn dành cho Bác sự yêu quý và lòng tôn kính sâu sắc nhất. Sau khi hay tin Bác qua đời, những người con vùng đất Lương Tâm đã họa chân dung của Bác và lập Đền thờ Người. Trải qua bao năm tháng khó khăn và chiến tranh khốc liệt, nhưng Đền thờ Bác vẫn tồn tại, vững chãi. Khi mới lập, ngôi đền chỉ là cây lá tạm bợ. Với tấm lòng của mình đối với vị Cha già kính yêu, người dân Lương Tâm đã không ngừng góp sức tôn tạo, mở rộng khu đền. Bên cạnh đó, được sự đầu tư của chính quyền địa phương, đến nay, Đền thờ Bác Hồ đã được tôn tạo, hoàn chỉnh để người dân đến viếng Bác. Không chỉ vậy, nhiều hộ dân ở xã Lương Tâm còn rước ảnh Bác về nhà thờ. Tại ấp 3, xã Lương Tâm, nhà nào cũng thờ ảnh Bác rất trang nghiêm. Họ xem thờ Bác chính là thờ ông bà mình, thờ Bác để nhắc nhở, giáo dục các thành viên trong gia đình về truyền thống cách mạng của dân tộc ta và thờ Bác để học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác.

Ông Trần Thanh Triều, Phó Chủ tịch UBND xã Lương Tâm cho biết: “Tấm lòng của người dân nơi đây dành cho Bác là vô cùng lớn lao, ai cũng xem Bác như người cha của mình. Họ chưa từng được gặp Bác, nhưng lại rất yêu quý và tôn kính Bác, luôn có ý thức gìn giữ Đền thờ Bác và anh cho biết kế hoạch tổ chức lễ Giỗ của Bác:

Đã từ nhiều năm nay, cứ đúng vào dịp kỷ niệm Quốc khánh 2-9, nhân dân tỉnh Trà Vinh và đông đảo du khách từ mọi miền Tổ quốc lại về tham dự lễ tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đền thờ Bác Hồ ở xã Long Đức, Thành phố Trà Vinh. Khi nghe tin Bác mất, người dân Long Đức đã bàng hoàng và nguyện chung một lòng xây dựng đền thờ Bác Hồ ngay trên mảnh đất quê hương của mình để ngày đêm hương khói cho Người. Trong suốt những năm tháng chiến tranh, mặc dù rất tức tối nhưng kẻ địch vẫn phải bất lực và khiếp sợ trước sự tồn tại của ngôi đền ra đời từ ý nguyện và lòng dân. Còn các chiến sĩ ta, trước mỗi trận đánh đều đến Đền dâng hương, hạ quyết tâm xung trận “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” trước bàn thờ Tổ quốc và bàn thờ Bác. Hoà bình lập lại, Đền thờ đã trở thành “địa chỉ đỏ” giáo dục truyền thống cách mạng và tinh thần học tập tấm gương đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh của tỉnh…Trung bình mỗi năm, Đền Thờ Bác Hồ tiếp đón khoảng 100 đoàn đại biểu, với trên 50 ngàn lượt người trong và ngoài tỉnh đến tham quan, thắp hương viếng Bác. Nhất là vào 2 dịp lễ chính, đó là sinh nhật Bác 19/5 và Quốc Khánh 2/9 thì các đoàn khách và người dân đến đền thờ rất đông. Do đó, công tác tổ chức quản lý đền thờ cũng có sự chuẩn bị chu đáo về mọi mặt để sẵn sàng phục vụ tốt cho ngày lễ. Tại đền, lễ giỗ, tưởng niệm Bác Hồ được chính quyền và nhân dân địa phương tổ chức long trọng hằng năm vào đúng dịp 2/9 để báo công lên Bác. Chị Trần Thị Tươi, người dân xã Long Đức bày tỏ tình cảm của mình:

“Bác nhớ miền Nam, nỗi nhớ nhà
Miền Nam mong Bác, nỗi mong Cha…”

Câu thơ ấy đã hàm chứa tình cảm sâu sắc của Bác đối với miền Nam và của đồng bào miền Nam đối với Bác Hồ kính yêu. Là con cháu Bác Hồ, mỗi người chúng ta nguyện ra sức học tập và làm theo tư tưởng của Người, xem đó là kim chỉ nam trên con đường phát triển của dân tộc, của đất nước trong thời đại mới. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một việc làm lâu dài và phải xuất phát từ tư tưởng, nhận thức, tình cảm thiêng liêng đối với Bác. Có như vậy, chúng ta mới thấy hết được giá trị to lớn mà Người đã để lại cho con cháu đời sau, để từ đó noi theo gương Bác, học tập và hoàn thiện bản thân, đóng góp công sức của mình cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước./.

Thành Sang
Vknyo (st)

Trọng dân, một tư tưởng lớn của Bác Hồ

Bác Hồ với nhân dân ở chiến khu Việt Bắc

Bác Hồ với nhân dân ở chiến khu Việt Bắc

Trong báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng ngày 11-2-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Phải củng cố mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng”. Người chỉ rõ sự cần thiết phải củng cố mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng: Không có quần chúng thì không có lực lượng. Không có Đảng thì không có người lãnh đạo, hướng dẫn, chỉ đường. Người nhấn mạnh: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng”. “Lực lượng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động là rất to lớn”.

Nói về trách nhiệm của Đảng đối với Tổ quốc và nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Hễ còn một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn, thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ. Cho nên Đảng vừa phải lo tính công việc lớn như đổi mới nền kinh tế và văn hóa lạc hậu của nước ta thành nền văn hóa tiên tiến, đồng thời luôn luôn quan tâm đến những công việc nhỏ như tương, cà mắm, muối cần thiết cho đời sống hàng ngày của nhân dân”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, sức mạnh của Đảng nằm ngay trong mối quan hệ giữa Đảng với dân và dân với Đảng. Người khẳng định: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Khi sức dân được huy động, được tổ chức, được tập hợp dưới sự lãnh đạo của Đảng thì thành vô địch”. “Làm việc gì cũng phải có quần chúng. Không có quần chúng thì không thể làm được… Việc gì có quần chúng tham gia bàn bạc, khó mấy cũng trở nên dễ dàng và làm được tốt”. “Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng được thể hiện rất cụ thể ở đạo đức, thái độ, tác phong trong quan hệ với dân ở từng cán bộ đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Cán bộ đảng viên phải nâng cao tinh thần phụ trách trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Phải kính yêu nhân dân. Phải tôn trọng thật sự quyền làm chủ của nhân dân. Tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng”, ra lệnh, ra oai… phải khiêm tốn, gần gũi quần chúng, không được kiêu ngạo. Khi chọn cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải lựa chọn “những người liên lạc mật thiết với dân chúng, hiểu biết dân chúng. Luôn chú ý đến lợi ích của dân chúng. Như thế, thì dân chúng mới tin cậy cán bộ và nhận cán bộ là người lãnh đạo của họ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh lên án gay gắt chủ nghĩa cá nhân. Người nói: “Hiện nay chủ nghĩa cá nhân đang ám ảnh một số đồng chí. Họ tự cho mình là cái gì cũng giỏi, họ xa rời quần chúng, không muốn học hỏi quần chúng, mà chỉ muốn làm thầy quần chúng. Họ ngại làm việc tổ chức, tuyên truyền giáo dục quần chúng. Họ mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Kết quả là quần chúng không tin, không phục, càng không yêu họ. Chung quy là họ không làm nên trò trống gì”.
Theo Bác Hồ, Đảng phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng nhân dân và hướng dẫn nhân dân, tổ chức thành lực lượng, thành phong trào hành động cách mạng trên các lĩnh vực kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng, có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân. Còn các tầng lớp của nhân dân phải tham gia xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị tư tưởng và tổ chức. Nhân dân là nguồn bổ sung vô tận cho Đảng và luôn luôn tràn trề sức xuân. Trọng dân là thương dân, vì nhân dân mà phục vụ và biết coi trọng sức mạnh vĩ đại của nhân dân. Biết bao những phần tử ưu tú trong giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức và các tầng lớp nhân dân lao động khác, đã trở thành đảng viên của Đảng. Quần chúng còn tham gia góp ý, phê bình sự lãnh đạo của Đảng với mong muốn Đảng luôn luôn trong sạch và vững mạnh để lãnh đạo sự nghiệp cách mạng đến đích cuối cùng.

Khi Quốc hội tín nhiệm bầu Người làm Chủ tịch nước – Người trả lời các nhà báo: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh, phú quý chút nào. Bây giờ gánh vác chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng làm, cũng như một người lính vâng lệnh quốc dân ra trước mặt trận” (1). Người căm ghét thói cậy quyền, cậy thế, chia rẽ, kiêu ngạo, tham ô, lãng phí, quan liêu, móc ngoặc, tham nhũng… vì nó “là kẻ thù của nhân dân, của dân tộc, của Chính phủ. Nó là kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm, mang súng, nó nằm trong tổ chức của ta, nó là giặc nội xâm để làm hỏng công việc của ta. Người dạy: “Cơm của chúng ta ăn, áo của chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng đều là mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra. Vì vậy chúng ta phải đền ơn xứng đáng cho nhân dân. Chớ vác mặt làm quan cách mạng để dân ghét, dân khinh, dân không ủng hộ”(2). Trước lúc đi xa Bác Hồ đã căn dặn toàn Đảng cũng như mỗi cán bộ, đảng viên rằng: Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân. Đảng coi việc “làm đầy tớ” của nhân dân, phục vụ nhân dân, chăm lo cuộc sống vật chất, tinh thần của nhân dân là trách nhiệm, là vinh dự và niềm hạnh phúc.

Bác Hồ từng nói: Chúng ta có trọng dân, yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta. Tôn trọng và tin tưởng nhân dân là tôn trọng và tin tưởng những người làm ra lịch sử, những người sáng tạo ra của cải, vật chất, những người được sánh với Trời, Đất theo triết học phương Đông như Bác Hồ khẳng định: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân”.

Những lời dạy của Bác Hồ: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng…”, “Cán bộ, đảng viên là người đầy tớ trung thành của nhân dân…” là một tư tưởng lớn của Bác Hồ về trọng dân xuyên suốt từ ngày thành lập Đảng đến nay. Tư tưởng yêu nước, thương dân, trọng dân, suốt đời vì cách mạng, vì nhân dân mà hy sinh phấn đấu, không ham danh lợi, với một lối sống chân thực, giản dị, khiêm nhường của Bác Hồ là tấm gương đạo đức vô cùng trong sáng để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân chúng ta học tập và noi theo.

Tô Phương
Vknyo (st)

Tượng sáp Bác Hồ tại Thái Lan

Tượng làm từ sáp cùng các tư liệu giới thiệu về Bác Hồ được trưng bày trang trọng bên cạnh các nhân vật nổi tiếng của Thái Lan và thế giới trong công viên tượng sáp Siam ở Thái Lan.

Công viên tượng sáp tọa lạc trên một khu đất rộng huyện Bangphae, tỉnh Ratcha Buri, cách thủ đô Bangkok 110km về phía tây. Công viên được xây dựng từ năm 1997, chia làm nhiều khu giới thiệu các nét văn hóa đặc sắc các vùng miền của người Thái, đặc biệt là gắn liền với đạo Phật. Trong đó có các khu như khu tượng Phật ba thời đại, nhà ở của người Thái 4 miền, khu trưng bày cách sống của người Thái cổ cũng như hiện đại, động cổ tích…

Phòng trưng bày tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh làm bằng gỗ gần giống như nguyên bản căn phòng
làm việc của Người. Ảnh: thetrippacker

Nhưng có một tòa nhà thu hút khách du lịch nhiều nhất đó là tòa nhà tượng người sáp. Bên trong tòa nhà là những câu chuyện về các nhân vật nổi tiếng của Thái Lan và thế giới, trong đó có Chủ tịch Hồ Chí Minh, được tái hiện bằng hình ảnh, hiện vật và các đoạn băng giới thiệu tiểu sử, đóng góp của họ với đất nước và thế giới.

Phòng trưng bày tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh làm bằng gỗ gần giống như nguyên bản, trong đó có bàn làm việc bằng gỗ đơn sơ, tủ đựng quần áo, tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh tóc bạc trắng mặc bộ quần áo kaki màu trắng đang ngồi viết bên cửa sổ, trên bàn là chiếc đèn dầu, tờ báo Nhân Dân thời kỳ kháng chiến cứu nước và bông lúa vàng óng.

Tiểu sử của Bác được giới thiệu bằng hai thứ tiếng Anh và Thái với những câu từ ca ngợi vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam.

Anh Andy, hướng dẫn viên du lịch, cho biết khu công viên tượng sáp Siam là một trong những điểm đến thu hút khách du lịch Thái Lan và nước ngoài. Khoảng 80% khách du lịch khi đến tỉnh Ratcha Buri đến thăm khu công viên này.

Theo VOV
Vknyo (st)

Câu chuyện đối nhân xử thế tài tình của Bác Hồ

Chuyện kể về NgườiCách đây hơn 50 năm về trước, một buổi sáng tháng 5 năm 1960, tại Quảng trường Ba Đình Hà Nội, diễn ra buổi lễ đón tiếp Tổng thống nước Cộng hoà Ghi Nê (*) là Xê – Cu Tu – Rê (Sekou Toure) theo lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cuộc Mít-tin trọng thể đã diễn ra từ 7 giờ sáng. Đồng bào Thủ đô, cán bộ công nhân viên chức, các giáo viên, học sinh, sinh viên các trường Đại học có mặt rất đông đúc và trên tay đều cầm cờ hoa vẫy chào Hồ Chủ tịch và Tổng thống Tu- Rê đi ra lễ đài.

Lớp chúng tôi đứng trong hàng ngũ sinh viên dự lễ phía trước lễ đài gần đó nên nhìn rất rõ Bác Hồ và Tổng Thống Xê Cu Tu- Rê.

Sau phần nghi thức ban đầu của buổi lễ rồi đến phần phát biểu của Tổng thống. Trong bài diễn văn thống thiết của Tổng thống, sau đó ông ta dừng lại, nhìn sang Bác Hồ và nói một giọng rất tôn kính:

“Chủ tịch Hồ Chí Minh không những chỉ là vị lãnh tụ rất quý mến của nhân dân Việt Nam mà còn của cả nhân dân Ghi- Nê chúng tôi”.

Tiếng pháo tay hoan hô vang dội cả quảng trường Ba Đình.

Ông nói tiếp:

“Đối với tôi, cái tên Hồ Chí Minh đã khắc sâu trong trái tim tôi, tôi rất yêu quý Người. Cho nên hôm nay khi tôi sang thăm Việt Nam thì được tin vợ tôi mới sinh được một đứa con trai rất khôi ngô tuấn tú, tôi liền điện về nói vợ tôi đặt tên cho nó là Hồ Chí Minh”.

Nói xong câu đó, ông Tổng thống nhìn sang Bác Hồ chúng ta và nói nhỏ gì đấy… chắc là ông ta xin phép Bác được đặt tên con ông như thế.

Khi nghe như vậy mọi người cứ xì xào râm ran lên mà không vỗ tay. Có người nói to: “Ông Tổng thống này trịch thượng thật, khinh người thật! dám cả gan đem tên vị lãnh tụ của chúng ta đặt cho con mình à!?”.

Nhiều người cũng nói như vậy và tỏ ra khó chịu, bực tức lắm. Nghe tiếng xì xào trong biển người dự lễ tại quảng trường Ba Đình hôm đó, Bác Hồ chúng ta đã hiểu ý của nhân dân Thủ đô không hài lòng về chuyện này và tiếp đó Bác Hồ liền đứng ra trước micrô nói ngay với tất cả đồng bào, cán bộ một cách nhẹ nhàng vui vẻ:

“Kính thưa đồng bào! Tổng thống Xê-Cu Tu-Rê rất quý mến Bác nên mới muốn đặt tên cho con trai yêu quý của mình là Hồ Chí Minh. Phong tục của nước họ là như vậy, chúng ta hãy thông cảm. Còn Bác thì không có vợ, không có con, đồng bào biết rồi đấy. Cho nên Bác có ý kiến đề nghị với đồng bào thế này nhé: Trong ngày hôm nay, nếu chị em phụ nữ nào ở nước Việt Nam ta mà sinh con thì ta đặt tên cho con là Xê- Cu Tu-Rê có được không ?”.

Bác tươi cười nói năng một cách hoà nhã, chân thành và hợp lý như vậy. Tiếng vỗ tay và hô vang: “Đồng ý, đồng ý !”.

Người thông dịch liền dịch ngay cho Tổng thống Tu- Rê biết điều đó và ông bày tỏ lời cám ơn nhân dân Việt Nam đã quý mến ông.

Thế là đồng bào ta không thắc mắc gì nữa mà lại thỏa mãn vô cùng cách giải thích ứng xử kịp thời của Bác Hồ.

Được chứng kiến sự kiện này, tôi cảm thấy Bác Hồ quá nhạy cảm, thông minh trong việc đối nhân xử thế tình huống tâm lý thật tài tình. Nhiều người bàn tán rằng: “Bác Hồ chúng ta đối đáp vấn đề tâm lý này thật hay quá! sâu sắc quá! Tổng thống Xê-cu Tu- Rê của nước Cộng hoà Ghi Nê chỉ sinh được một Hồ Chí Minh, còn nhân dân Việt Nam ngày hôm nay sẽ sản sinh ra được nhiều người con Tu- Rê. Như vậy không nói ra cũng đủ hiểu rằng chỉ một Chủ tịch Hồ Chí Minh là bằng bao nhiêu Tổng thống Tu- Rê…”.

Tôi cũng thầm nghĩ như vậy và vô cùng thích thú với một chuyện thực tế mà tôi đã mắt thấy, tai nghe như vậy. Có thể trong thâm tâm của Bác Hồ không bao giờ có tính so sánh đề cao mình như vậy đâu. Đó là một sự ngẫu nhiên đối nhân xử thế của Người một cách kịp thời cho thoả ý, thoả lòng mong muốn của đồng bào ta và của cả đôi bên. Đó cũng là xuất phát từ tấm lòng nhân ái của Bác “Trọng người như thể trọng ta”.

Từ thời tôi còn là học trò các trường phổ thông, tôi đã từng đọc sách báo và đã nghe nhiều chuyện về cách ứng xử rất thông minh tài tình của Hồ Chủ tịch, nhưng tôi vẫn chưa tin 100%. Tôi nghĩ rằng, chắc người ta đã thêu dệt thêm, tô điểm thêm câu chuyện cho hấp dẫn nhằm đề cao vị Chủ tịch của đất nước Việt Nam mà thôi. Đến khi tôi được trực tiếp chứng kiến sự kiện này vào giữa năm Canh Tý (1960), trong buổi lễ đón tiếp Tổng thổng Tu- Rê của nước Cộng hoà Ghi- Nê thì tôi mới cảm thấy thực sự Bác Hồ có cách đối nhân xử thế với khách Quốc tế thật nhạy cảm, thông minh tuyệt vời !…

——————–

Chú thích: * Nước Cộng hoà Ghi Nê (Guinea) nằm ở Tây Phi, trên bờ Đại Tây Dương.Diện tích: 245.857 Km2. – Dân số: 9.467.800 người. – Quốc khánh: 2/10/1958. Ghi-nê là nước dân tộc chủ nghĩa đầu tiên ở châu Phi có quan hệ ngoại giao với ta – 9/10/1958,

Trao đổi đoàn: Phía Ghi-nê: Cố Tổng thống Xê-cu Tu-rê (Sekou Toure) thăm Việt Nam năm 1960.

Phía Việt Nam: Phó Chủ tịch nước Nguyễn Hữu Thọ thăm Ghi-nê năm 1978, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình thăm Ghi-nê tháng 3/1994. Hai bên đã ra thông cáo chung, ký kết Hiệp định hợp tác kinh tế, Văn hoá, Khoa học kỹ thuật và Thương mại, hai bên thỏa thuận thành lập Uỷ ban về hợp tác giữa hai nước.

Theo p5media.vn
Vkyno (st)

Xuân về càng thấm thía lời Bác dạy

Những khó khăn trong cuộc sống, những tác động tiêu cực ngoài xã hội những tưởng sẽ làm cho một bộ phận cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân (CAND) dao động và sa ngã. Nhưng những gì đang diễn ra theo chiều tích cực trong toàn lực lượng CAND, chúng ta có thể hoàn toàn đặt niềm tin và hy vọng. Bởi, những cán bộ, chiến sĩ CAND luôn khắc ghi những lời Bác dạy, dũng cảm vượt qua mọi khó khăn, thử thách để không ngừng trưởng thành.

xuan

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành nhiều tâm trí và tình cảm đối với lực lượng CAND. Ngay sau khi nước nhà giành được độc lập và trên cương vị Chủ tịch nước, ngoài việc ký ban hành các văn bản pháp lý làm cơ sở để xây dựng, phát triển lực lượng CAND, Người còn có nhiều bài nói, bài viết chỉ dẫn về công tác xây dựng lực lượng, về xây dựng đạo đức, tác phong của người cán bộ, chiến sĩ CAND. Tháng 3 năm 1948, trong thư gửi đồng chí Hoàng Mai, Giám đốc Công an khu XII, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị phải xây dựng cho được đội ngũ cán bộ, chiến sĩ công an vững mạnh đáp ứng yêu cầu của công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Người chỉ rõ phương pháp rèn luyện “Tư cách người công an cách mệnh:

Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính

Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ

Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành

Đối với nhân dân, phải kính trọng lễ phép

Đối với công việc, phải tận tụy

Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo”.

Lời dạy của Bác ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, đã chỉ rõ nội dung xây dựng đạo đức, tác phong người cán bộ, chiến sĩ CAND. Tư tưởng xuyên suốt trong lời dạy của Người tập trung vào xây dựng con người. Khắc ghi lời dạy của Bác, lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ CAND không ngừng trưởng thành, vượt qua mọi khó khăn thách thức, trung thành tuyệt đối, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân.

Trong những năm tháng đầu tiên của một đất nước mới giành được độc lập và trong suốt chặng đường dài của các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, trước những gian khổ hy sinh, khó khăn về đời sống vật chất, đội ngũ cán bộ, chiến sĩ CAND luôn rèn luyện và giữ vững bản chất của người công an cách mệnh. Thực hiện lời dạy của Bác “Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính”, “cần, kiệm, liêm, chính là nền tảng của đời sống mới, nền tảng của thi đua ái quốc…”(1), trong 65 năm qua, hình ảnh những người công an tận tuỵ với nhiệm vụ, nhiều tấm gương của những cán bộ, chiến sĩ CAND đã hy sinh vì cuộc sống bình yên của nhân dân, vì an ninh, ổn định chính trị – xã hội đất nước đã minh chứng cho phẩm chất cách mạng trong sáng của lực lượng CAND.

Lời dạy của Người luôn là mục tiêu, là đích vươn tới của mỗi cán bộ, chiến sĩ CAND. Trong cuộc đấu tranh hằng ngày, hằng giờ chống lại các loại tội phạm, loại bỏ cái ác, cái xấu, thường xuyên phải tiếp xúc với những tiêu cực, mặt trái của đời sống xã hội, đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ CAND hôm nay phải luôn vững vàng trong nhận thức và hành động. Trước những biến động của đời sống xã hội, những âm mưu, thủ đoạn của bọn tội phạm và của các thế lực thù địch, ngày hôm nay với bản lĩnh chính trị vững vàng, đội ngũ cán bộ, chiến sĩ CAND tiếp tục vượt qua những khó khăn trong cuộc sống và hoàn thành tốt nhiệm vụ, nỗ lực học tập, rèn luyện và thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy. Trong toàn lực lượng CAND đã và đang xuất hiện ngày càng nhiều những tấm gương cán bộ, chiến sĩ không quản ngại gian khổ, hy sinh, tận tụy công tác, liêm khiết, dũng cảm chiến đấu, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực. Đó là những bông hoa đang nở rực rỡ trong sự tin cậy và yêu mến của nhân dân. Năm 2012, toàn lực lượng CAND có trên 4.000 lượt cán bộ, chiến sĩ được biểu dương, khen ngợi. Họ là những người lính dũng cảm đương đầu với hiểm nguy, kiên quyết truy bắt tội phạm buôn bán ma tuý, buôn người; đấu tranh với các tệ nạn xã hội; ngăn chặn các hoạt động vi phạm an ninh quốc gia, bạo loạn lật đổ do các thế lực thù địch kích động. Lực lượng Cảnh sát giao thông có 1.478 lượt cán bộ, chiến sĩ được biểu dương khen thưởng vì thành tích công tác, được tập thể và quần chúng ghi nhận: Liêm khiết, không nhận hối lộ, thực hiện đúng chức trách nhiệm vụ được giao(2). Những tấm gương đó là một phần của những kết quả đã đạt được từ phong trào “CAND học tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy”, là kết quả tự rèn luyện phấn đấu của những cán bộ, chiến sĩ CAND với phương châm “Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính”, giữ vững bản chất của người công an cách mạng.

Nhưng bên cạnh những tấm gương tốt vẫn còn những biểu hiện tiêu cực trong một bộ phận cán bộ, chiến sĩ CAND. Do thiếu tự giác rèn luyện, không vững vàng về tư tưởng chính trị, một số cán bộ, chiến sĩ đã bị cám dỗ, bị kẻ địch và tội phạm lôi kéo, đánh gục, làm xấu đi hình ảnh của người công an cách mạng trong lòng dân. Để làm trong sạch đội ngũ, xây dựng lực lượng CAND ngày càng vững mạnh theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hơn lúc nào hết cần phải tiếp tục quán triệt và đẩy mạnh phong trào học tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy CAND trong toàn lực lượng, tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm chỉnh 4 nhóm giải pháp trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Mỗi cán bộ, chiến sĩ CAND phải coi việc học tập và thực hiện lời dạy của Bác Hồ đối là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt; phải tích cực, tự giác trong tu dưỡng, rèn luyện bản thân; thẳng thắn và trung thực trong kiểm điểm, tự phê bình và phê bình.

Xuân về, trong thời khắc giao hoà của đất trời, chúng ta càng thấy thấm thía về ý nghĩa và giá trị những lời dạy của Bác đối với CAND. Mỗi lần đọc lại là một lần hiểu sâu thêm về 6 lời dạy của Người, để tự soi mình, tự giác phấn đấu học tập, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, để xứng đáng là người “Công an cách mệnh”.

——–

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG, H.1996, tập 9, tr.631.

(2) Nguồn: Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND, Bộ Công an.

ThS. Lê Văn HạnhVăn phòng Bộ Công an
Tạp chí Xây dựng Đảng

Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với học sinh, sinh viên Việt Nam

Với bất kì quốc gia nào trên thế giới, thanh niên, học sinh, sinh viên chính là tương lai của đất nước, là lực lượng nòng cốt để xây dựng đất nước giàu mạnh, phát triển. Chính vì thế mà lúc sinh thời, Bác Hồ hết sức quan tâm tới lực lượng “rường cột” này của nước nhà.

Khoảng tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư gửi các em học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Bác đã khẳng định: “Nước nhà trông mong, chờ đợi ở các em rất nhiều. Non sông Việt Nam có thể trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Trong suốt sự nghiệp hoạt động cách mạng của mình, Người luôn quan tâm sâu sắc tới công tác giáo dục thế hệ trẻ, tư tưởng, lý luận và tình cảm của Người đã để lại những bài học thực tiễn còn nguyên giá trị cho tới tận ngày nay và mãi về sau. Người không chỉ nêu lên vai trò hết sức quan trọng của học sinh, sinh viên mà còn nhấn mạnh trọng trách khó khăn nhưng vinh quang của các em, đó là bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Để làm được điều đó, các thế hệ học sinh, sinh viên Việt Nam cần cố gắng, ra sức học tập, rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức sống; học để biết, học để làm, học để trở thành những chiến sĩ tiên phong trên còn đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

HS SV 1Bác Hồ thăm lớp học vỡ lòng phố Hàng Than, Hà Nội (1958). Ảnh internet

Có thể nói, công tác giáo dục thế hệ trẻ ngay từ bậc mầm non, tiểu học có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành, rèn luyện đạo đức và nhân cách con người đồng thời cung cấp kiến thức, kỹ năng để trẻ có nền tảng phát triển. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Giáo dục nhi đồng là một khoa học”, dạy dỗ trẻ nhỏ không thể theo cảm tính của người lớn, càng không phải là “cách thức giáo dục” giống như những hiện tượng xã hội mà báo đài, dư luận rầm rộ đưa tin: Thầy cô đánh chửi học trò, giáo viên ngược đãi trẻ mầm non, học sinh tiểu học còng lưng vì vác cặp sách quá nặng, rồi nạn dạy thêm, học thêm tràn lan dẫn tới quá tải, vô tình đánh mất đi tuổi thơ của các em…Không phải tất cả những gì mà người lớn chúng ta cho là đúng, là tốt thì đều đúng và tốt cho trẻ em. Chính vì thế, cần có những nghiên cứu khoa học nghiêm túc và kĩ lưỡng trong công tác giáo dục lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng cả về tâm sinh lý cũng như ảnh hưởng của môi trường sống xung quanh tác động đến trẻ nhỏ để tìm ra phương pháp dạy dỗ khoa học, hợp lý. Về vấn đề này, Bác đã nêu lên một luận điểm mang tính cốt lõi, đó là cách dạy trẻ phải “giữ toàn vẹn cái tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động, trẻ trung của chúng, chớ nên làm cho chúng hóa ra những người già sớm”. Bác thường nhắc nhở: “chớ gò ép thiếu nhi vào khuôn khổ của người lớn”. Tư tưởng tiến bộ đó của Người đã cho chúng ta nhận thấy giá trị quan trọng của công tác giáo dục nhi đồng nói riêng và sự nghiệp giáo dục nói chung – sự nghiệp đó phải thực sự khoa học và nghiêm cách. Đây chính là kim chỉ nam hành động để các nhà giáo dục làm tốt hơn công tác giáo dục nhi đồng hiện tại và tương lai.

Đối với việc chăm lo đào tạo, giáo dục và bồi dưỡng thanh niên, trong đó có lớp thanh niên trí thức – những thanh niên, sinh viên đang được đào tạo từ các trường đại học, cao đẳng được Bác dành sự quan tâm đặc biệt. Ở lứa tuổi thanh niên, sinh viên, việc giáo dục đào tạo không phải là “cầm tay chỉ việc”, uốn nắn từng chút một, mà quan trọng là phải truyền được cho các em tinh thần tự học, tự khám phá, chủ động, sáng tạo, giúp các em định hướng được mục đích của việc tự học tập, tự xác định được con đường phấn đấu cho tương lai. Chỉ như vậy các em mới có thể kiên trì trên con đường học tập theo phương châm “học, học nữa, học mãi” của lãnh tụ Lê-nin vĩ đại.

HS SV 2
Bác Hồ nói chuyện với cán bộ và sinh viên Bách khoa 

tại nhà ở sinh viên sáng mùng Một Tết Mậu Tuất (1958). Ảnh internet

Bác yêu cầu sinh viên: “Phải hiểu rõ học thế nào? Học cái gì? Học để làm gì?”. Tại Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ II, ngày 7.5.1958, Bác nhấn mạnh: “Đối với thanh niên trí thức như các cháu ở đây thì cần đặt hai câu hỏi: Học để làm gì? Học để phục vụ ai? Đó là hai câu hỏi cần phải trả lời dứt khoát thì mới có phương hướng”. Bác chỉ rõ: “Dưới chế độ thực dân, phong kiến, mục đích đi học là cốt được mảnh bằng để làm ông thông, ông phán, lĩnh lương nhiều, ăn ngon, mặc đẹp. Thế thôi. Số phận dân tộc thế nào, tình hình thế giới biến đổi thế nào, không hay, không biết gì hết. Mục đích giáo dục nô lệ hầu hạ chúng. Ngày nay ta đã được độc lập, tự do, thanh niên mới thật là người chủ tương lai của nước nhà. Muốn xứng đáng vai trò là người chủ thì phải học tập. Học bây giờ với học dưới chế độ thực dân, phong kiến khác nhau”, “Học tập nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật và quân sự” và “Học để phụng sự ai? Để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân giàu, nước mạnh, tức là để làm tròn nhiệm vụ người chủ của nước nhà”. Từ đó có thể thấy, nhiệm vụ của thanh niên trí thức thời đại mới không chỉ là ra sức học tập để làm chủ được tri thức, công nghệ mới, mà còn phải xác lập được cho mình lý tưởng cộng sản đúng đắn. Lý tưởng đúng đắn chính là cứu cánh, là vũ khí sắc bén trong đấu tranh chống lại cái xấu, chống lại những cám dỗ bên ngoài, giúp thanh niên vượt lên trên hoàn cảnh khó khăn để hoàn thành mục tiêu.

Đặc biệt trong xã hội hiện tại, khi mà các giá trị tinh thần cũ và mới đan xen, một bộ phận không nhỏ thanh niên, sinh viên có lối sống buông thả, vị kỉ, cá nhân, thờ ơ, vô cảm với thời cuộc, chìm đắm trong các trò chơi điện tử, trong cuộc sống ảo trên mạng, vùi mình trong các cuộc ăn chơi, đua đòi… thì những lời dạy của Bác càng có giá trị lớn lao hơn bao giờ hết. Nhưng làm thế nào để những lời dạy quý báu đó của Người thấm nhuần tới được với học sinh, sinh viên, giúp các em hình thành được lý tưởng và nếp sống đúng đắn? Trách nhiệm đó không chỉ của riêng ai, mà là trách nhiệm của toàn xã hội, trước hết là của các bậc làm cha làm mẹ, của các nhà giáo dục, các nhà quản lý trong lĩnh vực có liên quan tới thanh thiếu niên.

Trong vấn đề học tập, Bác không chỉ nhắc nhở học sinh, sinh viên mà là thanh niên Việt Nam nói chung, Bác đã chỉ ra:“Làm nghề gì cũng phải học” và mục đích của việc học là để “nâng cao năng lực làm cho kinh tế phát triển, chiến đấu thắng lợi, đời sống nhân dân càng no ấm, vui tươi”. Điều đó có nghĩa rằng ngay cả đối với một bộ phận thanh niên không theo học đại học, cao đẳng, thì việc học cũng luôn là việc hết sức quan trọng. Học từ các lớp dạy nghề, học từ kinh nghiệm cuộc sống, từ người đi trước, tự học… để nâng cao lối sống tích cực, trau dồi kĩ năng nghề nghiệp để ứng dụng được kiến thức vào lao động sản xuất và làm ăn kinh tế nhằm làm giàu cho bản thân cũng như xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn lưu ý học sinh, sinh viên rằng, để việc học tập thành công và trở nên hữu ích thì học phải đi đôi với hành, lý thuyết phải đi cùng thực tiễn. Bác nói: “Chỉ biết lý luận (lý thuyết) mà không biết thực hành thì cũng là trí thức có một nửa. Vì vậy cho nên các cháu trong lúc học về lý luận thì cũng phải kết hợp với thực hành”, “lý luận phải gắn liền với thực tế”. Đồng thời Bác nhắc nhở các nhà trường “không nên đào tạo ra những con người thuộc sách làu làu…”….Bác nhấn mạnh thêm:“Cần có lao động, lao động trí óc và lao động chân tay. Và cần lao động trí óc kiêm lao động chân tay, nghĩa là lao động chân tay cũng phải có văn hoá, mà người lao động trí óc cũng phải làm được lao động chân tay. Nếu lao động trí óc không làm được lao động chân tay và lao động chân tay không có trí óc thì đó là người lao động bán thân bất toại…”. Điều đó có nghĩa rằng học sinh, sinh viên không chỉ học kiến thức sách vở, mà còn phải được thường xuyên nâng cao năng lực thực hành, biết dùng đôi bàn tay để trực tiếp ứng dụng được những kiến thức tiếp thu được. Để đạt được mục tiêu này, vai trò rất lớn thuộc về nhà trường và các cấp quản lý giáo dục, cần phải tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên được làm thực hành, thí nghiệm nhiều hơn, thường xuyên tổ chức cho các em tham quan, thực tập trong các nhà máy, xí nghiệp sản xuất; kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường và doanh nghiệp nhằm tạo ra nguồn cung lao động có số lượng và chất lượng phù hợp với nguồn cầu của thực tế sản xuất. Với những phân tích trên, chúng ta có thể thấy, tư tưởng và những lời căn dặn của Bác vẫn còn nguyên tính thời sự, giá trị lý luận và bài học thực tiễn sâu sắc, đó là bài học về việc phương pháp đào tạo dạy và học thực chất, sáng tạo, nói không với bệnh thành tích, học phải đi đôi với thực hành, kiến thức phải đi đôi với kỹ năng.

Ngoài việc học tập, trau dồi kiến thức, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn căn dặn thế hệ trẻ phải thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất, đạo đức, lối sống. Bác nhấn mạnh: “Có tài mà không có đức là người vô dụng”. “Đức, ở đây như Bác nói là đạo đức, đạo lý làm người mà với thời đại chúng ta, Bác yêu cầu rèn luyện để có đạo đức cách mạng. Bác giải thích đạo đức cách mạng rất giản dị, cụ thể: “Đạo đức cách mạng không phải là những điều cao siêu, xa lạ mà đối với mỗi người bất kỳ ở cương vị nào, bất kỳ làm một việc gì đều không sợ khó, không sợ khổ, đều một lòng một dạ phục vụ lợi ích chung của giai cấp, của nhân dân, đều nhằm mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội”, “Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời rơi xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Bác coi “đạo đức là cái gốc của người cách mạng” và Bác nêu lên cách thức phấn đấu, rèn luyện đạo đức cách mạng: “Phải thấm nhuần đạo đức cách mạng, tức là học tập, lao động, sinh hoạt theo đúng đạo đức của thanh niên xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa”, “Để làm tròn trách nhiệm, thanh niên ta phải nâng cao tinh thần làm chủ tập thể, trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân, chớ phô trương hình thức, chớ kiêu ngạo tự mãn”.

Để loại bỏ chủ nghĩa các nhân, Bác chỉ rõ: “Muốn sửa chữa chủ nghĩa cá nhân thì phải làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, mà phải nghĩ đến đồng bào, đến toàn dân đã. Ta có câu nói: “khó nhọc thì mình nên đi trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”; làm việc gì mình cũng nghĩ đến lợi ích chung trước và lợi ích riêng sau. Đối với thanh niên trí thức như các cháu ở đây thì cần đặt lại câu hỏi: Học để làm gì? Học để phục vụ ai? Đó là hai câu hỏi cần phải trả lời dứt khoát thì mới có phương hướng sửa chữa khuyết điểm của mình”.

Từ lúc sinh thời và cho đến khi Bác về với “thế giới người hiền”, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành cho các thế hệ trẻ Việt Nam tình yêu thương bao la, sâu sắc nhất. Người đã khẳng định: Thanh niên là chủ nhân tương lai của nước nhà…Chính vì thế, việc chăm lo, bồi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ luôn là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của toàn xã hội, “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có những con người xã hội chủ nghĩa, tức là phải có những người có đạo đức xã hội chủ nghĩa”. Nhớ lời dạy của Bác kính yêu, mỗi thế hệ học sinh, sinh viên Việt Nam “cần phải có chí tự động, tự cường, tự lậpPhải có khí khái ham làm việc, chứ không ham địa vịPhải có quyết tâm, đã làm việc gì thì làm cho đến nơi đến chốn, làm cho kỳ đượcPhải có lòng ham tiến bộ, ham học hỏi, học luôn, học mãi. Học văn hoá, học chính trị, học nghề nghiệp..”; những nhà quản lý giáo dục, những thầy cô giáo – là những người có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp trồng người, hãy luôn khắc ghi những lời Bác căn dặn, coi đó là kim chỉ nam định hướng cho triết lý giáo dục hiện đại nhằm tìm ra giải pháp đưa nền giáo dục nước nhà phát triển tích cực và bền vững, góp sức vào công cuộc CNH-HĐH đất nước, xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

Huyền Trang (tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Ý nghĩa Ngày truyền thống học sinh – sinh viên Việt Nam và những lời dạy của Bác Hồ dành cho học sinh – sinh viên

Bác Hồ với dũng sĩ miền Nam

Bác Hồ với dũng sĩ miền Nam

Hơn nửa thế kỷ qua, dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, phong trào học sinh, sinh viên và tổ chức Hội sinh viên Việt Nam đã có những cống hiến xuất sắc và trưởng thành vượt bậc qua các thời kỳ lịch sử cách mạng, là niềm tự hào của thế hệ học sinh, sinh viên ngày nay. Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường sau Cách mạng Tháng Tám 1945: “… Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em…” và các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về giáo dục và đào tạo đã cổ vũ học sinh, sinh viên nước ta thi đua học tập tốt, rèn luyện tốt và tình nguyện chung sức cùng cộng đồng.

Trong giai đoạn 1925-1945, được đồng chí Nguyễn Ái Quốc giác ngộ, các tổ chức học sinh, sinh viên yêu nước lần lượt ra đời, như: Tổ chức Học sinh Đoàn, Đội Ngô Quyền, Tổng Hội Sinh viên đã lãnh đạo phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên dưới ngọn cờ của Đảng và Bác Hồ kính yêu. Tự hào đối với các thế hệ học sinh, sinh viên là việc thành lập chi bộ Đảng đầu tiên, thành lập và hợp nhất các tổ chức Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng Sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên Đoàn và các chi bộ Đoàn, tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản mà hầu hết đảng viên, đoàn viên đều là những đồng chí xuất thân từ học sinh, sinh viên, như: Trần Phú, Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Thị Minh Khai, Lý Tự Trọng…

Ngày 28/1/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc bí mật về nước để cùng Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Được sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng, cuộc vận động hình thành Tổng Hội Sinh viên hoạt động công khai nhằm liên kết lực lượng sinh viên yêu nước, có cảm tình với cách mạng. Cùng với sự phát triển của phong trào sinh viên, phong trào học sinh các trường trung học ngoài Bắc, trong Nam cũng phát triển ngày càng mạnh bởi được ảnh hưởng của cuộc đấu tranh chung do Mặt trận Việt Minh và các Đoàn thể cứu quốc hướng dẫn.

Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã giành thắng lợi hoàn toàn. Đó là thành quả to lớn của cuộc đấu tranh lâu dài, đầy gian khổ, hy sinh, trong đó các tầng lớp thanh niên, học sinh, sinh viên có nhiều đóng góp xứng đáng, với biết bao tấm gương anh dũng, kiên cường đã được khắc ghi vào lịch sử dân tộc.

Sau cách mạng Tháng Tám, học sinh, sinh viên hăng hái học tập, rèn luyện và tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, xung kích thực hiện 3 nhiệm vụ lớn: Diệt giặc dốt, diệt giặc đói, diệt giặc ngoại xâm do Bác Hồ và Chính phủ đề ra.

Từ năm 1947 đến 1949, ở Sài Gòn, Huế, Hà Nội đã thành lập Hội Học sinh kháng chiến, Đoàn sinh viên kháng chiến sau đó phát triển ra nhiều trường ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam; số lượng học sinh, sinh viên được kết nạp vào Đoàn và Đảng khá đông. Các hoạt động của học sinh, sinh viên kháng chiến ngày càng phong phú và đa dạng hơn. Với khẩu hiệu: “Tích cực cầm cự chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công” đã tiếp thêm sinh lực mới cho phong trào học sinh, sinh viên. Cuộc đấu tranh của học sinh đã lan ra cả Đông Dương.

Ngày 9/11/1949, học sinh Huế bãi khoá. Phan Văn Giáo, Tổng trấn bù nhìn Trung bộ đã thẳng tay khủng bố. Học sinh, sinh viên quyết định bãi khoá để phản đối.

Ngày 22/11/1949, trong lúc tại Huế đang tranh đấu, học sinh Sài Gòn bí mật vận động kỷ niệm ngày Nam Kỳ khởi nghĩa và đề xướng hưởng ứng phản đối việc các nữ sinh Huế bị bắt, đồng thời yêu sách cải tổ chính sách giáo dục.

Các cuộc bãi khoá của học sinh, sinh viên Sài Gòn liên tiếp nổ ra, đưa ra các yêu sách: Chấm dứt khủng bố, đàn áp bắt bớ học sinh; trả tự do cho các học sinh bị bắt sau ngày chống bù nhìn Bảo Đại; bảo đảm an ninh và quyền lợi học tập của học sinh.

Giữa lúc ở Huế, Sài Gòn không khí tranh đấu đang sôi nổi, tại Hà Nội, học sinh cũng đang căm tức vì Pháp và bù nhìn bắt bớ một số anh chị em sau kỳ nghỉ học kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám. Học sinh Chu Văn An quyết định bãi khoá ngày 25/11/1949, trong các lớp trên tường la liệt khẩu hiệu. Toàn trường vang dậy những khẩu hiệu “học sinh bãi khoá”, “trả lại tự do cho bạn chúng ta”, “đả đảo bù nhìn”.

Ngày 9/1/1950, Đoàn Thanh niên cứu quốc và Đoàn học sinh Sài Gòn – Chợ Lớn đã vận động và tổ chức cho hơn 2.000 học sinh, sinh viên các trường cùng nhiều giáo viên và 7.000 nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn biểu tình đòi đảm bảo an ninh cho học sinh, sinh viên học tập và trả tự do cho những học sinh, sinh viên bị bắt và mở lại trường học. Đoàn biểu tình đã bị đàn áp dã man. Cuộc đàn áp đẫm máu ngày 9/1/1950 và tinh thần chiến đấu hy sinh oanh liệt của anh Trần Văn Ơn làm dấy lên trong học sinh, sinh viên và nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn lòng căm thù giặc và ý chí đấu tranh kiên quyết chống thực dân Pháp xâm lược và bè lũ tay sai.

Với sự kiện lịch sử đó, noi gương và ghi nhận tinh thần đấu tranh bất khuất của anh Trần Văn Ơn và học sinh, sinh viên trong những ngày đầu kháng chiến, Đại hội toàn quốc Liên đoàn thanh niên Việt Nam lần thứ nhất tháng 2 năm 1950 tại Việt Bắc đã quyết định lấy ngày 9 tháng 1 hàng năm làm Ngày truyền thống học sinh – sinh viên. Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Sinh viên Việt Nam lần thứ V (22-23/11/1993) tại Thủ đô Hà Nội đã quyết định đồng thời lấy ngày 9 tháng 1 làm Ngày truyền thống của Hội Sinh viên Việt Nam.

Trong cuộc đời mình Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến thế hệ thanh niên như Người đã từng nói: “Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”, Người luôn quan tâm đến việc chăm lo đào tạo, giáo dục và bồi dưỡng thanh niên, trong đó có lớp thanh niên trí thức (những sinh viên đang được đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng…) Bác đã nhiều lần nói chuyện trực tiếp với sinh viên đang học tập trong nước, ở nước ngoài và sinh viên các nước đến dự hội nghị chuyên đề sinh viên quốc tế tại Việt Nam.

Trân trọng xin giới thiệu một số nội dung của các bài nói chuyện, những huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, liệt kê theo thời gian như:

Bài nói chuyện tại buổi lễ khai mạc Trường Đại học Nhân dân Việt Nam
ngày 19 tháng 1 năm 1955

           Hôm nay Bác thay mặt Chính phủ đến hỏi thăm các cháu và chúc các cháu vui vẻ, mạnh khoẻ, thi đua học tập, cố gắng tiến bộ.

Sau đây Bác nêu vài ý kiến về việc giáo dục thanh niên để giúp các thầy giáo và các cháu nghiên cứu.

Trước hết chúng ta phải hiểu rõ học thế nào? Học cái gì? Học để làm gì?

Trong mấy mươi năm nô lệ, đế quốc và phong kiến đã dùng giáo dục nô lệ để nhồi sọ thanh niên ta, làm cho thanh niên ta hư hỏng. Ngày nay dân tộc ta đã được giải phóng, thì thanh niên ta cũng cần phải mạnh dạn chuyển hướng trong việc học tập. Nay Bác chỉ tóm tắt nêu mấy điểm:

Những điều nên làm : Phải vạch rõ ranh giới, chia rõ phải trái.

Vạch rõ ranh giới là phải nhận rõ ai là bạn, ai là thù? Đối với người, ai làm gì lợi ích cho nhân dân, cho Tổ quốc ta đều là bạn. Bất kỳ ai làm điều gì có hại cho nhân dân và Tổ quốc ta tức là kẻ thù. Đối với mình, những tư tưởng và hành động có lợi ích cho Tổ quốc, cho đồng bào là bạn. Những tư tưởng và hành động có hại cho Tổ quốc và đồng bào là kẻ thù. Thế là chẳng những ở ngoài, mà chính ở trong mình ta cũng có bạn và thù. Vì vậy chúng ta cần phải ra sức tăng cường bạn ở trong và ở ngoài, kiên quyết chống lại kẻ thù ở ngoài và ở trong mình ta.

Điều gì phải, thì cố làm cho kỳ được, dù là việc nhỏ. Điều gì trái, thì hết sức tránh, dù là một điều trái nhỏ.

Trước hết phải yêu Tổ quốc, yêu nhân dân. Phải có tinh thần dân tộc vững chắc và tinh thần quốc tế đúng đắn. Phải yêu và trọng lao động. Phải giữ gìn kỷ luật. Phải bảo vệ của công. Phải quan tâm đến đời sống của nhân dân. Phải chú ý đến tình hình thế giới, vì nước ta là một bộ phận của thế giới, mọi việc trong thế giới đều có quan hệ với nước ta, việc gì trong nước ta cũng quan hệ với thế giới. Thí dụ: Đế quốc Mỹ ép Quốc hội Pháp thông qua hiệp định để Tây Đức vũ trang lại, tức là để gây chiến tranh, nếu có chiến tranh thì sẽ ảnh hưởng không ít đến nước ta. Nhân dân ta ra sức giữ gìn hoà bình, khôi phục lại kinh tế, chống đế quốc Mỹ, như thế là góp phần thiết thực vào việc bảo vệ hoà bình thế giới.

Phải quan tâm đến việc khôi phục và xây dựng lại nước nhà. Nhiệm vụ của thanh niên không phải là hỏi nước nhà đã cho mình những gì. Mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà? Mình phải làm thế nào cho ích lợi nước nhà nhiều hơn? Mình đã vì lợi ích nước nhà mà hy sinh phấn đấu chừng nào?

Thanh niên cần phải có tinh thần và gan dạ sáng tạo, cần phải có chí khí hăng hái và tinh thần tiến lên, vượt mọi khó khăn, gian khổ để tiến mãi không ngừng.

Cần phải trung thành, thật thà, chính trực.

Những điều nên chống: Thanh niên cần phải chống tâm lý tự tư tự lợi, chỉ lo lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình. Chống tâm lý ham sung sướng và tránh khó nhọc. Chống thói xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay. Chống lười biếng, xa xỉ. Chống cách sinh hoạt uỷ mị. Chống kiêu ngạo, giả dối, khoe khoang.

Thanh niên và xã hội:

– Giáo dục thanh niên không thể tách rời mà phải liên hệ chặt chẽ với những cuộc đấu tranh của xã hội. Trong xã hội cũ có nhiều nọc độc nó làm hại thanh niên. Nhất là văn hoá độc ác của Mỹ, nó dùng mọi cách như sách báo, phim ảnh, v.v… để làm cho thanh niên hư hỏng, truỵ lạc. Thậm chí một số thanh niên hoá ra lưu manh, trộm cắp, cờ bạc, v.v… Vì vậy, sự giáo dục thanh niên phải liên hệ vào dư luận của xã hội, lực lượng của Chính phủ để ngăn ngừa những cái gì có thể ảnh hưởng xấu đến thanh niên, để nâng cao tính cảnh giác của thanh niên.

Trong trường, cần có dân chủ. Đối với mọi vấn đề, thầy và trò cùng nhau thảo luận, ai có ý kiến gì đều thật thà phát biểu. Điều gì chưa thông suốt, thì hỏi, bàn cho thông suốt. Dân chủ nhưng trò phải kính thầy, thầy phải quý trò, chứ không phải là “cá đối bằng đầu”. Đồng thời thầy và trò cần giúp đỡ những anh chị em phục vụ cho nhà trường. Các anh chị em nhân viên thì nên thi đua sao cho cơm lành canh ngon để cho học sinh ăn no, học tốt.

Trường học, gia đình và đoàn thể thanh niên phải liên hệ chặt chẽ trong việc giáo dục thanh niên.

Thanh niên phải chuyên tâm học hành và công tác, nhưng cũng cần có vui chơi.

Vui chơi lành mạnh là một bộ phận trong sự sinh hoạt của thanh niên. Ở trường này, các cháu học tập, ăn ở tập thể đông đảo, trai có, gái có. Các cháu phải thương yêu giúp đỡ nhau như anh em, chị em; đồng thời phải kính trọng nhau như đồng học, đồng chí. Quyết chớ phóng túng, lôi thôi. Phải làm cho cha mẹ các nữ học sinh yên tâm và tin cậy, phải giữ vững danh dự của trường và danh dự của tất cả học sinh. Trong vui chơi cũng có giáo dục. Cần có những thứ vui chơi văn hoá, thể dục có tính chất tập thể và quần chúng.

Trường học, gia đình và đoàn thể thanh niên cần phải chú ý đến giáo dục tư tưởng, thái độ, hoạt động và sinh hoạt hằng ngày của thanh niên để kịp thời khuyến khích, uốn nắn, sửa chữa.

Trường này là Trường Đại học nhân dân, các cháu học với các thầy giáo, đồng thời phải học nhân dân. Trong bộ đội ta, trong dân công và những ngành hoạt động khác, có nhiều thanh niên gương mẫu. Điều đó chứng tỏ rằng thanh niên ta nói chung rất hăng hái, rất tốt. Vài thí dụ: Trong bộ đội có những thanh niên anh hùng như La Văn Cầu, Giáp Văn Khương, Nguyễn Thị Chiên…; ở công trường đường xe lửa có những chiến sĩ gương mẫu như Lê Văn Quy, Nguyễn Thị Mùi, Nguyễn Trọng Tuỳ, Lê Văn Phát và nhiều thanh niên khác. Trong thời kỳ kháng chiến, họ là những chiến sĩ du kích anh dũng. Ngày nay trong công cuộc khôi phục kinh tế nước nhà, họ là những chiến sĩ lao động anh dũng. Thanh niên ở các công trường, các nhà máy khác cũng vậy. Như Đoàn Thanh niên xung phong, gặp việc gì khó, việc gì cần, họ cũng đều xung phong. Mong các cháu noi theo những gương thanh niên kiểu mẫu ấy, các cháu cùng thi đua học tập, thi đua tiến bộ, xung phong công tác xã hội, để góp phần vào công cuộc đấu tranh chung của nhân dân cho hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước, để xứng đáng là lớp đầu tàu của Trường Đại học Nhân dân, để rèn luyện thành chủ nhân xứng đáng tương lai của nước nhà.
Báo Nhân dân, số 326, ngày 21-1-1955

Bài nói chuyện tại Đại hội sinh viên Việt Nam
lần thứ hai (ngày 7-5-1958)

Hồi Bác còn đồng tuổi với các cháu ở đây thì Bác phải đi rửa bát hoặc làm nhiều công việc khác để lấy tiền mà đi học. Vì lúc đó chưa có Đảng, chưa có Hội thanh niên hoặc sinh viên, mà lúc đó nói đến yêu nước là thực dân Pháp nó chặt đầu. Còn bây giờ các cháu có thể phát triển hết khả năng của mình.

Thanh niên bây giờ là một thế hệ vẻ vang, vì vậy cho nên phải tự giác tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng với nhiệm vụ của mình. Tức là thanh niên phải có đức, có tài. Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì, nhưng cũng không lợi gì cho loài người.

Các cháu ít hay nhiều cũng có mang cái dấu vết của xã hội cũ, cái tư tưởng tiểu tư sản. Tư tưởng tiểu tư sản là cái gì? Nó là cá nhân chủ nghĩa. Cá nhân chủ nghĩa nó đẻ ra cái tư tưởng danh lợi, chỉ muốn làm ông này ông khác, bà này bà khác. Rồi tư tưởng danh lợi lại đẻ ra con nó, rồi con nó lại đẻ ra cháu nó… tức là hai cái khinh là: khinh lao động chân tay và khinh người lao động chân tay và hai cái sợ là: sợ khó nhọc và sợ khổ.

Muốn sửa chữa cá nhân chủ nghĩa thì khi làm bất kỳ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, mà phải nghĩ đến đồng bào, đến toàn dân đã. Ta có câu nói: “Có khó nhọc thì mình nên đi trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”; làm việc gì mình cũng nghĩ đến lợi ích chung trước và lợi ích riêng sau. Đối với thanh niên trí thức như các cháu ở đây thì cần đặt lại câu hỏi:

Học để làm gì?

Học để phục vụ ai?

Đó là hai câu hỏi cần phải trả lời dứt khoát thì mới có phương hướng để sửa chữa khuyết điểm của mình.

Để xây dựng chủ nghĩa xã hội thì cần phải có cái gì?

Cần có lao động, lao động trí óc và lao động chân tay. Và ta cần lao động trí óc kiêm lao động chân tay, nghĩa là lao động chân tay cũng phải có văn hoá, mà người lao động trí óc cũng phải làm được lao động chân tay. Nếu lao động trí óc không làm được lao động chân tay và lao động chân tay không có trí óc thì đó là người lao động bán thân bất toại.

Lao động trí óc mà không lao động chân tay, chỉ biết lý luận mà không biết thực hành thì cũng là trí thức có một nửa. Vì vậy, cho nên các cháu trong lúc học lý luận cũng phải kết hợp với thực hành và tất cả các ngành khác đều phải: lý luận kết hợp với thực hành, học tập kết hợp với lao động.

Lao động trí óc phải kết hợp với lao động chân tay. Học lao động phải có quyết tâm; muốn có quyết tâm thì phải có tinh thần, phải có sáu cái yêu:

Yêu Tổ quốc: Yêu như thế nào? Yêu là phải làm sao cho Tổ quốc ta giàu mạnh. Muốn cho Tổ quốc giàu mạnh thì phải ra sức lao động, ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm.

Yêu nhân dân: Mình phải hiểu rõ sinh hoạt của nhân dân, biết nhân dân còn cực khổ như thế nào, biết chia sẻ những lo lắng, những vui buồn, những công tác nặng nhọc với nhân dân.

Yêu chủ nghĩa xã hội: Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mình mỗi ngày một no ấm thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm.

Yêu lao động: Muốn thật thà yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu chủ nghĩa xã hội thì phải yêu lao động, vì không có lao động thì chỉ là nói suông.

Yêu khoa học và kỷ luật: Bởi vì tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải có khoa học và kỷ luật.

Thời đại chúng ta bây giờ là thời đại vệ tinh nhân tạo, nghĩa là thời đại của khoa học phát triển rất mạnh, thời đại xã hội chủ nghĩa, thời đại anh hùng; mỗi người lao động tốt đều có thể trở nên anh hùng (không phải là anh hùng cá nhân). Vậy mong các cháu cũng làm người thanh niên anh hùng trong thời đại anh hùng.


Hồ Chí Minh toàn tập, tập 11, trang 399-trang401

Thư gửi cán bộ giáo dục, học sinh, sinh viên các trường
và các lớp bổ túc văn hóa

Nhân dịp bắt đầu năm học 1960-1961, tôi thân ái gửi lời hỏi thăm các đồng chí cán bộ giáo dục, học sinh, sinh viên các trường.

Mười lăm năm qua, các trường học và nghành giáo dục đã thu được những thành tích tốt. Trong những năm gần đây, các trường học đã tiến bộ trong việc xây dựng nhà trường xã hội chủ nghĩa.

Năm học này là năm kết thúc kế hoạch 3 năm và bắt đầu kế hoạch 5 năm lần thứ nhất nhằm xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Văn hóa giáo dục phải phát triển mạnh để phục vụ yêu cầu của cách mạng. Văn hóa giáo dục là một mặt trận quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà.

Các đồng chí cán bộ và các cháu phải thi đua hoàn thành tốt nhiệm vụ trên mặt trận ấy.

Giáo dục phải phục vụ đường lối chính trị của Đảng và Chính phủ, gắn liền với sản xuất và đời sống của nhân dân. Học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tế.

Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: Đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, lao động và sản xuất.

Từ trước đến nay, đồng bào ta đã hết lòng giúp đỡ công việc giáo dục. Tôi mong rằng từ nay về sau, đồng bào sẽ cố gắng giúp đỡ nhiều hơn nữa cho trường học và ai cũng tự mình cố gắng học tập.

Thân ái chúc các đồng chí cán bộ giáo dục và các cháu mạnh khỏe, cố gắng nhiều và tiến bộ nhiều.

Ngày 31 tháng 8 năm 1960
HỒ CHÍ MINH
Báo Nhân dân, số 2360, ngày 4 tháng 9 năm 1960

y nghia 2
Bác hồ ký lưu niệm cho sinh viên quốc tế (tháng 9 năm 1961)

Bài nói chuyện tại Hội nghị chuyên đề sinh viên quốc tế họp tại Việt Nam
ngày 1-9-1961

Tôi thay mặt Đảng và Chính phủ chúng tôi thân ái hoan nghênh các đại biểu.

Nhân dịp này, tôi muốn nói chuyện tóm tắt với các đồng chí tình hình của thế hệ thanh niên già ở Việt Nam cách đây 16 năm về trước. Hãy lấy tôi làm ví dụ:

Về văn hoá: Tôi chỉ học hết lớp tiểu học. Vì chế độ thực dân và phong kiến đã kìm hãm việc giáo dục. Chỉ có một số con em những nhà quyền thế và giàu có mới được học đến trung học và rất ít đến đại học. Dưới thời nô lệ Pháp, năm 1939 là năm nhiều học trò nhất ở xứ Đông Dương. Nhưng tổng số học trò của Việt Nam, Campuchia và Lào cộng lại cũng chỉ có 4 vạn học sinh tiểu học và trung học, 580 học sinh đại học. Còn 95% người dân Đông Dương là mù chữ.

Ngày nay, dưới chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, chỉ ở miền Bắc đã có hơn 2 triệu 72 vạn học trò vỡ lòng, tiểu học và trung học, 13.600 học trò đại học và hơn 4.000 học tại các trường cao đẳng ở các nước anh em.

Về hiểu biết phổ thông: Năm 17 tuổi, tôi mới thấy ngọn đèn điện lần đầu tiên, 29 tuổi mới nghe rađiô lần đầu tiên …

Về chính trị: Hồi đó, thanh niên nào nói đến những chữ bình đẳng, tự do, cách mạng, yêu nước đều bị bọn thực dân và phong kiến coi là phạm tội và bị chúng xử tội, nhẹ là bắt bớ, giam cầm, nặng là tù đày, bắn giết.

Tuy vậy, Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại đã soi đường cho chúng tôi. Chúng tôi đã không sợ thực dân và phong kiến, mà hăng hái hoạt động cách mạng và cuối cùng cách mạng đã thắng lợi.

Từ sau Thế giới chiến tranh lần thứ hai, nhiều dân tộc bị áp bức ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh đã thoát khỏi ách nô lệ của bọn thực dân đế quốc và thanh niên của các nước ấy đã được bình đẳng, tự do. Tuy vậy, trên thế giới hãy còn nhiều thanh niên vẫn bị áp bức. Ví dụ: một nước tự xưng là giàu có nhất và ”dân chủ” nhất thế giới như nước Hoa Kỳ, mà 10% thanh niên là thanh niên Mỹ da đen vẫn bị ngược đãi như nô lệ đời xưa.

Vì vậy cho nên thanh niên toàn thế giới cần phải đoàn kết nhau lại, tin tưởng vào khả năng đấu tranh của mình và hoà mình với công nhân và nông dân để đấu tranh tiêu diệt chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, trước hết là đế quốc Mỹ – một đế quốc hung ác nhất, đấu tranh để giữ gìn hòa bình thế giới, để thực hiện hợp tác anh em giữa tất cả các dân tộc để xây dựng đời sống hạnh phúc, vui tươi.

Một nhiệm vụ quan trọng nữa của thanh niên trí thức là phát triển giáo dục, trước hết là xoá nạn mù chữ. Theo con số của Liên hợp quốc thì cuối năm ngoái số người mù chữ ở châu Phi là 80%, ở Haiti, châu Mỹ là 89%, ở Ấn Độ là 81%, v.v…, đó là gia tài đen tối do thực dân, đế quốc để lại. Trong cuộc đấu tranh diệt giặc dốt, quân chủ lực phải là thanh niên trí thức, dựa vào lực lượng to lớn của nhân dân.

Các đồng chí và các bạn thân mến,

Thời đại này là thời đại vẻ vang của thanh niên. Mà thanh niên phải là những đội xung phong trên các mặt trận chính trị, kinh tế, khoa học, kỹ thuật. Thanh niên đã thực hiện những điều mơ ước của loài người từ bao thế kỷ. Lần đầu tiên trong lịch sử, hai thanh niên Liên Xô là đồng chí Gagarin và Titốp đã thành công rực rỡ trong việc đưa hai con tàu vũ trụ chọc thủng bầu trời, bay quanh quả đất.

Thanh niên ngày nay cũng là thế hệ sung sướng nhất. Như trong bản dự án Cương lĩnh của Đại hội lần thứ XXII của Đảng Cộng sản Liên Xô đã nói: ở Liên Xô thế hệ này sẽ sống dưới thế hệ cộng sản.

Đời sống hạnh phúc vui tươi của nhân dân và thanh niên Liên Xô chắc chắn sẽ là đời sống hạnh phúc vui tươi của nhân dân và thanh niên khắp thế giới, nếu nhân dân và thanh niên thế giới đều ra sức đoàn kết đấu tranh.

Tôi nói như vậy không phải vì tôi muốn tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản đâu. Mà đó là những lời tâm sự của một người thanh niên già đã có một ít kinh nghiệm, thật thà bày tỏ với các bạn thanh niên yêu quý của tôi.

Cuối cùng tôi chúc Hội nghị thành công tốt đẹp và nhờ các bạn đại biểu chuyển đến thanh niên khắp thế giới lời chào thân ái nhất của Bác Hồ.

_______________

(*) Hội nghị chuyên đề sinh viên quốc tế về “Vai trò các tổ chức sinh viên trong việc phát triển nền giáo dục dân tộc”, họp từ ngày 29-8 đến ngày 2-9-1961, tại Hà Nội.

Báo Nhân dân, số 2721, ngày 2-9-1961.

            Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua nhưng những di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho học sinh – sinh viên Việt Nam vẫn mãi còn nguyên giá trị như thủa nào. Những di huấn này là tình cảm, là tư tưởng, là lời dạy, là định hướng cho lớp người sẽ làm chủ tương lai của đất nước và đó cũng luôn là kim chỉ nam cho các thế hệ thanh niên sinh viên Việt Nam hiện nay luôn cố gắng phấn đấu học tập và rèn luyện đạo đức theo tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Kim Yến (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh một tấm gương bình dị mà cao quý

Bác HồAi được tiếp xúc với Hồ Chí Minh hầu như đều có ấn tượng mạnh mẽ về sức hút mãnh liệt, sự lôi cuốn và sức thuyết phục lớn lao toát ra từ nhân cách của Người. Tại sao lại như vậy?

Theo Thủ tướng Phạm Văn Đồng quan sát và nhận định:

“Bình sinh Hồ Chủ tịch rất giản dị, lão thực. Vĩ nhân, thật vĩ nhân bao giờ cũng giản dị, lão thực. Đã cầu kỳ là thiếu bản lĩnh, cố làm trò để đánh lừa thiên hạ và hậu thế”.

“Vĩ nhân” hay”Thiên tài”, hoặc “Lãnh tụ vĩ đại” đều là sự tôn vinh của dân ta và nhân loại đối với Người, bởi những cống hiến vĩ đại của Người cho dân tộc và nhân loại. Theo lẽ phải thông thường, những phẩm chất tốt đẹp, chất lượng cao của con người vẫn được hàm chứa thể hiện trong những hình thức nổi bật, phong cách khác thường, xuất chúng. Nhưng, vượt lên trên sự thông thường đó, trong đời sống hiện thực, Hồ Chí Minh sống và làm việc với các cán bộ, đảng viên, đồng bào và chiến sỹ với một phong cách bình dị nhất. Sự khác thường ở Người chính là những phẩm chất cao đẹp đến mức vĩ đại thì lại trở nên bình thường, giản dị và gần gũi nhất đối với con người. Cái vĩ đại đi liền với sự giản dị, trở thành bình dị mà cao quý. Bởi trong phong cách khiêm nhường, giản dị Hồ Chí Minh chứa đựng cái tâm trong sáng, cái đức cao đẹp, cái trí mẫn tiệp, cái hành mực thư­ớc – Phong cách của một lãnh tụ đồng thời là Nhà văn hoá kiệt xuất  Một nhân tố có tính quyết định làm nên uy tín  lãnh tụ của Đảng và Nhà nước, tạo nên niềm tin của nhân dân với Người.

Sau gần 30 năm sống, hoạt động ở nước ngoài, trong đó từng có thời gian sống hoạt động khá lâu tại 5 cường quốc thế giới là Mỹ, Nga, Trung Quốc, Anh và Pháp, song khi trở về nước, Người vẫn giữ phong độ, ngôn ngữ, tính tình của một người Việt Nam với ham muốn cháy bỏng là mở đường cho dân tộc có thể tiến lên sánh vai cùng với các cường cuốc năm châu. Sống nhiều ở nước ngoài, biết nhiều ngoại ngữ, khiến Người không chỉ kế thừa cái ý nhị trong ngôn ngữ của dân quê và kẻ sĩ Việt Nam, mà còn làm cho nó trong sáng, phong phú hơn lên với những nội dung tư tưởng, văn hoá hết sức mới mẻ, tiên tiến và hiện đại. Lời kêu gọi, văn thơ của Người không chỉ là tiếng nói hào hùng của núi sông Việt Nam, phảng phất hương vị ca dao, tục ngữ người Việt mà còn có những chân lý lớn của thời đại dưới dạng những châm ngôn và minh triết như: Không có gì quý hơn độc lập, tự do! Còn trong giao tiếp thường ngày với nhân dân, thái độ, lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh thân thiết như đối với người trong gia đình. Trong một dịp Tết Người đến thăm nhà chị Chín làm công nhân khuân vác ở Văn Điển. Chị Chín vô cùng ngạc nhiên khi thấy Chủ tịch nước đến thăm nhà một người dân nghèo túng như mình. Song, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:

“Bác không tới thăm những người như mẹ con thím, thì còn thăm ai!”.

Đây thực sự là một bài học về sự quan tâm của Lãnh tụ Đảng, Nhà nước với người dân nghèo.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng kể rằng lối ăn, ở của Chủ tịch Hồ Chí Minh rất giản dị. Lúc ở chiến khu, Người sống chung với anh em trong một cơ quan, làm việc, học tập, ăn ở, sinh hoạt đều như anh em. Người thích đi bộ, tắm sông, hút thuốc lá và thỉnh thoảng uống một ly rượu thuốc trong bữa cơm. Lúc ở rừng, Hồ Chí Minh chủ trương tránh ăn no, không ngủ trưa và vận động nhiều. Buổi sáng thể dục, buổi chiều làm vườn, lúc cần thì đi vác củi cho đồng bào. Trong suốt thời gian ở thượng du Bắc Bộ trước Cách mạng Tháng Tám và trong kháng chiến chống Pháp, nhiều ngày Người luôn tay nắn một hòn đá tròn bầu dục, cốt để luyện gân tay và hoạt động cơ thể. Người ít thích dùng thuốc, chỉ lúc nào sức cơ thể chống không nổi bệnh thì mới dừng. Khi về Hà Nội, Chủ tịch nước có phòng làm việc, phòng tiếp khách, nhiều khi chủ tọa những bữa tiệc long trọng, nhưng bình thường ngày hai bữa, Chủ tịch nước cùng nhân viên đều ăn chung. Nhiều lần, vì đến quá trễ, thức ăn không còn gì,  Hồ Chí Minh vẫn vui cười ăn đủ mấy bát cơm như thường lệ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người giản dị, đồng thời cũng là người lịch sự một cách thanh tao cao quý. Những người ngoại quốc có dịp tiếp chuyện Hồ Chí Minh đều ca ngợi cái phong độ thanh tao cao quý của Người. Trong phong cách đó, vừa có nét đặc sắc của văn hoá Phương Đông mà cũng không hề xa lạ với văn hoá Phương Tây, là sự kết hợp hài hoà cái tinh tuý của Phương Đông với cái tinh hoa của Phương Tây.

Từ năm 1923, khi nhà thơ, nhà báo Nga Ô-xíp Man-đen-xtam gặp Nguyễn Ái Quốc lúc đó 33 tuổi, đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, từ Pháp sang Nga hoạt động, đã có nhận xét rằng:

“Dáng dấp của con người đang ngồi trước mặt tôi đây, Nguyễn Ái Quốc, cũng đang toả ra một cái gì thật lịch thiệp và tế nhị…Từ Nguyễn Ái Quốc đã toả ra một thứ văn hoá, không phải văn hoá Châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hoá tương lai…Qua phong thái thanh cao, trong giọng nói trầm ấm của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta như nghe thấy ngày mai, như thấy sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới”1.

Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Anh Giôn Gô-lan có nhận xét sau khi làm việc với Chủ tịch Đảng Hồ Chí Minh rằng:

“Được gặp gỡ và nói chuyện với đồng chí Hồ Chí Minh là một ấn tượng không thể nào quên được. Đây là một con người vĩ đại nhưng không bao giờ tỏ ra mình là một con người vĩ đại. Mặc dầu có những trọng trách phải gánh vác, Người vẫn thân ái, nhiệt tình và sôi nổi làm cho bạn cảm thấy thoải mái”2.

Tìm hiểu cả cuộc đời Hồ Chí Minh, Nhà nghiên cứu Ê-len Tuốc-me-rơ, trong tác phẩmTrở thành người Bác như thế nào? xuất bản ở Béc-lin, Đức, đã viết:

“Ở con người Hồ Chí Minh, mỗi người đều thấy biểu hiện của nhân vật cao quý nhất, bình dị nhất và được kính yêu nhất trong gia đình mình… Hình ảnh của Hồ Chí Minh đã hoàn chỉnh với sự kết hợp đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học Mác, thiên tài cách mạng của Lê-nin và tình cảm của một người chủ gia tộc, tất cả bao bọc trong một dáng dấp rất tự nhiên”.

Là Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh có quyền hưởng thụ vật chất theo vị thế tối cao của mình, nhưng Người đã thắng bản năng hưởng thụ thường có của con người nhất là khi có chức lớn, quyền to lâu dài, tự tránh xa đặc quyền, đặc lợi, sống một đời hết sức bình dị. Một đời sống cần kiệm liêm chính, chí công vô tư thực sự như Người cho đến nay hiếm có ai thực hiện được, Người trở thành công bộc số 1 tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và nhân dân. Người từng tâm sự Chủ tịch của một nước nghèo nên không thể có một cuộc sống khác. Người vượt qua những ham muốn thông thường ở con người, kiên cường tranh đấu để mưu cầu độc lập, thống nhất cho Tổ quốc, dân chủ, tự do, hạnh phúc cho toàn dân ta.

Năm 1954, từ Chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội, Người không lên ở trên ngôi nhà lớn hoành tráng, sang trọng vốn là Phủ toàn quyền Đông Dương trước đây, mà chỉ chọn ở trong ngôi nhà nhỏ cấp 4 tầm thường của người thợ điện suốt 4 năm trời. Đến năm 1958, khi hầu hết cán bộ của ta đã có nhà ở theo tiêu chuẩn cấp bậc, Chủ tịch nước Hồ Chí Minh vẫn sống trong ngôi nhà của người thợ điện. Bộ Chính trị quyết định xây nhà cho Người. Khi đồng chí Trưởng đoàn của Công ty 590 của Quân đội được Trung ương giao nhiệm vụ xây nhà cho Chủ tịch nước, trình Người bản thiết kế. Xem Bản thiết kế, Người hỏi;

Các chú xây nhà cho ai ở? Đồng chí Trưởng đoàn thưa:

Xây nhà cho Bác ở ạ. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:

Các chú làm nhà to các chú ở. Làm nhà cho Bác làm nhỏ thôi.

Thế là phương án xây biệt thự cho Người không thành. Khi Người đi công tác, một ngôi nhà sàn bằng gỗ mộc bình thường đã được dựng lên. Tầng trên chỉ có 2 phòng, mỗi phòng hơn 9m2. Một phòng ngủ, một phòng làm việc. Tầng dưới kê một bộ bàn nhiều ghế để thỉnh thoảng Chủ tịch Đảng họp Bộ Chính trị, hoặc tiếp các cháu thiếu nhi. Ngôi nhà sàn nhỏ đó không nổi tiếng nguy nga tráng lệ như nhiều dinh thự của các vua chúa hoặc nguyên thủ quốc gia, nhưng nó lại sống mãi trong lòng mỗi người tới thăm. Vì chính ngôi nhà người ở là hiện thân của cuộc sống bình dị, của đức tính bình dị mà cao quý của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Xan-va-đo Xa-phích Ho-rê-hơ Ha-den nhận xét rằng:

“Vào thăm ngôi nhà sàn của Người, tôi càng cảm thấy đồng chí Hồ Chí Minh như vẫn sống. Từng chi tiết nhỏ cũng như toàn bộ ngôi nhà đều ánh lên sự thông thái của Người và còn nguyên dấu vết cuộc đời của một con người đầy tình yêu nhân dân, đầy yêu thương con trẻ, dào dạt tình yêu Tổ quốc, yêu thương người lao động, yêu Đảng, yêu chủ nghĩa xã hội và lý tưởng cộng sản chủ nghĩa.

Ngôi nhà nhỏ bé giản dị của Bác Hồ chứa đựng một bài học hùng hồn và rõ ràng về đức tính khiêm tốn cách mạng, trí thông minh, bình tĩnh, phục vụ nhân dân và sự nghiệp giải phóng, kiên quyết lên án mọi biểu hiện sùng bái cá nhân”3.

Thực ra việc học tập và làm theo tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là không thể làm được. Người Việt Nam nào cũng hiểu Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người bình dị và cao quý. Người bình dân mộc mạc lại còn hiểu  Chủ tịch Hồ Chí Minh dễ hơn người khác để có thể học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh. Song, nhân dân kỳ vọng đội ngũ cán bộ, Đảng viên, mà trước hết là những người lãnh đạo, quản lý từ cao cấp nhất trở xuống đi đầu học tập và làm theo  phong cách bình dị mà cao quý của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân noi theo./.

  PGS,TS Nguyễn Thế Thắng
Theo 
http://tutuonghochiminh.vn
Thu Hiền (st)


1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 1, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 478-479.

2 Báo Quân đội nhân dân, 15-11-1969.

3 Hồ Chí Minh một nhân cách hoàn hảo, NXB Công an nhân dân, 2005, tr111-112.

bqllang.gov.vn

Trường học của Bác

Chuyện kể về NgườiCó lần, nhân câu chuyện kể với các bạn trẻ trong Khu Phủ Chủ tịch, Bác Hồ nói: “Các cô, các chú bây giờ đi học có trường, có bàn ghế, có thầy cô, bạn bè, sách vở, giấy bút, có giờ giấc đoàng hoàng. Tối đến có đèn điện, thế mà học một năm không lên được một lớp là không đúng. Ngày xưa, lúc Bác đang tuổi các cô, các chú thì tất cả bàn ghế, thầy, bạn, sách vở, giấy bút chỉ có trong bàn tay này thôi”. Bác giơ bàn tay trái lên nói tiếp: “Hồi ấy Bác làm bồi tàu, làm người quét tuyết ở Anh rồi đi làm phụ bếp. Làm việc từ sáng đến tối, suốt ngày không được cầm đến tờ báo mà xem. Đến đêm mới hết việc, mới được đọc sách, đọc báo. Ban ngày muốn học chỉ có một cách là viết chữ lên mảnh da tay này. Cứ mỗi buổi sáng viết mấy chữ rồi đi cọ sàn tàu, cọ thùng, đánh nồi, rửa bát, thái thịt, băm rau, vừa làm vừa nhìn vào da bàn tay mà học. Hết ngày, người thì mồ hôi đầm đìa, chữ cũng mờ đi, cuối buổi đi tắm mới xoá được chữ ấy đi. Coi như đã thuộc. Sáng mai lại ghi chữ mới”.

Sách “Hồ Chí Minh, đồng chí của chúng ta” gồm nhiều hồi ký của các bạn Pháp viết, Nhà xuất bản Xã hội Pari in năm 1970 có trích một đoạn Bác trả lời phóng viên A.Kan (Báo Nhân Đạo của Đảng Cộng sản Pháp) như sau: “Tôi không có hạnh phúc được theo học ở trường đại học. Nhưng cuộc sống đã cho tôi cơ hội học lịch sử, khoa học xã hội và ngay cả khoa học quân sự. Phải yêu cái gì? Phải ghét cái gì? Cũng như tôi, tất cả người Việt Nam cần phải yêu độc lập, lao động, Tổ quốc”.

“Tất nhiên không phải riêng tôi mà toàn thế giới đều kính trọng những nhà báo chân chính. Tôi cũng có thời gian học làm báo, cũng có thời gian tôi bỏ ngòi bút, cầm súng để chống lại kẻ thù, chống lại chủ nghĩa thực dân. Khi tôi còn ở Pháp, khi còn biết ít tiếng Pháp tôi đã là Tổng Biên tập, Biên tập và phát hành cả một tờ báo”.

Bác thường nói với cán bộ: “Học thêm được một thứ tiếng nước ngoài coi như có thêm một chìa khoá để mở thêm một kho tàng tri thức. Việc học là việc suốt đời”.

Theo Ditichhochiminhphuchutich.gov.vn
Kim Yến
(st)

bqllang.gov.vn

Việc nhỏ, ý nghĩa to

Đời đời nhớ ơn Hồ Chủ tịchSinh thời, Bác Hồ đặc biệt quan tâm đến phong trào “Người tốt, việc tốt”

Ngày 24-11-1954, trên Báo Nhân Dân số 271, với bút danh C.B, Người viết bài “Việc nhỏ, ý nghĩa to”, nêu ý kiến nhận xét nhân việc các báo ở Thủ đô Hà Nội đăng tin nêu gương người tốt, việc tốt. Người yêu cầu “cần khen thưởng đúng mức để động viên mọi người hăng hái làm việc ích nước lợi nhà”.

Năm 1954, khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, Bác yêu cầu báo Đảng và của các đoàn thể mở ra mục: “Người tốt, việc tốt”. Bác nói: Đối với anh hùng, dũng sĩ, chiến sĩ thi đua được Đảng và Nhà nước khen thưởng thì phải qua nhiều cấp, nhiều ngành cân nhắc, xét duyệt. Còn với người tốt làm những việc tốt thì được khen thưởng có thể đơn giản hơn. Nếu Trung ương cho phép Bác làm, thì Bác nghe báo cáo, đọc báo và chỉ cần điều tra lại một chút cho đúng sự thật là Bác có thể thưởng Huy hiệu.

Theo Bác Hồ, “người tốt, việc tốt”, là những bông hoa đẹp trong vườn hoa đẹp của dân tộc. Người cho rằng, người tốt, việc tốt ở đâu cũng có, ngành giới nào, địa phương nào, lứa tuổi nào cũng có. Những việc làm của họ, dù nhỏ, nhưng giống như những giọt nước nhỏ thấm vào lòng đất, chảy về một hướng thành suối, thành sông và hợp thành biển cả… có một ý nghĩa lớn lao, thể hiện tinh thần trách nhiệm cũng như lòng nhân ái “thương người như thể thương thân”, “mình vì mọi người” của nhân dân ta.

Người minh họa, có cháu gái tên là Xuân ở Quảng Bình đã chiến đấu dũng cảm, góp phần bắn rơi máy bay Mỹ. Có những cụ ông, cụ bà chuyên nhận những con trâu ghẻ, trâu gầy của hợp tác xã chăn nuôi thành những con trâu béo khỏe có thể kéo cày, kéo gỗ được. Hay, hai cô con gái đi đường thấy cái hố nhỏ ở vỉa hè đã rủ nhau đi lấy đất lấp lại cho đồng bào khỏi vấp ngã. Một người nông dân đi giữa đường trời mưa thấy bao gạo của Nhà nước không có gì che phủ, đã cởi tấm ni-lông của mình ra đậy gạo cho Nhà nước. Tất cả những việc làm như vậy đều nói lên tinh thần yêu nước, đạo đức trong sáng, thuần phong mỹ tục của nhân dân ta.

Theo Bác, một người phải biết học nhiều người. Lấy gương tốt trong quần chúng nhân dân và cán bộ, đảng viên để giáo dục lẫn nhau, lấy quần chúng giáo dục quần chúng rất sinh động và có sức thuyết phục rất lớn. Đó cũng là một cách thực hành đường lối quần chúng trong công tác giáo dục. Chính những tấm gương người tốt việc tốt là động lực để mọi người cùng nhau phấn đấu, để cùng nhau trở thành những bông hoa trong vườn hoa người tốt việc tốt, cùng nhau trở thành những anh hùng đấu tranh dựng nước, giữ nước và phát triển đất nước.

Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn