Tag Archive | Hồ Chí Minh

Chuyện kể của vị thủ lĩnh diệt phỉ 2 lần được gặp Bác Hồ

(Dân trí) – “Nhắc đến Bác Hồ, ký ức vẫn còn gợi nhớ trong tâm trí già. Được gặp Bác Hồ, nói chuyện suốt 2 tiếng, cái đầu già không nhớ hết, không hiểu hết. Nhưng chỉ bằng một câu chuyện “bó đũa” của Người, đúng cái lý của người Mông, cái dạ già đã sáng ra…”.

Già Vừ Chồng Pao còn gọi là Vừ Lầu Pó, là người dân tộc Mông, sinh ngày 1/9/1930, tại bản Mường Ải, xã Tà Cạ, huyện Kỳ Sơn (Nghệ An). Già sinh ra và lớn lên ở nơi biên ải giáp ranh Việt Nam – Lào, là vùng “phên giậu” của Tổ quốc, quanh năm hạt gạo hạt bắp không đủ nuôi sống con người. 15 tuổi, Vừ Chồng Pao đã bộc lộ tố chất của một thủ lĩnh nơi đại ngàn.

Năm thực dân Pháp cùng bọn thổ phỉ đánh mạnh ở vùng biên giới Kỳ Sơn, Vừ Chồng Pao cùng 2 người bạn đứng ra thành lập đội du kích, vũ khí ban đầu là súng kíp tự tạo, thuốc súng tự sáng chế.

Bác Hồ thăm bộ đội (ảnh minh họa)

“Năm 1950 từ giữ chức trưởng công an xã Na Ngoi, rồi đến Ủy viên BCH huyện Tương Dương đặc trách tại Kỳ Sơn, ngày 2/9/1954, già vinh dự thay mặt đồng bào các dân tộc thiểu số huyện nhà ra Hà Nội đón Bác Hồ về thủ đô. Nhắc đến Bác Hồ, ký ức vẫn còn gợi nhớ trong tâm trí già. Được gặp Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nói chuyện suốt 2 tiếng. Cái đầu không nhớ hết, không hiểu hết. Chỉ in sâu một lời duy nhất: “Muốn thắng giặc, 54 dân tộc anh em phải đoàn kết. Như một bó đũa từng chiếc một thì nhỏ, nhưng kết lại thành một bó to, sẽ tạo thành một sức mạnh khổng lồ”. Cái lý đó đối với người Mông ta thật đơn giản và dễ hiểu. Cái dạ cũng sáng ra…” – già Vừ Chồng Pao nhớ lại.

Năm 1960, Kỳ Sơn tách huyện, cái khó khăn gian khổ của huyện non trẻ không kể hết. Bọn phỉ lại một lần nữa được đế quốc Mỹ xúi giục phía sau, hỗ trợ đánh vào biên giới các huyện Miền tây xứ Nghệ. Lúc này “tướng phỉ” Vàng Pao dụ dỗ, mua chuộc bà con. Nhiều bản gần như toàn bộ đi theo phỉ.

Lúc đó, với cương vị là Chủ tịch MTTQ huyện Kỳ Sơn, già Vừ Chồng Pao lại được ra Hà Nội dự lễ kỷ niệm quốc khánh, được gặp Bác Hồ và Tổng Bí thư Lê Duẩn. Tại buổi gặp, Bác đã nói để già Pao hiểu muốn diệt nạn nổi loạn, diệt phỉ thì phải hiểu kẻ thù thực sự của ta là đế quốc, chứ không phải là những người dân đi theo phỉ.

Hiểu lời dạy của Bác, khi về đến Kỳ Sơn, già đã tổ chức một cuộc họp suốt 3 ngày, truyền đạt lại lời dặn của Bác Hồ. Già phân công cán bộ đến tận các bản làng gặp mặt các già làng trưởng bản, vận động bà con các dân tộc đoàn kết, tập trung vào những gia đình có người theo phỉ.

Phong trào vào rừng gọi người thân trở về lan truyền rộng, những người theo phỉ đã lần lượt trở về làm ăn lương thiện. Đoàn kết chính là sức mạnh lòng dân, là chân lý vững chắc, già đã biết phát huy tinh thần ấy tạo thành sức mạnh rộng lớn, làm tan rã tổ chức phỉ Châu Phà.

Năm 1969, già được bầu làm Chủ tịch UBND huyện Kỳ Sơn, đại biểu Quốc hội khoá VIII. Trong thời gian 20 năm giữ cương vị Chủ tịch huyện Kỳ Sơn, mảnh đất “xung yếu”, “then khoá” chưa một ngày bình yên. Tàn quân phỉ liên tục quấy nhiễu nhưng già Vừ Chồng Pào chưa bao giờ chịu thua cuộc.

Từ đó cái tên Vừ Chồng Pao, thủ lĩnh diệt phỉ, đã lan truyền trong dân bản, tạo nỗi khiếp sợ cho bọn phỉ. Ký ức diệt phỉ của Vừ Chồng Pao được lan truyền cho đến tận hôm nay. Với những chiến công chói lọi đó, già Pao vinh dự được Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh mời lên Hà Nội chơi.

Năm 2004, biết già mỗi lần về xuôi đi họp phải ngồi xe khách chen chúc, trong khi tuổi cao sức yếu, Tổng Bí thư tặng già chiếc xe con từ dự án xoá bỏ cây thuốc phiện. Nhưng già Pao nhường lại cho UBMTTQ huyện để cơ quan có xe đi phục vụ công tác, khi cần già lại nhờ lái xe chở đi.

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh tặng đồng hồ cho già Pao

Nay đã hơn 80 tuổi nhưng với niềm tin yêu của dân bản, của Đảng, già không cho phép mình được nghỉ ngơi. Già lại tiếp tục được bầu vào chức Phó Chủ tịch không chuyên trách UBMTTQ tỉnh đặc trách tại Kỳ Sơn.

Tháng 3/2010 vừa qua, có dịp trở lại Hà Nội, một lần nữa già vinh dự được gặp và nói chuyện thân tình với Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh tại nhà riêng. Tổng Bí thư đã tháo chiếc đồng hồ từ tay mình trao tặng già. Món quà ấy già Pao xin nhận, lúc nào cũng giữ bên mình.

Vân Nga – Nguyễn Duy

dantri.com.vn

Tấm ảnh Bác Hồ của lão du kích 103 tuổi

(Dân trí) – Thực sự cảm động khi được chứng kiến cựu du kích Điểu Đoi, dân tộc Mạ ở xã Đồng Nai Thượng (huyện Cát Tiên, Lâm Đồng) nâng niu, quý trọng tấm ảnh chân dung Bác.

Nghĩa cử, tinh thần cách mạng của lão du kích có gần 50 tuổi Đảng và hơn trăm tuổi đời giữa rừng già Bù Xa Lu Xiên anh hùng để lại trong nhiều thế hệ trẻ những bài học quý báu.

Đường lên xã anh hùng lực lượng vũ trang Đồng Nai Thượng được nhà nước đầu tư gần 70 tỷ đồng xây dựng xuyên qua vùng lõi Vườn Quốc gia Cát Tiên vẫn đang ngổn ngang vì công trình bước vào giai đoạn nước rút để khánh thành. Chính vì thế, sự âm u, mịt mùng của rừng già và sự hiểm trở của những cung dốc cheo leo giữa bạt ngàn cây cổ thụ nguyên sinh cũng gần như còn nguyên vẹn vẻ hoang sơ.

Đã rất nhiều lần lên với Đồng Nai Thượng từ thuở vùng này mới chỉ là một thôn người Mạ với vài chục nóc nhà dài biệt lập giữa rừng hoang nhưng chưa bao giờ chúng tôi vượt được quãng đường chỉ dài 18 km từ cửa rừng lên trung tâm xã với thời gian ít hơn 5 giờ. Hành trình lên rừng trong tháng Năm này cũng không ngoại lệ.

Leo lên hết đỉnh dốc Đồi Mây, Đồng Nai Thượng hiện lên trong ngút ngàn tầm mắt bởi màu xanh của vùng điều chuyên canh hơn 800 ha. Xen giữa màu xanh của những rẫy điều, những ngôi nhà dài người Mạ thấp thoáng còn lại ít hơn nhưng thay thế lại là rất nhiều mái ngói đỏ, nhà sàn kiểu mới đỏ chói màu sơn vách gỗ… Hỏi nhà cụ Điểu Đoi, nhiều nam, nữ thanh niên Mạ hăm hở: “Bây giờ cụ còn là tổng già làng của 5 buôn ở đây nữa. Nhà cụ ở buôn Bù Gia Rá. Cụ còn đi hái điều được đấy…”. Chúng tôi dễ dàng tìm vào nhà tổng già làng vì rất nhiều người tình nguyện đưa vào Bù Gia Rá. Lão du kích trải qua hai cuộc kháng chiến và sống hơn thế kỷ nhưng vẫn quắc thước, minh mẫn và có trí nhớ khác người. Cụ vẫn nhắc lại kỷ niệm “ba năm trước nhà báo hứa gửi ảnh cho tôi…”.

Câu chuyện với bậc tiền bối tham gia hai cuộc kháng chiến và là cựu du kích từng làm khiếp đảm bọn Mỹ – Ngụy đóng tại căn cứ Lạch Tân Tẹ của xã Năm (tên cũ của xã Đồng Nai Thượng) dần dần chuyển hướng về truyền thống kháng chiến của những người Mạ anh em, truyền thống cách mạng của dân tộc. Cụ Đoi phấn khởi: “Kỷ niệm kháng chiến vùng này đầy ắp với rất nhiều người Mạ, cả con trai và con gái. Kỷ vật cũng có nhiều nhưng với tôi, quý nhất là tấm ảnh Bác Hồ tôi có được từ ngày kết nạp Đảng vào năm 1963. Quý lắm!”. Vừa nói, lão du kích vừa cẩn thận mở tủ, lấy ra cuốn “Truyền thống cách mạng và xây dựng xã Đồng Nai Thượng”. Bàn tay cụ run run lật trang đầu tiên. Một tấm ảnh Hồ Chí Minh với kích thước 13 x 18, bọc cẩn thận trong hai lần ni lông được tổng già làng nâng bằng hai tay trân trọng đặt lên bàn…. Cụ cho biết, tấm ảnh này là kỷ vật do một cán bộ Khu ủy Khu 6 tặng cụ ngày được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Từ đó đến nay, dù cụ được Bí thư Huyện ủy Cát Tiên lên thăm tặng ảnh chân dung của Bác lớn và được đóng khung trang trọng treo ở gian chính của ngôi nhà dài cụ đang ở nhưng tấm ảnh quý giá gắn liền với kỷ niệm gần 50 năm trước vẫn được cụ trân trọng lưu giữ.

Gần năm thập kỷ trôi qua, tấm ảnh Bác Hồ in trên nền giấy cũ vẫn như mới nguyên trong bàn tay của lão du kích già giữa rừng xanh núi thẳm. Trở về lịch sử xã Năm anh hùng, điều cụ Đoi nói vẫn đang còn rất thời sự. Năm 1967, khi địch đổ bộ lên căn cứ Lạch Tân Tẹ với âm mưu khủng bố trắng hòng khuất phục người Mạ, chúng ráo riết tìm diệt dân để vây bắt cán bộ, năm nóc nhà dài người Mạ ngày đó chỉ có hơn trăm nhân khẩu phải kéo hết ra rừng ẩn nấp để kháng chiến. Trong một đêm từ rừng, du kích Điểu Đoi cùng nữ dũng sỹ diệt Mỹ, Điểu Thị Năm Lôi lén về buôn để lấy thực phẩm cho người dân thì bị địch phát hiện và vây ráp. Cụ Đoi cùng du kích Điểu Thị Năm Lôi đã rút nhanh vào rừng rậm, vừa chạy vừa mưu trí diệt 5 tên lính ngụy. Ý chí anh dũng, phương thức chiến đấu mưu trí của những du kích như Điểu Đoi, Điểu Thị Năm Lôi, Điểu Tư Lôi… ở Đồng Nai Thượng ngày đó không chỉ khiến những người đồng tộc giữa rừng nức lòng mà còn là “nỗi sợ thường nhật “của nhiều lính Mỹ – Ngụy.

Hành trình xuống núi khi trời đã ngả về chiều. Đứng trên đỉnh dốc Đồi Mây quay nhìn, Đồng Nai Thượng dậy lên một màu bình yên đến lạ. Rừng ở đây ít thay đổi sau ba mươi sáu năm đất nước thống nhất. Người dân ở đây không thay đổi bởi trước, sau họ vẫn son sắt, nghĩa tình với niềm tin cách mạng. Lão du kích Điểu Đoi đã trường thọ nhưng tinh thần ấy, tình cảm ấy vẫn không phai lạt.

Sơn Tùng
TTXVN

dantri.com.vn

“Việt Nam! Tôi thở tâm hồn Người đây”

(DVT.vn) – Về làng Sen quê Bác vào mùa sen nở, Nữ thi sĩ Blaga Dimitrova coi hương sen thơm ngát mà bà đang hít thở là biểu tượng của tâm hồn Việt Nam.

HÀM CHÂU

Tôi trở về làng Sen quê Bác. Nói “trở về” bởi vì thuở nhỏ đi học, tôi vẫn thường cuốc bộ qua đây, khi ông Cả Khiêm và cô Thanh vẫn còn sống. Quê tôi cũng ở Nam Đàn, Nghệ An. Làng tôi cách làng Sen chẳng bao xa.

Làm báo ở Hà Nội đã hơn nửa thể kỷ, nhưng năm nào tôi cũng sắp xếp thời gian để trở về thăm quê hương bản quán một đôi lần, khi nửa tháng, lúc chỉ vài giờ.

Đi xe lửa vào Vinh, xuống ga, ngồi xe buýt theo con đường hàng tỉnh số 49, qua huyện Hưng Nguyên, lên huyện Nam Đàn. Đến cây số 13, rẽ sang trái một quãng, là đến làng Sen hay còn gọi là làng Kim Liên.

Con đường làng gồ ghề sống trâu thuở trước – khi tôi là một cậu bé học sinh trung học trường huyện – nay đã được mở rộng, trải nhựa phẳng phiu. Hai bên đường, bạch đàn cao vút, tiếng lá reo vi vu trong nắng sớm.

Chiều chiều ra đứng Cồn Sen
Bạch liên trắng bạch, hồng liên đỏ hồng…
Vui nhất là cảnh xã mình
Kim Liên sen tốt, Ngọc Đình chuông kêu…

Người dân khắp nước đổ về thăm ngôi nhà tranh của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc ở làng Sen.

Kim Liên, tên chữ của làng Sen, có nghĩa là sen vàng. Nhưng ở làng Sen này không chỉ có sen vàng, mà còn có sen trắng (bạch liên), sen đỏ (hồng liên) nữa. Sen nở khắp mặt đầm. Hương sen thơm dịu lan xa…

Về làng Sen, ta sẽ hiểu vì sao cô Thanh, người chị gái của Bác Hồ, còn được gọi là Nữ sĩ Bạch Liên.

Ngôi nhà Bác Hồ ở trong thời niên thiếu đơn sơ, thanh bạch như bao nhiêu ngôi nhà khác ở chốn làng quê. Bờ tre xanh. Cánh cổng liếp tre sơ sài. Hoa râm bụt nở hiền hoà bên hai bờ giậu thấp. Dăm ba bụi chuối. Mấy gốc mít, gốc chanh. Vài hàng cau. Một ngôi nhà dọc năm gian. Một ngôi nhà ngang nho nhỏ. Cả hai đều nền đất, mái tranh, phên tre, giại nứa. Trong nhà vẻn vẹn chỉ có mấy thứ: cái sập gỗ, chiếc chõng tre, cái án thư, chiếc võng gai, chum nước, vại cà và vài ba cái nồi đất…

Thời trẻ, cụ Nguyễn Sinh Sắc (còn có tên là Nguyễn Sinh Huy) ở gửi rể bên làng Chùa. Năm 1894 cụ thi đỗ Cử nhân, năm 1901 đỗ Phó bảng (đồng khoa với các cụ Ngô Đức kế, Phan Châu Trinh).

Đây là lần đầu tiên, không những trong làng Kim Liên, mà cả trong toàn xã Chung Cự và toàn tổng Lâm Thịnh, mới có được một người đỗ đại khoa. Thế mà cụ Phó bảng lại chưa hề có nhà ở bên quê nội!

Dân làng bèn bỏ tiền ra mua một ngôi nhà ở dưới xã Xuân La, khiêng về dựng lên trên một thửa đất công rộng non năm sào. Từ đấy gia đình cụ Nguyễn Sinh Sắc dọn về làng Sen. Nhưng rồi, trong những năm gia đình cụ phiêu cư bạt quán, ngôi nhà ấy cũng “trôi giạt” nhiều nơi, bị mua đi bán lại nhiều lần.

Năm 1956, hoà bình trở lại trên miền bắc, dân làng Sen mới tìm chuộc được cột, kèo của ngôi nhà ngày trước, nhặt nhạnh mỗi nơi một thứ, đem về dựng lại trên thửa vườn xưa.

Đường về quê nội Bác Hồ – (Ảnh: Internet)

Và một năm sau, ngày 9/6/1957, Bác Hồ trở về thăm quê hương sau 52 năm xa cách. Lúc bấy giờ ngôi nhà, thửa vườn, lối cổng nhà chưa được khôi phục đúng như ngày trước. Cái ngõ đáng lẽ ở giữa bờ rào, thì lại để một bên. Nhà cũ đằng sau thưng phê nứa, nhà lúc này thưng gỗ ván. Bàn thờ ngày trước chỉ giản đơn là một tấm liếp tre đan mau phía trên trải chiếu, bàn thờ lúc này lát ván phẳng phiu…

Bác Hồ hầu như không quên một tí gì trong ngôi nhà và thửa vườn xưa. Bác chỉ tay vào từng chỗ đất nơi xưa kia có gốc mít, gốc bưởi, cây chanh, cây cau. Bác hỏi xem mấy ngôi mộ trong vườn giờ bốc đi đâu…

Vui chân đi vào lối xóm, Bác tìm xem cái giếng Cốc thuở nào, cái giếng đất nơi cậu bé Nguyễn Sinh Cung vẫn ngồi câu cá. Giếng Cốc vẫn còn, bờ giếng vẫn um tùm cây cỏ, mặt nước vẫn lăn tăn gợn sóng do sự chuyển động của các sinh vật phù du. Bác rẽ sang phía lò rèn cố Điền. Cố Điền đã mất, và anh Điền trai trẻ ngày nào giờ là một cụ già râu tóc bạc phơ.

Rời làng Sen từ tuổi mười lăm, vào Huế, vào Phan Thiết, Sài Gòn; rồi xuống cảng Nhà Rồng đi sang Pháp, sang Anh, sang Đức, Hà Lan; rồi lênh đênh trên tàu thuỷ vòng quanh châu Phi, sang Mỹ và quay trở lại châu Âu; rồi đi qua Liên Xô, Trung Quốc, Xiêm …
Mấy mươi năm phiêu bạt nơi chân trời góc biển, khắp xứ lạ quê người, ấy vậy mà Bác Hồ vẫn không hề quên con người, cảnh vật quê hương, không hề quên một điệu ru hời, một bát canh rau muống, quả cà dầm tương….
Cái “gốc” truyền thống Việt Nam trong lòng Bác sâu bền, vững chãi biết bao, không thể nào bị lung lay, bật rễ trước bão tố bốn phương. Chung đúc tinh hoa của các nền văn hoá đông, tây, kim, cổ, nhưng, ở con người ấy, đố ai tìm thấy một nét lai căng, một cái gì còn sượng. Bởi vì, ngay từ thuở lọt lòng, cậu bé Cung đã được hít thở không khí trong lành của đất trời, sông núi quê hương, cùng ăn, cùng ở với nhân dân thuần hậu, cần cù, và uống nước từ mạch nguồn sâu thẳm của các tầng văn hoá Việt Nam.

Về làng Sen vào mùa sen nở, tôi chợt nhớ đến bài thơ của Nữ thi sĩ Blaga Dimitrova, người Bulgaria, viết về hoa sen, về tâm hồn Việt Nam thanh khiết. Bà đã đến nước ta vào năm 1966, về thăm làng Sen quê Bác Hồ, khi cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ đang diễn ra ác liệt. Bài thơ của bà chỉ có sáu câu, đã được nhà thơ Xuân Diệu dịch ra tiếng Việt:

Hoa sen trắng dịu trên ao
Diệt hơi bùn độc, ngạt ngào trổ hoa
Biến ao thành một vườn thơ
Để tôi đứng lại bên bờ uống hương
Hương thanh ẩn, sức lạ thường!
Việt Nam! Tôi thở tâm hồn người đây.

Nữ thi sĩ nổi tiếng thế giới Blaga Dimitrova, người Bulgaria.

Blaga Dimitrova về sau được bầu làm Phó Tổng thống nước Cộng hòa Bulgaria. Bài thơ của bà cho ta thêm một “luận cứ” để tin rằng việc chọn hoa sen làm quốc hoa là đúng.

Về làng Sen, nhớ đến Bác Hồ, nghĩ tới điều triết lý về biểu tượng hoa sen, ta càng muốn giữ cho tâm hồn mình được luôn luôn trong sạch ngát hương, không bao giờ “hôi tanh mùi bùn”.

H. C.

dvt.vn

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh: Đạo đức là cái “gốc” của người Cách mạng

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm thấy nguy cơ đối với Đảng cầm quyền, không những là “bệnh quan liêu hách dịch, vênh váo lên mặt quan cách mệnh”, “đè đầu cưỡi cổ dân” mà cả nhiều thói xấu khác, rất dễ nảy sinh trong cán bộ, đảng viên, nhất là trong những người có chức, có quyền, như bệnh địa vị, công thần, cục bộ địa phương, bè phái; cái thói chỉ lo ăn ngon, mặc đẹp…, lo chiếm của công làm của tư, lợi dụng địa vị và công tác của mình mà buôn bán phát tài, lo việc riêng hơn việc công v.v…

Rõ ràng khi cách mạng đã giành được chính quyền và khi từ chiến tranh chuyển sang hòa bình xây dựng, những yêu cầu về đạo đức đối với cán bộ, đảng viên càng đòi hỏi phải tăng cường rèn luyện và tu dưỡng để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ mới. Do đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh càng  quan tâm hơn đến công tác xây dựng Đảng về đạo đức cách mạng. Trước lúc đi xa, Người viết trong Di chúc: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng; thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Lời căn dặn cuối cùng của Người đã nói vắn tắt cái điều cốt tử nhất trong xây dựng Đảng cầm quyền, nó quyết định vận mệnh của Đảng, của Nhà nước, vận mệnh của cả chế độ – đó là đạo đức cách mạng. Theo  Người, đạo đức là cái “gốc” của người cách mạng. Người nói thật dễ hiểu, nhưng là cả một chân lý tuyệt đối: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì  dù tài giỏi  mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.

Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước. Vì lợi ích  chung của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc và của loài người mà không ngần ngại hy sinh tất cả lợi ích riêng của cá nhân mình. Khi cần, thì sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc. Đó là biểu hiện rất rõ rệt, cao quý của đạo đức cách mạng.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì đạo đức cách mạng nói tóm tắt là:

– Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt.

– Tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân. Đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu  trong mọi việc.

– Ra sức học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ.

– Nghiêm chỉnh chấp hành mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, làm gương mẫu cho quần chúng. Mọi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần  trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân; phải ngăn ngừa và kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Phải đoàn kết nhất trí, chống bè phái, cục bộ.

– Luôn hòa mình với quần chúng, tin tưởng quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng; tổ chức quần chúng thành một khối đoàn kết chặt chẽ xung quanh Đảng; tuyên truyền, huy động quần chúng hăng hái thực hiện tốt các chính sách và Nghị quyết của Đảng. Cán bộ, đảng viên phải thực hiện tốt lời nói đi đôi với việc làm; phải có ý thức tổ chức, kỷ luật v.v…

Trong Đảng ta, các đồng chí Trần Phú, Ngô Gia Tự, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh Khai và nhiều đồng chí khác  đã vì dân, vì Đảng mà oanh liệt hy sinh, đã nêu tấm gương chói lọi của đạo đức cách mạng cho tất cả chúng ta học tập, noi theo.

Bác nói: Có đạo đức cách mạng  thì khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ,  chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt, chứ không kèn cựa  về mặt hưởng thụ; không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa. Đó là biểu hiện của đạo đức cách mạng. Người còn nói: Đạo đức cách mạng không phải trên trời rơi xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bĩ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài  càng sáng, vàng càng luyện càng trong. Cả cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ luôn rèn luyện mình để trở thành người có đạo đức cách mạng. Theo đó, Người đã làm giàu truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam bằng sự kế thừa tư tưởng đạo đức phương Đông,  những tinh hoa đạo đức nhân  loại; tấm gương đạo đức của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã nêu cho Người một mẫu mực về sự giản dị và sự khiêm tốn cao độ, Người đã học tập và hành động bởi các tấm gương ấy, với nếp sống giản dị, coi khinh sự xa hoa, yêu lao động, đồng cảm sâu sắc với người cùng khổ, hướng cuộc đấu tranh của mình vào công cuộc giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.

Song, ngày nay một bộ phận không nhỏ trong cán bộ, đảng viên đã trượt ngã vào vũng bùn của chủ nghĩa cá nhân, vi phạm đạo đức cách mạng, không  thực hiện đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh,  đã trở thành những phần tử quan liêu, xa dân, ức hiếp quần chúng, tham nhũng, hối lộ,  làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Cần luôn luôn ghi nhớ lời nhắc nhở cực kỳ sáng suốt của Chủ tịch Hồ  Chí Minh: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức  hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi,  nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Đảng ta vừa là đạo đức vừa là  văn minh”, là người khởi xướng và lãnh đạo mọi sự đổi thay của đất nước qua các giai đoạn lịch sử của cách mạng. Muốn tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến đến đích cuối cùng, trước hết Đảng phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn.

Tự đổi mới, tự chỉnh đốn là khẳng định sự vận động nội tại của Đảng cầm quyền trong quá trình lãnh đạo cách mạng, là sự nhận diện đúng quy luật vận động, phát triển của Đảng. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng vào cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng  hiện nay, trước hết mỗi cán bộ, đảng viên phải tăng cường học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó,  nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cũng đồng nghĩa với việc làm những phẩm chất chung, cơ bản nhất của đạo đức cách mạng là: Trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, là phẩm chất thường trực trong cuộc sống hằng ngày, phải trở thành giá trị bất  biến trong mọi môi trường,  mọi hoàn  cảnh, mọi cơ chế kinh tế của người cán bộ, đảng viên. Điều đó cũng lý giải vì sao sự suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay có  nguyên nhân chủ yếu từ sự suy thoái ở phẩm chất này. Do vậy, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng phải không ngừng tu dưỡng đạo đức suốt đời; phải nêu gương về đạo đức, trở thành tấm gương sáng để quần chúng noi theo, để quần chúng tin yêu, mến phục.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là ngọn đuốc soi sáng trong cuộc vận động  xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện  nay.

www.hcmpc.com.vn

Việt kiều Mỹ Lê Trọng Văn: Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Bác Hồ đời đời

Ngày 9/10/2009. Cập nhật lúc 10h 3′

(ĐCSVN) – Chúng tôi xin đăng bài viết của Việt kiều Lê Trọng Văn, sống ở California. Ông Cửu Long Lê Trọng Văn từng là cố vấn tình báo của Ngô Đình Nhu. Nhưng sau biết Ngô Đình Nhu và chế độ Ngô Đình Diệm làm việc không phải vì dân tộc Việt Nam, ông Văn rút lui. Vì thế ông đã viết rất nhiều sách lên án tội ác của chế độ Diệm (như cuốn hồi ký Những bí ẩn lịch sử dưới chế độ Diệm,Mẹ Việt Nam, NXB Hoa Kỳ năm 1997). Cách đây hơn 10 năm, ông đã có một bài viết Bác Hồ đăng trên Đông Dương Thời Báo.

Trước hết, xin có đôi lời, tôi chỉ là người Việt Nam bình thường như mọi người Việt Nam khác biết yêu thương quê hương và nòi giống Lạc Hồng. Tôi không phải là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hay hội viên của bất cứ tổ chức chính trị nào. Sở dĩ tôi viết bài này vì nhận thấy gần đây có nhiều người viết sai sự thật lịch sử về Hồ Chí Minh.

Lý do viết bài viết này

Hôm nay là ngày 2 tháng 9, ngày lễ Độc Lập của nước Việt Nam; để tưởng nhớ đến sự nghiệp cách mạng và công ơn Bác đã lãnh đạo, quy tụ được trí thức, chủ trương toàn dân đoàn kết kháng chiến giành độc lập thắng lợi nên tôi viết bài này.

Đối với tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ của riêng Việt Nam mà đích thực, Hồ Chí Minh là vĩ nhân của thế giới, Người đã đi tiên phong trong công cuộc giải phóng Dân Tộc của các nước bị trị bởi thực dân trên toàn thế giới. Không phải bây giờ tôi mới nói điều này mà tôi đã viết trong  quyển:Việt Nam – Những Sự Kiện Lịch Sử trong thế kỷ 20 – trang 201 xuất bản tại Mỹ năm 2005:

“Tất cả công trạng ông Hồ đòi được và nhờ vậy sau này ông Diệm được hưởng, quốc vương Lào SavangVatthana, ông hoàng Norodom Sihanouk của Cao Miên, đòi được độc lập năm 1954; Tunisie được trả độc lập năm 1956, Madagascar năm 1960, Sénegal năm 1960, Congo năm 1960, Cộng hòa Nam Phi năm 1962, Algérie năm 1962; Ấn Độ thuộc địa Anh được độc lập năm 1947 – ngày 14/8/1997 họ mới kỷ niệm 50 năm độc lập, Indonesia được Hà Lan trao trả độc lập năm 1949, Mã Lai Á thuộc địa Anh được độc lập năm  1957, Singapore năm 1958. Chỉ riêng Philippines được Mỹ tự ý trao trả độc lập năm 1946. Tất cả đó là do công của ông Hồ và Đảng Cộng Sản Việt Nam đứng lên lãnh đạo cuộc chiến tranh thần thánh Giải Phóng Dân Tộc, đánh đổ chế độ thuộc địa, chế độ thực dân trên toàn thế giới”.

DVD “Sự Thật về Hồ Chí Minh” chỉ là ác ý, bịa đặt nói xấu

Mới đây, ở nước ngoài, một đám chống Cộng và chống luôn cả Dân Tộc đã hồ hởi làm ra một DVD “Sự Thật về Hồ Chí Minh”. DVD đó là “sản phẩm trí tuệ”(chic) của linh mục Nguyễn Hữu Lễ và ông Trần Quốc Bảo? Và hai người này đồng thời lập ra một tổ chức có tên gọi là “Phong Trào Quốc Dân đòi đổi tên Sài Gòn”.

Thật ra, người ta chỉ mượn danh linh mục Lễ để lôi kéo những người công giáo vào cho đông. Đằng sau  DVD này là nhiều tổ chức, trong đó có Việt-Tân và có nhiều chuyên viên làm phim thực hiện.

Mặc dù DVD được phát không và đã được vận động ồn ào, quảng cáo rầm rộ trên nhiều báo, nhiều đài, nhiều web, nhưng đa số người Việt di tản thầm lặng không mấy hưởng ứng đến nỗi phải quảng cáo phát không và gửi đến tận nhà không mất cước phí.

Sau khi DVD “Sự Thật về Hồ Chí Minh” được tung ra, thì đã có nhiều bài viết đả kích và cũng có nhiều người lên tiếng ủng hộ trong giới chống Cộng.

Tôi cũng được một người bạn gửi tặng DVD quảng cáo “Sự thật về Hồ Chí Minh”, tôi đã xem hai lần, nhưng trong đó không có gì về “Sự Thật Hồ Chí Minh” cả, chỉ nói vớ va, vớ vẩn về đời tư của ông Hồ và kể tội ác của CSVN. Nhiều người có tai tiếng chống Cộng trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài có người đã chết như ông Hoàng Văn Chí cũng có tên trong DVD. Còn các người còn sống thì có:  Lê Hữu Mục, Bùi Diễm, Tôn Thất Thiện, Nguyễn Ngọc Bích… và một số người bất mãn với chế độ đã đào ngũ hoặc bị lưu đày xa quê như: Nguyễn Minh Cần, Bùi Tín, Dương Thu Hương, Vũ Thu Hiên… cũng được mời lên tiếng trong DVD. Những người này nói ông Hồ có nhiều tên, ngày sinh nhật không phải ngày 19 tháng 05, ông Hồ có nhiều vợ và đã làm đơn xin việc với Phủ Toàn quyền Đông Dương v.v…

Những người chống Cộng chỉ biết nói cho sướng miệng chứ không biết nghiên cứu, nhận xét sự việc. Vì khi một người nào muốn hoạt động chống lại thực dân phải có nhiều tên để che giấu lý lịch của mình là lẽ đương nhiên. Những người chống Cộng đâu có biết rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết những 1205 bài báo và có tới 53 bút danh. Ngày xưa, dưới  thời thực dân việc viết sai hay làm sai ngày sinh là lẽ thường. Còn nói Hồ Chí Minh có nhiều vợ thì mọi người được biết rằng lúc về Hà Nội, Bác chỉ sống độc thân cho tới  lúc chết. Theo tôi, đa số người ta không quan niệm hay chú ý về đường vợ con. Cái mà mọi người để ý đến là Hồ Chí Minh đã đạt được những thành tựu gì trong việc cứu nước? Về vấn đề làm việc hay xin việc làm với chính quyền bảo hộ, tôi cho rằng nếu muốn chống lại kẻ địch thì cách tốt nhất nên đi sâu vào nội bộ địch. Và chẳng nhẽ tất cả những người Việt làm công chức cho Pháp thời ấy đều là Việt gian, phản quốc? Đó là điều họ đã hiểu sai, viết sai và nói sai với mục đích xuyên tạc sự thật.

Tôi có nhận xét việc làm ra DVD này không được đúng, không trung thực và hàm hồ vì những người có liên hệ đến DVD “Sự Thật về Hồ Chí Minh”, họ đều là những người hiện nay đều có lập trường chống Cộng. Hơn nữa, họ không phải là những nhà viết sử chân chính. Họ không phê bình Hồ Chí Minh hay việc làm của ông mà toàn là bịa đặt, xuyên tạc, nói xấu. Xét ra, họ không đủ tư cách để viết hay nói về cuộc đời của Hồ Chí Minh.

Phản tác dụng của nhóm làm DVD “Sự Thật về Hồ Chí Minh”

Hai tác giả của DVD là linh mục Nguyễn Hữu Lễ và Trần Quốc Bảo đã có nhiều tai tiếng trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Nhất là trong vụ Bùi ĐìnhThi (cựu đại úy của miền Nam), linh mục Lễ đã ra làm chứng trước Tòa  Mỹ nhằm buộc tội ông Thi nên bị nhiều người phản đối. Còn ông Trần Quốc Bảo, người đứng đầu tổ chức đảng Phục Hưng Việt Nam có liên hệ với Việt Tân. Ông Bảo cũng là đại diện của “Phong trào Quốc Dân đòi lại tên Sài Gòn”.

Với linh mục Lễ, xin hãy đọc một đoạn sau đây thì biết linh mục Lễ là người như thế nào. Trong Thư Ngỏ đăng trên báo Người Việt gửi linh mục Nguyễn Hữu Lễ của ông Josep Minh Tong viết:

“Xin hãy trở về với “Thiên Chức Linh Mục” của mình và xin linh mục hãy từ bỏ những bài báo, e-mail mà những cụm từ không mấy tốt đẹp dân gian vẫn dùng kèm theo với chữ “cha” để diễn tả.

Xin cùng dẫn dắt đoàn chiên của ngài đến ăn những đồng cỏ xanh tươi, uống những dòng suối nước trong lành, không có độc tố hận thù, ích kỷ, nhỏ mọn. Tội nghiệp thay cho đoàn chiên Việt chúng tôi đã quá đau khổ trong bao nhiêu năm qua vì hận thù, chém giết. Xin cho chúng tôi và con cháu chúng tôi nghe chuyện yêu thương, tha thứ, rộng lượng và còn biết bao nhiêu giá trị tinh thần khác mà hơn ai hết là một mục tử ắt linh mục biết, nhưng có lẽ đã để lòng thù hận che mất đi từ khi nào.

Cái nhìn của linh mục đã quá ư hẹp hòi và văn chương của linh mục chứa đầy hận thù, ích kỷ và gương xấu. Linh mục có dự định yêu cầu bà con ở Việt Nam chấm dứt xuất ngoại, cũng như đừng gửi thư ra nước ngoài xin giúp đỡ và rồi kiều bào Việt Nam ở hải ngoại đừng gửi tiền về cho thân nhân không? Số tiền giáo dân giúp cho Giáo Hội Việt Nam làm sao sánh được với số tiền khổng lồ mà mà bà con ở hải ngoại gửi về giúp thân nhân hằng năm”.

Còn ông Trần Quốc Bảo, người đứng đầu tổ chức đảng Phục Hưng Việt Namcó liên hệ với Việt Tân. Ông Bảo cũng là đại diện của “Phong trào Quốc Dân đòi lại tên Sài Gòn”.

Việc đòi trả lại tên Saigonđã có người đòi trước ông Bảo. Đó là ông Trân Văn Chi, một người trong tổ chức Hòa Hảo ở gần Los Angelesthường tự xưng là giáo sư (?) Ông Chi đã viết trong quyển sách của ông ta trong đó có một chương “Đòi phải đổi lại tên thành phố Hồ Chí Minh bằng tên cũ Saigon”.

Theo tôi, phải đặt câu hỏi: Ai đòi và đòi ai?

Ông Bảo nói: Quốc dân đòi. Thật ra từ “quốc dân” để chỉ nhân dân ở trong nước. Ngay cả ông Bảo và linh mục Lễ đã xin đổi quốc tịch ViệtNam rồi, đâu còn quốc tịch Việt Namnữa. Hai chữ “quốc dân” dính liền với đồng bào trong nước. Ông Bảo lấy tư cách gì mà hiệu triệu quốc dân đồng bào?

Và nếu đòi được thì đòi bằng cách nào? Đòi với ai?

Chúng ta cứ xem lịch sử Hoa Kỳ thì biết, người dân Mỹ là những dân nhập cư tứ xứ, hợp chủng nhưng người ta không mang trong đầu óc hận thù, thiển cận, hẹp hòi. Miền Bắc thắng miền Nam và đi tới thống nhất đất nước Hoa Kỳ. Họ đâu có nuôi hận thù và gây chia rẽ; trái lại họ đã chung lưng đấu cật, xây dựng một Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ giàu mạnh nhất thế giới. Bất kỳ ở bang nào tại Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ cũng lấy tên tổng thống Washington; không một bang nào là không có. Vậy thì việc đổi tên thành phố Sài Gòn ra thành phố Hồ Chí Minh không phải là điều lạ mà là điều phổ thông trong lịch sử cận đại.

Lịch sử đã sang trang, dù  những người chống Cộng ở nước ngoài có muốn thay đổi cũng không thể lật ngược được lịch sử.

Làm DVD “Sự Thật về Hồ Chí Minh” để bịa đặt nói xấu và làm tiền</u>

Lý do tại sao làm ra DVD trên đây? Vì những người chống Cộng ở nước ngoài nghĩ rằng, cứ đạp đổ huyền thoại về Hồ Chí Minh tất nhiên sẽ đem lại thắng lợi trong công cuộc chống Cộng. Cái tên “Hồ Chí Minh lừng lẫy khắp năm châu”. Cái tên Hồ Chí Minh đáng ghét làm cho họ ăn không ngon, ngủ không yên nên phải tìm cách hạ cho bằng được, bất kể bằng phương tiện nào?

Mục đích làm ra DVD “Sự Thật về Hồ Chí Minh” để nói xấu ông Hồ, để thỏa mãn thú tính và là chuyện quá khứ… Những người làm DVD Sự Thật về  Hồ Chí Minh có tính chất trục lợi. Nhưng họ đã mua lấy thất bại vì ngây thơ tưởng rằng sẽ bán DVD được nhiều là có tiền. Nhưng sự thật khác hẳn, đa số Việt kiều thầm lặng không ai mua và cũng không muốn xem đồ giả được ráp nối sơ sài. Chỉ có một số ít chống Cộng lấy DVD về xem nhưng lại quên gửi tiền ủng hộ.

Mặt khác, nếu chúng ta xem kỹ DVD sẽ thấy trong DVD, họ đã không cắt xén được sự nghiệp cao cả cứu nước của Hồ Chí Minh.

Những người chống Cộng ở nước ngoài chỉ sống với quá khứ!

Nếu nhận xét kỹ, chúng ta sẽ thấy được những phần tử chống Cộng ở nước ngoài chẳng làm nên trò trống gì mà chỉ biết nói ba hoa, viển vông; sống với dĩ vãng quá khứ chẳng có gì là tốt đẹp như vấn đề “cờ vàng ba sọc đỏ” chẳng hạn. Họ đều gọi cờ đó là quốc kỳ. Nếu đã là quốc kỳ thì phải có đủ các yếu tố: lãnh thổ, chủ quyền và nhân dân làm gốc. Thiếu một trong những điều kiện trên đây thì sao gọi là quốc kỳ được? Hiện tại, họ là những cây tầm gửi sống trên đất người. Hơn ba chục năm chống đối Việt Namtừ chống Cộng đi tới chống lại Dân Tộc, chưa có lần nào đạt được thắng lợi cho dù là cỏn con. Kết quả là đi từ thất bại này đến thất bại khác; riết rồi hy vọng trở thành ảo vọng. Hiện tại thì gẫy đổ, tương lai thì mù mịt, quanh quẩn chỉ đấu láo với nhau và nuôi dưỡng hận thù. Họ không có gì để bá víu nên chỉ sống với quá khứ để tự an ủi lấy mình, sống cho qua ngày vì họ đã tự mình đánh mất quê hương.

Bước đầu tiên là họ chống giải tỏa cấm vận Việt Namđã thất bại. Sau đó là cấm gửi tiền về cho thân nhân ở trong nước cũng đi tong. Thứ đến, chống việc đặt quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Việt Namcũng thất bại. Chống  không cho Việt Nam vào WTO cũng thất bại. Gần đây, Chính phủ Việt Nam đã cho lập thêm một Tòa Tổng Lãnh Sự Việt Namtại Houston, Texas. Cách đây chỉ chừng vài năm về trước, văn hoá phẩm Việt Namđược họ gọi là văn hóa nhà quê, răng đen mã tấu. Nhưng hiện nay báo chí trong nước và băng nhạc trong nước đã tấn công văn hóa chống Cộng; các tiệm Việt Nam bán nhạc có đầy rẫy đĩa  nhạc xuất phát từ Việt Nam. Thậm chí đến Đài Truyền hình Việt Nam VTV4 đã công khai và lan tràn đến với từng nhà bà conViệt kiều với nỗi vui mừng được thấy hình ảnh đẹp đẽ tuyệt vời của quê hương hiện lên màn hình. Cái đau đớn nhất của họ là hai vấn đề chống để rồi mua lấy thất bại đau thương. Đó là cấm Việt kiều về thăm quê hương Việt Nam và gửi tiền về cho thân nhân ở trong nước mà cứ mỗi năm gần đến Tết là Việt kiều về nước ăn Tết mỗi ngày có đến hàng chục nghìn người.Và theo con số thống kê thì kiều hối gửi về năm rồi lên đến 7 tỉ đô.

Những nhà viết sử chân chính mới có đủ tư cách viết về cuộc đời của Hồ Chí Minh

Điều trước tiên, phải thành thật nói rằng, những người chống Cộng và làm DVD “Sự thật về Hồ Chí Minh”, họ không phải phê bình đúng cách mà chỉ biết đặt điều nói xấu, kể ra những điều không đúng sự thật và như vậy là bịa đặt. Họ chỉ nói theo cảm quan của riêng mình. Họ không có khả năng lý  luận như những nhà viết sử chân chính và không khách quan nhìn vào những sự việc đã thực sự xảy ra.

Nói chung, họ không đủ tư cách để viết về cuộc đời và việc làm của ông Hồ trong việc tranh đấu giành lại độc lập, thống nhất cho nước nhà.

Bằng chứng khác, ở Hoa Kỳ là một đất nước tự do, tuy có chiến tranh Việt Namxảy ra nhưng không vì lẽ đó mà họ cho rằng ông Hồ Chí Minh là người xấu. Nên ở các Thư viện ở Mỹ, Thư viện nào cũng có sách của người Mỹ viết về Hồ Chí Minh. Không riêng gì ở Mỹ mà ở Canada, Úc, Tân Tây Lan, và các nước châu Âu, Thái Lan, Nhật Bản…, bất kỳ Thư viện nào cũng có sách viết về cuộc đời của Hồ Chí Minh.

Cũng vì vậy mà chúng ta thấy có nhiều tác giả người ngoại quốc từ Mỹ, Canada, Úc, Tân Tây Lan, Thái Lan, Nhật Bản, Pháp, Đức… viết sách về Hồ Chí Minh vì họ quan niệm Hồ Chí Minh là người của lịch sử. Sách của họ viết có dẫn chứng và trung thực khách quan. Tôi không có khả năng liệt kê hết các tên tuổi của những tác giả ngoại quốc khác viết về Hồ Chí Minh. Xin có lời thành thât xin lỗi quý vị vì điều thiếu sót này. Và sau đây là tên các tác giả(1) viết về Hồ Chí Minh mà tôi đã xem qua:

1- Pierre Brocheux với quyển Biography of Ho-Chi Minh.

2- Peter A. Decaro với quyển Ho Chi Minh Rhetoric for Revolution.

3- Peter Deway với quyển Strategy,Tactics & Ho Chi Minh.

4- William  J. Duiker với quyển Ho Chi Minh: A life.

5- Charles Fenn với quyển Uncle Ho.

6- Frances Fitzgerald với quyển Chairman of the Worker’s Party of Vietnam.

7- Bamber Gascoigne với quyển Ho Chi Minh – Nguyen Sinh Cung

8- Jean Lacouture với quyển A Political Biography.

9- Milton Osborne với quyển A History of Ho Chi Minh trail.

10- Sukprida Phanomyong(2) với quyển Prathet Viet Namkab Lung Ho (Nước Việt Namvà Bác Hồ).

Một bằng chứng hùng hồn khác là ở Thái Lan, mặc dù chính phủ Thái thân Mỹ nhưng họ vẫn công nhận Hồ Chí Minh là một nhà lãnh đạo có tài, có đức nên chính phủ trung ương đã cho phép chính quyền địa phương lập ra những nhà lưu niệm để giữ kỷ vật của Bác Hồ khi Người còn ở Thái Lan hoạt động và tổ chức cán bộ. Hiện ở các tỉnh: Phi chịt, Mahả Sảrakham, Sakol Nakhorn, Nakhorn Phanôm, Uđon có các nhà lưu niệm kỷ vật của Bác Hồ.

Tại sao Việt kiều Thái Lan rất sùng kính Bác Hồ? Vì rằng họ đã thấy tận mắt những gì Bác Hồ bươn chải, gian lao, khó nhọc khi đi làm cách mạng vì  nước vì dân nên đặt niềm tin nơi Bác. Chúng ta thử nghĩ xem, không nhẽ Việt kiều ở Thái Lan, tất cả đều là những người  thơ ngây, nhẹ dạ. Bạn cứ đến vùng Đông-Bắc Thái Lan bạn sẽ thấy Việt kiều, nhà nào cũng có bàn thờ Tổ Quốc, trên bàn thờ đều có quốc kỳ nền đỏ sao vàng và ảnh bán thân của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phải thành thật mà nói rằng Việt kiều Thái Lan trang trọng thờ kính Bác Hồ như một vị thánh sống. Xem như vậy đủ biết uy tín của Bác như thế nào. Dưới suối vàng, Bác sẽ mỉm cười với sự nghiệp cách mạng mà Bác đã lựa chọn.

DVD “Sự Thật về Hồ Chí Minh” là chuyện đáng xấu hổ

Ở nước ngoài, những thành phần phản động, vô Tổ Quốc làm DVD Sự Thật về Hồ Chí Minh nhằm mục đích phá vỡ huyền thoại về Hồ Chí Minh đã mang lấy thất bại vì không được sự hưởng ứng của đa số Việt kiều thầm lặng, họ chẳng thèm để ý đến và cho đó là chuyện đáng xấu hổ. Cho nên nhóm làm DVD “Sự Thật về Hồ Chí Minh” không đạt được mục đích. Trái lại, họ còn bị đả kích dữ dội.

Khách quan mà nói, cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành đối tượng nghiên cứu cho khoa học. Đó là tư tưởng Hồ Chí Minh.

Còn đối với thế giới, Hồ Chí Minh đã từng nói: “Xây dựng khối hòa bình gồm nhiều dân tộc, coi nhau như bầu bạn, cùng sống với nhau trên những nguyên tắc hòa mục hữu nghị, cùng nhau ra sức giữ gìn hòa bình thế giới”.

Người mong muốn như vậy và hành động vì mục tiêu đó – vì dân tộc và nhân loại. Vì vậy, UNESCO đã công nhận Hồ Chí Minh là Anh hùng Giải phóng Dân tộc, một nhà Văn hóa lớn vì Người đã làm sáng tỏ khát vọng ý chí của các dân tộc, giải quyết các mối quan hệ bằng phương thức hòa bình vì tương lai của nhân loại.

*

Với riêng tôi, tôi kính trọng Bác Hồ về nhiều mặt: trí tuệ, tài đức (cần- kiệm -liêm-chính)… Thật vô cùng khâm phục, lúc Bác lìa đời tài sản riêng để lại chỉ có bộ quần áo kaki và đôi dép râu.

Tôi cũng rất lấy làm tiếc, Bác chết đi không có truyền nhân để lại như Chủ tịch Kim Nhật Thành và Chủ tịch Fidel Castro.

Kết luận

Vai trò lịch sử của Hồ Chí Minh

Với Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung chỉ có giáo mác, ngựa voi. Với Hồ Chí Minh chỉ có tầm vông vạc nhọn và vài khẩu súng lỗi thời so với địch là các cường quốc có máy bay, xe tăng, pháo binh, xe lội nước, tàu chiến và nhiều tiền cùng với chư hầu tay sai và đạo quân thứ năm lúc nào cũng sẵn sàng phản bội Tổ Quốc để làm nội ứng cho quân thù là một cuộc đọ sức không cân sức. Thế mà, do tài tổ chức, lãnh đạo thao lược và nhất là do trí tuệ của Hồ Chí Minh đã đạt được thắng lợi và thống nhất đất nước. Hồ Chí Minh đích thực là anh hùng vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam và là ngọn hải đăng của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Điều đó không ai có thể phủ nhận được. Cuộc đời của Người vĩ đại không chỉ trong lịch sử Việt Nam mà trong cả lịch sử thế giới.

California, viết để kỷ niệm ngày Độc Lập 2 tháng 9

Theo tạp chí Hồn Việt

cpv.org.vn

Đức độ Bác Hồ lan tỏa sức cảm hóa lớn lao

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hoàng thân Xu-pha-nu-vông. (Ảnh tư liệu)

(DVT.vn) – Bác Hồ cảm hóa trí thức không phải bằng lời lẽ văn hoa hùng biện, mà là bằng chính cuộc đời mình – một cuộc đời tận tụy vì nước, vì dân.

HÀM CHÂU

Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các cơ quan đầu não của Đảng, Nhà nước, Quân đội, Mặt trận và các đoàn thể làm việc tại ATK (An toàn khu) Việt Bắc. Đây là vùng đất rộng lớn chung quanh dãy núi Hồng bao gồm các huyện Định Hóa (Thái Nguyên), Sơn Dương, Yên Sơn (Tuyên Quang) và Chợ Đồn (Bắc Cạn).

Bữa cơm đạm bạc của Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc.

Bác Hồ thay đổi chỗ ở nhiều lần quanh Phú Đình (Định Hóa) và Tân Trào (Sơn Dương). Tuy thuộc hai tỉnh khác nhau, hai xã này rất gần nhau, nằm hai bên dãy núi Hồng, ngăn cách bởi con đèo De, ngọn đèo dài khoảng bốn ki-lô-mét.

Nhớ ông Cụ mắt sáng ngời
Áo nâu túi vải, đẹp tươi lạ thường!
Nhớ Người những sáng tinh sương
Ung dung yên ngựa trên đường suối reo…

Bác Hồ câu cá suối.

Vậy con ngựa Bác thường cưỡi ở Việt Bắc là con ngựa nào?

Cuốn hồi ký của ông Vũ Đình Huỳnh, một cán bộ làm việc gần Bác tại ATK Việt Bắc, cho ta biết:

“Bác thường qua thăm cụ Vi Văn Định và các cụ cao tuổi khác. Bác bận thì lại bảo mấy cán bộ làm việc ở Phủ Chủ tịch tới trông nom. Năm 1949, tôi đi Cao Bằng mua về mấy con ngựa, định bụng chọn một con để Bác dùng đi lại cho đỡ vất vả. Biết tin, cụ Vi bảo tôi:

– Ông dẫn chúng nó sang đây cho tôi xem! Này, coi tướng ngựa là tôi rành lắm đấy! Để tôi xem cho, con nào hay, con nào dở, tôi bảo cho.

Tôi liền dẫn lũ ngựa sang. Đứng trước mấy con ngựa, cụ già Vi như trẻ hẳn lại, háo hức như thanh niên. Cụ trìu mến vỗ về chúng, rồi xem kỹ từng con một, dắt tới dắt lui, xem răng, xem ức.

Cuối cùng, cụ chỉ vào con tía:

– Con này hay nước chạy mà hiền, xin ông để Cụ Hồ dùng.

Rồi chỉ con đứng bên cạnh:

– Con này hay lắm, nhưng phải cái hay trở chứng, nên để cho anh bảo vệ nào trẻ mà nhanh cưỡi.

Con ngựa trong tấm ảnh lịch sử chụp Bác sửa soạn yên cương lên đường đi Chiến dịch Biên giới năm 1950 chính là con ngựa tía mà cụ Vi đã chọn.”

Theo ông Vũ Đình Huỳnh, Bác Hồ thường nói với các cán bộ gần Bác:

“Chúng mình chỉ là cái men thôi. Nên được rượu là nhờ cơm nếp. Phải có đông đảo quần chúng tham gia mới thành cách mạng. Nhân sĩ, trí thức là thứ men tốt, cần phải kéo họ về mình.”

Ở chiến khu Việt Bắc, Bác Hồ thường tự chẻ củi, nấu cơm.

Tại sao một người đã từng làm Tổng đốc tỉnh Thái Bình như cụ Vi Văn Định lại có mặt tại ATK Việt Bắc? Câu chuyện hơi dài…

Cụ Vi có hai người con gái là tiểu thư Vi Kim Ngọc và tiểu thư Vi Kim Phú, vừa xinh đẹp, vừa có trình độ học vấn khá cao. Hai tiểu thư là người Tày nhưng nói rất sõi tiếng Kinh và cả tiếng Pháp, trước Cách mạng Tháng Tám, đã kết hôn với hai nhà trí thức lớn: Tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên và Giáo sư Hồ Đắc Di. Được Giáo sư Hồ Đắc Di giới thiệu, Bác sĩ Tôn Thất Tùng cưới người cháu nội gái của cụ Vi là tiểu thư Vi Nguyệt Hồ.

Cả ba nhà trí thức đó, được Bác Hồ cảm hóa, đều hăng hái gánh vác trọng trách trong chính quyền cách mạng, ngay sau ngày nước nhà vừa giành được độc lập. Tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên nhận làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục quốc dân; Giáo sư Hồ Đắc Di – Hiệu trưởng Đại học Y Hà Nội; Bác sĩ Tôn Thất Tùng – Giám đốc Bệnh viện Phủ Doãn.

Mùa hè năm 1946, trước ngày rời Hà Nội lên đường sang Paris thăm nước Pháp nhân khai mạc Hội nghị Fontainebleau, mặc dù bận trăm công nghìn việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn không quên giao nhiệm vụ cho ông Hoàng Hữu Nam, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, lo việc đón cụ Vi Văn Định về Hà Nội, kẻo “hữu sự thì không kịp”! Bác nói: “Con cháu cụ Vi đều đi với cách mạng cả, hãy mời cụ về Hà Nội!”

Bác căn dặn, phải tìm những cán bộ cách mạng trước đây đã từng bị cụ Vi bắt giam, khi cụ còn làm Tổng đốc tỉnh Thái Bình, cầm giấy mời của Chính phủ lên Bản Chu, trao tận tay cụ, như vậy cụ sẽ thấy ta không giữ hận thù mà thật lòng đoàn kết.

Ông Ba Ngọ, một cựu chính trị phạm từng bị cụ Vi bắt giam, được giao làm việc ấy. Ông cùng Đoàn cán bộ Chính phủ lên Bản Chu, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, tha thiết mời cụ về Hà Nội, nhưng cụ từ chối, nói:

– Tôi nay già yếu rồi, chắc chẳng đóng góp được gì, xin để cho “lão giả an chi”!

Ông Ba Ngọ cùng Đoàn đành lui ra nghỉ tạm ở thị xã Lạng Sơn.

Nhưng ông không chịu bỏ cuộc, tay không trở về Hà Nội! Hai ngày sau, ông cùng Đoàn quay trở lại Bản Chu. Lần này cụ Vi không nỡ từ chối. Cụ cho mời tất cả bà con trong làng và ở các trại khoảng vài nghìn người đến dự bữa cỗ tiễn biệt. Phải mổ mấy con bò, mấy chục con lợn, nấu mấy trăm mâm cỗ. Giữa bữa cỗ thịnh soạn, cụ nghiêm mặt nói:

– Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cho người lên đây đón tôi về Hà Nội. Khi vắng tôi, con cháu cùng bà con dân bản phải làm lụng chăm chỉ như bình thường!

Mọi người nhao nhao lên hỏi:

– Cụ đi như thế có được bảo đảm an toàn không?

Ông Ba Ngọ liền đứng lên, trịnh trọng cam kết:

– Xin đồng bào yên tâm! Chính phủ đã đón cụ đi là phải bảo đảm an toàn.

Chẳng bao lâu sau, một hôm người con trai cụ Vi Văn Định là ông Vi Văn Kỳ ngụ tai phố Hàng Da, Hà Nội, đang mặc quần cộc ngồi ở gian nhà trong, bỗng nghe báo tin có một vị “khách Tây” không mời mà đến! Hoá ra đó là một tên mật thám Pháp xin gặp để ngỏ ý mời ông Kỳ trở về Lạng Sơn làm “vua nước Tày – Nùng”!

Ông Kỳ hoảng quá, liền xin lên yết kiến Cụ Huỳnh Thúc Kháng, Quyền Chủ tịch nước (lúc đó Chủ tịch Hồ Chí Minh đang ở Pháp) và ông Hoàng Hữu Nam, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, để tường trình về sự việc khác lạ nói trên. Ngay sau đó, cả gia đình ông Kỳ được Chính phủ ta sắp xếp cho lặng lẽ chuyển vào Thanh Hoá. Tại đấy ông Kỳ làm việc ở cơ quan Bộ Nội vụ cho đến lúc về hưu. Chính sách dùng người của Bác Hồ là vậy, rất tin cậy, thuỷ chung.

Qua câu chuyện ấy, ta càng thấy rõ tiên đoán sáng suốt của Bác trong việc kịp thời đưa cụ Vi rời khỏi Lạng Sơn, “kẻo hữu sự thì không kịp”.

Tháng 12/1946, trước ngày Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, tình hình Hà Nội hết sức căng thẳng. Bác Hồ chỉ thị cho Bộ trưởng Lê Văn Hiến đưa ô-tô hòm đến nhà riêng đón cụ Vi lánh về làng Bật, quê hương cụ Bùi Bằng Đoàn, rồi sau đó ít lâu, đưa cả cụ Vi và cụ Bùi cùng linh mục Phạm Bá Trực lên ATK Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên.

Vừa quay về làng Mông Phụ quê hương, gần thị xã Sơn Tây, cụ Phan Kế Toại nhận được thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh mời lên Việt Bắc, tham gia Chính phủ kháng chiến.

Từ Định Hoá, các cụ vượt đèo De, núi Hồng sang Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, một vùng núi non tuyệt đẹp “ngày xuân mơ nở trắng rừng”… Tại ATK, cụ Vi cũng như các vị nhân sĩ, trí thức khác được Bác Hồ và Chính phủ kháng chiến chăm sóc chu đáo.

Gia đình cụ Vi Văn Định ở Chiêm Hóa, Tuyên Quang năm 1948. Trong ảnh: Người chống ba-toong là cụ Vi; người đứng bên phải là GS Hồ Đắc Di; đứng hàng sau, bên trái là TS Nguyễn Văn Huyên; cùng ba tiểu thư nhà họ Vi: Vi Kim Ngọc, Vi Kim Phú, Vi Nguyệt Hồ. (Ảnh: Gia đình TS Nguyễn Văn Huyên)

Sau ngày Hà Nội giải phóng, tháng 10/1954, cụ Vi cùng con cháu trở về Thủ đô. Cụ sống bình yên qua cải cách ruộng đất, được chứng kiến ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, rồi qua đời ngày 20/12/1975, thọ 96 tuổi. Chính phủ ta đã giữ đúng lời hứa “bảo đảm an toàn” cho cụ Vi – lời hứa mà ông Ba Ngọ, thay mặt Đoàn đại biểu Chính phủ, đã nói vào ngày đầu cách mạng khi thừa lệnh Bác Hồ lên Bản Chu đón cụ về Hà Nội.

Thế đấy, Bác Hồ cảm hoá trí thức không phải bằng lời lẽ văn hoa hùng biện không chung chung sáo rỗng, mà bằng chính cuộc đời mình – một cuộc đời chân thành, cần kiệm, tận tụy vì nước, vì dân, coi thường hư danh, bổng lộc.

dvt.vn

Hồ Chí Minh, một cuộc đời

Tại Mỹ vừa xuất bản cuốn sách nhan đề Hồ Chí Minh, một cuốn tiểu sử dày 704 trang, được giới Việt Nam học và người đọc khen ngợi, đánh giá cao. Tác giả là William J. Duiker, một học giả hàng đầu về cuộc đời Hồ Chí Minh. Ông đã dành gần 30 nǎm để nghiên cứu viết nên cuốn sách này, với lời đề tặng: Kính tặng nhân dân Việt Nam.

>> Ho Chi Minh: A Life

Tôi bắt đầu say mê Hồ Chí Minh từ giữa những nǎm 1960 khi đang là một sĩ quan trẻ làm việc tại đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn, tôi lấy làm khó hiểu trước việc các du kích Việt cộng chiến đấu trong rừng rậm tỏ ra có kỷ luật và động cơ cao hơn đội quân đồng minh. Khi thử tìm hiểu vấn đề, tôi được giải thích rằng đó là do vai trò của nhà khởi xướng và nhà chiến lược bậc thầy cách mạng Việt Nam – ông Hồ Chí Minh. Sau khi thôi phục vụ chính quyền Mỹ để theo đuổi sự nghiệp khoa học, tôi có ý định viết một cuốn tiểu sử về nhân vật hết sức phong phú này.

Hiện nay, hơn ba thập niên sau khi ông qua đời, Hồ Chí Minh vẫn được tôn kính ở Việt Nam. Đối với nhân dân Việt Nam, hình ảnh ông vẫn là thiêng liêng. Sự nghiệp mà ông khởi xướng và lãnh đạo đã tạo thành một thời điểm quyết định của thế kỷ 20, thể hiện đỉnh cao của kỷ nguyên giải phóng dân tộc trong Thế giới thứ ba và sự ghi nhận đầu tiên về những giới hạn trong chính sách ngǎn chặn chủ nghĩa cộng sản của Mỹ.

Là thành viên của phong trào cộng sản quốc tế, kiến trúc sư của thắng lợi cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh hẳn nhiên là một trong những nhân vật chính trị có ảnh hưởng nhất trong thế kỷ 20. Ông có một tính cách lãnh đạo riêng bằng thuyết phục và đồng tâm hơn là áp đặt ý chí quyền lực của mình cho người khác. Khác với những nhân vật cách mạng nổi tiếng khác, Hồ Chí Minh ít quan tâm tới hệ tư tưởng và các cuộc tranh luận ý thức mà tập trung toàn bộ suy nghĩ và hoạt động của mình vào các công việc thực tế nhằm giải phóng đất nước mình và các dân tộc thuộc địa khác thoát khỏi chủ nghĩa đế quốc phương Tây.

Thật khó hình dung cuộc cách mạng Việt Nam mà thiếu sự tham gia tích cực của Hồ Chí Minh. Ông Hồ không chỉ là người sáng lập Đảng và về sau là Chủ tịch nước, ông còn là nhà chiến lược chính và là biểu tượng có sức cổ vũ nhất của đất nước ông. Là nhà tổ chức tài ba, nhà chiến lược sắc sảo và nhà lãnh đạo có sức thuyết phục, con người Hồ Chí Minh một nửa là Lênin, một nửa là Gandhi. Đó là một sự kết hợp nǎng động. Trong khi cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam là một thực tế không tránh khỏi, vượt qua số phận của những cá nhân con người riêng lẻ nhưng nếu thiếu đi sự hiện diện của ông chắc nó đã diễn ra khác với những hậu quả khác.

Hồ Chí Minh, như vậy, là người tạo sự kiện (theo cách nói của nhà triết học Mỹ Sidney Hook), là đứa con của bước ngoặt, người kết hợp được trong cá nhân mình hai sức mạnh trung tâm của lịch sử Việt Nam hiện đại: khát vọng độc lập dân tộc và đòi hỏi công bằng xã hội và kinh tế. Do các sức mạnh này vượt ra ngoài biên giới nước mình, ông Hồ đã có thể truyền thông điệp của ông đến các dân tộc thuộc địa trên toàn thế giới và nói lên yêu cầu chung của họ về nhân phẩm và tự do thoát khỏi ách áp bức đế quốc. Ông đã có một vị trí trong ngôi đền các danh nhân cách mạng, những người đấu tranh kiên cường để đưa lại cho những người cùng khổ trên toàn thế giới tiếng nói trung thực của họ.

Báo Tuổi trẻ
cpv.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bản di chúc lịch sử

(GD&TĐ) – “Tôi nhớ mãi sáng tháng Năm ấy… Trời cao và trong xanh. Mây trắng lững lờ trôi trên bầu trời Ba Đình. Trong vườn Bác, chim nhảy chuyền cành, gọi nhau ríu rít”.

Đó là những dòng hồi ký đầy xúc động của đồng chí Vũ Kỳ – người “đầy tớ trung thành” thực thụ của Chủ tịch Hồ Chí Minh gần ba thập kỷ như ông tự nhận – khi kể lại ngày đầu tiên Người đặt bút viết “mấy lời gửi lại” cho đồng bào cả nước và đồng chí trong Đảng. 48 năm về trước, khi bước vào tuổi 75, “với tinh thần vẫn sáng suốt, thân thể vẫn khỏe mạnh”, Bác Hồ bắt đầu tài liệu “Tuyệt đối bí mật” mà ngày nay chúng ta gọi đó là Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bản Di chúc được Bác khởi thảo từ ngày 10/5/1965 và Người xem lại lần cuối vào ngày 19/5/1969.

Di chúc của Bác “Trước hết nói về Đảng”, vì Đảng là nhân tố quyết định thành công của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như công cuộc xây dựng lại đất nước sau này. Tháng 5 – 1968, Người đã bổ sung vào Di chúc một điểm chỉ dẫn quan trọng: Ngay sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi thì “việc cần phải làm trước hết là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi Đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”. Toàn văn bản viết Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phần xây dựng chỉnh đốn Đảng đã thể hiện sức sống tư tưởng của Người trong khả năng vận dụng sáng tạo những lý luận cơ bản nhất về xây dựng Đảng cầm quyền của Chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng nước ta.

Di chúc được khởi thảo trong khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đang đi vào thời kỳ quyết liệt nhất: Mỹ ồ ạt đưa 50 vạn quân vào miền Nam, chuyển chiến lược chiến tranh đặc biệt sang chiến tranh cục bộ. Hơn nữa, ở hậu phương lớn miền Bắc phải tiếp tục chống lại cuộc chiến tranh phá hoại ngày càng ác liệt nhằm biến nơi đây trở về thời kỳ đồ đá của đế quốc Mỹ. Thế nhưng, toàn bộ Di chúc toát lên khí phách, tinh thần lạc quan chiến thắng của một bậc đại nhân, đại trí, đại dũng, luôn tin tưởng vào tương lai tất thắng của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cũng như của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong tương lai: “Cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn.

Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to – là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc”. Đó là niềm tin, là ý chí, lòng quyết tâm của Bác và của cả dân tộc. Niềm tin đó xuất phát từ đường lối độc lập tự chủ, từ phương pháp và nghệ thuật lãnh đạo cách mạng sáng tạo của Đảng. Niềm tin đó xuất phát từ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, từ tinh thần hy sinh anh dũng của bao người Việt Nam từ thế hệ này đến thế hệ khác. Niềm tin đó còn xuất phát từ sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới. Nhìn thấy trước một nước Việt Nam thắng lợi hoàn toàn, đồng bào sum họp một nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra cho Đảng ta và Nhà nước ta những việc cần làm sau chiến tranh rất cụ thể, tỉ mỉ.

 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra cho Đảng ta và Nhà nước ta những việc cần làm sau chiến tranh rất cụ thể

Sức sống lớn lao và ánh sáng kỳ diệu tỏa ra trong toàn bộ Di chúc đó là những tư tưởng nhân văn cách mạng ngời sáng và đầy giá trị nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà biểu hiện sinh động nhất chính là tình yêu thương sâu sắc đối với con người. Tư tưởng vì nhân dân, vì con người là điều nổi bật và xuyên suốt cuộc đời Bác mà kết tinh ở đỉnh cao trong bản Di chúc lịch sử.

Có thể nói, điều làm nên giá trị tinh thần lớn lao và ý nghĩa sâu sắc của Di chúc chính là quan điểm vì con người và giải phóng con người thấm đượm chủ nghĩa nhân đạo cao cả. Một chủ nghĩa nhân văn cách mạng sáng ngời lý tưởng cộng sản được kết tinh trong một con người vĩ đại nhất của dân tộc.

Tuy không nói nhiều về nhân dân và cách mạng thế giới, nhưng trong Di chúc, chúng ta vẫn thấy rất rõ tình cảm và tư tưởng của Người về sự gắn bó giữa nhân dân và cách mạng Việt Nam với nhân dân và sự nghiệp cách mạng thế giới nói chung.

Di chúc của Bác đề cập đến nhiều lĩnh vực khác nhau như: Chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội… của đời sống mỗi người dân Việt Nam. Nó vạch ra những vấn đề mang tính chất cương lĩnh định hướng cho sự phát triển của đất nước sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta giành được thắng lợi. Vậy mà khác với các văn bản chính luận khác, ẩn chứa bên trong mỗi từ, mỗi câu của bản Di chúc là một chất thơ được kết tụ bởi sự dồn nén cảm xúc, tình yêu thương đối với thiên nhiên, con người và cuộc đời. “Muôn vàn thương yêu” mà Người gửi lại trong Di chúc thiết tha và xúc động đối với triệu triệu trái tim hôm qua và hôm nay. Những dòng chữ như một lời tạ từ, một sự lỗi hẹn vì biết mình không kịp thấy, không kịp làm điều mình ấp ủ của một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn.

Nếu như Tuyên ngôn độc lập là bản anh hùng ca khai sinh ra nước Việt Nam mới, thì Di chúc trở thành ánh sáng tương lai

Lịch sử đã có sự trùng hợp thiêng liêng và kỳ diệu. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 2/9/1969, Người đi vào thế giới Người Hiền tại ngôi nhà sàn đơn sơ cũng thuộc Quảng trường Ba Đình lịch sử với lời nhắn gửi đến toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trong bản Di chúc lịch sử. Nếu như Tuyên ngôn độc lập là bản anh hùng ca khai sinh ra nước Việt Nam mới, thì Di chúc là sự thể hiện thành công trọn vẹn bản khai sinh đất nước và trở thành ánh sáng tương lai. Di chúc là một văn kiện có cách viết độc đáo, trong đó tồn tại song song giữa cái vĩ đại và cái bình thường, cái mãnh liệt nồng nàn và cái điềm đạm, sâu lắng vừa trang trọng, vừa gần gũi. Với trách nhiệm trước hậu thế, Người đã cân nhắc từng ý, từng lời, nhưng mỗi ý, mỗi lời đều giản dị, chân thành, trong sáng, tự nhiên như chính cuộc đời mà Người đã sống – một tấm gương để chúng ta suốt đời học tập và làm theo.

Th.S Nguyễn Kim Thành (Bảo tàng cách mạng Việt Nam)
gdtd.vn

Ý nghĩa sự kiện ra đi tìm đường cứu nước vẫn còn nguyên giá trị và mang tính thời sự sâu sắc

(GD&TĐ) – Đó là khẳng định của các đại biểu tham gia hội thảo khoa học “Kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước” (5/6/1911 – 5/6/2011) được tổ chức ngày 17/5 tại Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Bến Nhà Rồng-nơi cách đây 100 năm, Bác đã ra đi tìm đường cứu nước

Bến Nhà Rồng-nơi cách đây 100 năm, Bác đã ra đi tìm đường cứu nước

Trong phần đề dẫn tại hội thảo, GS.TS Tạ Ngọc Tấn, Uỷ viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh đã khẳng định: Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Người là kết tinh truyền thống văn hóa tốt đẹp hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam và tinh hoa văn hóa thế giới. Người đã có những cống hiến to lớn đối với phong trào đấu tranh vì hòa bình và tiến bộ nhân loại.

Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh là bản anh hùng ca về chủ nghĩa yêu nước, về tinh thần tận tụy, hy sinh phấn đấu quên mình vì độc lập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân. Di sản tư tưởng và tấm gương đạo đức cao đẹp của Người mãi mãi là tài sản quý báu của toàn Đảng, toàn dân ta, là niềm tự hào, nguồn cổ vũ lớn lao đối với các thế hệ người Việt Nam.

Cách đây tròn 100 năm, ngày 5/6/1911, từ bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành từ giã quê hương, lên con tàu Amiran Latusơ Tơrêvin sang phương Tây, mang theo mình một khát vọng cháy bỏng tìm đường cứu nước để đem lại: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi”. Người đã bôn ba khắp năm châu, vừa lao động vừa học tập, nghiên cứu lý luận và thực tiễn cách mạng thế giới, để rồi tìm thấy ánh sáng cách mạng của thời đại: Chủ nghĩa Mác-Lênin.

Tham luận của các nhà khoa học tại hội thảo đã tập trung phân tích, đánh giá sâu sắc hơn về bối cảnh lịch sử thế giới, trong nước những năm đầu thế kỷ XX và quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành; những cống hiến vĩ đại của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong việc xây dựng, hoàn thiện đường lối và tổ chức lãnh đạo đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi; ý nghĩa lịch sử của sự kiện Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước đối với tiến trình cách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng thế giới.

Gần 60 tham luận được trình bày và gửi đến hội thảo khẳng định: Một trăm năm đã trôi qua kể từ ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước nhưng ý nghĩa to lớn của sự kiện ấy vẫn còn nguyên giá trị và mang tính thời sự sâu sắc.

Đối với tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, sự kiện Bác Hồ quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước là một dấu son mở đầu trang sử mới trong lịch sử dân tộc ta. Từ chủ nghĩa yêu nước, Người đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, lựa chọn ra con đường cách mạng Việt Nam: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, con đường cách mạng đúng đắn, phù hợp với điều kiện thực tiễn của lịch sử nước ta, đưa cách mạng nước ta đến thành công…

Đối với Đảng ta, nhìn lại chặng đường hơn 80 năm xây dựng và trưởng thành, Đảng ta luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng và con đường mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn, lãnh đạo nhân dân ta giành được những thắng lợi hết sức to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam mà sợi chỉ đỏ xuyên suốt là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trở thành tư tưởng chỉ đạo trong đường lối của Đảng, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Mặc dù bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế hiện nay có nhiều biến đổi, song Đảng ta vẫn khẳng định kiên định mục tiêu, con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là con đường đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển của thời đại.

Minh Duy
gdtd.vn

Tấm lòng của Bác Hồ thật là mênh mông vĩ đại

Đã 25 năm kể từ khi bài thơ dài Việt Nam – tình yêu của tôi của Vili Xanbao ra đời, được dịch và trân trọng giới thiêu trên báo Nhân dân số ra ngày 6-2-1977. Cho đến bây giờ, nhiều câu trong đó vẫn cứ ngân lên trong lòng tôi:

Chào bạn Việt Nam! Có nghe tôi hát
Có nghe xôn xao nhịp đập tim tôi
Giữa sớm mai nay, tiếng hát bồi hồi
Đưa tôi đến những vùng quê xa tít

Năm 1988, ở tuổi 74, ông lại hoàn thành bài thơ Nhật ký Việt Nam dài đúng 200 câu, thể hiện những tình cảm nồng nàn đối với Bác Hồ và nhân dân ta.

Cách đây gần một năm, trong dịp công tác ở Đức tôi đã đến thăm ông tại nhà riêng ở phố Rathaodơ, trung tâm thủ đô Beclin. Ông đang ốm nặng, nhưng được bà Ria, người bạn đời yêu quý của ông báo tin có khách Việt Nam đến, gương mặt ông tươi tắn hẳn lên. Ông vẫn nằm ở giường, lâu nay ông vẫn nằm như thế – nhưng cổ nghển lên, đưa cả hai tay ôm lấy tôi: “Việt Nam! Việt Nam!”. Tôi để ý: hai khoé mắt ông ngấn lệ. Ông xúc động nói: “Việt Nam và Bác Hồ lúc nào cũng hiển hiện trong tâm hồn tôi”.

Là người quen biết ông từ lâu, lại đã từng hợp tác với nhau trong một số công việc báo chí và văn học, tôi rất hiểu tấm lòng ông. Từng mấy thập kỷ làm Tổng thư ký Uỷ ban Việt Nam, Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Đoàn kết của Cộng hoà Dân chủ Đức, ông thực hiện trách nhiệm của mình một cách tuyệt vời, không chỉ với cương vị một cán bộ Nhà nước, một “quan chức” mà trước hết, trên hết, tự xác định là một người bạn thực sư của Việt Nam. Con người hiền lành, giàu tình cảm và rất đỗi khiêm nhường ấy đã có sau lưng mình gần tám chục năm hoạt động cách mạng sôi nổi và phong phú – kể từ lúc đứng trong hàng ngũ Đội thiếu niên Chim ưng đỏ ở tuổi lên 9, miệt mài nghiên cứu, viết sách, viết báo. Tập hồi ức Thẳng lưng mà bước của ông vừa xuất bản mà tôi hân hạnh được ông tặng riêng một cuốn, là sản phẩm chủ yếu của quá trình lao động miệt mài ấy. Ngay trong tập hồi ức này, ông dành hẳn một chương viết về Việt Nam và đặc biệt về những dịp ông được tiếp xúc với Bác Hồ. Tình cảm ấy, ở ông, như một sợi chỉ đỏ, xuyên suốt bao nhiêu năm qua. Gần 30 năm trước, trong bài Nghĩ đến Việt Nam, nghĩ đến Bác Hồ, ông đã viết:

“Là một người từng công tác ở Uỷ ban Việt Nam, bao nhiêu năm qua, tôi đã lắng nghe với tất cả tâm hồn mình những bước đi của sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nạm dưới sự lãnh đạo của Bác Hồ. Đối với chúng tôi, Việt Nam có nghĩa là Bác Hồ. Trên làn môi cửa trẻ con nước chúng tôi, hai tiếng “Bác Hồ” được gọi với niềm yêu thương, tin cậy, trìu mến. Riêng đối với tôi, bởi vì Việt Nam đã trở thành quê hương thứ hai của mình, tôi xin được phép gọi Bác Hồ là người cha thân thiết của tôi. Tôi bỗng nhớ đến một câu ca dao Việt Nam rat dễ thương:

Tháp Mười đẹp nhất hoa sen
Nước Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ

Từng đọc những vần thơ thiết tha về Bác Hồ, về Việt Nam của Vili Xanbao, nhà thơ Lưu Trọng Lư đã có những cảm nghĩ hết sức tốt đẹp và đầy lòng biết ơn đối với người đồng nghiệp ở phía trời Tây.

Trong các tác phẩm của V.Xanbao, theo nhận xét của tôi – người được đọc và dịch gần hết ra tiếng Việt – tình cảm của ông đối với Bác được thể hiện đầy đủ nhất ở hồi ức Tháng giêng năm ấy. Tháng Giêng năm ấy là năm 1969, năm cuối cùng trong đời Bác Hồ vĩ đại, vào ngày 23, tính ra chỉ 7 tháng 9 ngày trước khi Người vĩnh biệt cuộc đời này, ông và các đồng chí của mình đã được đến thăm Bác Hồ tại nhà riêng. Ông cho biết: Hồi này – so với những lần gặp trước – trông Bác đã yếu nhiều. Mọi người trong đoàn đều lo ngại về sức khoẻ của Người. Nhưng Người chỉ mỉm cười đôn hậu: “Các đồng chí đừng lo. Tôi vẫn ăn, ngủ và làm việc bình thường”. Rồi Người âu yếm hỏi: “Các chú thấy co lạnh không?”. Mọi người trả lời: “Thưa Bác, không ạ!” Bác là người già yếu, đáng lo nhất về sức khoẻ thì Người lại quan tâm, hỏi thăm sức khoẻ từng người một. Lúc ấy, trong đoàn, chỉ có Chủ tịch Uỷ ban Việt Nam Mác Dêphrin bi cúm, phải nằm Bệnh viện Hữu Nghị mất mấy ngày. Theo phép lịch sự, Mác Dêphrin cởi áo khoác ngoài và định cởi cả khăn quàng ra thì Bác xua tay: “Không nên cởi khăn quàng, chú ạ!”. Nói xong, Người cởi khăn quàng của Người ra và quàng thêm cho Dêphrin. Thấy Người cũng mệt, Chủ tịch Uỷ ban chúng tôi vội quàng chiếc khăn của ông cho Người.

Trong cuộc gặp này, Bác Hồ đã được báo cáo rất tỉ mỉ về phong trào ủng hộ Việt Nam ở Cộng hoà Dân chủ Đức, từ các hoạt đông: “Điện cho Việt Nam”, “Xe đạp cho Việt Nam”, “Máu cho Việt Nam”… cho đến những buổi hoà nhạc quyên tiền theo yêu cầu thính giả của đài phát thanh, những “quầy hàng đoàn kết do thanh niên và thiếu niên, nhi đồng tổ chức… Đoàn đại biểu Uỷ ban Việt Nam trao tặng Bác những món quà mà nhân dân ở các nơi của Cộng hoà Dân chủ Đức gửi biếu Người. Bác tỏ ý rất vui và xúc động trước tình cảm chân thành của mọi người trên quê hương Các Mác.

Trong món quà kính dâng Bác Hồ, Người rất thích tác phẩm Việt Nam trong giờ phút này – một cuốn sách dày dặn, giấy tốt, khổ to, mới được xuất bản trước đó ít lâu. Đây là công trình của nhiều văn nghệ sĩ tên tuổi ở Đức và trên thế giới như Anna Dêgớc, Phởítxơ Brêmơ, Pao Đếtxao, Xtê Phan Hêmơlin, Gêoóc Maorơ, Ôttô Nagen, Vili Xítê, Cuốc Stécnơ, Bổít Pôlêvôi, Sôlôkhốp, Iven, Êptusenkô, Pêtơ Vaisơ… từ khắp các lục địa cũng gửi bản thảo tới, hưởng ứng hành động chung giàu ý nghĩa. Tiền bán sách được gửi vào quỹ đoàn kết ủng hộ Việt Nam. Đăc bịệt, hơn 30 tác giả ở Mỹ, trong đó có Philíp Bônỗki, Pêthơ Dêgơ… cũng viết bài cho tập sách…

Là người biết tiếng Đức, Bác Hồ lật từng trang sách một tấm lòng trân trọng. Người chú ý từng tên tác giả và cũng dừng lại khá lâu ở bản thống kê phong phú, độc đáo về sự phát triển của Việt Nam trong các thế kỷ qua. Người được giao báo cáo với Bác về mọi việc cụ thể là Vili Xanbao. Riêng về cuốn sách này, Bác Hồ nói với ông: “Đây là hành động chung bao trùm khắp thế giới. ý tưởng của các nhà văn Đức thật đáng ca ngợi. Nhân dân Việt Nam, qua tác phẩm này, thêm một lần đón nhận những tiếng nói đoàn kết chiến đấu cất lên từa nhiều phương trời…”. Bác còn hỏi thăm về từng tác giả, như Brunô Apítxơ, người viết cuốn Trần trụi giữa bầy sói; Cuốc và Gien Stécnơ, những người Bác Hồ từng có lần tiếp tại nhà sàn này, hoặc Erích Noisơ, nhà văn đã viết vở kịch Cuộc chiến tranh bẩn thỉu nói về một làng quê Việt Nam bên sông MêKông và về Hoàng cung của Bảo Đại…

Vili Xanbao vui mừng được giới thiệu với Bác Hồ những bức tranh do thiếu nhi Đức vẽ, những vần thơ do các em viết hoặc những “sản phẩm” do các em làm để bán tại các quầy “đoàn kết” lấy tiền ủng hộ Việt Nam. Nhà thơ kính biếu Bác một quyển anbum Tem về Việt Nam, trong đó có nhiều tem mang hình ảnh Bác Hồ.

Trong bầu không khí hết sức cởi mở ấm áp, Bác sĩ Mác Dephrin nêu một vấn đề khá quan trọng để xin ý kiến Người. Số là, trong thời giàn đó, nhiều thanh niên ở Cộng hoà dân chủ Đức tình nguyện xin được sang Việt Nam trực tiếp cầm súng chống Mỹ. Nghe báo cáo xong, Bác nở một nụ cười trìu mến và chậm rãi nói:

– Tôi rất vui, khi được biết ý định đó của các cháu. Đó là một ý định tốt, rất đáng hoan nghênh. Xin nhờ các đồng chí chuyển lời cảm ơn của tôi tới các cháu. ý định đó, quyết tâm đó của các cháu nói lên rằng, tình đoàn kết quốc tế của thế hệ trẻ nước Cộng hoà Dân chủ Đức đã phát triển ở mức độ cao nhưng vấn đề là cần làm cho các cháu hiểu rằng: chúng ta đừng để nổ ra một cuộc chiến tranh thế giới. Nhân dân Việt Nam rất yêu chuộng hoà bình nên mới tiến hành cuộc đấu tranh đầy gian khổ, hy sinh này. Chúng tôi không những chiến đấu vì bản thân mình mà chính là vì lợi ích của toàn nhân loại. Tôi nghĩ rằng, ở Đức cũng như ở các nước khác trước hết cần tiến hành phong trào đoàn kết ủng hộ Việt Nam ngay trong nước mình, đó là một phong trao ủng hộ rộng khắp về chính trị, tinh thần và vật chất…

Nghe Bác nói, các bạn Đức càng thấm thía về sự quan tâm của Người đối với lợi ích chung của hoà bình thế giới. Vili Xanbao viết: “Tấm lòng của Bác thật là mênh mông, vĩ đại! Trong tầm nhìn của Bác, không những cho thấy Người là nhà quốc tế đáng kính phục mà còn là nhà văn hoá lớn, giàu tình thương yêu nhân loại. Nào ai ngờ rằng chỉ sau đó ít tháng, Bác Hồ đã vĩnh viễn ra đi trong niềm tiếc thương vô hạn của mọi con người lương tri trên trái đất này…”

Báo Văn nghệ, số 20, ngày 18/5/2002
cpv.org.vn

Chỉ có một nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa của Bác Hồ

QĐND Online- Hiệp định Paris về “chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam” được ký kết, nhân dân Việt Nam đã “đánh cho Mỹ cút” giành thắng lợi quyết định. Bước tiếp theo là “đánh cho ngụy nhào” giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, đó là quá trình đấu tranh quyết liệt và phức tạp trên các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao. Trong đấu tranh ngoại giao và các hoạt động quốc tế để buộc Nguyễn Văn Thiệu phải thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Paris của các lực lượng, diễn ra mạnh mẽ, phong phú và đa dạng. Tiêu biểu là Đại sứ quán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pháp đã có các hoạt động vận động các nước công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho đấu tranh thống nhất đất nước. Quá trình đó, có một câu chuyện thú vị tại Pháp đã nói lên một chân lý sáng ngời.

Quảng Trường Ba Đình, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập

Từ năm 1973 đến đầu năm 1975, Đại sứ quán Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã tổ chức nhiều cuộc vận động một số nước ở châu Phi có quan hệ với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Đại sứ ta tại Pháp có nhiều cuộc gỡ với đại sứ các nước ở Paris và đi đến các nước để chuẩn bị cho việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với các nước đó. Quá trình đó, Đại sứ ta luôn tranh thủ vận động họ công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Những hoạt động đó đã đạt kết quả tốt đối với một số nước như Bê Nanh, Công Gô, Angola,… ở châu Phi và Bồ Đào Nha ở Tây Âu. Đối với một số nước khác mặc dù chưa có kết quả ngay do điều kiện của họ, nhưng hầu hết đều đã bày tỏ tình cảm với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Với nước Mađagatca có câu chuyện khá thú vị như sau: Nhân dịp ông Ratsiraca Ngoại trưởng nước Mađagatca (sau này trở thành Tổng thống Mađagatca) có chuyến công tác qua Paris, đồng chí Võ Văn Sung, Đại sứ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pháp xin gặp và đặt vấn đề Mađagatca công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Với cách nói thân thiết của một người bạn, ông cho biết không bao giờ công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Đồng chí Võ Văn Sung hỏi lý do vì sao? Ông Ratsiraca trả lời “vì Mađagatca đã có quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và không có quan hệ với chính quyền Sài Gòn”1. Ông Ngoại trưởng còn khẳng định: “Đối với chúng tôi thì nước Việt Nam là một, chỉ có nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của “Bác Hồ”2. Vì vậy, “nếu công nhận bất kỳ một chính phủ nào khác là trái với nguyên tắc mà chúng tôi tôn trọng: nước Việt Nam là một! Chúng tôi đã từ chối việc công nhận bọn bù nhìn ở Sài Gòn”3. Đồng chí Võ Văn Sung giải thích lại tình hình miền Nam và chính sách của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; vai trò của Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam; những điều khoản của Hiệp định Paris và những vấn đề thuộc về quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ miền Nam Việt Nam, ở đó có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát,… Thấy ông Ratsiraca còn phân vân, đồng chí Võ Văn Sung đã phải nói rằng: “Chính phủ Cách mạng lâm thời cũng là anh em chúng tôi cả” và “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Chính phủ Cách mạng lâm thời tuy hai cũng như một, nhưng tuy một mà cho đến khi Việt Nam tái thống nhất thì vẫn phải là hai”4. Khi hiểu ra vấn đề, ông Ratsiraca hứa sẽ báo cáo về Chính phủ. Hơn một tuần sau đó, Đại sứ quán Mađagatca ở Paris báo cho Đại sứ quán Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Pháp biết là Mađagatca đồng ý công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam.

———————-

1,2. Võ Văn Sung (2005), Chiến dịch Hồ Chí Minh giữa lòng Paris, Nxb QĐND, tr.88.
3, 4. SĐD, tr.88-89.

TS Nguyễn Văn Bạo
qdnd.vn

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quảng trường Ba Đình

Quảng trường Ba Đình và lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành không gian thiêng liêng của Thủ đô Hà Nội và của cả nước.

Quảng trường Ba Đình và lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Hà Nội là trái tim của nước Việt Nam thì quảng trường Ba Đình là trái tim của Hà Nội. Vì tại đây đã diễn ra những sự kiện trọng đại của thủ đô và cũng là của cả nước. Nơi đây vốn là khu vực Cửa Tây của thành Hà Nội cổ. Đầu thời Pháp thuộc, thực dân phá thành, làm một vườn hoa nhỏ gọi là điểm tròn Puginier. Nǎm 1945 mới có tên là vườn hoa Ba Đình. Địa danh Ba Đình là để gợi nhớ dải đất Ba Đình ở tỉnh Thanh Hoá nơi đã nổ ra cuộc khởi nghĩa chống Pháp kéo dài từ tháng 9/1886 đến tháng 1/1887.

Cách mạng Tháng Tám thành công, tại Quảng trường Ba Đình, Bác Hồ đã đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Sự kiện đó cùng tên Quảng trường Ba Đình đã được cả thế giới biết đến.

Ngày 2/9/1945 nửa triệu nhân dân Hà Nội và phụ cận đã cuồn cuộn đổ về Quảng trường này để dự lễ Tuyên ngôn Độc Lập. Lễ đài dựng giữa quảng trường, bốn mặt hình thang phủ vải đỏ, ở giữa có hình nổi ngôi sao vàng nǎm cánh. Đúng 14 giờ các vị trong Chính phủ lâm thời đã có mặt trên lễ đài. Nửa triệu người hân hoan, xúc động, im phǎng phắc lắng nghe tiếng nói của lãnh tụ. Bác đọc xong, Chính phủ lâm thời tuyên thệ.

Ngay sau đó, Bộ trưởng bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp trình bày tình hình trong nước và chính sách của Chính phủ. Bộ trưởng bộ Tuyên truyền Trần Huy Liệu báo cáo công việc tước ấn kiếm tại Huế, trình với đồng bào quả ấn và thanh kiếm tượng trưng cho uy quyền của triều Nguyễn mà Bảo Đại đã nộp cho Cách mạng. Đại diện Tổng bộ Việt Minh Nguyễn Lương Bằng nói về cuộc đấu tranh của nhân dân và kêu gọi đoàn kết, đẩy mạnh quá trình Cách mạng. Sau cùng, mít tinh biến thành biểu tình tuần hành trên các đường phố.

Ngày 9/9/1969, sáu ngày sau khi Hồ Chủ Tịch qua đời, cũng tại Quảng trường này, lễ truy điệu Người đã được cử hành trọng thể. Mười vạn đồng bào Thủ đô và các địa phương cùng 34 đoàn đại biểu quốc tế đã tới đây dự lễ.

Vào lăng viếng Bác

Nay, mặt chính của Quảng trường – mặt tây – là lǎng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau hai năm xây dựng, ngày 19/8/1975 lăng khánh thành.

Lăng gồm ba lớp với chiều cao 21.6m. Lớp dưới kết cấu bậc nhiều cấp, có lễ đài dành cho đoàn chủ tịch khi mít tinh. Phần giữa là kết cấu trung tâm của lăng, gồm phòng thi hài, hành lang, cầu thang lên xuống. Phần trên là mái lăng được tạo dáng cách điệu bông sen nở. mặt chính lăng có dòng chữ “Chủ tịch Hồ Chí Minh” bằng đá hồng ngọc màu mận chín.

“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng, thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ…”

Lăng là nơi giữ thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã đuợc UNESCO tặng danh hiệu Danh nhân Văn hóa thế giới và Anh hùng giải phóng dân tộc nhân kỷ niệm 100 ngày sinh (1890 – 1990).

Công trình lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là kết quả lao động sáng tạo của nhiều nhà khoa học và công nhân hai nước Việt Nam – Liên Xô tỏ lòng tôn kính Chủ tịch Hồ Chí Minh và là sản phẩm của tình hữu nghị Việt – Xô.

Trước lăng là quảng trường với 320m chiều dài và 100m chiều rộng, đủ chỗ cho 20 vạn người dự mít tinh. Quảng trường có 168 ô cỏ bốn mùa xanh tươi, xen giữa là lối đi rộng 1,4m. Giữa quảng trường, trước lăng là cột cờ cao 25m.

Nhà sàn Bác Hồ

Từ sau năm 1954, có một số công trình được xây dựng thêm xung quanh khu vực Quảng trường Ba Đình, bên cạnh những kiến trúc thuộc địa cũ. Đó là Hội trường Ba Đình (hoàn thành năm 1963 – công trình được phá dỡ năm 2008 để nhường chỗ cho dự án xây dựng Nhà Quốc hội mới), Bảo tàng Hồ Chí Minh (hoàn thành năm 1990), Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ hy sinh vì Tổ Quốc (hoàn thành năm 1994).

Ngoài các công trình lớn như trên, trong quần thể kiến trúc ở Quảng trường Ba Đình có một số công trình nhỏ nhưng cũng rất quan trọng và ý nghĩa như Chùa Một cột, khu vực nhà sàn Bác Hồ trong Phủ Chủ tịch. Đây chính là nơi ở và làm việc của Người, hồ cá, vườn cây, rặng dừa, những hàng rao dâm bụt… Tất cả đã đi vào thơ ca Việt Nam. Đặc biệt hơn nữa, với việc phát lộ Hoàng Thành Thăng Long ngay bên quảng trường; Ba Đình càng trở nên ý nghĩa và thiêng liêng hơn bao giờ hết.

Quảng trường Ba Đình và lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành không gian thiêng liêng của Thủ đô Hà Nội và của cả nước.

Rặng tre ngà bên Lăng Bác

Bảo tàng Hồ Chí Minh

Chùa Một Cột

Theo (quehuongonline.vn)
vietbao.vn