Tag Archive | Hồ Chí Minh

“May mắn lớn nhất cuộc đời tôi là 5 lần được gặp Bác Hồ”

“Nếu ai hỏi may mắn lớn nhất cuộc đời tôi là gì, tôi sẽ trả lời ngay đó là 5 lần được gặp Bác Hồ. Nhờ có Bác Hồ kính yêu, tôi mới có cuộc sống hôm nay” – Đại úy Từ Thị Công Lễ, diễn viên Đoàn Văn công Quân khu 5, chia sẻ.

Là diễn viên của Đoàn Văn công quân khu 5, vợ chồng Trung tá Lê Tôn Sùng và Đại úy Từ Thị Công Lễ có cơ hội gặp Bác Hồ nhiều lần và đã từng vinh dự được biểu diễn phục vụ Bác. Mỗi năm vào dịp sinh nhật Bác, những ký ức về Bác lại hiện về trong tâm trí đôi vợ chồng nghệ sĩ – chiến sĩ.

Bà Lễ sinh năm 1940, quê ở Quảng Ngãi, người dân tộc Hrê; ông Sùng sinh năm 1937, quê ở Bình Định. Cả hai đều là diễn viên múa của Đoàn Văn công quân khu 5, quen nhau từ những lần đi diễn chung rồi nên nghĩa vợ chồng.

may man  3
Bà Lễ vinh dự 5 lần được gặp Bác Hồ

Bà Lễ từng được 5 gặp Bác Hồ còn ông Sùng từng 3 lần được gặp Bác Hồ. Với bà Lễ, trong 5 lần gặp Bác Hồ thì lần đầu tiên và lần cuối cùng để lại trong bà nhiều ấn tượng và kỷ niệm sâu sắc nhất. Bà Lễ bồi hồi nhớ lại lần đầu tiên được gặp Bác: “Đó là năm 1956, khi ấy tôi mới 14 tuổi, là học sinh của miền Nam tập kết ra Bắc để học tập. Tết Trung thu năm đó, với thành tích học tập xuất sắc, tôi vinh dự có mặt trong đoàn học sinh đến Phủ Chủ tịch gặp Bác. Khi Bác xuất hiện, tất cả học sinh chúng tôi đều đứng vây quanh Bác. Tôi cố len giữa đám đông để được đứng gần Bác hơn. Tôi nói với Bác: “Bác ơi! Người dân quê cháu dặn cháu rằng nếu có điều kiện gặp Bác Hồ thì phải cố gắng nhìn cho thật kỹ, xem Bác có giống như những người bình thường không mà sao Bác giỏi thế. Bác cho cháu được nắm tay Bác, vuốt chòm râu nữa Bác nhé”. Nghe xong Bác cười và gật đầu, đôi mắt nhìn tôi âu yếm. Suốt cả buổi hôm đó tôi chỉ chăm chú nhìn Bác mà không biết hôm đó Phủ Chủ tịch chiếu phim gì cho chúng tôi xem. Trước đó, Bác đã phát cho chúng tôi mỗi đứa một cái kẹo nhưng không ai dám ăn mà để dành như một vật quý báu”.

may man  1
Ông Sùng 3 lần được gặp Bác Hồ

“Lần cuối cùng tôi được gặp Bác là năm 1967. Đây là lần Đoàn Văn công của quân khu 5 ra Phủ Chủ tịch biểu diễn phục vụ Bác. Đội múa của chúng tôi biểu diễn tác phẩm “Tổng ngốc sa lầy” đả kích Tổng thống Níc-xơn bị sa lầy trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Tại phòng chúng tôi biểu diễn, tường được lắp bằng kính nên chúng tôi vừa múa vừa nhìn Bác. Bác Hồ vừa xem vừa cười rất sảng khoái, nên chúng tôi cũng vui lây. Sau buổi biểu diễn, Bác nói: “Các cháu diễn hay lắm. Các cháu có đói không? Các cháu ăn phở nhé!”. Rồi Bác quay sang nhà thơ Tố Hữu đứng cạnh, dặn: “Chú Hữu nhớ cho các cháu ăn thật no, thật ngon vào”. Trước khi ra về, cả Đoàn được chụp ảnh cùng Bác. Lúc này sức khỏe của Người đã xuống, chúng tôi phải đỡ Bác đứng dậy”, bà Lễ xúc động nhớ lại.

Những lần khác, bà Lễ được gặp Bác khi Bác về thăm Đoàn Văn công quân khu 5. Có lần bà vinh dự được mang hoa ra sân bay đón Bác (lúc đó Đoàn văn công quân khu 5 đóng trên đất Vinh – Nghệ An).

Cũng giống như vợ mình, ông Sùng được gặp Bác trong những lần Bác thăm Đoàn Văn công quân khu 5 và vào Phủ Chủ tịch biểu diễn phục vụ Bác.

Ngoài ra, ông Sùng còn có dịp được biểu diễn cho Bác xem khi Bác đến thăm Đoàn Văn công Mai Dịch. Và cũng chính Bác Hồ đã đồng ý cho Đoàn Văn công của ông Sùng đi Trung Quốc biểu diễn. Sau khi qua Trung Quốc được mấy ngày thì Bác gửi thư động viên mọi người trong Đoàn. Hiện ông Sùng còn giữ bức thư đó như một báu vật.

Năm 1968, bà Lễ về làm giáo viên dạy múa Trường Nghệ thuật quân đội. Còn ông Sùng vào chiến trường Quân khu 5 tiếp tục phục vụ các chiến sĩ.

Ngày Bác Hồ mất, bà Lễ đang mang thai đứa con đầu lòng tháng thứ 8. Bà khóc nhiều lắm.

may man  2
Hai vợ chồng đã từng biểu diễn phục vụ Bác

“Hồi bố mẹ tôi mất tôi đi xa nên không biết mà khóc. Còn lúc Bác mất tôi khóc nhiều lắm. Chồng tôi phải thường xuyên động viên để tôi vơi đi nỗi buồn”, bà Lễ cho biết.

Sau giải phóng bà Lễ về công tác tại Đoàn Văn công Quân khu 5, làm Đội trưởng Đội múa; nghỉ hưu năm 1982 với quân hàm Đại úy. Còn ông Sùng nghỉ hưu năm 1990 với quân hàm Trung tá, là Phó Trưởng đoàn Văn công Quân khu 5.

15 năm nay hai vợ chồng bà Lễ tham gia công tác xã hội đều đặn, là diễn viên, biên đạo múa của đội văn nghệ Câu lạc bộ Thái Phiên Đà Nẵng. Hiện hai vợ chồng ông Sùng, bà Lễ đang sống trong căn nhà trên đường Trường Chinh, TP Đà Nẵng. Những lúc dàn dựng hay biểu diễn các tiết mục hát múa về Bác Hồ, vợ chồng bà lại nhớ về Bác trong niềm xúc động sâu sắc.

“Nếu ai hỏi may mắn lớn nhất trong đời tôi là gì, tôi sẽ trả lời ngay đó là 5 lần được gặp Bác Hồ. Nhờ có Bác Hồ kính yêu, tôi mới có cuộc sống hôm nay”, Bà Lễ xúc động chia sẻ.

Khánh Hồng
Theo tinmoi.vn
Kim Yến (st)

68 năm trước, Bác đã nói về “xe công”

Tháng 10-1945, nhà thơ Tố Hữu nhận được điện của Trung ương gọi ra Hà Nội và được gặp Bác Hồ. Cuộc gặp đầu tiên này đã được Tố Hữu ghi lại chi tiết trong hồi ký Nhớ lại một thời (NXB Văn Hóa Thông Tin tái bản 2002, trang 116-120).

Xin trích đoạn: … “Anh Vũ Đình Huỳnh nói nhỏ nhẹ: “Thưa cụ, anh Tố Hữu đến đấy ạ!”. Cụ nhìn thấy tôi, vẫy tay gọi đến gần và hỏi: “Chú ra đấy à?”. Tôi: “Dạ!”.

– Chú ra bằng gì? – Cụ hỏi.

xe-cong-aChủ tịch Hồ Chí Minh thăm Xưởng may 10. Người góp ý kiến về cách cắt may sao cho nhanh, tiết kiệm, đảm bảo chất lượng (8-1-1959) – Ảnh tư liệu

Tôi thưa:

– Dạ, bằng ôtô.

– Ôtô của ai?

– Dạ thưa, ôtô của mình…

Cụ nhìn tôi, có vẻ ngạc nhiên, nói lại:

– Của mình, là của ai?

– Dạ, của cơ quan ạ.

Cụ cười:

– Nhớ nhé, ôtô của cơ quan chứ không phải của các quan đâu đấy!

Mới nghe lần đầu đã thấy cụ thật sắc sảo. Cụ vừa dạy bảo rất nghiêm khắc, vừa “chơi chữ” như đùa vui: “của cơ quan, chứ không phải của các quan”… Thế là đã được một bài học. Cụ nói tiếp:

– Bây giờ Đảng cầm quyền có nhà cao cửa rộng, có ôtô sang trọng, dễ lên mặt “quan” lắm. Xe của cơ quan là để đi làm việc công, không phải để các chú đi chơi mang cả quan ông, quan bà, quan cô, quan cậu, thế là hỏng đấy.

Tôi thưa nhỏ:

– Dạ, bọn tôi đâu dám làm bậy”.

Ngày 17-10-1945, báo Cứu Quốc đăng thư Hồ Chủ tịch gửi các Ủy ban nhân dân các bộ, tỉnh, huyện và làng. Trong thư này một lần nữa câu chuyện xe công đã được nói đến khi nêu ra những lỗi lầm rất nặng nề mà nhiều người phạm. Đó là những lỗi lầm: trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo.

Chuyện xe công được nêu ra trong đoạn viết về lỗi lầm hủ hóa: “Ăn uống cho ngon, mặc muốn cho đẹp, càng ngày càng xa xỉ, càng ngày càng lãng mạn, tự hỏi tiền bạc ở đâu mà ra? Thậm chí lấy của công làm việc tư, quên cả thanh liêm đạo đức. Ông ủy viên đi xe hơi, rồi bà ủy viên cho đến các cô các cậu ủy viên cũng dùng xe hơi của công. Thử hỏi những hao phí đó ai chịu?” (Hồ Chí Minh tuyển tập, tập 1, NXB Sự Thật Hà Nội, 1980, trang 370-371).

Bác Hồ coi việc tùy tiện sử dụng xe công là thuộc về “hủ hóa”. Hủ hóa, theo Từ điển Hán – Việt, là “trở thành hư hỏng, thối nát, tồi tệ” (trang 177). Mới đây chuyện xe công, nhà công lại rộ lên trong dư luận và công luận, bao gồm cả ý kiến phát biểu của một số cựu và tân bộ trưởng. Xem ra thì lại vẫn còn phải “chờ xem” về cả hai mặt tự nguyện và sửa đổi các qui định để việc sử dụng xe công không làm cho “hủ hóa” cán bộ, công chức, tức là không bị hư hỏng, tồi tệ, thối nát.

Theo Tuổi Trẻ Online
Thúy Hằng (st)

Hồ Chủ tịch với vấn đề đọc sách và tự học

Trong bài nói chuyện tại hội nghị chuyên đề sinh viên quốc tế họp tại Việt Nam ngày 1 tháng 9 năm 1961, Hồ Chủ tịch đã tâm sự : “Về văn hoá tôi chỉ học hết tiểu học. Về hiểu biết phổ thông : 17 tuổi tôi mới nhìn thấy ngọn đèn điện lần đầu tiên, 20 tuổi mới nghe rađio lần đầu.”  Vậy mà Người đã có một trí tuệ phi thường, một sự hiểu biết đáng khâm phục, đúng như nhà nghiên cứu Vasiliep đã nhận xét : “Hiếm có chính khách nào của thế kỷ XX có thể sánh được với Hồ Chí Minh về trình độ học vấn, tầm hiểu biết rộng lớn và sự thông minh trong cuộc đời”. (1)

doc-sach-tu-hoc-aBác Hồ với bạn bè quốc tế

Đạt được tầm hiểu biết ấy là nhờ Hồ Chủ tịch đã không ngừng học tập,  nói đúng hơn là không ngừng tự học. Khi nói chuyện với các đảng viên hoạt động lâu năm ( Vào ngày 9 tháng 12 năm 1961), Hồ Chủ tịch đã tâm sự : Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải học… Không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau”. Và với Bác, nguyên lý và phương thức học được tóm gọn trong mấy câu sau : “Học ở trường, học trong sách vở, học lẫn nhau và học dân”.(2) Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi sẽ cố gắng đi vào tìm hiểu về phương pháp đọc sách báo của Bác Hồ và qua đó chúng tôi cũng cố gắng phân tích và nêu lên được vai trò của sách báo đối với việc tự học của Bác Hồ.

Kế thừa truyền thống ham đọc sách của dân tộc và gia đình, Hồ Chủ tịch đã luôn coi trọng sách báo. Nhưng với Người, đọc sách không chỉ đơn thuần là để giải trí hay để giải quyết các công việc sự vụ, nâng cao các hiểu biết thông thường. Người đọc chủ yêú là để phục vụ cách mạng với niềm khao khát tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Niềm ham muốn khao khát ấy đã đi theo Bác suốt cuộc đời, chi phối mọi hoạt động của Người.

Sinh ra trong cảnh nước mất, lớn lên chứng kiến nỗi bế tắc của bao tầng lớp sĩ phu yêu nước và nỗi thống khổ của nhân dân. Chính Phan Bội Châu cũng phải than rằng :

“ Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế

Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si

(Nghĩa là : Non sông mất rồi sống càng thêm nhục. Sách thánh hiền tẻ ngắt càng đọc càng thêm mụ mẫm ).

Mặc dầu vậy, Bác Hồ vẫn miệt mài đọc sách. Và không chỉ đọc sách  bằng chữ quốc ngữ, sách Hán mà Người còn đọc cả sách Pháp. Với Người, sách chính là “thuốc chữa tội ngu” và là một trong nguồn quan trọng có thể đưa ra lời giải đáp cho câu hỏi tự do, bình đẳng, bác ái là gì ? Từ những thắc mắc đầu tiên ấy về sau cũng chính nhờ sách báo Bác đã tìm ra con đường cứu nước cứu dân và hình ảnh “Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin” đã đi vào lịch sử.

Khi tìm hiểu về phương pháp đọc của Bác Hồ, bài học đầu tiên mà chúng ta cần phải chú ý đến là : Muốn trở thành người hiểu biết phải đọc cho rộng và khi đọc phải có ghi chép và phân loại ngay các thông tin trong sách báo. Là một người ham hiểu biết Người đã say mê đọc sách ngay từ ngày còn là một cậu trò nhỏ. Và cũng ngay từ khi tuổi trẻ Người đã có một phương pháp đọc rất đáng chú ý : Người thường khuyên và đánh dấu vào những chỗ đọc thấy cần thiết. Trong “Búp sen xanh” Sơn Tùng đã ghi lại lời tâm sự của cậu ấm Phạm Gia Cần, một người bạn của Hồ Chủ tịch thưở thiếu thời : “ở gần Thành, mình học hỏi được nhiều thứ, nhất là cách đọc sách.”(3)

Do ý thức không muốn mất thời gian đọc đi đọc lại để nhặt thông tin, nên khi đọc nghiên cứu tài liệu Hồ Chủ tịch luôn chú trọng đến việc ghi chép, đánh dấu, gạch chân, đóng khung và thậm chí cắt gián. Với cường độ đọc cao, một ngày khoảng trên hai chục tờ báo trong và ngoài nước nếu không có những biện pháp đọc khoa học thì khó có thể nhớ và tổng hợp hết được các vấn đề và thông tin đã đọc. Theo tài liệu của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng trung ương, Bác đã từng căn dặn : “Những cái gì đã nghe, đã thấy, đã hỏi được, đã đọc được thì chép lấy để dùng để viết”. Không có ghi chép cẩn thận thì những khi cần sẽ phải mất nhiều thời gian để tìm kiếm lại.

Lênin có tác phẩm “Bút ký triết học” nổi tiếng. Trong đó ghi lại những  nhận xét và đánh giá của ông về các trào lưu tư tưởng triết học của các tác gia trên thế giới. Hồ Chủ tịch của chúng ta có “Bút ký đọc sách” trong đó ghi lại những ý chính của các cuốn sách Bác đã đọc cùng với những nhận xét đánh giá của mình.Với Hồ Chủ tịch, đọc sách không chỉ cho riêng bản thân mình mà Người luôn quan tâm đến đối tượng thích hợp liên quan đến các bài viết hoặc thông tin  được đăng trong sách báo. Trong “Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch”, Người đã viết: “Mỗi ngày, Cụ xem chừng 25 tờ báo. Báo sáng, báo chiều, báo hàng tuần, báo ngoại quốc. Báo có gì hay, Cụ lấy bút chì đỏ làm dấu vào, rồi bảo anh em xem”.

Theo Người, bất luận làm công việc gì cũng cần phải đọc sách. Người mới học chữ cần đọc để không mù lại, người làm công an cần đọc để nắm tình hình. Những người làm công việc chuyên môn cần phải đọc để nâng cao trình độ. Người làm quản lý lãnh đạo cần phải đọc để quản lý, lãnh đạo tốt hơn. Làm nhà báo, nhà văn lại càng phải đọc. Không chỉ đơn thuần “Cần phải xem báo Đảng”(4), Người khuyên chúng ta : “Muốn có nhiều tài liệu phải xem cho rộng…Xem được nhiều thứ báo chừng nào thì lấy được nhiều tài liệu chừng ấy”(5). Và Người còn nói thêm : “Tìm tài liệu cũng giống như công tác khác, phải chịu khó. Có khi xem tờ báo này có vấn đề này, xem tờ báo khác có vấn đề khác, rồi ghép hai ba vấn đề, hai ba con số làm thành tài liệu mà viết”.(6)

Không chỉ dừng lại việc đọc rộng và biết cách ghi chép, đánh dấu, bài học thứ hai có thể rút ra trong phương pháp đọc sách báo của Hồ Chủ tịch là đọc luôn phải có suy nghĩ kĩ càng không nhất thời hồ đồ tin ngay theo sách. Người đã từng nhấn mạnh : “Phải nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng. Đọc tài liệu thì phải đào sâu hiểu kỹ, không tin một cách mù quáng từng câu trong sách. Có vấn đề thông suốt thì mạnh dạn đề ra cho vỡ lẽ, đối với bất cứ vấn đề gì đều phải đặt ra câu hỏi :  vì sao” đều phải suy nghĩ kỹ càng, xem nó có hợp với thực tế hay không, tuyệt đối không nên nhắm mắt tuân theo một cách xuôi chiều. Phải suy nghĩ cho chín chắn.”(7)

doc-sach-tu-hoc-bBác Hồ nói chuyện với đồng bào Hưng Yên

Với những sách báo quan trọng, có những từ hoặc vấn đề không hiểu Người có thể đọc đi đọc lại nhiều lần cho đến khi hiểu cặn kẽ mới thôi. Ví dụ điển hình nhất cho nguyên lý này là việc Bác Hồ đọc tác phẩm “Tư bản luận” của Mác và “Luận cương” của Lênin. Chính nhờ việc đọc sâu hiểu kỹ Người đã có thể đem những điều đã đọc vào áp dụng trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đọc sách báo là một công việc nhiều người có thể làm được, nhưng đọc để hiểu được cái thần của sách, đánh giá được những ưu điểm và hạn chế của sách báo thì không phải ai cũng làm được. Muốn làm được điều đó đòi hỏi người đọc phải có sự hiểu biết rộng và khả năng phân tích tổng hợp tốt. Vì lẽ đó chúng ta không ngạc nhiên khi nghe ông Giăng Pho, một người bạn Pháp của Bác Hồ nhận xét : “Chữ Pháp thì tôi biết nhiều hơn anh Nguyễn, điều đó không có gì là lạ vì tôi là người Pháp. Nhưng xem sách lý luận bằng chữ Pháp, nhiều khi tôi phải nhờ anh Nguyễn cắt nghĩa dùm”.

Sinh thời Người rất không tán thành lối đọc để mà đọc, không hiểu biết thực sự những điều đã đọc và theo Người đó là dạng đọc phù phiếm. Trong cuốn “Về vấn đề học tập” trang 58 đã nêu một ý kiến rất xác đáng của Bác : “Có đồng chí thuộc lòng một số sách vở về chủ nghĩa Mác – Lênin. Họ tự cho mình là người hiểu biết chủ nghĩa Mác – Lênin hơn ai hết. Song khi gặp việc thực tế, thì họ hoặc máy móc, hoặc là lúng túng. Lời nói và việc làm của họ không nhất trí. Họ học sách vở Mác – Lênin. Học để trang sức chứ không phải để vận dụng vào công việc cách mạng”.

Bài học thứ ba và cũng là bài học quan trọng nhất trong phương pháp đọc của Hồ Chủ tịch là vấn đề áp dụng những điều đã đọc được vào thực tiễn cách mạng, thực tiễn cuộc sống. Tiếp thu quan điểm của Nguyễn Trãi : “Sửa mình lấy thiện làm vui. Lập thân đâu phải cứ ngồi đọc suông” và tán thành quan niệm của Lê Quí Đôn: “Đọc sách không cần nhiều, đọc được một chữ đêm áp dụng được một chữ, thế là được”, Hồ Chủ tịch luôn rất chú trọng đem ứng dụng các điều đã thu lượm được qua sách báo. Người đã từng nói : “Siêng xem sách và xem được nhiều sách là quí” nhưng Người đã nhấn mạnh : “Dù xem được hàng ngàn quyển lý luận nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào cái hòm đựng sách.”. Nếu như trong học tập Hồ Chủ tịch luôn nhấn mạnh đến chữ hành thì trong đọc sách Người luôn quan tâm đến vấn đề áp dụng. Và phải biết áp dụng dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh của thực tiễn. Người rất ghét lối đọc chỉ để mà đọc, với Người đó là biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân. Và sự vân dụng tài tình những điều đã học và đã đọc chính một trong những điểm mấu chốt trong vấn đề đọc sách của Bác Hồ. Trong cuốn con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Mác – Lênin trang 110, Người đã viết : “Chính là do cố gắng vận dụng những lời dạy của  Lênin nhưng vận dụng một cách có sáng tạo, phù hợp với thực tế Việt Nam ngày nay, mà chúng ta đã chiến đấu và giành được thắng lợi như các đồng chí đã biết”.

Khi bàn về “Bản sắc văn hoá Việt Nam” ông Phan Ngọc đã nêu ra một nhận định rất xác đáng “ truyền thống văn hoá Việt Nam là truyền thống vượt gộp” .“Vượt gộp có nghĩa là tiếp thu cái mới nhưng đổi mới được nó trên cơ sở  cái cũ cũng đã được đổi mới cho thích hợp với hoàn cảnh mới”(8). Và cũng theo Phan Ngọc, bên cạnh Nguyễn Trãi, Hồ Chủ tịch là người đã thực hiện thành công nhất nguyên lý đó.Từ những tinh hoa văn hoá văn minh của nhân loại tiếp thu qua sách báo, từ những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin và đặc điểm thực tiễn cách mạng của Việt Nam, Hồ Chủ tịch đã biết “vượt gộp” để đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi cảnh nô lệ lầm than, ngẩng mặt lên kiêu hãnh làm người.

Xã hội loài người phát triển được một phần lớn là nhờ con người có khả năng học tập lẫn nhau cộng hưởng các sức mạnh cá nhân tạo nên sức mạnh to lớn của cộng đồng. Sách báo sẽ là một nguồn tài nguyên vô giá giúp cho con người học tập và không ngừng vươn lên để tự hoàn thiện mình. Bài học tự học qua sách báo của Hồ Chủ tịch sẽ mãi là tấm gương sáng cho mỗi người chúng ta học tập và noi theo. Và một lần nữa chúng ta  lại có thêm một minh chứng của việc “Đọc sách, mắt như đèn muôn dặm” (như lời Cao Bá Quát xưa từng nói ). Ánh sáng từ đôi mắt ấy mãi mãi sẽ là ngọn đèn soi rọi trên con đường  dân tộc chúng ta đi.

Tài liệu trích dẫn

1. Về cách mạng Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. -H.: Uỷ ban khoa học xã hội, 1990

2. Hồ Chí Minh. Phát huy tinh thần cầu học cầu tiến bộ.- H.: Sự thật, 1960.- Tr 14

3. Sơn Tùng. Búp sen xanh. H.: Kim Đồng, 2000.- Tr 176

4. Tên một bài báo Hồ Chủ tịch viết năm 1954

5. Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch. Tập 6.- Tr 72

 6. Chúng ta có Bác Hồ .- H.: Lao động, 1990. -Tr 46

7. Hồ Chí Minh. Về vấn đề học tập. H.- Sự thật, 1971.- Tr 53

8. Phan Ngọc. Bản sắc văn hoá Việt Nam.- H.: Văn hoá thông tin, 1998.- Tr 28.

Vũ Dương Thúy Ngà – http://huc.edu.vn
Thúy Hằng (st)

Bà giáo già và bộ sưu tập tư liệu về Bác Hồ

Mấy lần gọi điện thoại đến nhà riêng, người nhà đều bảo “bà đi ra ngoài chưa về”.

1. Mấy lần gọi điện thoại đến nhà riêng, người nhà đều bảo “bà đi ra ngoài chưa về”. Tôi lấy làm lạ. Năm nay đã tròn 80 tuổi, về hưu cũng đã lâu rồi. Vậy bà còn bận bịu với công việc gì, mà chưa chịu nghỉ ngơi ở nhà? Đến khi gặp bà, tôi mới hiểu: bà vẫn đang là Phó Chủ tịch Hội Khuyến học của Phường, nên công việc cũng lu bu. Bà bảo: “Cũng đều là những việc không tên cả. Không tốn nhiều sức lực, nhưng rất cần có tâm và lòng nhiệt tình. Đến năm 2014 mới hết nhiệm kỳ, cũng ráng làm cho trọn với lương tâm, trách nhiệm của mình…”.

Bà là Nguyễn Thị Ngọc Bích, người gốc Hà Nội, một cựu chiến binh, nhà giáo lão thành. Nhưng nhắc đến bà, mọi người không chỉ biết đến một nhà giáo mẫu mực, một cán bộ quản lý giáo dục mẫn cán, tận tụy với nghề suốt mấy chục năm, mà còn rất kính nể bà – một người cần mẫn sưu tầm tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong hơn 30 năm qua. Bộ sưu tập này đã trở thành những kỷ vật quý giá của bà giáo và cho cả thế hệ trẻ mai sau.

Bà hẹn tiếp tôi tại nhà riêng ở gần sân bay Tân Sơn Nhất (quận Tân Bình, TP. HCM). Trong căn phòng nhỏ, với tủ tài liệu về Bác Hồ được xếp ngay ngắn, bà kể cho tôi nghe về một thời gian khó, nhưng cũng rất tự hào, về cuộc đời và sự nghiệp của mình.

suu-tap-bac-ho-aBà Ngọc Bích tại Bảo tàng Hồ Chí Minh (Chi nhánh TP.HCM)

2. Nhớ lại tuổi thơ của mình, bà không thể quên ngày 2/9/1945, khi đó bà mới 12 tuổi, được ba đưa đi dự Lễ Quốc khánh và nghe Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình. Bà bảo lúc ấy còn nhỏ, chưa hiểu rõ nội dung và ý nghĩa của bản Tuyên ngôn Độc lập, nhưng không bao giờ quên được hình ảnh uy nghiêm của Bác Hồ cùng các vị đại diện Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trên lễ đài, và giọng nói ấm áp của Người: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”. Hình ảnh và lời nói hào sảng của Bác đã là nguồn cổ vũ rất lớn để bà đi theo cách mạng.

Cô gái Hà Nội Ngọc Bích đi bộ đội khi vừa tròn 16 tuổi, được làm giao liên tại Đại đoàn 320 nổi tiếng thời kháng chiến chống Pháp. Sau 3 năm tham gia kháng chiến, cô bị thương, nằm trong hang đá suốt 3 tháng trời. Khi đơn vị phát hiện, vết thương ở chân đã quá nặng, phải đoạn chi để cứu mạng. Thủ trưởng đơn vị lúc ấy là Tướng Văn Tiến Dũng, thấy Bích còn trẻ, tương lai và hạnh phúc còn ở phía trước nên đề nghị quân y tìm mọi cách giữ lấy đôi chân cho cô. Thật may mắn, vết thương không bị nhiễm trùng nặng, sau một thời gian thì lành lặn và cô được xuất ngũ.

Trở về Hà Nội, mới 19 tuổi, cô xin đi học Sơ cấp sư phạm. Ra trường, 21 tuổi, cô tình nguyện đi dạy học ở vùng khó khăn, hăng hái tham gia phong trào xóa nạn mù chữ, là một trong số những Chiến sĩ tiêu biểu trong phong trào “Diệt giặc dốt” của thanh niên ngành Giáo dục Hà Nội, theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1958, tại Lễ tổng kết phong trào này, cô giáo trẻ Ngọc Bích đã vinh dự được nhận thư tuyên dương và Huy hiệu của Bác Hồ gửi tặng. Đây là phần thưởng cao quý, là nguồn động viên lớn lao đối với cô giáo Ngọc Bích, trong suốt chặng đường dài cống hiến tâm sức cho sự nghiệp trồng người.

Sau này, khi đã có gia đình, cô Bích lại tiếp tục xin đi học nâng cao trình độ ở trường Cao đẳng Sư phạm, rồi Đại học Sư phạm (hệ tại chức) và lần lượt được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng Trường phổ thông cấp 2 ở Hà Tây, Hưng Yên… trong suốt những năm máy bay Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc. Năm 1975, đất nước thống nhất, cô lại xung phong vào Quảng Ngãi quê chồng dạy học, rồi lại lần lượt làm Hiệu phó các Trường phổ thông cấp 3 Trần Hưng Đạo, Trần Phú, Nghĩa Lộ I, Nghĩa Lộ II, Lê Hồng Phong – tỉnh Nghĩa Bình (sau này tách ra thành Quảng Ngãi và Bình Định).

Có một điều mà những người làm giáo dục ở Nghĩa Bình hồi ấy đều biết và cảm phục cô Ngọc Bích. Đó là cô luôn chấp nhận được giao về làm quản lý ở các trường yếu kém. Sau khi xây dựng nhà trường khá lên, cô lại được điều động về gây dựng một trường yếu kém khác. Cứ như vậy, cô lần lượt về làm hiệu phó chuyên môn ở 5 trường, chỉ trong vòng gần 5 năm.

Năm 1979, bà Ngọc Bích cùng gia đình chuyển công tác vào TP. HCM, được phân công về làm Hiệu phó Trường Bổ túc văn hóa Quận Tân Bình, với những học trò lớn tuổi, phần lớn là cán bộ nòng cốt của quận, trước đây do tham gia kháng chiến chống Mỹ nên chưa có điều kiện học hết chương trình phổ thông. Trường Bổ túc văn hóa sau này đổi tên thành Trung tâm Giáo dục thường xuyên, bà tiếp tục làm Phó Giám đốc cho tới ngày nghỉ hưu (1986). Và bây giờ, bà lại tham gia Hội Khuyến học của phường, của quận… cho đến nay.

Bà luôn tự hào về dòng họ đã có 5 đời làm nghề giáo của mình. Cuộc sống của nhà giáo tuy nghèo, nhưng thanh bạch và luôn giữ được nền nếp gia phong, luôn là tấm gương mẫu mực để con cháu noi theo. Bà bảo, tài sản quý nhất của bà bây giờ là 4 người con (2 gái, 2 trai) đều được ăn học đến nơi đến chốn và đều thành đạt, cùng những đứa cháu nội ngoại học giỏi, chăm ngoan. Thế là hạnh phúc lắm!

suu-tap-bac-ho-bBà Ngọc Bích trước tủ tư liệu quý về Bác Hồ. Ảnh: Đ.Q.T

3. Hành trình sưu tầm tư liệu về Bác Hồ của bà bắt đầu từ năm 1980, sau khi bà được bạn bè gửi tặng những tấm ảnh quý, chụp Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến đi Pháp dự Hội nghị ký kết Hiệp định sơ bộ Pháp – Việt năm 1946. Đây là bộ ảnh gốc rất quý, vì thời điểm đó ở trong nước ít ai có được. Sau này, bà đã tặng bộ ảnh gốc này cho Bảo tàng Hồ Chí Minh (Chi nhánh TP. HCM), chỉ giữ lại bản photocoppy.

Kể từ đó, sau những giờ dạy học, bà lại kể cho học sinh nghe những câu chuyện về Bác Hồ. Nghe rồi, học sinh lại đòi bà kể tiếp khi gặp cô. Để những câu chuyện về Bác thêm sinh động và sâu sắc, bà đã dày công sưu tầm những tư liệu về Bác, để minh họa. Những tấm ảnh chụp Bác được bạn bè gửi tặng, những cuốn sách cũ viết về hành trình tìm đường cứu nước, cũng như cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ, những bài báo viết về Bác, từ trước đến nay, ở trong và ngoài nước v.v… đều được bà trân trọng lưu giữ.

Bằng tấm lòng tôn kính Bác Hồ, với tính cẩn thận, khoa học của một nhà giáo, bà đã tập hợp tất cả hình ảnh, tư liệu về Bác thành từng tập, theo từng chủ đề, như: Thời niên thiếu của Bác; Bác rời Bến cảng Sài Gòn ra đi tìm đường cứu nước; Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn Độc lập (2/9/1945); Đảng và Bác lãnh đạo cuộc kháng chiến vĩ đại; Toàn Đảng, toàn dân đời đời nguyện theo chân Bác…

Lặng lẽ, miệt mài sưu tầm, đến nay, bộ sưu tập về Bác Hồ của bà đã có hàng chục tập tư liệu, với gần 2.000 bức ảnh, bài báo viết về Bác. Những người quen, ai cần tài liệu về Bác Hồ, hoặc những sinh viên làm luận văn tốt nghiệp về đề tài Hồ Chí Minh, đến mượn tư liệu, hình ảnh về Bác, bà đều sẵn lòng giúp đỡ vô điều kiện.

Bà bảo, mỗi khi đến kỳ nhận lương hưu, bà đều nhờ con cháu đưa tới những tiệm sách cũ, tìm mua những tài liệu về Bác, vì “mua sách cũ giá rẻ hơn và nhiều tư liệu cũ có giá trị, mà bây giờ, sách mới chưa chắc đã có!”.

Tôi hỏi bà, động lực nào mà suốt hơn 30 năm qua, bà đã lặng lẽ, miệt mài, cần mẫn sưu tầm tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh như vậy? Bà bảo: “Có lẽ, một giáo viên dạy văn như tôi, mỗi khi giảng những vần thơ, bài văn cho học sinh nghe, là một lần có cơ hội được tìm hiểu về Bác và thấy được gần Bác hơn. Khi tìm hiểu về Bác, tôi càng tìm ra những tầng nhân cách cao đẹp trong một con người bình dị, càng thấy được những bài học quý giá cho bản thân mình”.

Ngoài việc sưu tầm tư liệu về Bác, những năm qua, bà luôn tích cực tham gia các cuộc thi kể chuyện, thi viết, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Bà cũng thường xuyên đến các trường học kể chuyện về Bác Hồ cho nhiều thế hệ học trò. Trong tâm khảm của mình, bà luôn trăn trở, làm sao những hình ảnh, tư tưởng của Bác, tiếp tục được lưu giữ và truyền lại trọn vẹn cho những thế hệ mai sau.

Đào Quốc Toàn
Theo http://thegioimoi.vn
Thu Hiền (st)

Đạo đức người ăn cơm

Một chiến sĩ bảo vệ Bác – sau này được phong quân hàm cấp tướng – có lần nói rằng: “Bác thường dạy quân dân ta “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư” Bác dạy phải làm gương trước. Bác dạy phải nêu cao đạo đức cách mạng.

Có cán bộ nghĩ rằng “đạo đức” cách mạng là để áp dụng trong công tác thôi. Bản thân tôi, được gần Bác thấy ngay trong khi ăn cơm, Bác cũng đã dạy cho chúng tôi thế nào là “đạo đức”.

Thứ nhất, Bác không bao giờ đòi hỏi là Chủ tịch nước phải được ăn thứ này, thứ kia. Kháng chiến gian khổ đã đành là Bác sống như một người bình thường, khi hòa bình lập lại có điều kiện Bác cũng không muốn coi mình là “vua” có gì ngon, lạ là “cống, tiến”.

Thứ hai, món ăn của Bác rất giản dị, toàn các món dân tộc, tương cà, cá kho… thường là chỉ 3 món trong đó có bát canh, khá hơn là 4,5 món thôi…

Thứ ba, Bác thường bảo chúng tôi, ăn món gì cho hết món ấy, không đụng đũa vào các món khác. Gắp thức ăn phải cho có ý.

Nhớ lần đi khu 4, đồng chí Bí thư và Chủ tịch Quảng Bình ăn cơm với Bác, trong mâm có một bát mắm Nghệ nhưng rót hơi nhiều. Bác dùng bữa xong trước, ngồi bên mâm cơm. Hai cán bộ tỉnh ăn tiếp rồi buông đũa. Bác nhìn bát mắm nói:

– Hai chú xẻ bát mắm ra, cho cơm thêm vào ăn cho hết.

Hai “quan đầu tỉnh” đành phải ăn tiếp vừa no, vừa mặn… Chiều hôm đó, hai đồng chí đưa Bác đi thăm bờ biển, trời nắng, ăn mặn nên khát nước quá.

Lần khác, một cán bộ ngoại giao cao cấp người Hà Tĩnh được ăn cơm với Bác, đã gắp mấy cọng rau muống cuối cùng vào bát tương ăn hết. Tưởng là đã “hoàn thành nhiệm vụ” nào ngờ Bác lại nói:

– Tương Nghệ đồng bào cho Bác, ngon lắm. Cháu cho thêm ít cơm vào bát “quẹt” cho hết….

Thứ tư, có món gì ngon không bao giờ Bác ăn một mình, Bác xẻ cho người này, người kia rồi sau cùng mới đến phần mình, thường là phần ít nhất. Ăn xong thu xếp bát đũa gọn gàng, để đỡ vất vả cho người phục vụ.

Thứ năm, tôi có cảm giác là đôi khi ăn cơm có những giây phút Bác cầm đôi đũa, nâng bát cơm. Bác như tư lự về điều gì đó. Tưởng như Bác nghĩ đến đồng bào, cụ già, em bé đói rách ở đâu đâu.

Tưởng như Bác nhớ lại những ngày lao động ở xứ người kiếm từng mẩu bánh để ăn, để uống, để làm cách mạng… Hay là Bác lại nghĩ đến những lần tù đày không có gì ăn.

Thật khó hiểu mà càng khó hiểu, tôi lại càng thương Bác quá, thương quá. Bây giờ vào những bữa tiệc cao lương, mỹ vị, rượu bia thức ăn bày la liệt, quái lạ tôi lại nhớ đến Bác rồi… có ăn cũng chẳng thấy ngon như khi xưa ngồi vào mâm cơm đạm bạc với Bác”.

Theo Tiền Phong Online
Thúy Hằng (st)

“Tiền Cụ Hồ”- đồng tiền tiếp nối truyền thống thời lập quốc

Hình ảnh Cụ Hồ là biểu tượng xuyên suốt, tiếp nối các giá trị, truyền thống trong lịch sử từ trước đến nay.

Ngày 31/11/1946, sau hơn 1 năm nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, lần đầu tiên tiền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được chính thức phát hành, khẳng định vai trò lưu thông của một đồng tiền tự chủ.

Qua thời gian, các hệ thống đồng tiền có hình Cụ Hồ còn có một giá trị đặc biệt, gắn bó chặt chẽ với hoàn cảnh cách mạng Việt Nam trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954), hơn 20 năm chống đế quốc Mỹ (1954-1975) và 38 năm xây dựng, phát triển đất nước (1975-2013).

1. “Tiền Cụ Hồ”

Lúc đầu, “Tiền Cụ Hồ” là tên gọi bắt nguồn từ tình cảm của người dân dành cho vị Chủ tịch nước đầu tiên của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Cụ Hồ Chí Minh. Các loại  tiền giấy Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đầu tiên có mệnh giá 100 đồng, 20 đồng, 5 đồng và 1 đồng; trên tờ tiền có chữ ký của Bộ trưởng Bộ Tài chính Phạm Văn Đồng và Giám đốc Ngân khố Trung ương Phạm Khoa.

tien CU HO
Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh do nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Năng An chụp vào khoảng năm 1945 – 1946 được các họa sĩ dùng vẽ trên hệ thống tiền đầu tiên của nước                      Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ông Nguyễn Ngọc Oánh, nguyên Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam kể: Thời kỳ đó sau khi Pháp đánh chiếm Hà Nội, toàn quốc đứng lên kháng chiến nhưng nhiều người vẫn tìm mọi cách để có được đồng tiền Việt Nam có hình Bác Hồ. Nhiều khi không có tiền lẻ, người ta sẵn sàng xé đôi tờ tiền để tính giá trị một nửa, để được chia nhau niềm hạnh phúc được sở hữu đồng tiền kháng chiến. Đồng tiền dù rách nát đến mấy nhưng cứ “tiền Cụ Hồ” là nhân dân yêu chuộng, nhiều người giữ lại không tiêu dùng mà mang đặt lên bàn thờ tổ tiên rất trân trọng vì trên tờ giấy bạc có chân dung Bác Hồ…

Tại Chiến khu Việt Bắc, việc tiêu dùng tiền Cụ Hồ là hiện tượng bình thường. Tuy nhiên, tại vùng Pháp tạm chiếm, nhất là Hà Nội và các vùng phụ cận, việc tiêu tiền bị hạn chế do chính quyền Thực dân cấm đoán, thu giữ… Mặc dù vậy, người dân vẫn cất giấu, lưu truyền để “vừa tiêu, vừa thờ”.

Tại Nam Bộ, do tình tình khó khăn trong liên lạc và vận chuyển, tháng 11/1947, Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh cho phép Ủy ban Kháng chiến Hành chính (UB KCHC) Nam Bộ in và lưu hành tiền giấy riêng.

Theo tài liệu ghi chép của Viện Bảo tàng Long An, xưởng in tiền nằm bên dòng kênh Dương Văn Dương ở vùng Đồng Tháp Mười (nay thuộc huyện Tân Thạnh). Thời kỳ này tại Nam Bộ các loại giấy bạc Việt Nam mệnh giá 1 đồng, 5 đồng, 50 đồng và 100 đồng, cùng với một số tín phiếu đã được phát hành, có in chân dung Bác Hồ do ông Phạm Văn Bạch – Chủ tịch UB KCHC Nam Bộ ký.

Trong những năm chiến tranh, đặc biệt là kháng chiến chống Mỹ, cả miền Nam chìm trong khó khăn, nhưng vẫn hướng về cách mạng và miền Bắc thân yêu. Nhiều người dân Nam Bộ đã cất giấu những tờ giấy bạc Cụ Hồ bằng nhiều hình thức khác nhau như: Bỏ vào ống sữa bò chôn xuống đất, bỏ vào ống tre trên mái nhà, trong ống cuốn vải, sau giải phóng 1975 đem ra như là bằng chứng về lòng quả cảm, trung thành với cách mạng, nhiều người trong số họ còn đem hiến tặng cho ngành bảo tồn, bảo tàng tại địa phương nơi sinh sống. Sau một số đợt công tác khảo sát, ngành ngân hàng ghi nhận nhiều địa phương như: Cà Mau, Long An, Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh còn lưu giữ được được rất nhiều hiện vật như vậy.

2. Những câu chuyện vẽ “tiền Cụ Hồ” từ các họa sỹ

Nhân kỷ niệm 62 năm thành lập (6/5/1951- 6/5/2013), ngành Ngân hàng đang xúc tiến cho việc xây dựng, nâng cấp một phòng truyền thống, trong đó có phần trưng bày các hệ thống tiền Việt Nam. Để tương xứng với chủ đề “Tiền Cụ Hồ” đây là đòi hỏi rất lớn về công sức, trí tuệ của người làm công tác chuyên môn. Trước hết, cần ghi nhận các địa điểm tại Hà Nội như số 6 Lê Lai, 65 Nguyễn Thái Học, nơi làm việc và sinh sống của các họa sỹ liên quan đến “Tiền Cụ Hồ”.

Theo chúng tôi được biết, tất cả các họa sỹ vẽ ra hệ thống tiền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đầu tiên đều đã qua đời, nhiều người thân trong gia đình của các cố họa sỹ đều có chung một mong muốn khi tôn vinh “Tiền Cụ Hồ” hãy luôn ghi nhớ công sức đóng góp của các họa sỹ thực hiện vẽ từng tờ tiền đó. Đó là: Họa sỹ Mai Văn Hiến vẽ tờ 5 đồng, họa sỹ Nguyễn Đỗ Cung vẽ tờ 1 đồng, họa sỹ Nguyễn Văn Khanh vẽ tờ 20 đồng và họa sỹ Nguyễn Huyến vẽ tờ 100 đồng.

Một số giai thoại mà báo chí còn lưu truyền có thể là cơ sở tư liệu góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề về thân thế và công việc của họ tại thời điểm tham gia vẽ tiền cho chính quyền cách mạng.

Ví như năm 2009, nhà văn Đỗ Chu đã viết trên báo Người cao tuổi bài “Một người vẽ tiền” nói về họa sỹ Mai Văn Hiến. Nội dung có đoạn rất đáng lưu ý: “…Một đêm, tại căn nhà số 6 phố Lê Lai, ông đang ngồi hí hoáy vẽ tiền cách mạng thì nghe sát vách bên kia có tiếng nói quen lắm. Tò mò, ghé mắt nhìn qua một khung cửa tràn ngập ánh sáng, trước mắt ông hiện ra một cảnh tượng rất ít người may mắn được thấy. Trên chiếc bàn lim lớn đặt giữa nhà là một đống vàng. Ngồi ở một bên bàn là ông Phạm Văn Đồng. Người đối diện là ông Trịnh Văn Bính, khi đó là Thứ trưởng Tài chính…”.

Hay như bài “Người họa sỹ vẽ tiền cho cách mạng” của Minh Huệ trên báo Quân đội nhân dân năm 2008 có đoạn: “Số nhà 65 Nguyễn Thái Học vốn của cụ Cự Lĩnh, một chủ thầu khoán lớn của Hà Nội thời Pháp thuộc. Nhà 3 tầng, mỗi tầng có 4 phòng riêng biệt, xây theo kiến trúc Pháp. Sau giải phóng Thủ đô, biệt thự trở thành nơi ở và làm việc của một nhóm họa sĩ và nhà điêu khắc…

Bà Mai Thị Kim Oanh, con gái của họa sĩ Mai Văn Hiến kể: Cuối tháng 11/ 1945, bốn họa sỹ xuất thân từ Trường Cao đẳng mỹ thuật Đông Dương được gặp bác Phạm Văn Đồng để nhận nhiệm vụ tối mật – vẽ mẫu những tờ bạc đầu tiên của nhà nước cách mạng Việt Nam non trẻ. Bác Phạm Văn Đồng nói với bố tôi và các bác rằng, Chính phủ cần có đồng bạc riêng, cần vẽ 4 tờ giấy bạc có mệnh giá 1 đồng, 5 đồng, 20 đồng và 100 đồng. Trên 4 loại tiền này phải có hình ảnh đại diện cho các ngành nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp và văn hóa…

Để duy trì được tình cảm nồng ấm cho những đồng tiền Cụ Hồ như những ngày đầu, bên cạnh việc kế thừa truyền thống của các thế hệ họa sỹ đi trước, đội ngũ vẽ tiền ngày nay đã được đào tạo một cách bài bản và tổ chức thành một phòng chuyên nghiên nghiên cứu và vẽ mẫu tiền một cách chuyên nghiệp. Đối với họ, việc vẽ và tiếp tục hoàn thiện “chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh” vẫn luôn là nguồn cảm hứng bất tận./.

Theo http://vov.vn
Huyền Trang (st)

Chuyện về bộ quần áo kaki của Bác Hồ

Chuyện kể về NgườiTrong quá trình tiến hành nghiên cứu xác minh nội dung lịch sử để xây dựng hồ sơ khoa học bộ quần áo kaki Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng từ năm 1959 đến năm 1969, chúng tôi đã được nghe câu chuyện về việc may áo cho Bác Hồ. Những người thợ may ở Xí nghiệp may 10 Hà Nội mãi mãi ghi sâu kỷ niệm về Bác Hồ kính yêu. Những đồng chí công nhân lớn tuổi ở đây thường kể lại cho lớp thợ trẻ nghe câu chuyện xúc động khi Bác Hồ về thăm Xí nghiệp.

Đó là mùa Xuân năm 1959, cách đây hơn 50 năm, ngày 8-1-1959, khi Xưởng may 10 (lúc đó thuộc Cục Quân nhu – Tổng cục Hậu cần) vinh dự được đón Bác Hồ về thăm. Năm đó Bác đã 69 tuổi nhưng đi lại vẫn nhanh nhẹn. Bác lần lượt đi thăm từng phân xưởng may, thăm các cháu ở nhà trẻ và thăm nhà ăn của công nhân. Bác đi thăm các phân xưởng sản xuất trước. Đi dọc ba phân xưởng may, Bác thấy trên các bàn máy có cắm cờ đỏ, cờ xanh trên các cọc chỉ liền hỏi, thì anh chị em công nhân trả lời: “Thưa Bác, trong ngày làm việc, ai có năng suất cao thì được tặng cờ đỏ, năng suất thấp thì nhận cờ xanh”. Bác dừng lại bên bàn máy của một nữ công nhân trẻ có cờ xanh ân cần hỏi kỹ về phong trào thi đua này. Bác tỏ ý vui mừng và căn dặn: “Các cô, các chú phải phấn đấu giành nhiều cờ đỏ, bỏ cờ xanh. Các cô, các chú có làm được không?” Tất cả mọi người có mặt đồng thanh đáp: “Thưa Bác có ạ”. Sau khi đi thăm xong các phân xưởng, Bác quay về hội trường nói chuyện với cán bộ, công nhân nhà máy. Bác nhắc nhở nhiệm vụ của xí nghiệp, của cán bộ và công nhân viên và căn dặn mọi người phải tiết kiệm trong quá trình sản xuất, phải chú ý đến việc cải tiến kỹ thuật. Cuối buổi nói chuyện, Bác trực tiếp phát động phong trào thi đua sản xuất trong toàn nhà máy, đồng thời Người hứa: “Nếu cuối năm đạt thành tích cao báo cáo lên Bác, Bác sẽ thưởng”.

Cán bộ, công nhân Xưởng may 10 rất xúc động khi thấy chiếc áo kaki màu đã bạc, sờn tay mà Bác vẫn mặc từ những ngày đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Không ai bảo ai, mọi người có mặt trong buổi đón Bác đều mong muốn được may biếu vị lãnh tụ kính yêu bộ quần áo. Một đồng chí cán bộ lãnh đạo Xưởng may 10 đem ngay ý tưởng đó ra trao đổi với đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký riêng của Bác. Suy nghĩ giây lát, đồng chí Vũ Kỳ nói: “Bác sắp đi thăm Inđônêxia nhưng quần áo của Bác đã cũ hết cả rồi. Các cậu có thể may biếu Bác một bộ. Ngày mai tôi sẽ đưa bộ quần áo của Bác xuống làm mẫu”. Hôm sau, nhận được bộ quần áo mẫu (bộ quần áo kaki cũ của Bác) do các đồng chí phục vụ Bác chuyển đến, anh chị em Xưởng may 10 lập tức bắt tay vào việc. Xưởng cử người sang X20 (Cửa hàng may đo lúc đó ở phố Cửa Đông) lấy vải kaki Trung Quốc có màu sắc tương tự như màu áo của Bác. Các ông Trần Văn Quảng, Nguyễn Công Thái và Phạm Huy Tăng là những người thợ lành nghề được giao nhiệm vụ may bộ quần áo này. Điều khó là khi đo cắt vải mới nhưng lại không được tháo rời bộ quần áo mẫu. Những người thợ bèn cắt theo phương pháp quy vuông: Trải vải mới chồng lên bộ cũ. Bộ quần áo kaki dùng làm mẫu là bộ được may từ năm 1945, là bộ Người đã mặc trong buổi lễ đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội.

Đặc điểm bộ quần áo này là đường may bị lệch và thân quần một bên to một bên bé, khi cắt phải cố gắng thật khéo léo để khắc phục nhược điểm trên. Sau khi cắt nhiều mẫu, cuối cùng các anh chọn lấy hai mẫu giống nhất để may. Sau hơn một tháng, bộ quần áo đã may xong, xưởng gửi ngay cho đồng chí Vũ Kỳ hai bộ kèm theo một bức thư nói lên tấm lòng của cán bộ, công nhân xưởng may 10 đối với Bác Hồ. Bức thư có nội dung như sau:

Hà Nội ngày 23 tháng 2 năm 1959

Kính thưa Bác!

Ngày 8-1-1959 Bác về thăm chúng cháu. Chúng cháu coi ngày đó là một ngày lịch sử của xưởng chúng cháu. Chúng cháu vô cùng cảm động. Nhiều người đã khóc trước sự chăm sóc ân cần của Đảng, của Chính phủ và của Bác. Chúng cháu tự thấy rằng mình còn nhiều khuyết điểm, thành tích đã đạt được chưa xứng đáng với tấm lòng ân cần đó.

Chúng cháu làm việc ngày đêm, không kể giờ giấc để nâng cao sản xuất, kèm cặp, giúp đỡ anh chị em thợ mới vào nghề, năng suất của cả thợ mới, thợ cũ đều tăng. Do đó kế hoạch tháng 1 năm 1959 chúng cháu đã thực hiện được 109%. Về chất lượng chúng cháu đã đạt được 95,12%. Trong tháng 2 năm 1959 kế hoạch khá nặng nhưng chúng cháu quyết tâm để hoàn thành vượt mức.

Kính thưa Bác!

Hôm Bác đến chúng cháu chú ý nhìn kỹ thấy quần áo của Bác mặc đã cũ, chúng cháu vô cùng cảm động. Vì vậy chúng cháu không hẹn mà nên, mỗi người một ý bàn với nhau may biếu Bác hai bộ quần áo. Tuy quần áo chúng cháu may chưa được đẹp, nhưng đó là cả tấm lòng thành của chúng cháu đối với Bác, mong Bác vui lòng nhận cho chúng cháu. Chúng cháu coi đó là một vinh dự của chúng cháu.

Cuối cùng chúng cháu xin kính chúc Bác sống lâu muôn tuổi.

   Toàn thể công nhân, quân nhân, nhân viên

Xưởng may 10 Cục Quân nhu, Tổng cục Hậu cần”.

Nhớ lại sự kiện này, đồng chí Cù Văn Chước – cán bộ Văn phòng Phủ Chủ tịch, sau này là Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh kể lại: Nhận được thư và quà của Xí nghiệp may 10 gửi biếu Bác, tôi đã chọn một bộ cùng với bức thư để báo cáo với Bác. Sau khi Bác đi ăn cơm trưa về, tôi thưa với Bác: “Thưa Bác, anh chị em công nhân Xưởng may 10 tiết kiệm được vải, may biếu Bác bộ quần áo với tất cả tấm lòng thành, mong Bác vui lòng nhận cho”.

Bác Hồ cầm lên xem và khen may đẹp. Sau đó, Bác đánh máy bức thư gửi cán bộ, nhân viên Xưởng may 10, Cục Quân nhu, Tổng cục Hậu cần:

Thân ái gửi: Công nhân, chiến sĩ, nhân viên và cán bộ Xưởng may 10, Cục Quân nhu, Tổng cục Hậu cần.

Bác rất vui lòng các cô, các chú có tiến bộ khá về:

                       Đoàn kết thân ái

                       Liên tục thi đua

                       Cải tiến kỹ thuật

                      Tăng gia sản xuất

                      Thực hành tiết kiệm

                      Quản lý xí nghiệp.

Chắc các cô, các chú đã tự thấy rằng: Tư tưởng thông thì công việc tốt. Những kinh nghiệm ấy nên phổ biến cho các nhà máy khác.

Nhưng các cô, các chú chớ thấy có tiến bộ mà tự mãn, tự kiêu. Trái lại cần phải cố gắng nữa để tiến bộ mãi.

Cảm ơn các cô, các chú đã biếu Bác bộ quần áo. Bác nhận rồi. Nay Bác gửi bộ quần áo ấy làm giải thưởng cho một đợt thi đua. Khi nào đợt thi đua kết thúc, do các cô, các chú bình nghị, ai khá nhất thì được giải thưởng ấy.

Chúc các cô, các chú vui vẻ, mạnh khoẻ, đoàn kết, tiến bộ.

                                                                      Ngày 24 tháng 2 năm 1959.

                                                                                        Bác Hồ”.

Nhận được thư Bác, một phong trào thi đua mới sôi nổi trong toàn xưởng may. Anh chị em nào cũng quyết tâm lập thêm nhiều thành tích để đền đáp lại tình cảm của Bác. Ngày nghỉ nhiều công nhân vẫn đứng máy, thực hiện khẩu hiệu: “Ngày không giờ, tuần không thứ”, toàn xí nghiệp dấy lên phong trào quyết tâm “Giành cờ đỏ, bỏ cờ xanh”. Nhiều công nhân tăng năng xuất tới 200%, hầu hết các đầu máy không còn cờ xanh nữa. Nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật quan trọng đã nâng cao được chất lượng và năng suất lao động. Những lời dạy bảo ân cần của Bác trở thành nguồn động viên cán bộ, công nhân, viên chức của xí nghiệp, ra sức thi đua lao động sản xuất, xây dựng xí nghiệp. Đầu năm 1960, Bác đã tặng cho cán bộ công nhân Xí nghiệp may 10 lá cờ thêu dòng chữ: “Đơn vị thi đua khá nhất” dưới là tên Bác: Hồ Chí Minh.

Trong phong trào thi đua đó, nhiều công nhân đạt thành tích cao trong lao động trong đó có ông Hoàng Nguyên đạt thành tích cao nhất và giành danh hiệu chiến sĩ thi đua. Ban Giám đốc, Đảng uỷ, Công đoàn Xưởng may 10 đã tặng cho đồng chí Hoàng Nguyên bộ quần áo kaki mà Bác gửi lại cho xí nghiệp. Đồng chí Nguyễn Văn Lợi có nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật có giá trị được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động (năm 1962).

Bộ quần áo ông Hoàng Nguyên được tặng sau đó ông gửi lại Xí nghiệp để trưng bày ở phòng truyền thống. Để góp phần xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh, ngày 3-5-1977, Xưởng may 10 đã gửi tặng Bảo tàng Hồ Chí Minh bộ quần áo này. Hiện nay, bộ quần áo đang được lưu giữ ở Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Còn bộ quần áo kaki các đồng chí phục vụ giữ lại, nhiều lần các đồng chí đề nghị Bác dùng bộ quần áo mới nhưng Bác đều từ chối. Cho đến dịp Bác chính thức đi thăm nước Cộng hoà Inđônêxia ngày 27-2-1959, khi lên máy bay Bác vẫn mặc bộ quần áo dạ lễ phục, sang đến Inđônêxia, áo của Bác bị đứt cúc. Lúc đó đồng chí Vũ Kỳ mới đưa bộ quần áo mới của Xí nghiệp may 10 biếu Bác đã chuẩn bị sẵn trong vali, đề nghị Bác mặc với lý do đồng chí không mang theo kim chỉ nên không đính lại cúc áo được. Bác cười và bảo: “Thế là chú cố ép Bác mặc áo mới nhưng chú nên nhớ rằng mình làm sao có thể thi sang với người ta được, mình phải biết tiết kiệm, dân mình đang còn nghèo lắm”.

Theo các đồng chí phục vụ Bác Hồ kể lại: Khi Bác tiếp khách thân mật tại Phủ Chủ tịch, Bác thường mặc bộ quần áo bà ba màu nâu giản dị như khi làm việc. Hôm nào trời hơi lạnh, Bác khoác thêm áo kaki, lạnh nhiều Bác khoác áo bông. Bộ quần áo kaki do Xí nghiệp may 10 may Bác thường mặc mỗi khi đi thăm các địa phương trong nước, đi thăm các nước anh em, đi dự hội nghị và các cuộc họp của Chính phủ, tiếp khách quốc tế.

Ông Tăng không ngờ 10 năm sau, ngày 2-9-1969, ông lại là người được may bộ quần áo cuối cùng cho Bác. Ngày đó những hiệu may nổi tiếng nhất Hà Nội cũng được nhận sứ mạng lịch sử này. Song tất cả các sản phẩm đều không được phê duyệt do dùng vải quá sang, không hợp với đức tính giản dị của Bác. Sau khi cân nhắc, nhiệm vụ này được giao cho Xí nghiệp may 10. Ông Tăng và ông Quảng lại được chọn thực hiện việc may áo để Bác mặc trong ngày tang lễ. Họ đã thức trắng đêm, vừa làm vừa khóc vì thương nhớ Bác và sau hai ngày thì công việc hoàn thành. Ông Tăng nhớ lại: “Lúc đó chúng tôi đâu biết rằng chuyên gia Liên Xô và các cán bộ khoa học kỹ thuật chịu trách nhiệm giữ gìn thi hài Bác đã kiểm tra hết sức cẩn thận từng đường kim mũi chỉ, từng sợi vải bằng nhiều loại máy móc hiện đại”. Nhưng mọi thông số kỹ thuật đều đạt yêu cầu. Sản phẩm đã được Bộ Chính trị phê duyệt.

Sau ngày miền Nam giải phóng, thể theo nguyện vọng của Bảo tàng các tỉnh ở trong Nam, Xí nghiệp may 10 đã tặng cho mỗi tỉnh một bộ quần áo may theo mẫu bộ quần áo của Bác và đều do ông Tăng may. Bộ quần áo đang trưng bày tại Di tích nhà 54 trong Khu Phủ Chủ tịch là bộ quần áo do Xí nghiệp may 10 may trong dịp này. Bộ quần áo được đánh số kiểm kê BTHCM 361/ĐD-4 (chiếc áo) và BTHCM/ĐD-5(chiếc quần). Có một kỷ vật mà suốt mấy chục năm qua ông Phạm Huy Tăng luôn nâng niu gìn giữ đó là tấm huy hiệu Bác Hồ ông được cơ quan Văn phòng Phủ Chủ tịch tặng khi may xong bộ quần áo của Bác. Ông nói: “Tôi đã học được rất nhiều từ đức tính giản dị, khiêm tốn của Bác Hồ”. Hình ảnh Bác Hồ, tấm áo của Bác, một phần thưởng thi đua cao quý được trưng bày trong phòng truyền thống, bên cạnh lá cờ thi đua lấp lánh cùng tấm Huy chương của Quốc hội và Chính Phủ tặng đã ghi đậm thành tích 50 năm Xí nghiệp làm theo lời Bác.

Theo http://ditichhochiminhphuchutich.gov.vn
Huyền Trang (
st)

Quý trọng dân, tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chuyện kể rằng: Ngày 2 tháng 9 năm 1945, sau khi Bác Hồ đọc xong bản Tuyên ngôn Độc lập, ra về trên 1 chiếc xe màu đen, cửa kính hơi thấp. Một phóng viên đón đường, ghé máy ảnh sát vào cửa kính định chụp ảnh Bác. Bác Hồ xua tay không cho chụp và nói: “Chú quay máy ra ngoài kia mà chụp nhân dân!”.

quy-trong-danẢnh Chủ tịch Hồ Chí Minh (in lụa) được Đoàn chiếu bóng tỉnh Ninh Bình tặng cho nhân dân  Châu Thới để thờ tại Đền thờ Bác Hồ tháng 10/1972 (hiện nay, ảnh được lưu giữ trong phòng trưng bày hiện vật và hình ảnh của Bác tại Khu Di tích lịch sử – văn hóa Đền thờ Bác Hồ ở xã Châu Thới, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu)

Thế mới biết Bác Hồ quý trọng nhân dân biết nhường nào. Theo Bác Hồ, sức mạnh của Đảng nằm ngay trong mối quan hệ giữa Đảng với dân và dân với Đảng. Bác khẳng định: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Khi sức dân được huy động, được tổ chức, được tập hợp dưới sự lãnh đạo của Đảng thì thành vô địch”. “Làm việc gì cũng phải có quần chúng. Không có quần chúng thì không thể làm được… Việc gì có quần chúng tham gia bàn bạc, khó mấy cũng trở nên dễ dàng và làm được tốt”. “Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong”.

Mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng được thể hiện rất cụ thể ở đạo đức, thái độ, tác phong trong quan hệ với dân ở từng cán bộ đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Cán bộ đảng viên phải nâng cao tinh thần phụ trách trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Phải kính yêu nhân dân. Phải tôn trọng thật sự quyền làm chủ của nhân dân. Tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng”, ra lệnh, ra oai… phải khiêm tốn, gần gũi quần chúng, không được kiêu ngạo”.

Khi chọn cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải lựa chọn “Những người liên lạc mật thiết với dân chúng, hiểu biết dân chúng. Luôn chú ý đến lợi ích của dân chúng. Như thế, thì dân chúng mới tin cậy cán bộ và nhận cán bộ là người lãnh đạo của họ”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh căm ghét và lên án gay gắt chủ nghĩa cá nhân: “Hiện nay chủ nghĩa cá nhân đang ám ảnh một số đồng chí. Họ tự cho mình là cái gì cũng giỏi, họ xa rời quần chúng, không muốn học hỏi quần chúng, mà chỉ muốn làm thầy quần chúng. Họ ngại làm việc tổ chức, tuyên truyền giáo dục quần chúng. Họ mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Kết quả là quần chúng không tin, không phục, càng không yêu họ. Chung quy là họ không làm nên trò trống gì”.

Nhân dân là nguồn bổ sung lực lượng vô tận cho Đảng và luôn luôn tràn trề sức xuân.Trọng dân là thương dân, vì nhân dân mà phục vụ và biết coi trọng sức mạnh vĩ đại của nhân dân. Biết bao người con ưu tú trong giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức và các tầng lớp nhân dân lao động khác, đã trở thành đảng viên của Đảng. Quần chúng còn tham gia góp ý, phê bình sự lãnh đạo của Đảng với mong muốn Đảng luôn luôn trong sạch và vững mạnh để lãnh đạo sự nghiệp cách mạng đến đích cuối cùng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh căm ghét thói cậy quyền, cậy thế, chia rẽ, kiêu ngạo, lãng phí, quan liêu, tham nhũng… vì nó là “Kẻ thù của nhân dân, của dân tộc, của Chính phủ. Nó là kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm, mang súng, nó nằm trong tổ chức của ta, nó là giặc nội xâm để làm hỏng công việc của ta…”.

Bác còn dạy: “Cơm của chúng ta ăn, áo của chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng đều là mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra. Vì vậy chúng ta phải đền ơn xứng đáng cho nhân dân. Chớ vác mặt làm quan cách mạng để dân ghét, dân khinh, dân không ủng hộ…”. Tấm lòng của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn hướng về nhân dân. Bác thương yêu và quý trọng nhân dân, trước hết là người lao động, nhân dân mình và nhân dân các nước. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, lòng thương yêu nhân dân, thương yêu nhân loại là vô hạn, và không bao giờ thay đổi.

Bác Hồ đã từng nói: “Chúng ta có trọng dân, yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta. Tôn trọng và tin tưởng nhân dân là tôn trọng và tin tưởng những người làm ra lịch sử, những người sáng tạo ra của cải, vật chất, những người được sánh với Trời, Đất…”. Bác Hồ khẳng định: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tin ở dân, dựa vào dân, tổ chức và phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân, bồi dưỡng, đào tạo và phát huy mọi năng lực của dân, đó là tư tưởng được Bác Hồ vận dụng và phát triển trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng giành độc lập dân tộc cũng như xây dựng đất nước. Tư tưởng đó cũng chính là nội dung cơ bản của tư tưởng quý trọng dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, tư tưởng đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục được Đảng ta quán triệt vận dụng và phát triển. Bởi nhân dân là động lực, là trung tâm trong “chiến lược phát triển toàn diện”, trong công cuộc xây dựng xã hội mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, xã hội công bằng, văn minh”, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Võ Hoàng Nam
Nguồn: Liên hiệp Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Bạc Liêu
Thu Hiền (st)/ Theo http://www.baclieu.gov.vn

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về lối sống và môi trường văn hóa

Lối sống văn hóa như Bác nói là được thể hiện trong lao động sản xuất, trong sinh hoạt hàng ngày.

Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, trong Diễn văn khai mạc Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất, tổ chức tại Hà Nội ngày 21/11/1946, Bác Hồ đã nêu rõ: “Nền văn hóa mới của Việt Nam phải lấy hạnh phúc của nhân dân, của dân tộc làm cơ sở; phải học lấy những điều tốt đẹp của văn hóa nước ngoài tạo ra nền văn hóa Việt Nam, sao cho văn hóa mới phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ, phải làm cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập”(1).

Muốn làm được điều đó, nhiệm vụ đầu tiên và rất quan trọng là phải thường xuyên quan tâm xây dựng lối sống văn hóa và môi trường văn hóa.

Lối sống văn hóa như Bác nói là được thể hiện trong lao động sản xuất, trong sinh hoạt hàng ngày như cách ăn mặc, cách ở, cách đi lại, cách làm việc… Cốt lõi của lối sống văn hóa là nhân sinh quan, thế giới quan cách mạng, tiến bộ. Lối sống văn hóa mà Đảng ta, nhân dân ta xây dựng biểu hiện tập trung các giá trị của nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đó là lối sống nhằm phát huy cao độ những giá trị tốt đẹp, bền vững của ông cha ta để lại như lòng yêu nước, ý chí tự lực tự cường, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết cộng đồng, đức tính cần cù, giản dị, coi trọng đạo lý, nghĩa tình… Đó là lối sống lấy độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nội dung, mục tiêu hoạt động của cộng đồng và mỗi cá nhân.

Còn môi trường văn hóa là điều kiện để hình thành nhân cách con người văn hóa và lối sống văn hóa. Trong môi trường văn hóa có môi trường văn hóa xã hội, môi trường văn hóa cộng đồng, môi trường văn hóa gia đình… Môi trường văn hóa của nước ta xây dựng hiện nay bảo đảm cho con người được giao tiếp với thiên nhiên, sống trong một môi trường trong lành, hài hòa, bền vững. Đồng thời, ở đó con người với con người được sống bình đẳng, tự do, hạnh phúc, được phát huy mọi năng lực, sở trường, được thụ hưởng những giá trị chân – thiện – mỹ. Ở đó, cái đúng, cái tốt, cái đẹp, cái tiến bộ được tôn trọng và bảo vệ. Cái xấu, cái ác, cái phản văn hóa phải bị phê phán, loại trừ.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, những nội dung và các giải pháp về xây dựng lối sống văn hóa, môi trường văn hóa đã được Bác nêu một cách đầy đủ, cụ thể, giản dị mà sâu sắc. Người nói: “Đời sống mới không phải cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ. Thí dụ ta phải bỏ hết tính lười biếng, tham lam. Cái gì cũ mà không xấu nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý. Thí dụ đơm cúng, cưới hỏi quá xa xỉ, ta phải giảm bớt đi.

Cái gì cũ mà tốt thì phải phát triển thêm. Thí dụ: Ta phải tương thân tương ái, tận trung với nước, tận hiếu với dân hơn khi trước.

Cái mới mà hay thì ta phải làm. Thí dụ: Ăn ở cho hợp vệ sinh, làm việc cho nó ngăn nắp(2).

Tư tưởng Hồ Chí Minh về lối sống văn hóa còn có cả xây dựng lối sống văn minh, phù hợp với yêu cầu của thời đại. Muốn thực hiện điều này, theo Bác là phải thường xuyên quan tâm nâng cao dân trí, nhận thức đầy đủ vai trò của văn hóa, giáo dục con người “biết ham đọc”, bởi có học mới tiến bộ. Đồng thời, xây dựng lối sống văn hóa phải được nhận thức và thể hiện từ mỗi con người, trong từng gia đình, từng làng xóm, phố phường ra toàn dân mới có hiệu quả bền vững và phát huy tác dụng tích cực, rộng lớn, lâu dài.

Xây dựng môi trường văn hóa trong tư tưởng Hồ Chí Minh là luôn coi trọng và đề cao mối quan hệ hài hòa, sự kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng môi trường xã hội và môi trường tự nhiên. Trong môi trường xã hội phải coi trọng và luôn chăm lo giáo dục bồi dưỡng nhân cách phẩm chất con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Bác Hồ nói: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần phải có những con người xã hội chủ nghĩa”(3).

Trong môi trường xã hội đó con người phải được tự do, bình đẳng, được sống ấm no, hạnh phúc, nhân phẩm, quyền lợi chính đáng được bảo vệ, chủ nghĩa cá nhân phải bị phê phán, loại bỏ, tham ô, tham nhũng, lãng phí phải được ngăn chặn, con người luôn coi trọng giá trị đạo đức và biết tôn trọng pháp luật…

Cùng với việc quan tâm xây dựng môi trường xã hội, Bác Hồ sớm nhận thức và luôn coi trọng, chú ý tới bảo vệ môi trường tự nhiên.

Cách đây hơn nửa thế kỷ, Bác Hồ đã phát động “Tết trồng cây” và kêu gọi: “Vì lợi ích mười năm trồng cây. Vì lợi ích trăm năm trồng người”. Điều này cho thấy, Người đặt lợi ích của “trồng cây” và “trồng người” quan trọng như nhau và trong mối quan hệ gắn bó không thể tách rời của đời sống con người, của dân tộc. Người khẳng định: “Do Tết trồng cây mà nước ta ngày càng xanh tươi, nhân dân ta càng thêm giàu có”.

Ngày nay, môi trường sống đã trở thành vấn đề toàn cầu. Thế giới lấy ngày 5/6 hàng năm làm Ngày Môi trường thế giới, khuyến cáo mọi người, mỗi quốc gia hãy quan tâm và có trách nhiệm, hành động thiết thực nhằm bảo vệ môi trướng sống trên khắp hành tinh. Có thể nói, thông qua “Tết trồng cây” do Bác Hồ phát động đã cho thấy, Người chính là nguyên thủ quốc gia đầu tiên dự báo và đưa ra chiến lược bảo vệ môi trường.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của nhiệm vụ xây dựng lối sống văn hóa và môi trường văn hóa, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, đường lối đúng đắn, phù hợp về phát triển văn hóa qua các thời kỳ, từ đó làm cho lối sống văn hóa, môi trường văn hóa nước nhà đã phát huy được những giá trị tốt đẹp của con người Việt Nam, tính ưu việt của văn hóa xã hội chủ nghĩa được thể hiện, trở thành “cái nôi” nuôi dưỡng những phẩm chất và nhân tố tích cực trong cộng đồng xã hội, góp phần vào những thành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ Quốc và hội nhập quốc tế.

Tuy nhiên, cũng phải thẳng thắn chỉ ra rằng, hiện nay lối sống văn hóa và môi trường văn hóa nước ta còn nhiều vấn đề đáng quan tâm, lo ngại, tồn tại ở nhiều nơi, cả ở nông thôn và thành thị. Chẳng hạn như hiện tượng tàn phá thiên nhiên, ô nhiễm môi trường, hủy hoại môi sinh một cách nghiêm trọng diễn ra khá phổ biến, kéo dài không được ngăn chặn. Sự lãng quên vô thức của con người làm cho các di sản văn hóa nhiều nơi bị biến dạng, xuống cấp nghiêm trọng… Một số người, ở nhiều nơi kể cả trong trí thức, văn nghệ sĩ, thanh thiếu niên sống thiếu văn hóa, ăn mặc lố lăng, đầu tóc nhuộm vàng nhuộm đỏ, nói năng văng tục, đua đòi lãng phí, vứt rác bừa bãi, vi phạm pháp luật, thiếu tôn trọng kỷ cương, không tự giác chấp hành luật lệ giao thông… Môi trường gia đình, xã hội bị xuống cấp, có nơi, có lĩnh vực đáng lo ngại. Điều đó đang đặt ra cho chúng ta từ các tổ chức Đảng, đến cả hệ thống chính trị ở trung ương đến các cơ sở phải nhận thức đầy đủ tầm quan trọng, tính cấp bách của nhiệm vụ xây dựng lối sống văn hóa, môi trường văn hóa ở nước ta hiện nay.

Nghị quyết Đại hội XI của Đảng vừa qua đã giành mục VI nói về “Chăm lo phát triển văn hóa”, trong đó nhiệm vụ “củng cố và tiếp tục xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú, đa dạng” được đưa lên đầu tiên với những nội dung cơ bản, cụ thể:

Một là: Đưa phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng văn hóa đi vào chiều sâu, thiết thực và hiệu quả. Nâng cao chất lượng phong trào xây dựng xã, phường, khu phố, thôn bản đoàn kết, dân chủ, văn minh, lành mạnh.

Hai là: Xây dựng nếp sống văn hóa trong các gia đình, khu dân cư, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, làm cho các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi mặt đời sống, tạo sức đề kháng đối với các sản phẩm độc hại. Đấu tranh chống các biểu hiện phi văn hóa, suy thoái đạo đức, lối sống.

Ba là: Tiếp tục đẩy mạnh việc giáo dục, bồi dưỡng đạo đức, lối sống văn hóa, xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội; ngăn chặn và đẩy lùi các hủ tục, bạo lực, gây rối trật tự công cộng, mại dâm, ma túy, cờ bạc…

Bốn là: Sớm có chiến lược quốc gia về xây dựng gia đình Việt Nam, góp phần gìn giữ và phát triển những giá trị truyền thống của văn hóa, con người Việt Nam, quan tâm bồi dưỡng, giáo dục đạo đức, nhân cách, lối sống, nếp sống mới đối với thế hệ trẻ.

Năm là: Đúc kết và xây dựng hệ thống giá trị chung của con người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Nâng cao tính văn hóa trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh hoạt của nhân dân.

Sáu là: Tiếp tục phát triển nền văn hóa, nghệ thuật nước nhà tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, giàu chất nhân văn, dân chủ, khẳng định cái đúng, cái đẹp, đồng thời lên án cái xấu, cái ác, bồi dưỡng lý tưởng, thị hiếu thẩm mỹ cho công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ… Đồng thời tập trung xây dựng môi trường, lối sống và đời sống văn hóa của mọi người dân, phát huy năng lực làm chủ của nhân dân…

Bước sang năm 2013, với quyết tâm và khí thế mới, chúng ta tin tưởng đất nước ta sẽ đạt được những thành tựu mới về các mặt, trong đó có thành tựu “củng cố và tiếp tục xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú, đa dạng” theo tư tưởng Hồ Chí Minh mà Nghị quyết Đại hội XI đã chỉ ra, góp phần làm cho văn hóa nước nhà xứng đáng với vai trò “soi đường cho quốc dân đi” như lời Bác căn dặn, trong thời kỳ đất nước đổi mới và hội nhập./.

(1): Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử. NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, 1993, tập 3, tr. 342
(2): Hồ Chí Minh: Toàn tập. NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, 2000, tập 5, tr. 94
(3): Hồ Chí Minh: Về đạo đức cách mạng. NXB Sự thật Hà Nội, 1976, tr. 97

TS. Nguyễn Xuân Thông
Nguyên Vụ trưởng Vụ Thư ký Tạp chí Cộng sản

Theo vov.vn
Huyền Trang
(st)
bqllang.gov.vn

“Lời Bác nay đã thành chiến thắng huy hoàng”

Đối với mỗi người Việt Nam, có 2 bài hát ai cũng thuộc lòng; là bài “Tiến quân ca” của Văn Cao và bài “Như có Bác trong ngày vui đại thắng” của Phạm Tuyên.

“Như có Bác trong ngày vui đại thắng” có được hiệu quả lớn bởi đã đạt được 2 điều. Thứ nhất: Nói đúng được tình cảm của toàn thể dân tộc. Trong giờ phút sung sướng, hạnh phúc đến tột đỉnh của người Việt Nam trong thời khắc miền Nam hoàn toàn được giải phóng, đất nước thống nhất, ai cũng bồi hồi nhớ thương Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vậy nên, tác giả mới đặt tên bài hát của mình là “Như có Bác trong ngày vui đại thắng”.

loibac1Hình ảnh ngày giải phóng miền Nam 30/4/1975.

Mở đầu bài hát, Phạm Tuyên đã rất thông minh khi viết: “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng. Lời Bác nay đã thành chiến thắng huy hoàng…”. Bác đã khẳng định, kháng chiến nhất định thắng lợi, Nam Bắc sẽ về chung một nhà. Cuộc chiến đấu dẫu có phải kéo dài 10 năm, 20 năm hay lâu hơn nữa, Hà Nội, Hải Phòng và nhiều thành phố có thể bị tàn phá nhưng sau này chúng ta sẽ xây dựng non sông ta, đất nước ta to đẹp hơn, đàng hoàng hơn. Đúng như vậy, ngày 30/4/1975 đã chứng minh lời Người tiên đoán.

Điều thứ 2: Muốn bài hát có sức lan tỏa rộng rãi trong mọi đối tượng công chúng thì phải dễ hát. Bài hát có giai điệu không cầu kỳ, rắc rối, âm vực được khống chế trong quãng không rộng. Khúc thức mạch lạc, ngắn gọn, âm hình tiết tấu đơn giản. Sự bố trí các ô nhịp, phách mạnh, phách nhẹ phù hợp với việc lấy hơi tự nhiên của người hát.

loibac2Nhạc sĩ Phạm Tuyên

Bài hát được viết ở thể hai đoạn đơn, mỗi đoạn gồm 4 câu nhạc rất cân đối, vuông vức. Đoạn B gồm 4 câu nhạc nhưng chỉ nhắc lại một lời “Việt Nam! Hồ Chí Minh!”. 5 tiếng này đã vang lên chẳng những trong tâm khảm người Việt Nam mà còn nhận được sự chia sẻ, đồng cảm của nhiều bạn bè trên thế giới. Nói đến đất nước hình chữ S ở bán đảo Đông Dương, khu vực Đông Nam Á, người ta nhớ ngay đến: Đó là Việt Nam – Hồ Chí Minh.

Về sự ra đời của bài hát, Phạm Tuyên cho biết, đó là những ngày gần cuối tháng 4 năm 1975, trên khắp các mặt trận từ Huế – Thừa Thiên đến Nam Trung bộ, rồi Tây Nguyên, quân dân ta đang chiến thắng thần tốc. Hàng loạt tỉnh, thành được giải phóng. Khi chúng ta đã tiến vào sát cửa ngõ Sài Gòn, Phạm Tuyên khi ấy là Trưởng ban Ban Biên tập Âm nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam  nhận chỉ thị của Bộ Biên tập là cần sáng tác rồi dàn dựng gấp một bài hát để kịp phát sóng ngay sau khi công bố chiến thắng giải phóng hoàn toàn miền Nam. Phạm Tuyên nhanh chóng hoàn thành bài hát chỉ trong một giờ đồng hồ.

Ca khúc nhanh chóng được thông qua. Bài hát được phát sóng ở thời điểm Đài Tiếng nói Việt Nam  vừa truyền đi tuyên bố miền Nam được hoàn toàn giải phóng đã có một hiệu quả rất đặc biệt, nằm ngoài sự hình dung của mọi người. Ai cũng nức lòng trước tin chiến thắng kèm theo là bài hát được vang lên. Không ít người đã không cầm được nước mắt vì quá vui sướng, hạnh phúc. Và không cần phải học, chỉ nghe qua Đài Tiếng nói Việt Nam mà hàng triệu người dân đã thuộc và hát được/.

Theo VOV.vn
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Cuộc gặp lịch sử giữa Hồ Chí Minh với V.I. Lê-nin

cuoc gap go lich su giua HCM va Lenin

Cuộc gặp lịch sử giữa V.I.Lê-nin với Nguyễn Ái Quốc ở “Sơ thảo những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa”… Những năm tháng sau đó Nguyễn Ái Quốc ước ao được gặp V.I. Lê-nin – Lãnh tụ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, người đã lập ra nhà nước đầu tiên với những bước đi đầu tiên để không có người bóc lột người, mọi người đều bình đẳng, ấm no… Nhờ có học thuyết của V.I. Lê-nin, người cộng sản Nguyễn Ái Quốc đã nhìn thấy con đường rõ rệt để giải phóng các dân tộc thuộc địa, trong đó có dân tộc Việt Nam.

Cuối năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đã đến Mát-xcơ-va nhưng V.I. Lê-nin đang ốm nặng. N.C. Crúp-xcai-a-người bạn đời thân thiết của V.I. Lê-nin tiếp người cộng sản phương Đông trẻ tuổi này. Nguyễn Ái Quốc trở thành học viên Trường Đại học Phương Đông tại Mát-xcơ-va với các hoạt động trong phong trào Cộng sản quốc tế.

Một nỗi đau lớn đến với Nguyễn Ái Quốc và nhân dân lao động, ngày 22-1-1924 V.I. Lê-nin từ trần. Lá cờ rủ băng tang đen trên toà nhà của Xô-viết Mát-xcơ-va…

Ngày 27-1-1924, Báo Sự Thật Liên Xô đăng bài của Nguyễn Ái Quốc “Lênin và các dân tộc thuộc địa” nói lên niềm khao khát tự do, độc lập của các dân tộc thuộc địa khắp năm châu được ánh sáng học thuyết Lênin vạch đường, chỉ lối. Tại Đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ V, trong tham luận về vấn đề dân tộc và thuộc địa tháng 7-1924, Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh cần tập trung  sức lực để thực hiện những di huấn của V.I. Lê-nin về vấn đề thuộc địa cũng như những vấn đề khác.

31 năm sau khi V.I. Lênin qua đời, Bảo tàng Phòng làm việc và nơi ở của V.I. Lê-nin chính thức mở cửa. Người nước ngoài đầu tiên đến thăm Bảo tàng là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà – Hồ Chí Minh – Nguyễn Ái Quốc của những năm tháng sống và học tập, làm việc ở Liên Xô trước đây. Trên trang đầu của cuốn Sổ ghi cảm tưởng của Bảo tàng, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:

“Lênin, người thày vĩ đại của cách mạng mạng vô sản. Cũng là một vị đạo đức rất cao, dạy chúng ta phải thực hiện cần kiệm, liêm, chính.

Tinh thần Lê-nin muôn đời bất diệt”.                                                    

                                                                                          13-6-1955

                                                                                         Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh – Người học trò xuất sắc của V.I. Lê-nin – Theo quyết định của UNESCO năm 1990 – Thế giới đã kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Người – Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn. V.I. Lê-nin và Hồ Chí Minh đều là những lãnh tụ vĩ đại, những nhà văn hoá lớn của nhân loại.

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ cơ sở

Nhận thức rõ bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa, ngay từ những ngày đầu chính quyền nhân dân mới được thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Quyền lực của Nhà nước là của nhân dân, Nhà nước là của dân, do dân, vì dân. Trong tổ chức bộ máy Nhà nước có thang, bậc, quyền hạn khác nhau nhưng đều là một công cụ thể hiện quyền lực nhân dân. Cán bộ từ trên xuống dưới làm đầy tớ cho nhân dân, phải xứng đáng là người công bộc trung thành của nhân dân. Người đặc biệt chú ý tới việc thực hiện quyền lực của nhân dân ở cơ sở.

TTHCM ve dan chu co soChủ tịch Hồ Chí Minh tát nước chống hạn với bà con nông dân ở cánh đồng Quai Chảo,xã Đại Thanh, huyện Thường Tín, Hà Đông (12-1-1958)

Từ quan niệm “mọi lực lượng đều ở nơi dân”, nhìn thấy và tin tưởng ở sức mạnh của nhân dân, nên Người yêu cầu phải “vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho”. Để nhân dân có điều kiện tham gia trực tiếp vào việc thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước với tư cách là người chủ thực sự, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu cán bộ, đảng viên phải luôn luôn: Vì nhân dân, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Người luôn ý thức rằng: Dân là quý nhất, là quan trọng hơn hết. Dân là gốc của nước. Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Trong cuốn Đường Kách mệnh (1927), Người đã khẳng định: Kách mệnh là việc chung của dân chúng chứ không phải việc một hai người. Đó là tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất phát từ cơ sở nhận thức khoa học: Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân. Vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề đoàn kết tập hợp được đông đảo nhân dân. Đảng dù vĩ đại đến mấy cũng chỉ là một bộ phận của nhân dân, một bộ phận tiên phong, tiên tiến nhất.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ rằng: Dân chủ là vì dân, tất cả vì lợi ích của nhân dân. Người nói: “Ngoài lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, Đảng ta không có lợi ích nào khác. Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm. Việc gì có hại cho dân ta hết sức tránh”. Đó cũng chính là mục đích của Người: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc, và hạnh phúc của nhân dân”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Dân chủ là tư tưởng cơ bản xuyên suốt quá trình cách mạng. Cái cốt lõi trong tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh là lấy dân làm gốc. Bản chất dân chủ là quyền làm người. Người nói: “Lãnh đạo một nước mà để cho nước mình lạc hậu, bị thiệt thòi trong hưởng hạnh phúc con người cũng là mất dân chủ. Nhân dân có quyền lợi làm chủ thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân. Người đánh giá rất cao về dân chủ: Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân. Thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc chúng ta: Nước lấy dân làm gốc, dân lấy cuộc sống làm đầu, chế độ ta là chế độ của dân, do dân. Dân theo Đảng đứng lên đánh đuổi kẻ thù giành lấy chính quyền mà có được. Các cấp chính quyền và đoàn thể từ trung ương đến địa phương, cơ sở là do nhân dân bầu cử ra. Do vậy, mỗi cán bộ phải vì dân, hết lòng phục vụ mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Theo Người, phương thức cơ bản của dân chủ cơ sở là “dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra”.

Trên cơ sở nhận thức sâu sắc dân là chủ và phương pháp làm việc là phương pháp dân chủ chứ không phải là những thủ thuật chính trị, Người đã đưa ra một quy định làm việc khoa học như sau: Trước hết phải làm cho dân biết, phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi người dân hiểu rõ rằng: việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được. Hiểu rõ tâm tư nguyện vọng của quần chúng nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm khơi dậy sức mạnh của nhân dân bằng cách giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích và trách nhiệm, quyền hạn và bổn phận. Lợi ích của mỗi người dân được bảo đảm ngày càng đầy đủ hơn và nhờ vào vị thế của họ đã giành được trong quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ, hy sinh, mất mát để giành lấy độc lập, tự do, để trở thành người chủ và làm chủ xã hội. Thấy rõ được vai trò, vị trí của nông dân, nông nghiệp, nông thôn đối với sự phát triển của nền dân chủ trong một nước nông nghiệp lạc hậu như ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Bao giờ nông thôn, nông dân thực sự nắm chính quyền, nông dân được giải phóng thì mới dân chủ thực sự”. Sau những diễn biến phức tạp của xã hội nông thôn Việt Nam xuất hiện những điểm nóng ở nông thôn như năm 1998, 1999, 2011, 2012, chúng ta càng thấy ý nghĩa lớn lao trong chỉ dẫn đó của Người.

Theo Người, khi dân đã được biết, được hiểu thì phải tạo điều kiện cho dân được bàn bạc thực sự, bàn tất cả mọi vấn đề và mọi người đều được tham gia bàn bạc. Cần hiểu rõ nguyện vọng của dân. Họ muốn được tôn trọng, được bày tỏ ý kiến. Sau khi dân được biết, được hiểu, được bàn bạc và được xây dựng kế hoạch của địa phương mình, cơ sở mình, họ sẽ dùng chính sức lao động của họ vào những việc làm, hành vi, nhiệm vụ cụ thể một cách tự giác… Lúc này nhiệm vụ của lãnh đạo là “động viên và tổ chức cho toàn dân ta thi hành, phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân”, phải biết “đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân” có như vậy mới động viên được đông đảo nhân dân tích cực tham gia và thực hiện mọi kế hoạch của địa phương cơ sở.

“Khi thi hành xong phải cùng với nhân dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng”. Đây là công đoạn cuối cùng của quy trình tiến hành thực hiện dân chủ của mỗi tổ chức, đơn vị, địa phương, cơ sở. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng việc kiểm tra, rút kinh nghiệm là vô cùng quan trọng và cần thiết giúp chúng ta thực hiện tốt những nhiệm vụ khác. Dân kiểm tra cán bộ, cán bộ kiểm tra dân, dân và cán bộ cùng kiểm tra mọi hoạt động và lề lối làm việc sao cho dân chủ , cấp trên phải thường xuyên kiểm tra cấp dưới, cấp dưới phải phê bình cấp trên, nhất là phê bình từ dưới lên. Kiểm tra chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện một cách nghiêm túc, được đánh giá một cách khách quan, được tiến hành bằng những giải pháp khéo léo, tinh tế mà Người gọi là “phải kín đáo”. Thanh tra chỉ có hiệu lực nếu được tiến hành một cách đột xuất và bất ngờ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm kiểu mẫu cho phương pháp kiểm tra, thanh tra khoa học và có hiệu quả ấy. Đồng thời Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng thường xuyên kêu gọi nhân dân giám sát công việc của Chính phủ từ Trung ương.

Dân chủ cơ sở cũng là một trong những tư tưởng cơ bản xuyên suốt trong tư tưởng dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng dân chủ của Người luôn xoay quanh cái cốt lõi: Dân là gốc. Dân là gốc thì dân phải là chủ và dân phải làm chủ. Nhân dân có quyền lợi làm chủ thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân. Người đánh giá rất cao về dân chủ: Dân chủ là thứ quý báu nhất của nhân dân. Thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn. Điều đáng mừng là, hiện nay, chúng ta đang thực hiện dân chủ ở cơ sở, thông qua việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đã và đang thực hiện tốt hơn chức năng và nhiệm vụ của mình theo đúng đường lối của Đảng và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh với nhiều nội dung và hình thức phong phú, đạt được những kết quả tốt./.

Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn