Tag Archive | Hồ Chí Minh

Tượng đài Bác Hồ giữa lòng Thủ đô Argentina

Ngày 30 tháng 8 năm 2012, tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được khánh thành trọng thể ở Thủ đô Buenos Aires trong sự khâm phục của nước bạn đối với nhân dân Việt Nam và đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

1
Bộ trưởng Môi trường và không gian công cộng
thành phố Buenos Aires, Diego Santilli phát biểu tại buổi lễ

Phát biểu tại buổi lễ, Bộ trưởng Môi trường và không gian công cộng thành phố Buenos Aires, Diego Santilli, bày tỏ sự khâm phục của nhân dân thế giới đối với nhân dân Việt Nam và đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, đồng thời nhấn mạnh công trình tượng đài là một biểu tượng của tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước.

2
Đại sứ nước ta tại Argentina Nguyễn Văn Đào

Về phần mình, Đại sứ nước ta tại Argentina Nguyễn Văn Đào nêu bật cuộc đời và sự nghiệp của Bác. Thực hiện Di chúc của Người, nhân dân Việt Nam đã hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, và đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ngày nay, phấn đấu đưa Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.

3
Bộ trưởng Santilli và Đại sứ Nguyễn Văn Đào
đã cùng kéo tấm vải phủ tượng Bác

Bộ trưởng Santilli và Đại sứ Nguyễn Văn Đào đã cùng kéo tấm vải phủ tượng Bác, chính thức khai trương công trình có nhiều ý nghĩa đối với quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước.

4
Ông Miguel Carlos Contreras, con của ông Miguel Contreras,
một trong những người sáng lập ra Đảng Cộng sản Argentina

Tham dự buổi lễ có ông Miguel Carlos Contreras, con của ông Miguel Contreras, một trong những người sáng lập ra Đảng Cộng sản Argentina và từng gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian hai lãnh tụ tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ 5 tại Mátxcơva (Liên Xô) năm 1924.

5
Các đại biểu tham dự lễ khánh thành chụp ảnh
lưu niệm tại tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ông Miguel bày tỏ niềm tự hào vì có người cha từng có dịp tiếp xúc, trò chuyện với Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời nhấn mạnh việc khánh thành tượng đài vinh danh Người là một sự kiện chính trị rất quan trọng, vì có nghĩa là Argentina cùng với các nước Nam Mỹ khác đang làm theo tấm gương mà Hồ Chí Minh đã để lại cho nhân loại để cùng nhau đấu tranh vì công lý xã hội, xóa đói nghèo và làm cho thế giới tốt đẹp hơn.

6
Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tại công viên mang tên
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc địa phận quận 12, Thủ đô Buenos Aires

Tượng đài đặt tại công viên mang tên Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc địa phận quận 12. Trung tâm của tượng đài là bức tượng bán thân bằng đồng dựa theo mẫu của nhà điêu khắc Trần Văn Lắm. Đây là món quà đầy ý nghĩa của Chính phủ nước ta tặng Thủ đô Buenos Aires và cũng là bức tượng Bác đầu tiên đặt tại khu vực Nam Mỹ.

Nhân dịp này, báo chí Argentina đã có bài viết hoặc phỏng vấn Đại sứ Nguyễn Văn Đào. Đại sứ quán nước ta cũng nhận được nhiều bức điện của các tổ chức Đảng, tổ chức xã hội và cá nhân chúc mừng sự kiện khánh thành tượng đài Bác, trong đó nêu bật Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là anh hùng giải phóng dân tộc mà còn là tấm gương đạo đức cách mạng cao đẹp, luôn đấu tranh vì một thế giới không có người bóc lột người.

Sự kiện khai trương tượng đài Bác là một trong những hoạt động được tổ chức tại Buenos Aires chào mừng 67 năm Quốc khánh 2/9. Trước đó, ngày 29 tháng 8, Trung tâm Việt Nam – Argentina đã ra mắt tại Thủ đô Buenos Aires nhằm quảng bá văn hóa Việt Nam tại quốc gia Nam Mỹ này, góp phần thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước.

7
Đại diện ngoại giao của hai nước tham dự buổi lễ khánh thành

Đại diện Bộ ngoại giao, Bộ Văn hóa, chính quyền và nghị viện thành phố, Viện Văn hóa Argentina – Việt Nam (ICAV), Đoàn ngoại giao, cùng đông đảo bạn bè của Việt Nam đã tham dự buổi lễ khánh thành.

Theo Dantri.com.vn
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

Lịch trình Bác Hồ về Hà Nội dự Lễ Quốc khánh đầu tiên – Ngày 2/9/1945

Trong những ngày cuối tháng 8 năm 1945, sau Tổng khởi nghĩa –  Cách mạng Tháng Tám thành công, Biên niên sử Hồ Chí Minh (tới năm 1945) ghi các sự kiện lớn như sau:

– Ngày 22 tháng 8: Sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Tân Trào về Hà Nội. Người chưa khỏi bệnh, còn mệt nhiều, có lúc phải nằm cáng.

– Ngày 26 tháng 8: Buổi sáng, tại ngôi nhà số 48 Hàng Ngang, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập và chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng chuẩn bị ra Tuyên ngôn độc lập.

Lich trinh Bac Ho ve HNChủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 (Ảnh tư liệu)

– Ngày 27 tháng 8: Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập cuộc họp của Ủy ban Dân tộc giải phóng. Người được bầu làm Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

– Ngày 28 và ngày 29 tháng 8: Từ nơi ở là ngôi nhà số 48 phố Hàng Ngang (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh hàng ngày tới làm việc tại ngôi nhà số 12 phố Ngô Quyền – trụ sở của Chính phủ lâm thời. Người dành phần lớn thì giờ soạn thảo Bản Tuyên ngôn độc lập. (Báo cáo viên năm 2005, Ban TT- VH, trang 230).

Ngày 2/9/1945 diễn ra cuộc mít tinh vô cùng trọng thể tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội): Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên đọc Bản Tuyên ngôn độc lập và ra mắt Chính phủ lâm thời…

Ông Nguyễn Thu Cờ, một cán bộ ngành Công an Hà Nội đã chứng kiến và ghi chép thêm những sự kiện lớn về Bác Hồ trong những ngày từ Tân Trào tới Hà Nội với một lịch trình chi tiết như sau:

– Buổi tối ngày 24/8/1945, Bác Hồ đến nghỉ tại nhà ông Công Ngọc Kha (tức Trần Lộc) ở làng Gạ (nay là làng Phú Gia, xã Phú Thượng, huyện Từ Liêm) ngoại thành Hà Nội, là một cơ sở cách mạng tin cậy.

– Sáng ngày 25 tháng 8: Tại làng Ga, Bác Hồ nghe ông Võ Nguyên Giáp, Trần Đăng Ninh báo cáo tình hình khởi nghĩa ở Hà Nội. Đến buổi chiều, Người đi ô tô vào Hà Nội. Ông Trường Chinh đón Bác cùng đi đến số nhà 48 Hàng Ngang (nhà của vợ chồng ông Trịnh Văn Bô là một thương gia đã tham gia phong trào Việt Minh ở Hà Nội).

– Ngày 27 tháng 8: Ngay tại số nhà 48 Hàng Ngang, sau khi soạn thảo văn kiện lịch sử “Tuyên ngôn độc lập” Bác Hồ có tâm sự với ông Vũ Đình Hòe, Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục là Người cảm thấy xúc động và phấn khởi. Trong những giờ phút ấy, Người đã trải qua ốm nặng nhưng hơn bao giờ hết Người thấy sảng khoái, minh mẫn, khỏe mạnh khi Người nghĩ rằng Người sẽ được tuyên bố với đồng bào mình và trên thế giới rằng “sau bao nhiêu năm gian khổ hy sinh, nhân dân Việt Nam cuối cùng cũng đã đạt được mục đích thiêng liêng”.

Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp các vị Bộ trưởng trong Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Ủy ban Dân tộc giải phóng để quyết định cải tổ mời thêm một số nhân sĩ tham gia Chính phủ để cùng nhau gánh vác nhiệm vụ nặng nề mà quốc dân giao phó cho. Ngày 28 tháng 8, khi đưa ra Bản Tuyên ngôn độc lập để góp ý, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra hiệu cho ông Hoàng Minh Giám, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao đọc lên Bản Tuyên ngôn đồng thời phát cho mỗi Bộ trưởng một bản sao đánh máy để các vị ghi ý kiến đóng góp.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sửa đổi vài ba ý kiến nhỏ, xong mọi người tán thành, rồi ký tên. Sau đó có chụp ảnh lại.

– Chiều ngày 28 tháng 8, Ban Tổ chức Thành bộ Hà Nội mở cuộc họp đưa ra việc cần kíp xây dựng một Lễ đài Độc lập uy nghi xứng đáng một Lễ đài Độc Lập.

– Ngày 29 tháng 8 bản thông báo được đăng trên các báo với nội dung: “Ngày 02/9/1945 Chính phủ lâm thời cách mạng sẽ làm lễ ra mắt quốc dân đồng bào, tuyên bố độc lập tại vườn hoa Ba Đình, đồng bào nào có nhiệt tâm góp sức, góp của vào việc tổ chức ngày lễ hết sức trọng đại này. Vậy đồng bào nào có thể đảm nhiệm được trọng trách này. Ngay sau đó có họa sĩ Lê Văn Đệ xin dựng Lễ đài, tiếp theo sau đó có kiến trúc sư Ngô Đình Quỳnh vẽ bản thiết kế lễ dài, vị trí dựng lễ đài, chiều cao, chiều rộng. Ban tổ chức giao cho hai anh Ngô Đình Quỳnh và Lê Văn Đệ thiết kế, thi công và trang trí.”

– Đúng 5 giờ sáng ngày 02/9/1945, Ban Tổ chức nghiệm thu công trình. Sau 48 giờ, Lễ đài Độc lập hoàn thành tại Quảng trường Ba Đình, đã được ghi vào lịch sử của dân tộc.

– Từ 10 giờ sáng ngày 02/9/1945, các đoàn thể các giới bao gồm công nhân, viên chức ở các công sở, các nhà máy đóng tại Hà Nội, các đoàn thể Thanh niên, Phụ nữ cứu quốc ở các khu phố, nữ tiểu thương ở các chợ, anh chị em nông dân ở ngoại ô tỉnh Hà Nội, học sinh Trường Bưởi, Trường nữ sinh Đồng Khánh, Trường tư thục Gia Long, Trường Thăng Long, các đoàn thể hướng đạo sinh, anh em Cảnh sát cứu quốc. Ngoài ra, còn có hai chi đội quân giải phóng từ chiến khu Việt Bắc trở về phối hợp với anh em Công an cách mạng đầu tiên ở Bắc Bộ và Hà Nội làm nhiệm vụ trật tự và bảo vệ.

– Đúng 14 giờ chiều ngày 02/9/1945, Thành bộ Hà Nội tổ chức một cuộc mít tinh lớn tại Quảng trường Ba Đình trước hàng chục vạn đồng bào Hà Nội. Trên lễ đài cao và trang nghiêm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông nam Châu Á.

Tiếp đó, toàn thể các Bộ trưởng trong Chính phủ lâm thời làm Lễ Tuyên thệ trước quốc kỳ “cờ đỏ sao vàng” cùng với toàn thể đồng bào đứng nghiêm chỉnh ở Quảng trường Ba Đình giơ tay hô lớn “Xin thề”. Sau Lễ Tuyên thệ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp trình bày về tình hình đánh thắng Pháp ở hai trận Phay Khắt và Nà Ngần ở tỉnh Cao Bằng và phá tan 500 quân Nhật đánh vào Tân Trào, Hồng Thái. Tiếp theo, Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền Trần Huy Liệu báo cáo với đồng bào về việc đoàn đại biều của Chính phủ lâm thời đi Huế nhận sự thoái vị của vua Bảo Đại và chiếc “quốc ấn”, “quốc kiếm”. Như vậy, ách đô hộ của thực dân Pháp bị lật đổ (1858- 1945) và chế độ phong kiến nhà Nguyễn đã cáo chung (1802- 1945).

Cuối cùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh bước ra Lễ đài lần nữa, hô hào nhân dân cả nước quyết hy sinh giữ vững nền độc lập mới giành được và ủng hộ Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hoà mới thành lập.

Theo Vương Liêm/Ủy ban MTTQ Thành phố Hồ Chí Minh
Tâm Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Bác Hồ đọc Tuyên ngôn (*)

Hồ chủ tịch đọc Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945 - Ảnh tư liệu

Trước đó hai mươi năm, nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc đã có “Bản án chế độ thực dân Pháp”. Nhưng lúc đó, Người mới là đại biểu dân thuộc địa. Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 của nước Việt Nam là một mốc lớn quan trọng của dân tộc. Bây giờ, chính Người và cả dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Người sẽ thi hành bản án ấy.

>> Nghe Hồ chủ tịch đọc Tuyên ngôn độc lập

……………………………………………

Ngày 27 tháng 8 năm 1945, Thường vụ Trung ương họp. Rồi Hội đồng Chính phủ họp. Bàn nhiều công việc quan trọng, trong đó có việc tổ chức lễ tuyên bố Độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh phụ trách thảo bảnTuyên ngôn Độc lập.

Mọi việc chuẩn bị ngày lễ Độc lập đều gấp rút, đều quan trọng. Nhưng gấp rút nhất, quan trọng nhất là dự thảo bản Tuyên ngôn Độc lập. Từ Nam quốc sơn hà thế kỷ 11 đời Lý, Bình Ngô đại cáo thế kỷ thứ 15 đời Lê, đến Tuyên ngôn Độc lập thời đại Hồ Chí Minh thế kỷ thứ 20, khoảng cách dài gần 10 thế kỷ, ngót nghìn năm.

Kể từ ngày thứ ba, 28 tháng 8 năm 1945 ấy, tức là ngày 21 tháng 7 Ất Dậu, Chủ tịch Hồ Chí Minh tập trung vào việc soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập.

Trên gác hai nhà 48 Hàng Ngang, trong một căn phòng rộng mà chủ nhà làm phòng ăn, ở giữa kê một cái bàn dài to, quanh bàn có tám ghế tựa đệm mềm là nơi Bác Hồ thường làm việc với các đồng chí trong Thường vụ Trung ương Đảng. Cuối phòng, sát tường phía sau, kê một chiếc bàn tròn mà Bác cùng chúng tôi thường ăn sáng. Bác hay ngồi suy nghĩ và đánh máy bên chiếc bàn con kê sát tường góc phía trong. Mặt bàn hình vuông, bọc da xanh màu lá mạ, vừa đủ để tập giấy bút và chiếc máy chữ nhỏ mang từ chiến khu về. Bác trầm ngâm suy nghĩ phác thảo Tuyên ngôn Độc lập.

Nửa đêm hôm ấy, tôi chợt thức giấc, thấy Bác vẫn ngồi chăm chú làm việc. Hà Nội sau một ngày sôi động đang đi vào yên tĩnh. Đêm mùa thu, trên căn gác thoáng rộng, không khí mát lành. Tôi trở dậy, bước thật nhẹ ra phía hành lang, nhìn xuống đường. Ban ngày, phố Hàng Ngang náo nhiệt, chật chội. Giờ đây rộng vắng giữa đêm khuya. Hai đường ray tàu điện chạy thành hai vệt thẳng, đen nhánh. Trước mõi căn nhà dọc phố, cờ đỏ sao vàng sẫm lại trong đêm. Một tốp tự vệ mặc quần soóc, đầu đội mũ calô, đang đi tuần dọc phố, bóng dáng hiên ngang.

Chỉ mới cách đó hơn một tuần, Hà Nội còn là một thành phố bảo hộ, mật thám như rươi, thoáng thấy mầu cờ đỏ là cả bộ máy cai trị của kẻ thù lồng len như thú dữ. Thế mà giờ đây cờ đỏ phấp phới bay khắp phố phường. Đêm ấy, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đang ngồi giữa lòng Hà Nội soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập, mở đầu một kỷ nguyên mới cho dân tộc: Kỷ nguyên Độc lập, Tự do. Thật là kỳ diệu. Cách mạng là một sự kỳ diệu. Và chính Người, từ Nguyễn Ái Quốc đến Hồ Chí Minh, đã cùng với toàn dân làm nên điều kỳ diệu đó. Từ buổi nhen nhóm phong trào cách mạng, tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên ra đời vào năm 1925, do chính Người sáng lập, để năm năm sau, chính đảng đầu tiên của giai cấp Công nhân Việt Nam bước lên vũ đài chính trị.

***

Chiều ngày 31 tháng 8 năm 1945, Bác bảo đưa cho Bác xem sơ đồ địa điểm tổ chức mít tinh và nhắc Ban tổ chức chú ý cả nơi vệ sinh cho đồng bào, và dặn nếu trời mưa thì kết thúc sớm hơn, tránh cho đồng bào bị mưa ướt, nhất là đối với các cụ già và các cháu nhỏ.

Chiều ngày 2 tháng 9 năm 1945, trên quảng trường Ba Đình, một quang cảnh vừa náo nhiệt, vừa xúc động. Khi Cụ Hồ vừa xuất hiện trước máy phóng thanh, thì cả quảng trường âm vang tiếng hô:

– Cụ Hồ Chí Minh muôn năm!

– Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!

Và khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang sảng cất tiếng đọc Tuyên ngôn Độc lập thì cả biển người im phăng phắc lắng nghe:

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc…”

Đọc được một đoạn, Cụ Hồ bỗng dừng lại, đưa cặp mắt âu yếm nhìn toàn thể đồng bào, cất tiếng hỏi:

– Đồng bào nghe rõ tiếng tôi không?

Tiếng đáp lại liền ngay như sấm:

– Có!

Người dân và Chủ tịch nước bỗng trở nên gần gũi và vô cùng thân thiết.

Càng về cuối bản Tuyên ngôn Độc lập, giọng Cụ Hồ càng âm vang, như cuốn hút mọi người.

“Chúng tôi tin rằng các nước đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Tê-hê-ran và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhân quyền độc lập của dân Việt Nam.

Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!

Vì những lẽ trên, chúng tôi – Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà – trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam có quyền hưởng Tự do, Độc lập và sự thật đã trở thành một nước Tự do, Độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền Tự do, Độc lập ấy!”

Cùng với ngày 2 tháng 9 năm 1945, bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trước quốc dân đồng bào, là một mốc son chói lọi trên con đường dài đấu tranh dựng nước và giữ nước suốt mấy nghìn năm của dân tộc Việt Nam.

Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 của nước Việt Nam cũng là một mốc lớn quan trọng của dân tộc. Đó thực sự là lời tuyên bố đanh thép về sự cáo chung của chế độ thuộc địa dưới mọi hình thức. Đồng thời nó cũng báo hiệu sự mở đầu của một thời đại mới, thời đại trỗi dậy của các dân tộc nhược tiểu đứng lên làm chủ vận mệnh của mình. Trước đó hai mươi năm, nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc đã có “Bản án chế độ thực dân Pháp”. Nhưng lúc đó, Người mới là đại biểu dân thuộc địa. Bây giờ, chính Người và cả dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Người sẽ thi hành bản án ấy. Và như chúng ta đã biết, bản án đã được thực hiện bằng chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy địa cầu chín năm sau đó.

VŨ KỲ
Thư ký giúp việc Bác Hồ từ năm 1945 đến 1969
Nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

(trích Nhớ mãi những phút giây đầu tiên)

………………………………….

(*): tựa đề do TTO đặt

Tuổi trẻ Online

Cách mạng Tháng Tám là bước ngoặt vĩ đại của lịch sử dân tộc

(HNM) – Hôm qua 31-8, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo khoa học kỷ niệm 65 năm Ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – nay là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 – 2/9/2010). Hơn 40 nhà khoa học đến từ các cơ quan nghiên cứu, các trường đại học trên cả nước đã tham dự.

Trong 63 bài tham luận, các nhà khoa học đã tập trung làm rõ thêm nguyên nhân, ý nghĩa và những bài học quý báu từ Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cũng như một số giai đoạn lịch sử sau này. Nhiều tham luận có tính phát hiện về chủ trương, chính sách của Đảng ta ngay từ thời kỳ đầu thành lập nước mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị như về chính sách dân tộc, dân chủ hay các chính sách về tôn giáo… qua đó khẳng định Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chất chứa rất nhiều bài học thực tiễn quý báu về độc lập, tự chủ, đoàn kết, đối nội, đối ngoại, về thời cơ và chớp thời cơ.

* Sáng 31-8, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân TP Hồ Chí Minh đã long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9. Đến dự có đồng chí Lê Thanh Hải, Ủy viên BCT, Bí thư Thành ủy; Chủ tịch HĐND TP Phạm Phương Thảo; Chủ tịch UBND TP Lê Hoàng Quân cùng các đồng chí lão thành cách mạng, các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, đại diện các ban, ngành, đoàn thể, các nhân sĩ, trí thức, lực lượng vũ trang…

Chủ tịch UBND TP Lê Hoàng Quân đã ôn lại quá trình đấu tranh hào hùng của quân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng loạt khởi nghĩa giành chính quyền. Tự hào và phát huy thành quả ấy, Đảng bộ và nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định – TP Hồ Chí Minh trong 65 năm qua luôn nêu cao truyền thống đấu tranh kiên cường, cùng quân dân cả nước đoàn kết làm nên những thắng lợi quan trọng. Trong hơn 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới, TP đã đạt được những thành tựu to lớn, xứng đáng kế tục sự nghiệp cách mạng của các thế hệ đi trước, tạo nền tảng xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Trong dịp này, TP đã tổ chức trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho 18 tập thể và cá nhân đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc.

* Nhân kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, 80 năm Ngày thành lập Hội LHPN Việt Nam, sáng 31-8, Hội LHPN TP Hà Nội phối hợp với Ban Liên lạc phụ nữ kháng chiến và tiếp quản Thủ đô tổ chức buổi giao lưu với 85 cán bộ nữ lão thành. Tại buổi giao lưu, lãnh đạo Hội LHPN TP đã thăm hỏi, động viên, nữ cán bộ lão thành tiếp tục phát huy truyền thống, là tấm gương sáng cho các thế hệ con cháu noi theo, tích cực tham gia giáo dục thế hệ trẻ.

* Cùng ngày, các quận Ba Đình, Hoàng Mai đã tổ chức trao tặng Huy hiệu Đảng cho các đảng viên có tuổi Đảng từ 30 năm trở lên. 483 đảng viên của quận Ba Đình đã vinh dự được nhận Huy hiệu Đảng đợt này. Trong đó, có một đảng viên nhận Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng; 81 đảng viên nhận Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng, 171 đảng viên nhận Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng; 230 đảng viên nhận Huy hiệu 40 năm và 30 năm tuổi Đảng. Quận ủy Hoàng Mai tổ chức lễ trao tặng huy hiệu 60, 50, 40 và 30 năm tuổi Đảng đợt 2-9 cho 365 đảng viên thuộc đảng bộ các phường trên địa bàn.

* Ngày 31-8, Hội Cựu chiến binh (CCB) Thủ đô công bố Quyết định số 1223 ngày 19-8-2010 của Bộ Thông tin và Truyền thông về việc thành lập Báo CCB Thủ đô.

Báo CCB Thủ đô ra đời thay thế Bản tin CCB Thủ đô (trực thuộc Hội CCB Thủ đô). Báo gồm 8 trang, xuất bản một kỳ vào thứ năm hằng tuần.

Nhóm PV Nội Chính và Bình Minh
hanoimoi.com.vn

Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sau khi lãnh đạo nhân dân tiến hành Cách Mạng Tháng Tám (1945), giành độc lập cho Việt Nam từ tay phát xít Nhật, sáng 2/9/1945, trước hàng vạn đồng bào thủ đô Hà Nội, Chủ Tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản “Tuyên Ngôn Độc Lập” khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, nhà nước độc lập đầu tiên của giai cấp lao động, ra mắt chính phủ mới. Sau đây là tòan văn bản “Tuyên Ngôn Độc Lập”:

Hỡi đồng bào cả nước,

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

Thế mà hơn tám mươi năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.

Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.

Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở trung, nam, bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.

Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.

Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.

Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.

Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.

Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng.

Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.

Mùa thu năm 1940, phát-xít Nhật đến xâm lăng Đông – dương để mở thêm căn cứ đánh đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng trị đến Bắc kỳ hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.

Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc bỏ chạy hoặc đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng dã man bán nước ta hai lần cho Nhật.

Trước ngày mồng 9 tháng 3, biết bao lần Việt minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt minh hơn nữa.

Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên bái và Cao bằng.

Tuy vậy, đối với nước Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày mồng 9 tháng 3, Việt minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật, và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.

Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.

Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.

Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.

Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.

Chúng tôi tin rằng các nước đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các hội nghị Tê-hê-răng và Cựu-kim-sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.

Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! dân tộc đó phải được độc lập!

Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

Hồ Chí Minh

VOVNews
vov.vn

Nhật ký trong tù (29) (1942)

Bài 1

Thân thể tại ngục trung,
Tinh thần tại ngục ngoại;
Dục thành đại sự nghiệp,
Tinh thần cánh yếu đại .

Thân thể ở trong ngục,
Tinh thần ở ngoài ngục;
Muốn nên sự nghiệp lớn,
Tinh thần càng phải cao.

———————-

Thân thể ở trong lao,
Tinh thần ở ngoài lao;
Muốn nên sự nghiệp lớn,
Tinh thần càng phải cao.

Viết bằng chữ Hán nǎm 1942-1943
Bản dịch của Viện vǎn học.

In trong sách Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1993
Theo bài in trong sách. Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù.
NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

————————————

29. Nhật ký trong tù: Tháng 8-1942, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Cao Bằng sang Trung Quốc với danh nghĩa đại biểu của Việt Nam độc lập đồng minh và Phân bộ quốc tế chống xâm lược của Việt Nam để tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế. Sau khi đến Túc Vinh (một thị trấn thuộc huyện Tĩnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc), Người bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giam. Trong hơn một nǎm trời, Người lần lượt bị giam trong khoảng 30 nhà tù của 13 huyện ở tỉnh Quảng Tây. Trong thời gian này, Người đã ghi Nhật ký trong tù, bằng chữ Hán.

Tập Nhật ký gồm 134 bài, được ghi vào một cuốn sổ tay, bìa màu xanh, trang đầu có vẽ hình hai cánh tay bị xích kèm theo bốn câu thơ:

“Thân thể ở trong lao,
Tinh thần ở ngoài lao;
Muốn nên sự nghiệp lớn,
Tinh thần càng phải cao”.

Nhật ký trong tù lên án chế độ nhà tù hà khắc của chính quyền Tưởng Giới Thạch và thể hiện tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khǎn, tinh thần lạc quan cách mạng và tình cảm nhân đạo cộng sản chủ nghĩa cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là một tác phẩm vǎn học lớn của một chiến sĩ cộng sản vĩ đại. Tr.263.

Khai quyển – Mở đầu tập nhật ký

KHAI QUYỂN

Lão phu nguyên bất ái ngâm thi,
Nhân vị tù trung vô sở vi;
Liêu tá ngâm thi tiêu vĩnh nhật,
Thả ngâm thả đãi tự do thì.

MỞ ĐẦU TẬP NHẬT KÝ

Già này vốn không thích ngâm thơ,
Nhân vì trong ngục không có gì làm;
Hãy mượn việc ngâm thơ cho qua ngày dài,
Vừa ngâm vừa đợi ngày tự do.

——————————

Ngâm thơ ta vốn không ham,
Nhưng vì trong ngục biết làm chi đây;
Ngày dài ngâm ngợi cho khuây,
Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Tại Túc Vinh nhai bị khấu lưu – Bị bắt giữ ở phố Túc Vinh

TẠI TÚC VINH NHAI BỊ KHẨU LƯU

Túc Vinh khước sử dư mông nhục,
Cố ý trì diên ngã khứ trình;
Gián điệp hiềm nghi không niết tạo,
Bả nhân danh dự bạch hy sinh.

BỊ BẮT GIỮ Ở PHỐ TÚC VINH)

Phố tên Túc Vinh mà khiến ta mang nhục ,
Cố ý làm chậm trễ hành trình của ta;
Bày đặt ra trò tình nghi gián điệp,
Không dưng làm mất danh dự của người.

————————

Túc Vinh mà để ta mang nhục,
Cố ý dằng dai, chậm bước mình;
Bịa chuyện tình nghi là gián điệp,
Cho người vô cớ mất thanh danh.

HUỆ CHI dịch
cpv.org.vn

Nhập Tĩnh Tây huyện ngục – Vào nhà ngục huyện Tĩnh Tây

NHẬP TĨNH TÂY HUYỆN NGỤC

Ngục trung cựu phạm nghênh tân phạm,
Thiên thượng tình vân trục vũ vân;
Tình, vũ, phù vân phi khứ liễu,
Ngục trung lưu trú tự do nhân.

VÀO NHÀ NGỤC HUYỆN TĨNH TÂY1)

Trong ngục tù cũ đón tù mới,
Trên trời mây tạnh đuổi mây mưa;
Mây tạnh, mây mưa, mấy đám mây nổi bay đi hết,
Chỉ còn lại người tự do trong ngục.

————————-

Trong lao tù cũ đón tù mới,
Trên trời mây tạnh đuổi mây mưa;
Tạnh, mưa, mây nổi bay đi hết,
Còn lại trong tù khách tự do.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Thế lộ nan – Đường đời hiểm trở

THẾ LỘ NAN

I

Tẩu biến cao sơn dữ tuấn nham,
Na tri bình lộ cách nan kham;
Cao sơn ngộ hổ chung vô dạng ,
Bình lộ phùng nhân khước bị giam.

II

Dư nguyên đại biểu Việt Nam dân,
Nghĩ đáo Trung Hoa kiến yếu nhân;
Vô nại phong ba bình địa khởi,
Tống dư nhập ngục tác gia tân.

III

Trung thành, ngã bản vô tâm cứu,
Khước bị hiềm nghi tố Hán gian;
Xử thế nguyên lai phi dị dị,
Nhi kim xử thế cánh nan nan!

ĐƯỜNG ĐỜI HIỂM TRỞ

I

Đi khắp non cao và núi hiểm,
Nào ngờ đường phẳng lại khó qua;
Núi cao gặp hổ rút cục vẫn không việc gì,
Đường phẳng gặp người lại bị bắt!

II

Ta vốn là đại biểu của dân Việt Nam,
Định đến Trung Hoa gặp nhân vật trọng yếu;
Không dưng đất bằng nổi sóng gió,
Đưa ta vào làm “khách quý” trong tù.

III

Vốn trung thực thành thật, ta không có
điều gì thẹn với lòng,
Thế mà bị tình nghi là Hán gian;
Việc xử thế vốn không phải là dễ,
Lúc này, xử thế càng khó khǎn hơn.

—————————–

I

Đi khắp đèo cao, khắp núi cao,
Ngờ đâu đường phẳng lại lao đao!
Núi cao gặp hổ mà vô sự,
Đường phẳng gặp người bị tống lao.

II

Ta là đại biểu dân Việt Nam,
Tìm đến Trung Hoa để hội đàm;
Ai ngỡ đất bằng gây sóng gió,
Phải làm “khách quý” tại nhà giam!

III

Ta người ngay thẳng, lòng trong trắng,
Lại bị tình nghi là Hán gian;
Xử thế từ xưa không phải dễ,
Mà nay, xử thế khó khǎn hơn.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Tảo – Buổi sớm

TẢO

I

Thái dương mỗi tảo tòng tường thượng,
Chiếu trước lung môn, môn vị khai;
Lung lý hiện thời hoàn hắc ám,
Quang minh khước dĩ diện tiền lai.

II

Tảo khởi nhân nhân tranh liệp sắt,
Bát chung hưởng liễu, tảo xan khai;
Khuyến quân thả ngật nhất cá bão,
Bĩ cực chi thì tất thái lai.

BUỔI SỚM

I

Mỗi sớm, mặt trời vượt lên khỏi đầu tường,
Chiếu tới cửa nhà lao, cửa chưa mở;
Giờ đây trong lao còn đen tối,
Nhưng ánh sáng đã bừng lên phía trước mặt.

II

Sớm dậy, mọi người đua nhau bắt rận,
Chuông điểm tám giờ, bữa cơm sáng bắt đầu;
Khuyên anh hãy cứ ǎn no,
Khổ đến tột cùng, vui ắt tới.

NAM TRÂN dịch

I

Đầu tường sớm sớm vầng dương mọc,
Chiếu cửa nhà lao, cửa vẫn cài;
Trong ngục giờ đây còn tối mịt,
ánh hồng trước mặt đã bừng soi.

II

Sớm dậy, người người đua bắt rận,
Tám giờ chuông điểm, bữa ban mai;
Khuyên anh hãy gắng ǎn no bụng,
Bĩ cực rồi ra ắt thái lai.

NAM TRÂN – XUÂN THỦY dịch
cpv.org.vn

Ngọ – Buổi trưa

NGỌ

Ngục trung ngọ thụy chân thư phục,
Nhất thụy hôn hôn kỷ cú chung;
Mộng kiến thừa long thiên thượng khứ,
Tỉnh thì tài giác ngoạ lung trung.

BUỔI TRƯA

Trong nhà lao, giấc ngủ trưa thật khoan khoái,
Một giấc say sưa suốt mấy tiếng liền;
Mơ thấy cưỡi rồng bay lên trời,
Khi tỉnh dậy mới biết mình vẫn nằm trong ngục.

—————————–

Trong tù khoan khoái giấc ban trưa,
Một giấc miên man suốt mấy giờ;
Mơ thấy cưỡi rồng lên thượng giới,
Tỉnh ra trong ngục vẫn nằm trơ.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn