Tag Archive | Hồ Chí Minh

Chương V : Những nhà khai hoá (F)

Chúng tôi xin trích trong nhật ký đi đường của một anh lính thuộc địa, sự việc sau đây:

– Trong khi “những người từng ở Bắc Kỳ” đang vui chơi nhởn nhơ trên tàu, thì dưới mạn tàu phía bên phải, có mấy chiếc xuồng bán hoa quả, ốc hến. Để đưa hàng đến tận tay chúng tôi, những người An Nam buộc giỏ đựng hàng vào đầu ngọn sào, rồi giơ lên. Chúng tôi chỉ có mất công chọn. Nhưng đáng lẽ trả tiền, thì người ta lại có nhã ý bỏ vào giỏ đủ thứ như sau: ống điếu, khuy quần, mẩu tàn thuốc (có lẽ họ làm như thế để giáo dục tính ngay thật trong việc mua bán cho người bản xứ chǎng!). Đôi khi để đùa vui, một anh sốp phơ hắt một thùng nước sôi xuống lưng những người bán hàng khốn khổ. Thế là, những tiếng kêu rú lên, mái chèo vung lên loạn xạ để bơi tránh, làm cho xuồng va chạm vào nhau lộc cộc.

“Ngay bên dưới tôi, một người An Nam bị giội nước sôi, bỏng từ đầu đến chân, phát điên lên muốn nhảy xuống biển. Người anh của anh ta, quên cả nguy hiểm, bỏ chèo, ôm lấy anh, bắt anh nằm xuống lòng thuyền. Cuộc vật lộn chớp nhoáng vừa chấm dứt thì một thùng nước sôi khác do một bàn tay thành thạo lại giội xuống; thế là đến lượt chính người đi cứu, bị luộc chín. Tôi trông thấy anh ta giẫy giụa trong thuyền, da bị lột ra tròi thịt đỏ rói gào rống lên như một con vật. Thế nhưng cảnh đó lại làm cho chúng tôi cười, chúng tôi cho là rất ngộ nghĩnh. Quả thật chúng tôi đã có tâm hồn thực dân!”.

ở một trang khác, anh lính viết:

– Trong thời kỳ tôi ở đây (ở Bắc Kỳ), không có tuần nào là tôi không thấy vài cái đầu rụng.

Trong những cảnh ấy, tôi chỉ còn ghi nhớ được một điều là chúng ta còn độc ác, còn dã man hơn cả bọn kẻ cướp nhà nghề. Tại sao lại có những hành vi quái ác đến thế đối với một con người tù sắp phải chết ? Tại sao lại dùng nhục hình, tại sao phải giải từng đoàn tù đi bêu khắp xóm làng ?

*

*     *

Ông Đume, cựu toàn quyền Đông Dương, đã trịnh trọng phát biểu tại Hạ nghị viện như sau: “Tôi hiểu rõ những cảnh binh ở thuộc địa. Tôi đã từng cho tǎng số đội cảnh binh lên, vì tôi đã nhận thấy rằng lực lượng cảnh binh bảo đảm cho người bản xứ tránh được những sự hà lạm có thể do một số tên thực dân gây ra. Cảnh binh rất được lòng người bản xứ”.

Chúng ta hãy xem các ông cảnh binh đã làm thế nào để “được lòng dân”. Phải nói ngay rằng, nhìn chung, các ông rất hiền từ đối với bọn côn đồ, đó là điều chắc chắn rồi. Nhưng đối với dân hiền lành thì lại là chuyện khác. Chúng ta chưa cần nói đến chuyện thương tâm xảy ra tại khám lớn Sài Gòn nǎm 1916, nǎm mà các ngài cảnh binh, do “nhiệt tình yêu nước”, đã bắt người bừa bãi, và những người vô tội bị bắt ấy đã bị kết án và hành hình. Dù máu người An Nam nhuộm đỏ “đồng Mả nguỵ” 14 có phai đi với thời gian chǎng nữa, thì vết thương lòng của những bà mẹ già, những người vợ goá, những đứa con côi không bao giờ hàn gắn được. Bọn thủ phạm gây ra vụ đó, mà cảnh binh là công cụ hèn mạt của chúng, không hề bị trừng trị, chúng cũng chưa hề bị truy tố. Bây giờ, chỉ xin nêu một vài trường hợp đặc biệt:

Một viên cẩm ở Bắc Kỳ suốt ngày đi dọc các cống rãnh, bảo là để giữ gìn vệ sinh. Hễ bắt gặp được dù chỉ một cuộng cỏ trên dòng nước, là tức khắc hắn trừng trị và phạt tiền những người dân nghèo khổ ở quanh đấy.

ở miền Tây Nam Kỳ, nhằm tránh tai nạn trong các kênh có thuyền bè đi lại, mỗi con kênh đều có một trạm cảnh binh làm nhiệm vụ kiểm soát không cho thuyền bè đi quá nhanh hoặc làm trở ngại giao thông. Nhưng với sự có mặt của bọn cảnh binh, thì đó là một cái “cửa cống” tuôn ra không biết bao nhiêu vụ phạt tiền, phạt vi cảnh. Hầu hết thuyền bè qua lại trên các kênh lạch có trạm cảnh binh ấy đều bị phạt từ một đến hai đồng. Như thế là ngoài các khoản thuế của nhà nước chồng chất lên ngập đầu, còn thêm thuế sông nước do các ngài cảnh binh “được lòng dân” đặt ra nữa; nên người dân An Nam thật là sung sướng, sung sướng lắm!

Ngoài việc thǎng thưởng dành cho những người đắc lực nhất, nghe đâu các ngài cảnh binh còn được hưởng món hoa hồng bằng 20% số tiền phạt nữa thì phải! Chế độ tốt đẹp thay!

Một tờ báo bản xứ viết: “Dân bản xứ không muốn có cảnh binh Pháp nữa vì đó thường là mối tai hoạ cho người lương thiện”.

cpv.org.vn

Chương V : Những nhà khai hoá (E)

Ông Vinhê Đốctông viết: “Trên thế giới không có dân tộc chiến bại nào bị đàn áp và hành hạ như người dân thuộc địa”.

Một nhà du lịch khác viết: “Đời sống ở thuộc địa chỉ làm cho tật xấu của cá nhân phát triển: những kẻ đã nếm mùi chiến tranh thì càng mất hết ý thức đạo đức, càng truỵ lạc, bất lương và độc ác; những bọn con buôn và bọn phiêu lưu khác thì càng quen mùi trộm cắp, cướp giật. ở bên Pháp ít có dịp để làm những việc đó, và người ta sợ cảnh sát hơn! ở đây, bọn nói trên, đôi khi chỉ có một mình với vài người bản xứ, trên một con thuyền hoặc trong một thôn xóm; vì vậy chúng cướp bóc trắng trợn hơn là người Âu trên thị trường, và đối xử tàn nhẫn hơn với những nông dân nào phản đối chúng”.

Một nhà du lịch thứ ba viết: khi đặt chân đến đây, tất cả những người Pháp đều nghĩ rằng người An Nam là hạng người thấp kém và phải làm nô lệ cho họ. Họ coi người An Nam như những súc vật phải điều khiển bằng roi vọt. Tất cả đều quen tự coi mình thuộc một đẳng cấp quý tộc mới, có đặc quyền đặc lợi. Binh sĩ hay là thực dân, họ đều cho rằng giữa họ và người bản xứ không có cách đối xử nào khác hơn là sự đối xử giữa chủ và tớ. Hình như đối với họ, người bồi là tiêu biểu của cả chủng tộc da vàng. Phải nghe một người Pháp ở Đông Dương nói về người da vàng mới thấy hết cái ngu xuẩn trong lối nói ngạo mạn của hắn. Phải nhìn một người Âu đối xử với người bản xứ mới thấy hết cái cục cằn thô lỗ của hắn.

Kẻ đi chinh phục rất quan tâm đến thái độ phục tùng và cung kính của người bị chinh phục. Người An Nam ở thành thị cũng như ở nông thôn đều bắt buộc phải ngả nón trước mặt người Âu.

Một tên mật thám Pháp đánh đập tàn nhẫn những người An Nam nào quên không gọi hắn ta bằng quan lớn. Một tên tham tá nhà đoan buộc những người bản xứ khi đi qua nhà hắn phải ngả mũ hoặc xuống xe, xuống ngựa. Một hôm, nhà khai hoá này đánh đập tàn nhẫn một chị người An Nam đang có mang, chỉ vì tuy chị có chào hắn, nhưng lại quên gọi hắn là quan lớn. Hắn đá một cái rất mạnh vào bụng chị làm chị truỵ thai, ít lâu sau thì người đàn bà khốn khổ ấy chết.

Các quan bảo hộ của chúng ta buộc người An Nam phải khúm núm, ngoan ngoãn, dễ bảo và lễ phép, nhưng ngược lại, về phía các quan, thì như một nhà vǎn sang thǎm Đông Dương đã viết: “Hình như họ chỉ làm những điều khiến cho sự có mặt của chúng ta trở thành một điều xấu xa bỉ ổi không ai chịu được”. Nhà vǎn ấy còn viết tiếp: “ở châu Âu người ta coi giống người da vàng chứa đựng tất cả những thói điêu ngoa, xảo trá. ấy thế mà, chính chúng ta thì lại rất ít chú ý tỏ ra là mình ngay thẳng, thành thật”.

Có những sĩ quan đã giật râu thầy cúng ngay trong lúc họ làm lễ. Một cậu ấm người Pháp đã đánh nhừ đòn một viên chức người An Nam, vì ông này đã ngồi trước trên một chiếc xe hàng mà không chịu nhường chỗ cho cậu.

Một viên toàn quyền vừa về tới Mácxây, người ta thết tiệc ông ta và đề nghị cho mấy viên quan Nam triều đang có mặt ở cảng đến cùng dự. Viên toàn quyền Đông Dương đáp: “Nếu các ông mời các tên quan lại ấy, thì tôi cũng sẽ đưa tên bồi của tôi đến”.

cpv.org.vn

Chương V : Những nhà khai hoá (D)

Bảy người An Nam đáng thương đang bơi một chiếc xuồng dài mỏng mảnh; đã xuôi dòng nước, lại có đến bảy tay chèo nên chiếc xuồng đi vùn vụt như một chiếc xuồng máy. Bỗng thuyền của một nhân viên nhà đoan khuất sau đám cây đước trong lạch hiện ra, với quốc kỳ Pháp cắm sau lái. Một thuỷ thủ trên thuyền nhà đoan gọi, bảo xuồng kia dừng lại; người trên xuồng vẫn chèo. Thuyền của viên tây đoan đi chậm không đuổi kịp. Viên đoan liền cầm súng oanhsitơ bắn theo. Đoàng! Đoàng! Một người đang chèo thét lên rồi ngã gục. Đoàng! Lại một người nữa ngã gục. Lúc ấy, một người Âu khác, làm nghề gạch ngói, vừa đi xuồng tới, cũng tham gia đột kích “bọn cướp” kia ở một khúc ngoẹo. Đoàng! Đoàng! Đoàng! Quả là tay súng cừ! Ba viên đạn, ba nạn nhân. Chiếc xuồng cùng hai người sống sót mất hút trong lạch …

Một hôm khác, cũng viên đoan ấy đi với sáu thuỷ thủ vũ trang, phát hiện được một người khốn khổ đang trốn dưới ao, ngâm mình dưới bùn, thở bằng một cái ống, một đầu ngậm ở miệng, một đầu để ló ra khỏi mặt nước; trên mặt nước lá sen che phủ một cách rất khéo. Viên tây đoan liền bắt và chặt đầu “tên cướp” ấy đem về toà sứ. Thật ra, đó chỉ là một nông dân bình thường khiếp sợ vì thấy có nhiều người lạ đến làng, mặt mày hung tợn, mang đầy súng lục, túi đạn, lǎm lǎm súng oanhsitơ trên tay. Số là bọn nhà đoan vào các túp lều trong làng đã tìm thấy ba chiếc vỏ đạn, mấy cái bánh tàu và một cái búa đi rừng. Vậy đích thị là một làng làm giặc và tiếp tế cho giặc rồi còn nghi ngờ gì nữa!

Một sĩ quan trẻ tuổi vừa ở Pháp sang, đến một làng nọ, thấy nhà cửa vắng vẻ, còn dân chúng thì tụ tập lại một chỗ. Tưởng đâu đã lọt vào ổ phục kích, hắn bắn xả vào đám đông vô tội. Thật ra thì dân chúng đương họp để cúng tế. Bị bắn, họ kinh hoảng bỏ chạy tán loạn. Tên sĩ quan đuổi theo và tàn sát họ.

Một người Pháp đã từng ở Bắc Kỳ lâu nǎm kể: Khi từ chiếc tàu của một nhà kinh doanh lớn, tôi đặt chân lên Bắc Kỳ, anh có biết mạng của một người An Nam đáng giá bao nhiêu không ? Không đáng một trinh! Thật đấy.

– Này nhé, tôi còn nhớ, khi chúng tôi ngược sông Hồng, người ta đã đem rượu ra đánh cuộc xem ai ngồi dưới tàu, bắn mười phát mà “hạ sát” được nhiều người An Nam nhất ở trên bờ.

Một đôi kẻ súng cầm tay đi lùng bắt dân làng, thuyền bè để đòi tiền chuộc.

Một đại đội thuỷ quân lục chiến hành quân đến Vĩnh Thượng. Theo phép lịch sự, viên quan địa phương dàn lính (bọn lính lệ) nghênh tiếp. Tên chỉ huy toán lính đi dò đường của đại đội thấy thế đã ra lệnh bắn vào họ, làm nhiều người chết.

Khi người ta không trừ nổi một nghĩa quân thì người ta đốt cả làng người ấy. Người ta đã triệt hạ cả một vùng chung quanh Hưng Hoá như vậy.

Một người An Nam đang đi lảo đảo trên một con đường nhỏ hẻo lánh, vai gánh hai thúng to đầy lạc. Chúng tôi tới gần, hắn ta không kịp tránh. Tức thời người ta bắt hắn và bắn chết.

Suốt ngày, người ta vác gậy hoặc sống gươm nện vào người An Nam để bắt họ làm việc.

Người An Nam rất hiền lành, rất ngoan ngoãn, nhưng người ta lại nói chuyện với họ chỉ bằng những cái đá đít thôi.

Chúng ta coi những người An Nam yêu nước là những tên cướp. Chẳng hạn như Đội Vǎn, một người yêu nước đã từng chiến đấu mấy nǎm trời chống lại sự thống trị của người nước ngoài, bị chém tại Hà Nội, bêu đầu ở Bắc Ninh, ném xác xuống sông Hồng.

Tống Duy Tân, sau mười nǎm ròng rã chiến đấu tuyệt vọng, đã bị bắt và bị chém.

Phan Đình Phùng, một vị quan to, kháng chiến trong mười nǎm trời rồi chết trong rừng sâu. Ông ta chết rồi mà chúng ta vẫn không tha; người ta vào rừng quật mộ ông lên, ném thi hài ông mỗi nơi một mảnh. Người ta báo thù ông ngay sau khi ông đã nằm sâu dưới mộ.

ở tỉnh Quảng Trị, một viên cai lục lộ người Pháp say rượu đã “hạ” một người bản xứ ngồi trên lưng voi, chỉ vì tội không nghe rõ hay là không hiểu lệnh của hắn.

Một viên tây đoan ở Bà Rịa (Nam Kỳ) cũng say rượu, phang một gậy trúng lá lách một thuỷ thủ An Nam thuộc quyền hắn, làm cho anh ta chết tươi.

Một viên thầu khoán người Pháp giết một lính khố xanh ở Đà Lạt. Cũng ở đấy, một nhà khai hoá khác đã đánh một người thợ mộc bản xứ đến chết.

Một viên thầu khoán bắt thợ làm việc ngày đêm dưới nước để đào một đường hầm. Một số đông thợ chết, những người còn sống sót bãi công. Viên thầu khoán đã tự tay đốt nhà những người bãi công để buộc họ phải đi làm trở lại. Cả một làng cháy rực giữa đêm tối.

Một viên chánh quản pháo binh nửa đêm vào nhà một bà vắng chồng. Bà ta không chịu tiếp hắn. Thế là hắn nổi lửa đốt nhà bà. Dĩ nhiên, người đàn bà đau khổ kia hết sức sợ hãi.

Một viên quan hai nhiều vợ, đã quật ngã một thiếu phụ, dùng gậy song đánh chị đến chết chỉ vì chị không chịu ǎn ở với hắn.

Một viên chức ở xưởng đóng tàu của hải quân giết một nhân viên hoả xa người An Nam bằng cách xô anh vào một đống than hồng sau khi đánh đập anh hết sức tàn nhẫn.

cpv.org.vn

Chương V : Những nhà khai hoá (C)

1. Ông Ghinôđô bị mất trộm số tiền 5.000 phrǎng. Muốn bắt những người bản xứ làm việc ở nhà ông phải thú nhận, ông chủ tốt bụng và nhà khai hoá vĩ đại đó đã đem họ ra tra điện. Nhưng sau, người ta tìm ra kẻ cắp thì lại không phải là một người bản xứ, mà chính là một nhà khai hoá khác: ấy là cậu ấm con ngài Ghinôđô! Thế mà ông Ghinôđô vẫn được vô tội, còn tám người bản xứ giúp việc ông thì hiện vẫn còn nằm nhà thương.

2. Ông Vônla, nhà khai hoá kiêm nhà buôn, không trả lương đều đặn cho những nhân viên bản xứ làm cho ông. Một trong những nhân viên đó nhờ viên đốc công hỏi hộ cho anh số lương chủ còn thiếu. Ông Vônla bèn đưa cho viên đốc công một mảnh giấy ghi mấy chữ sau đây: “Bảo cái con lợn ấy lấy C… mà ǎn, chỉ có món ấy là hợp với nó thôi”.

Việc này xảy ra ở Tuynidi, nǎm 1923, ngay giữa lúc ông tổng thống Milơrǎng đi kinh lý ở đó.

*

*     *

Khi người ta có màu da trắng thì nghiễm nhiên người ta là một nhà khai hoá. Mà khi người ta đã là một nhà khai hoá thì người ta có thể làm những việc dã man mà vẫn cứ là người vǎn minh nhất.

Cho nên, một viên đốc công lục lộ ở Nam Kỳ đã bắt những người An Nam gặp hắn trên đường phải lạy chào hắn theo đúng nghi thức của chủng tộc chiến bại đối với chủng tộc chiến thắng.

Một hôm, một viên thư ký người bản xứ ở sở ra, vừa đi vừa đọc một quyển tiểu thuyết. Đến một đoạn hài hước, anh bật lên cười. Vừa lúc ấy viên đốc công lục lộ đi tới. Ông ta nổi cơn giận lên, thứ nhất là vì người bản xứ ấy mải đọc truyện đến nỗi không nhìn thấy ông mà chào; thứ hai là vì một người bản xứ mà lại dám cười khi đi qua trước mặt một người da trắng. Thế là nhà khai hoá nắm viên thư ký lại, buộc anh phải khai tên và hỏi anh có muốn ǎn một cái tát không. Tất nhiên là người thư ký từ chối món quà quá hào hiệp đó, và tỏ vẻ ngạc nhiên tại sao lại có chuyện thoá mạ như thế được. Thế là chẳng nói chẳng rằng, người viên chức Pháp túm áo người bản xứ ấy lôi đến trước quan chủ tỉnh.

Cũng vẫn cái lão đốc công lục lộ ấy, lấy cớ là phải sắp xếp nhà cửa, vườn tược lại cho ngay ngắn, đã ra lệnh cho nhân dân ở hai bên đường hàng tỉnh phải dọn nhà đi, chặt cây và phá vườn trong một thời hạn do hắn quy định, nếu không thì sẽ bị phạt tiền.

Như thế đấy mà người ta vẫn cứ ngạc nhiên vì sao người bản xứ ở các thuộc địa lại cứ bất bình!

Chẳng những bọn thống đốc, công sứ muốn làm gì thì làm, mà cả các nhân viên nhà đoan, cảnh binh và tất cả những ai có tý chút quyền hành trong tay cũng đều sử dụng và lạm dụng quyền hành để thả cửa làm bậy vì họ biết chắc rằng sẽ không bị tội vạ gì hết.

Một viên cẩm ở Tuyên Quang (Bắc Kỳ) đã đánh một người bản xứ gãy cả hai cánh tay. Một viên cẩm khác ở Đà Lạt (Trung Kỳ) 1 vừa mới sáng tạo ra một lối mua bán cực kỳ lý thú, chúng tôi xin thuật ra đây để hiến quý ngài Điô và Xarô. Một hôm ông cẩm cần gỗ ván, ông sai lính ra phố mua. Mua là một cách nói thôi, chứ ông ta có đưa tiền cho lính của ông ta đâu. Tuy vậy, lính của ông ta cũng cứ ra phố, vào hàng chọn gỗ và định mang đi, cố nhiên là không trả tiền. Người bán gỗ không cho. Lính trở về báo cáo với quan Tây yêu sách quái gở của nhà buôn ấy.

Điên tiết lên, ông cẩm phái ba người lính mang súng đến bắt người bán gỗ to gan đó. Người này đang bị cảm không chịu đi. Lính về báo lại với ông cẩm. Tức giận đến cực độ, ông liền phái thêm ba người lính nữa nhập với tốp trước, và hạ lệnh cho họ phải bắt bằng được tên cứng đầu cứng cổ kia đem về dù sống hay chết.

Toán lính vũ trang đến bao vây cửa hiệu bán gỗ và sắp sửa thi hành mệnh lệnh.

Lúc ấy, một nhà buôn người Âu can thiệp bênh người bán gỗ bản xứ và viết thư cho ông cẩm. Nhưng người cộng sự đầy nghị lực của ông Môrixơ Lông, vẫn không chịu thu hồi “trát đòi” người bán gỗ và cho biết rằng nếu anh ta không chịu đến thì sẽ gặp nhiều chuyện rắc rối.

Nhà buôn người bản xứ ấy đành phải bỏ công việc làm ǎn, bỏ cả quê hương để lẩn tránh cơn tức giận “khai hoá” của vị quan da trắng.

cpv.org.vn

Chương V : Những nhà khai hoá (B)

Viên chức thuộc địa là nguyên nhân chính gây ra nạn đời sống đắt đỏ ở thuộc địa. Muốn biết nhân tố ǎn bám ấy đè nặng lên ngân sách đến mức nào, nghĩa là đè nặng lên lưng nhân dân lao động như thế nào, hãy so sánh những con số sau đây:

ở ấn Độ thuộc Anh, dân số 325 triệu người, có 4.898 viên chức người Âu.

ở Đông Dương thuộc Pháp, dân số 15 triệu người, có 4.300 viên chức người Âu.

Như thế nghĩa là ở thuộc địa Anh, cứ 66.150 người dân thì có một viên chức người Âu, còn ở thuộc địa Pháp, thì cứ 3.490 người dân đã có một viên chức người Âu.

ở ấn Độ, ngành thương chính có 240 viên chức người Âu. ở Đông Dương, ngành thương chính có 1.100 viên chức người Âu.

ở ấn Độ, có 26.000 nhà dây thép với 268 viên chức người Âu.

ở Đông Dương có 330 nhà dây thép với 340 viên chức người Âu.

Tại sao ở Đông Dương, cái loài ǎn hại ngân sách ấy lại nhiều đến thế? Bởi vì thuộc địa là một thiên đường ở trần gian; ở đó, trừ một vài trường hợp rất hiếm hoi, còn thì tất cả những cặn bã trong các ngành chính trị, tài chính, báo chí, v.v., mà chính quốc thải ra, đều tìm được môi trường rất thích hợp để phát triển… Hãy bắt đầu từ nhân vật quan trọng nhất là viên toàn quyền. Về vấn đề này, một người thực dân không thiên vị đã viết: “Sang Bắc Kỳ, các ông toàn quyền chỉ nhằm một mục đích là: tìm chỗ bổ dụng bạn bè con cháu thân thuộc và bọn vận động bầu cử của những bậc quyền thế có thể làm chỗ dựa cho mình; thường thường bọn này là những người mắc nợ như chúa chổm, bị chủ nợ sǎn lùng, phải có tiền cho chúng mới được …”.

Đối với nhà vǎn thanh cao nào muốn viết lịch sử huy hoàng của công cuộc khai hoá thuộc địa, thì cuộc chiến tranh gọi là vì công lý và chính nghĩa sẽ là nguồn tài liệu vô tận. Với một cử chỉ say sưa và hùng biện, ông Anbe Xarô nói: “Chính công cuộc chinh phục thuộc địa đã đào tạo nên phần lớn những vị tướng lĩnh vĩ đại đã đưa chúng ta đến chiến thắng và đã từng được dư luận nước Pháp ca tụng chiến công và thanh danh khi họ đưa ngọn cờ của chúng ta đi khắp đất á, trời Phi”.

Cũng với ý nghĩ thẳng thắn như thế, nhưng bằng lời lẽ kém bay bướm hơn, tờ Le Journal de Genève (à, lại có quỷ sứ ở Giơnevơ chǎng?) đã nói toạc ra rằng: “Chính phủ cộng hoà đã đi tìm thuộc địa để gỡ gạc lại trận thất bại nǎm 1870. Dân tộc Pháp coi việc chinh phục thuộc địa như là một sự đền bù lại những thất vọng cay đắng của mình ở châu Âu, và bọn quân nhân thì vớ được dịp để trổ tài trong những trận thắng dễ dàng”.

Nghe những lời chứng có thẩm quyền như thế, mà các bạn vẫn cứ khǎng khǎng không tin rằng việc khai thác thuộc địa là một sứ mệnh khai hoá và nhân đạo không hơn không kém, thì thật là hết chỗ nói!

cpv.org.vn

Chương V : Những nhà khai hoá (A)

Xin hỏi: có phải là ở sở mật thám của phủ toàn quyền Đông Dương có một nhân viên người Pháp là C…không? Có phải chính tên C… ấy trong khi được phái đi “công cán” ở Phú Xuyên, đã bắt người An Nam ở đây gọi hắn bằng “Quan lớn”, và đã đánh đập tàn nhẫn những ai không nhanh miệng chào hắn như thế không? Có phải cũng chính tên C… này đã hiếp dâm một người lính lệ không? à té ra cái gì người ta cũng được phép và có thể làm được ở cái thiên đường Đông Dương ấy.

*

*     *

Giữa tháng 12 nǎm 1922, một viên đội phó cảnh binh Pháp 1 của sở cảnh sát đô thị Sài Gòn, “say mềm”, đã vào nhà một người bản xứ và làm bị thương nặng hai người trong nhà, trong đó có một người đàn bà.

Khi ông dự thẩm hỏi cung thì tên cảnh binh ấy khai là hắn không còn nhớ gì cả, và chối phǎng là hắn không say.

Trái lại, các nhân chứng, trong đó có một người Âu, đều xác nhận rằng lúc xảy ra vụ thương tâm ấy, người bảo vệ trật tự kia quả là không ở trong trạng thái bình thường.

Người khai hoá ấy say hay là điên, điều đó không quan trọng, chúng tôi chỉ thiết tha mong rằng anh ta sẽ được tặng thưởng huân chương về hành động dũng cảm của anh ta.

*

*     *

ở thuộc địa, hễ có màu da trắng là quý phái, là thuộc chủng tộc thượng đẳng.

Để giữ thể thống, anh tây đoan hạng bét cũng có ít nhất một người ở, một người “bồi”, và người này thường thường lại bị dùng làm “người hầu gái vạn nǎng”.

Đày tớ người bản xứ đã dễ bảo lại rẻ tiền, nên nhiều viên chức thuộc địa về nghỉ hoặc về hưu mang theo cả người ở về nước.

Chẳng hạn như ông Giǎng Lơ M…rinhy ở phố Cácnô, thành phố Sécbua. Ông ấy ở Đông Dương về, mang theo một người bồi lương tháng 35 quan. Chẳng cần phải nói bạn cũng biết rằng, người bồi ấy phải làm quần quật từ mờ sáng đến đêm khuya. Trong nhà ấy, không có chủ nhật cũng chẳng có ngày lễ. Hơn nữa, người ta cho anh ǎn uống hết sức kham khổ, và chỗ ở rất tồi tệ.

Một hôm ông Giǎng Lơ M…rinhy muốn sai người “được bảo hộ” của mình về làm lụng ở thôn quê. Vì đã từng được nếm cuộc sống sung sướng ở thôn quê mà ông chủ quý hoá dành cho, nên người con của xứ An Nam không chịu đi.

Thế là nhà cựu khai hoá kia nổi cơn thịnh nộ nện cho anh ta một trận nên thân, rồi đuổi ra khỏi nhà 1 , nhưng lại giữ tất cả tài sản của anh ta: tiền bạc, hòm xiểng, quần áo, v.v., mà nhất định không chịu trả lại, mặc dù anh ta đã nhiều lần van nài. Bị đuổi đột ngột, trơ hai bàn tay trắng, không biết tiếng Pháp, không bạn bè thân thích, bơ vơ lạc lõng, con người bất hạnh đó đang lâm vào cảnh cùng khốn ghê gớm.

cpv.org.vn

Chương VI : Tệ tham nhũng trong bộ máy cai trị (C)

Một cựu toàn quyền Đông Dương, một hôm đã thú nhận rằng thuộc địa này đầy rẫy những viên chức ǎn hại ngân sách mà thường chẳng được tích sự gì cả.

Một người thực dân viết: quá nửa số viên chức ấy, từ các quan đầu tỉnh đến các quan chức khác, đều không đủ tư cách cần thiết của những con người được giao phó những quyền hạn rộng rãi và ghê gớm như thế.

Tất cả bọn chúng chỉ có mỗi cái tài là phung phí công quỹ, còn người An Nam khốn khổ thì cứ nai lưng đóng góp, đóng góp mãi. Họ đóng góp không những để trả lương cho những viên chức giữ những chức vụ vô dụng, mà còn để trả lương cho cả những viên chức không có chức vụ gì cả! Nǎm 19…, 250.000 phrǎng đã tan biến đi như thế.

Một chiến hạm đã được dành riêng cho sự đi lại của một cụ lớn. Việc sửa sang chiếc chiến hạm đã tốn 250.000 phrǎng, ấy là chưa kể những khoản “chi phí linh tinh” mà Đông Dương phải đài thọ cho mỗi chuyến đi là trên 80.000 phrǎng.

Quan toàn quyền chưa vừa ý với những lâu đài tráng lệ mà ngài ở tại Sài Gòn và Hà Nội, còn phải cần thêm cho ngài một biệt thự ở bãi biển nữa. Ngân sách Đông Dương lại phải “è lưng ra gánh”.

Nǎm 19… một tay nước ngoài 1 tai to mặt lớn nào đó ghé qua Sài Gòn, đã được viên thống đốc đón tiếp một cách đế vương. Bốn ngày liền ǎn chơi phè phỡn thả cửa, yến tiệc, rượu chè lu bù, rốt cuộc xứ Nam Kỳ tội nghiệp phải tính sổ trả 75.000 phrǎng.

Các quan cai trị đều là những ông vua con. Họ muốn xung quanh mình cái gì cũng xa hoa tráng lệ, và nói rằng, có thế mới nâng cao được uy tín của họ đối với người bản xứ. Một viên công sứ nọ đã lập cả một đội kỵ mã cận vệ và không bao giờ hắn đi đâu mà không có đội ấy theo hầu. ở tất cả các toà sứ đều có từ 6 đến 11 con ngựa và 5, 6 cỗ xe sang trọng đủ kiểu: độc mã, song mã, tứ mã 1 , v.v.. Ngoài những phương tiện đi lại đã quá thừa ấy, còn thêm những xe hơi mỹ lệ, tốn cho công quỹ hàng vạn đồng. Một viên quan cai trị nọ còn có cả một tàu ngựa đua.

Tiền nhà cửa, bàn ghế, điện nước của các vị đó đều do công quỹ đài thọ cả. Ngoài ra, những người đánh xe, lái xe, giữ ngựa, làm vườn, tóm lại, tất cả những kẻ hầu người hạ của họ cũng đều do nhà nước trả tiền công.

Thậm chí những cuộc giải trí về vǎn chương của những người tốt số ấy cũng lại do nhà nước trang trải. Một viên quan cai trị đã ghi vào ngân sách 900 đồng tiền sưởi ấm, và 1.700 đồng mua báo chí! Một vị khác đã dùng mánh lới kế toán để biến tiền mua sắm áo khoác ngoài, đàn dương cầm, đồ trang sức thành những khoản vật liệu tu bổ toà sứ, hoặc những khoản tương tự như thế để bắt ngân sách nhà nước phải chịu.

cpv.org.vn

Chương VI : Tệ tham nhũng trong bộ máy cai trị (B)

Một cựu nghị sĩ đi thǎm thuộc địa về, đã phải kêu lên: “So với bọn viên chức thuộc địa thì những tên cướp đường còn là những người lương thiện!”. Mặc dù đồng lương rất hậu (một nhân viên Pháp mới bổ dụng, dù có dốt đặc đi nữa, lương ít nhất cũng 200 đồng = 2.000 phrǎng mỗi tháng), nhưng các ngài viên chức ấy vẫn không bao giờ thoả mãn, họ muốn kiếm chác nhiều hơn, bằng đủ cách.

Học bổng thì cấp cho các cậu ấm con các quan công sứ, hoặc các quan cai trị tại chức mà lương được coi như quá thấp (từ 4 vạn đến 10 vạn phrǎng).

Có thể nói một số phiên họp của hội đồng quản hạt chỉ là để bàn việc cướp giật công quỹ một cách có phương pháp. Riêng một ông chủ tịch nào đó của hội đồng đã được lãnh thầu những công việc trị giá hai triệu phrǎng rồi. Ông đổng lý sự vụ nọ, đại diện của chính phủ trong hội đồng, đã xin tǎng lương mình lên gấp đôi và đã được chấp thuận. Việc làm một con đường kéo dài nǎm này qua nǎm khác chẳng ai kiểm tra đem lại cho một vị thứ ba những món lợi thường xuyên đều đặn. Chức vụ thầy thuốc của các viên chức Đông Dương đem lại cho vị thứ tư một khoản lương khá hậu. Vị thứ nǎm được bổ làm thầy thuốc các công sở thành phố. Vị thứ sáu nhận cung ứng giấy và in tài liệu cho chính phủ. Cứ thế, vân vân và vân vân.

Kho bạc có vơi đi chút ít thì đã có những quý quan làm cho nó đầy lại một cách nhanh chóng. Với quyền hành sẵn có, họ sức cho dân bản xứ biết nhà nước cần một khoản tiền bao nhiêu đó, rồi họ phân bổ cho các làng phải đóng góp. Và các làng lo vội vàng tuân lệnh để khỏi bị trừng phạt ngay lập tức.

Khi một viên khâm sứ cần thanh toán một khoản tiền gì đó thì ngài phát hành các bằng sắc để bán. Người ta kể lại ở một tỉnh nọ, một vụ kinh doanh kiểu ấy đã thu được tới 10.620 phrǎng. Mà những vụ như thế không phải hiếm.

Một trong những quan khâm sứ của chúng ta, vì tiêu hết trước hạn mấy tháng tất cả kinh phí cho chiếc xàlúp đã bắt công quỹ hoàn lại cho ngài các khoản chi phí về một cuộc lễ tiết nào đó không ai biết rõ, nhưng nói rằng nhà vua đã được mời ngự trên xàlúp.

Các tay chào hàng cho vǎn minh và dân chủ quả thật thông thạo về cái ngón xoay xở kiểu D.

cpv.org.vn

Chương VI : Tệ tham nhũng trong bộ máy cai trị (A)

Ngân sách Nam Kỳ chẳng hạn, nǎm 1911 là 5.561.680 đồng (12.791.000 phrǎng); nǎm 1912 là 7.321.817 đồng (16.840.000 phrǎng). Nǎm 1922, ngân sách đó lên tới 12.821.325 đồng (96.169.000 phrǎng). Một con tính đơn giản cho chúng ta thấy giữa hai nǎm 1911 và 1922, trong ngân sách của thuộc địa này có một sự chênh lệch là 83.369.000 phrǎng. Số tiền đó chạy vào đâu? Tất nhiên là vào các khoản chi về nhân sự, vì các khoản này ngốn gần hết 100% tổng số thu.

Hết hành vi điên rồ này đến hành vi điên rồ khác đã phung phí đồng tiền mà người dân An Nam khốn khổ đã phải đổ mồ hôi nước mắt mới kiếm được. Chúng tôi chưa biết đích xác số tiền chi tiêu cho vua An Nam sang ngao du bên Pháp, chỉ biết rằng, để đợi ngày lành cho con Rồng tre 15 xuống tàu, người ta đã phải bồi thường cho tàu Poóctốtxơ trong bốn ngày chờ đợi, mỗi ngày 100.000 phrǎng (tức là 400.000 phrǎng tất cả). Tiền tàu hết 400.000 phrǎng. Tiền chiêu đãi hết 240.000 phrǎng (chưa kể tiền lương trả cho bọn mật vụ để theo dõi người An Nam ở Pháp), 77.600 phrǎng trả tiền ǎn ở tại Mácxây cho lính khố xanh dùng để “bồng súng chào” Cụ lớn và Hoàng thượng.

Vì nói đến Mácxây, nên nhân tiện cũng thử xem cuộc triển lãm thuộc địa ở đây đã tốn phí bao nhiêu. Trước hết, ngoài bọn có thế lực ở chính quốc ra, người ta còn cho mời ba chục viên chức cao
cấp ở các thuộc địa về; bọn này phè phỡn ở đường phố Cannơbie1)

mà vẫn được lĩnh phụ cấp cả ở triển lãm lẫn ở thuộc địa. Riêng Đông Dương phải bỏ ra 12 triệu cho cuộc triển lãm này. Và các bạn có biết người ta đã chi tiêu số tiền đó như thế nào không? Một ví dụ: việc dựng lại cái mô hình nổi tiếng của các cung điện Ǎngco đã tốn 3.000 mét khối gỗ, giá 400 hoặc 500 phrǎng một mét khối. Tức là: từ 1 triệu 200 nghìn đến 1 triệu 500 nghìn phrǎng!

Còn nhiều ví dụ khác về sự phung phí nữa. Trong việc đi lại của quan toàn quyền, xe hơi và xe luých vẫn chưa đủ, còn phải có một toa xe lửa đặc biệt nữa kia; việc sửa sang toa xe đó tốn cho ngân khố 125.250 phrǎng.

Trong vòng mười một tháng hoạt động, nha kinh tế (?) đã làm hao phí công quỹ Đông Dương một số tiền 464.000 phrǎng.

Tại trường thuộc địa, nơi “chế tạo” ra những nhà khai hoá tương lai, 44 giáo sư đủ các loại được đài thọ để dạy từ 30 đến 35 học viên. Lại phải tốn hàng nghìn phrǎng nữa.

Công việc thanh tra thường xuyên các công trình phòng thủ thuộc địa hằng nǎm tốn cho ngân sách 785.168 phrǎng. Thế nhưng các ngài thanh tra thì không bao giờ rời khỏi Pari và đối với các thuộc địa thì các ngài cũng không hiểu biết gì hơn là hiểu biết ông trǎng già!

Nếu chúng ta đến các thuộc địa khác, thì ở đâu chúng ta cũng thấy một tình trạng tệ lậu như vậy. Để đón tiếp một phái đoàn “kinh tế” không chính thức, ngân khố Máctiních “nhẹ bổng đi” mất 400.000 phrǎng. Trong vòng 10 nǎm, ngân sách Marốc từ 17 triệu lên 290 triệu phrǎng, mặc dầu người ta đã giảm 30% các khoản chi tiêu cho lợi ích địa phương, tức là những khoản chi tiêu có thể có lợi cho nhân dân bản xứ!

cpv.org.vn

Chương VI : Tệ tham nhũng trong bộ máy cai trị (D)

Dù trước kia họ là những anh hàng cháo, hoặc giám thị trong các nhà trường, nhưng khi đã đặt chân đến thuộc địa là các nhà khai hoá ấy của chúng ta sống một đời sống đế vương. Một viên quan cai trị dùng nǎm sáu lính khố xanh để chǎn dê cho mình; một viên khác bắt lính có nghề điêu khắc chạm trổ cho mình những tượng Phật xinh xắn hoặc đóng cho mình những rương hòm rất đẹp bằng gỗ dạ hương.

Theo lệ, một viên giám binh chỉ được lấy một lính hầu, thế mà người ta kể, có một ngài đã dùng:

1 viên đội làm quản gia, 1 đầu bếp, 3 bồi, 2 phụ bếp, 3 người làm vườn, 1 hầu phòng, 1 người đánh xe, 1 người giữ ngựa.

Còn bà lớn thì dùng: 1 thợ may, 2 thợ giặt, 1 thợ thêu ren, 1 thợ đan lát.

Và cậu ấm thì có một người bồi riêng không lúc nào rời cậu nửa bước.

Một người mắt thấy kể lại: chỉ trong một bữa ǎn thường, không phải yến tiệc gì, ở nhà một viên quan cai trị, cũng thấy đằng sau mỗi người ngồi ǎn có một lính đứng hầu chờ thay đĩa và đưa món ǎn. Và tất cả lính hầu trong phòng ǎn đều do một viên đội nhất chỉ huy!

cpv.org.vn

Với danh dự và ý chí kiên quyết, Cụ Hồ đã bảo vệ quyền thiêng liêng của các dân tộc được sống trong độc lập tự do

Con người sống phải có mục tiêu, có lý tưởng và thời nào cũng vậy, những con người chân chính bao giờ cũng có một lý tưởng sống. Lý tưởng cao đẹp ấy, có lẽ nằm trong 4 chữ: “Vì nước vì dân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại là con người suốt đời vì nước vì dân.

Ngay từ nhỏ, Nguyễn Tất Thành đã được nghe những người bạn của bố mình như Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý… nói về nỗi nhục mất nước. Tuổi trẻ của Nguyễn Tất Thành đã từng biết đến sự kiện Phan Đình Phùng chống Pháp, rồi mất ở trên núi khi mới 49 tuổi và Vua Thành Thái vì yêu nước đã bị Pháp đưa vào Ô Cấp, Vũng Tàu để mấy năm sau đưa đi đày ở nước ngoài.

Cụ Nguyễn Sinh Sắc người cha rất yêu quý của Nguyễn Tất Thành, khi đỗ Phó bảng, vua cho vinh quy về làng, đã nhất định không chịu nằm lên cái võng mà dân làng nô nức kéo nhau ra đón. Cụ chắp tay nói: Tôi đã làm được việc gì có ích cho dân làng đâu, mà dám nằm lên cái võng này! Rồi sau đó cùng bà con đi bộ về làng. Khi nhân dân làm cho ngôi nhà để ở, cụ Phó bảng đã viết lên xà nhà dòng chữ “Vật dĩ quan gia, vi ngô phong dạng” nghĩa là đừng lấy phong cách nhà quan làm phong cách nhà mình!

Quê hương, gia đình, đất nước… đã giúp Nguyễn Tất Thành nảy nở tấm lòng yêu nước thương dân và sớm nhận ra con đường cứu nước.

Năm 1923, khi ở Pháp, một hôm được Anbe Xarô, Bộ trưởng Thuộc địa mời đến. Mời đến để doạ nạt, nhưng khi thấy không thể doạ nạt được, hắn đã khéo léo phỉnh phờ: “Tôi rất thích những người như anh. Cần gì anh cứ nói với tôi…”. Và Nguyễn Ái Quốc đã nói: “Cái mà tôi cần nhất trên đời là đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập”.

tranh son dauBác Hồ về nước – Tranh sơn dầu của Trịnh Phòng.

Có lẽ vì thế, khi Cách mạng Tháng Tám thành công, sau tên nước Bác Hồ đã ghi hai chữ Dân chủ: Việt Nam Dân chủ cộng hoà, tiếp theo đó là những tiêu chí cao cả: Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. Suốt cuộc đời của Bác, những chữ nhân dân, tổ quốc, độc lập, dân chủ, tự do, hạnh phúc luôn luôn xuất hiện trong ngôn ngữ Hồ Chí Minh. Những ngôn ngữ ấy xuất hiện trong Lời kêu gọi Tổng khởi nghĩa, trong Tuyên ngôn Độc lập… Nhưng cảm động hơn, khiến ta phải suy ngẫm sâu sắc hơn, đó là câu nói này của Bác:

“Ngày nay chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Nhưng nếu nước Độc lập, mà dân không được hưởng hạnh phúc – tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.

Câu nói ấy Bác viết trong: “Thư gửi Uỷ ban nhân dân các Kỳ, Tỉnh, Huyện và Làng” ngay từ những ngày 17 tháng 10 năm 1945.

Ngày 16 tháng 7 năm 1947, trả lời một nhà báo nước ngoài, Bác nói:

“Cảm ơn ngài. Tôi vẫn mạnh khoẻ, mặc dầu tin Pháp mấy lần đồn rằng tôi đã chết rồi.

Ngài đã hỏi, tôi xin dẹp sự khiêm tốn lại một bên mà đáp một cách thực thà. Tôi không nhà cửa, không vợ, không con, nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Phụ lão Việt Nam là thân thích của tôi. Phụ nữ Việt Nam là chị em của tôi. Tôi chỉ có một điều ham muốn là làm cho Tổ quốc tôi được độc lập, thống nhất, dân chủ.

Bao giờ đạt được mục đích đó, tôi sẽ trở về làm một người công dân, du sơn ngoạn thuỷ, đọc sách làm vườn”.

Nghiên cứu về cuộc đời của Bác, Staley Karnow, giảng viên lịch sử Trường Đại học Harvard Mỹ đã viết: “Trong suốt cuộc đời mình, Hồ Chủ tịch chỉ ám ảnh một mục đích duy nhất, đó là nền độc lập cho đất nước”.

Ông Lê Hữu Lập, một trong những người đã có 12 năm giúp việc Bác Hồ từ 1958 đến 1969. Ông là người được vinh dự đứng tên trong sổ tiết kiệm của Bác gửi ở quầy tiết kiệm phố Hàng Gai, Hà Nội. Tiền tiết kiệm của Bác được dành dụm từ tiền lương hàng tháng còn lại ít ỏi, sau khi đã trừ mọi chi tiêu sinh hoạt, và nhiều hơn là tiền nhuận bút mà các báo trong và ngoài nước gửi cho Bác.

Dịp đi dự Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô, là đại biểu mời, Bác được Đảng bạn tặng một số tiền. Nhưng khi về, Bác không nhập số tiền này vào sổ tiết kiệm của mình, mà nhập vào quỹ Đảng. Bác coi số tiền đó là của chung, nên không dùng riêng cho mình.

ben cang sgBến cảng Sài Gòn ngày nay. Ảnh: Internet

Tiến sĩ A.Sacơrabôrôty, người Ấn Độ viết:

“Bác Hồ mặc bộ quần áo giản dị, nói giản dị, cách cư xử và tính nết giản dị, viết bằng thứ ngôn ngữ giản dị, xuất hiện một cách giản dị, với vẻ mặt tươi cười làm toả ra sự trong sáng của một tâm hồn giản dị…”.

Phải dùng đến 6 chữ giản dị để nói về Bác, trong một câu ngắn gọn, mà vẫn thấy như chưa đầy đủ.

Có thể nói, suốt đời Bác là sự nêu gương, nêu gương để xây dựng Đảng, xây dựng nước. Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng, một người học trò xuất sắc, một người cộng sự gần gũi lâu năm bên cạnh Bác đã viết: “Đời sống của Hồ Chủ tịch là một đời sống khắc khổ, cần lao và tranh đấu. Người lãnh tụ của một dân tộc mất nước không thể có một đời sống khác…”.

Những ngày sau Cách mạng Tháng Tám, Bác Hồ làm việc suốt ngày đêm, nhưng vẫn ăn chung với những người giúp việc. Một hôm Bác bận họp, anh em phải để phần cơm cho Bác. Bác về, đang ăn thì lại có người báo Cố vấn Vĩnh Thụy (tức vua Bảo Đại) muốn được gặp Bác. Bác đã đứng dậy, nhưng sau lại bảo chú cứ mời ông Cố vấn xuống đây cũng được. Ông Vĩnh Thuỵ xuống, thấy Bác đang ngồi trước cặp lồng cơm, một đĩa rau muống luộc, một bát nước mắm và quả trứng luộc… Ông Cố vấn cảm động nói:

– Thưa cụ, từ mai xin cụ cho phép tôi được cho người mang cơm đến hầu cụ.

Bác Hồ cảm ơn, rồi nói: Thôi, cứ để tôi ăn cơm với anh em cũng được. Tôi đã quen rồi.

Nhiều người nước ngoài đến Việt Nam đều nói, Việt Nam và Hồ Chí Minh là hai cái tên không thể tách rời nhau: Tên của một đất nước anh hùng và tên của người con vĩ đại nhất của đất nước đó. Người tượng trưng cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và chính tấm gương đó của Việt Nam, của Cách mạng Tháng Tám đã cổ vũ các dân tộc thuộc địa vùng lên giành lại quyền sống, độc lập, tự do.

Khi tuổi đã cao, đã nghỉ những công việc của Đảng và Nhà nước, nhiều người nói với Thủ tướng Phạm Văn Đồng là ông nên viết một cuốn hồi ký về cuộc đời mình. Nhưng ông nói, tôi muốn dành những ngày còn lại, để nếu có thể viết được gì, thì đó là viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong tác phẩm nổi tiếng “Hồ Chí Minh một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp” những trang về Cách mạng Tháng Tám, Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết:

“Sau ngày 2 tháng 9 năm 1945 và cả năm 1946, Cách mạng Việt Nam đã trải qua một thời kỳ đầy sóng gió. Vận mệnh của Tổ quốc mong manh như “ngàn cân treo sợi tóc”. Trong những năm tháng gian lao chồng chất đó, Hồ Chí Minh là hiện thân của lòng dũng cảm, trí thông minh và tài năng sáng tạo, rất nhạy bén với tình thế, ứng phó rất kịp thời, vận dụng nhiều biện pháp khôn khéo để phân hoá kẻ thù. Lúc thì nhân nhượng với quân đội Quốc dân đảng Trung Hoa để tập trung sức đối phó với thực dân Pháp. Lúc thì tạm hoà với Pháp để đẩy nhanh quân Tưởng về nước và quét sạch bọn lâu la tay sai của Tưởng.

Dưới tay lái của Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã làm thất bại mọi mưu đồ độc ác của giặc ngoài thù trong, giữ vững chính quyền cách mạng, tranh thủ thời gian chuẩn bị cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp. Mỗi khi nhớ lại những năm tháng đó, một ý nghĩ luôn luôn đến với tôi: Nếu bấy giờ không có Hồ Chí Minh thì khó lường hết cái gì có thể xảy ra”.

Được nhân dân yêu kính, được thế giới tôn vinh, nhưng có lần Bác Hồ đã nói: “Nếu không có nhân dân thì cũng không có Hồ Chí Minh”. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng và cách mạng gắn liền với quần chúng, được nhân dân ủng hộ, được nhân dân đoàn kết, hy sinh, chiến đấu và đã làm nên thời đại Hồ Chí Minh.

Là người sáng lập và xây dựng Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”. Người luôn luôn nhắc nhở Đảng và các cấp chính quyền nhiệm vụ chăm lo đời sống nhân dân. Và Bác thường nhắc đến 4 chữ có: “Làm cho Dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, có học hành”.

Đến dự Hội nghị chỉnh huấn cán bộ trung cao cấp ngày 26 tháng 1 năm 1965, Bác nói:“Có Đảng lãnh đạo, dân tộc ta đã trở thành một dân tộc anh hùng, được bè bạn khắp năm châu yêu mến và kính trọng. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, thắng lợi của cách mạng là do sự phấn đấu hy sinh và trí thông minh sáng tạo của hàng triệu nhân dân. Mỗi chúng ta phải biết đặt lợi ích của dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, phải biết quên mình vì nghĩa lớn”. Bác còn nhấn mạnh muốn đánh thắng kẻ thù bên ngoài thì trước hết phải chiến thắng kẻ thù bên trong của mỗi chúng ta, đó là chủ nghĩa cá nhân.

Ngày 2 tháng 9 năm 1969, Bác Hồ từ biệt chúng ta! 22.000 bức điện chia buồn trên toàn thế giới đã gửi đến Việt Nam. Báo Tin Tức, Cộng hoà Ả Rập thống nhất viết: “Sau 79 năm đấu tranh lâu dài và liên tục, trái tim vĩ đại, trái tim Cụ Hồ Chí Minh đã ngừng đập. Nếu ta nói rằng lịch sử loài người trước đây chưa từng biết đến một kiểu mẫu chiến sĩ nào như thế, thì chỉ riêng cuộc đời của Cụ cũng đã để xác nhận chân lý đó. Còn khi ta nói Cụ Hồ đã qua đời, thọ 79 tuổi, chính là ta muốn nói rằng suốt cả cuộc đời lâu dài đó, ngay từ khi còn trẻ cho đến những giờ phút cuối cùng, Cụ đã nắm chắc vũ khí trong tay, bảo vệ với danh dự và ý chí kiên quyết, quyền thiêng liêng của dân tộc mình cũng như các dân tộc khác trên thế giới, được sống trong độc lập, tự do”.

Còn ông Xanh-tơ-ni, Trưởng đoàn Phái đoàn nước Cộng hoà Pháp sang Hà Nội dự Lễ tang Bác Hồ đã viết: “Chúng tôi đi ngang qua trước quan tài bằng kính, ở đó thi hài mảnh khảnh của người chiến sĩ già đang yên nghỉ. Chúng tôi đã đưa thêm vào cả một biển hoa tràn ngập phòng lớn của Hội trường Ba Đình một vòng hoa đồ sộ, để chứng tỏ lòng ngưỡng mộ của nước Pháp đối với Người!”./.

Bùi Công Bính
Theo baonamdinh.net
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

Lời điếu làm rung động triệu triệu con tim

Ông Đống Ngạc.

“Tôi không dám nghĩ rằng Bác Hồ đã mất và hình dung trước mặt là hình ảnh của Người. Người đã làm rạng rỡ dân tộc và non sông đất nước ta. Trong tôi dâng trào niềm tiếc thương và xúc động vô hạn. Nó đã giúp tôi có cảm xúc mạnh mẽ để viết và hoàn thành bản thảo”, ông Đống Ngạc, nguyên Thư ký giúp việc của Tổng Bí thư Lê Duẩn, người chấp bút Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam để đọc tại Lễ Truy điệu Hồ Chủ tịch, kể lại.

Tròn một phần tư thế kỷ là thư ký giúp việc cho Tổng Bí thư Lê Duẩn, trong quá trình phấn đấu công tác, ông được đề bạt là Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và sau này giữ chức Phó Tổng biên tập Nhà Xuất bản Sự thật. Sau khi nghỉ hưu, ông tham gia biên tập nhiều đề tài tổng kết lịch sử rất quan trọng, trong đó có đề tài được đề nghị Giải thưởng Hồ Chí Minh. Ông chính là Đống Ngạc, nguyên Thư ký giúp việc của Tổng Bí thư Lê Duẩn.

Ông Đống Ngạc sinh năm 1925, tại xã Tam Đàn, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam, quê hương giàu truyền thống cách mạng. Năm 14 tuổi, ông vào học tại Trường Quốc học Huế. Học hết chương trình tú tài phần một, ông quyết định xếp bút nghiên đi theo cách mạng.

Tháng 9 năm 1945, ông được tuyển vào Quân đội và biên chế về Đại đội 4, Chi đội do đồng chí Võ Quang Hồ chỉ huy (đồng chí Võ Quang Hồ sau này là Phó Cục trưởng Cục Tác chiến – Bộ Tổng Tham mưu – Quân đội nhân dân Việt Nam).

Tháng 10 năm 1945, đơn vị ông tham gia đoàn quân Nam tiến, cùng quân và dân Khánh Hoà chống thực dân Pháp bảo vệ thành phố Nha Trang. Ông không may bị thương. Vì vết thương quá nặng nên ông được trở về quê hương.

Theo đề nghị của Ủy ban Việt minh xã, người thanh niên đất Quảng quyết tâm vượt lên thương tích nhận nhiệm vụ làm chính trị viên dân quân xã, đồng thời gia nhập Đoàn thanh niên cứu quốc. Công tác ở xã được nửa năm, ông được cử đi dự Đại hội Đoàn Thanh niên cứu quốc huyện Tam Kỳ và được bầu làm Bí thư Huyện đoàn. Và từ đó, làm công tác đoàn thanh niên, ông đã phấn đấu lên đến chức Thường vụ Trung ương đoàn, phụ trách công tác nông nghiệp.

Tháng 4 năm 1962, ông Đống Ngạc được tổ chức phân công về công tác tại Văn phòng Trung ương Đảng, làm thư ký giúp việc cho đồng chí Lê Duẩn từ đó (ngày ấy đồng chí Lê Duẩn là Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam). Về kỷ niệm ngày đầu giúp việc đồng chí Lê Duẩn, ông Đống Ngạc kể lại:

“Được về giúp việc cho anh Ba (tên gọi thân mật của đồng chí Lê Duẩn) nhà lãnh đạo kiệt xuất, người chiến sĩ cộng sản kiên cường, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi rất vinh dự nhưng cũng rất lo lắng không hiểu có hoàn thành nhiệm vụ anh Ba giao cho hay không. Nhưng làm việc với anh Ba, tôi thấy anh là một con người giản dị, nhân hậu, rất gần gũi cuộc sống đời thường; một con người biết kết hợp nhuần nhuyễn tình cảm cách mạng cháy bỏng với tri thức cách mạng sâu sắc; một nhà chiến lược có sự nhạy cảm đặc biệt về chính trị, có tư duy năng động sáng tạo, thể hiện tinh thần độc lập tự chủ rất cao. Mặc dù bận trăm công ngàn việc, nhưng anh thường xuyên quan tâm động viên, hướng dẫn tôi rất cụ thể, tỉ mỉ về công việc của người thư ký giúp việc anh.

Hai mươi nhăm năm được sống và làm việc bên anh Ba, tôi có rất nhiều kỷ niệm với anh. Nhưng có lẽ kỷ niệm sâu sắc nhất là lần tôi được anh Ba giao nhiệm vụ chấp bút Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam để đọc tại lễ truy điệu Hồ Chủ tịch.

Những ngày cuối tháng 8 năm 1969, tình hình sức khoẻ của Bác có chiều hướng xấu đi. Tập thể giáo sư, bác sỹ mang hết tinh thần trách nhiệm, nghị lực và tình cảm kính yêu đặc biệt đối với Bác để quyết thắng căn bệnh hiểm nghèo của Người. Trong những ngày ấy, anh Ba và các đồng chí trong Bộ Chính trị cũng vào thăm sức khoẻ của Bác. Sáng sớm ngày 2/9/1969, anh Ba vào thăm Bác rất sớm, ở lại bên giường Bác mãi đến trưa mới về nhà. Tôi linh cảm có điều gì rất hệ trọng đã xảy ra. Nghe tiếng còi xe, tôi ra cổng đón anh. Anh Ba bước xuống xe, mặt buồn rười rượi, đôi mắt đỏ hoe, tôi hiểu ngay rằng cái điều hệ trọng không ai mong muốn đã đến: Bác Hồ của chúng ta đã ra đi theo cụ Các Mác, cụ Lê Nin và các bậc đàn anh khác.

Mấy ngày hôm đó, vòm trời Hà Nội cũng như cả nước trĩu nặng một nỗi buồn, thiên nhiên như cũng đau nỗi đau của con người. Công tác chuẩn bị tang lễ Bác diễn ra hết sức dồn dập. Những người giúp việc anh Ba, nhất là bộ phận thư ký chúng tôi đều ứng trực cao độ. 9h tối 6/9/1969, vừa đi họp ở Bộ Chính trị về, anh Ba cho gọi tôi và anh Đậu Ngọc Xuân, trong Tổ Thư ký lên phòng làm việc của anh ở số 6 – Hoàng Diệu. Anh trầm ngâm đưa cho chúng tôi Bản Di chúc của Bác Hồ (văn bản mà Bộ Chính trị quyết định công bố trong Lễ Truy điệu Hồ Chủ tịch), hai dự thảo Điếu văn do bộ phận khác chấp bút (hai bản dự thảo này không được Bộ Chính trị thông qua) và giao nhiệm vụ:

– Hai chú chuẩn bị giúp tôi bản Điếu văn khác để đọc tại Lễ Truy điệu Bác.

Nghe đến đây tôi và anh Xuân nhận thức rất rõ rằng công việc được giao là một vinh dự rất lớn nhưng hết sức khó khăn, vượt quá sức mình. Chưa kịp định thần trước nhiệm vụ được giao thì anh Ba chỉ đạo: “Về cuộc đời và sự nghiệp của Bác Hồ đã ăn sâu vào tâm trí của mỗi người dân Việt Nam. Vì thế Điếu văn vĩnh biệt Người không nên viết theo công thức. Phải làm sao thông qua Điếu văn nêu bật được những tư tưởng lớn của Người để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thấu suốt hơn nữa, lấy đó làm mục tiêu phấn đấu, quyết biến sự nghiệp của Người thành hiện thực.

Thứ nhất, Hồ Chủ tịch nêu cao chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh đến cùng chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc để hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Thứ hai, Hồ Chủ tịch gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, dìu dắt đồng bào ta phấn đấu vì dân giàu nước mạnh, vì ấm no hạnh phúc của mọi người. Thứ ba, Hồ Chủ tịch dày công xây đắp khối đại đoàn kết dân tộc, kêu gọi toàn dân thực hiện, coi đó là bí quyết thắng lợi của cách mạng nước ta. Thứ tư, Hồ Chủ tịch kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế cách mạng. Thứ năm, Hồ Chủ tịch là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng cần kiệm liêm chính, chí công vô tư để mọi người học tập noi theo. Các chú chú ý đến văn phong, lời lẽ phải trang trọng, sâu sắc, cô đọng; văn chương phải có hồn và đi vào lòng người. Cố gắng làm xong trong đêm nay để kịp sáng mai Bộ Chính trị thông qua”.

lời điếu a2Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Quảng trường Ba Đình.

Sau khi nhận nhiệm vụ, chúng tôi hội ý và xây dựng đề cương khái quát. Quá 12 giờ đêm, chúng tôi vẫn chưa viết được đoạn nào. Mấy hôm đó, chúng tôi đều thức để chuẩn bị phục vụ tang lễ Hồ Chủ tịch. Chắc vì quá mệt, nên anh Đậu Ngọc Xuân gục xuống bàn. Tôi dìu anh vào giường để anh nằm nghỉ và quay lại tiếp tục nghiên cứu để viết.

Lúc này, chỉ mình tôi ngồi đối diện trang giấy trắng. Tôi không dám nghĩ rằng Bác Hồ đã mất và hình dung trước mặt là hình ảnh của Người. Người là lãnh tụ có công lao trời biển và hy sinh cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng. Người đã làm rạng rỡ dân tộc và non sông đất nước ta. Nay Người đã ra đi! Dân tộc ta đứng trước một tổn thất, một đau thương lớn lao vô cùng. Trong tôi dâng trào niềm tiếc thương và xúc động vô hạn. Nó đã giúp tôi có cảm xúc mạnh mẽ để viết và hoàn thành bản thảo.

Sáng hôm sau, anh Ba dậy sớm hơn mọi ngày và gọi tôi cầm bản thảo lên đọc cho anh nghe. Nghe xong, anh chỉ thị:

– Về cơ bản là được, chú cần suy nghĩ thêm về đoạn nói về tư tưởng của Bác, nội dung 5 lời thề và cân nhắc thêm về từ ngữ.

Dừng lại nhìn tôi, chắc thấy sắc mặt tôi nhợt nhạt, đôi mắt thâm quầng vì thiếu ngủ mấy hôm triền miên, anh động viên:

– Nhưng thôi, chú thức suốt đêm chắc là mệt lắm, hãy cứ để như thế cho đánh máy rồi lấy thêm ý kiến của các đồng chí trong Bộ Chính trị và Ban Bí thư, sau đó sửa chữa một thể.

Theo sự chỉ đạo của anh Ba, tôi đưa bản thảo sang bộ phận văn thư của Văn phòng Trung ương ở 1A Hùng Vương để đánh máy. Chị Vũ Thị Sinh, Tổ trưởng Tổ Đánh máy đọc bản thảo một lần rồi vừa đánh máy vừa khóc, mọi ngày hai bàn tay như múa trên bàn phím mà hôm đó cứ lóng nga lóng ngóng. Tôi động viên chị trấn tĩnh để hoàn thành bản thảo cho kịp thời gian.

8h sáng 7/9/1969, Bộ Chính trị và Ban Bí thư họp để bàn một số công việc, trong đó có nội dung tham gia vào dự thảo điếu văn. Sau khi lấy ý kiến tham gia, tôi và anh Xuân tập trung chỉnh sửa rất khẩn trương và tích cực, đến quá trưa thì công việc tạm xong. Đó là lần sửa chữa quan trọng nhất nhưng chưa phải là lần cuối cùng.

Sau khi nghe chúng tôi báo cáo kết quả sửa chữa lần thứ nhất, anh Ba đồng ý và chỉ thị cho chúng tôi gửi Điếu văn cho anh Trường Chinh, anh Phạm Văn Đồng, anh Tố Hữu, anh Hoàng Tùng… để các anh xem lại, góp ý kiến cho thật chặt chẽ và hoàn hảo. Đồng thời, gửi sang Ban Đối ngoại để kịp dịch ra năm thứ tiếng nước ngoài. Khoảng 8h tối 7 tháng 9, Điếu văn đã hoàn thiện sau 4 lần rà soát, sửa chữa.

Sáng ngày 8 tháng 9, chúng tôi trình anh Ba bản Điếu văn chính thức. Anh xem và nói:

– Tôi nói giọng miền Trung, đồng bào ngoài Bắc khó nghe, tôi phải đọc trước mới được.

Đọc được mấy dòng, anh nghẹn lại, hai hàng lệ cứ lăn dài trên gò má làm nhoà cả kính. Nhìn anh Ba khóc, chúng tôi càng hiểu tình cảm của anh với Bác Hồ kính yêu và tất cả chúng tôi không ai cầm được nước mắt. Ngoài trời mưa tầm tã.

Sáng 9/9/1969, Lễ Truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh được cử hành trọng thể và trang nghiêm với lòng thành kính và biết ơn vô hạn với Bác, trên 33 vạn đồng bào, chiến sĩ cả nước và hơn 40 đoàn đại biểu các nước trên thế giới kính viếng và dự Lễ Truy điệu Người.

Sau khi anh Ba nghẹn ngào đọc Di chúc của Bác và Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng: “Hồ Chủ tịch kính yêu của chúng ta không còn nữa! Tổn thất này vô cùng lớn lao! Đau thương này thật là vô hạn!… Dân tộc ta và Đảng ta mất đi một vị lãnh tụ thiên tài và một người thầy vĩ đại. Phong trào Cộng sản quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc và cả loài người tiến bộ mất đi một chiến sỹ lỗi lạc, một người bạn chiến đấu kiên cường và thân thiết… Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, Người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta…” cả Quảng trường lặng đi rồi oà lên khóc. Các cháu thiếu nhi gục đầu vào lòng các bác lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước khóc nức nở.

Để thể hiện quyết tâm biến đau thương thành hành động cách mạng, sau mỗi lời thề trước anh linh của Bác, cả rừng cánh tay giơ cao cùng Ban Chấp hành Trung ương xin thề với Bác sẽ làm tròn sứ mệnh mà Người đã tin cậy giao phó, nguyện đi theo con đường mà Người đã vạch ra…”

Nguyễn Đức Quý
cand.com.vn