Tag Archive | Hồ Chí Minh

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XXXVIII)

Mấy người pháp ở sài gòn về đến chào Chủ Tịch – lực lượng hải quân hiện nay của Pháp.

Ngày 7 tháng 8

11 giờ sáng, có mấy người Pháp ở Sài Gòn mới về đến chào Hồ Chủ tịch. Có ông Canac đi với họ.

1 giờ trưa, ông D’Astier, cựu Bộ trưởng Bộ Nội vụ Pháp, đến thǎm Cụ Chủ tịch. Nay ông làm nghị viên trong Quốc hội Pháp và chủ bút một tờ báo phái tả, thường đǎng bài tán thành Việt Nam độc lập.

Tin tức: Trước ngày cuộc Thế giới chiến tranh thứ hai bùng nổ, nước Pháp có 670 chiếc tàu thuỷ to và nhỏ. Trong cuộc chiến tranh, Pháp mất hết 213, chỉ còn 210 chiếc. Từ ngày hết chiến tranh, tức là giữa nǎm 1945 đến hết nǎm nay, Pháp mua và đóng thêm vào, nhưng cũng chỉ được 370 chiếc cả thảy, nghĩa là bằng quá nửa số tàu khi trước. Thành thử lực lượng dưới bể của Pháp cũng kém sút xa.

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XXXVII)

Đại biểu báo “l’ordre” phỏng vấn Hồ Chủ Tịch –
Hồ Chủ Tịch đi thǎm ông Vương Thế Kiệt, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Hoa.

Ngày 6 tháng 8

4 giờ chiều, ông Charbonnier, đại biểu báo “L’Ordre” đến phỏng vấn Cụ Chủ tịch. Báo này thuộc phe hữu. Thường công kích ta. Nhưng sau khi nói chuyện với Cụ, ông Charbonnier viết một bài thật thà và êm dịu.

7 giờ tối, Cụ đi thǎm ông Vương Thế Kiệt, Ngoại giao Bộ trưởng và mấy vị đại sứ Trung Quốc tới dự Hội nghị Hoà bình ở Paris.

Tuy mới gặp nhau lần đầu, nhưng vì mối quan hệ thân thiện đã lâu đời giữa hai dân tộc Hoa – Việt, vả lại hai bên đều ở đất khách quê người, cho nên thái độ rất thân mật và chuyện trò rất vui vẻ.

Tin tức: ở nước Anh có một Hội nuôi trẻ con bồ côi. Có những người không có con đến Hội xin một vài đứa trẻ đem về nuôi. Hai nǎm vừa qua, 672 trẻ em nhờ vậy mà có gia đình ấm áp, được ǎn ở, được sǎn sóc tử tế.

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XXXVI)

Cụ đi thǎm cụ auriol, Chủ tịch quốc hội Pháp và giáo sư Emile Kalm,
Chủ tịch hội nhân quyền pháp.

Ngày 5 tháng 8

Sáng nay, chỉ có vài kiều bào đến thǎm Cụ Chủ tịch nên Cụ có chút thì giờ xem sách và chơi với các cháu Jacqueline (nhi đồng Việt Nam) và hai con ông bà Aubrac ngoan lắm. Khi có ai hỏi thǎm Cụ, thì chúng nó giữ lễ phép, không bao giờ vào phòng khách. Nhưng thấy Cụ rảnh thì chúng nó liền đem nhau đến đòi Cụ chơi đùa với chúng nó.

Mỗi ngày, Cụ xem chừng 25 tờ báo, báo sáng, báo chiều, báo hàng tuần và báo ngoại quốc. Báo có tin tức gì hay, Cụ lấy bút chì đỏ làm dấu vào, rồi bảo anh em xem.

Hôm nào nhiều khách thì Cụ thường thức xem báo đến hai giờ sáng. Anh em tuỳ tùng và các bác sĩ, cho đến cả vợ chồng ông Aubrac, thấy Cụ thức khuya dậy sớm quá, ra sức khuyên Cụ đi nghỉ sớm. Nhưng không có kết quả mấy!

4 giờ chiều, Cụ Chủ tịch đi thǎm cụ Auriol, Chủ tịch Quốc hội Pháp. Cụ Auriol là một trong những người lãnh tụ của Đảng Xã hội. Nǎm nay chừng 60 tuổi. Người có danh vọng, đạo đức. Cụ đau mắt, mới bị mổ, chưa thật khỏi. Nhưng cũng cố gắng tiếp Hồ Chủ tịch, vì lâu nay hai cụ chưa có dịp nói chuyện lâu.

Qua những lời hàn huyên, hai nhà chính trị nói chuyện Việt – Pháp hơn nửa tiếng đồng hồ.

5 giờ chiều, Hồ Chủ tịch đến thǎm giáo sư Emile Kalm, Chủ tịch Hội Nhân quyền Pháp. Cụ Kalm ngoài 60 tuổi. Râu tóc đều bạc, tính tình thành thật và nhiệt liệt, hết sức tán thành Việt Nam độc lập.

Trước kia, Cụ Phan Châu Trinh bị thực dân Pháp làm án tử hình, rồi đày ra Côn Lôn, nhờ Hội Nhân quyền chống lại mà Chính phủ Pháp phải thả cụ Phan. Hội Nhân quyền lại thường giúp đỡ những chính trị phạm ta hồi Pháp thuộc. Lúc này, Hội đó ra sức ủng hộ Việt Nam độc lập và thống nhất. Sau cuộc Hội nghị Fontainebleau đình lại, Hội Nhân quyền viết thư và phái đại biểu chất vấn Chính phủ Pháp.

6 giờ chiều, Cụ đến thǎm ông Lussy, đảng viên Đảng Xã hội và đại biểu tại Quốc hội Pháp.

Ông bà Lussy và hai vợ chồng người Anh (một nhà kỹ nghệ) ở chung một nhà, bốn anh em và chị em mở rượu sâm banh mời Cụ. Chuyện trò thân mật, lúc ra về thì trǎng đã lặn.

Tin tức: hôm nay được tin cuộc xung đột xảy ra ở Bắc Ninh.

Đ.H

cpv.org.vn

Người thương binh nặng làm theo lời Bác

Cách trung tâm Thủ đô Hà Nội chừng 10 km về phía Tây, có một Trang trại du lịch sinh thái được nhiều người tìm đến và bị “hút hồn” bởi vẻ đẹp của nó. Chủ nhân của trang trại ấy là anh Phạm Công Cường – thương binh hạng ¼ mất sức 83%. Tuy là thương binh nặng, nhưng anh Cường vẫn luôn làm theo lời dạy của Bác Hồ “thương binh tàn nhưng không phế”.

Năm 1967, mới 17 tuổi, Cường trốn gia đình đi bộ đội, làm lính đặc công ở Sư đoàn 304 chiến đấu tại Quảng Trị. Tháng 10 năm 1971, trong 1 trận đánh, anh bị thương vào đầu, cột sống và đứt dây chằng cổ chân phải.

Rời chiến trường về với thương tật hạng ¼ mất sức 83%, nhưng anh quyết tâm không để mình là gánh nặng cho gia đình và xã hội. Được tổ chức sắp xếp làm trong Viện nghiên cứu Vật liệu xây dựng – Bộ kiến trúc, sau đó, anh tham gia học tại chức Khoa Sinh hoá Trường Đại học Tổng hợp. Nhờ duyên trời xe, người thương binh ấy trở thành con rể của “vua lốp” Hà Nội Nguyễn Văn Chẩn. Được ông bố vợ giúp đỡ, cùng với kiến thức học được trong trường đại học, anh đã thành lập Tổ hợp cao su Quyết Thành chế tạo săm lốp cao su từ đồ phế thải. Vốn là người thông minh và có ý chí, anh không ngừng nghiên cứu tìm tòi và đã cho ra đời nhiều sản phẩm có giá trị. Năm 1983, anh đã chế tạo thành công bạc bơm dầu (gioăng chịu dầu) góp phần quan trọng phục hồi máy biến áp của Sở Điện lực Hà Nội đã bị vô hiệu hoá vì thiếu phụ tùng ngoại nhập. Năm 1990, bằng vật tư trong nước, anh lại chế tạo thành công sản phẩm phíp – ba kê lít, một loại vật liệu cách điện rắn dùng trong biến thế của ngành năng lượng, thay thế hàng nhập ngoại. Sản phẩm này được cấp Bằng sáng chế tại Hội chợ triển lãm năm 1992.

ngươi thuong binh nang lam theo loi bac

Thương binh Phạm Công Cường

Rồi đến năm 1995, người thương binh ấy lại bắt tay vào cải tạo và làm hồi sinh vùng đất bị bỏ hoang rộng 18.000m2 ở quê hương mình (thôn An Trai – xã Vân Canh – Hoài Đức – Hà Nội).

Kể về những ngày gian khó ấy, anh bồi hồi nhớ lại: Những năm 90, trong một vài lần về quê ăn giỗ, thấy đầu làng có khu đất vốn là các lò gạch bỏ hoang, cỏ dại mọc đầy, lổn nhổn những hố hộc. Người làng kể rằng đó là hậu quả của những lò gạch thủ công trước đây đã để lại một vùng đất nghèo dinh dưỡng, cây cối không sống được do đất bị “gạch hoá” khiến nền đất rất cứng. Nơi này đã từng có 2 trẻ con chết đuối và không mấy người dám bén mảng tới làm khu đất hoang hoá càng âm u. Cùng lúc ấy, Nhà nước có chính sách khuyến khích phát triển mô hình kinh tế trang trại. Anh bàn với vợ mạnh dạn xin xã đấu thầu khu đất ấy. Mọi người đều khuyên anh nên nghĩ lại bởi biết sẽ gặp muôn vàn khó khăn. Chính ông Trần Xuân Đính – Chủ tịch xã Vân Canh và Bí thư Đảng uỷ xã Nguyễn Thế Cử đều khuyên thật lòng: “Vợ chồng chúng tôi khoẻ mạnh, có 3 sào ruộng khoán nục nạc mà còn làm còng lưng vẫn phải chân le chân vịt mới đủ sống. Anh là thương binh nặng, chị là con gái Hà Thành làm sao làm nổi…”

Nhưng anh suy nghĩ và lý giải: Người ta còn tìm mua đất Trang trại ở Ba Vì, Phú Thọ còn được, thế mà quê mình ngay sát Hà Nội lại có vùng đất bỏ hoang là sao? Với quyết tâm cải tạo vùng đất ấy, anh đã mạnh dạn xin Uỷ ban xã cho đấu thầu. Tháng 10 năm 1995, khu đất hoang hoá rộng 18.000m2 được chính thức giao cho vợ chồng anh Cường sử dụng trong vòng 13 năm. Một cuộc chinh phục cải tạo “vùng đất chết” bắt đầu. Nó cam go không kém gì trận đánh ngoài mặt trận. Những ngày đầu tiên, vợ chồng anh mất hàng năm trời thuê thợ đắp ao, tạo gò. Hàng trăm xe đất phù sa được chở đến cùng với phân trâu bò để bón cho cây, cải tạo đất. Trong 2 năm đầu lấy ngắn nuôi dài, vợ chồng anh làm mô hình V.A.C gồm chuồng trại, vườn cây, ao cá giống. Chỉ sau 2 năm, trong chuồng thường xuyên có khoảng 100 đầu lợn, ao cá mỗi năm xuất từ 7- 8 tấn cá thịt và nhiều loại gia cầm khác. Anh đã giải quyết việc làm cho khoảng 10 lao động quanh năm. Và cơ bản anh đã giúp bà con nhìn nhận đúng về cách quy hoạch mô hình V.A.C ở nông thôn. Đến nay, vùng đất của anh đã được “quy hoạch” đâu ra đấy. Anh chia 10.000m2 đất làm 3 ao nuôi cá giống, xây tường bao kiên cố, 2 hồ lớn nuôi cá thịt và làm dịch vụ câu cá. Xen giữa ao hồ là chuồng trại, vườn sinh thái với đủ loại cây ăn quả. Bao quanh trang trại là 1 con kênh đào rộng 2m với gần 1000 gốc tre làm bờ rào. Trong vườn có khoảng 200 gốc nhãn lồng, 100 gốc vải thiều, hơn 1000 gốc cau cảnh, gần 200 giò phong lan và nhiều loại cây khác. Chị Quyết – vợ anh – thường nói vui: trong nhiều năm qua, vợ chồng anh chị đã “vứt bạc tỉ xuống đất để nhặt lên từng đồng”. Nhưng rồi đất chẳng phụ người. Đến nay anh chị đã có một cơ ngơi khang trang bề thế.

Tiếng lành đồn xa. Nhiều khách du lịch và cựu chiến binh đã về đây tham quan. Có những thương binh nặng không thể đi tham quan khắp trang trại, anh xây hẳn một nhà để các anh có chỗ dừng xe nghỉ chân uống nước. Nhân kỷ niệm 56 năm Ngày Thương binh – Liệt sỹ 27/7/2003, đồng chí Nguyễn Đức Triều – Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội nông dân Việt Nam và Thiếu tướng Hoàng Đan – Thủ trưởng cũ của anh đã đến thăm Trang trại và trồng cây lưu niệm. Trang trại của anh cũng đã từng được đó tiếp Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Lê Huy Ngọ về thăm và động viên.

Khi được hỏi xuất phát từ động lực nào mà anh lại nảy sinh quyết tâm hồi sinh “vùng đất chết” ở quê nhà, anh Cường tâm sự: “Tôi làm vậy trước hết là theo lời dạy của Bác, muốn khẳng định rằng những thương binh như tôi không phải là gánh nặng cho xã hội, mà còn làm giàu cho quê hương đất nước. Mặt khác, để xã hội nhìn nhận chúng tôi là những người “tàn mà không phế”. Hơn nữa, tôi bắt tay vào cải tạo ngay mảnh đất bỏ hoang ở quê mình cũng là vì sự giàu đẹp của quê hương, chứ nếu chỉ nghĩ cho gia đình thì với số tiền ấy đem gửi tiết kiệm cũng đủ sống mà các con vẫn được học hành tử tế…”. Tuy nhiên, anh cũng bộc lộ băn khoăn bởi hợp đồng ký thuê đất là 13 năm (từ ngày 25/10/1995 và kết thúc ngày 01/01/2009). Từ đó đến nay, Uỷ ban nhân dân xã Vân Canh đã làm việc với vợ chồng anh 3 lần nhưng vẫn chưa được ký hợp đồng mới theo quy đinh của pháp luật. Bởi một điều giá thuê đất của hợp đồng cũ (thời điểm 1995) là 0,111kg thóc/m2 tương đương 40 kg /sào/năm, trong khi giá của dự thảo hợp đồng mới đã bị đẩy lên là 3.000 đồng/m2/tháng (thời hạn chỉ 5 năm). Anh mong muốn có một chính sách nào thoả đáng để anh chị bõ công bỏ mồ hôi công sức trên vùng đất hoang hoá được đền đáp xứng đáng khi tận hưởng nguồn thu.

Nhìn cơ ngơi của anh chị, có ai nghĩ cách đây vài chục năm nơi này đã từng bị gọi là “vùng đất chết”. Với bàn tay khối óc và ý chí nghị lực của người lính Cụ Hồ, anh thương binh Cường đã bắt đất phải hồi sinh, trả lại màu xanh cho mành đất ở quê hương. Anh thật xứng đáng với cái tên gọi Bộ đội Cụ Hồ. Bởi lời dặn của Bác “Thương binh tàn nhưng không phế” đã luôn khắc ghi trong tâm khảm của người thương binh nặng ấy.

Thực hiện lời căn dặn của Bác, đến nay, nhiều thương binh như anh Cường đã vượt lên khó khăn, không những không trở thành gánh nặng của xã hội, mà còn làm giàu cho quê hương đất nước. Thật cảm phục biết bao trước những con người đầy nghị lực và ý chí phi thường ấy đã từng đổ máu xương bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc, nay lại mang công sức của mình nguyện là một viên gạch hồng xây dựng quê hương. Các anh mãi mãi là tấm gương để chúng ta học tập và noi theo, mãi mãi là những người “tàn mà không phế”, luôn được xã hội kính phục và tôn vinh.

Nguyễn Thị Diệp
Theo tuyengiao.vn
Thu Hiền (st)

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XXXV)

Kiều bào và nhi đồng Việt Nam đến thǎm Hồ Chủ Tịch –
Tướng Morlière đến chào Chủ tịch – Cụ đi thǎm cụ Léon Blum.

Ngày 4 tháng 8

Hôm nay chủ nhật, có lẽ Hồ Chủ tịch và anh chị em tuỳ tùng được nghỉ một ngày thảnh thơi. Nhưng không ! 8 giờ thì anh em kiều bào và các em nhi đồng đã rải rác đến. Mọi người tới hỏi thǎm Cụ mạnh giỏi, rồi thì nhóm 3 nhóm 7, người ở trong nhà, tốp ở ngoài sân. Đồng bào thanh niên Nam Bộ đối với Cụ đặc biệt tỏ tình quyến luyến.

10 giờ sáng, tướng Morlière đến chào Cụ. Ông nói ông sắp qua nước ta. Cụ Chủ tịch gửi danh thiếp giới thiệu ông với Chính phủ ta, và gửi lời thǎm tướng Valuy.

Chủ và khách nói chuyện và uống trà ở ngoài vườn. Hơn một tiếng đồng hồ, ông Morlière mới cáo từ ra về.

4 giờ chiều, Cụ Chủ tịch đi thǎm Cụ Léon Blum tại Jonyen Jossas, một làng ngoại thành Paris. Nhà cụ Blum rộng rãi nhưng rất là giản đơn và thanh tịch. Chung quanh có vườn, giồng nhiều cây quả. Phòng Cụ làm việc rất nhiều sách vở. Cụ ông thì tiếp chuyện Hồ Chủ tịch, cụ bà thì sắm sửa nước chè và bánh trái… Rồi ba cụ ngồi chuyện trò rất thân mật. Cụ Blum tặng Hồ Chủ tịch một bức ảnh của Cụ khi Cụ đi Mỹ. Khi từ biệt, ba cụ hôn nhau như anh em chị em.

Tin tức: được tin đồng bào ta bãi công tại Sài Gòn – Chợ Lớn để phản đối Chính phủ bù nhìn tại Nam Bộ và đòi thống nhất ba kỳ của nước Việt Nam.

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XXXIV)

Hồ chủ tịch đi thǎm ông chủ bút báo “L’ordre” và giáo sư Rivet – đến chơi nhà ông bà Bousquet.

Ngày 3 tháng 8

10 giờ sáng, nhà viết báo là ông Dussari đến thǎm Cụ.

11 giờ, Cụ đi thǎm ông Buré, chủ bút báo “L’Ordre”. Ông Buré là một nhà viết báo có tiếng. Nǎm nay 70 tuổi.

Báo “L’Ordre” thường công kích ta. Nhưng khi ông Buré gặp Cụ Chủ tịch thì thái độ ông rất nhã nhặn. Hồ Chủ tịch đem tình hình nước ta và nguyện vọng dân ta nói chuyện rõ ràng, thì nhà viết báo lão thành kia tỏ ý cảm động. Sau đó, ông Buré phái một người đến yết kiến Hồ Chủ tịch, rồi đǎng một bài báo đứng đắn và có lợi cho ta.

5 giờ chiều, Cụ Chủ tịch đi thǎm giáo sư Rivet, một bực lão thành trong Đảng Xã hội Pháp. Giáo sư có phàn nàn về việc Hội nghị Fontainebleau tiến hành không thuận tiện, và bày tỏ ý kiến của ngài về vấn đề đó. Và hứa sẽ ra sức giúp đỡ để đi đến sự giao hảo giữa hai dân tộc Việt – Pháp.

6 giờ chiều, ông Bousquet, một đại biểu trong phái đoàn Pháp tại Hội nghị Fontainebleau, mời Hồ Chủ tịch đến chơi nhà ông ở ngoài Paris. Ông ở làng Chéron, cách Paris mấy chục cây số. Phong cảnh rất đẹp và thanh vắng. Một toà nhà xinh xắn. Một cái vườn nho nhỏ, nhiều thứ cây và hoa. Có cái chuồng con con nuôi thỏ và gà. Một cái sân hèm hẹp đủ đặt mấy cái ghế để ngồi nghỉ mát. Đằng sau vườn, có một dãy ruộng lúa mì. Thật là một thú điền viên. Ông Bousquet chừng 30 tuổi, học hành thông thái, tính tình nhã nhặn. Bà Bousquet là người Nga. Bà tiếp bạn hữu chồng một cách lịch sự và thân mật. Hai con một trai 5 tuổi và một gái 3 tuổi, xinh và ngoan lắm. Mới gặp nhau lần đầu, mà hai em quấn quýt chơi đùa với Cụ Chủ tịch không muốn rời ra.

Hôm ấy có các ông Phạm Vǎn Đồng, Dương Bạch Mai, Laurentie, D’ Astierr, v.v. cùng đến chơi. 10 giờ đêm mới về.

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XXXIII)

Phái đoàn Việt Nam kháng nghị việc triệu tập hội nghị Đà Lạt –
tiếp các nhà báo – đi thǎm ông Herriot, tướng Leclerc.

Ngày 2 tháng 8

Người Pháp ở Nam Bộ tổ chức Hội nghị Đà Lạt, mời người Lào, người Mên, tay sai của họ ở Nam Bộ và người Pháp đến họp, tự xưng là Hội nghị Đông Dương. Họ có ý muốn đem Hội nghị này đối kháng với Hội nghị Việt – Pháp ở Paris. Vì lẽ đó, đoàn đại biểu ta tạm đình cuộc Hội nghị ở Paris để tỏ ý kháng nghị.

Các báo Pháp đã bình luận sôi nổi về việc đình Hội nghị đó. Chính Bộ trưởng Moutet cũng ngỏ ý không tán thành cuộc Hội nghị mà ông Cao uỷ D’ Argenlieu tự ý làm tại Đà Lạt.

9 giờ sáng, một nhà chuyên môn viết báo về kinh tế là ông Fleury đến phỏng vấn Hồ Chủ tịch.

10 giờ, ông Vương, đại biểu của Hãng thông tin Trung Hoa ở Pháp đến chào Cụ Chủ tịch. Ông Vương nói chuyện rất vui vẻ, viết báo rất giỏi và rất am hiểu tình hình thế giới. Ông thường viết bài nói về việc giao thiệp Việt – Pháp, gửi về đǎng trong các báo lớn ở Trung Quốc và những nơi ngoại quốc có Hoa kiều.

12 giờ, Cụ Chủ tịch tiếp ông Claude Morgan, chủ bút tờ tuần báo “Vǎn chương nước Pháp”. Báo này toàn do các vǎn sĩ Pháp, có ảnh hưởng lớn trong giới trí thức Pháp. Rất tán thành nền độc lập Việt Nam.

12 giờ, ông Aubay, nghị viên Đảng Xã hội, đến thǎm Cụ. Ông trước có ở bên ta. Tính tình rất giản dị và vui vẻ. Ông nói Việt Nam độc lập và thống nhất là một điều tự nhiên, không ai ngǎn trở được. Và hai dân tộc Pháp và Việt cần phải cộng tác một cách bình đẳng và thân mật, có lợi cho cả hai bên.

2 giờ trưa, Cụ đi thǎm cựu Thủ tướng Herriot, Chủ tịch của Đảng Cấp tiến. Cụ Herriot là một người rất có danh vọng trong nước Pháp. Trước kia làm giáo sư, được cử làm nghị viên, kiêm chức Thị trường thành phố Lyon đã mấy mươi nǎm. Đã nhiều lần làm Thủ tướng. Dáng người to béo, vẻ mặt hiền lành. Nǎm nay Cụ chừng 75 tuổi, nhưng vẫn còn mạnh khoẻ lắm. Cụ làm việc không kém gì lúc còn trẻ. Ngoài công việc thị chính và nghị viện, mỗi ngày Cụ còn viết một bài báo và thường đi diễn thuyết.

Chiều hôm nay Cụ Herriot đến thǎm Cụ Hồ. Tiếc vì Cụ đi vắng. Cụ Herriot có để danh thiếp lại hỏi thǎm.

4 giờ, Cụ Chủ tịch đi thǎm tướng Leclerc ở Bộ Quốc phòng. Hôm sau ông Leclerc gửi thư ân cần cảm ơn Hồ Chủ tịch.

5 giờ, ông nghị viên Laminé Guyeye đến thǎm Cụ Chủ tịch. Ông là người da đen ở Sénégal. Làm nghề luật sư, được bầu làm nghị viên trong Quốc hội Pháp đã lâu. Ông là đảng viên Đảng Xã hội, Chủ tịch của nhóm nghị viên dân chủ do các xứ thuộc địa Pháp tổ chức nên, để cùng nhau tranh quyền tự do dân chủ cho các xứ đó.

6 giờ chiều, Cụ Chủ tịch đi thǎm Tổng bộ Đảng Xã hội Pháp. Tổng thư ký của Đảng là ông Daniel Mayer đón tiếp Cụ rất là thân mật. Trong khi trò chuyện, ông Mayer tỏ ý rằng: ủng hộ quyền tự do độc lập của các dân tộc là phận sự của những người tin tưởng vào chủ nghĩa xã hội.

8 giờ tối, Cụ và anh em tuỳ tùng đi xem kịch tại nhà hát “Grand Guignot”. Nhà hát này nhỏ. Nhưng có tiếng ở Pháp, vì chuyên diễn những tấn bi kịch hay là những tấn bi kịch kỳ quái làm cho người xem phải thất kinh rởn gáy. Những người yếu bóng vía và trẻ con không dám đi xem rạp hát này. Người ngoại quốc đến Paris, thường cố đi xem một lần cho biết mới thoả dạ.

Tin tức: Mỹ bán cho Pháp 75 chiếc tầu “Liberty”, mỗi chiếc giá 54.506 đồng bạc Mỹ. Cộng là 40.837.950 đồng, một phần tư (1/4) số tiền đó Pháp sẽ trả bằng tiền mặt, còn lại sẽ trả dần trong 20 nǎm. Trong hồi chiến tranh, Mỹ đóng rất nhiều tầu kiểu này để chuyên chở quân khí.

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XXXII)

Cụ Chủ Tịch tiếp khách.

Ngày 1 tháng 8

9 giờ sáng, Cụ Chủ tịch tiếp vǎn sĩ Louis Castex, ông viết báo và viết nhiều sách.

11 giờ, có viên quan nǎm Fattainy lại yết kiến Cụ. Ông là người phụ trách anh em công binh Việt Nam ở Pháp.

8 giờ chiều, ông Billoux, Bộ trưởng Bộ Kiến thiết và ông D’Astier một nhà vǎn sĩ nổi tiếng đến thǎm Cụ Chủ tịch.

Tin tức thế giới: 1) Có tin nước Xiêm xin đem việc xích mích giữa Xiêm và Pháp ra Toà án quốc tế La Haye.

2) Chính phủ Anh vừa ra sắc lệnh bớt thời hạn về việc vợ chồng bỏ nhau. Khi trước cần phải 6 tháng thì việc bỏ nhau mới chính thức. Từ ngày 6-8 trở đi, chỉ cần 6 tuần lễ. Vì vậy, 6 vạn vợ chồng người Anh muốn bỏ nhau rất cảm ơn Chính phủ.

3) Công an cục nước Mỹ công bố rằng: từ đầu tháng 1 đến cuối tháng 6 nǎm nay, ở Mỹ có 16.000 người bị xe hơi cán chết, 50.000 người bị thương.

4) Tướng Leclerc nói với các báo rằng: trong 9 tháng đánh nhau với ta ở Nam Bộ, hơn 1.400 lính Pháp chết và hơn 3.500 bị thương(?).

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XXXI)

Đô Đốc Muselier đến thǎm Chủ Tịch – đi thǎm bà Andrée Violis,
Giáo sư Langevin – ông Max André thết tiệc Hồ Chủ Tịch

Ngày 31 tháng 7

11 giờ, có Đô đốc Muselier đến thǎm Cụ Chủ tịch. Đô đốc là một người có danh tiếng trong hải quân Pháp. Ông rất kính trọng Cụ Chủ tịch nên thường đến thǎm Cụ luôn.

Buổi chiều, Cụ đi thǎm bà Andrée Violis. Bà là một nhà viết báo có tiếng. Mười mấy nǎm trước bà có qua bên ta xem xét, khi về bà có viết một cuốn sách tên là “Đông Dương kêu cứu”, ra sức công kích chính sách tàn bạo của người Pháp thuộc địa và hết sức bênh vực dân ta. Bây giờ bà vẫn thường viết báo ủng hộ vận động độc lập của nước ta.

5 giờ, Cụ đi thǎm giáo sư Langevin. Ông là một nhà khoa học có tiếng khắp thế giới, người rất đạo đức trung hậu, hết lòng hǎng hái ủng hộ dân chủ và hoà bình. Ông có một người con gái học hành rất thông thái, làm nghị viên trong Quốc hội Pháp, người chồng bị Đức giết.

7 giờ, ông Max André, Trưởng đoàn đại biểu Pháp trong cuộc Hội nghị Fontainebleau, thết tiệc hoan nghênh Hồ Chủ tịch.

Đ.H

cpv.org.vn

Kỷ niệm 65 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2012)

65 năm ngay TBLS

Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, theo Chỉ thị 223/CT-TW ngày 8 tháng 7 năm 1975 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, từ năm 1975, ngày 27 tháng 7 hàng năm chính thức trở thành “Ngày Thương binh, Liệt sĩ” của cả nước.

Gần 4 thập niên đã trôi qua kể từ ngày hoà bình thống nhất đất nước song những đau thương mất mát mà chiến tranh để lại vẫn không gì bù đắp được. Chúng ta mãi mãi biết ơn những người đã hy sinh, đã bỏ lại một phần xương máu của mình nơi chiến trường và mang thương tật không thể chữa lành của chiến tranh. Cứ đến ngày 27 tháng 7 hàng năm, đồng bào cả nước có dịp tưởng nhớ những người con của dân tộc đã chiến đấu quên mình vì nền độc lập của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Khi chính quyền cách mạng còn non trẻ, thực dân Pháp âm mưu xâm lược nước ta. Trong cuộc chiến đấu này, nhiều chiến sỹ, đồng bào ta đã bị thương, nhiều người đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường. Kiên quyết bảo vệ thành quả cách mạng, “không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, quân dân ta đã anh dũng chiến đấu, đánh đuổi bọn xâm lược. Ngày 19/12/1946, Bác Hồ ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, chiến tranh bùng nổ, số người bị thương và hy sinh tăng lên. Đời sống của đồng bào và chiến sỹ gặp nhiều khó khăn thiếu thốn. Trong tình hình ấy, Đảng và Nhà nước ta đã quyết định nhiều chính sách quan trọng về công tác thương binh, liệt sĩ, góp phần đảm bảo đời sống vật chất, tinh thần cho các gia đình chính sách trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến.

Tháng 6 năm 1947, đại biểu của Tổng bộ Việt Minh, Tổng hội Phụ nữ cứu quốc, Cục chính trị quân đội Quốc gia Việt Nam, Nha thông tin tuyên truyền một số địa phương đã họp tại Đại Từ – Thái Nguyên. Nội dung cuộc họp là thực hiện Chỉ thị của Hồ Chủ tịch chọn ngày kỷ niệm thương binh, liệt sĩ và bảo vệ công tác thương binh, liệt sĩ,  Hội nghị đã nhất trí lấy ngày 27/7/1947 làm ”Ngày Thương binh toàn quốc”, là dịp để cán bộ, chiến sỹ và nhân dân cả nước dành những tình cảm thiêng liêng nhất để tưởng nhớ, biết ơn những thương binh, liệt sĩ đã hy sinh xương máu của mình vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, để cho mỗi chúng ta có được cuộc sống thanh bình và hạnh phúc ngày hôm nay. Ngày 27-7-1947, một cuộc mít tinh quan trọng đã được diễn ra tại Thái Nguyên (có trên 2.000 người tham gia). Tại đây Ban Tổ chức đã trịnh trọng đọc thư của Hồ Chủ tịch. Người đã gửi tặng một chiếc áo lụa, một tháng lương và một bữa ăn của nhân viên trong Phủ Chủ tịch. Từ năm 1947, ngày Thương binh được tổ chức thường kỳ hàng năm. Năm nào vào dịp này, Hồ Chủ tịch cũng có thư và quà gửi anh chị em thương binh và các gia đình liệt sĩ. Tháng 7 năm 1954 sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Đảng và Nhà nước ta càng đặc biệt quan tâm giải quyết vấn đề chiến sỹ, gia đình liệt sĩ và công tác thương binh. Và từ năm 1955, ngày 27-7, Ngày Thương binh được đổi thành ngày Thương binh – Liệt sĩ để ghi nhận những hy sinh lớn lao của đồng bào, chiến sỹ cả nước cho chiến thắng vẻ vang của toàn dân tộc.

Từ năm 1970, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam quyết định lấy ngày 01 tháng 12 hàng năm làm “Ngày Thương binh – Liệt sĩ”. Theo đó, hàng năm đến ngày 01 tháng 12, cùng với việc cử các Đoàn đại biểu đến tặng quà, úy lạo thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đều có thư động viên, thăm hỏi thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và nhắc nhở quân dân các địa phương quan tâm, săn sóc, giúp đỡ anh, chị em. Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, theo Chỉ thị 223/CT-TW ngày 8 tháng 7 năm 1975 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, từ năm 1975, ngày 27 tháng 7 hàng năm chính thức trở thành “Ngày Thương binh – Liệt sỹ” của cả nước. Ngày 29/3/1978, Bộ Lao động – Thương binh và xã hội đã ban hành Chỉ thị số 07-CT/TBXH về cuộc vận động chính trị trong thương binh, gia đình liệt sĩ, phát huy truyền thống cách mạng vẻ vang, mãi mãi xứng đáng là “người công dân kiểu mẫu” và “gia đình cách mạng gương mẫu”.

Đã 65 năm trôi qua kể từ Ngày Thương binh – Liệt sĩ đầu tiên ấy, mỗi năm cứ đến ngày 27 tháng 7, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cả nước lại tưởng nhớ đến Bác và thêm tự hào về bước phát triển của công tác Thương binh – Liệt sĩ theo tư tưởng và sự chỉ đạo của Người.

Kim Yến
bqllang.gov.vn

 

 

 

Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tri ân các Anh hùng liệt sỹ và những người có công với cách mạng

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Máu đào của các liệt sỹ đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sỹ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sỹ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sỹ để vượt qua tất cả những khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sỹ chuyển lại cho chúng ta”. Vì vậy, tri ân các anh hùng liệt sỹ đã trở thành truyền thống, là nghĩa cử cao đẹp của thế hệ đi sau. Ngày nay, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã cùng làm nhiều công việc thể hiện nghĩa cử cao đẹp đó, tri ân các anh hùng liệt sỹ, người có công với cách mạng như: Tặng quà cho các gia đình có công với cách mạng, gia đình chính sách, xây nhà tình nghĩa, vận động xây dựng quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, nhận phụng dưỡng các Mẹ Việt Nam anh hùng, ủng hộ và giúp đỡ các nạn nhân nhiễm chất độc màu da cam DIOXIN, giúp đỡ thương, bệnh binh và gia đình liệt sỹ, tìm mộ liệt sỹ…

Thực hiện lời dạy của Người, thiết thực kỷ niệm 65 năm Ngày Thương binh – Liệt sỹ, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng Kế hoạch số 1463/KH-CT ngày 07/6/2012 về việc “Kỷ niệm 65 năm Ngày Thương binh – Liệt sỹ (27/7/1947 – 27/7/2012) nhằm đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ, người lao động trong đơn vị nhận thức sâu sắc ý nghĩa thiết thực của đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây”, tri ân với những người có công với cách mạng và tổ chức tốt các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa” hướng tới các ngày kỷ niệm lớn trong năm 2012.

Bai chinh sach.TT Dien phat bieuThiếu tướng Đặng Nam Điền – Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng phát biểu tại
lễ khởi công xây nhà tình nghĩa cho thân nhân liệt sỹ tại Quảng Cư, Sầm Sơn, Thanh Hóa

Với tinh thần đó, các cơ quan, đơn vị trong toàn Bộ Tư lệnh đã quán triệt và phổ biến đến toàn thể cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ, người lao động trong cơ quan, đơn vị mình Chỉ thị số 523 -CT/QUTƯ ngày 02/12/2011 của Thường vụ Quân ủy Trung ương; Kế hoạch số 836-KH/ĐU ngày 05/4/2012 của Đảng ủy Đoàn 969; Hướng dẫn số 1026/HD-CT của Phòng Chính trị về việc “Triển khai thực hiện Kế hoạch số 836-KH/ĐU của Đảng ủy Đoàn 969 về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác chính sách trong quân đội và chính sách hậu phương quân đội giai đoạn 2011-2015”.

Bai chinh sach.TT Dien chup anh lu niemThiếu tướng Đặng Nam Điền – Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng
dự lễ bàn giao nhà tình nghĩa tại Quảng Cư, Sầm Sơn, Thanh Hóa

Ngay từ giữa quý I năm 2012, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phối kết hợp chặt chẽ với các địa phương tổ chức đi khảo sát và khởi công xây dựng 02 nhà tình nghĩa tại Sầm Sơn, Thanh Hóa bằng kinh phí từ quỹ “Đền ơn, đáp nghĩa” Bộ Quốc phòng và 01 nhà tại Đoan Hùng, Phú Thọ bằng nguồn kinh phí do cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ, người lao động trong đơn vị đóng góp. Đây là hoạt động mang đầy ý nghĩa giáo dục truyền thống đối với cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ, người lao động trong đơn vị nói riêng và đối với nhân dân các địa phương đơn vị xây tặng nhà tình nghĩa nói chung. Phong trào “Đền ơn, đáp nghĩa” đã giúp nhiều gia đình chính sách cải thiện cuộc sống, vươn lên trong khó khăn, mất mát làm nên những “đóa hoa thơm cho đời” thực hiện lời dạy của Bác Hồ “thương binh tàn nhưng không phế”, tiếp tục phát huy truyền thống “Bộ đội cụ Hồ” của gia đình cách mạng để xây dựng cuộc sống mới cho bản thân, gia đình và góp phần xây dựng quê hương, đất nước.

Bai chinh sach.TT LamĐại tá Nguyễn Văn Lâm – Phó Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng đại diện Đoàn thắp hương
tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ tại Nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn

Từ ngày 20/6 đến ngày 26/6/2012, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổ chức cho Đoàn chính sách là thương binh, thân nhân liệt sĩ, các đồng chí công đoàn viên tiêu biểu có thời gian công tác từ 25 năm trở lên đi tham quan, học tập tại các tỉnh miền Trung. Đoàn đã đến thắp hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ tại Nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn, Nghĩa trang liệt sỹ Đường 9, Thành cổ Quảng Trị và Nghĩa trang Mười cô gái Ngã Ba Đồng Lộc. Nơi ấy đã diễn ra những trận đánh oanh liệt, những mất mát hy sinh to lớn của quân và dân ta và những đồng đội đã ngã xuống cho sự bình yên hôm nay. Đoàn đã lần lượt dâng hương tưởng niệm tại các nghĩa trang và Thành cổ Quảng Trị đồng thời tham gia đóng góp một phần kinh phí để sẻ chia, tôn tạo cảnh quan các khu di tích thể hiện những tình cảm tốt đẹp của từng thành viên trong đoàn tri ân và tưởng nhớ các Anh hùng liệt sỹ đã hy sinh vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc.

Trong những ngày tháng 7 linh thiêng này, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tham dự lễ mít tinh của các địa phương kỷ niệm 65 năm Ngày Thương binh – Liệt sỹ, hoà chung với phong trào “Đền ơn, đáp nghĩa” của cả nước đơn vị đã vận động và tổng hợp kết quả xây dựng quỹ “Đền ơn, đáp nghĩa” năm 2012 với sự tham gia của 100% cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ, người lao động với tổng số tiền là 143.372.000 đồng, trích nộp lên trên theo quy định, số tiền còn lại để xây tặng 01 nhà tình nghĩa theo kế hoạch đã đề ra. Việc đóng góp mỗi người một ngày lương xây dựng quỹ “Đền ơn, đáp nghĩa” đã trở thành thông lệ hàng năm trong quân đội nói chung và đối với cán bộ, chiến sỹ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng nói riêng thể hiện tình chân thành của người chiến sỹ cận vệ bên Lăng Bác dành tặng các gia đình chính sách nhân dịp kỷ niệm đặc biệt này.

Bai chinh sach.TT KiemĐại tá Nguyễn Trọng Khánh – Phó Tư lệnh – Tham mưu trưởng, Đại tá Cao Đình Kiếm
– Chủ nhiệm Chính trị dự lễ khởi công xây nhà tình nghĩa tại Đoan Hùng, Phú Thọ

Cũng trong dịp này, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng đã tổ chức thăm hỏi các đồng chí thương binh, Chỉ huy Bộ Tư lệnh đã đến thăm các gia đình chính sách trong đơn vị, thắp hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ tại gia đình người có công, tổ chức thăm, tặng quà các đồng chí mắc bệnh hiểm nghèo, các đồng chí ốm phải điều trị tại bệnh xá và các bệnh viện.

Để có được cuộc sống thanh bình, mçi cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ công tác tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn thấm nhuần và khắc sâu lời dạy: Đời đời ghi nhớ công ơn, sự hy sinh anh dũng của các thế hệ đàn anh đi trước, đã xả thân vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc để xây dựng nên giang sơn gấm vóc hôm nay và nguyện gìn giữ, phát huy những giá trị tốt đẹp, những truyền thống quý báu của quân đội, của dân tộc, thành quả cách mạng mà các thế hệ người Việt Nam đã không tiếc máu xương vun đắp. Xin được thành kính tri ân với các Anh hùng liệt sỹ và những người có công với cách mạng nhân dịp toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta kỷ niệm 65 năm Ngày Thương binh – Liệt sỹ (27/7/1947-27/7/2012)!

Phạm Văn Lực
bqllang.gov.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XXX)

Đi dạo rừng montmorency – đi thǎm Giáo sư Rivet, Bộ trưởng Moutet.

Ngày 30 tháng 7

Sáng 6 giờ, Cụ Chủ tịch cùng anh em đi dạo rừng Montmorency. Mặt giời đỏ chói như một mâm bồng lửa chiếu vào các đám mây đỏ đỏ, hồng hồng. Paris còn đương ngủ. Đứng trên rừng trông xuống, thấy kinh đô Pháp như một bức tranh khổng lồ. Trong cuộc chiến tranh vừa qua, kinh đô các nước Âu châu như Luân Đôn của Anh, Bá Linh của Đức, Vácxôvi của Ban Lan, v.v. đều bị tàn phá nhiều. Chỉ có Paris may mà không bị tổn hại. Nghe nói trước khi Đức sắp kéo đi khỏi Paris, họ đã đặt địa lôi các nơi dự bị làm nổ tung cả thành phố. Sau hình như quân đội Pháp và Đồng minh kéo đến chóng quá (18-8-44), người Đức không kịp phá thành phố. Đó là một việc may mắn cho dân Pháp. Mà cũng là may mắn cho thế giới, vì Paris chứa nhiều vật báu của vǎn hoá loài người.

Trong rừng này có một cây gỗ dẻ rất to, đẹp nhất nước Pháp. Thân cây tròn, bốn nǎm người ôm mới xuể. Quá mặt đất một chút có cành xoè ra như gọng ô khổng lồ. Lá xanh và rậm sum suê, đứng xa trông như một mâm xôi. Ai đi đến đấy, cũng muốn trèo lên cành ngồi một chút mới bằng lòng.

12 giờ, ông Bernard mời Cụ Chủ tịch ǎn cơm. Nhân dịp đó có ông chủ bút báo “Le Combat” (Chiến đấu) đến thǎm Hồ Chủ tịch. Ông Bernard chỉ có một người con giai đi đánh Đức bị tử trận. Người con dâu bị Đức bắt cầm tù 3, 4 nǎm.

3 giờ, Cụ Chủ tịch đi thǎm giáo sư Rivet. Giáo sư có hẹn với Chủ tịch Cộng hoà Tây Ban Nha, hai ba vị vǎn sĩ Pháp và hai ba nhà chính trị Mỹ đến chào Hồ Chủ tịch.

5 giờ, Tổng thư ký Hội Thanh niên Cộng hoà Pháp và vợ đến chào và tặng hoa Cụ Chủ tịch.

6 giờ chiều, Cụ Chủ tịch đi thǎm Bộ trưởng Moutet.

Chiều tối, Cụ mới trở về nhà.

Hôm nay, vì đi nhiều mỏi mệt, đêm ngủ Cụ Chủ tịch nói mê. Mấy anh em công nhân gác trong nhà mang máng nghe thấy tiếng, tưởng có chuyện gì, lặng lẽ cầm đòn vác súng đi lùng khắp nơi. Sau biết là Cụ nói mê anh em mới yên lòng.

Đ.H

cpv.org.vn