Tag Archive | Hồ Chí Minh

Lần đầu xuất bản sách lịch về Bác Hồ

Xuyên suốt bộ lịch là 365 di ngôn của Bác Hồ được chọn lọc và dẫn nguyên văn từ Bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập (15 tập).

Bộ sách lịch “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” chính thức được xác lập kỷ lục là “Sách lịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên được xuất bản tại Việt Nam.”

Trung tâm sách Kỷ lục Việt Nam vừa chính thức xác lập kỷ lục này cho ba đơn vị đồng sở hữu là Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự Thật, ông Vũ Đức Loan và Công ty TNHH An Hảo.

Đây là bộ lịch đặc biệt cả về hình thức và nội dung được biên soạn công phu trong hơn ba năm. Bộ lịch khổ 24×41 cm được thiết kế mang dáng dấp cổ điển, nhưng lại hiện đại với 200 bức ảnh của Bác Hồ được một tập thể họa sỹ dày công họa từng chi tiết.

Mô tả ảnh. Mô tả ảnh.
Bộ sách lịch “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.”

Xuyên suốt bộ lịch là 365 di ngôn của Bác Hồ được chọn lọc và dẫn nguyên văn từ Bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập (15 tập). Đây là những lời kêu gọi, khuyên dạy, lời căn dặn, động viên của Bác Hồ gửi đến toàn Đảng, toàn dân, đến anh em bạn bè yêu chuộng hòa bình trên thế giới dựa theo hình ảnh của Bác.

Cùng với nội dung đó là 365 trích đoạn thơ lược dẫn từ kho di sản thơ Hồ Chí Minh, giúp ta hiểu thêm về Bác Hồ như một “Danh nhân văn hóa kiệt xuất” do Tổ chức UNESCO trao tặng.

Bộ lịch có thiết kế độc đáo, được lật qua mỗi ngày, mà hoàn toàn không phải xé sau khi sử dụng. Và sau khi sử dụng xong bộ lịch sẽ được lưu như một cuốn sách lịch hữu ích về Bác Hồ.

(Theo Vietnamplus)
Vkyno (st)

Sư cô học Bác Hồ “quan tâm đến mọi người hơn”

Sư cô Thích Ðàm Ngọc kể rằng, ấn tượng nhất là câu chuyện: “Phải biết quan tâm đến mọi người hơn”.

Sư cô Thích Ðàm Ngọc kể rằng, đã đọc rất nhiều mẩu chuyện về cuộc đời và thân thế sự nghiệp của lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhưng ấn tượng nhất vẫn là câu chuyện: “Phải biết quan tâm đến mọi người hơn”.

Sư cô Thích Ðàm Ngọc

Ðạo đức Hồ Chí Minh không chỉ là tấm gương tu dưỡng các đức tính tốt, mà còn là gương ứng xử theo truyền thống văn hóa Việt Nam. Ðây là chuẩn mực đạo đức, mà những người con Phật giáo luôn noi theo và lấy đó làm kim chỉ nam cho mình trong cuộc sống – đó là tâm sự của sư cô Thích Ðàm Ngọc, ở chùa Ninh Xá Hạ (xã Yên Minh, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Ðịnh).

Chúng tôi đến chùa Ninh Xá Hạ khi chiều tắt nắng. Tiếng chuông chùa thánh thót ngân nga, gợi khung cảnh yên bình của miền quê Yên Minh, Ý Yên nổi tiếng với nghề đúc đồng. Mảnh mai và hiền dịu, sư cô Thích Ðàm Ngọc tỉ mỉ pha trà mời khách.

Nghe chúng tôi hỏi về giải ba toàn quốc và giải nhì cấp tỉnh trong cuộc thi kể chuyện học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, sư cô khiêm tốn trả lời: Ðây là giải “áo nâu”, có gì đáng nói đâu!

Sư cô Thích Ðàm Ngọc kể rằng, đã đọc rất nhiều mẩu chuyện về cuộc đời và thân thế sự nghiệp của lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhưng ấn tượng nhất vẫn là câu chuyện: “Phải biết quan tâm đến mọi người hơn”.

Chuyện kể rằng, hồi Trường Ðảng Nguyễn Ái Quốc còn ở căn cứ kháng chiến Việt Bắc, một lần Bác Hồ đến dự lễ bế giảng của trường. Khi xuống thăm nhà bếp, thấy làm cỗ có vẻ linh đình, Bác nói với đồng chí phụ trách trường: “Này, bế giảng chứ không phải “bế bụng” đâu nhé! Kháng chiến còn khó khăn lắm đấy, các chú ạ”.

Ðến bữa ăn, thấy mâm cơm chỉ có một cái bát, một đôi đũa, Bác hỏi: “Thế Bác ăn với ai?”. Ðồng chí phụ trách  trường gãi đầu, gãi tai: “Dạ , xin để Bác ăn riêng cho tiện…”. Bác ngắt lời: “Không tiện gì cả. Thế các chú muốn Bác ăn trên ngồi trốc à?”.

Rồi Bác bảo kê thêm bàn ghế cho mọi người cùng ăn với Bác và gọi: “Ngồi cả vào đây, ăn chung với Bác, ăn một mình Bác ăn sao được?”.

Buổi tối, Bác ở lại trường làm việc. Các đồng chí mang đến một chiếc đèn tọa đăng rất sáng. Bác cầm cây đèn đó xuống văn phòng nhà trường bảo: Ðèn này to tốn dầu lắm! Bác còn làm việc khuya, một chiếc đèn con thôi cũng đủ. Các đồng chí đổi cho Bác cây đèn khác”.

Hôm sau, trước lúc chia tay trường, đồng chí phụ trách lễ phép hỏi Bác, có điều gì căn dặn thêm về công việc của trường. Người ân cần nói: “Tôi chỉ mong các đồng chí đừng quan tâm đến tôi quá, mà phải quan tâm đến mọi người hơn”.

Kể đến đây, sư cô Thích Ðàm Ngọc chậm rãi nói tiếp: Câu chuyện ngắn gọn, nhưng hàm súc ý nghĩa to lớn về hình ảnh một vị Chủ tịch nước giản dị, tiết kiệm. Người không bao giờ cho phép mình lãng phí dù chỉ một bữa ăn, hay một cây đèn dầu, tự hạn chế mình không ham mê vật chất, nhưng lại luôn quan tâm lo lắng cho dân, cho nước từ những điều nhỏ nhất như bát cơm, manh áo… suốt đời tâm niệm là công bộc của dân, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, luôn hòa mình vào cuộc sống chung của đồng bào, đồng chí, mà không nhận bất cứ một sự ưu tiên nào người khác dành cho mình.

Hình ảnh Người vui vẻ cùng cán bộ, nhân viên nhà trường bên bàn ăn, cho ta thấy một nhân cách hòa đồng, gần gũi, một trái tim nhân hậu, một tình thương vô bờ bến chỉ có ở người lãnh tụ cách mạng, một vĩ nhân. Sự bao dung bình dị, tình cảm yêu thương chân thành của Bác đã xóa đi khoảng cách giữa người lãnh tụ và quần chúng nhân dân.

Bác không đặt mình vào địa vị Chủ tịch nước hay một vị lãnh tụ cấp cao, không “quan liêu, hách dịch” như chúng ta thường gặp đâu đó trong xã hội, mà với mọi người, Bác thật gần gũi, thân thương nhường nào.

Ðúng như nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Người là Cha, là Bác, là Anh; Quả tim lớn, lọc trăm dòng máu đỏ”. Câu chuyện kết thúc bằng một lời nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng thật thấm thía, xúc động: “Tôi chỉ mong các đồng chí đừng quan tâm đến tôi quá, mà phải quan tâm đến mọi người hơn”.

Chúng tôi ngồi nghe, lặng đi vì xúc động và bị cuốn hút vào câu chuyện của sư cô Thích Ðàm Ngọc kể về Bác Hồ kính yêu. Những cảm xúc về vị cha già của toàn dân tộc Việt Nam bỗng ùa về thật sâu lắng qua giọng kể truyền cảm của sư cô.

Lặng đi hồi lâu, tôi mới hỏi: Vậy câu chuyện này có tác động gì đến đời sống của một người đi theo và phụng sự phật pháp như sư cô ?- Có chứ!- Sư cô trả lời và khẳng định: Câu chuyện luôn theo tôi hằng ngày trong cuộc sống.

Bởi những triết lý này không phải là điều gì lớn lao, khó làm trong cuộc sống hằng ngày. Những lời dạy của Bác không cao xa mà vô cùng giản dị – giản dị như chính cuộc đời của Người vậy.

Và chính nhân cách của Người, đạo đức của Người, cuộc đời của Người đã khắc sâu vào tiềm thức người dân Việt Nam nói chung, người con Phật giáo chúng tôi nói riêng những tình cảm không thể phai mờ.

Ðạo Phật có một câu kinh: “Hương của các loài hoa không bay ngược chiều gió. Hương của người đức hạnh bay ngược khắp muôn phương”. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người như vậy. Với tôi, học Bác cũng là học Phật và học Phật cũng là học Bác.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói về Phật giáo: Tôn chỉ mục đích của Ðức phật, nhằm xây dựng cuộc đời thuần mỹ, chí thiện, bình đẳng, yên vui và no ấm. Nếu cốt lõi của Ðạo phật là:  Từ, bi, hỷ, xả, vô ngã, vị tha, cứu khổ, cứu nạn; thì nội dung cơ bản của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cũng là cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư, cứu nước, cứu dân.

Ðó chính là hai điểm tương đồng của hai nền đạo đức, hai tư tưởng lớn hội tụ soi đường cho nhân loại hướng tới chân, thiện, mỹ. Dân tộc Việt Nam thật may mắn khi có một vị lãnh tụ như Người, đạo đức như Người. Người đã đi xa, nhưng tư tưởng và tấm gương đạo đức ngời sáng của Người vẫn sống mãi với thời gian.

Học theo Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, hằng ngày, sư cô Thích Ðàm Ngọc luôn phấn đấu là công dân mẫu mực, không ngừng tu dưỡng đạo đức, nêu cao tinh thần hòa hợp của Phật giáo, giữ gìn khối đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo, đem đạo vào đời, dìu dắt tín đồ phật tử xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, xây dựng chùa tinh tiến.

Theo Lê Phương Hiên
Nhân dân

Vkyno (st)

Chuyên cơ chở Bác Hồ đón khách tham quan

Chiếc chuyên cơ IL14-C482 từng chở Bác Hồ nhiều lần đi công tác được đặt tại bảo tàng quân sự Việt Nam

Sau khi được phục hồi, chiếc chuyên cơ IL14-C482 từng chở Bác Hồ nhiều lần đi công tác được đặt tại bảo tàng quân sự Việt Nam nhằm phục vụ khách tham quan trong và ngoài nước.

Chiếc máy bay IL 14 số hiệu VN-C482 là quà của Chính phủ Liên Xô tặng Bác Hồ vào năm 1958, nay được trưng bày trong khuôn viên bảo tàng quân sự Việt Nam.Chiếc máy bay IL 14 số hiệu VN-C482 là quà của Chính phủ Liên Xô tặng Bác Hồ vào năm 1958, nay được trưng bày trong khuôn viên bảo tàng quân sự Việt Nam.

Chiếc IL 14 VN-C482 đã trải qua hai lần phục chế, lần đầu tiên vào năm 2001, khi đó đang nằm tại trung đoàn 918.Chiếc IL 14 VN-C482 đã trải qua hai lần phục chế, lần đầu tiên vào năm 2001, khi đó đang nằm tại trung đoàn 918.

Trên chiếc IL 14 này có thiết kế một phòng riêng dành cho Bác làm việc và nghỉ ngơi.
Trên chiếc IL 14 này có thiết kế một phòng riêng dành cho Bác làm việc và nghỉ ngơi.

Khi phục hồi nguyên trạng, vỏ máy bay được làm lại bằng một loại nhôm đặc biệt được đặt hàng từ nước ngoài.
Khi phục hồi nguyên trạng, vỏ máy bay được làm lại bằng một loại nhôm đặc biệt được đặt hàng từ nước ngoài.

Chuyên cơ nằm giữa không gian oai hùng của bảo tàng quân sự Việt Nam.
Chuyên cơ nằm giữa không gian oai hùng của bảo tàng quân sự Việt Nam.

Sải cánh máy bay khá rộng, có in hình lá cờ Việt Nam.
Sải cánh máy bay khá rộng, có in hình lá cờ Việt Nam.

Cánh quạt được sơn lại màu.
Cánh quạt được sơn lại màu.

Sau khi được phục hồi, chiếc máy bay được đặt tại đây để phục vụ khách tham quan.
Sau khi được phục hồi, chiếc máy bay được đặt tại đây để phục vụ khách tham quan.

Được đặt cùng những chiếc máy bay, khí tài quân sự khác.
Được đặt cùng những chiếc máy bay, khí tài quân sự khác.

 Khá nhiều khách nước ngoài đến tìm hiểu về chuyên cơ này.
Khá nhiều khách nước ngoài đến tìm hiểu về chuyên cơ này.

(Theo Infonet)
Vkyno (st)

Gặp người phi công lái máy bay chở Bác Hồ

“Bác cháu ta đi công tác với nhau nhiều lần, hôm nay Bác định chụp chung với các cháu một bức ảnh để làm kỷ niệm”.

“Trước Bác chủ yếu đi bộ, sau đi ngựa, ôtô, giờ đi công tác xa bằng máy bay lại có các cháu phục vụ thì còn gì bằng. Các cháu cần luôn tu dưỡng, rèn luyện về học tập để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao”.

Chiếc máy bay IL14 từng chở Bác đi công tác nước ngoài, vừa được đưa về Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam. Đây là chiếc máy bay phục vụ Bác thời kỳ 1960 – 1963.

Những người lính đã gắn bó với chiếc máy bay giai đoạn này, giờ đã cao tuổi. Được sự chỉ dẫn của một cán bộ Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam, chúng tôi có dịp gặp đại tá Trần Văn Đông, phi công phục vụ Bác Hồ trên những chuyến bay IL14 này.

Dù đã 80 tuổi, nhưng ông Trần Văn Đông vẫn nhớ như in những chuyến công tác phục vụ Bác. Ông Đông kể: “Chiếc IL14 này là do Liên Xô tặng và bay phục vụ Bác chặng Hà Nội – Bắc Kinh giai đoạn 1960 – 1963.

e

Ông Nguyễn Văn Đông giới thiệu bức ảnh tổ bay IL14 vinh dự được chụp với Bác.

Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc (sau năm 1954), tôi được cử đi học bổ túc văn hóa rồi chọn đi học bay ở Trường Xuân (đông bắc Trung Quốc) đến tận năm 1959. Khi về nước, tôi được cử vào đoàn không quân vận tải đầu tiên (đoàn bay 919) và được chọn vào tổ bay chuyên cơ phục vụ Bác Hồ và lãnh đạo Đảng, Nhà nước đi công tác trong nước và quốc tế.

Những lần được phục vụ Bác trong các chuyến công tác trên chiếc IL14, được sống bên Bác, chúng tôi hiểu thêm rất nhiều điều về Bác, một lãnh tụ, một người cha vĩ đại có tấm lòng bao dung nhân ái, lối sống giản dị, gần gũi, phong cách nhanh nhẹn, ý chí kiên quyết. Người suốt đời chỉ lo cho dân, vì dân phục vụ”.

Ông Đông kể lại: “Chuyến bay đầu tiên được phục vụ Bác là khoảng tháng 3/1960, trong tổ phục vụ lúc đó có tôi duy nhất là người Việt Nam. Sau khi hỏi tên tuổi, quê quán, biết tôi quê Nghệ An, Bác bảo: “Vậy là đồng hương với Bác rồi đó”.

Sau đó Bác tâm sự, trước Bác chủ yếu đi bộ, sau đi ngựa, ôtô, giờ đi công tác xa bằng máy bay lại có các cháu phục vụ thì còn gì bằng. Các cháu cần luôn tu dưỡng, rèn luyện về học tập để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao”.

Ông Đông kể, vào tháng 8/1961, ông được phục vụ trong chuyến đưa Bác đi Bắc Kinh (Trung Quốc). Khi từ Bắc Kinh về tới sân bay Gia Lâm, khi xuống hết cầu thang, Bác thấy các đồng chí Trung ương ra đón, Bác nói: “Lần này, các chú ra đón Bác không có hoa à?”.

Các đồng chí nói: “Thưa Bác, chúng tôi sợ Bác phê bình”. Thế là Bác và đồng chí đều cười”. Ông Đông giải thích, có câu chuyện này là vì chuyến trước đó, Bác thấy các đồng chí Trung ương ra đón với một bó hoa, Bác hỏi: “Hoa để làm gì thế này?”.

Các đồng chí trả lời: “Thưa Bác, chúng tôi thấy Bác đi công tác về mừng quá nên mua hoa ra đón”. Bác bảo: “Các chú tiểu tư sản lắm đấy, người nhà đi công tác về mà cũng mua hoa ra đón”.

Một câu chuyện khác cho thấy Bác rất am hiểu về an toàn bay. Tháng 8/1962, tổ bay IL14 đưa Bác từ Bắc Kinh (Trung Quốc) về sân bay Gia Lâm, trong chuyến bay đó có đồng chí Văn, đồng chí Bảo, đồng chí Kỳ và đồng chí bí thư của đồng chí Trần Tứ Bình – Đại sứ của ta ở Bắc Kinh cùng về.

Khi máy bay hạ cánh xuống sân bay Gia Lâm đang lăn vào vị trí đậu, nhưng chưa vào tới nơi và máy bay cũng chưa tắt máy, đồng chí bí thư của đồng chí Bình chạy ra mở cửa máy bay. Bác bảo: “Chú mở cửa mà xảy ra không an toàn thì ai chịu trách nhiệm?

Việc đó là của các cháu phi công”. Đồng chí bí thư vội về vị trí ngồi. Sau khi máy bay vào vị trí đậu, tắt máy, ông Đông mời Bác xuống, Bác bảo: “Bây giờ Bác cháu ta đàng hoàng xuống”.

Chuyến bay cuối cùng ông Đông phục vụ Bác là tháng 3/1963, khi tổ bay sang Bắc Kinh đón Bác sau khi Bác từ Mátxcơva về. Về đến sân bay Gia Lâm, Bác bảo: “Bác cháu ta đi công tác với nhau nhiều lần, hôm nay Bác định chụp chung với các cháu một bức ảnh để làm kỷ niệm. Các cháu có đồng ý không?”.

Ông Đông thay mặt tổ lái trả lời: “Chúng cháu muốn lắm nhưng không dám thưa với Bác”. Bác nói: “Muốn mà không nói thì làm sao Bác biết được”. Khi chuẩn bị đứng vào chụp, ông Đông thấy một cháu bé chạy qua nên kéo vào. Bác hỏi “Cháu bé con của ai?” Ông Đông trả lời: “Thưa Bác, con của một đồng chí ở sân bay Gia Lâm”.

Thế là Bác đặt tay lên vai cháu bé cùng chụp ảnh. Đồng chí phóng viên nhiếp ảnh chụp xong thưa: “Thưa Bác, xong rồi ạ”. Bác bảo: “Phải nháy lại lần nữa cho chắc. Sau khi xong phải làm cho mỗi cháu một tấm thật đẹp, gửi tới tận tay cho các cháu”.

Đồng chí phóng viên trả lời: “Dạ thưa Bác, cháu rõ”. Lần đó Bác còn tặng cho mỗi người trong tổ bay một huy hiệu của Bác.

“Đó là tấm ảnh về chuyến bay cuối cùng của tôi phục vụ Bác trên chiếc IL14”, ông Đông tâm sự. Đã rất nhiều năm trôi qua, nhưng những kỷ niệm về Bác theo đại tá Trần Văn Đông đến tận ngày nay, nhất là mỗi dịp kỷ niệm Ngày sinh của Người.

Theo Báo Tin tức
Vkyno (st)

Trưng bày chuyên cơ từng chở Bác Hồ

Sau khi kết thúc quá trình phục hồi trạng thái ban đầu, chiếc chuyên cơ này sẽ được di dời về Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.

Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam phối hợp với Quân chủng PKKQ đã thành lập đoàn công tác tiến hành khảo sát và xác minh lý lịch khoa học cho chiếc máy bay IL-14 mang số hiệu VN-C 516 hiện đang lưu giữ tại Trung đoàn Không quân 918-Quân chủng PKKQ.

Chiếc IL-14 số hiệu VN-C 516 là một trong số những máy bay do chính phủ Liên Xô tặng nhân dân Việt Nam từ năm 1958, được Quân đội nhân dân Việt Nam sử dụng trong kháng chiến chống Mỹ và chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam. Chiếc IL-14 này có ý nghĩa đặc biệt vì nó là một trong những chiếc chuyên cơ Bác Hồ từng sử dụng lúc sinh thời.

Chiếc chuyên cơ IL-14 mang số hiệu VN-C 516 khi mới được phát hiệnChiếc chuyên cơ IL-14 mang số hiệu VN-C 516 khi mới được phát hiện

Thượng tá Lê Tôn Văn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Bảo đảm kỹ thuật hàng không Trung đoàn Không quân 918 cho biết: “Chúng tôi đã kiểm tra toàn bộ các thông số kĩ thuật của chiếc IL-14. Hiện nay, công tác phục hồi nguyên trạng đang được thực hiện và dự kiến đến hết quý 1 năm 2012 sẽ hoàn thành”.

Theo kết quả làm việc gần đây nhất giữa Bảo tàng Lịch sử Quân sự với Quân chủng PKKQ, sau khi kết thúc quá trình phục hồi trạng thái ban đầu cho chiếc chuyên cơ này, hai bên sẽ tiến hành bàn giao và di dời về Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Đây là một hiện vật có giá trị sẽ được Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam trưng bày đúng vào dịp kỷ niệm 122 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2012).

(Theo QĐND)
Vkyno (st)

Sẽ sửa phiên âm tên luật sư bào chữa cho Bác Hồ?

Gia đình luật sư Lôdơbi phải nhiều lần lên tiếng đính chính về cách đọc tên chưa chuẩn xác.

Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh, ông Chu Đức Tính, vừa lên tiếng đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo sửa tên phiên âm trong sách giáo khoa của luật sư đã bào chữa thành công cho Tống Văn Sơ (tức Bác Hồ) tại tòa án Hồng Kông năm 1931.

Theo ông Chu Đức Tính, gia đình luật sư luôn gọi tên ông là Lôdơbi, Bác Hồ cũng từng phát âm như vậy để nói về vị luật sư ân nhân của mình. Tuy nhiên, trong các cuốn sách giáo khoa do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành, tên của luật sư lại được phiên âm thành Lôdơbai.

Cách phiên âm chưa chuẩn xác từ sách giáo khoa làm nhiều người Việt Nam đọc sai tên luật sư Lôdơbi, khiến gia đình luật sư phải nhiều lần lên tiếng đính chính.

(Theo QĐND)
Vkyno (st)

Gặp người giữ kỷ lục thể hiện hình ảnh Bác Hồ

nguoi the hien ha BH
Hình tượng Bác trong cuộc trao giải thơ

tại đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm đầu năm 2013

Mặc dù đã ở tuổi xưa nay hiếm nhưng nghệ sĩ Văn Tân vẫn đi khắp nơi, mang hình ảnh Bác Hồ tới công chúng. Chúng tôi gặp ông tại cuộc trao giải thơ tại Khu đền thờ danh nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm, huyện Vĩnh Bảo – TP Hải Phòng. Rất đông các tác giả được giải và người yêu thơ tham dự buổi lễ đứng bật dậy bồi hồi, xúc động khi “Bác Hồ” (do nghệ sĩ Văn Tân thể hiện) bước ra vẫy chào và chúc mừng những tác giả được giải. Giọng nói của “Bác” ấm áp, cử chỉ bình dị thân tình đã khiến cho buổi lễ trang trọng và sôi nổi hẳn lên.

Sau buổi lễ, nghệ sĩ Văn Tân đã dành thời gian trò chuyện với những người quan tâm tới công việc đóng vai Bác Hồ suốt mấy chục năm qua của mình. Năm 1970, sau khi Bác Hồ đã qua đời, Đảng ta đã có chủ trương đưa hình ảnh Bác lên sân khấu. Nhân dịp này nghệ sĩ Văn Tân lúc đó là diễn viên ở đoàn kịch Hà Bắc đã mạnh dạn nghiên cứu đóng vai Bác Hồ. May mắn của Văn Tân là hai lần được gặp Bác trước khi vào vai Bác. Đó là vào năm 1961 và 1963 trên chính quê hương. Từ đó hình ảnh Bác luôn hiện lên trong tâm trí của người nghệ sỹ và ông quyết tâm thể hiện ước mơ lớn của mình là đóng vai Bác Hồ trên sân khấu. Ông lấy cây đay ngâm kỹ, đập dập dùng sợi tết thành râu, tóc giả, tự hóa trang, tự viết hoạt cảnh, tập diễn với đoàn kịch Hà Bắc để thể hiện hình tượng Bác Hồ. Kết quả thật bất ngờ, rất nhiều người xem xong đã công nhận Văn Tân hóa trang giống Bác và diễn cũng có nhiều nét giống Bác. Đó là những động viên, khích lệ để Văn Tân càng tự tin, ra sức nghiên cứu sâu hơn ngôn ngữ, động tác của Bác.

Để có hình thức giống Bác nghệ sĩ Văn Tân đã phải hoá trang tất cả 17 chi tiết trên khuôn mặt như mũi, trán, cằm, râu… Lần đầu tiên hoá trang thành Bác Hồ các chuyên gia đã làm mất 10 tiếng đồng hồ mới xong. Riêng việc học nói giọng và cử chỉ đi đứng của Bác cũng mất rất nhiều thời gian, nhất là luyện ánh nhìn trìu mến thân thương của Người là vô cùng khó. Ngoài ra nghệ sĩ Văn Tân còn được đích thân cụ Hà Huy Giáp – nguyên Viện trưởng Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh giảng giải cặn kẽ những đức tính của Bác để cảm nhận được từ trong ra ngoài một hình tượng vĩ đại mỗi khi nhập vai.

Nghệ sĩ Văn Tân nói: “Tôi đã xem đi xem lại hàng nghìn lần những băng đĩa về Bác Hồ để bắt chước cho thật giống, cứ có thời gian rảnh rỗi là tôi lại tập nói giọng của Người. Giọng Bác Hồ là giọng miền Trung pha Bắc và trầm ấm, còn giọng của tôi lại giọng cao nên rất khó bắt chước, tuy nhiên với tấm lòng kính yêu Bác tôi đã vượt qua, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao”.

Mặc dù đã đóng vai Bác Hồ hàng nghìn lần nhưng với nghệ sĩ Văn Tân thì lần nào cũng như là lần đầu tiên nhập vai vậy. Mỗi khi ra sân khấu giơ tay chào khán giả là tiếng hoan hô cổ vũ lại vang lên khiến cho buổi biểu diễn trở nên sống động lạ thường.

Lê Tự
Theo Báo Đại Đoàn Kết
Kim Yến
(st)

bqllang.gov.vn

Tài chiêu hiền đãi sĩ của Bác Hồ

Bác Hồ đã nói: “Dụng nhân như dụng mộc”, dùng người như dùng gỗ, gỗ tốt phải làm đồ quý.

Nhân cách và ứng xử của Bác Hồ không chỉ thu hút trí thức kiều bào về nước xây dựng quê hương mà còn động viên họ một lòng một dạ phụng sự Tổ quốc.

Cách sử dụng nhân tài của Bác Hồ là một bài học sâu sắc đối với những người và cơ quan quản lý sử dụng cán bộ, công chức trong hiện tại và cả tương lai. Xin giới thiệu bài viết của giáo sư Nguyễn Hoa Thịnh về vấn đề này.

’‘Dụng nhân như dụng mộc”

Những ngày đầu cách mạng, Bác đã mời về nước nhiều trí thức Việt Nam ở nước ngoài. Họ có chung ba đặc điểm: yêu nước kiên trung, có kiến thức uyên thâm và có cống hiến đích thực, đã được kiểm nghiệm qua thực tế.

Thế hệ trí thức Việt Nam đầu tiên sau Cách mạng Tháng Tám được lịch sử ghi nhận như Vũ Đình Hoè, Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng… đều là nhân tài Việt Nam được đào tạo ở nước ngoài, trở về nước góp sức xây dựng đất nước.

Cách sử dụng nhân tài của Bác là một kinh nghiệm luôn mới đối với thực tế hiện nay. Có người Bác mời về nước làm việc ngay, nhưng cũng có người Bác chờ họ học tiếp rồi mới mời về.

d Nếu nhân cách của Bác thu hút các học giả thời bấy giờ về đóng góp cho quê hương một cách tự nguyện thì cách hành xử và tri thức của Người khiến họ một dạ dốc tâm dốc sức cho Tổ quốc.

Bác cũng dành những công việc phù hợp cho từng “hiền sĩ”. Người giao cho giáo sư Tạ Quang Bửu nhiều trọng trách ở Bộ Quốc phòng và trong Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa, giáo sư Trần Đại Nghĩa phụ trách ngành quân giới Việt Nam và nhiều trọng trách khác, giáo sư Nguyễn Văn Huyên phụ trách ngành giáo dục, giáo sư Tôn Thất Tùng, Hồ Đắc Di… thì tiếp tục cống hiến và dìu dắt các thế hệ ngành y phục vụ kháng chiến, kiến quốc.

Nếu nhân cách của Bác thu hút các học giả thời bấy giờ về đóng góp cho quê hương một cách tự nguyện thì cách hành xử và tri thức của Người khiến họ một dạ dốc tâm dốc sức cho Tổ quốc. Và thực tế, sự phát triển rất nhanh chóng về mọi mặt của đất nước những ngày đầu giành độc lập sau hàng thế kỷ bị nô lệ là một bằng chứng sống động về tài “chiêu hiền đãi sĩ” của Người.

Tôi nhớ một câu nói về Bác, đại ý, ở Nguyễn Ái Quốc toả ra ánh sáng của một nền văn hoá, không phải của châu Âu mà có lẽ là nền văn hoá của tương lai. “Con mắt tương lai” của Hồ Chủ tịch khiến chúng ta nể phục.

Dõi vào thực tế hiện nay, đâu đó vẫn còn tồn tại cách đánh giá người tài theo hệ thống “chức quyền”. Trong khi đó, người trí thức muốn cống hiến phải dành toàn tâm, toàn sức và thời gian cho nghiên cứu, không thể phân tâm làm những công việc hành chính. Vì lẽ đó, vô hình trung, những người làm khoa học thường có vị trí không cao trong xã hội.

Bác Hồ đã nói: “Dụng nhân như dụng mộc”, dùng người như dùng gỗ, gỗ tốt phải làm đồ quý. Những người trí thức theo Bác về xây dựng đất nước trong những buổi đầu đã nổi danh về tài, trí, hơn thế là lòng yêu nước sắt son. Chính Bác và dân tộc khi đó đã thổi vào lòng họ những tình cảm và sự trân trọng vô song với đất nước, làm bùng lên khát khao cống hiến cho nước nhà. Đối với các nhà khoa học, vốn là những tinh hoa của khoa học thế giới chứ không riêng gì Việt Nam, “đồng lương” tinh thần ấy có giá trị gấp nhiều lần ưu đãi về vật chất.

Cơ hội cũng là thách thức với nhà khoa học trẻ

dGiáo sư Nguyễn Hoa Thịnh.

Các nhà khoa học thời chúng tôi, có thể nói, có nhiều thuận lợi hơn bây giờ. Chúng tôi được bao cấp hoàn toàn khi đi học và không phải lo nghĩ về chuyện xin việc khi học xong, vì đã có Nhà nước phân công công tác. Tuy vậy, chúng tôi không bao giờ thoả mãn học đến đâu là đủ.

Hiện, như chúng ta đã biết, khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Nếu trước kia, từ lúc có phát minh khoa học đến lúc áp dụng vào thực tiễn phải mất nhiều năm, thậm chí mất hàng thế kỷ thì ngày nay, khoảng cách đó đã rút ngắn lại, đến mức gần như không còn ranh giới, nghĩa là nhất thể hóa khoa học và sản xuất. Đó là cơ hội lớn cho các nhà khoa học trẻ, nhưng cũng là thách thức cho họ. Nếu họ bằng lòng với những cái đã có thì họ rất nhanh sẽ trở nên lạc hậu. Vì thế, hơn bao giờ hết, các nhà khoa học trẻ cần ghi nhớ lời Bác dạy: luôn phải gắn chặt giữa lý luận và thực tiễn.

Những nhà khoa học trẻ hiện rất nhanh nhạy và khá thực tiễn. Họ chỉ cần được chỉ dẫn đúng hướng, Nhà nước quan tâm thì sẽ tiến rất xa. Sự quan tâm của Nhà nước thể hiện bằng hệ thống giáo dục, khoa học công nghệ và sản xuất cùng những chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài…

Giáo sư, Nhà giáo nhân dân, trung tướng Nguyễn Hoa Thịnh nguyên là giám đốc Học viện kỹ thuật quân sự, chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật Quân đội nhân dân Việt Nam, giám đốc Trung tâm (Viện) Khoa học và Công nghệ quân sự, hiện là chủ tịch Hội đồng quản lý Viện Phát triển công nghệ, truyền thông và hỗ trợ cộng đồng.

(Theo GS. Nguyễn Hoa Thịnh – Đất Việt)
Vkyno (st)

Võ Quý Huân và mẻ gang đầu tiên đúc tượng Bác Hồ

Mang trong mình dòng máu Lạc Hồng, là một trí thức yêu nước, ông tích cực hoạt  động trong phong trào của Việt kiều hướng về Tổ quốc.

 – Võ Quý Huân sinh năm 1915 trong một gia đình giáo học, tại miền quê Thanh Tùng, Thanh Chương, Nghệ  An. Năm 1935-36, ông tham gia làm báo L’ activité Indochinoise và in truyền đơn chống chế độ thực dân Pháp. Bị lộ, năm 1937, ông phải trốn sang Pháp vừa làm vừa học… Năm 1940 đã tốt nghiệp 3 bằng kỹ sư: Cơ điện, Đúc, Công nghệ chuyên nghiệp và là đảng viên Cộng sản Pháp từ tháng 7/1939. 

Sinh thời có nhiều đóng góp nhưng có lẽ cuộc đời ông có 2 sự việc để lại dấu ấn sâu sắc. Đó là, Võ Quý Huân được Hồ Chủ tịch mời cùng Người từ Pháp trở về nước cuối năm 1946 và, mẻ gang đầu tiên của ngành Công nghiệp non trẻ do chính tay ông cùng các cộng sự rót ra, góp phần tạo nên những trái bom, những quả mìn diệt giặc Pháp.

Được theo Cụ Hồ về nước  

Là 1 trong những kĩ sư Đúc – luyện kim người Việt  đầu tiên tốt nghiệp tại Pháp, ông hành nghề tại nhiều công ty, nhà máy. Mang trong mình dòng máu Lạc Hồng, là một trí thức yêu nước, ông tích cực hoạt  động trong phong trào của Việt kiều hướng về Tổ quốc.

Nghe tin Cách mạng Tháng Tám thành công, ông cùng các Việt kiều (là  đảng viên Cộng sản Pháp) thành lập ra “Việt Nam đồng chí Hội” rồi ông làm thư kí cho Hội Pháp-Việt và Hội Việt-Pháp hữu nghị. Tháng 3/1946, khi phái đoàn Chính phủ ta sang Pháp đàm phán tại Hội nghị Phông-ten Nơ-blô, ông đã cùng Hội Việt kiều tổ chức bà con ta ra sân bay đón đoàn. Sau đó là người giao dịch cho phái đoàn những ngày ở Paris.

Bà con Việt kiều thời ấy kể lại Võ Quý Huân thoăn thoắt như con thoi, với camera trên tay, luôn lia máy chớp lấy những hình ảnh tư liệu quý giá có hình ảnh Hồ Chủ tịch. Khi về nước, những tư liệu này được bàn giao cho ông Nguyễn Sơn.

(Năm 1974, khi đạo diễn điện ảnh Phạm Kỳ Nam sang Pháp làm bộ phim “Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh” (ghi lại thời gian Bác sống và hoạt động tại đây) đã sưu tầm đuợc hơn 1000 thước phim tư liệu do 2 ông Mai Trung Thứ và Võ Quý Huân quay khi Bác sang Pháp năm 1946).

Cũng chính thời gian ấy là thời gian Võ Quý Huân được gần gũi nhiều với Cụ Chủ tịch. Con người, tính cách của Cụ đã để lại trong Võ Quý Huân những ấn tượng đặc biệt. Từ khâm phục ở đức độ, tài năng, ông đem lòng yêu mến rồi đặt niềm tin tưởng hoàn toàn ở Người.

Kĩ sư Võ Quý Huân (1915-1967)

Thấy kết quả của hội nghị bất thành, Hồ Chủ tịch cho gọi số trí thức gần gũi lần lượt lên gặp. Bác bảo “Hội nghị Phông-ten Nơ-blô không thành công, Bác sắp về nước. Các chú chuẩn bị để vài ngày nữa chúng ta lên đường. Chú đã sẵn sàng chưa?”. Cũng chỉ cần 1 đơn xin nghỉ việc, còn mọi thủ tục khác đã có người lo (vì Hội Việt kiều yêu nước khi đó khá mạnh, người ở lại sẵn sàng giúp người ra đi).

Ngày 16/9/1946, chuyến tầu hỏa đặc biệt, có 2 toa dành riêng, đưa Bác Hồ và đoàn tùy tùng rời Paris xuôi về  phía nam. Trên tầu có 6 người tháp tùng: thư kí Đỗ Đình Thiện (tư sản yêu nước, đảng viên Cộng sản Pháp), đại tá cận vệ Vũ Đình Huỳnh cùng 4 trí thức Việt kiều: bác sĩ Trần Hữu Tước, kĩ sư Mỏ-Luyện kim Võ Đình Quỳnh, kĩ sư Phạm Quang Lễ (sau này là Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa) và kĩ sư Đúc-luyện kim Võ Quý Huân.

(Với  ông Lễ thì khá đơn giản vì đang sống độc thân, riêng ông Tước và ông Huân cũng phải có những thu xếp khéo léo với gia đình. Ông Huân có người vợ Pháp gốc Nga cùng  cô con gái. Ông hứa về nước một thời gian rồi sẽ đón mẹ con cùng về).

Từ Cảng Toulon, Thông báo hạm Dumont d’Urville của Hải quân Pháp đưa Hồ Chủ tịch về Việt Nam vào sáng 19/9/1946. Suốt 1 tháng lênh đênh trên biển, trên chính chiến hạm của kẻ địch có trang bị đại bác 155mm, pháo phòng không, súng đại liên cùng 150 sĩ quan, thủy thủ do 1 đại tá chỉ huy. Có khác gì “chim treo trên lửa”! Nhưng Bác cùng đoàn tùy tùng đã vượt qua mọi khiêu khích; thậm chí các sĩ quan, thủy thủ Pháp phải kính trọng.

Ngày 20/10/1946, Thông báo hạm cập cảng. Các đồng chí Phạm Văn  Đồng, Võ Nguyên Giáp cùng nhân dân Hải Phòng đã chào đón nồng nhiệt…

Kĩ sư Võ Quý Huân với mẻ gang đầu tiên 

Trở về nước, kĩ sư Phạm Quang Lễ được giao ngay trọng trách – Cục trưởng Cục Quân giới, còn kĩ sư Võ Quý Huân – Giám  đốc Sở Khoáng chất kỹ nghệ Trung bộ.

Ngày 19/12/1946 – toàn quốc kháng chiến. Võ Quý Huân chỉ  huy sơ tán 2 nhà máy Xe lửa Tràng Thi và Điện Bến Thủy lên rừng núi phía tây. Các nhà máy Kinh tế  1, 2, 3 cùng trường Cán bộ kỹ thuật Trung bộ  lần lượt được thành lập.

Tại Nhà máy Kinh tế 3 đã xây dựng lò cao sản xuất gang đầu tiên, phục vụ kháng chiến.

Sau được gọi là Nhà máy Kim khí kháng chiến (gọi tắt 3KC) do Võ Quý Huân làm giám đốc kiêm “tổng công trình sư” thiết kế lò cao 3KC1. Cộng sự  lúcđó gồm: đốc công Lê Tiến Văn, tổ trưởng luyện gang Lê Huy Yêm, Nguyễn Thái Đồng – công nghệ luyện cốc, Lê Khánh Cư – phụ trách năng lượng…

Mày mò, thử nghiệm. Chiều 15/11/1948, mẻ gang đầu tiên – từ  quặng sắt Vân Trì, Nghi Lộc, Nghệ An đã được nhiệt luyện, nóng chảy trong lò cao 450 lít (cao 2,4m, nhiệt độ lò: 400 độ C, áp lực gió 400 mm cột nước). Dòng suối gang chảy ra trong sự reo hò của cán bộ, công nhân nhà máy cùng bà con Cầu Đất, Con Cuông, Nghệ An. Bà con dắt ngay con bò mộng tặng, giết thịt ăn mừng những thỏi gang đầu tiên.

Trước niềm vui này, 3 công nhân Hiếu, Huệ, Thư tha thiết đề nghị giám đốc cho dùng các thỏi gang đầu tiên đúc tượng Bác Hồ để cảm ơn Người đã đưa các trí thức yêu nước từ Pháp về, xây dựng lò luyện kim ngay trên quê hương Xô viết Nghệ Tĩnh. Anh em muốn báo cáo với Bác “ngành Đúc-Luyện kim non trẻ sẵn sàng có sản phẩm phục vụ kháng chiến”.

Ba công nhân (chưa 1 ngày được học kỹ thuật đúc) đã mày mò trong 5 ngày và cho ra bức tượng bán thân của Bác. Ai xem cũng khen rất giống. Bức tượng được chuyển về Sở Khóang chất kỹ nghệ Trung bộ rồi đầu 1949 được đem đi triển lãm ở Liên khu IV, sau đó chuyển ra Việt Bắc.

 Những ngày Bác sang Paris 1946. Bác đang bế cháu gái Võ Quý Việt Nga và trò chuyện với các trí thức Việt kiều

Sau đó, lò  cao 3KC2, 3KC3 với dung tích 1m3 lần lượt ra đời. Đồng chí Trần Đăng Ninh đã vào tận nơi kiểm tra. Sau đó Tổng giám đốc Nha Khoáng chất kỹ nghệ  vào và có báo cáo ra Việt Bắc: “Than Khe Bố hết xấu rồi/ Thượng lò lớn, nhỏ đồng thời ra gang/ Kính thưa Thứ trưởng Đỗ Hoàng/ Định ngày vào để sửa sang khánh thành”.

Theo sau đó những trái mìn, những quả lựu đạn, những vũ  khí “made in Vietnam” được chế tạo theo thiết kế của ông Trần Đại Nghĩa và sản xuất đại trà bằng gang của Võ Quý Huân lần lượt ra chiến trường, góp phần vào công cuộc kháng chiến.

Chuyện sau này mới kể  

Không chỉ là người làm ra mẻ gang đầu tiên của ngành Đúc-Luyện kim Việt Nam mà Võ Quý Huân còn là người thầy đào tạo ra những “thợ cả” đầu tiên chuyên ngành Đúc-Luyện kim.

Các học trò từ thời kháng chiến: Hà Học Trạc, Hoàng Bình, Thái Duy Thẩm, Nguyễn Đình Nam, Nguyễn Hựu, Nguyễn Thái Đồng, Phan Cầu… và sau ngày hòa bình 1954: Trần Lum, Lê Ba, Trần Bạch Đằng, Vũ Đình Hoành… đều trở thành những cán bộ chủ chốt trong ngành Đúc- Luyện kim và Bộ Công nghiệp nặng. Sau này, ông được bầu là Phó Chủ tịch đầu tiên của Hội Đúc-Luyện kim.

Công lao của ông với đất nước là rất lớn nhưng không thể không nhắc đến sự hy sinh hạnh phúc cá nhân cho dân tộc. Khi trở về nước, ông phải xa vợ và con gái. Không ngờ, cuộc chia ly ấy kéo dài hàng chục năm.

Không thể quay lại Pháp ngay. Thời gian trôi qua, ông xây dựng gia đình mới. Với tình yêu tha thiết với ngành nghề mà con trai đầu – sinh đúng thời gian cho ra mẻ gang đầu tiên – được đặt tên Võ Quý Gang Anh Hào, sau này là Võ Quý Thép Hăng Hái.

Nhưng cũng chừng ấy năm, ông trăn trở vì còn có 1 gia đình ở lại Pháp. Thậm chí, con gái ông từng “mang hận với người cha thất hứa”. Trước khi nhắm mắt (tháng 9/1967) ông trăng trối hết với tổ chức và gia đình.

Và cũng phải gần 50 năm sau ngày chia ly, con gái Võ Quý Hòa Bình cùng cháu ngoại của ông đã đến Paris, tìm đến nhà chị Võ Quý Việt Nga. Cuộc trùng phùng với đầy nước mắt đã làm chị Việt Nga hiểu hơn về bố Võ Quý Huân đã hi sinh hạnh phúc và sự nghiệp để phụng sự Tổ quốc. Gia đình đoàn tụ, âu cũng làm cho ông dưới suối vàng thanh thản.

Võ Quý Huân, 1 trí thức yêu nước, đã có những đóng góp vô cùng to lớn cho dân tộc. Nhân dân không bao giờ quên ông!

Trần Kiến Quốc
Vkyno (st)

Mong ước của Bác Hồ

“Tôi chỉ có một mong ước là sớm trở về Tổ quốc tôi”.

– Có mặt ở Moscow để dự Đại hội VI Quốc tế Cộng sản, chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc đã nói với nhà văn Ilia  Êrenbua: “Tôi chỉ có một mong ước là sớm trở về Tổ quốc tôi”.

Ngày 25/9/1942, tại nhà tù của Quốc dân Đảng Trung Hoa, Bác sáng tác hai bài thơ chữ Hán với đề tựa “Trung thu”:

“ I. Trung Thu vành vạnh mảnh gương thu/ Sáng khắp nhân gian bạc một màu/ Sum họp nhà ai ăn Tết đó/ Chẳng quên trong ngục kẻ ăn sầu”; “II. Trung Thu ta cũng Tết trong tù/ Trăng gió đêm thu gợn vẻ sầu/ Chẳng được tự do mà thưởng nguyệt/ Lòng ta vời vợi mảnh trăng thu”.

25-9-1966 HCM thăm các chiến sĩ lực lượng phòng không bảo về thủ đô.jpg (99KB)Ngày 25/9/1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm các chiến sĩ lực lượng phòng không bảo vệ thủ đô.

7 năm sau, Bác Hồ viết thư gửi các cháu thiếu nhi nhân Tết Trung thu kháng chiến:

“Mục đích của Bác và Đoàn thể cùng Chính phủ là cốt xây dựng cho các cháu đời sống thái bình, tự do, sung sướng”. 

Cuối thư Bác viết tặng bài thơ: “Ai yêu các nhi đồng/ Bằng Bác Hồ Chí Minh?/ Tính các cháu ngoan ngoãn/ Mặt các cháu xinh xinh/ Mong các cháu cố gắng/ Thi đua học và hành/ Tuổi nhỏ làm việc nhỏ/ Tuỳ theo sức của mình/ Để tham gia kháng chiến/ Để gìn giữ hoà bình/ Các cháu hãy xứng đáng/ Cháu Bác Hồ Chí Minh”. 

Ngày 25/9/1965, Bác Hồ và Bác Tôn viết chung mấy câu thơ gửi cho các cháu học sinh Trường Hoàng Lệ Kha” ở vùng giải phóng Tây Ninh hứa: “Nam Bắc sẽ sum họp một nhà/ Bác cháu ta sẽ gặp mặt trẻ già vui chung/ Nhớ thương các cháu vô cùng/ Mong sao mỗi cháu một anh hùng thiếu nhi”. 

Trước đó, ngày 25/9/1947, Bác viết thư gửi cụ Võ Liêm Sơn, Chủ tịch “Uỷ ban Trung ương Mùa Đông binh sĩ” xin được gửi một tháng lương:  “Nhờ Cụ mua giùm vật liệu và may giùm mấy chiếc chăn áo cho chiến sĩ, gọi tỏ chút lòng thành. Đồng bào ta đã giúp nhiều. Lần này, mặc dàu hoàn cảnh khó khăn, nhưng tôi rất mong đồng bào cũng ra sức giúp, để cho chiến sĩ khỏi lạnh lùng và đủ ấm áp để ra sức xung phong diệt địch”.   

Ngày 25/9/1954, Bác viết bài “Các lãnh tụ Trung Quốc” trên báo “Nhân Dân”: “Đối với Việt Nam cần kiệm liêm chính là đức tính của những người cách mạng Việt Nam phải thực hiện được”.

X&N
Vkyno (st)

Thư Trung Thu thời kháng chiến của Bác Hồ

Ngày sau, các cháu là người chủ của nước nhà, của thế giới. các cháu đoàn kết thì thế giới hoà bình và dân chủ, sẽ không có chiến tranh.

– “… Lòng thân ái đó rất là quý, chúng tôi rất cảm động và cám ơn. Nay tôi và Phái bộ sắp trở về nước, chúng tôi gửi lời chào và khuyên tất cả anh chị em kiều bào : 1. Phải triệt để đoàn kết 2. Ra sức tuyên truyền và ủng hộ mọi phương diện cho Tổ quốc 3. Thực hành khẩu hiệu Đời sống mới : cần , kiệm, liêm, chính  4. Mỗi người thạo một nghề để mai sau về nước giúp ích cho cuộc xây dựng nước Việt Nam mới”.Thư đề ngày 12/9/1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi kiều bào Việt Nam tại Pháp  trước khi lên đường về nước, cảm ơn sự ủng hộ và căn dặn bà con Việt kiều.

“Cũng như đường xa, đi đến nơi thì thường nhọc mệt, sự nghiệp kháng chiến gần đến lúc thành công thì càng nhiều nỗi gian nan. Vậy chúng ta đã đoàn kết, càng phải đoàn kết chặt chẽ thêm, đã tiến bộ càng phải cố gắng mãi, chớ thấy bại mà nản, chớ thấy đắc thắng mà kiêu… Trước mặt trận cũng như ở hậu phương, muôn người như một, đều cùng quyết tâm làm trọn nhiệm vụ kháng chiến cứu quốc của mình. Như thế thì kháng chiến nhất định thành công cũng như Cách mạng tháng Tám thành công vậy”. Trích thư gửi đồng bào Liên khu III, đề ngày 12/9/1947.

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi trên chiến khu thời kháng chiến chóng Pháp.jpg (64KB)Bác Hồ với các cháu thiếu nhi trên chiến khu thời kháng chiến chống Pháp.

“Trung Thu trăng sáng như gương/ Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng/ Sau đây Bác viết mấy dòng/ Gửi cho các cháu tỏ lòng nhớ nhung”. Trong thư có đoạn: “Ngày nay các cháu là nhi đồng. Ngày sau, các cháu là người chủ của nước nhà, của thế giới. Các cháu đoàn kết thì thế giới hoà bình và dân chủ, sẽ không có chiến tranh… Các cháu biết ghét, biết yêu, biết gắng, các cháu đoàn kết và thi đua như thế thì kháng chiến sẽ chóng thắng lợi, thì Trung Thu sẽ vui vẻ hơn…”. Thư Trung Thu đề ngày 12/9/1951.

“Một năm đến Tết Trung Thu, Bác càng nhớ các cháu. Trung Thu trăng trong gió mát là cảnh thái bình. Mục đích của Bác và Đoàn thể cùng Chính phủ là cốt xây dựng cho các cháu đời sống thái bình, tự do và sung sướng… Nhân dịp Tết Trung Thu, Bác gửi các cháu thư này: Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh? Tính các cháu ngoan ngoãn. Mặt các cháu xinh xinh. Mong các cháu cố gắng. Thi đua học và hành. Tuổi nhỏ làm việc nhỏ. Tuỳ theo sức của mình. Để tham gia kháng chiến. Để gìn giữ hoà bình. Các cháu hãy xứng đáng. Cháu Bác Hồ Chí Minh”.
 Thư Trung Thu năm 1952.

X&N
Vkyno (st)

Đặc phái viên ngoại giao của Bác Hồ năm 1945

Sau ngày Cách mạng thành công, Trần Đình Long được Đảng giao nhiệm vụ làm đặc phái viên ngoại giao cho Hồ Chủ tịch.

 – Nhân dịp tháp tùng đại tá Lê Trọng Nghĩa, Ủy viên Ủy ban Khởi nghĩa Hà Nội 19/8/1945, ra Hà Nội dự giao lưu trực tuyến đêm 17/8/2005, trên VTV1 với chủ đề “60 năm: Những thông điệp từ quá khứ”, tôi nhận được những thông tin quý báu về gia đình ông Trần Đình Long (cố vấn của Uỷ ban khởi nghĩa).

d

“Ông cố vấn” Trần Đình Long.

Chiều chủ nhật 21/8/2005, tôi đến thăm chị Phong, con gái lão  cán bộ cách mạng Trần Đình Long, tại quận Bình Thạnh, TP.HCM. Chị cảm động kể: “Ba tôi sinh năm 1904.

Sau khi tốt nghiệp trung học ở Nam Định, ông sang Pháp học và tham gia hoạt động. Tại đây, ông được Đảng CS Pháp giới thiệu sang học tại trường Đại học CS Lao động Phương Đông tại Moscow từ 1928-31. Tốt nghiệp, ông trở lại Pháp rồi về VN. Tàu vừa cập bến, ông bị mật thám Pháp bắt vì tội “vượt biên sang Nga trái phép”.

Sau 4 tháng không có chứng cứ, chúng phải thả. Trần Đình Long tiếp tục hoạt động tại Hà Nội, rồi kết hôn với cô gái Hà Nội tên là Phương. Hai vợ chồng kinh doanh sách báo tiến bộ tại số nhà 26 phố Chợ Đồng Xuân. Thời kì Mặt trận Dân chủ (1936-39), ông hoạt động báo chí công khai của Đảng.

Ông có viết thiên kí sự “Ba năm ở nước Nga Xô viết” giới thiệu về cuộc sống tự do, bình đẳng, hạnh phúc của nhân dân Liên Xô. Tháng 8/1939, khi vào Thanh Hoá phát hành báo chí, ông lại bị bắt vì lí do “đi cổ động nhân dân chống thuế”.

Năm 1940, chính quyền Pháp bắt ông lần thứ ba với tội danh “cộng tác với báo chí cộng sản và cổ động dân chúng chống chính phủ bảo hộ”. Ông bị đày lên Sơn La cùng các ông Nguyễn Lương Bằng, Lê Thanh Nghị, Xuân Thuỷ, Xích Điểu…

Trong thời gian ở tù, ông đã sáng tác nhiều tác phẩm kịch nói, cải lương, tuồng chèo và lập cả “Gánh hát phiêu lưu” của tù chính trị. Tháng 3/1945, Nhật đảo chính Pháp, chi uỷ Đảng CS ngục Sơn La đấu tranh với giám ngục đòi giải phóng. Về đến Hà Nội, ông liên lạc ngay với Xứ uỷ Bắc kỳ và được giao nhiệm vụ “cố vấn” cho Uỷ ban khởi nghĩa Hà Nội.”

Ông Lê Trọng Nghĩa sôi nổi kể lại: “Hầu hết anh em trong Uỷ ban khởi nghĩa đều là học sinh, sinh viên, tuổi đời mới ngoài 20. Riêng anh Trần Tử Bình và anh Trần Đình Long già giặn và từng trải hơn. Anh Long làm cố vấn, còn anh Bình là thường vụ Xứ uỷ phụ trách 10 tỉnh đồng bằng Bắc bộ, nhưng luôn theo sát Uỷ ban khởi nghĩa Hà Nội.

Ngay hôm 16/8, anh Khang cùng tôi và anh Long vào gặp cụ Phạn Kế Toại để thương thuyết nhưng cuộc họp bất thành. Sau ngày Uỷ ban chuyển hẳn vào 101 Gambetta (101 Trần Hưng Đạo), anh Long luôn đưa ra những ý kiến sắc bén để đối phó với các tình huống.

Chiều 19/8, Thường vụ và Uỷ ban quân sự cách mạng giao nhiệm vụ cho tôi và anh Long phải liên lạc và gặp được Toàn quyền Nhật. Trước khi đi, anh Long dặn đi dặn lại: “Khi vào hang cọp, không được nói năng động chạm đến việc phát xít Nhật đã bại trận hay bom nguyên tử đã nổ ở Hiroshima”.

Lúc đã vào bên trong phòng khánh tiết, thấy trên tường có treo lá cờ trắng với hình mặt trời đỏ to tướng; sĩ quan Nhật đứng vòng quanh, gươm súng đầy mình làm 2 anh em lo âu. Được giới thiệu là “đại diện của nhóm dân chúng Hà Nội chiếm Dinh Khâm sai trưa nay”, tôi cố gắng bình tĩnh, nói: “Nghe tin Thiên hoàng đã cho phép các ông rút lực lượng của mình khỏi Đông Dương  trong ít ngày nữa…”.

Vừa nghe đến 2 chữ “Thiên hoàng”, thấy thái độ của cánh sĩ quan thay đổi hẳn. Sau đó, họ “chấp nhận chính quyền mới” của Việt Minh và nhắc dân chúng không được bạo động…

Kỷ niệm này sống mãi trong tôi, làm tôi luôn nhớ đến một Trần Đình Long đầy bản lĩnh, sáng suốt, luôn dựa vào tình hình thực tế để đưa ra những quyết sách đúng đắn trên cương vị của một cố vấn”.

Sau ngày Cách mạng thành công, Trần Đình Long được Đảng giao nhiệm vụ làm đặc phái viên ngoại giao cho Hồ Chủ tịch. Cuối tháng 11/1945, ông đi cùng đại diện Việt Nam Quốc dân Đảng xuống Kiến An giải quyết tranh chấp giữa lực lượng của họ với anh em Vệ quốc đoàn. Trần Đình Long đã giải quyết một cách rất khôn khéo, dựa vào sách lược của Đảng, tránh được xung đột vũ trang. Xong việc, ông trở về Hà Nội vào chiều 24/11/1945.

Chị Phong nhớ lại: “Gia đình tôi khi đó ở 26 phố Chợ Đồng Xuân, ngày đó tôi mới 7 tuổi. Cụ rất yêu thương vợ, con, cứ xong việc là lại về nhà. Khi bố tôi trở về nhà và lên gác được một lúc thì thấy có chiếc xe Jeep chạy tới và dừng lại. Từ trên xe nhảy xuống 5-6 người, mặc binh phục Tàu-Tưởng. Họ vào nhà, dí súng vào bụng mẹ tôi, khi đó đang có mang em tôi, doạ: “Gọi ông Long xuống đây, nếu không sẽ bắn!”. Mẹ tôi phải gọi bố xuống. Rồi chúng bắt cóc ông, đem đi thủ tiêu. Ngay sau đó báo chí kêu gọi Việt Nam Quốc dân Đảng phải trả tự do cho ông, nhưng vô hiệu”.

Theo tư liệu về lớp học ở Quảng Châu do Hồ Chí Minh tổ chức, Trần Đình Long cùng tham dự học tập với các ông Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Phạm Văn Đồng… Còn theo nhà sử học Nga A.Xô-cô-lốp: “Trần Đình Long được xem là ứng cử viên Bộ trưởng Ngoại giao của Chính phủ Hồ Chí Minh 1946”.

Vừa  đúng 100 ngày kể từ 19/8/1945, sống và làm việc cho chính quyền dân chủ, nhân dân, Trần Đình Long đã ra đi. Vậy mà đã 65 năm! Tiếc rằng, cho đến giờ vẫn chưa biết ông được an nghỉ ở đâu?! Âu đó cũng là nghĩa vụ của người đang sống?

Trần Kiến Quốc
Vkyno (st)