Tag Archive | Dân tộc

Người dành trọn đời viết sách về Bác Hồ

Báo tin tức -Ít ai biết tại tỉnh Hà Nam có một kỹ sư nông học đã cần mẫn bao năm sưu tầm, lưu giữ và rất tâm huyết với việc viết về Bác. Đó là ông Nguyễn Thế Nữu, ở xã Yên Bắc, huyện Duy Tiên.

Ông Nữu năm nay đã 80 tuổi, nhưng vẫn rất khỏe mạnh và minh mẫn. Ông tiếp chúng tôi trong căn phòng rộng chừng 30 m2 được bài trí đơn giản. Ngoại trừ một bộ bàn ghế uống nước, một chiếc tivi, một chiếc máy vi tính, còn lại là sách được xếp cao đến tận nóc nhà. Phòng sách của ông có nhiều sách quý, hiếm trong và ngoài nước.

Ông Nữu bên tủ sách dày công sưu tập. Ảnh: Nguyễn Loan

Ông Nữu tự hào khoe, để có được bộ sưu tập với hơn chục ngàn cuốn sách này, ông đã phải lặn lội sưu tầm từ khi còn là sinh viên. Năm 1953, khi được cử sang Trung Quốc học chuyên ngành Nông học tại Viện Nông học Hoa Nam (Quảng Châu), ngoài thời gian học tập chuyên ngành, ông lặn lội khắp Quảng Châu để tìm các loại sách về chữ Hán và về Hồ Chủ tịch. Có bao nhiêu tiền ông bỏ hết vào việc mua sách. Ông kể: “Sau khi về nước nhận công tác ở Bộ Nông nghiệp, rồi làm việc tại Công ty Giống cây trồng Hà Nam Ninh, mặc dù bận công tác nhưng hễ có thời gian rảnh là tôi lại mày mò khắp các bảo tàng, thư viện ở Hà Nội, Hà Nam Ninh (cũ), rồi vào thư viện của các trường học để sưu tầm sách về Bác. Năm 1991, tôi có dịp quay lại Trung Quốc để học tập kinh nghiệm trồng giống lúa lai, tôi tranh thủ thời gian đi khắp các tỉnh như Hồ Nam, Quảng Châu… để tìm kiếm sách”.

Sưu tầm và viết sách về Bác Hồ là niềm đam mê cả đời của ông Nữu. Trong thời gian công tác, mặc dù bận nhiều việc, phải đi nhiều nơi nhưng không khi nào ông xa rời niềm đam mê này. Sẵn có vốn tiếng Hán trong tay, mỗi khi có thời gian rảnh là ông lại đem các quyển sách chữ Hán mà ông sưu tầm được ra dịch. Ông tâm sự: “Ngay khi về Ty Nông nghiệp của tỉnh Nam Định (sau là Sở Nông nghiệp Hà Nam Ninh), tôi đã xác định mình sẽ sống chết cùng cây lúa với vùng đất này. Sự nghiệp nghiên cứu khoa học và sưu tầm sách sẽ là động lực chính để mình thực hiện quyết tâm”. Năm 1991, ông nghỉ công tác. Lúc này ông dành trọn tâm trí mình vào công việc viết sách. Cuốn sách đầu tay ông cho ra mắt là cuốn “Thưởng thức thơ Hồ Chí Minh ngoài Ngục trung nhật ký” dài 643 trang do NXB Khoa học Xã hội phát hành năm 2005.

Nhắc đến cuốn sách đầu tay, mắt ông lại sáng lên: “Đây là cuốn sách về Bác Hồ mà tôi phải mất hơn 20 năm sưu tầm và dịch ra. Cuốn sách chủ yếu là thơ chữ Hán đã được tôi dịch ra tiếng Việt có bình luận”. Ông khoe: “Lúc đó tôi nhớ là mình được trả 5,5 triệu đồng tiền nhuận bút. Tôi dùng luôn số tiền này mua được 110 quyển sách vừa in ra đem đi tặng bạn bè”.

Cầm cuốn sách trên tay, chúng tôi lật trang đầu thấy ngay dòng chữ do Giáo sư Phong Lê, nguyên Viện trưởng Viện Văn học thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia (nay là Viện Khoa học Xã hội Việt Nam) viết: “Đọc ông Nữu, tôi không thấy có sự khập khiễng nào so với bất kỳ các tác gia nghiên cứu văn học cả về vốn tri thức và năng lực phân tích cảm thụ”. Tôi vừa đọc đến đây, ông Nữu cười vui: “Tôi nghiên cứu sách là do niềm đam mê của mình. Còn viết sách là phần lớn để “trả nợ”. Số là, trong một dịp gặp Giáo sư Nguyễn Lân Dũng, sau khi nói chuyện, giáo sư đã khuyên tôi nên dịch và tổng hợp lại thành sách để thế hệ sau có thêm một tài liệu đầy đủ về thơ Hồ Chí Minh. Thế là kế hoạch 25 cuốn sách về Bác, trong đó có 13 quyển về thơ ca, 12 quyển kể chuyện về Người ra đời. Ngay khi cuốn đầu tay còn đang trong dạng bản thảo, rất nhiều người đã động viên và nhận lời viết “Lời giới thiệu” cho sách như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, GS Phong Lê, GS Nguyễn Lân Dũng, PGS.TS Trần Đức Cường… Trước sự tin tưởng của mọi người, tôi như thấy mình phải cố gắng hoàn thành để trả nợ”.

Hiện tại, ngoài cuốn “Thưởng thức thơ Hồ Chí Minh ngoài Ngục trung nhật ký”, ông đã cho ra mắt thêm 2 cuốn sách nữa là “Từ điển Ngục trung nhật ký” dài 620 trang do NXB Nghệ An phát hành, và cuốn “Bác Hồ – Người trồng cây vĩ đại” dài 260 trang do NXB Nông nghiệp phát hành.

Hưng Phương

baotintuc.vn

Người đóng vai Bác Hồ thành công nhất

Báo tin tức – Với khoảng 35 vai diễn về Bác Hồ trong các thể loại sân khấu, điện ảnh, phim truyền hình… đến nay, nghệ sỹ Tiến Hợi (Nhà hát Kịch Hà Nội) “giữ kỷ lục” là người được đóng vai Bác Hồ nhiều nhất. Được “trời phú” cho đôi mắt sáng, cùng ngoại hình tương đối giống Bác, cộng thêm việc chịu khó nghiên cứu, tập luyện nên Tiến Hợi đã rất thành công khi thể hiện hình tượng Bác Hồ.

Người đóng Bác Hồ thành công nhất

Cơ duyên đưa Tiến Hợi đến với vai Bác Hồ bắt đầu từ năm 1987, lúc anh đang công tác tại đoàn kịch Trường Sơn. Khi ấy, đạo diễn Doãn Hoàng Giang dựng vở kịch “Đêm trắng”, vở kịch đầu tiên về Bác Hồ với việc chống tham nhũng. Trong vở diễn, Bác đã thức trắng đêm với bao trăn trở, đau đớn khi đưa ra quyết định xử tử Đại tá Cục trưởng Cục Quân nhu vì tội tham ô, biển thủ công quỹ. Trong số các diễn viên được thử vai Bác Hồ, Tiến Hợi là người có ngoại hình giống Bác nhất. Vậy là anh được đạo diễn giao đóng vai Bác Hồ. Nghệ sỹ Tiến Hợi tâm sự: “Lúc ấy, tôi vừa bất ngờ, vừa lo lắng. Bất ngờ vì mình còn trẻ nhưng lại được giao vai diễn lớn, nhưng tôi rất lo lắng vì không biết sức mình có đảm nhiệm được vai diễn quá tầm như vậy không…”.

Nghệ sĩ Tiến Hợi vào vai Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Được anh em trong đoàn động viên, Tiến Hợi dành rất nhiều công sức tìm tòi, nghiên cứu vai diễn của mình. Anh đề nghị được xem các phim tư liệu về Bác để bắt chước phong cách, thần thái, động tác của Bác trong khi làm việc, trong đời sống thường ngày… thu lại giọng nói của Bác vào băng ghi âm để về nghe… Ròng rã 3 tháng trời với một lịch trình gần như cố định: Sáng lên sàn diễn luyện tập, chiều xem phim tư liệu về Bác, tối về lại nghe băng ghi âm để luyện giọng sao cho giống giọng nói của Bác…

Đến tận bây giờ, nghệ sỹ Tiến Hợi vẫn nhớ như in cảm giác hồi hộp và vui mừng trong đêm đầu tiên công diễn vở “Đêm trắng” ở Nhà hát Lớn Hà Nội. Anh kể lại: “Sau buổi diễn, có khán giả đã vào tận phòng hóa trang xin gặp diễn viên đóng vai Bác Hồ, rồi họ rất ngạc nhiên vì thấy diễn viên đóng vai Bác Hồ còn trẻ quá. Sau này, vở kịch “Đêm trắng” được diễn gần 300 đêm ở các tỉnh, thành phía Bắc. Đi đến đâu, đoàn cũng được nhân dân nhiệt tình đón nhận, cổ vũ.

Sau thành công của vai Bác Hồ trong vở kịch “Đêm trắng”, Tiến Hợi đã được nhiều đạo diễn “để mắt” đến mỗi khi có một tác phẩn sân khấu, điện ảnh nào có sự xuất hiện của Bác Hồ. Khi quyết định bấm máy bộ phim truyện “Hẹn gặp lại Sài Gòn”, bộ phim kể về cuộc đời Hồ Chí Minh khi Người còn trẻ, đang nung nấu ước nguyện ra đi tìm đường cứu nước, đạo diễn Long Vân đã không ngần ngại chọn Tiến Hợi vào vai Nguyễn Tất Thành. Để thể hiện thành công vai diễn, Tiến Hợi đã vào Huế, tìm gặp các cụ già sống cùng thời với Bác để tìm hiểu xem thanh niên thời đó nghĩ gì, làm gì và sống như thế nào…? Từ đó, anh luyện tập và thể hiện vai diễn về một thanh niên trong sáng, giàu nghị lực, sống mộc mạc, chân chất… nhưng đầy lý tưởng và hoài bão. Đến năm 1997, đạo diễn Đặng Nhật Minh đã mời anh vào vai Hồ Chủ tịch lịch lãm, kiên định, trong phim “Hà Nội, mùa đông năm 46”. Và sau này, trong nhiều bộ phim, vở kịch sân khấu khác, nhiều đạo diễn đã tín nhiệm mời anh đóng vai Bác Hồ.

Kỷ niệm khó quên

Mỗi lần đóng vai Bác Hồ đều để lại những kỷ niệm đáng nhớ đối với nghệ sỹ Tiến Hợi. Nhưng có lẽ ấn tượng sâu sắc nhất đối với anh là khi anh đi diễn vở “Đêm trắng” ở Việt Trì (Phú Thọ). Khi ấy, mọi người đang chăm chú xem kịch, đến đoạn Bác trăn trở về việc quyết định xử tử vị cán bộ tham nhũng, có một cụ già đứng lên giơ tay: “Thưa Bác, cho cháu được phát biểu ý kiến”, khiến khán giả cười ồ. Nhưng cụ già vẫn nhất quyết đòi được “có ý kiến với Bác”, vậy là anh em trong đoàn đành đưa cụ vào sau cánh gà đợi. Khi nghệ sỹ Tiến Hợi từ sân khấu bước vào sau cánh gà, cụ già đã sụp xuống lạy, anh vội vàng đỡ cụ dậy và nói: “Cụ ơi, cháu chỉ là diễn viên đóng vai Bác Hồ thôi”, nhưng cụ bảo: “Tôi biết, nhưng giống quá, giống quá, tôi xem như thấy Bác đang đứng cạnh tôi…”. Hỏi ra mới biết, xưa cụ già có tham gia kháng chiến chống Pháp, đơn vị của cụ được đón Bác đến thăm, cụ đã được gặp và nói chuyện với Bác. Nay thấy anh đóng giống Bác quá nên không kiềm chế được cảm xúc của mình.

Nghệ sỹ Tiến Hợi tâm sự, khó khăn nhất trong việc đóng vai Bác là làm thế nào thể hiện được thần thái, cốt cách của Bác: Trước kẻ thù, Người sang trọng, lịch lãm, nhưng ánh mắt phải đanh thép. Trước đồng bào, nhân dân, chiến sỹ, Người lại hết sức trìu mến, yêu thương. Hay việc thể hiện cảm xúc của Bác như vui mừng, trăn trở, nóng giận… Suốt một thời gian dài nghiên cứu, tìm hiểu để đóng vai Bác Hồ, hình ảnh Bác Hồ đã in đậm trong anh, đến nỗi nhắm mắt lại là anh có thể hình dung được hình ảnh, giọng nói Bác Hồ trong từng giai đoạn lịch sử. “Được hóa thân vào một nhân vật nổi tiếng, một anh hùng dân tộc như Chủ tịch Hồ Chí Minh là niềm tự hào song áp lực cũng rất lớn, bởi hình tượng Bác Hồ đã ăn sâu vào tâm tưởng mỗi người dân Việt Nam. Để thuyết phục được khán giả, tôi đã phải cố gắng rất nhiều, sao cho từng cử chỉ, hành động, lời nói giống Bác nhất”, nghệ sĩ Tiến Hợi bộc bạch.

Phương Lan

baotintuc.vn

Những năm tháng Bác Hồ ở Luân Đôn

Báo tin tức –Một chiều tháng 5 đầy nắng, chúng tôi có mặt tại nơi trước đây là khách sạn danh tiếng của thủ đô Luân Đôn, nước Anh, khách sạn Carlton, nơi Bác Hồ đã từng làm việc, để kỷ niệm ngày sinh nhật Bác và một thế kỷ Bác dời bến Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước.

Theo bài viết “Hồ Chí Minh ở Luân Đôn” của Tiến sĩ John Callow, Giám đốc Thư viện tưởng nhớ Mác (Karl Marx), Bác Hồ của chúng ta đã làm rất nhiều việc trong thời gian ở Anh, từ cào tuyết trong trường học đến điều khiển hệ thống nước nóng rồi phụ bếp trong một khách sạn nhỏ là Drayton Court ở khu vực West Ealing, gần Quảng trường Soho, Luân Đôn.

Tòa nhà ngày nay được xây dựng trên nền của khách sạn Carlton cũ. Ảnh: Internet

Sau này, nhờ có kinh nghiệm làm việc bếp, Người được nhận vào làm việc rửa bát đĩa ở khách sạn danh tiếng Carlton ở Luân Đôn. Nhờ chăm chỉ và thông minh, một người đầu bếp đã nhận Người vào làm việc ở bộ phận của mình là nấu ăn phục vụ cho những bữa tiệc lớn. Cũng tại đây, Người đã chứng kiến sự xa hoa lãng phí thức ăn của những người giàu có. Những người đồng nghiệp thường thấy Người gói gọn lại những thức ăn thừa, có khi là cả một phần tư con gà và miếng bít tết to tướng, đưa cho nhà bếp để mang cho người nghèo. Người làm việc từ 5 giờ sáng đến trưa và từ 5 giờ chiều đến 10 giờ tối. Nhờ vậy Người có thời gian tìm hiểu về Luân Đôn và học tiếng Anh. Người thường ngồi trong Công viên Hype Park với một cuốn sách và một cái bút chì. Người làm việc không chỉ đơn giản để kiếm sống mà để tìm hiểu rõ bản chất điều gì ràng buộc dân tộc mình và các nước thuộc địa với các nước thực dân.

Tấm bảng tưởng niệm treo trên tòa nhà mới. Ảnh: Internet

Theo ông John Callow, chính trong thời gian ở nước Anh từ 1913-1917, Người đã lần đầu tiên đọc các tác phẩm của Mác và Ănghen (F. Engels). Những năm Người sống ở Anh đã góp phần định hình tư tưởng chính trị của Người. Hồ Chí Minh đã tìm ra và đến với chủ nghĩa Mác, không phải như là một học thuyết mà là lời kêu gọi giải phóng và hành động sáng tạo. Đây là một bước ngoặt trên con đường Người tìm hiểu thế giới và đem về đất nước mình những gì đã thấy được để giải phóng nhân dân mình.

Ông Len Aldis, Chủ tịch Hội Hữu nghị Anh-Việt, người đã dành nhiều công sức để giúp xây dựng bảng tưởng niệm tại nơi Bác Hồ đã từng làm việc, cho biết: Cách khách sạn Carlton trước đây không xa (bây giờ là địa điểm của Đại sứ quán Niu Dilân), là nơi Các Mác ở, còn xa hơn một chút ở ngôi nhà số 37A phố Clerkenwell Green, sau này được xây dựng là Thư viện tưởng nhớ Các Mác năm 1933, có một phòng nhỏ nơi Lê Nin (V.I. Lenin) đã viết 17 số báo Tia sáng.

Đến thăm Luân Đôn khi đi qua công viên Hype Park, quảng trường Soho hay Thư viện Các Mác, vẫn thấy đâu đây hình ảnh Bác Hồ đang đọc sách hay làm việc cần mẫn và suy nghĩ về con đường giải phóng nước nhà.

Ngân Bình (P/v TTXVN tại Anh)

baotintuc.vn

Lên Pác Bó nghe kể chuyện Bác Hồ về nước

Báo tin tức – Đã ở tuổi 88, cụ Hoàng Thị Khìn, xóm Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, Cao Bằng vẫn rành rọt kể từng chi tiết về câu chuyện 70 năm trước khi Bác Hồ ở Pác Bó vận động, giác ngộ bà tham gia hoạt động cách mạng.

Thời gian đã in trên mái tóc bạc trắng hằn sâu những vết nhăn trên khuôn mặt phúc hậu của bà nhưng không xóa được ký ức về tình cảm thiêng liêng đối với Bác. Mỗi lời kể của bà, sâu lắng xúc động về tình cảm của ông Ké gắn bó với người dân Pác Bó trong những ngày cách mạng gian khổ, còn nguyên vẹn như vừa mới hôm qua.

Cụ Hoàng Thị Khìn kể chuyện Bác Hồ về Pác Bó năm 1941.

Năm 1939, bà là thiếu nữ người Nùng xinh đẹp sống trong cảnh đời buồn bã như bao cô gái khác trong bản vì hằng ngày chứng kiến bọn quan Tây, lính dõng bắt bớ đánh đập tàn bạo người thân, dân làng đi phu, đi lính.

Già, trẻ, gái, trai nhà nào cũng vậy, quanh năm oằn lưng làm lụng mà không đủ nộp sưu thuế. Các cô thiếu nữ Nùng xinh đẹp lớn lên chưa từng được mặc một bộ quần áo lành lặn vì nhà nào cũng nghèo xơ xác.

Cuộc đời khổ cực như trâu ngựa, dân bản chỉ biết cúi mặt cam chịu bọn quan lại áp bức mà không tìm được lối thoát. Rồi một hôm có 2 người lạ là các ông (Hoàng Tô, Lê Quảng Ba) đến nhà nói chuyện với bố, mẹ bà những điều rất mới lạ: “Theo cách mạng (CM), đánh đuổi bọn quan Tây, lính dõng, sẽ không bị khổ cực nữa”. Hai từ “Cách mạng” khắc sâu trong tâm trí bà.

Cha mẹ bà hiểu được cái lý lẽ của 2 đồng chí CM nên giảng giải, động viên các con mình đi theo CM, giúp cán bộ CM. Từ đó, gia đình bà trở thành cơ sở tin cậy của cán bộ CM. Bà và mấy người em gái được phân công lo công tác hậu cần, đưa đón cán bộ.

Vào mùa xuân năm 1941, một hôm bà được ông Lê Quảng Ba phân công hai chị em vào rừng đưa cơm cho ông Ké. Bà cùng em gái (bà Hoàng Thị Hoa) đi vào khu rừng rậm phía đầu nguồn suối Giàng (suối Lênin ngày nay) gặp ông Ké (ông già) lạ mặt. Lần đầu gặp ông Ké, ông nói chuyện bằng tiếng Nùng trìu mến ấm áp, ân cần hỏi thăm đời sống dân bản, người thân trong gia đình, hai chị em bà thấy gần gũi ấm áp lạ thường.

Ông Ké giảng giải cho hai chị em: “Bọn quan Tây không cho người dân đi học, bắt nộp sưu thuế nặng nề, mọi người dân nghèo đói ngu dốt để chúng dễ áp bức cai trị. Các cháu phải đi học chữ để hiểu biết, làm CM thì sẽ đánh đuổi được chúng”.

Mỗi lời ông Ké nói như một chân trời mới mở ra trước cuộc sống đen tối của bản làng mà bà chưa bao giờ nghĩ tới. Được ông Ké giác ngộ, tin tưởng, bà nhiệt tình tham gia hoạt động CM, vận động chị em trong bản đi học chữ do ông Ké cử cán bộ mở lớp. Sau mỗi buổi học hay giờ nghỉ, Bác thường xuyên lên thăm lớp học, động viên mọi người cố gắng và giảng bài về đạo đức người đảng viên.

Bà và chị em còn được Bác quan tâm dạy từ nếp ăn ở, sinh hoạt và tặng cả sách “Ngũ tự kinh”. Bà nhớ mãi lời ông Ké dặn: “Các cháu nhớ học chữ để hiểu biết, đọc hiểu cuốn sách này, phấn đấu nam nữ bình quyền. Các cháu học tốt, hiểu biết tham gia CM sau này đứng lên giành độc lập tự do thì Bác mới trả được hết công lao các cháu”.

Thấm nhuần lời ông Ké, ở lớp phụ nữ học chữ ai cũng cố gắng. Được Bác Hồ giác ngộ cách mạng, học chữ nâng cao nhận thức và hiểu biết, bà và chị em ngày càng tin tưởng vào con đường đấu tranh CM.

Bà vận động chị em trong bản, xã đóng góp lương thực, bán củi đổi lấy muối nuôi cán bộ, làm tốt công tác hậu cần, đưa đón, bảo vệ cán bộ CM 3 miền Bắc, Trung, Nam đến học các lớp tập huấn cán bộ, du kích và Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII tại Khuổi Nặm; tham gia đánh thổ phỉ xóm Lũng Túp (Sỹ Hai).

Bà tâm sự: Khi hoạt động CM gặp nhiều gian nan, nguy hiểm nhưng nghĩ đến lời ông Ké dặn “Mọi người đoàn kết đấu tranh thì mới đánh đổ được bọn quan Tây, lính dõng, bản làng sẽ không còn ai bị chúng đánh đập cướp bóc”, thì tôi lại cố gắng vượt qua khó khăn. Theo lời ông Ké, cả làng ai cũng hăng hái tham gia các tổ chức cứu quốc: Phụ lão cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Nhi đồng cứu quốc… tất cả hợp thành khối thống nhất trong Mặt trận Việt Minh.

Tôi và mọi người trong gia đình ai cũng tham gia các tổ chức cứu quốc. Mặt trận Việt Minh ngày càng phát triển mạnh, mọi người càng thêm tin vào lời ông Ké về con đường giải phóng dân tộc, giải phóng cho chính mình. Đêm tiễn ông Ké từ Pác Bó đi Tân Trào là giờ phút thiêng liêng mà tôi không thể nào quên trong cuộc đời mình. Chị em trong bản chúng tôi khâu áo, mũ, giầy vải, khăn tặng ông Ké trước khi lên đường. Ai nấy bịn rịn thương nhớ không muốn rời trong giờ phút chia tay. Ông Ké động viên chị em và mọi người tiếp tục đoàn kết đấu tranh cách mạng giành chính quyền khi thời cơ đến.

Như lời ông Ké, Tổng khởi nghĩa cách mạng tháng Tám nổ ra, các tổ chức CM và nhân dân hưởng ứng đấu tranh giải phóng dân tộc, giành chính quyền về tay, có độc lập tự do.

Bản làng không còn cảnh quan Tây, lính dõng đánh đập, bóc lột dã man, ai cũng được tự do, có cơm no áo ấm. Người không chỉ làm thay đổi cuộc đời tôi mà thay đổi cả vận mệnh dân tộc. Những ngày tôi được gặp ông Ké không nhiều, nhưng những tình cảm, tư tưởng của Người dành cho tôi luôn là những điều kỳ diệu theo mãi bên tôi cùng năm tháng.

70 năm đã qua đi kể từ ngày Người về Pác Bó, bàn đá chông chênh Người ngồi dịch sử Đảng, chỉ đường, vạch lối đấu tranh cách mạng từ nơi đây đã trở thành bản trường ca về sức mạnh dân tộc, vươn tới những đỉnh cao của lịch sử đất nước.

Trong lòng núi rừng Pác Bó và người dân nơi đây vẫn ôm hình bóng Già Thu, hằng nhớ mùa xuân đón Bác về nhìn những đổi thay trên quê hương cội nguồn cách mạng. Đường đến Pác Bó hôm nay được Đảng, Nhà nước và nhân dân mở rộng to đẹp mang tên đường Hồ Chí Minh, hai bên đường nhà mái ngói đỏ tươi dưới chân núi. Pác Bó, Trường Hà hôm nay có đầy đủ đường, điện, trường, trạm… ; bà con tích cực tăng gia sản xuất, không còn cảnh đói nghèo.

Xóm bản nhớ ơn Người, nhân lên niềm tin khi thực hiện Cuộc vận động (CVĐ) “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Chi bộ xóm gắn thực hiện CVĐ với xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa, mẫu mực làm tấm gương cho con cháu noi theo. Các tổ chức, đoàn thể triển khai CVĐ gắn với nhiệm vụ hoạt động đề ra…

Chị Nông Thị Dung, xóm Pác Bó, tâm sự: Bác đã gắn bó với bản làng nơi đây, học tập và làm theo Bác lại càng có ý nghĩa để mỗi người phấn đấu xây dựng xóm làng no ấm như Bác hằng mong… Dân bản hưởng ứng CVĐ vượt khó vươn lên làm kinh tế, cái ăn, cái mặc thêm đủ đầy, cuộc sống được nâng lên, nhiều hộ đã vươn lên thành hộ khá, đoàn kết tình làng nghĩa xóm.

Con em trong bản phấn đấu học tập, làm theo lời Bác, nhiều thế hệ trưởng thành. Khu Di tích Lịch sử Pác Bó đang được đầu tư xây dựng hiện lên bề thế với những hạng mục tầm cỡ quốc gia gìn giữ di tích về Người, đón khách trong nước và bè bạn quốc tế đến với Pác Bó, đến với nơi Người mở đầu suối nguồn cách mạng, chặng đường đầu tiên cho vận mệnh dân tộc Việt Nam và thời đại Hồ Chí Minh.

Pác Bó hôm nay, vẫn núi thiêng hùng vĩ, trong veo tiếng suối ngàn như phút thiêng liêng mùa xuân xưa đón Người. Già Thu như vẫn ở nơi đây, bao tình cảm gắn bó với bà con không thể phai mờ. Muôn lòng dân làm theo lời Bác, đón Người về mỗi độ xuân sang.

Mạnh Hà (ghi tại Pác Bó)

baotintuc.vn

Thấm trong Di chúc

Bản thảo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Ảnh tư liệu

Suốt một đời Bác đã nghĩ về ta/ Đến phút cuối tim Bác trào lên bút/ Chữ xô dòng, lòng Bác buốt thương dân….

Thấm trong Di chúc

Suốt một đời Bác đã nghĩ về ta
Đến phút cuối tim Bác trào lên bút
Chữ xô dòng, lòng Bác buốt thương dân.

Ôi miền Nam không kịp nữa về thǎm
Nỗi nhớ tỏa trên mọi nhà mọi ngõ,
Phút chia biệt Bác nói lời đoàn tụ
Câu dặn dò nghe ấm vị hàn huyên.
Bác đi rồi còn trao lại niềm tin
Con không khóc, nhưng cứ trào nước mắt
“… đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc”

Bác Hồ ơi! Ngày đó chẳng còn xa
Ai ngờ đâu, tháng 9 mồng 3…

Quá thương đời và lo nỗi dân đau,
Bác cố tránh nói những lời ly biệt
Mượn câu thơ để khuây lòng thương tiếc.
Ôi lòng Người đo sao hết mông mênh
Nghĩ việc gì Bác cũng nghĩ từ dân
Nói về Đảng cũng vì dân mà nói,
Nước còn giặc, dân còn khi lạnh đói
Bác đắng lòng trong mỗi miếng cơm ǎn,

Thắng quân thù dẫu phải mấy mươi nǎm
Nhưng hạt thóc rụng giữa đồng Bác tiếc.
Nguồn biển lớn uống muôn đời không hết
Vẫn kính nhường từng hạt nước trong sông.

Bác Hồ ơi! Vị muối mặn con ǎn
Đã kết đậm bao tình thương của Bác,
Manh áo ấm con mặc khi trở rét
Đã dệt vào trǎm mối Bác lo toan.

Phút giã từ trong ánh mắt đǎm đǎm
Nỗi ưu ái lại trào lên lần chót:
Hãy giữ đức cho trong, giữ lòng cho khiết
Sống kiệm cần, tương kết tương thân…

Ôi giọng Người hiền như giọng cha ông
Cứ mộc mạc mà thấm vào mãi mãi,
Con nghe Bác hiểu thêm tầm thời đại
Sáng thêm lòng nhân ái Việt Nam ta.

Trọn một đời Bác chung thủy gần xa
Trǎm ơn nghĩa luôn nặng đằm bên dạ.
Lời vĩnh biệt đã thành lời cảm tạ
Giọng khiêm nhường ôm bốn bể anh em.

Thế kỷ này đâu phải đã bình yên
Trái tim lớn nặng niềm đau mặt đất.
Tình bè bạn, phút ra đi, còn nhắc
Dao cắt lòng nhưng vẫn ngập yêu tin.

Lần đầu tiên Bác nói đến niềm riêng,
Cả nước khóc nghe những lời dặn cuối.
Ôi trời rộng và núi cao vời vợi
Sông biển nào sánh được Bác thương ta!

Bữa cơm ǎn vẫn quen nhút quen cà,
Lúc nhắm mắt xin dân đừng tang chế.
Ôi tim Bác sao mà mênh mông thế!
Gương trong ngần cho muôn thuở cùng soi.

Triệu lòng người cùng cất gọi: Bác ơi!
“Muôn vàn tình thương yêu” Bác gửi lại trong lời
Chúng con đọc nghẹn ngào thấm thía
Tay Bác yếu không còn đều nét chữ
Tim Bác đập vẫn đồng bào đồng chí
Giây cuối cùng Bác vẫn gánh lo toan.

Bác Hồ ơi xin Bác cứ yên tâm!
Lời Bác dặn chúng con xin nguyện ước.
Mỗi giọt lệ thấm xuống dòng Di chúc.
Một lời nguyền vang đến suốt mai sau.

VŨ QUẦN PHƯƠNG
12-1969

tuoitre.vn

Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước và bước ngoặt của Cách mạng Việt Nam

Báo tin tức – Ngày 28 tháng 1 năm 1941 (mùng 2 Tết Tân Tỵ), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ làng Nậm Quang (Tĩnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc), nơi tổ chức lớp huấn luyện cho 43 cán bộ cách mạng Việt Nam đã trở về Việt Nam sau ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước. Bên cột mốc 108 trên biên giới Việt – Trung thuộc địa phận xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, Cao Bằng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đứng lặng hồi lâu xúc động.

Với sự nhạy cảm chính trị đặc biệt của một lãnh tụ thiên tài, Nguyễn Ái Quốc đã tìm cách ra đi, để rồi tìm cách trở về Tổ quốc, trở về trực tiếp lãnh đạo Cách mạng Việt Nam trước những bước ngoặt của tình thế đã được Người dự đoán.

Người dân thuộc địa hiếm hoi trở thành thành viên của Đảng Xã hội Pháp

Khi rời bến Nhà Rồng ra đi tìm một con đuờng mới cho cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, người thanh niên Nguyễn Tất Thành chỉ nung nấu một quyết tâm cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”.

Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 18 Đảng Xã hội Pháp, ủng hộ luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên (12/1920). Ảnh tư liệu: TTXVN

Khi nhiều người đang ngoảnh nhìn về phương Đông với sự ngưỡng mộ “người anh cả da vàng” Nhật Bản – một đế quốc mới ở châu Á – đã chiến thắng nước Nga Sa hoàng năm 1905, hay ngưỡng vọng bác sĩ Tôn Dật Tiên với chủ nghĩa Tam dân nổi tiếng và cách mạng Tân Hợi 1911 ở Trung Quốc thì Nguyễn Tất Thành tìm đường sang phương Tây, đến nước Pháp, đến nơi sản sinh ra những lời đẹp đẽ: “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” đã từng làm rung động lòng mình khi còn ở tuổi thiếu niên.

Nguyễn Tất Thành muốn đến tận nơi sinh ra những lý tưởng cao đẹp đó để tìm hiểu xem làm sao người Pháp có được Tự do – Bình đẳng – Bác ái… Nguyễn Tất Thành đã chọn hướng Tây với mong muốn thiết thực: “Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta”.

Tư liệu của Alain Ruscio, một nhà nghiên cứu Hồ Chí Minh người Pháp: Khoảng cuối năm 1918 hoặc đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành gia nhập Đoàn thanh niên xã hội và sau đó là Đảng Xã hội Pháp, vì nhận thấy có mối liên hệ giữa những hoạt động của đảng với khát vọng giải phóng dân tộc của mình. Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc đã trở thành đảng viên Xã hội Pháp “vì đây là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vực nước tôi, là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại Cách mạng Pháp: “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” – như sau này tác giả Trần Dân Tiên đã thuật lại.

Nguyễn Ái Quốc là một trong số rất hiếm hoi thành viên của Đảng Xã hội Pháp khi đó là người dân của một xứ thuộc địa. Trong mùa hè năm 1919, người ta thấy Nguyễn Ái Quốc xuất hiện trong các cuộc họp của Đảng Xã hội, trong các cuộc họp của Tổng công hội, Hội Nhân quyền…

Tìm thấy nguồn sáng tương lai

Cho đến khi nổ ra những cuộc tranh luận trong Đảng Xã hội Pháp về vấn đề nên là thành viên của Quốc tế nào, Nguyễn Ái Quốc chưa hề đọc tác phẩm nào của V.I.Lênin. Anh ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga chỉ là theo cảm tính, mà chưa hiểu hết tầm quan trọng và ý nghĩa lịch sử của cuộc cách mạng vĩ đại này. Anh tỏ ra lúng túng trước những cuộc tranh luận.

Điều làm Nguyễn Ái Quốc lúng túng chính là “trong cuộc bàn cãi, người ta rất ít nói đến sự đoàn kết với các dân tộc thuộc địa. Nhưng đó lại là vấn đề tôi quan tâm hơn hết”. Điều mà Nguyễn Ái Quốc muốn biết nhất – vì đối với Người nó quan trọng nhất – là Quốc tế nào bênh vực nhân dân các nước thuộc địa, thì lại không thấy bàn đến trong các cuộc tranh luận đó.

Trong hai số liên tiếp ngày 16 và ngày 17/6/1920, báo L’Humanité (Nhân đạo) đăng “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lênin. Luận cương này được V.I.Lênin trình bày tại Đại hội II Quốc tế cộng sản họp từ ngày 19/7 đến 10/8/1920.

Luận cương của V.I.Lênin đã gây cho Nguyễn Ái Quốc một cảm xúc mạnh mẽ. Sau này Người kể lại: “Luận cương của Lênin làm tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao. Tôi vui mừng đến phát khóc lên”.

Qua Luận cương, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy sự ủng hộ, tìm thấy chỗ dựa, tìm thấy nguồn sức mạnh để vươn tới cái đích của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc – đã được chỉ rõ là sự chiến thắng của Chính quyền Xô viết với chủ nghĩa đế quốc thế giới.

Những điều này đã giải đáp những băn khoăn thắc mắc của Nguyễn Ái Quốc trước câu hỏi: Đứng về Quốc tế nào trong các cuộc tranh luận diễn ra ở các cuộc họp của Đảng Xã hội Pháp. Nguyễn Ái Quốc đã có câu trả lời rõ ràng: Đứng về Quốc tế III của Lênin, bởi vì “Chúng tôi thấy rằng việc Đảng Xã hội gia nhập Quốc tế III có nghĩa là Đảng hứa một cách cụ thể rằng từ nay Đảng sẽ đánh giá đúng tầm quan trọng của vấn đề thuộc địa”.

Ngày 30/12/1920, tại Đại hội Tua, Nguyễn Ái Quốc đã trở thành một trong những sáng lập viên của Đảng cộng sản Pháp và bỏ phiếu tán thành tham gia Quốc tế III. Nguyễn Ái Quốc đã chính thức trở thành một chiến sĩ cộng sản đấu tranh cho lý tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Sự gặp gỡ tư tưởng Nguyễn Ái Quốc – Lênin này phản ánh những nhu cầu đang đặt ra của lịch sử là xác định một con đường đúng đắn cho cuộc đấu tranh giải phóng của dân tộc Việt Nam nói riêng và các dân tộc thuộc địa nói chung.

Nguyễn Ái Quốc chính là người đảm nhận nhiệm vụ lịch sử đó. Ánh sáng của tư tưởng Lênin đã soi rọi cho Nguyễn Ái Quốc con đường đấu tranh giải phóng, không chỉ cho dân tộc Việt Nam mà còn cho tất cả các dân tộc còn đang bị áp bức. Luận cương của V.I.Lênin chính là tia sáng đầu tiên của dòng ánh sáng đó.

Mặt trận Việt Minh – khối lực lượng chính trị quần chúng mạnh mẽ

Ngay sau khi Bác về nước, ngày 19/5/1941, giữa vùng núi rừng Pắc Bó, theo sáng kiến của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Mặt trận Việt Minh ra đời giữa lúc nhân dân Việt Nam đang rên xiết trong cảnh một cổ hai tròng, vận mệnh dân tộc đang trong cảnh nước sôi lửa nóng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đường đi công tác, Tuyên Quang năm 1951. Ảnh tư liệu: TTXVN

Với một quyết tâm được xác định rõ trong chương trình của mình “làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập, làm cho dân Việt Nam được sung sướng tự do”, Mặt trận Việt Minh đã giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, tập hợp, đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân trong cuộc đấu tranh giành độc lập tự do cho Tổ quốc.

Các tầng lớp quần chúng đông đảo được tổ chức trong những Hội cứu quốc là thành viên của Mặt trận Việt Minh: Nông dân cứu quốc; Công nhân cứu quốc; Thanh niên cứu quốc; Phụ nữ cứu quốc; Phụ lão cứu quốc; Văn hóa cứu quốc… đã làm cho Mặt trận ngày càng phát triển rộng rãi. Sự phát triển của các tổ chức cứu quốc lan rộng trên khắp các địa bàn nông thôn, thành thị, miền núi, từ Bắc vào Nam, đã làm thành một Phong trào Việt Minh sôi nổi, tạo nên những chuyển biến mạnh mẽ trong phong trào cách mạng thời kỳ tiền khởi nghĩa.

Mặt trận Việt Minh chính là sợi dây nối liền chặt chẽ Dân – Đảng, Đảng – Dân, để ý Đảng thấm tới lòng dân, tạo ra khả năng cho Đảng có thể phát động một cuộc Tổng khởi nghĩa toàn dân trên địa bàn cả nước.

Thông qua Mặt trận Việt Minh, Đảng ta đã xây dựng được một khối lực lượng chính trị quần chúng mạnh mẽ, được rèn luyện qua những phong trào cách mạng. Cũng do sự phát triển rộng khắp của phong trào Việt Minh, Đảng đã có điều kiện để duy trì các đội du kích, xây dựng những khu căn cứ địa cách mạng, hình thành lực lượng vũ trang cách mạng.

Tại Việt Bắc, trong cao trào tiến tới Tổng khởi nghĩa, đã xuất hiện những xã hoàn toàn, châu hoàn toàn. Tại những nơi đó, Việt Minh nắm chính quyền, bước đầu thử nghiệm mô hình chính quyền nhân dân, xây dựng cuộc sống mới.

Mặt trận Việt Minh ra đời là sự kế tục sự nghiệp đấu tranh của các tổ chức mặt trận đã được Đảng ta tổ chức trước đó: Hội phản đế đồng minh (11/1930); Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương (7/1936); Mặt trận Dân chủ Đông Dương (3/1938); Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương (11/1939).

Mặt trận Việt Minh ra đời là kết quả của quá trình vận động cách mạng, là sản phẩm của sự điều chỉnh chiến lược cách mạng Việt Nam đúng đắn sáng suốt của Đảng ta từ Hội nghị Trung ương 6 (11/1939) do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì và sau đó được Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh hoàn thiện tại Hội nghị trung ương 8 (5/1941).

Mặt trận Việt Minh còn là sự hiện thực hóa kết quả thắng lợi của sự phát triển đường lối, chủ trương chiến lược đoàn kết dân tộc, tập hợp đoàn kết quần chúng trong một tổ chức mặt trận dân tộc thống nhất, đấu tranh dưới sự lãnh đạo của Đảng, đưa cách mạng đến thắng lợi.

Sự thành lập và hoạt động của Việt Minh đã trở thành nhân tố cơ bản quyết định thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945.

Sự ra đời và hoạt động của Mặt trận Việt Minh là kết quả của một tư tưởng cách mạng khoa học, sáng tạo. Đây cũng là một bài học thành công của Đảng ta và Hồ Chí Minh về công tác mặt trận và chiến lược đoàn kết dân tộc trong Cách mạng Việt Nam.

Trong suốt một thập kỷ, mọi thắng lợi của dân tộc, nhân dân ta đều gắn với hai chữ Việt Minh. Đồng chí Hoàng Quốc Việt trong tập hồi ký “Ánh sáng mới từ Pắc Bó – Đầu nguồn” viết: “Hai chữ Việt Minh trong một thời kỳ dài làm nức lòng đồng bào cả nước. Hai chữ Việt Minh còn mãi trong lịch sử chói lọi nét vàng son”.

Bạo lực cách mạng chống bạo lực phản cách mạng, giành chính quyền và bảo vệ chính quyền

Từ những chặng đầu tiên trong sự nghiệp cách mạng vĩ đại của mình, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thức rõ con đường tiến lên của Cách mạng Việt Nam là con đường bạo lực cách mạng vô sản. Bởi, độc lập tự do không thể cầu xin mà có… Trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cần phải dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền. Quan điểm đó xuyên suốt trong cả quá trình Hồ Chí Minh lãnh đạo Cách mạng Việt Nam.

Hội nghị Trung ương lần thứ 8 cũng là mốc lịch sử đánh dấu bước phát triển hoàn thiện tư tưởng Hồ Chí Minh về vũ trang khởi nghĩa ở Việt Nam. Đó là cuộc khởi nghĩa vũ trang giành độc lập dân tộc do toàn thể dân tộc tiến hành “Đó là một cuộc đấu tranh to tát về chính trị và quân sự”.

Phương thức tiến hành khởi nghĩa từng phần tiến tới Tổng khởi nghĩa đã được Hồ Chí Minh nêu lên từ sớm: “Ở các nước Âu Mỹ, cuộc khởi nghĩa thường bắt đầu từ các cuộc đấu tranh chính trị rồi mới tiếp đến các cuộc vũ trang bạo động. Ở Đông Dương ta, khởi nghĩa có thể bùng ra ở một vài nơi rồi lan dần khắp nước. Khởi nghĩa có thể bùng ra ở nơi nhiều núi rừng tiện cho việc đánh du kích”.

Sau khi Bác về nước, trong những năm 1941 – 1944, những đội du kích, đội tự vệ được xây dựng ở nhiều xã, nhiều huyện thuộc tỉnh Cao Bằng. Những trung đội cứu quốc quân 1, 2, 3 – lực lượng vũ trang cách mạng được duy trì sau cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn tiếp tục được củng cố. Đây là lực lượng nòng cốt hỗ trợ cho phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng đang dâng cao, đặc biệt trong các tỉnh thuộc khu giải phóng Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên.

Trong khí thế đang lên của phong trào cách mạng, tháng 5/1944, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị: “Về sửa soạn khởi nghĩa”. Tháng 10/1944, Trung ương Đảng lại ra lời kêu gọi: “Sắm vũ khí đuổi thù chung”. Các địa phương ra sức củng cố xây dựng lực lượng vũ trang, tìm kiếm vũ khí, chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền… Phong trào chuẩn bị khởi nghĩa sôi nổi lan rộng.

Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ những bước phát triển của lực lượng vũ trang và việc chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa phải phù hợp với sự phát triển của tình thế cách mạng. Vấn đề quan trọng nhất là phải có đường lối chiến lược và sách lược cách mạng đúng đắn, phải chuẩn bị lực lượng đầy đủ, tạo thời cơ và nắm vững thời cơ, để khi thời cơ đến có thể nhanh chóng huy động lực lượng chớp thời cơ giành thắng lợi.

Đến tháng 7/1945, phát xít Đức, Italia đã bại trận trên chiến trường châu Âu, ở châu Á, phát xít Nhật đang trên đường thất bại và sụp đổ. Dù đang ốm nặng giữa rừng Tân Trào, Hồ Chí Minh vẫn chỉ thị cho các đồng chí: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là kết quả của sự kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, giữa phát triển phong trào quần chúng, xây dựng căn cứ địa cách mạng, chuẩn bị lực lượng chính trị và nhạy bén chớp thời cơ phát động toàn dân đứng dậy tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Mở cửa để Cách mạng Việt Nam thành một phần của cách mạng thế giới

Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp chỉ đạo Cách mạng Việt Nam cũng mang về những nhận định mới về tình hình thế giới và đề ra sách lược đối ngoại cho Cách mạng Việt Nam.

Là chiến sĩ cách mạng có kinh nghiệm hoạt động quốc tế lâu năm, luôn luôn theo dõi sát những diễn biến của tình hình, Nguyễn Ái Quốc có những nhận định quan trọng về tình hình thế giới cũng như đề ra những quyết sách cho Cách mạng Việt Nam trong bối cảnh Chiến tranh Thế giới thứ II đang lan rộng.

“Cuộc chiến tranh này gây ra nhiều tai họa cho nhân loại nhưng nó sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, do đó mà cách mạng nhiều nước sẽ thành công”, Nguyễn Ái Quốc nhận định, khi các kẻ thù của dân tộc lao vào cuộc chiến tranh sẽ tạo những cơ hội quý báu cho công cuộc giải phóng của nhân dân Việt Nam.

Người cũng truyền đạt và bồi dưỡng những nhận thức về tình hình quốc tế cho nhiều cán bộ trong các lớp bồi dưỡng chính trị cấp tốc, truyền cho họ sự tin tưởng vào thắng lợi của Cách mạng Việt Nam, thắng lợi của cách mạng các nước thuộc địa và cách mạng thế giới nói chung.

Bến Nhà Rồng TP Hồ Chí Minh, nơi cách đây tròn 100 năm, Bác Hồ đã ra đi tìm đường cứu nước. Ảnh: Thanh Vũ-TTXVN

Nguyễn Ái Quốc đã đặt Cách mạng Việt Nam trong bối cảnh chung của cuộc đấu tranh của toàn nhân loại chống chủ nghĩa phát xít. Nguyễn Ái Quốc tìm cách đặt mối liên hệ với đồng minh cho Cách mạng Việt Nam, để cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Việt Nam hòa nhập trong cuộc đấu tranh chung của toàn nhân loại.

Người cũng là đầu mối trực tíếp trong nhiều mối quan hệ với các nước đồng minh, để Cách mạng Việt Nam có cơ hội nhận được những sự giúp đỡ trực tiếp bằng vật chất cho cuộc kháng Nhật cứu nước nhưng điều quan trọng hơn là tạo ra những tiền đề cho việc xác lập vị thế của nước Việt Nam độc lập trên trường quốc tế sau này.

Hồ Chí Minh đã thiết lập được những mối quan hệ với các lực lượng chống Nhật ở Trùng Khánh, với các cơ quan quân sự và tình báo Mỹ ở Côn Minh… Các đội du kích cách mạng ở Cao Bằng cũng đã nhận được những sự hỗ trợ về vũ khí, về phương tiện thông tin liên lạc và sự huấn luyện của một số chuyên gia quân sự đồng minh.

Trong cả cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn chú ý đến việc mở rộng cánh cửa để Cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận của cách mạng thế giới, để cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam là một bộ phận của cuộc đấu tranh của nhân loại tiến bộ vì hòa bình và những giá trị nhân đạo.

*  *  *

Nhiều nhà nghiên cứu về Hồ Chí Minh đã thống nhất trong nhận định rằng: Hồ Chí Minh là một lãnh tụ luôn xuất hiện đúng lúc tại những thời điểm lịch sử mang tính bước ngoặt. Sự kiện Người trở về Việt Nam trực tiếp lãnh đạo cách mạng vào mùa xuân năm 1941, sau những năm dài tìm đường cứu nước, cũng là một sự kiện như vậy.

Ngô Vương Anh

baotintuc.vn

Kho tư liệu về Bác Hồ của anh “Hai Lúa” Nguyễn Văn Nhung

Anh Nhung bên những trang tư liệu về Bác Hồ

Mặc dù đã được anh bạn đồng nghiệp làm báo địa phương giới thiệu từ trước, nhưng lần đầu tiên được “mục sở thị” cái “gia tài” đồ sộ bao gồm tranh ảnh và những tư liệu và hình ảnh về Chủ tịch Hồ Chí Minh trong căn nhà nhỏ đơn sơ nằm cặp bên mé sông Kinh Lộ (thuộc xã Thới An Hội, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng) của anh “Hai lúa” Nguyễn Văn Nhung vẫn khiến tôi không khỏi bất ngờ. Hơn 30 năm sưu tầm những tư liệu và hình ảnh về Bác, đến nay anh Nhung đang sở hữu hơn 6.000 tư liệu và trên 2.000 hình ảnh về Bác. Việc làm đầy ý nghĩa của anh đã được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam xác nhận là người sưu tầm tư liệu và hình ảnh Bác Hồ nhiều nhất.

Cơ duyên sưu tầm tư liệu về Bác

Hôm chúng tôi đến, anh Nguyễn Văn Nhung đang bận tiếp khách. Khách của anh là các em học sinh của trường THCS và THPT huyện Kế Sách, đến nhờ anh tìm giùm tư liệu và hình ảnh để viết bài dự thi “Tìm hiểu về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Bên đàn em thơ tíu tít vây quanh với vô số những câu hỏi, anh nhiệt tình thuyết minh, giảng giải cặn kẽ, say sưa kể lại những câu chuyện về Bác. Các em chăm chú lắng nghe, ghi chép lại trong những quyển vở học trò.

Tranh thủ lúc anh đang bận, tôi dạo một vòng quanh ngôi nhà. Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt chúng tôi là hai chiếc bàn thờ được đặt trang trọng ngay chính diện. Một bức tượng Bác bằng thạch cao ở bàn thờ chính. Kế bên là một bàn thờ khác, bên trên đặt di ảnh Bác, phía trên di ảnh Bác là câu nói trích từ bài phát biểu của cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh tại Đại hội lần thứ VI của Đảng: “Chúng ta thành kính hướng về Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, vị lãnh tụ kính yêu mà tư tưởng và đạo đức của Người luôn sống mãi trong sự nghiệp của nhân dân ta”. Hai bên là hai tấm giấy điều ghi lại câu nói của người: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/Thành công, thành công, đại thành công”. Xung quanh bốn phía tường nhà treo kín ảnh Bác, phía dưới là kho tư liệu được sắp đặt ngăn nắp, quy củ như một thư viện nhỏ…

Xế trưa, khách đã vãn, anh Nguyễn Văn Nhung mới có thời gian rảnh để tiếp chúng tôi. Xoa xoa hai bàn tay vào nhau, trên gương mặt sạm đen của anh nở nụ cười rạng rỡ: “Ngày nào cũng có khách, hôm nay còn ít, mọi khi còn đông hơn nữa kia. Mong nhà báo thông cảm! Hơi mệt nhưng hôm nào không có ai tìm đến tìm hiểu, tra cứu tư liệu về Bác là mình lại thấy nhớ, thấy buồn, người bứt rứt không yên…”. Đối với anh Nguyễn Văn Nhung, hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị Cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam luôn ở trong tim, hiện diện ngay cả trong từng bữa ăn, giấc ngủ!

– Từ đâu mà anh lại có ý định đi sưu tầm những tư liệu và hình ảnh Bác Hồ? – Tôi hỏi.

– Vào một ngày năm 1969, khi tôi mới 11 tuổi, được mẹ dẫn về thăm quê ngoại. Đêm ấy, đang nằm bên ngoại, tôi chợt nghe thấy tiếng khóc sụt sùi. Trong suy nghĩ non nớt của mình, tưởng có chuyện gì tôi liền bật dậy thì thấy ngoại đang ôm một tấm ảnh và khóc. Ngoại đang ôm ảnh của ai mà khóc vậy? Ngoại trả lời: “Bác Hồ đó con! Người vừa mất!”. Lần đầu tiên tôi nghe nói đến hai tiếng Bác Hồ, thấy lạ nên liền hỏi: “Bác Hồ là ai? Sao ngoại lại ôm ảnh Bác Hồ và khóc?”. Ngoại trả lời: “Khi nào lớn lên con sẽ biết!”… Ngừng lại một lát như để kìm nén nỗi xúc động, một lát sau anh Nhung chậm rãi kể tiếp: “Sau đó ít lâu, tôi theo mẹ đến một ngôi chùa. Tại đây, tôi thấy nhà sư cũng đang thắp nhang trước di ảnh Bác Hồ. Tò mò, tôi lại hỏi thì nhà sư đó trả lời: “Đó là vị thánh sống của dân tộc Việt Nam. Người đã tìm đường để dân tộc ta thoát khỏi ách thống trị của thực dân và đế quốc, đưa nhân dân ta từ vũng lầy bước ra ánh sáng, thoát kiếp lầm than nô lệ…”. Câu nói của vị sư găm vào trí óc non nớt của tôi khiến tôi phải suy nghĩ. kể từ đó tôi ghi nhớ cái tên đó trong đầu…”.

Nhưng “cú hích” khiến anh Nguyễn Văn Nhung bắt đầu công việc sưu tầm những tư liệu và hình ảnh về Bác là thời gian sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà. Một lần gặp các chú bộ đội cụ Hồ, thấy chú nào cũng có ảnh Bác, anh liền lân la đến hỏi chuyện. Được các chú bộ đội kể cho nghe câu chuyện một nông dân Cà Mau gửi cây vú sữa theo đoàn quân tập kết ra Bắc tặng Bác Hồ. Cây vú sữa ấy được Bác trồng, chăm sóc, nâng niu. Nhìn cây, không phút giây nào Bác không nhớ đến miền Nam. Bác nói: “Miền Nam trong trái tim tôi!”. Từ đó, hình ảnh Bác Hồ đã khắc sâu vào tâm khảm anh với lòng ngưỡng mộ, kính yêu muôn vàn sâu sắc. Anh quyết định phải làm một điều gì đó để thể hiện tình cảm của mình đối với Bác và quyết định sưu tầm những tư liệu và hình ảnh về Người.

Người “giàu” nhất xứ cù lao

Sinh ra trong một gia đình nghèo ở một vùng quê nghèo khó nhất của huyện Kế Sách, nhà không một tấc đất cắm dùi, ngay từ nhỏ cậu bé Nguyễn Văn Nhung đã phải trầm mình dưới dòng nước con sông Kinh Lộ mò cua bắt cá giúp mẹ kiếm cái ăn qua ngày. Nhà nghèo, thương mẹ tảo tần vất vả sớm khuya, nên học chưa hết cấp II cậu bé Nhung đành bỏ ngang việc học để đi làm thuê kiếm sống. Lớn lên, rồi lập gia đình, cái đói cái nghèo vẫn chẳng buông tha. Gia đình bên vợ cũng nghèo, cưới nhau xong, hai vợ chồng anh dắt nhau về cất một căn chòi lá bên mé sông Kinh Lộ để che mưa che nắng, có chỗ chui ra chui vào. Hàng ngày, vợ anh quẩy gánh cháo đi bán dạo nơi đầu làng cuối xóm, còn anh đi làm thuê làm mướn kiếm miếng ăn đắp đổi qua ngày. Năm đứa con “trứng gà trứng vịt” nối nhau ra đời, cuộc sống cứ thế trôi đi. Thời gian này, anh bắt đầu tìm kiếm những tư liệu và hình ảnh đầu tiên về Bác. Cuộc sống khó khăn vất vả như vậy nhưng trong lúc đi làm thuê làm mướn, thấy có những tư liệu, hình ảnh về Bác Hồ là anh Nhung lại nằn nì xin cho bằng được. Người nào không cho, anh bỏ tiền ra xin chụp lại rồi trả bản gốc. Chẳng mấy chốc “gia tài” những tư liệu và hình ảnh về Bác của anh Nhung đã lên tới con số hàng ngàn.

Những tư liệu và hình ảnh về Bác mà anh Nhung sưu tầm được

Tuy nhiên, “đã nghèo lại vướng cái eo”, cơn bão số 9 năm 1997 khắc nghiệt đã giật đổ căn chòi lá che mưa che nắng của vợ chồng anh và năm đứa con. Xót của thì ít, nhưng anh “xót đau đến trào cả nước mắt” khi nhìn hàng ngàn tư liệu, bức ảnh về Bác Hồ mà anh đã kỳ công sưu tầm được không có nơi cất giữ, bị ẩm mốc, mục nát phải bỏ. Bà con hàng xóm nhiều người xót xa ái ngại cho hoàn cảnh của anh.

Nhớ lại những ngày ấy, anh Nguyễn Văn Nhung cười mà rưng rưng nước mắt. Nhờ sự tần tảo của hai vợ chồng, cuộc sống tuy chưa dư dả gì nhưng đã có cái ăn, sắp nhỏ cũng được đi học. Từ đó, anh chuyên chú hơn vào việc tìm kiếm và sưu tầm những tư liệu và hình ảnh Bác Hồ.

– Ở một vùng quê, nơi đời sống vật chất của người dân còn chưa đầy đủ, đời sống tinh thần còn là vấn đề xa xỉ thì nhờ đâu mà anh lại sưu tầm được kho tư liệu “giàu có” về Bác Hồ như vậy? – Tôi hỏi. Anh Nhung tâm sự:

– Tôi bắt đầu cuộc hành trình đi tìm tư liệu và hình ảnh về Bác từ năm 1978. Lúc đầu tôi đạp xe lên huyện, rồi lân la lên tỉnh tìm đến ngành văn hóa thông tin, đến các cơ quan báo đài của tỉnh… hỏi xin báo cũ. Không cứ trên tỉnh, ngay cả UBND các xã, trường học, bưu điện… cơ quan nào có báo là tôi có mặt. Ngoài ra, khi tích góp được ít tiền tôi lại bắt xe lên thành phố Sóc Trăng mua sách báo cũ mang về. Nghe ngóng thông tin gia đình nào có tư liệu, hình ảnh về Bác Hồ tôi lại tìm đến. Nếu xin không được thì tôi nằn nì họ cho chụp lại hoặc nhờ họa sĩ đến vẽ luôn tại chỗ. Mỗi chuyến đi như vậy tôi cũng sưu tầm được khá nhiều…Ngưng một lát, anh Nhung kể tiếp: “Có được “nguồn rồi” đêm đến tôi chong đèn tìm trong đống sách báo ấy có tư liệu, hình ảnh nào về Bác thì cắt ra, sắp xếp, phân chia theo từng nội dung, từng giai đoạn. Đến nay tôi đã sưu tầm được hơn 6.000 tư liệu và trên 2.000 hình ảnh về Bác Hồ!” – anh Nhung vui mừng khoe.

Anh Nguyễn Văn Nhung kể, khi biết anh là một nông dân nghèo nhưng lại có đam mê sưu tầm những tư liệu và hình ảnh về Bác và đặc biệt, kể từ khi được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam xác nhận là người sưu tầm những tư liệu và hình ảnh về Bác Hồ nhiều nhất, nhiều nhà hảo tâm, “mạnh thường quân” đã tìm đến thăm và hỗ trợ anh xây dựng một căn nhà nhỏ để có nơi lưu giữ “gia tài” quý giá này. Giờ đây, căn nhà nhỏ nhưng khang trang của anh Nguyễn Văn Nhung ở xã Thới An (huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng) hàng ngày luôn có người đến tra cứu, tìm hiểu những tư liệu và hình ảnh về Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, trong đó có không ít những vị khách phương xa. Đặc biệt, trong mấy năm qua anh liên tục tiếp đón các đoàn học sinh, các cơ quan đoàn thể trong và ngoài tỉnh Sóc Trăng đến tra cứu, tìm hiểu để tham gia cuộc thi “Tìm hiểu về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Với anh Nhung, đó là niềm hạnh phúc đang được sẻ chia và nhân lên gấp bội.

Theo http://www.baotintuc.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Người cựu binh và thư viện về Bác

TTO – Suốt gần 50 năm qua, ông Nguyễn Văn Mùi (khu đô thị Nam Cường, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương) cất công tìm giữ những tư liệu về Bác Hồ. Thời gian nghỉ hưu, ông tập hợp tư liệu thành những cuốn sách gửi tặng bảo tàng. Nhà ông đã từ lâu trở thành “thư viện” để mọi người tìm đến mỗi khi muốn đọc sách, xem phim, nghe kể chuyện về Bác…

Ông Nguyễn Văn Mùi giới thiệu các cuốn sách viết về Bác Hồ do ông biên soạn

Những kỷ vật cuộc đời

Sinh năm 1940, ông Mùi đã 2 lần tham gia kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. “Biết bao anh lính trẻ như tôi hồi ấy chỉ ao ước được gặp Bác một lần”, ông bộc bạch. Những ngày tháng phục vụ trong quân ngũ, hễ thấy tư liệu về  Bác, anh lính Nguyễn Văn Mùi liền ghi chép, cắt dán và cất kĩ trong ba lô, mang đi khắp các chiến trường. Năm 1974, xuất ngũ và được giao nhiệm vụ phụ trách đội lái xe của Cục vận tải, có điều kiện được đọc nhiều sách báo nói về Hồ chủ tịch, ông tiếp tục sưu tầm được thêm nhiều tư liệu quý.

Cuốn tạp chí lí luận Học tập của Đảng Lao động Việt Nam số đặc biệt ra tháng 9-1969 với nội dung: “Vô cùng thương tiếc chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến” đã ố màu được ông Mùi quý nhất, cất giữ rất cẩn thận. Ông tự hào: “Đây là cuốn tạp chí duy nhất tập hợp đầy đủ những thông tin về lễ quốc tang Bác Hồ và 25 điện chia buồn của các quốc gia trên thế giới, hiện không mấy người giữ được”.

Ngoài những tài liệu từ sách báo, kho tư liệu của ông Mùi còn có 200 cuộn phim, video nói về Đảng, nhà nước, và cuộc đời các đồng chí lãnh đạo, trong số ấy có tới 130 bộ phim nói về cuộc đời Bác. Ông Mùi khóc: “Xem phim “Những giờ phút cuối đời của Bác Hồ” mà thương Bác lắm! Cả cuộc đời Bác chịu bao khổ cực, đến lúc nhắm mắt mà Người vẫn canh cánh lo đất nước còn chia cắt 2 miền…Con người Bác, đến lúc từ giã cuộc đời, chỉ duy nhất một nỗi niềm dân nước!”

Biên soạn sách về Bác

Ông Mùi tâm sự: “Trong những năm tham gia quân ngũ, ba lô của tôi có thể thiếu khăn mặt, bàn chải đánh răng, thiếu ảnh người thân nhưng không bao giờ thiếu tư liệu về Bác. Với tôi những quyển sách, tấm ảnh, cuộn phim về Bác được xem như kỷ vật quý theo suốt cuộc đời mình”.

Tháng 9-2007, ông đạt giải nhất cuộc thi tháng “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tháng 6-2008, giải xuất sắc cuộc thi chung khảo “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do ban Tuyên giáo Trung ương phát động.

Cách đây 2 năm, ông bị tai nạn liệt nửa người, đi lại bằng xe lăn nhưng hễ nghe tin ở đâu có người cất giữ tư liệu về Bác là ông lại cất công đến tận nơi tìm hiểu. Bất chấp tình hình sức khỏe, những ngày này, ông Mùi vẫn đang biên soạn những trang cuối cùng cho cuốn sách nhân ngày kỉ niệm 40 năm Bác ra đi vào cõi vĩnh hằng.

“Không có gì quý hơn độc lập tự do”, đó là nhan đề tập sách dày hơn 400 trang, đóng bìa cứng mạ đồng xuất bản năm 2006 do ông Mùi kì công sắp xếp, biên tập lại từ những tư liệu mà ông thu thập được. Giải thích về nhan đề cuốn sách ông Mùi cho biết: “Tôi phải mất cả tuần mới nghĩ ra được tiêu đề ý nghĩa ấy. Cả cuộc đời không giây phút nào Bác không nghĩ đến độc lập tự do cho dân tộc!”

Năm 2007, ông Mùi tiếp tục biên soạn cuốn sách “Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta” nói về gia đình, dòng họ của Bác. Cuốn sách dầy hơn 500 trang, đóng bìa vân rất đẹp đã được ông gửi tham dự cuộc thi “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do ban Tuyên giáo Trung ương phát động. Nói về tâm nguyện của ông Mùi, Đại tá Nguyễn Trung Hiếu – nguyên chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hải Dương tâm sự: “Tôi thường xuyên đến “thư viện” của ông bạn già để tìm hiểu nhiều tư liệu quý về Bác mà bây giờ muốn mua, muốn sưu tập cũng không dễ. Có những cuốn sách đọc vài ba lần, những bộ phim xem hàng chục lần vẫn không chán. Thiết nghĩ, những tài liệu này mà được sử dụng trong trường học, công tác đoàn hay trong quân đội thì sẽ trở thành những bài học chân thực và xúc động cho các bạn trẻ”.

Những tài liệu trong cuốn sách đã được ông Mùi lặn lội lên tận Bảo tàng Hồ Chí Minh (Hà Nội) kiểm tra độ xác thực thông tin. Ông nhớ lại: “Ban giám đốc bảo tàng lúc ấy đã nhiệt thành đọc, nghiên cứu những tài liệu của tôi. Thật vui vì không có chi tiết sai!”. Sau này, khi cuốn sách chính thức hoàn thành, trình bày và scan ảnh đâu đấy, ông Mùi lên tận Hà Nội, đích thân trao tặng bảo tàng. Lật giở những “trang đời” hoạt động cách mạng của Bác, đôi mắt ông ngấn nước: “Con cháu thế hệ mai sau sẽ đọc, sẽ tìm hiểu về cuộc đời Bác Hồ và những tư tưởng của Người. Phải giáo dục cho thế hệ trẻ lòng tôn kính với lịch sử dân tộc và những con người làm nên lịch sử. Quý lắm, giá trị lắm!…”

Ngoài những cuốn sách do tự tay ông Mùi biên soạn, các tấm ảnh, bài báo cũ về Bác cũng được ông đóng ghim cẩn thận thành từng tập theo những chủ đề riêng, đặt gọn gàng trên giá gỗ để ngoài phòng khách. Mỗi khi có người đến chơi ông lại giới thiệu kỹ càng từng tài liệu, từng chủ đề, ai muốn mượn ông ra điều kiện: phải để lại địa chỉ, số điện thoại và đem trả đúng thời hạn.

THÂN HOÀNG – ANH NGỌC

tuoitre.vn

Họa hình Bác bằng đầu ngón tay

Một chú bộ đội lấy ra trong bóp bức ảnh Bác Hồ đưa cho Tiến vẽ thử. Cậu bé ngắm nghía rồi tò mò hỏi: “Người trong ảnh là ai?”. Chú bộ đội bảo: “Đó là ông tiên, khi nào đất nước hết chiến tranh, cháu sẽ được gặp ông tiên”. Thế là Tiến say sưa vẽ ông tiên ngay trong đêm dưới ánh đèn dầu…

Ký ức thời gian khổ

Sinh ra và lớn lên ở vùng quê nghèo bị chiến tranh tàn phá (xã Phú Đức, huyện Châu Thành, Bến Tre), Đoàn Việt Tiến nhớ mãi hình ảnh cha cõng trên lưng cùng mẹ dìu dắt các anh em vượt sông Tiền sang Mỹ Tho nương náu. Cậu học trò gầy nhom ở xóm chợ Vong Nhỏ thời ấy đã ý thức rất sớm chuyện cơm áo, gạo tiền. Một buổi đi học, một buổi Tiến cùng các anh bán bánh mì, đẩy củi thuê. Tiền kiếm được Tiến dành dụm mua áo quần, dụng cụ học tập và sướng nhất là sắm được các tuýp màu nước.

Tiến mê vẽ từ những năm học vỡ lòng. Buổi chiều khi xong việc, Tiến thường thơ thẩn bên bờ sông Tiền nhìn về quê ngoại Bến Tre. Đau đáu nỗi nhớ nhà, Tiến vẽ dòng sông, con đò và chiến tranh khốc liệt với xe tăng, máy bay, tàu chiến…

Trong lần về quê ngoại, giữa gian nhà nơi ông bà bí mật nuôi giấu cán bộ cách mạng, cậu bé đã gặp được các chú bộ đội. Tiến trổ tài vẽ chân dung chú bộ đội. Ai cũng ngạc nhiên và khen bức ký họa có hồn.

Một chú bộ đội lấy ra trong bóp bức ảnh Bác Hồ đưa cho Tiến vẽ thử. Cậu bé ngắm nghía rồi tò mò hỏi: “Người trong ảnh là ai?”. Chú bộ đội bảo: “Đó là ông tiên, khi nào đất nước hết chiến tranh, cháu sẽ được gặp ông tiên”. Thế là Tiến say sưa vẽ ông tiên ngay trong đêm dưới ánh đèn dầu.

Ngày đất nước thống nhất, anh tiếp tục say sưa vẽ Bác. Chiến tranh biên giới Tây Nam bùng nổ, anh cựu học sinh Trường THPT Châu Thành B (Bến Tre) tình nguyện sang Campuchia tham gia chiến đấu tại Sư 330 (Quân khu 9).

Từng ngón đảm nhận mỗi mảng màu sáng tối khác nhau. Riêng móng tay làm nhiệm vụ vét tỉa.

Tranh thủ lúc tạm ngưng tiếng súng, anh lại vẽ ký họa về Bác, về đồng đội và cuộc chiến. Bất cứ chất liệu gì có thể làm nên tranh vẽ đều được anh tận dụng, hết giấy học trò, vải thì dùng vỏ tràm, hết bút mực lại dùng than củi.

Năm 1984, Tiến xuất ngũ. Người thương binh 3/4 lại lao vào vật lộn với cơm áo, gạo tiền. Anh lang thang khắp các chợ từ Bến Tre, Tiền Giang, Vĩnh Long sang Trà Vinh, Cần Thơ, Đồng Tháp vẽ chân dung, kẻ bảng hiệu quảng cáo. Chợ tan, anh đạp chiếc xe đạp cà tàng len lỏi vào xóm xa nhận phục hồi ảnh thờ cũ.

Bôn ba khắp xứ, thay đổi chỗ ở trên 60 lần, vẽ vời đủ thứ nhưng tiền chỉ đủ trả tiền thuê nhà, cơm ngày hai bữa, túi cứ rỗng không, anh quyết định trở về quê nhà Bến Tre, vì dù sao nơi ấy anh còn có mẹ.

Mười năm khổ luyện ngón tay

Từ rất lâu, trong tim của Đoàn Việt Tiến luôn ấp ủ quyết tâm vẽ bộ sưu tập chân dung Bác Hồ.

Năm 1989, tình cờ sau cơn mưa, nhìn thấy tấm kính bị vỡ trước sân nhà, nắng rọi vào ánh lên sắc màu lung linh, anh nảy ra ý tưởng sao không thử vẽ chân dung Bác lên kính. Vậy là Tiến lao vào thử nghiệm. Cả trăm lần vẽ không thành, dùng cọ vẽ màu lên kính không xong. Đôi lúc quá mệt mỏi, anh lăn ra ngủ luôn tại chỗ.

Lần đầu tiên sau mười năm khổ luyện, bức chân dung Bác Hồ vẽ ngược trên kính khá hoàn chỉnh đã được Tiến trao tặng cho Hội Cựu chiến binh huyện Châu Thành (Bến Tre) nhân dịp kỷ niệm sinh nhật Bác năm 1999.

Đoàn Việt Tiến dùng đầu ngón tay vẽ ngược chân dung Bác Hồ trên kính.

Năm sau, nghe báo, đài giới thiệu biệt tài của một họa sĩ vẽ ngược chân dung Bác Hồ trên kính, Bảo tàng Hồ Chí Minh tại TP.HCM cử người về xã Phú Đức mời Tiến về TP thực hiện bộ sưu tập chân dung Bác Hồ. Sau 100 ngày lao động cật lực, anh đã hoàn thành bộ sưu tập 30 ảnh bằng chất liệu màu dầu với ba khổ ảnh 50 x 70 cm, 60 x 90 cm, 80 cm x 1,2 m.

Ngày 3-2-2001 tại Bảo tàng Hồ Chí Minh tại TP.HCM, triển lãm ra mắt bộ sưu tập chân dung Bác do họa sĩ Đoàn Việt Tiến trao tặng đã thu hút đông đảo người xem. Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh nhận xét: “Để thành công với phong cách mới, chất liệu vẽ mới…, không chỉ tài năng sáng tạo, người vẽ còn phải có một trái tim luôn hướng về Bác mới tạo nên thần sắc trong từng bức vẽ như vậy”.

Không ngơi nghỉ, Tiến tiếp tục vẽ 12 chân dung Bác Tôn tặng cho Bảo tàng Tôn Đức Thắng. Bức tranh vẽ ngược trên kính với khổ lớn nhất là chân dung thượng tọa Thích Quảng Đức (1,2 x 2,2 m) vẽ tại Tổ đình Quan Thế Âm (quận Phú Nhuận). Sau đó, anh quay về quê vẽ tặng cho Bảo tàng tỉnh Bến Tre 34 bức tranh về Bác Hồ với đời thường.

Chân dung Tiến chọn vẽ đa số là các bậc hiền tài, nhà lãnh đạo cách mạng kiệt xuất. Anh vẽ tặng chân dung nhà lãnh đạo cách mạng Cuba Fidel Castro đến hai lần, ngoài ra còn chân dung Che Guevara, nữ tướng Nguyễn Thị Định.

Tranh và tấm lòng vì người nghèo

Đoàn Việt Tiến cho biết vẽ ngược trên kính có lợi thế là khi những mảng màu bám vào kính sẽ tạo ra bức tranh sắc nét, khó phai theo thời gian. Sau mỗi lần thất bại anh lại rút ra nhiều kinh nghiệm quý báu. Với mười đầu ngón tay, từng ngón được phân công đảm nhận một mảng màu sáng tối khác nhau. Riêng móng tay giữ nhiệm vụ vét tỉa những đường cong hay nét nhỏ cho ảnh thêm sắc sảo.

Càng tập trung điều khiển ngón tay để vẽ, lắm lúc tay, chân và toàn thân anh tê cứng như người bị bại liệt. Năm 2003, do vẽ liên tục bằng đầu ngón tay ảnh hưởng đến tim và các dây thần kinh, Tiến phải nhập viện điều trị gần một tháng. Anh buồn ủ rũi, lo sợ hai bàn tay không còn uyển chuyển nhả màu. Nhưng vừa khỏi bệnh anh lại lao vào vẽ.

Vẽ chân dung thượng tọa Thích Quảng Đức.

Tiếng lành đồn xa về họa sĩ Việt Nam duy nhất vẽ tranh bằng ngón tay trên kính đã xác lập kỷ lục quốc gia (năm 2005), Tiến được mời sang biểu diễn giao lưu ở nhiều nước (Trung Quốc, Campuchia, Thái Lan, Đức, Singapore, Ba Lan). Nhận lời mời của giáo sư viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng, Chủ tịch Liên hiệp Các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam, từ năm 2007 đến nay anh đã hoàn thành 26 bức tranh trong bộ sưu tập chân dung các nhà vua Việt Nam.

Tranh của Tiến đặc biệt không bán. Anh mang biếu khắp nơi. Khi đã trở thành người nổi tiếng, sau mỗi chuyến xuất ngoại trở về, anh luôn nhận được rủng rỉnh các khoản thù lao, tặng thưởng của kiều bào và khách nước ngoài. Chỉ riêng chuyến đi Ba Lan 30 ngày anh đã nhận được tiền thưởng 20.000 USD. Có tiền, anh bắt đầu suy nghĩ làm từ thiện.

Tiến có rất nhiều mạnh thường quân là những người ngưỡng mộ tài năng của anh. Năm năm qua, chỉ riêng xã nhà Phú Đức anh đã huy động mang về 35 tấn gạo tặng người nghèo, góp trên 300 triệu đồng giúp địa phương xây dựng đền thờ liệt sĩ xã, đình làng cùng 17 ngôi nhà tình nghĩa, tình thương xây tặng cho người nghèo, người neo đơn tại Bến Tre, Tiền Giang.

Đoàn Việt Tiến tâm sự: “Càng tham gia từ thiện, cái tâm của mình càng thanh thản, phấn chấn. Tôi có cảm giác nét vẽ của mình thăng hoa hơn khi trải lòng ra vì mọi người”. Điều anh vui nhất là xây tặng mẹ ngôi nhà khang trang thay cho gian nhà trống trước dột sau để mẹ anh an hưởng tuổi già.

DƯƠNG THANH HUY
Pháp Luật TP.HCM

tuoitre.vn

Tình cảm của một người bạn Nga lần đầu tiên đến thăm Việt Nam

Viện sĩ V.V, Banin (người ngồi viết) ghi lại những tình cảm của mình tại Khu Di tích K9

Trong dịp tu bổ định kỳ Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 2011, chúng tôi đã được đón Viện sĩ thông tấn Y học Liên bang Nga, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Victor Vasilievich Banin, trên cương vị Phó Giám đốc Trung tâm nghiên cứu y sinh Matxcơva sang thăm và làm việc tại Việt Nam. Đây là lần đầu tiên ông đến Việt Nam. Ngay khi đến Hà Nội, ông đã dành thời gian vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, thăm nơi ở và làm việc của Người. Trên đường sang thăm Khu Di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, ông đã tâm sự: “Trung tâm nghiên cứu y sinh Matxcơva đã trực tiếp giúp Việt Nam giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh hơn 40 năm qua, nhưng hôm nay tôi mới có dịp sang Việt Nam để cùng với các bạn thực hiện nhiệm vụ quan trọng này. Đối với mỗi người công dân Nga như chúng tôi, tên của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi vào trong tâm khảm của mỗi người. Cuộc đời của Người thực sự là tấm gương sống động để chúng ta học tập”.

Trong thời gian công tác tại Việt Nam, những ngày nghỉ, giờ nghỉ, chúng tôi trông thủ mời ông đi thăm một số di tích, danh lam thắng cảnh tại Thủ đô Hà Nội. Đi đến đâu, ông cũng xem xét cụ thể tỉ mỉ, hỏi rõ từng chi tiết lịch sử và chụp rất nhiều hình ảnh về Việt Nam. Khi đến thăm Khu Di tích K9, nơi các nhà khoa học y tế Liên Xô đã cùng với các bác sĩ Việt Nam giữ gìn tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh trong 6 năm chiến tranh (1969 – 1975), ông đã thực sự xúc động khi được nghe kể về lịch sử hình thành Khu Di tích K9 – nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp quyết định vị trí để Trung ương và Người làm việc trong những năm kháng chiến chống Mỹ; cũng là nơi Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Quân uỷ Trung ương quyết định giữ gìn thi hài của Người trong chiến tranh ác liệt. Ông và các đồng nghiệp đi cùng đã dâng hương tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh tại ngôi nhà trước đây Người đã làm việc.

Thăm từng kỷ vật đã gắn bó với hoạt động của Người tại K9; thăm những chiếc xe chuyên dụng đã nhiều lần tham gia di chuyển thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chiến tranh và thăm những nơi các chuyên gia Liên Xô trước đây đã từng đồng cam, cộng khổ, chia ngọt xẻ bùi với các đồng nghiệp Việt Nam trong những ngày đầu giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Kết thúc buổi tham quan, chúng tôi đã mời ông ghi lại đôi dòng cảm tưởng khi đến K9. Cầm cây bút trên tay, ông lặng người đi trong giây lát và như đã suy nghĩ từ trước, ông viết nắn nót từng dòng, từng dòng, cho đến khi kín cả trang giấy… rồi ông đọc to để chúng tôi và các bạn Nga đi cùng nghe, sau đó ông mới thận trọng ký tên và ghi rõ cả họ tên của mình vào trang cảm tưởng. Nắm chặt tay tôi khi trao cuốn sổ ghi cảm tưởng, ông vẫn còn nghẹn ngào xúc động: “Các bạn đã làm được một điều kỳ diệu là chiến thắng được kẻ thù hung hãn nhất thế giới và ngày nay đang xây dựng được một xã hội có nền kinh tế phát triển. Việt Nam là một đất nước có nhiều di tích, danh lam lịch sử và rất mến khách. Tôi sẽ ghi nhớ mãi chuyến công tác này…”.

Hai mươi ngày làm việc với Viện sĩ V.V. Banin tại Việt Nam, ông đã để lại cho mỗi chúng tôi một tình cảm đặc biệt về trí tuệ trong chuyên môn, về phương pháp tư duy khoa học và nhất là tình yêu đất nước con người Việt Nam. Phải chăng đó cũng là tình cảm thiêng liêng của những người con của quê hương Lênin vĩ đại đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hoá kiệt xuất và cũng là tình cảm của mỗi người Nga đối với con người và đất nước Việt Nam chúng ta.

Tháng 10, năm 2011
Đặng Nam Điền

bqllang.gov.vn

Học Bác Hồ để mình tốt hơn

TTO – Thuở nhỏ, mỗi lần đọc báo, tạp chí gặp ảnh Bác Hồ là Thọ cắt dán cẩn thận vào quyển sưu tập ảnh Bác của mình. Lớn lên, em vào mạng Internet sưu tập thêm những ảnh Bác Hồ mà mình chưa có được…

Cậu học trò say mê sưu tập ảnh Bác Hồ là Đặng Hữu Thọ, ở xã Tiên Thủy, huyện Châu Thành, học sinh lớp 10 trường THPT Châu Thành B, tỉnh Bến Tre.

Đặng Hữu Thọ và album sưu tập ảnh Bác Hồ

Ông Đặng Hữu Lộc, cha của Thọ, nguyên là bộ đội cụ Hồ, kể: lúc nhỏ, nhìn thấy ảnh chân dung của bác Hồ, Thọ hỏi: “Hình của ai?”, ông nói: “Đó là ông cố Hồ của con”. Từ đấy, tối nào đốt nhang cho ông, bà, Thọ cũng đốt nhang cho ông  “cố Hồ” của mình. Ông “cố Hồ”, trở thành người thân trong lòng Thọ lúc tuổi còn thơ dại.

Thấy con kính trọng ông “cố Hồ”, ông Lộc hay kể những câu chuyện về Bác, đọc thơ về Bác. Bài thơ hai cha con tâm đắc nhất là bài “Bác ơi” của nhà thơ Tố Hữu:

“Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa
Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa…
Chiều nay con chạy về thăm Bác
Ướt lạnh vườn cau, mấy gốc dừa!

Bác để tình thương cho chúng con
Một đời thanh bạch, chẳng vàng son
Mong manh áo vải hồn muôn trượng
Hơn tượng đồng phơi những lối mòn”.

Ngày ngày, nghe cha kể những câu chuyện về Bác Hồ, tình cảm dành cho Bác trong Thọ cáng thêm sâu sắc. Từ cuối năm học lớp 1, bắt đầu đọc được báo, mỗi lần bắt gặp ảnh Bác Hồ là Thọ cắt dán cẩn thận vào quyển tập của mình. Ngày lại ngày, quyển tập sưu tập ảnh Bác của Thọ càng dày thêm, và đến nay thì Thọ còn có một album sưu tập ảnh Bác Hồ trên mạng Internet.

Hơn 10 năm say mê, Thọ đã có hơn 200 ảnh Bác Hồ. Không chỉ sưu tập ảnh Bác mà Thọ còn vẽ được chân dung Bác Hồ giống như thật. Ngoài sưu tập ảnh, Thọ còn sưu tầm thơ, bài viết của Bác, bài viết về Bác. Thọ tâm đắc: “Qua Bác, em học tập rất nhiều điều, đó là các đức tính: cần, kiệm, liêm, chính, giản dị. Em luôn khắc ghi câu nói của một nhà báo Úc: “Không ai có thể trở thành Hồ Chí Minh. Nhưng ở Hồ Chí Minh, mỗi người có thể học một số điều để làm cho mình tốt hơn”. Em đã học đức tính cần, kiệm, liêm chính của Bác trong học tập, thi cử; ở nhà thì học tập cách sống giản dị của Bác”.

Chân dung thanh niên Nguyễn Tất Thành do Thọ vẽ

Nói về con mình, ông Lộc kể: Biết gia đình nghèo, cha làm thuê, mẹ bán rau, cải ở chợ, nhiều năm qua Thọ vẫn đến trường bằng chiếc xe đạp đầm cũ. Xe đã cũ lắm, nhưng Thọ không đua đòi cha sắm xe Martin hay xe đạp điện như các bạn học cùng trường.

Thọ đã nhiều năm liền là học sinh khá, giỏi. Em vừa đạt giải nhì cuộc thi Kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh do huyện Châu Thành tổ chức. Nói về ước mơ của mình, Thọ tâm sự: “Em ước mong được một lần ra thủ đô vào lăng viếng Bác, để thấy hình hài thật của Bác, người ông em luôn kính yêu và học tập và làm theo”.

LƯ THẾ NHÃ

tuoitre.vn

Đêm tháng 5 năm ấy

Cuộc đời của Bác đã hy sinh tất cả cho dân cho nước. Đêm đêm một mình, Bác nằm đó lấy tiếng đài làm niềm vui…

Trong thời gian công tác ở Bộ tư lệnh Cảnh vệ, Thiếu tướng Phan Văn Xoàn, nguyên Tư lệnh Cảnh vệ vinh dự nhiều lần được bảo vệ Bác Hồ. Mỗi lần bảo vệ Bác đều để lại trong trái tim vị tướng đất Mũi những kỷ niệm không thể nào quên. Một kỷ niệm sâu sắc nhất cách đây gần nửa thế kỷ nhưng khi hồi tưởng lại, ông cứ ngỡ như mới hôm qua. Ông kể:

– Vào một đêm đầu tháng 5 năm 1962, đến phiên tôi trực ở trụ sở cơ quan tại số 1-Lê Hồng Phong (Hà Nội). Mới tháng 5 mà trời đã oi bức đến lạ. Theo kế hoạch, 21 giờ tôi đi kiểm tra công tác bảo vệ ở các mục tiêu của đơn vị. Sau khi kiểm tra hết các vọng gác ở phố Phan Đình Phùng, tôi rẽ vào cổng Đỏ, đi vào khu Phủ Chủ tịch. Kiểm tra xong các vọng gác ở phía ngoài, đi về phía nhà sàn của Bác, tôi được các đồng chí canh gác ở đây cho biết Bác vừa đi nghỉ.

Quang cảnh khu Phủ Chủ tịch ban đêm thật tĩnh mịch, không gian bao la. Bên bờ ao trước nhà sàn, ánh trăng trong vắt đổ đầy mặt nước. Thỉnh thoảng mấy chú cá ngoi lên đớp mồi làm tan đi mặt trăng non. Tôi đứng nhìn lên phòng làm việc của Bác trên tầng 2, đèn đã tắt. Nhẹ bước lên cầu thang chỉ còn đèn ngủ trên bàn vẫn sáng, Bác đã đi nằm. Chiếc màn tuyn ngả màu đã buông và cài vào mép chiếu cẩn thận. Chiếc ra-đi-ô để đầu giường vẫn mở bình thường.

Vì lòng thương và trân trọng những giờ phút nghỉ ngơi của Bác, tôi rón rén, nhẹ nhàng mở cửa đi vào phòng ngủ và có ý định tắt chiếc ra-đi-ô để Bác được ngon giấc. Khi tôi đi gần đến chiếc ra-đi-ô đưa tay vặn nhỏ công tắc để tắt, thì thật bất ngờ, Bác nói giọng tỉnh táo, ấm áp và thân tình:

– Chú đừng tắt đài, để nó nói có tiếng người trong nhà cho vui.

Tôi vội rụt tay lại và nhè nhẹ lùi dần về phía cửa, đi xuống sân. Từ khi nghe Bác nói, lòng tôi thắt lại, hai hàng lệ cứ lăn dài trên gò má. Tôi bước ra vườn tựa vào hàng cây vú sữa bên cạnh nhà sàn. Lòng nghĩ miên man. Chỉ còn hai tuần nữa là đến ngày sinh lần thứ 72 của Bác.

Tôi gọi thầm trong lòng: Bác ơi, cây vú sữa này là món quà đồng bào miền Nam gửi tặng Bác. Chồi non của nó đã vươn cao trùm lên mái nhà sàn. Câu nói của Bác cứ văng vẳng bên tôi không thể nào quên được. Cuộc đời của Bác đã hy sinh tất cả cho dân cho nước. Đêm đêm một mình, Bác nằm đó lấy tiếng đài làm niềm vui. Sự hy sinh của Bác thật lớn lao vô cùng. Càng nghĩ, tôi càng thấy thương Bác, nước mắt tôi cứ trào ra giàn giụa.

NGUYỄN ĐỨC QUÝ – Báo Quân đội nhân dân
(Theo lời kể của Thiếu tướng Phan Văn Xoàn-nguyên Tư lệnh Bộ tư lệnh Cảnh vệ)

tuoitre.vn