Tag Archive | Hồ Chí Minh

Thư gửi Khải Định (9-8-1922)

Kính gửi: Hoàng thượng Khải Định An Nam Hoàng đế
Vĩnh biệt V.V.C.

Ngài đã đến – hay nói cho đúng hơn là người ta đã đưa Ngài đến, coi như một món hàng thuộc địa và có thể trưng bày ở Hội chợ. Người ta định đem Ngài bày ít nhất là vài ba tháng trong tủ kính xinh xẻo, nhưng mỏng manh và có thể bị huỷ hoại. Thế mà Ngài lại ra đi, hay nói cho đúng hơn, là người ta đã buộc Ngài phải cuốn gói ra đi. Được ǎn ở sang trọng tại phố Uđinô, được ru êm ấm trong tay của điện hạ Xarô – ông Hoàng An Nam và Bộ trưởng Bộ Thuộc địa- như trên tay một người cha, thế mà Ngài vẫn kêu là còn rét. Nếu tất cả đồng bào của Ngài – những người đã từng dấn thân trong bùn lầy, sương tuyết và dưới làn mưa đạn trên chiến trường ở nước Pháp, những người đã và đang bị đày đoạ dưới tiết trời rét như cắt da cắt thịt, đã và đang bị đe doạ bởi những kẻ mà họ tấn công, – nếu tất cả những người đó đều nói như Ngài đã vội ch…uồn ngay, chớ chẳng chịu liều mạng – cố nhiên là liều cái mạng không đế vương bằng, nhưng dẫu sao cũng quý báu – thì Ngài có thể lấy đâu ra được để tỏ cái lòng trung quân dễ kiếm và lòng trung thành rẻ rúng để làm vừa ý cái ông chủ của Ngài, như Ngài đã từng tỏ ra ở Nôgiǎng hay ở những nơi khác?

Ngoài vấn đề tình cảm ra, và ngoài mấy con ngựa cái ở trường đua Lôngsǎng cùng những vẻ đẹp cổ đại ở nhà hát Ôpera ra thì Ngài đã thấy gì trong suốt thời gian “tham quan” của Ngài ở cái nước Pháp lạc thú này?

Ngài có thấy được nguyện vọng thiết tha mong muốn công lý, tự do và lao động của quần chúng rộng rãi của dân tộc Pháp này không? Ngài có thấy được tình cảm cao cả yêu chuộng hoà bình và hữu nghị đang làm rung động trái tim của quần chúng đó, – số quần chúng mà, qua những cuộc cách mạng giải phóng, giờ đây đã giải phóng mình khỏi ách của bọn vua chúa, để trở thành kẻ tự mình làm chủ mình đó không?

Qua những lời tán tụng hèn hạ trong những bài diễn vǎn của mấy nhà đương cục và trong những bài báo được trợ cấp tiền của mấy tờ báo “lương thiện” ra, Ngài còn có nghe thấy gì nữa không? Ngài có được nghe người ta nói đến Paxtơ hay Vônte, Víchto Huygô hay Annatôn Phrǎngxơ không? Ngài có được nghe người ta nói đến bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền không? Ngài có được nghe người ta kể lại lịch sử của cuộc cách mạng bất diệt không?

Sau những xúc động mạnh mẽ khi xem những đại bác, xe tǎng hoà bình diễu qua, thì trong cái đầu chít khǎn của Ngài đã vội chớm nở nỗi nhớ nhà, thế là Ngài vội vã cuốn gói ra đi! Ngày mai đây, Ngài sẽ xuống tàu, và Ngài sẽ lại trông thấy những biển cả ven theo đất nước của người Ai Cập và người ấn Độ. Hoà lẫn với tiếng sóng gầm vang, những tiếng thét dữ dội của nhân dân bị áp bức ở các nước này, cũng như của nhân dân nước Ngài, sẽ xé tan bầu không khí yên tĩnh bên tai Ngài. Và nếu như Ngài có đôi chút óc tưởng tượng, Ngài sẽ thấy rằng ý chí của nhân dân – một ý chí đã được hun đúc trong nghèo đói và khổ cực – một ý chí còn mạnh hơn và dẻo dai hơn sóng cả, cuối cùng sẽ khoét hổng dần và đánh bật cái tảng đá bề ngoài có vẻ vững chắc là sự áp bức và bóc lột kia đi. Có thể Ngài sẽ tự nhủ rằng cái mà Ngài trông thấy đấy là một chút của nước Pháp đó.

Vĩnh biệt… người đồng hương! Một khi mà những đợt sóng biển vô tình đã lấp kín vết đi của con tàu Ngài ngồi thì nước Pháp sẽ quên Ngài, cũng như Ngài sẽ không còn nhớ chút gì về những người Pháp nữa.

Để giữ kỷ niệm của một nền vǎn minh hiện đại và lớn lao, Ngài mang theo về cung điện của Ngài một chiếc dương cầm, vài cái nhẫn và cả mấy chiếc bật lửa mà Ngài đã đổi được bằng chút ít uy tín mà Ngài để mất mát đi trong trái tim nhân dân của Ngài. Và khi Ngài lại trở về sống giữa đám phi tần và nội thị của Ngài, giữa những sọt giấy lộn và tẩu thuốc phiện của Ngài, thì một vài tên ký lục già sẽ thêu dệt thay Ngài và hộ Ngài để gửi cho nước Pháp mà Ngài không hề hiểu biết một vài câu nịnh hót hay một vài vần thơ lủng củng, dưới đó, những ngón tay đầy nhẫn của Ngài sẽ cầm bút ký cái chữ ký của một vị đế vương là nghệ sĩ và vǎn nhân (!).

Thế là cái ý nguyện bình sinh lớn của Ngài đã được thoả mãn. Và như vậy là hạnh phúc và ấm no của nhân dân An Nam cũng sẽ được xây dựng và củng cố rồi đấy!

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo Le Journal du Peuple, ngày 9-8-1922.
cpv.org.vn

Những kỷ vật của Bác Hồ

Bác để tình thương cho chúng con
Một đời thanh bạch chẳng vàng son
Mong manh áo vải hồn muôn trượng
Hơn tượng đồng phơi những lối mòn

(Tố Hữu)

Có lẽ khó có vị lãnh tụ nào trên thế giới này được ngợi ca về tấm lòng yêu thương con người, yêu thương nhân loại nhiều đến vậy như Chủ tịch Hồ Chí Minh, bởi lẽ cả cuộc đời Người chỉ có một ham muốn tột bậc là: “Làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Đó là khát vọng cháy bỏng và cũng là mục đích duy nhất của cuộc đời Người – vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam: Chủ tịch Hồ chí Minh vĩ đại.

ky vat 1
Bác Hồ với các cháu nhỏ ở Việt Bắc

Có rất nhiều người đã  nhận định rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh là con người mà tư tưởng và hành động thống nhất với nhau, không chỉ vậy còn là sự thống nhất giữa hoạt động và nhân cách chính trị với thái độ rất khiêm tốn, giản dị, nhân hậu. Có lẽ với tình yêu thương con người thiết tha nhất mà ở tuổi chưa đầy hai mươi, Người đã một mình quả cảm vượt trùng khơi đi tìm con đường giải phóng cho dân tộc, giải phóng nhân dân mình thoát khỏi sự chà đạp của chủ nghĩa thực dân. Cũng chính vì thế ngay từ những ngày còn bôn ba hoạt động ở nước ngoài Người đã dành sự quan tâm đặc biệt đến cuộc sống cơ cực của những người lao động ở các thuộc địa và mong muốn tìm con đường giải phóng cho nhân loại khổ đau, trong đó có nhân dân mình, dân tộc mình. Với sự kiên định tuyệt vời về tư tưởng và đường lối cùng với những quyết định lịch sử vô cùng sáng suốt và kịp thời, Người đã dẫn dắt dân tộc Việt Nam đi đến ánh sáng của cuộc sống làm người, của độc lập, tự do.

Nước nhà được độc lập, Hồ Chí Minh trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa – Nhà nước dân chủ đầu tiên ở  Đông Nam Á, vận mệnh đất nước và dân tộc vẫn ngàn cân treo sợi tóc, bởi kẻ thù không từ bỏ dã tâm xâm chiếm nước ta. Bên cạnh việc chăm lo những việc lớn lao của dân tộc là đánh đuổi giặc ngoại xâm, Người đặc biệt quan tâm đến việc giải quyết nạn đói và nạn dốt do chế độ thực dân và phong kiến để lại, coi đây cũng là hai thứ giặc vô cùng nguy hiểm bởi nếu giặc ngoại xâm là cướp nước, chà đạp lên nhân phẩm con người, lên danh dự quốc gia, dân tộc thì giặc đói và giặc dốt lại làm cho dân tộc yếu hèn và cuối cùng cũng đi đến bị nô dịch.

Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại bởi sự nghiệp cao cả của Người, nhưng Người cũng giản dị và gần gũi với nhân dân nhất bởi Người thấu hiểu và chia sẻ nỗi khổ đau cũng như niềm vinh quang của mỗi người dù đó là ai và thuộc quốc gia nào, vì thế Người càng vĩ đại hơn, càng được nhân dân tin yêu, kính trọng hơn và cũng vì thế sức mạnh của dân tộc Việt Nam được tập hợp, nhân lên thành sức mạnh vô địch không kẻ thù nào khuất phục nổi.

Trên cương vị Chủ tịch nước, trong thời kỳ đất nước còn chiến tranh với biết bao thiếu thốn và gian khổ, dẫu bộn bề lo toan việc nước, Người vẫn dành thời gian thăm hỏi động viên đến các tổ chức đoàn thể và từng người dân dù họ là cán bộ cấp cao, là chiến sĩ đang chiến đấu ngoài chiến trường, những công nhân, nông dân lao động bình thường. Những tấm Huy chương có chữ ký của Người, những chiếc Huy hiệu mang hình ảnh của Người, hay những lá thư Người khen ngợi được gửi tặng cho những con người dũng cảm đã ghi được chiến công trong nhiệm vụ ở chiến trường diệt giặc ngoại xâm hay những chiến sĩ trên mặt trận diệt giặc dốt, luôn là niềm tự hào và vinh dự lớn lao cho mỗi cán bộ chiến sĩ. Xem lại những món quà Bác đã trao tặng cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trong thời kỳ lịch sử đầy gian khổ nhưng hào hùng của dân tộc mà nay đã trở thành những kỷ vật vô giá và thiêng liêng chúng ta mới thấy hết ý nghĩa, tình cảm của vị Chủ tịch nước dành cho đồng bào mình và hiểu thêm về những giá trị tinh thần vô giá làm nên sức mạnh vô biên chiến thắng mọi kẻ thù của thế hệ cha anh trong thời lịch sử đau thương mà vô cùng anh dũng của dân tộc. Những anh hùng, chiến sĩ thi đua trên các mặt trận sản xuất hay chiến đấu, những chiến sĩ diệt dốt hay những cán bộ cấp cao trong nhiều lĩnh vực, vinh dự được nhận những phần thưởng của Bác Hồ trao tặng.

Đó là những tấm ảnh chân dung có chữ ký của Người và dòng chữ Bác viết “Kháng chiến nhất định thắng lợi” đã nói lên quyết tâm đánh thắng kẻ thù xâm lược của dân tộc. Là những chiếc ca uống nước giản dị mang dòng chữ “Kiên quyết làm tròn nhiệm vụ”, “Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc” mà Bác đã chỉ thị tặng cho bộ đội trong phong trào thi đua toàn quân và các sĩ quan Trung đoàn Trần Cao Vân trước khi xuất quân tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954, hay tặng cho các anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc. Đây là những món quà có ý nghĩa to lớn thể hiện tình cảm, sự quan tâm sâu sắc của Bác Hồ đối với cán bộ, chiến sĩ và đã trở thành những kỷ vật thiêng liêng, động viên và cổ vũ kịp thời tinh thần thi đua chiến đấu giết giặc lập công, thi đua sáng kiến cải tiến kỹ thuật để hoàn thành nhiệm vụ của quân, dân cả nước.

Trong những ngày kháng chiến chống Pháp (1947-1954), Trung ương Đảng và Bác Hồ làm việc tại chiến khu Việt Bắc – Thủ đô gió ngàn, vì công việc, Bác phải thường xuyên băng rừng lội suối, thương Bác, chiến sĩ trong đội bảo vệ đã làm tặng Bác cây gậy bằng mây của rừng Việt Bắc. Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn lúc này là Bí thư Đảng Đoàn, Thứ trưởng Bộ quốc gia giáo dục phải thường xuyên đi lại nhiều, vượt suối vượt đèo vất vả, Bác đã tặng ông cây gậy mây để ông đi lại thuận tiện hơn. Cây gậy mây Bác Hồ tặng thể hiện tình cảm thân thương chân tình, sự quan tâm hết sức gần gũi như người thân trong gia đình, là nguồn động viên lớn với ông trong bước đường công tác. Sau ngày hòa bình lập lại, dù không dùng cây gậy này nữa nhưng ông vẫn gìn giữ cẩn thận cây gậy, coi đây là kỷ vật có ý nghĩa lớn trong cuộc đời ông.

Là chiếc áo bông Người đang mặc trong những ngày đông giá rét của núi rừng Việt Bắc, nhưng khi nghe báo cáo tình hình chiến trường Người đã cởi áo trao lại làm phần thưởng cho đơn vị, tập thể lập nhiều chiến công xuất sắc trên chiến trường Bình Trị Thiên trong kháng chiến chống pháp (Khu ủy khu IV đã quyết định trao phần thưởng cao quý này cho Ban Điệp báo, Ty Công an Bình Trị Thiên – Đơn vị đã lập nhiều chiến công xuất sắc trong phong trào thi đua “Giết giặc lập công” 1949-1950). Chiếc áo như mang theo hơi ấm và cả tình cảm ruột thịt của vị Cha già dân tộc đến với những người con đang ngày đêm đối mặt với khó khăn gian khổ của chiến trường khốc liệt.

Là tấm vải kaki Người trực tiếp trao tặng cho ông Lê Đình Cúc, cán bộ ngành Muối tại Đại hội chiến sĩ thi đua ngành muối toàn quốc, tấm vải được ông may thành chiếc áo đại cán để mặc vào những dịp lễ quan trọng của đất nước. Đây là niềm tự hào vô biên bởi đây là kỷ niệm đẹp đẽ nhất của cuộc đời ông khi ông được gặp Bác Hồ tại Thủ đô yêu dấu, và lời hứa với Bác sẽ luôn cố gắng phấn đấu hoàn thành tốt hơn nữa mọi nhiệm vụ công tác được giao đã theo ông suốt cuộc đời.

Là tấm vải hoa Người gửi tặng ông Quỳnh Zôông, cán bộ của Ban Chống bình miền Tây Thừa Thiên Huế vì đã có thành tích lãnh đạo nhân dân chống lại âm mưu, kế hoạch chiếm đóng và bình định miền núi phía Tây Thừa Thiên Huế của chính quyền Ngô Đình Diệm, tấm vải được ông nâng niu gìn giữ và ông đã dùng để đắp trong những ngày đông  giá rét khi hoạt động trong rừng sâu.

Anh hùng ANun (dân tộc Pakô) là người luôn xung phong đi đầu trong những nhiệm vụ khó khăn, nguy hiểm nhất, ông luôn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà cấp trên giao phó với tinh thần quả cảm, táo bạo và mưu trí, ngoan cường. Thành tích của ông được Bộ Tư lệnh chiến trường và Bộ Quốc phòng tuyên dương. Biết tin, Bác Hồ đã gửi thư khen ngợi, động viên và Người cũng gửi tặng ông chiếc đồng hồ đeo tay và chiếc radio. Vô cùng vinh dự và tự hào, ông coi đây không chỉ là phần thưởng của vị Chủ tịch nước tặng cho riêng ông mà còn thể hiện tình cảm của Người đành cho đồng bào dân tộc ít người ở vùng núi cao Tây Nguyên.

Nữ anh hùng Kăn Lịch là người đã chỉ huy đại đội nữ dân quân đồng bào dân tộc đánh trả nhiều trận càn ác liệt của Mỹ (1965-1968). Sau những ngày được Đảng và Bác Hồ đưa ra chữa bệnh ở Hà Nội, bà được vào thăm Bác và xin phép Bác trở về quê hương chiến đấu. Khi bà tỏ ước nguyện luôn được nghe tiếng nói Bác Hồ, Người vô cùng xúc động, thể theo ước nguyện của bà, Hồ Chủ tịch đã dặn dò, động viên và tặng cho bà Kăn Lịch chiếc Radio mà hàng ngày Người vẫn dùng để nghe tin tức trong nước và thế giới. Nghe lời Bác dặn, trở về quê hương chiến đấu, bà đã dùng chiếc radio để tuyên truyền vận động bà con đồng bào ra sức góp sức người sức của cho cách mạng, hăng hái tham gia chiến đấu giải phóng và bảo vệ quê hương.

Những chiếc khăn tay, vòng đeo cổ, những chiếc xoong nhôm mà Người đã tặng cho ông Quỳnh Tếu và nhiều cán bộ của Đảng ủy miền Tây Thừa Thiên Huế được vinh dự ra thăm miền Bắc và được gặp Bác Hồ, được Người tặng những món quà phù hợp phong tục tập quán và nhu cầu trong công tác và cuộc sống ở miền núi cao Tây nguyên. Trở về quê hương chiến đấu, những món quà quý trở thành niềm tin và nguồn động viên lớn giúp ông cũng như nhiều cán bộ khác vượt qua những thiếu thốn, hiểm nguy của chiến tranh để làm tròn nhiệm vụ mà Đảng giao phó. Trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, để tránh những trận càn quét của địch, ông đã dùng ni lông chống tăng gói kỹ quà Bác tặng và đem chôn dưới gốc cây trong rừng sâu. Những kỷ vật Bác tặng trở thành tài sản “Gia bảo” ông tặng lại cho vợ con trước khi ông từ giã cõi đời.

Là khẩu súng lục K59 Người tặng cho quân và dân Thừa Thiên Huế mà ông Hồ Đống, cán bộ lãnh đạo của tỉnh Thừa Thiên đã vinh dự được đại diện nhận do Bác tặng trong dịp ra Trung ương họp triển khai Nghị quyết 15 với lời dặn dò: Phải cố gắng chiến đấu thật anh dũng kiên cường. Đây là món quà vô cùng quý giá bởi trong điều kiện tình hình chiến tranh cách mạng đã chuyển biến nhưng vũ khí còn thiếu thốn, khẩu súng Bác tặng cùng với những lời dặn dò của Người là nguồn cổ vũ lớn lao, đồng thời thể hiện ý chí và quyết tâm sắt đá của toàn Đảng, toàn dân quyết đánh đuổi kẻ thù xâm lược. Là bộ áo quần nữ thanh niên xung phong Người gửi tặng lực lượng nữ thanh niên xung phong đang ngày đêm tham gia mở và bảo vệ tuyến đường huyết mạch Trường Sơn, bảo đảm sức người, sức của cho công cuộc giải phóng miền Nam.

kỷ vạt 2
Đôi dép cao su của Bác

Nói về những kỷ vật Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng quân và dân khắp mọi miền Tổ quốc, không thể không nhắc đến những dụng cụ sản xuất và đồ dùng sinh hoạt mà Người gửi tặng cho đồng bào các dân tộc miền Tây Trị Thiên. Khi chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm đàn áp và bao vây, cô lập đồng bào các dân tộc miền Tây Trị Thiên hòng dập tắt tinh thần đấu tranh cách mạng và tình đoàn kết giữa miền núi và miền xuôi. Đời sống của đồng bào vô cùng khó khăn, thiếu thốn. Biết tin, Người cùng Trung ương Đảng quyết định gửi gạo, muối, vải, thuốc men và dụng cụ sản xuất như cuốc, rừu, rựa … vào cho đồng bào. Đây là chủ trương lớn của Đảng, Chính phủ và Bác Hồ đối với đồng bào Tây Nguyên nhằm giúp đồng bào ổn định đời sống và chống lại âm mưu phá hoại, chia cắt của kẻ thù. Ơn Đảng và Bác Hồ, đồng bào các dân tộc miền Tây Trị Thiên càng thêm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và đã tự nguyện xin được lấy họ của Bác Hồ làm họ của mình.

Còn biết bao những kỷ vật Bác đã tặng cho cán bộ, chiến sĩ và đồng bào trên khắp mọi miền Tổ quốc, dù đó là những tấm huân chương, hay những chiếc khăn tay … là đồ dùng trong sinh hoạt bình thường đều mang ý nghĩa tinh thần lớn lao thể hiện tình cảm và quan tâm của vị Chủ tịch nước đối với đồng bào mình mà có lẽ khó có vị lãnh tụ nào trên thế giới làm được. Không chỉ thế, những kỷ vật Bác tặng năm nào còn gợi cho các thế hệ mai sau hiểu được rằng dù trong gian khó và hiểm nguy, các thế hệ cha anh đi trước với nghị lực và tình yêu nước đã làm nên những chiến công chói lọi để bảo vệ giang sơn Tổ quốc Việt Nam. Đây chính là nguồn lực tinh thần và là niềm tự hào tiếp thêm sức mạnh cho các thế hệ mai sau tiếp tục xây dựng và bảo vệ giang sơn gấm vóc Việt Nam.

Lê Thanh Hương
Theo Bảo tàng Hồ Chí Minh Chi nhánh Thừa Thiên Huế
Thu Hiền
(st)
bqllang.gov.vn

Hiểu đúng tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định con đường cách mạng mà Người đã chọn

Chủ tịch Hồ Chí Minh

Hiểu đúng tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định con đường cách mạng mà Người và dân tộc ta đã lựa chọn có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong cuộc đấu tranh để bảo vệ và xây dựng đất nước theo con đường XHCN hiện nay.

Từ năm 1930 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại. Đó là, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử năm 1954, toàn thắng mùa Xuân 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế; thắng lợi của công cuộc đổi mới, tiến hành CNH,HĐH và hội nhập quốc tế, tiếp tục đưa đất nước từng bước quá độ lên CNXH. Thực tiễn và thắng lợi của sự nghiệp cách mạng hơn 80 năm qua đã khẳng định: “tư tưởng vĩ đại của Người, cùng với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, mãi mãi là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta,…”1

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, bên cạnh đa số người dân tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới của dân tộc, vẫn có một số ít người, trong đó có cả những người vốn là cán bộ của Đảng và Nhà nước, nhà trí thức ngoài Đảng…, đã có những bài viết, việc làm thể hiện những quan điểm lệch lạc về lý luận. Cùng với đó, kẻ thù các loại của CNXH đã không ngớt đưa ra những luận điểm xuyên tạc các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Có luận điểm cho rằng, ngày nay chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã lỗi thời; bởi đó là sản phẩm của thế kỷ XIX, cách đây đã hơn 150 năm, nên không thể là kim chỉ nam cho hành động của chúng ta trong thời đại mới. Ngay trong hàng ngũ những người cộng sản, cũng có một số ít muốn phủ định con đường XHCN; cho rằng CNXH chỉ là “bóng ma” trong lịch sử, đi theo con đường XHCN là mơ hồ, ảo tưởng về một chế độ xã hội tốt đẹp; rằng học thuyết Mác không có tính phổ biến nên bị phá sản hoàn toàn là tất yếu; CNXH “đẹp nhưng không thực”, nếu gọi là CNXH thì chỉ là loại CNXH không tưởng, không phải là CNXH khoa học, v.v.

Để biết được ý kiến đó đúng hay sai, phải tìm hiểu CNXH không tưởng là như thế nào? CNXH khoa học của C. Mác và Ph. Ăng-ghen khác gì so với CNXH không tưởng? Vì sao Đảng ta vẫn kiên trì lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng?

CNXH không tưởng có nguồn gốc tiền sử xã hội trong quá khứ. Ở phương Đông là sự mong muốn có một thế giới đại đồng, người thân ái với người. Ở phương Tây là mơ ước về một xã hội không có lao động cưỡng bức, không có cảnh nghèo khổ. Thế nhưng, những mong muốn ấy lại không biết làm bằng cách nào. Cũng có những ý kiến nêu ra cách làm nhưng không có giá trị thực thi. CNXH không tưởng với tư cách là một học thuyết, ra đời vào đầu thế kỷ XIX, thời đại cách mạng tư sản. Đại biểu cho những nhà XHCN không tưởng là Xanh-xi-mông, Phu-ri-ê, Ô-oen. C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã kế thừa và hoàn chỉnh một cách thiên tài luận thuyết của ba vị này và hiểu được cách làm của họ sẽ không đem lại kết quả, nên coi đó chỉ là CNXH không tưởng.

CNXH không tưởng do Tô-mát Mo-rơ (1478 – 1535), người Anh đề xuất; theo tiếng Pháp là socialisme utopique, tên của xứ U-tô-pi. Tô-mát Mo-rơ mong muốn có một xã hội được quản lý dân chủ, bình đẳng trong lao động, không có đối lập giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động trí óc và chân tay; con người làm việc 6 giờ một ngày, thời gian còn lại dành cho hoạt động khoa học, nghệ thuật; nhân cách được phát triển toàn diện, kết hợp giáo dục lý luận với lao động. Khi Tô-mát Mo-rơ hư cấu về chuyến du lịch đến xứ U-tô-pi (nghĩa đen là “nơi không có thật”, được viết trong cuốn sách vàng nói về chế độ nhà nước tốt đẹp nhất), ông đã bị xử tử theo lệnh của nhà Vua.

CNXH khoa học của C. Mác và Ph. Ăng-ghen khác hẳn với CNXH không tưởng. Lý luận về CNXH khoa học được C. Mác và Ph. Ăng-ghen nhiều năm nghiên cứu, đặc biệt là nghiên cứu về sự ra đời của giai cấp và cuộc đấu tranh giai cấp trong lịch sử tiến hóa của xã hội loài người; về CNTB với sự bóc lột giai cấp công nhân về giá trị thặng dư; về nền sản xuất công nghiệp hiện đại TBCN, trong đó máy móc là công cụ sản xuất tập thể được giai cấp vô sản công nghiệp – một lực lượng lao động tập thể sử dụng và nền công nghiệp hiện đại càng phát triển thì giai cấp vô sản công nghiệp ngày càng đông; về cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản,v.v. Từ đó, đi đến kết luận rằng, theo quy luật khách quan của sự phát triển lịch sử, chính giai cấp vô sản công nghiệp hiện đại là giai cấp có sứ mệnh lịch sử đào huyệt chôn CNTB, xây dựng thành công xã hội XHCN. Để thực hiện sứ mệnh lịch sử đó, giai cấp vô sản phải có đội tiên phong của mình là Đảng Cộng sản, được trang bị lý luận cách mạng để lãnh đạo công nhân, nhân dân lao động đấu tranh giành chính quyền về tay mình. Chính quyền cách mạng phải được xây dựng đủ mạnh để làm công cụ cho việc xóa bỏ chế độ xã hội TBCN đầy thảm họa, xây dựng chế độ xã hội mới – xã hội XHCN tốt đẹp hơn. Từ kinh nghiệm thành công và chưa thành công của quá trình xây dựng CNXH; từ những tri thức và kinh nghiệm mới mà nhân loại đã tạo ra trong những thể chế chính trị – xã hội khác nhau, trong hiện thực lịch sử và thời đại, những người cộng sản có khả năng đổi mới nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH. Điều đó đã được thực tế khẳng định: CNXH ở Việt Nam, Trung Quốc và một số nước khác không chỉ thoát khỏi khủng hoảng, mà còn có bước phát triển mạnh mẽ cả trong hiện tại và tương lai.

Hiện nay, trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ lên CNXH, những thách thức và nguy cơ đối với sự tồn tại và phát triển của CNXH hiện thực là rất lớn. Sự phát triển của khoa học và công nghệ ngày nay đã tạo điều kiện để CNTB tự điều chỉnh, thích nghi, kéo dài sự tồn tại và tiếp tục phát triển. Bên cạnh đó, công cuộc đổi mới của đất nước ta có cả thành tựu và khuyết điểm, trong đó thành tựu là cơ bản, là mặt chủ yếu của sự phát triển; còn khuyết điểm không phải từ bản chất của CNXH và có những nguyên nhân khách quan, song chủ quan là chủ yếu. Trước tình hình đó, một số người do phai nhạt lý tưởng, thoái hóa biến chất, cơ hội về chính trị, đã đưa ra một số quan điểm làm phân tâm xã hội, tác động tiêu cực tới quá trình đổi mới và phát triển đất nước theo định hướng XHCN. Điều đó đã làm cho một số người vốn tôn sùng CNTB, càng giảm niềm tin đối với CNXH; thậm chí, có người còn nuối tiếc: giá nước ta không đi theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, không đi theo con đường XHCN, không tiến hành hai cuộc chiến tranh chống xâm lược, thì dân tộc ta đã tiến ngang hàng các cường quốc. Họ cố làm ngơ và cho rằng lựa chọn con đường XHCN ở nước ta có gì chưa ổn, trái với xu thế phát triển của thời đại hiện nay, không phù hợp với tình hình cụ thể ở Việt Nam. Họ công khai kiến nghị Đảng ta không lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin làm nền tảng tư tưởng nữa, với lập luận rằng: Bác Hồ đã vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào việc giải quyết đúng đắn các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, những bài viết của Người rất dễ hiểu; như vậy thì chỉ nên lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng là đủ, không cần phải nêu thêm chủ nghĩa Mác – Lê-nin! v.v.

Những luận điệu trên là hoàn toàn phi lý và đầy mâu thuẫn. Bởi lẽ, chủ nghĩa Mác – Lê-nin là một hệ thống lý luận hoàn chỉnh, sâu rộng, có ý nghĩa cách mạng và khoa học. Bác Hồ đã nghiên cứu vận dụng, Đảng ta cũng phải tiếp tục nghiên cứu vận dụng, vì công cuộc cách mạng luôn đặt ra những vấn đề mới.Đồng thời, xuất phát từ những bài học rút ra trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, cũng như trước yêu cầu bức xúc của lịch sử, Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân tộc Việt Nam đã nhận thức và hành động theo quy luật khách quan; đó là: “Ngọn đuốc lý luận Mác – Lê-nin và kinh nghiệm Cách mạng Tháng Mười soi sáng con đường cách mạng Việt Nam. Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản (CMVS)”2. Con đường cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào điều kiện cụ thể ở nước ta. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin là một học thuyết khoa học và cách mạng. Đó không chỉ là học thuyết nhận thức và giải thích thế giới một cách đúng đắn, mà còn là một học thuyết cải tạo thế giới. Vận mệnh của nó gắn liền với vận mệnh của giai cấp công nhân hiện đại, của nhân loại cần lao và tiến bộ trong cuộc đấu tranh vì sự tiến bộ, công bằng xã hội. Nó vạch ra những nguyên lý cơ bản nhất, chung nhất về con đường, về hình thức, phương pháp, lực lượng đấu tranh cách mạng để xóa bỏ áp bức, bất công. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, một khi giai cấp công nhân đã nắm được lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, thì cuộc đấu tranh của họ chống chủ nghĩa đế quốc và giai cấp thống trị phản động trong nước sẽ chuyển từ tự phát sang tự giác. Vì vậy, chỉ có con đường CMVS mới là con đường duy nhất đúng cho các dân tộc bị áp bức, trong đó có Việt Nam.

Ai đó nói rằng, Bác Hồ là người cộng sản nhưng luôn vì lợi ích dân tộc, không theo lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, nên đã tập hợp được khối đại đoàn kết toàn dân, đã giành được thắng lợi to lớn cho cách mạng. Đúng là thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thành công của 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược là do Bác Hồ và Đảng ta đã phát huy được cao độ lòng yêu nước, xây dựng được khối đoàn kết toàn dân. Nhưng nếu cho rằng, Bác Hồ chỉ đứng trên lập trường dân tộc, không theo lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác – Lê-nin là hoàn toàn không đúng. Bởi lẽ, trong con đường cách mạng Việt Nam, vấn đề cứu nước, giải phóng dân tộc, giành độc lập luôn gắn chặt với xác lập quyền làm chủ của nhân dân; đó là tính giai cấp. Vấn đề cứu nước, giải phóng dân tộc, giành độc lập khi được gắn với vấn đề xác lập quyền làm chủ của nhân dân sẽ nhận rõ được tính giai cấp. Giành độc lập để Vua làm chủ, để giai cấp tư sản làm chủ hay để nhân dân lao động làm chủ; rõ ràng, về bản chất giai cấp là khác nhau.Trong cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, Bác Hồ cùng với Đảng luôn giương cao ngọn cờ yêu nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân dựa trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân và nông dân, nên thành lập được mặt trận dân tộc vừa rộng rãi, vừa vững chắc. Phất cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, nhưng Đảng và Bác Hồ luôn nắm vững mục tiêu giành độc lập để đi lên CNXH, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.

Mặt khác, con đường CMVS được Bác Hồ tìm ra vào lúc ở Việt Nam đã có giai cấp công nhân công nghiệp. Giai cấp công nhân lúc này đã tham gia những cuộc đấu tranh yêu nước, nhưng chưa có ý thức về sự đối lập về quyền lợi giữa giai cấp công nhân với toàn bộ chế độ TBCN, trước mắt là chế độ thuộc địa của tư bản thực dân Pháp và tay sai. Tìm ra con đường CMVS với việc xây dựng được Đảng Cộng Sản Việt Nam, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã đưa giai cấp công nhân Việt Nam bước lên vũ đài chính trị, thực hiện sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng của mình, đồng thời giải quyết được cuộc khủng hoảng đường lối cứu nước vào những năm 20 của thế kỷ XX.

Con đường cách mạng theo CNXH khoa học đã được Bác Hồ vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế ở Việt Nam. Đó là con đường giành độc lập để nhân dân làm chủ, nhằm chăm lo cuộc sống tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Theo con đường đó, cách mạng Việt Nam đã giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Rõ ràng, rất không đúng khi cho rằng: đi theo con đường XHCN ở nước ta như “đi vào bụi rậm”; và rằng, ở Việt Nam đi lên CNXH là duy ý chí, là không tưởng.

Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo 25 năm qua đã đem lại sự phát triển toàn diện cho đất nước, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Đó là một thực tế không thể xuyên tạc được. Vậy mà gần đây, các bài phát biểu, các ấn phẩm đa dạng của một số cá nhân vẫn chứa đựng những quan điểm lệch lạc, hằn học với những gì đang diễn ra trên đất nước Việt Nam… Rõ ràng, đó là những biểu hiện của sự thoái hóa biến chất, thụt lùi về trình độ tư duy khoa học và xen vào đó là chủ nghĩa cá nhân vị kỷ. Về lý luận, họ đã khởi xướng cho sự hoài nghi các giá trị của chủ nghĩa Mác – Lê-nin; đối lập chủ nghĩa Mác – Lê-nin với tư tưởng Hồ Chí Minh. Về thực tiễn, họ phủ nhận những thành tựu của công cuộc đổi mới, tính ưu việt, hợp quy luật của CNXH. Một số người đã công khai chia tay với CNXH; lớn tiếng kêu gọi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập,v.v. Tất cả các nhận thức và hành vi trên cần phải kiên quyết đấu tranh, bác bỏ; vì nó đi ngược lại quy luật tất yếu của lịch sử và tương lai rực rỡ của dân tộc Việt Nam.

TRẦN TRỌNG TÂN
tapchiqptd.vn

1 – ĐCSVN –Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 6.

2 – Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 9, Nxb CTQG, H. 2000, tr. 314.

Dưới sự bảo hộ của… (17-8-1922)

Khi làm công sứ tỉnh Thái Nguyên (Bắc Kỳ), vì mục đích tống tiền, Đáclơ đã bắt bớ, giam cầm và kết án vô cớ người bản xứ. Hắn đã giáng những cú đấm và những trận đòn roi vào những người bản xứ bị gọi đi lính “tình nguyện”. Hắn đối xử tàn ác với những người lính lệ bản xứ, nắm tóc họ lôi xềnh xệch, đập đầu họ vào tường nhà của hắn.

Hắn đâm lưỡi kiếm vào những người tù khiến họ bất tỉnh nhân sự.

Viên công sứ Đáclơ đánh một người bản xứ bằng roi sắt và làm gãy hai ngón tay của người này. Hắn dùng roi đánh túi bụi một viên đội người bản xứ. Hắn chôn đến tận cổ những người lính lệ bản xứ nào không làm vừa lòng và chỉ cho đào họ lên khi họ đã gần chết. Hắn dùng gậy đâm lòi mắt một viên đội người bản xứ khác.

Cuối cùng cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên đã bùng nổ chống lại sự tàn ác của hắn và máu người bản xứ lẫn máu người Pháp đã đổ. Bao nhiêu máu đã chảy, bao nhiêu nhà đã bị phá, và bao nhiêu người vô tội đã bị chặt đầu.

Để thưởng những công trạng đáng khen ấy của viên công sứ Đáclơ, người ta phong hắn chức chánh giám khảo các trường lớn ở Hà Nội và bổ nhiệm hắn làm đổng lý vǎn phòng của viên thống sứ Bắc Kỳ.

Báo L’Humanité và Hội Nhân quyền và Dân quyền đã phản đối.

Nếu viên sĩ quan Đức Phôn Sephen bị tù 20 nǎm khổ sai vì đã tàn sát người ở Rôngcơ thì viên công sứ Đáclơ đáng phải tù ít nhất là gấp ba lần 20 nǎm khổ sai vì tội ác của hắn.

Nhưng các bạn có biết số phận của hắn ta như thế nào không?

Hắn đã trở thành uỷ viên Hội đồng thành phố Sài Gòn, nghĩa là người cộng tác trực tiếp của các ngài Xarô và Utơrây và làm chủ vận mệnh những người nhà quê (1) ở Sài Gòn!

Hạnh phúc thay xứ Nam Kỳ!!

NGUYỄN ÁI QUỐC

MỘT VẤN ĐỀ

Có thật người Pháp tên là C. phục vụ trong Sở mật thám của viên toàn quyền Đông Dương không ? Có thật cái tên C. ấy được phái đi “công cán” ở Phú Xuyên đã buộc những người An Nam ở đó phải gọi hắn là Quan lớn (1) , và đánh đập tàn nhẫn những ai chậm tuân theo lệnh hắn không? Có thật cũng chính tên C. ấy đã đánh người lính lệ (1) không? ở cái thiên đường Đông Dương, người ta được phép và có thể làm bất cứ gì, có phải như thế không, Ngài toàn quyền Lông?

N.A.Q

Báo L’Humanité, ngày 17-8-1922.
cpv.org.vn

——————————–

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

Chủ nghĩa cộng sản và thanh niên Trung Quốc (19-8-1922)

Phong trào thanh niên xã hội chủ nghĩa mới bắt đầu ở Trung Quốc từ nǎm 1920. Nhưng từ đó và chỉ có từ đó thì những thanh niên mácxít, những thanh niên vô chính phủ chủ nghĩa, những nghiệp đoàn xã hội chủ nghĩa và những công đoàn mới gia nhập các hội liên hiệp. Và chỉ từ tháng 11 nǎm 1921, những thanh niên cộng sản mới thành lập được các tổ chức độc lập của họ. 5 nghìn thanh niên đã tập hợp dưới ngọn cờ búa liềm. Hồi tháng 5 nǎm 1922, họ triệu tập Đại hội toàn Trung Quốc. 16 diễn giả đã lên phát biểu trên diễn đàn Đại hội. Họ đã bầu ra một Ban chấp hành gồm 25 đại biểu, thay mặt cho 15 tổ chức, và 2 đại biểu thay mặt cho các thanh niên ở ngoài nước. Họ thông qua một bản điều lệ gồm 35 điểm.

Đại hội kêu gọi các công nhân và lao động toàn Trung Quốc, các sinh viên, các thanh niên nam nữ, tất cả những người có tư tưởng độc lập, các binh lính cũng như cảnh sát.

Cương lĩnh của tổ chức đó gồm có 4 phần sau đây:

A. Về chính trị

1. Đấu tranh giai cấp.

2. Quyền đầu phiếu.

3. Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do bãi công.

B. Về kinh tế

1. Ngày lao động (6 giờ cho những thanh niên 18 tuổi trở

xuống, 8 giờ cho những người đã đủ tuổi thanh niên). 2. Tuần lễ nghỉ một ngày. 3. Bỏ chế độ hợp đồng cá nhân ký giữa chủ và thợ. 4. Bảo hộ lao động cho công nhân. 5. Lao động ngang nhau thì trả lương ngang nhau.

C. Về giáo dục

1. Giáo dục xã hội ở nhà nước: dùng các cuộc nói chuyện, các báo chí để tuyên truyền những tư tưởng cộng sản chủ nghĩa, 2. Giáo dục chính trị bằng các cuộc nói chuyện, các sách báo, và các cuộc thảo luận về đấu tranh giai cấp.

D. Về việc giáo dục ở nhà trường

Sửa đổi chương trình giáo dục, giáo dục phổ thông bắt buộc, v.v..

Đại hội kết thúc bằng bài “Quốc tế ca”.

NGUYỄN ÁI QUỐC

T.B. Mãi khi tới Pari, chúng tôi mới nhận được số báo Tiền phong đầu tiên, viết bằng chữ Trung Quốc.

Báo L’Humanité, ngày 19-8-1922.
cpv.org.vn

“Chủ nghĩa Vida” còn đang tiếp diễn (7-9-1922)

Hàng nghìn dân bản xứ bị cưỡng bức đẩy vào quân đội để bảo vệ những két bạc cho những kẻ bóc lột mình.

Chúng ta nhớ rằng, để buộc những người châu Phi thực hiện “nghĩa vụ của mình”, người ta đã đốt nhà cướp của của họ và sau đó, những nạn nhân ấy bị bắt đi lính cho đội quân tiên phong của nền vǎn minh.

“Việc dạy dỗ” người bản xứ bằng những cú đá đít và đánh đập đã trở thành thói quen của những vị trứ danh của chúng ta.

Anh Nahông bất hạnh, “người bị giết hai lần” – lần đầu do đại uý Viđa và sau đó, là do bác sĩ, người được lệnh mổ xác và xác định nguyên nhân cái chết của anh, người đã không ngần ngại đánh cắp và giấu di hài của người chết đó để lấp liếm cho kẻ giết người, – than ôi, không phải là nạn nhân đầu tiên của chủ nghĩa quân phiệt thực dân! Một bạn đồng nghiệp của chúng tôi ở thuộc địa cho biết về một trường hợp bi thảm khác.

“Lần này, – anh ấy nói, – sự việc xảy ra ở Medông Carê, trong trung đoàn bộ binh thứ 5. Nạn nhân là một người lính trẻ tên là Terie, sinh quán ở Tênét, bị gọi ra lính nǎm 1921. Cái chết của anh ta thật là đặc biệt bi đát. Ngày mồng 5 tháng 8, Terie đến quân y trung đoàn xin thuốc tẩy. Anh nhận thuốc, hay nói cho đúng hơn, anh đã nhận cái mà anh cho là thuốc tẩy. Người lính uống thuốc và sau vài giờ thì chết một cách đau đớn khủng khiếp. Ông Terie, cha của anh ấy nhận được một bức điện ngắn ngủi về cái chết của con trai báo rằng lễ an táng sẽ được tổ chức vào ngày hôm sau. Điên dại vì đau đớn, người cha đáng thương vội vã đến Angiê, đến trung đoàn bộ binh thứ 5 đóng ở Medông Carê, và tại đây, ông biết xác đứa con trai duy nhất của ông đang ở trong quân y viện Maiô. Làm thế nào mà nó lại rơi vào đấy? Tại sao người ta lại đưa nó về Maiô? Phải chǎng là vì cần phải tìm ra nguyên nhân thực sự của cái chết và mô tả nó như một cái chết đột ngột trên đường hành quân?

Tại quân y viện, khi người cha bất hạnh đề nghị được phép nhìn xác con trai thì người ta bảo ông ta hãy đợi. Sau đó, một vị thiếu tá xuất hiện và nói rằng việc phẫu nghiệm đã được tiến hành, nhưng nguyên nhân của cái chết không rõ và ông ta không thể cho phép người cha nhìn thấy xác người con trai của ông.

Theo những tin tức cuối cùng thì người ta biết rằng khi ông Terie yêu cầu viên chỉ huy trung đoàn bộ binh thứ 5 giải thích, ông ta được trả lời như sau: “Con trai của ông chết vì bị ngộ độc”.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Humanité, ngày 7-9-1922.
cpv.org.vn

———————–

In trong sách: Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói chọn lọc, tiếng Nga, Nxb. Chính trị quốc gia, Mátxcơva, 1959, tr. 28-29. Dịch theo bài in trong sách Những bài viết và nói chọn lọc.

Phòng kiểm duyệt ở Đông Dương (28-9-1922)

Báo L’Humanité, số ra ngày 13 tháng 9 có cho biết ở Mađagátxca vẫn còn chế độ kiểm duyệt thư từ nghiêm khắc, mặc dù bốn nǎm đã qua sau “cuộc chiến tranh vì công lý”.

Đông Dương dưới quyền cai trị của viên toàn quyền Lông cũng chẳng khác gì Mađagátxca dưới sự thống trị của viên toàn quyền Gácbi: cũng những bất công, những việc lộng quyền, những vụ tai tiếng, những điều ô nhục như thế.

Chúng tôi được biết ở Sở Bưu chính và Sở Mật thám Đông Dương được lệnh giữ những gói và thư gửi cho báo Le Paria, xuất bản ở Pari, cũng như những thư tín do báo này gửi về Đông Dương.

Không phải là ngẫu nhiên mà hành vi lạm quyền này lại xảy ra đúng lúc viên quan cai trị xảo trá Bôđoanh và người trợ lý xuất sắc của hắn, con rể viên Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Anbe Xarô, đến Sài Gòn.

Ngoài ra, chúng ta vấp phải luật xâm phạm quyền bất khả xâm phạm thư riêng, và các viên cai trị tiếp tục giữ và lục soát thư riêng.

Như thế là người bản xứ bị giết chóc, cướp phá và không được hưởng những quyền sơ đẳng nhất: cả đến quyền thư tín! Sự vi phạm tự do cá nhân này chứng minh thêm chính sách đê tiện của bọn mật thám và chính sách lạm quyền đang thống trị ở những thuộc địa chúng ta.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Humanité, ngày 28-9-1922.
cpv.org.vn

Đồng tâm nhất trí (29-9-1922)

– Đi chợ nào đấy, anh Hai?

– Đi chợ Đông. Thế còn anh, anh Ba?

– Tôi cũng vậy. Thế có món hàng gì quý trong đôi thúng bảnh ấy thế?

– Vàng mã cúng ông vải ạ. Còn anh, anh có cái gì hay hay cho khách hàng nào?

– Trầu non để làm thơm và để nhuộm hồng miệng xinh của các chị chàng đẹp đấy.

Thế rồi hai anh bán hàng bặt im. Mặt trời đứng bóng chiếu ướt đẫm những bắp tay bắp chân lực lưỡng gần như để trần của hai anh. Bốn chiếc thúng nặng nề đung đưa ở đầu hai đòn gánh tre đặt ngang trên vai cháy nắng. Bụi cuốn lên quanh bước chân thoǎn thoắt thành một thứ màn sương, làm cho mọi cử động của hai anh mờ ảo và nhìn xa lại còn có vẻ mỹ thuật là khác.

– Nghe này, người anh em! – Ba nói.

– Tai tôi đang lắng nghe lời anh dạy – Hai đáp.

– Hai ta cùng đi một chợ này, theo cùng một con đường này, lại có cùng một mục đích – là bán hết hàng, cùng một chí hướng – là làm ǎn lương thiện kiếm miếng cơm. Phải thế không nào?

– Anh nói muôn nghìn lần đúng.

– Thế có muốn hai ta kết làm anh em không ? Có muốn hai ta cùng nhau giao ước thắt tình hữu ái, và, ngay từ hôm nay, khuyên bảo lẫn nhau, thấy đây làm gì thì đó làm theo, mà đó đã bảo gì thì đây cũng làm y, nói tóm lại, là giữa hai ta có sự đồng tâm nhất trí.

– Anh dạy thật là chí lý, xin vâng theo.

– Thế thì, nào! chú mày, đường còn xa, chúng ta hãy thay phiên nhau hát, cho đôi cánh bổng trầm nén cơn mệt mỏi nhé!

– Ông anh hát trước đi!

Kon-mèo trèo lên cây CAU
Hỏi thǎm Kon – chuột đi ĐÂU vắng nhà?

Thưa rằng đi chợ đường XA
Mua đồ vật liệu giỗ CHA Kon – mèo (1) .

– Khôn ngoan hơn cường bạo, kẻ yếu thì chỉ có cách đó để tự vệ. Hai nói ra vẻ hiền triết lắm. Rồi, giọng u sầu, anh ngân nga:

Trông lên hòn núi THIÊN THAI
Thấy bầy chim quạ ǎn XOÀI chín cây
2)

– Bài chú hát sao nghe buồn quá! Nhưng mà sự thật là thế.

Dẫu ta cũng cứ thấy cái giống chim chóc (1) biếng lười, nó chẳng chịu làm lụng gì cả, chuyên bòn của người khác làm ra mà ǎn. Mà ơ này! Dòng sông có cát mịn, có làn nước trong veo, đây rồi! Nhớ nhúng đôi thúng xuống cho hàng thêm tươi tốt lúc qua sông.

Một lời đã hứa, Hai, anh bán đồ giấy, làm theo không chối cãi.

Qua khỏi con sông, anh bảo Ba:

– Ánh sáng là mẹ của mọi sự tốt lành, mà mặt trời thì lại là cha của ánh sáng. Vậy, anh à! ta hãy phơi hàng một lát dưới ánh mặt trời tốt lành cho hàng lên màu, khách mua thêm hài lòng, ta bán được giá hời. Vừa nói, Hai vừa bày chỗ hàng bằng giấy bồi của mình lên ven đường nóng bỏng, rồi đến nghỉ dưới bóng cây.

Một lời đã hứa, Ba, anh bán trầu không, làm theo không chối cãi.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Humanité, ngày 29-9-1922.
cpv.org.vn

——————————-

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Nǎm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn Ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đǎng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước.

Nhân đạo thực dân (1-9-1922)

Chuyện xảy ra ở Đông Dương và cũng chưa lâu hơn cái hồi có cuộc chiến tranh nhờ trời ban cho vì công lý và nhân quyền. Chính bằng những cách ấy mà “chính quyền Pháp đã có thể du nhập vào đầu óc nhân dân các nước cái khái niệm có một nền vǎn minh khác với nền vǎn minh Trung Quốc đã ngưng trệ từ mấy thế kỷ nay rồi”. Chính bằng những cách ấy mà các toà án quân sự “đàn áp những phong trào nổi dậy để nêu gương nghiêm trị”. Sau khi ca ngợi những cuộc đàn áp đẫm máu bằng những lời lẽ như vậy, bạn đồng nghiệp chúng tôi, tờ Sciences et Voyages đã thật thà thú nhận “ở bên đó thì cũng như ở trên đất Pháp, bọn bất lương vẫn còn quá đông, pháp lý vẫn cần phải nghiêm trị”.

Ấy vậy mà chúng tôi cho đến bây giờ, vẫn ngây thơ tin rằng ở Pháp, chỉ có rặt những con người được khai hoá mà hễ ra khỏi nhà là tức khắc trở thành những con người đi khai hoá! Thêm nữa, theo cái lôgích đơn giản nhất, người ta không thể, cũng không nên cho người khác cái mà mình không có, nhất lại là cái vǎn minh.

Để xí xoá cái thói hèn mạt giết người ta để dạy cho họ “biết cách sống”, bạn đồng nghiệp lớn của chúng tôi còn nói rằng, cần phải đánh vào dư luận cho nó giật mình kinh sợ…

Do vậy, thỉnh thoảng lại thấy xuất hiện cái kiểu hình pháp đặc biệt là các uỷ ban ngoại lệ hay toà án quân sự, mà bộ máy bi thảm và quyết đoán như vậy là cần thiết. Không có gì là hà khắc, là tàn bạo cả. Đúng thế. Chặt đầu người ta hoặc đem ra bắn thì có gì là hà khắc, là tàn bạo. Là hoàn toàn nhân từ mà. Nhưng nếu tụi “bôsơ” cũng ban bố những cách đối xử “nhân từ” như thế với anh em Andátxơ và Loren (1) của chúng ta, thì bạn sẽ nói sao nào, hỡi đồng nghiệp thân mến? Vốn thông thạo nhiều điều lý thú, bạn đồng nghiệp cho chúng ta biết nhiều việc, chẳng hạn cái thứ bậc lễ nghi và phức tạp trong các vụ giết người hợp pháp này: “lệ đóng cọc (2) và bắn 12 viên của tiểu đội hành hình chỉ dành riêng cho tội nhân là quân nhân hay kẻ cướp bị bắt có vũ khí trong tay. Khi ấy hầu như bao giờ cũng hành hình nhiều người một lúc và không hiếm trường hợp có bốn, sáu, thậm chí mười người gục xuống cùng một lúc dưới cùng một loạt đạn. Những tiểu đội hành hình có lính hỗn hợp, nghĩa là có sáu lính bản xứ dàn ở hàng đầu và sáu lính hoặc hiến binh người Pháp ở hàng sau”. à, phải nhấn điểm cuối cùng này nữa là người ta đã dạy cho người bản xứ biết thế nào là Bác ái, cái đức quý đó vốn là nền tảng của mọi chế độ cộng hoà, được khắc bằng chữ lớn trên khắp các công trình kỷ niệm và trên tất cả các cửa … nhà lao. Còn về cái định nghĩa thế nào là ǎn cướp và những cuộc hành quyết tập thể thì xin xem mấy dòng sau của một sĩ quan thuộc địa, ông F.B., ông này về “học thức” có thể kém, nhưng chắc chắn nhiều chân tình và vô tư hơn: với cách giả định giống y như người Anh coi những người Bôe (3) kiên quyết kháng chiến là những tên phản loạn, ngoài vòng pháp luật, chúng ta coi những nhà ái quốc An Nam là những tên cướp.

“Người ta đã làm tất cả để vũ trang cho người An Nam giết hại nhau và xúi giục họ phản bội. Người ta tuyên bố các thôn xã phải chịu trách nhiệm về những chuyện rối ren xảy ra trong địa hạt mình. Họ phải dẫn đường cho quân đội ta, phải nộp mạng những người nổi dậy. Ai không tuân lệnh thì bị coi là kẻ phạm tội . Làng nào dung nạp một người yêu nước là bị xử án. Muốn điều tra, có một cách, bao giờ cũng cứ dùng mãi một cách đơn giản, là: chất vấn lý trưởng và hào mục. Ai không nói lập tức bị hành quyết. Một đám binh lính bảo an trong vòng hai tuần lễ, đã cho hành quyết 75 hào mục. Không một lúc nào người ta chịu phân biệt những nhà ái quốc chiến đấu tuyệt vọng cho độc lập của đất nước với bọn cặn bã chốn đô thành”.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo Le Paria, số 6 – 7, ngày 1-9 và 1-10-1922.
cpv.org.vn

—————————–

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Nǎm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn Ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đǎng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước.

(3) Báo Le Courrier d\’Hai Phong: Báo xuất bản hằng ngày ở Hải Phòng, nǎm 1887, do Toà đốc lý của chính quyền thuộc địa phụ trách.

Vụ hành hạ Amđuni và Ben Benkhia (1-11-1922)

Trong cuộc chiến tranh vì công lý (28) để bảo vệ chính nghĩa, vǎn minh, v.v., người ta đã động viên 10 vạn người Tuynidi đi lính, và 60% trong số đó đã không trở về nữa. Thời đó, người Tuynidi được vuốt ve và trìu mến. Người ta đã ca ngợi rất là thắm thiết tình anh em ruột thịt giữa Pháp và Tuynidi, “mối tình ruột thịt đã đời đời gắn chặt vào trong xương máu và quang vinh”. Người ta đã thực hành cả một chế độ kiểm duyệt để cấm báo chí dù thế nào cũng không được làm phật ý người bản xứ.

Ngày nay, tình anh em đó đã thay hình đổi dạng. Nó không phải chỉ thể hiện bằng những cái vuốt ve hoặc những cử chỉ trìu mến mà thôi, nó còn thể hiện một cách hùng hồn hơn bằng những phát súng lục hoặc những trận roi da kia. Bằng chứng là những việc sau đây. Khi trông thấy ba người bản xứ cho cừu vào ǎn cỏ ở vườn cây ôliu của mình, một vị thực dân Pháp liền bảo vợ đi lấy súng và đạn ra. Khi vợ mang súng đạn ra, thì vị đi khai hoá của chúng ta nấp vào một bụi cây, rồi đoàng! đoàng! đoàng! Ba phát bắn ra, thế là ba người bản xứ ngã xuống, bị thương gần chết.

Một vị thực dân Pháp khác có hai anh công nhân bản xứ giúp việc, tên là Amđuni và Ben Benkhia; hai anh này hình như đã có lấy trộm vài chùm nho. Vị thực dân kia liền cho gọi hai người bản xứ đến, rồi dùng roi gân bò mà vụt họ lia lịa cho đến lúc họ chết ngất. Khi hai người này tỉnh lại, quan lớn bảo hộ của chúng ta liền sai trói giật cánh khuỷu lại và treo họ lên. Dù hai người khốn khổ kia đã bất tỉnh nhân sự, thế mà cuộc hành hạ bỉ ổi đó vẫn cứ kéo dài đến bốn tiếng đồng hồ, mãi đến khi có một người ở cạnh nhà phản đối mới thôi.

Hai người đáng thương đó được khiêng đến nhà thương và mỗi người bị cắt mất một bàn tay, còn bàn tay nữa chẳng biết có thể cứu khỏi được không.

Tình r…u…ột thịt như thế đấy!

Chả là ông Luyxiêng Xanh đáng tôn kính, vì đã quá bận về việc trục xuất những người cộng sản và các nhà báo, nên không có thì giờ nghĩ đến đời sống của người bản xứ “được bảo hộ” của ông đấy mà.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo Le Paria, số 8, ngày 1-11-1922.
cpv.org.vn

———————————

(28) Chỉ cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất, bắt đầu bùng nổ ở châu Âu từ tháng 8-1914 và kết thúc vào tháng 11-1918. Cuộc chiến tranh này nhanh chóng lan rộng khắp thế giới, lôi cuốn nhiều nước đế quốc và cả các nước thuộc địa và phụ thuộc. Thực chất nó là một cuộc xung đột ác liệt giữa các nước đế quốc lớn để giành giật quyền lợi, chia lại thị trường thế giới. Nhưng để che đậy ý đồ xấu xa đó, để lừa bịp nhân dân các nước tư bản và các thuộc địa, bọn đế quốc đã gọi cuộc chiến tranh đó là vì nhân đạo, vì công lý. ở đây, chữ vì công lý được tác giả dùng với ý mỉa mai, châm biếm để vạch trần thực chất của cuộc chiến tranh tàn khốc này. Tr.119.

Sự chǎm sóc ân cần (2-11-1922)

Đây là một câu chuyện cũ, nó cũng cũ như chiến tranh. Trong khi hứa hẹn phẩm hàm cho những người Đông Dương tình nguyện(?) còn sống và vàng mã cho những người chết “vì mẫu quốc”, viên Toàn quyền Đông Dương đã thốt ra những lời cảm động như sau:

Các anh gia nhập quân đội hàng loạt, không do dự rời quê cha đất tổ, nơi chôn rau cắt rốn của mình. Là lính trận, các anh đi tòng quân để hy sinh xương máu của mình; là lính thợ, các anh cống hiến hai bàn tay của mình” (1919).

Lịch sử chép như vậy đó!

Nếu người An Nam tỏ ra vui mừng khi người ta bắt họ đi lính thì tại sao người ta lại xích tay họ lùa đến các địa điểm tập trung? Tạo sao trong khi chờ đợi đưa xuống tàu, người ta lại nhốt họ trong Trường trung học Sài Gòn, bên ngoài là lính cảnh vệ Pháp gác, lưỡi lê ở đầu súng, đạn đã lên nòng? Phải chǎng những cuộc biểu tình đẫm máu ở Cao Miên, những cuộc nổi dậy ở Sài Gòn, Biên Hoà và ở nhiều địa phương khác là những cuộc biểu tình của “đám người” nôn nóng, muốn tòng quân “không do dự”?

Người ta ra sức đàn áp dã man các cuộc đảo ngũ (và có chừng 50% lính dự bị đảo ngũ). Do đó, các cuộc khởi nghĩa đã nổ ra, nhưng bị bọn thực dân dìm trong bể máu. Những người An Nam ấy cũng bị chết trong thời chiến. Song người ta sẽ không cúng tế họ “sau khi chết”, còn những người sống sót thì cũng chẳng được quan Toàn quyền khen thưởng.

Phải, quan Toàn quyền nói thêm rằng, dĩ nhiên muốn xứng đáng được hưởng “ân huệ” và “sự hậu đãi” của nhà nước thì các anh (những người lính Đông Dương) “phải có hạnh kiểm tốt, không mảy may tỏ ra thiếu thiện chí”.

Hiện nay, khi họ dùng rượu và thuốc phiện do chính bàn tay chính phủ bán thì có thể nào họ lại không phải là những người “dễ bảo”?

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Humanité, ngày 2-11-1922.
cpv.org.vn

Về câu chuyện Xiki (1-12-1922)

Từ khi có chủ nghĩa thực dân, nhiều người da trắng đã được thuê tiền để đấm vỡ m… những người da đen. Có một lần, một người da đen lại cũng đã được thuê tiền để làm như vậy đối với một người da trắng. Là người chống lại mọi thứ bạo lực, chúng ta không tán thành cả hai lối đó. Nhưng sự việc vẫn cứ sờ sờ ra đó, thì chúng ta hãy nhận xét xem sao. Đây, như thế này:

Bằng một quả đấm – nếu không phải là đã đấm một cách khoa học thì ít ra cũng là một quả đấm bằng trời giáng – Xiki đã hạ bệ Cácpăngchiê để rồi đích thân mình trèo lên.

Chức vô địch quyền Anh đã chuyển sang tay khác, nhưng vinh quang của dân tộc về mặt thể thao thì không hề bị tổn thương, vì rằng Xiki là người con của xứ Xênêgan, do đó là con của nước Pháp, tức là người Pháp vậy.

Mặc dù thế, mỗi lần Cácpăngchiê thắng thì dĩ nhiên là do sự khéo léo và khoa học của anh. Nhưng lần nào anh bị bại thì cũng đều là do sức lực thô bạo của một anh như Đenxây hoặc do cái chân chơi ác của một anh như Xiki. Vì thế trong trận đấu ở Buýpphalô, người ta đã muốn tuyên bố – và người ta cũng đã tuyên bố – rằng Xiki mặc dù thắng đấy, nhưng “cũng vẫn” là bại. Nhưng công chúng, loại công chúng tốt, không muốn nghe như vậy. Và công lý của nhân dân đã thắng: Xiki được tuyên bố là vô địch hoàn cầu và nước Pháp.

Sau khi bị một người da đen hạ đo ván, Cácpăngchiê đã bình thản đi thăm nước Nga, đất nước của những người Đỏ. Chúng ta ngợi khen Xiki về thắng lợi của anh. Chúng ta cũng ngợi khen Cácpăngchiê về lòng vô tư của anh.

*

*     *

S.D.N. (xin đọc là xagiét đê naxiông (1), chứ không phải xôxiêtê đê naxiông (2) ) nói rằng Thần Tài chỉ cười duyên với một người giàu có. Rơnê Marăng và Xiki đã làm chảy nhiều mực đen. Hơn nữa, Xiki còn làm chảy cả máu đỏ. Người ta làm như cả hai người anh em châu Phi của chúng ta còn cần đến nhiều mực nữa. Sau ngòi bút châm biếm của Marăng, đôi găng của Xiki đã làm rung động đến cả chính giới. Và ông Lukê, hội viên Hội đồng quận Xen, đã lập tức đưa ra một kiến nghị định cấm cuộc đấu quyền Anh ! Xin phép ông Lukê cho chúng tôi kính cẩn thưa với ông rằng, như vậy là ông đã làm một việc không yêu nước. Chúng tôi xin giải thích: Về phương diện chính trị quốc tế của chúng ta, một nhà vô địch quyền Anh hạng lông cũng tuyên truyền cho ảnh hưởng tinh thần của chúng ta ra nước ngoài như là một người bất tử, một người quang vinh, một ca sĩ hoặc mười đạo quân (ông hãy giở báo chí ra mà xem). Về phương diện quốc gia cũng cần thiết phải có một võ sĩ có tài để nêu gương và khuyến khích cái đẹp về thể lực cho thế hệ trẻ. Về phương diện thuộc địa, một trận đấu Cácpăngchiê – Xiki có giá trị hơn mười vạn bài diễn văn của những nhà cai trị nhằm chứng tỏ cho những con dân và những người được bảo hộ của chúng ta rằng, chúng ta muốn áp dụng triệt để nguyên tắc bình đẳng về chủng tộc.

Có nên hy sinh ba điều lợi đó cho một cái chủ nghĩa nhân đạo mơ hồ nào đó không? Không ! Có phải không, ông Xarô?

*

*     *

Theo tin các báo thì người ta vừa ra lệnh treo giò Xiki trong chín tháng, không cho dự tất cả các võ đài nước Pháp (Như vậy không hề có nghĩa là người ta sẽ đem treo Xiki đáng thương của chúng ta trong chín tháng đồng thời trên tất cả võ đài của nước Pháp đâu. – Xin nhắn với các bạn của chúng tôi ở Xênêgan như vậy). Lý do: đã lăng mạ ông Quyni.

Sao thế nhỉ? Trước đây người ta đã tuyên dương Xiki vì anh đã đánh sưng mũi ông Cácpăngchiê cơ mà. Ngày nay, Xiki chưa hề đụng đến chân lông Quyni, mà sao người ta đã tuyên bố hạ anh xuống như vậy? Người ta cũng không hề định làm cho chúng ta tưởng rằng cái… mặt của Quyni mảnh dẻ và quý báu hơn là mặt ông Cácpăngchiê, và rằng… Chả phải thế. Thật chẳng hiểu ra sao. Chúng tôi đoán có lẽ là thế này: người ta không bao giờ tha thứ cho Xiki là một người da đen đã thắng Cácpăngchiê là một người da trắng; và tuy Cácpăngchiê không có lòng hằn thù, nhưng chủ nghĩa vị chủng của những người khác thì lại đem lòng hằn thù. Và cái lý do kia chỉ là một cái lý do… vin lấy cho có lý do mà thôi.

Cũng theo các báo đó, chúng ta được biết rằng Bộ trưởng Bộ Nội vụ Anh đã cấm cuộc đấu dự định từ trước giữa Giôê Bếchkết và Xiki ở Luân Đôn. Việc này không làm cho chúng ta ngạc nhiên. Vì Cụ lớn nước Anh đã không thể tiêu hoá nổi món bánh hình lưỡi liềm (1) của Kêman cũng như món sôcôla (2) của Găngđi cho nên Ngài muốn bátlinh (3) Xiki phải nuốt liều thuốc tẩy của Ngài, mặc dù Xiki là một người Pháp. Các bạn đã hiểu chưa? (4) .

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo Le Paria, số 9, ngày 1-12-1922.
cpv.org.vn

—————————–

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Nǎm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn Ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đǎng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước.

(3) Báo Le Courrier d\’Hai Phong: Báo xuất bản hằng ngày ở Hải Phòng, nǎm 1887, do Toà đốc lý của chính quyền thuộc địa phụ trách.

(4) Báo L\’Humanité: Tờ báo hằng ngày của Đảng Xã hội Pháp do Giǎng Giôrét sáng lập nǎm 1904. Sau Đại hội lần thứ XVIII (Đại hội Tua), Đảng Cộng sản Pháp thành lập, báo L\’Humanité trở thành cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng Cộng sản Pháp.