Tag Archive | Dân tộc

Phát huy ý nghĩa lịch sử, chính trị, văn hoá công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giáo dục truyền thống cách mạng

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã qua đời nhưng Người vẫn sống mãi với non sông, đất nước, tên tuổi và hình ảnh của Người ngày càng khắc sâu vào trái tim và khối óc của mỗi người dân nước Việt. Ngay sau khi Người qua đời, thể theo nguyện vọng thiết tha của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân; Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã quyết định giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây dựng Lăng của Người giữa Ba Đình lịch sử, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông nam Á.

Với sự giúp đỡ nhiệt tình, hiệu quả của Đảng, Nhà nước Liên Xô, trực tiếp là các nhà khoa học y tế, đã giúp đỡ Việt Nam giữ gìn, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh trong điều kiện chiến tranh ác liệt, khí hậu nhiệt đới thất thường. Điều đó có ý nghĩa vô cùng quan trọng, tạo tiền đề cơ bản cho quá trình giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này.

Ngày 2/9/1973, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được khởi công xây dựng. Bộ Quốc phòng và Bộ Kiến trúc được giao là lực lượng chủ công, nòng cốt trong quá trình tổ chức thi công. Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô đã cử những chuyên gia giỏi sang Việt Nam giúp đỡ ta xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quê hương của V.I Lê-nin vĩ đại, coi việc giúp đỡ Việt Nam là nghĩa vụ, tình cảm quốc tế cao cả của những người cộng sản.

Với tấm lòng biết ơn và kính yêu vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân và toàn quân đã đem hết trí tuệ và tinh thần, tập trung cao độ để xây dựng ngôi nhà vĩnh cửu của Người. Ngày đêm trên công trường xây dựng Lăng Bác nhộn nhịp tiếng búa, tiếng máy, tiếng cười, mọi người đều mong sao Lăng sớm được khánh thành để được gặp lại Bác sau thời gian Người đi xa.

Cả nước hướng về công trường xây dựng Lăng Bác, đóng góp sức người, sức của để xây dựng Lăng Bác như một tiếng gọi thiêng liêng của mỗi người dân, mỗi địa phương trong cả nước. Nhà máy xi măng Hải Phòng đã sản xuất hàng vạn tấn xi măng có chất lượng tốt nhất để gửi về xây dựng Lăng Bác. Cảng Hải Phòng bề bộn công việc bốc xếp hàng trong nước và quốc tế, nhưng kiện hàng nào phục vụ cho công trình Lăng Bác đều được ưu tiên vận chuyển trước. Ngành đường sắt đã dành những đầu tầu, toa tầu tốt nhất để vận chuyển vật tư xây dựng Lăng Bác. Cảm động nhất là đồng bào, chiến sỹ miền Nam đang ngày đêm đối mặt với cuộc chiến tranh ác liệt, đã vượt qua biết bao khó khăn, gian khổ, vận chuyển gỗ quý từ Tây Nguyên, từ cực Nam của Tổ quốc gửi ra Thủ đô Hà Nội để đóng góp công sức xây dựng Lăng của Người. Đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó Chủ tịch Quân giải phóng miền Nam đã thay mặt đồng bào, chiến sỹ miền Nam thưa với Bác: “Cây gỗ quý tượng trưng cho sức sống kiên cường, bất khuất của nhân dân miền Nam. Với tấm lòng trung trinh vô hạn, đồng bào chiến sỹ kính dâng lên Bác để đời đời ghi nhớ công ơn trời biển của Người”.

Sau 2 năm khẩn trương, liên tục, với khí thế thi đua chia lửa với miền Nam anh hùng, cán bộ, chiến sỹ, công nhân viên các lực lượng xây dựng Lăng Bác đã không quản ngày đêm hoàn thành tốt các hạng mục công việc. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, công việc xây dựng Lăng đang bước vào giai đoạn cuối cùng. Ngày 29 tháng 8 năm 1975, chỉ sau hơn 3 tháng miền Nam hoàn toàn giải phóng, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được khánh thành trọng thể; Bác đã về ngôi nhà vĩnh cửu của mình để cùng chung vui với con cháu trong Lễ mừng chiến thắng của toàn dân tộc diễn ra tại Quảng trường Ba Đình lịch sử vào ngày Quốc khánh 2/9/1975.

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một kỳ đài lịch sử của thế kỷ XX, là công trình của tình hữu nghị Việt Nam – Liên Xô và Liên bang Nga ngày nay; công trình của “Lòng dân – ý Đảng”; là biểu tượng của tinh thần đoàn kết toàn dân tộc; một kỳ quan vĩ đại của thế hệ hôm nay tặng lại cho muôn đời con cháu mai sau… như lời Chủ tịch Quốc hội Trường Chinh phát biểu tại Lễ khánh thành Lăng ngày 29/8/1975: “Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một công trình kiến trúc có ý nghĩa chính trị và tư tưởng to lớn, thể hiện tình cảm sâu sắc của đồng bào ta đối với Bác Hồ kính yêu. Đây là nơi nhân dân Việt Nam, từ thế hệ này đến thế hệ khác sẽ đến chiêm ngưỡng để tỏ lòng biết ơn Hồ Chủ tịch, quyết tâm đi theo con đường cách mạng của Người; xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giầu mạnh”.

Thấm thoát đã gần 42 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩnh biệt chúng ta và gần 36 năm khánh thành Công trình Lăng của Người. Ngày nối ngày, dòng người vào Lăng viếng Bác như dài vô tận. Lăng Bác đã đón tiếp 40 triệu lượt người, trong đó có hơn 7 triệu lượt khách quốc tế của hầu hết các quốc gia, vùng lãnh thổ và tổ chức quốc tế. Lăng của Người, trở thành nơi hội tụ tình cảm, niềm tin của các thế hệ người Việt Nam đối với Người Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hoá Hồ Chí Minh. Những năm gần đây, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, kinh tế trong nước tăng trưởng, hệ thống giao thông được mở mang, đời sống nhân dân được cải thiện… số lượng nhân dân các địa phương trong cả nước về Lăng viếng Bác ngày một tăng, năm sau cao hơn năm trước. Những ngày nghỉ, ngày lễ, kỷ niệm ngày sinh và ngày mất của Bác mỗi ngày có tới hàng vạn người vào Lăng viếng Bác. Ngoài tổ chức lễ viếng, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là nơi diễn ra nhiều hoạt động quan trọng của Nhà nước, nơi tổ chức các buổi mít tinh, diễu binh, diễu hành mừng các ngày lễ lớn của dân tộc; nơi thường xuyên tổ chức các sinh hoạt chính trị, văn hoá, nghệ thuật… nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”; nơi hun đúc chí khí cách mạng của thế hệ trẻ Việt Nam. Từ ngày 19/5/2001, nghi lễ chào cờ hàng ngày đã được tiến hành trang trọng trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hình ảnh của Tổ quốc với lãnh tụ được hoà quyện vào nhau, càng tôn thêm giá trị văn hoá, tinh thần và ý nghĩa chính trị của Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt từ năm 2006 đến nay, Bộ Chính trị Trung ương Đảng phát động toàn Đảng, toàn dân và toàn quân triển khai Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, các cấp, các ngành và các địa phương trong cả nước đã tích cực tổ chức nhiều hoạt động sinh hoạt chính trị có ý nghĩa trước Lăng Bác và Quảng trường Ba Đình lịch sử. Tiêu biểu là các hoạt động của Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; tuổi trẻ Quân đội, tuổi trẻ Công an; Đảng bộ tỉnh Hải Dương; Đảng bộ Huyện Ba Vì; Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam và Công ty cổ phần May 10…. Ngoài ra Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phối hợp chặt chẽ với ngành Lao động Thương binh xã hội trong cả nước và Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam tổ chức cho các gia đình chính sách, người có công với cách mạng, các gia đình ở vùng sâu, vùng xa về Lăng viếng Bác. Việc làm đó đã để lại ấn tượng và tình cảm tốt đẹp cho mỗi người khi về viếng thăm Bác.

Về Lăng viếng Bác, đối với mỗi người dân Việt Nam như một nhu cầu tình cảm, một phong tục tập quán mới, một sinh hoạt truyền thống biết ơn cội nguồn, hướng về gốc rễ trước mỗi bước đi lên. Từ cụ già đến các cháu thiếu nhi, từ người dân bình thường đến cán bộ, công chức nhà nước, tuy mỗi người một tâm trạng khác nhau nhưng khi về bên Bác đều thấy thanh thản, bình yên. Gần 36 năm qua, kể từ ngày mở cửa Lăng đến nay, dòng cảm tưởng của nhân dân trong nước, kiều bào ở nước ngoài và khách quốc tế đã được lưu giữ như mỗi ngày một dài thêm….mỗi người một vẻ, nhưng tựu chung lại là sự kính yêu, biết ơn vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và nguyện mãi mãi học tập và làm theo lời Bác dạy. Cô giáo Nguyễn Thị Huệ, 20 tuổi, người dân tộc Hơ-mông, trong đoàn giáo viên huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang về viếng Bác đã xúc động viết: “Cháu là người dân tộc Hơ-mông, lần đầu tiên vinh dự được về Hà Nội viếng Bác. Cháu chưa một lần được thấy Bác, hôm nay được gặp Bác, cháu rất cảm động. Người Hơ-mông chúng cháu được như ngày nay, được cơm no, áo ấm, được có chữ, cùng tiến bộ như các dân tộc đa số, riêng cháu lớn lên trở thành cô giáo là nhờ ơn Đảng, Bác Hồ. Cháu và dân tộc Hơ-mông chúng cháu rất ơn Đảng, ơn Bác. Cháu nguyện sẽ học tập và cố gắng giảng dạy cho các em học sinh người Hơ-mông đời đời theo Đảng, theo Bác…”. Đoàn nữ cựu tù chính trị Côn Đảo, gồm 18 chị em từ thành phố Hồ Chí Minh ra Thủ đô Hà Nội, vào Lăng viếng Bác đã nhòa nước mắt, ghi lại tình cảm của mình: “Hôm nay con về thăm Lăng Bác; nuốt lệ mừng nhớ lại tháng năm xưa…. Tháng năm trong nhà tù Mỹ – Ngụy, hay tin Bác mất, chị em quyết định mặc niệm, để tang đồng phục đen, quấn tang trắng chào cờ và hát mặc niệm ngay trước mũi địch, làm chúng tức tối đàn áp rất dã man. Cuối cùng chúng cháu vẫn là người chiến thắng, vì là con cháu của Bác Hồ luôn luôn mang tư tưởng bất khuất và tin tưởng ở chiến thắng cuối cùng sẽ về ta, nên luôn lạc quan cách mạng và đã được trao trả với tư thế của người chiến thắng”. Đoàn đại biểu Mặt trận Tổ quốc Quận 1, thành phố mang tên Bác đã viết: “Chúng tôi vô cùng xúc động được đến viếng Bác. Bác mãi mãi sống trong trái tim đồng bào Nam bộ. Về Lăng viếng Bác, thương nhớ Bác vô cùng, nguyện học tập và sống theo gương Bác”.

Đối với khách nước ngoài, Lăng Bác là một địa chỉ thiêng liêng, hấp dẫn của mỗi người khi tới Việt Nam. Theo thống kê của Tổng cục Du lịch, hầu hết khách du lịch khi đến Hà Nội đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh; số lượng khách quốc tế vào Lăng viếng Bác tăng gần 4 lần so với những năm trước đây. Nhiều người nước ngoài khi đến Việt Nam, vào Lăng viếng Người đã có cảm tưởng: Hiếm có vị lãnh tụ nào trên thế giới được nhân dân mến mộ như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong số khách đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh không ít người trước đây là kẻ thù của dân tộc Việt Nam, nhưng ngày nay, trước chính sách mở cửa, đổi mới của Đảng và Nhà nước, họ đã đến Việt Nam và vào Lăng thăm viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sự hận thù, đối lập dường như không còn nữa, quá khứ được khép lại và cùng nhau hướng về tương lai. Có lẽ đây cũng là điều đặc biệt, chỉ có ở Việt Nam và chính tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cội nguồn của sức mạnh đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế. Cố Chủ tịch CHDCND Lào Hoàng thân Xu-Pha-Na-Vông đã trân trọng ghi cảm tưởng: “Chúng tôi vô cùng biết ơn Bác Hồ, Người đầu tiên thấm nhuần đưa chủ nghĩa Mác – Lê-nin bách chiến, bách thắng vận dụng vào Đông Dương. Người thành lập, rèn luyện, tổ chức Đảng Cộng sản Đông Dương, Người đã dồn hết tâm trí và sự quan tâm vun đắp mối quan hệ đoàn kết hữu nghị đặc biệt anh em giữa hai Đảng, nhân dân hai nước Lào- Việt Nam và tình đoàn kết quốc tế vô sản trong sáng”. Đoàn đại biểu Đại sứ quán Cuba tại Việt Nam khi đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ghi lại những dòng cảm tưởng: “Chúng tôi chứng kiến thực tế giản dị, lòng nhân đạo của một nhà thơ vĩ đại – Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tất cả tình yêu của Người với thiên nhiên và cuộc sống giản dị mà Người đã yêu, giờ đây con cháu của Người và nhân dân Việt Nam tiếp tục giữ gìn bảo vệ. Chúng tôi xin gửi tới Người với tất cả tấm lòng thành kính của người Cuba”. Và thật cảm động, khi một khách du lịch người Thái Lan đã viết: “Tôi đã đến thăm Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nơi đây rất đẹp và trang nghiêm, nó không chỉ dành riêng cho người Việt Nam mà còn là của nhân loại”. Có thể nói, những dòng tình cảm của mỗi người khi đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, cho dù màu da, tiếng nói có khác nhau, nhưng đều đã dành những tình cảm đặc biệt đối với Người. Tư tưởng, đạo đức, tác phong của Người mãi mãi là bó đuốc soi đường cho sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Đúng như Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng do đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất đọc tại Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, Người Anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là kết tinh của những giá trị tinh thần cao quý của dân tộc và thời đại, vì vậy, cách đây hơn 20 năm, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Người, tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá của Liên hợp quốc (UNESCO) đã công nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh là Nhà văn hoá lớn, Anh hùng giải phóng dân tộc. Nghị quyết của UNESCO khẳng định: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”.

Với công lao to lớn của Người, với tư tưởng đạo đức cách mạng và nhân cách trong sáng của Người, Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi xứng đáng là một con người vĩ đại nhất của dân tộc Việt Nam anh hùng. Tấm gương hy sinh cả cuộc đời vì dân, vì nước; tư tưởng đạo đức tác phong của Người luôn cổ vũ động viên các thế hệ người Việt Nam vững bước đi theo con đường mà Người đã lựa chọn. Giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây dựng Lăng của Người là góp phần giữ gìn tư tưởng, đạo đức, sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời là giữ gìn một di sản vô giá của dân tộc và toàn nhân loại. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ mãi mãi trường tồn cùng với dân tộc và là nơi hội tụ tình cảm, niềm tin của nhân dân Việt Nam và bầu bạn quốc tế. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ là một địa chỉ thiêng liêng, với những giá trị lịch sử, chính trị, văn hóa để giáo dục, hun đúc truyền thống cách mạng cho mọi thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau./.

Thiếu tướng, TS Đặng Nam Điền
Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng
Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, vinh dự và trách nhiệm

Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài, Người thầy vĩ đại của Đảng và dân tộc ta, Người Cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân ta. Người tượng trưng cho tinh hoa của dân tộc Việt Nam, cho những giá trị cao đẹp nhất trong tâm hồn, ý chí, nhân cách Việt Nam; Người là tấm gương sáng ngời về phẩm chất đạo đức cách mạng; là hình ảnh tuyệt đẹp về mối liên hệ thân thiết gắn bó giữa lãnh tụ với nhân dân. Công lao và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trí tuệ uyên bác và tầm nhìn sâu rộng của Người, một nhân cách lớn, một tấm lòng độ lượng bao dung đã đưa Người trở thành Người Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất.

Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, nguyện vọng thiết tha của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân là giữ gìn lâu dài thi hài Bác và sớm xây dựng Lăng của Người để ghi lại mãi mãi hình ảnh, sự nghiệp cách mạng vĩ đại và công ơn trời biển của Hồ Chủ tịch muôn vàn kính yêu – Người đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, cho tự do hạnh phúc của nhân dân ta, cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân thế giới và cho lý tưởng Cộng sản chủ nghĩa. Thể theo nguyện vọng thiết tha của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, trong phiên họp ngày 29/11/1969 Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã Quyết nghị: “Với tấm lòng kính yêu vô hạn và đời đời nhớ ơn Hồ Chủ tịch, chúng ta phải thực hiện đến mức tốt nhất nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Hồ Chủ tịch và xây dựng Lăng của Người”. Quyết nghị của Bộ Chính trị đã phản ánh lòng kính yêu vô hạn và đời đời nhớ ơn Hồ Chủ tịch. Đồng thời cũng phù hợp với truyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Một dân tộc vốn có truyền thống “Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây”, thờ phụng ông bà tổ tiên, xây dựng Lăng mộ để tưởng nhớ những người có công với dân, với nước. Đáp ứng nguyện vọng của mọi người dân Việt Nam là được tận mắt trông thấy Người, được thường xuyên đến thăm Người, được thể hiện tấm lòng tôn kính và đời đời biết ơn đối với Người. Đặc biệt là tình cảm của đồng bào, chiến sỹ miền Nam đang ngày đêm trực tiếp đối mặt với quân thù, chưa một lần được gặp Bác; để các thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau được đến chiêm ngưỡng, học tập và nguyện mãi mãi đi theo con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn. Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng được Bộ Chính trị Trung ương Đảng giao cho nhiệm vụ bảo vệ giữ gìn thi hài Bác. Đoàn 69 (đơn vị tiền thân của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày nay) đã ra đời và vinh dự được nhận nhiệm vụ chính trị đặc biệt này.

Nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác là một khoa học tổng hợp bao gồm nhiều lĩnh vực và chưa có tiền lệ ở nước ta như: Y học, sinh học, hoá học, kỹ thuật kiến trúc…… với những yêu cầu hết sức nghiêm ngặt; nhất là giữ gìn thi hài để đưa ra chiêm ngưỡng. Riêng ở nước ta nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác thêm khó khăn phức tạp bởi điều kiện chiến tranh, khí hậu nhiệt đới nóng ẩm khắc nghiệt và thiên tai liên tiếp. Ngay sau ngày Bác Hồ qua đời, mặc dù trong lúc đất nước đang trong hoàn cảnh chiến tranh, nhưng việc xây dựng Lăng Bác đã trở thành nguyện vọng thiết tha của toàn dân, toàn quân ta. Đồng bào và chiến sỹ cả nước đều mong muốn có một nơi an nghỉ cuối cùng của Bác để tôn vinh công lao và sự nghiệp vĩ đại của Người, để thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau có điều kiện tới viếng Bác và nguyện đi tiếp con đường mà Đảng và Bác Hồ đã chọn.

Ngay từ những ngày đầu khi Bác mất, kìm nén những tình cảm đau thương, mất mát một bộ phận cán bộ, bác sỹ, kỹ sư đã cùng các đồng chí chuyên gia Liên Xô thực hiện những công việc đầu tiên để giữ gìn lâu dài thi hài Bác, phục vụ Lễ viếng Bác tại Hội trường Ba Đình và Lễ quốc tang tại Quảng trường Ba Đình. Đó là bước khởi đầu vô cùng quan trọng quyết định việc giữ gìn lâu dài thi hài Bác. Những năm tiếp theo, để thực hiện tốt nhiệm vụ của Bộ Chính trị giao, Bộ Quốc phòng đã bổ sung thêm lực lượng và thành lập Đoàn 69 để đảm nhiệm nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Bác, một nhiệm vụ khó khăn, chưa có tiền lệ ở Việt Nam. Trong hoàn cảnh chiến tranh vẫn diễn ra ác liệt trên cả nước, trực tiếp đối đầu với cuộc chiến tranh phá hoại trên quy mô lớn, có tính chất hủy diệt của không lực Hoa Kỳ đối với miền Bắc, cộng với điều kiện khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt, lũ lụt lớn xảy ra vào năm 1971 và điều kiện kỹ thuật còn rất thiếu thốn, cán bộ, chiến sỹ Đoàn 69 đã vừa học vừa làm, vừa bí mật tổ chức nghiên cứu, vừa phải tổ chức hành quân di chuyển để bảo vệ an toàn tuyệt đối thi hài Bác.

Trong 6 năm từ 1969 đến 1975, đã tổ chức 6 lần di chuyển thi hài Bác tới 4 địa điểm khác nhau trong hoàn cảnh chiến tranh đang diễn ra gay go, ác liệt; thiên tai đe dọa, song đội ngũ cán bộ, bác sỹ Việt Nam sẵn sàng chịu đựng mọi gian khổ, phối hợp chặt chẽ với các nhà khoa học y tế Liên Xô, bảo quản giữ gìn tuyệt đối an toàn thi hài Bác, tạo ra những tiền đề rất quan trọng cho nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Bác sau này.

Cũng thời gian này, ngày 2/9/1973, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh chính thức được khởi công xây dựng tại Quảng trường Ba Đình lịch sử và sau 2 năm thi công khẩn trương liên tục, ngôi nhà vĩnh cửu của Người đã hoàn thành đúng vào dịp toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tưng bừng chào đón thắng lợi giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước. Ngày 18 tháng 7 năm 1975 Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định đón Bác về Lăng – nơi yên nghỉ cuối cùng của Người. Lực lượng quân đội tham gia thi công xây dựng công trình Lăng, trực tiếp tham gia lắp đặt các thiết bị máy móc công trình và sau đó lực lượng này được tuyển chọn giữ lại thực hiện nhiệm vụ quản lý vận hành thiết bị công trình Lăng. Ngày 29 tháng 8 năm 1975, công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được khánh thành, ngày lịch sử đó đã trở thành ngày truyền thống của Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trải qua gần 42 năm giữ gìn thi hài Bác và gần 36 năm mở cửa Lăng đón đồng bào trong nước và khách quốc tế đến viếng Bác; các thế hệ cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vượt qua biết bao khó khăn thử thách, tự lực tự cường vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị đặc biệt mà Đảng, Nhà nước, nhân dân và Quân đội tin tưởng giao phó. Thi hài Bác được giữ gìn trong trạng thái tốt nhất. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh giữa Quảng trường Ba Đình lịch sử, nơi “lắng hồn núi sông” – một công trình của “lòng dân, ý Đảng” – một công trình kiến trúc văn hoá độc đáo, niềm tự hào của người Việt Nam được tôn tạo, duy tu, bảo vệ đã đón tiếp tận tình, chu đáo đồng bào và khách quốc tế đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, thể hiện tình cảm sâu nặng, đời đời biết ơn công lao trời, biển của Người đối với dân, với nước và nguyện đi theo con đường mà Người đã lựa chọn. “Cả cuộc đời Bác có ngủ ngon đâu, nay Bác ngủ, chúng con canh giấc ngủ”. Giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và công trình Lăng của Người là niềm vinh dự, tự hào và trách nhiệm đặc biệt của mỗi cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Quá trình xây dựng và trưởng thành của đơn vị là quá trình phấn đấu kiên trì, bền bỉ, vượt qua nhiều khó khăn thách thức với những chiến công thầm lặng. Trong suốt quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị đặc biệt, cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn ý thức sâu sắc được niềm vinh dự và tự hào, trách nhiệm chính trị trước Đảng, Nhà nước, nhân dân và quân đội. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, đơn vị cũng thực hiện tốt nhất nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác; nhiệm vụ bảo đảm an ninh, nghi lễ, sẵn sàng chiến đấu và nhiệm vụ đón tiếp tuyên truyền tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt vào thời điểm đầu những năm 90 của thế kỷ trước, khi Liên Xô sụp đổ, nguồn viện trợ không còn nữa, nhiệm vụ của Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh bước vào giai đoạn mới với nhiều khó khăn, thử thách. Song thử thách của giai đoạn này cũng là thời cơ để đơn vị từng bước vươn lên làm chủ nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Bác. Được sự chỉ đạo chặt chẽ của Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng. Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng đã có nhiều chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo đơn vị nêu cao ý chí độc lập tự chủ, tự lực tự cường, chủ động sáng tạo, triển khai nhiều nội dung công tác lớn, vừa mang tính cấp thiết, vừa cơ bản lâu dài với những bước đi phù hợp. Với phương châm vừa phát huy kinh nghiệm đã được tích lũy và truyền thống đơn vị, vừa tranh thủ hợp tác với các nhà khoa học trong nước và các chuyên gia Nga của Trung tâm nghiên cứu Y sinh Matxcơva – Liên bang Nga chủ động vươn lên từng bước làm chủ vững chắc khoa học công nghệ giữ gìn lâu dài thi hài Bác. Đồng thời đơn vị đã tập trung đầu tư xây dựng tiềm lực của Viện 69 từng bước đủ sức tự đảm nhiệm công tác y tế chăm sóc giữ gìn lâu dài thi hài Bác. Từ chỗ ta phụ thuộc hoàn toàn vào Bạn, sau thời gian ngắn ta đã làm chủ được các quy trình làm thuốc thường xuyên và làm thuốc lớn thi hài Bác; phục vụ lễ viếng thường xuyên và đột xuất bảo đảm an toàn tuyệt đối. Đặc biệt từ năm 2004, đơn vị đã chủ động chuẩn bị về mọi mặt, phối hợp với các chuyên gia Nga, pha chế thành công dung dịch đặc biệt tại Việt Nam và đưa vào sử dụng trong dịp làm thuốc lớn cho thi hài Bác. Đây là mốc lịch sử quan trọng đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của đơn vị, khảng định khả năng từng bước vươn lên làm chủ nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Để góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ y tế giữ gìn lâu dài thi hài Bác và phục vụ lễ viếng, đơn vị đã tích cực, chủ động vươn lên làm chủ hoàn toàn hệ thống thiết bị kỹ thuật của công trình Lăng. Đơn vị đã chủ động khắc phục mọi khó khăn, từng bước cải tạo, thay thế những thiết bị chính theo hướng hiện đại, đồng bộ để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ. Song song với nhiệm vụ y tế, kỹ thuật; nhiệm vụ bảo đảm an ninh, nghi lễ, sẵn sàng chiến đấu được đặc biệt quan tâm và luôn hoàn thành xuất sắc, góp phần vào bảo đảm an toàn tuyệt đối cho công trình Lăng, Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ, các buổi lễ viếng, các sinh hoạt chính trị văn hóa diễn ra ở khu vực Lăng và Quảng trường Ba Đình. Đơn vị đã chủ động tham mưu, đề xuất và được sự đồng ý của Chính phủ và Bộ Quốc phòng, từ ngày 19 tháng 5 năm 2001, nghi lễ chào cờ hàng ngày được tiến hành trang trọng trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát huy tốt tác dụng giáo dục truyền thống, giáo dục niềm tự hào, tự tôn dân tộc, trách nhiệm của mỗi công dân đối với Tổ quốc, với Bác Hồ kính yêu. Hình ảnh của Tổ quốc với lãnh tụ được hoà quyện vào nhau, càng tôn thêm giá trị văn hoá, tinh thần và ý nghĩa chính trị của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nhận thức rõ niềm vinh dự và trách nhiện lớn lao trước Đảng, trước dân. Từ ngày khánh thành Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nay, đơn vị đã phối hợp chặt chẽ với các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng, Cụm Di tích Lịch sử – Văn hóa Ba Đình từng bước nâng cao chất lượng phục vụ, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân và khách quốc tế đến viếng Bác, tổ chức các sinh hoạt chính trị, văn hóa; tham quan khu vực Lăng và Khu Di tích K9. Từ ngày mở của Lăng đến nay, đã đón tiếp hơn 40 triệu lượt người vào Lăng viếng Bác, trong đó có hơn 7 triệu lượt khách nước ngoài của hầu hết các quốc gia, vùng lãnh thổ và tổ chức quốc tế. Trong những năm qua, số lượng người đến viếng Bác ngày càng đông, có ngày lên tới hơn 30 nghìn người, nhưng đều được đón tiếp an toàn, tận tình, chu đáo. Đón tiếp, phục vụ hơn 1500 buổi sinh hoạt chính trị, văn hóa tại Lăng Bác; chiếu phim giới thiệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, tặng Huy hiệu Bác Hồ cho nhiều đoàn và các đại biểu. Đặc biệt là từ năm 2003 đến nay, đơn vị đã chủ động đề xuất với cấp trên, phối hợp với các Bộ, ban ngành Trung ương và địa phương tổ chức đón tiếp được nhiều đoàn Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, gia đình có công với cách mạng, gia đình chính sách ở các địa phương về Lăng viếng Bác. Tại Khu Di tích K9, chỉ tính từ năm 1998 đến nay, đơn vị đã đón tiếp gần 20.000 đoàn tới tưởng niệm Bác và tham quan Khu Di tích. Trong thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đây là thời cơ để tạo sự chuyển biến toàn diện về đạo đức lối sống, phương pháp tác phong công tác. Mỗi cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ phải thực sự tiêu biểu về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, gương mẫu “làm theo” tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong công tác đón tiếp tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân và khách quốc tế đến viếng Bác, tham quan Lăng, tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và tham quan Khu Di tích K9 làm cho phẩm chất, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” bên Lăng Bác ngày càng được củng cố, toả sáng, lan toả trong các tầng lớp nhân dân và khách quốc tế về Lăng viếng Bác. Bên cạnh việc thực hiện tốt Cuộc vận động trong đơn vị, Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động làm tham mưu, đề xuất với các cơ quan chức năng của Đảng, Chính phủ và Bộ Quốc phòng, và phối hợp chặt chẽ với cấp uỷ, chính quyền địa phương, các cơ quan đơn vị trong cả nước nhằm phát huy ý nghĩa chính trị, văn hoá của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh như: Tổ chức Lễ báo công dâng Bác, giao ước thi đua, kết nạp Đảng, Đoàn, Đội, lễ khai giảng, tuyên thệ, lễ rước đuốc lấy lửa truyền thống…Từ khi tổ chức thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã có nhiều buổi lễ báo công, phát động thi đua, lễ tuyên dương các tập thể và cá nhân điển hình tiên tiến trong thực hiện Cuộc vận động, đã tạo được sức lan toả trong các ngành và các địa phương cả nước.

Với niềm vinh dự tự hào, với tình cảm và trách nhiệm được Đảng, Nhà nước, nhân dân và quân đội tin tưởng giao cho thực hiện nhiệm vụ chính trị đặc biệt, đơn vị luôn coi trọng và làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng tổ chức đảng TSVM gắn với xây dựng đơn vị VMTD. Kết hợp chặt chẽ việc giáo dục, bồi dưỡng nâng cao trình độ nhận thức về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng; nhiệm vụ của cách mạng, quân đội và đơn vị, làm cho cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ có bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, trung thành, gắn bó với nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh; giữ vững phẩm chất đạo đức trong sáng, lối sống giản dị, trung thực, đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước và kỷ luật quân đội. Hơn 35 năm qua, lớp lớp cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ của đơn vị đã xây đắp nên truyền thống “Trung hiếu vẹn toàn, đoàn kết hiệp đồng, tự lực tự cường, chủ động sáng tạo”. Với những thành tích đặc biệt xuất sắc, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vinh dự được Đảng, Nhà nước, quân đội phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ đổi mới và nhiều phần thưởng cao quý khác.

Bước vào giai đoạn mới của cách mạng, nhiệm vụ chính trị của đơn vị có bước phát triển và có yêu cầu rất cao. Để hoàn thành được trọng trách nặng nề và vẻ vang mà Đảng, Nhà nước, nhân dân và quân đội đã tin tưởng giao phó; mỗi cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục nêu cao ý chí tự lực tự cường, phát huy nội lực, chủ động sáng tạo trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị đặc biệt, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác nghiên cứu khoa học, hoàn thiện những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về khoa học ướp, bảo quản thi thể trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ở Việt Nam, vươn lên làm chủ vững chắc nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Xây dựng Viện 69 trở thành Viện chuyên ngành chính quy, khoa học và từng bước hiện đại. Quản lý, vận hành an toàn các hệ thống thiết bị kỹ thuật công trình Lăng và các công trình có liên quan. Thực hiện tốt công tác nghi lễ, tập trung huấn luyện, rèn luyện nâng cao trình độ khả năng chiến đấu của bộ đội, tổ chức luyện tập thuần thục các phương án tác chiến. Nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, sẵn sàng chiến đấu cao, chủ động phòng chống có hiệu quả mọi âm mưu thủ đoạn “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch. Thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng, Cụm Di tích Lịch sử – Văn hóa Ba Đình, bảo đảm an ninh, an toàn tuyệt đối cho công trình; thuận tiện, chu đáo cho đồng bào và khách quốc tế đến viếng Bác, tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ, các sinh hoạt chính trị, văn hoá tại Lăng và tham quan Khu Di tích K9.

Chăm lo xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện thực sự chính quy, mẫu mực, tinh nhuệ tương xứng yêu cầu của nhiệm vụ chính trị. Không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công nhân viên, chiến sỹ có bản lĩnh chính trị vững vàng; tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân và nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Bác. Tăng cường quản lý rèn luyện kỷ luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật Nhà nước và kỷ luật Quân đội. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua Quyết thắng, giữ vững và phát huy truyền thống đơn vị Anh hùng LLVTND trong thời kỳ đổi mới. Thực hiện tốt các phong trào thi đua, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, bảo đảm tốt đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội và làm tốt chính sách hậu phương Quân đội. Thực hiện thắng lợi Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Để Lăng Bác mãi mãi là nơi tôn nghiêm nhất, là không gian thiêng liêng của toàn dân tộc, nơi góp phần bồi đắp, hun đúc lòng yêu nước, chí anh hùng và phẩm chất tốt đẹp nhất của các thế hệ người Việt Nam./.

Đại tá Nguyễn Văn Lâm
Phó Chủ nhiệm Chính trị
Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Bác Hồ – cây bút xuất sắc của báo chí cách mạng Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh Internet

Không chỉ là một chiến sỹ cách mạng xuất sắc, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một cây bút xuất sắc, một nhà báo lớn, người khai sinh nền báo chí cách mạng Việt Nam. Trong quá trình hoạt động cách mạng, Bác đã nhận thấy báo chí là thứ vũ khí sắc bén, phương tiện hữu ích phục vụ sự nghiệp cứu nước. Năm 1922, trên hành trình tìm đường cứu nước, tại Pháp, Bác đã tham gia sáng lập tờ báo “Le Paria” (Người cùng khổ) và được coi là “linh hồn” của tờ báo, làm “chủ bút, chủ nhiệm, giữ quỹ, phát hành và bán báo”. Các công đoạn làm báo đều được Người đảm nhiệm. Mối một số ra là sự lên án chủ nghĩa thực dân, sự kêu gọi nhân dân các nước thuộc địa cùng nhau đoàn kết giải phóng dân tộc. Năm 1924, Người sáng lập báo

“Quốc tế nông dân”. Đặc biệt, đến năm 1925, tờ báo “Thanh niên” – cơ quan ngôn luận của Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội, ra số đầu tiên ngày 21/6/1925 là điểm mốc đáng nhớ, đánh dấu sự ra đời của nền báo chí cách mạng Việt Nam hay nói cách khác là sự mở đầu cho cả một dòng báo chí ở Việt Nam. Trên thực tế, báo Thanh niên ra đời nhằm mục đích tuyên truyền đường lối cách mạng cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ thanh niên, chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong thời điểm năm 1925, Bác đồng thời sáng lập 2 tờ báo ‘Công nông”, “Lính Kách mệnh” (ở Trung Quốc) và sau đó là các tờ “Thân ái” (tại Thái Lan năm 1928), “Đỏ” – cơ quan của chi bộ An Nam Cộng sản Đảng (tại Trung Quốc năm 1929). Sau nhiều năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Bác về nước và thành lập tờ “Việt Nam độc lập” (1941), “Cứu quốc” (1942) và sử dụng chúng làm diễn đàn để đấu tranh cách mạng.

Sau này, nhằm phát huy truyền thống tốt đẹp của báo chí cách mạng và nêu cao trách nhiệm của báo chí, của nhà báo trước xã hội, Ban Bí thư Trung ương Đảng quyết định lấy ngày 21/6 là ngày Báo chí Việt Nam.

Ngay từ đầu, Bác đã coi báo chí là một bộ phận cấu thành văn hóa, là phương tiện cổ vũ, truyền bá và thực thi văn hóa. Đây là đội quân đi đầu trong công tác tư tưởng là diễn đàn của quần chúng nhân dân về các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước. Nhận thức rõ tầm quan trọng của báo chí trong dư luận trong nước và thế giới, đối với riêng bản thân mình, Bác rất cẩn trọng trong từng câu chữ, ý tứ, nội dung các bài báo mình viết. Bác luôn quan niệm phải viết sao cho dân chúng hiểu và quan tâm đọc. Bác có một thói quen là thường đem những bài báo sau khi viết xong cho những người xung quanh nghe và góp ý, kể cả khi Người đã làm Chủ tịch nước. Khi người đọc không hiểu hoặc hiểu không đúng, Bác thường sửa ngay. Vì thế, văn phong của Bác thường ngắn gọn, trong sáng, dễ hiểu, dễ nhớ mà vẫn thể hiện những nội dung quan trọng cần truyền bá tới người dân.

Bác căn dặn nhà báo trước hết phải là một chiến sỹ cách mạng, các nhà báo phải hết sức cẩn thận về hình thức, nội dung và cách viết. Trong một lần nói chuyện với cán bộ, phóng viên được cử đi học tại Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc, Bác có nói “Các chú phải nhớ là viết cho ai, viết cái gì, nhằm mục đích gì. Phải viết cho dân hiểu để dân làm, phải nghe lời phê bình hằng ngày của dân. Đừng cậy mình nhiều chữ rồi dài dòng văn tự, chẳng ai hiểu các chú nói và viết cái gì, rồi lại cho là đàn gảy tai trâu”.

Báo chí cách mạng là tiếng nói đúng và kiên định của Đảng và nhân dân. Để báo chí không đi chệch đường lối chính trị của Đảng, Bác có đề ra 6 điểm chính đối với các nhà báo cũng như các cơ quan báo chí:

“1. Nhiệm vụ của tờ báo là tuyên truyền, cổ động, huấn luyện, giáo dục và tổ chức dân chúng để đưa dân chúng đến mục đích chung.

2. Mục đích là kháng chiến và kiến quốc. Để đi đến kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công, thì:

3. Tôn chỉ của tờ báo là đoàn kết toàn dân, thi đua ái quốc. Vì vậy:

4. Đối tượng của tờ báo là đại đa số dân chúng. Một tờ báo không được đại đa số dân chúng ham chuộng, thì không xứng đáng là một tờ báo. Muốn được dân chúng ham chuộng, coi tờ báo ấy là của mình, thì:

5. Nội dung tức là các bài báo phải giản đơn, dễ hiểu, phổ thông, thiết thực, hoạt bát. Và:

6. Hình thức tức là cách sắp đặt các bài, cách in phải sạch sẽ, sáng sủa”.

Những lời dạy đó của Người đến nay vẫn còn nguyên giá trị và mang tính thời sự sâu sắc. Các cơ quan báo chí luôn quán triệt quan điểm có tính nguyên tắc, đó là báo chí đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, vừa là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, các tổ chức, chính trị, xã hội, nghề nghiệp vừa là diễn đàn của nhân dân; tích cực tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cổ vũ toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới.

Theo dòng chảy của cách mạng, của dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng, học tập, vận dụng và phát triển tư tưởng, quan điểm của Bác Hồ, báo chí cách mạng Việt Nam không ngừng lớn mạnh. Thế giới phát triển không ngừng, các mối quan hệ giao lưu trong nước và quốc tế không ngừng mở rộng, công nghệ thông tin bùng nổ nhưng những nguyên tắc của báo chí cách mạng Việt Nam thì không thay đổi. Trong suốt chặng đường phát triển, báo chí Việt Nam và đội ngũ các nhà báo đã không ngừng cố gắng, cống hiến, làm tốt vai trò là người tuyên truyền cổ động, huấn luyện, giáo dục, và tổ chức dân chúng để đưa dân chúng đến mục đích chung của sự nghiệp cách mạng nước nhà./.

Huyền Trân (Tổng hợp)

bqllang.gov.vn

Ngày 15-6: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 15-6-1924, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội IV của Quốc tế Cộng sản Thanh niên tại Mát-xcơ-va. Cùng ngày, nhà cách mạng Việt Nam cũng tham dự cuộc gặp mặt giữa nhân dân thủ đô của Liên bang Xô Viết với các đại biểu dự Đại hội Quốc tế Cộng sản diễn ra trên Đồi Lê-nin.

Ngày 15-6-1950, Báo Sự Thật đăng bức thư “Gửi đồng báo các tỉnh có đê”, trong đó Bác nhấn mạnh: “Mấy năm nay, ta đã thắng luôn giặc lụt. Năm nay, ta cũng phải thắng, vì toàn thể đồng bào, từ các cụ phụ lão cho đến các cháu nhi đồng đều kiên quyết chống giặc lụt cũng như kiên quyết chống giặc ngoại xâm. Đồng bào hãy cố gắng lên!”.

Cũng vào thời gian này, Bác còn viết thư “Gửi đồng bào Thanh Hóa”, biểu dương việc các tầng lớp nhân dân trong tỉnh đã quyên góp được 84 triệu đồng cùng nhiều trâu bò, ruộng đất ủng hộ kháng chiến và động viên rằng Thanh Hóa “sẽ cố gắng tranh cho được địa vị vẻ vang là tỉnh kiểu mẫu…”. Nhưng Bác cũng nhắc nhở phải “quản lý hẳn hoi những tiền và của đồng bào đã ủng hộ. Tài chính phải hoàn toàn công khai, hết sức tiết kiệm. Cần phải dùng số tiền và của ấy làm vốn mà tăng gia sản xuất để cấp dưỡng bộ đội địa phương, sổ sách phải rất cẩn thận và minh bạch…”.

Giữa tháng 6-1950, Bác viết thư “Gửi đồng bào Liên khu IV” nhân nảy sinh một số hiện tượng “cán bộ làm sai chỉ thị của Chính phủ và đường lối của đoàn thể. Họ xa rời nhân dân, không hiểu biết nhân dân. Làm việc thì dùng mệnh lệnh, chứ không biết tuyên truyền cổ động…thậm chí họ dùng những cách ép uổng, cưỡng bức, bắt bớ dân. Nghe các ông thanh tra báo cáo lại những việc đó, tôi rất đau lòng. Dù Chính phủ đã ra lệnh trừng trị những cán bộ đó, tôi phải thật thà xin lỗi những đồng bào vì những cán bộ sai lầm mà bị oan ức. Tôi thật thà tự phê bình khuyết điểm của tôi – là giáo dục và lựa chọn cán bộ chưa được chu đáo vì thiếu sót sự kiểm tra chặt chẽ các cán bộ cấp dưới…Tôi lại xin nói với đồng bào: Nước ta là một nước dân chủ. Mọi công việc đều vì lợi ích của dân mà làm…Khi ai đó có điều oan ức thì có thể nhờ các đoàn thể tố cáo lên cấp trên. Đó là tất cả quyền dân chủ của tất cả các công dân Việt Nam. Đồng bào cần hiểu rõ và khéo dùng cái quyền ấy…Cán bộ cấp trên phải luôn luôn đôn đốc và kiểm tra cấp dưới. Nhân dân thì giúp Chính phủ và đoàn thể kiểm tra công việc và hành vi của các cán bộ…”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 20-6: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Bác Hồ nói chuyện với cán bộ và sinh viên Bách khoa

Ngày 20-6-1939, với bí danh là Hồ Quang, Nguyễn Ái Quốc đang có mặt tại Trung Quốc, tham gia khóa 2 lớp huấn luyện cán bộ du kích ở Nam Nhạc, từ đây có thể liên hệ với Văn phòng Bát Lộ Quân đóng ở Quế Lâm và theo dõi thời cuộc qua các phương tiện điện đài được trang bị.

Ngày 20-6-1946, trong thời gian phải lưu lại thành phố Biarritz chờ Chính phủ Pháp tổ chức đón tiếp, Bác đã đi thăm làng chài và ra biển câu cá với dân địa phương. Tối hôm đó, Bác tiếp Bộ trưởng Bộ Quân vụ và 3 nghị sĩ Pháp đến chào để bày tỏ sự thân thiện.

Ngày 20-6-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi gửi nhân dân thế giới”, nhân dịp nửa năm kháng chiến, nhằm tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế. Với nhân dân Pháp, thư viết: “Nhân dân Việt Nam và nhân dân Pháp đều chung một lý tưởng: Tự do, bình đẳng, bác ái…, có một mục đích chung: Cộng tác thân thiện và bình đẳng giữa hai dân tộc. Vận mệnh của nhân dân Việt Nam và vận mệnh của nhân dân Pháp rất quan hệ với nhau… Chúng tôi rất mong các bạn cùng chúng tôi hành động để ngăn trở bọn thực dân phản động phá hoại cái lý tưởng chung, lợi ích chung và tình nghĩa giữa hai dân tộc chúng ta…”. Với nhân dân châu Á, thư viết: “Việt Nam là một bộ phận trong đại gia đình châu Á. Tranh đấu cho tự do độc lập của Việt Nam tức là tranh đấu cho tự do, độc lập của đại gia đình châu Á”. Còn với “các nhân sĩ dân chủ trên thế giới”, thư kêu gọi: “Mong các bạn lên tiếng ủng hộ hòa bình, ủng hộ chính nghĩa, ủng hộ dân chủ, ủng hộ Việt Nam!”.

Ngày 20-6-1949, với bút danh Lê Quyết Thắng, Bác tập hợp những bài viết đăng trên Báo Cứu Quốc thành một cuốn sách mang tên là “Cần kiệm liêm chính”. Cuối sách, Bác viết: “Ai chẳng muốn cho tự mình thành một người tốt, con cháu mình sung sướng, gia đình mình ấm no, làng xóm mình thịnh vượng, nòi giống mình vẻ vang, nước nhà mình mạnh giàu. Mục đích ấy tuy to lớn nhưng rất thiết thực. Thiết thực vì chúng ta nhất định đạt được. Chúng ta nhất định đạt được, vì mỗi người và tất cả dân ta đều thi đua: Cần, Kiệm, Liêm, Chính”.

Ngày 20-6-1954,nghe tin phu nhân của bác sĩ Đặng Văn Ngữ, một trí thức Việt kiều ở Nhật về nước phục vụ kháng chiến từ trần, Bác viết thư chia buồn: “…Nhưng sinh tử là lẽ thường của tạo hóa. Bác khuyên chú chớ quá buồn rầu, lấy công tác mà khuây khỏa…”.

Ngày 20-6-1960, Bác đến dự và nói chuyện với Đại hội Đảng bộ Hà Nội, vạch rõ: “Phải đánh bạt những tư tưởng công thần, địa vị, danh lợi của chủ nghĩa cá nhân, làm cho chủ nghĩa tập thể thắng lợi, tức là phát huy tinh thần cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ của công, chống tham ô, lãng phí… Muốn uống nước thì phải đào giếng, đào giếng thì phải đổ mồ hôi, nhưng càng khó nhọc vất vả thì giếng càng sâu, càng nhiều nước”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 22-6: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 22-6-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm chính thức nước Cộng hòa Pháp. Từ Biarritz, máy bay hạ cánh xuống sân bay Le Bourget của Thủ đô Paris – nơi diễn ra lễ đón tiếp trọng thể với những nghi thức quốc gia. Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại cùng nhiều thành viên trong Chính phủ, đông đảo nhân dân Pháp và bà con Việt kiều đã nghênh tiếp. Đoàn lưu lại tại Khách sạn Royal Monceau.

Ngay tại sân bay, Bác đã tuyên bố: “Tôi rất lấy làm bằng lòng được đặt chân lên đất của một nước đã chịu đau khổ nhiều vì lý tưởng và tự do. Cảm ơn Chính phủ và dân chúng Pháp tiếp đãi tôi một cách long trọng. Mong sau này hai dân tộc Pháp và Việt Nam cộng tác một cách bình đẳng, thật thà và thân thiện”.

Ngày 22-6-1947, trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài, Bác khẳng định: “Một là Chính phủ Việt Nam gồm rất nhiều đảng phái, hai là chính sách Việt Nam rất rõ rệt: Cốt làm cho nước Việt Nam thống nhất và độc lập, làm cho dân được tự do và khỏi khổ, khỏi dốt. Bao giờ nước Việt Nam được thật thà thống nhất và độc lập thì chiến tranh sẽ kết liễu” và “rất hoan nghênh tư bản Pháp và tư bản các nước cộng tác thật thà với chúng tôi”. Về vai trò của trí thức, Bác khẳng định: “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc. Ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế… Địa vị những người trí thức ái quốc Việt Nam là cùng với toàn thể đồng bào, kiến thiết nước Việt Nam mới, một nước Việt Nam thống nhất, độc lập, dân chủ, tự do, hạnh phúc”.

Ngày 22-6-1948, Báo Cứu Quốc đăng thư của Bác gửi các khu thông báo: “Ngày 23-9-1945, đồng bào toàn quốc đã đứng dậy thành một khối sau lưng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để chống lại bọn thực dân Pháp xâm lăng vào bờ cõi miền Nam đất nước ta. Để tưởng nhớ đến bao nhiêu chiến sĩ và đồng bào Nam bộ và miền Nam Trung bộ đã bỏ mình vì nước trên bãi chiến trường hoặc dưới sự tàn sát của quân giặc; để ghi công chiến sĩ đã tiên phong giữ vững nền độc lập và thống nhất của nước nhà, toàn quốc sẽ long trọng kỷ niệm 1.000 ngày chiến đấu của đồng bào miền Nam”.

Ngày 22-6-1955, rời Hà Nội đi thăm chính thức Liên Xô và Trung Quốc, Bác tuyên bố: “Tin chắc rằng cuộc đi thăm này sẽ thắt chặt thêm tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với nhân dân và chính phủ hai nước bạn”.

Báo Nhân Dân ra ngày 22-6-1954 đăng bài “Cần phải xem báo Đảng”, trong đó Bác nhắc nhở: “Đảng ta mạnh vì Đảng ta tư tưởng nhất trí, hành động nhất trí suốt từ trên xuống dưới. Tờ báo của Đảng có nhiệm vụ làm cho tư tưởng và hành động thông suốt và thống nhất…Tờ báo Đảng như những lớp huấn luyện giản đơn, thiết thực và rộng khắp. Nó dạy bảo chúng ta những điều cần biết làm về tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo và công tác. Hằng ngày nó giúp nâng cao trình độ chính trị và nâng cao năng suất công tác của chúng ta. Nếu cứ cắm đầu làm việc mà không xem, không nghiên cứu báo Đảng, vấp váp, hỏng việc thì khác nào nhắm mắt đi đêm; nhất định sẽ lúng túng”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 23-6: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 23-6-1924, đại biểu Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại diễn đàn của phiên họp thứ 8 của Đại hội V Quốc tế Cộng sản: “Tôi đến đây để không ngừng lưu ý Quốc tế Cộng sản đến một sự thật là: Thuộc địa vẫn đang tồn tại và vạch ra để Quốc tế Cộng sản thấy rằng: Cách mạng, ngoài vấn đề tương lai của các thuộc địa còn có cả nguy cơ của các thuộc địa. Song tôi thấy rằng hình như các đồng chí hoàn toàn thấm nhuần tư tưởng rằng vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp áp bức ở các thuộc địa. Vì vậy, tôi sẽ tận dụng mọi cơ hội có được, gợi ra những vấn đề và nếu cần tôi sẽ thức tỉnh các đồng chí về vấn đề thuộc địa”.

Với một tinh thần thẳng thắn, Nguyễn Ái Quốc đã vạch rõ sai lầm là: “Muốn đánh chết rắn đằng đuôi. Tất cả các đồng chí đều biết rằng, hiện nay nọc độc và sức sống của con rắn độc chủ nghĩa tư bản đang tập trung ở thuộc địa hơn là chính quốc… Thế mà các đồng chí khi nói về cách mạng, các đồng chí lại khinh thường thuộc địa?… Chính vì thế, tôi hết sức kêu gọi các đồng chí: Hãy chú ý!”. Tại diễn đàn Đại hội, nhiều lần Nguyễn Ái Quốc kiên trì đề cập tới vấn đề này.

Ngày 23-6-1939, dưới bút danh P.C Lin, Nguyễn Ái Quốc viết bài “Về chủ nghĩa Tơrôtxki” trong loạt bài “Thư từ Trung Quốc”, gửi về nước đăng trên tờ “Notre Voix”, cơ quan hoạt động công khai của Đảng tại Hà Nội nhằm phân tích một khuynh hướng chính trị “không chỉ là kẻ thù của chủ nghĩa cộng sản, mà còn là kẻ thù của dân chủ và tiến bộ”.

Ngày 23-6-1946, tiếp tục cuộc thăm nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Tổng tham mưu trưởng Quân đội Pháp, tiếp bà con Việt kiều, trong đó có nhiều nhi đồng.

Ngày 23-6-1953, thăm Trường Chính trị trung cấp Quân đội tại Việt Bắc, Bác căn dặn: “Dù có bao nhiêu khí giới tinh xảo mà con người không có lập trường vững, quan điểm đúng, thiếu tinh thần trong sạch, một lòng một dạ phục vụ nhân dân thì súng đó cũng bỏ đi…”.

Ngày 23-6-1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện mừng tới Quốc trưởng Cam-pu-chia Norodom Sihanouk, nhân dịp nước ta và Vương quốc Cam-pu-chia chính thức lập quan hệ ngoại giao. Bác đánh giá: “Đó là một sự kiện lịch sử trong quan hệ giữa Việt Nam và Cam-pu-chia, một nhân tố tích cực trong việc giữ gìn hòa bình ở Đông Dương và Đông Nam Á”.

Ngày 23-6-1969, Bác gửi thư tới Đại sứ quán Liên Xô nhờ chuyển lời cảm ơn tới nữ Anh hùng Liên Xô Irina Levtchenko đã tặng sách và qua Tổng Lãnh sự Ấn độ cảm ơn Bà Indira Gandhi đã gửi biếu Bác một quả xoài Ấn Độ. Buổi chiều ngày hôm đó, mặc dù sức khỏe đã yếu, Bác đến thăm tận nơi ở của Phái đoàn Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình miền Nam Việt Nam ra thăm miền Bắc. Trong câu chuyện thân tình với Hòa thượng Thích Đôn Hậu, Bác cho biết: “Tôi đã bỏ thuốc lá rồi, cụ ạ… Tôi cũng phải đấu tranh với bản thân ghê gớm lắm mới bỏ được, thưa cụ”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 24-6: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 24-6-1922, tờ “L’ Humanité” (Nhân đạo) đăng bài “Lời than vãn của Bà Trưng Trắc” của Nguyễn Ái Quốc. Đây là một truyện ngắn hư cấu giấc mơ của Vua Khải Định (lúc này đang “xa giá” đến Pháp) và mượn lời của vị nữ anh hùng dân tộc chống ngoại xâm, tác giả lên án nặng nề chế độ phong kiến Nam triều và chính vua Khải Định đã để mất nước, ươn hèn cam tâm làm tay sai cho ngoại bang.

Ngày 24-6-1931, Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh Pháp trong thư gửi Bộ trưởng Bộ Ngoại giao có viết: “Thực ra từ hơn 10 năm nay, Nguyễn Ái Quốc là một chiến sĩ vô địch vì sự nghiệp độc lập của Đông Dương. Lúc đầu là một người dân tộc chủ nghĩa, ông ta sớm đi theo chủ nghĩa cộng sản và từ nhiều năm nay những người cách mạng bản xứ xem ông ta như một Lê-nin của Đông Dương…”.

Ngày 24-6-1942, leo lên vùng núi Lũng Dẻ thuộc khu núi đá Lam Sơn (Cao Bằng), Bác tức cảnh làm bài thơ “Thướng sơn” (Leo núi):

“Lục nguyệt nhị thập tứ
Thướng đáo thử sơn lai
Cử đầu hồng nhật cận
Đối ngạn nhất chi mai”
(Tố Hữu dịch: “Hai mươi tư tháng Sáu
Lên ngọn núi này chơi
Ngẩng đầu mặt trời đỏ
Bên suối một nhành mai”).

Ngày 24-6-1946, tại Paris, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp hơn 100 anh em đại biểu Nam bộ đến chào và bày tỏ tinh thần thống nhất quốc gia. Cùng ngày, Bác tiếp Bộ trưởng Hải ngoại M.Moutet và Đô đốc D’ Argenlieu cùng Ban Trị sự Hội Pháp – Việt hữu nghị mới thành lập…Trong số những Việt kiều đến chào Bác có triết gia Trần Đức Thảo.

Ngày 24-6-1959, Bác đón tiếp Tổng thống In-đô-nê-si-a sang thăm Việt Nam. Trong diễn văn chào đón tại sân bay Gia Lâm (Hà Nội), Bác chân tình nói: “Được đón tiếp Tổng thống Sukarno, nhân dân Việt Nam có cảm tưởng vui sướng như được ôm ấp vào lòng mình 88 triệu anh em In-đô-nê-si-a anh dũng. Có mối tình thương yêu ấy, vì hai dân tộc ta cùng có một hoàn cảnh giống nhau, cùng có một lịch sử vẻ vang kháng chiến oanh liệt chống bọn thực dân cướp nước, giành độc lập tự do. Hai dân tộc chúng ta đều phải tiếp tục đấu tranh để giải phóng hoàn toàn đất nước và trong cuộc đấu tranh đó, hai dân tộc ta thông cảm lẫn nhau, ủng hộ lẫn nhau”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tình cảm của Đảng bộ và nhân dân thành phố mang tên Bác đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Một ngày Tổ quốc chưa thống nhất, miền Nam chưa được giải phóng, là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”. Người luôn dành tình cảm sâu đậm với miền Nam, quan tâm, theo dõi và cổ vũ từng bước tiến của cách mạng miền Nam. Tình cảm của Người luôn một lòng đau đáu hướng về miền Nam ruột thịt đã được nhà thơ Tố Hữu khắc họa trong hai câu thơ: “Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà Miền Nam mong Bác nỗi mong cha”.

Mong ước ấy cũng là nguyện vọng thiết tha của dân tộc và trở thành sức mạnh thôi thúc toàn dân và toàn quân ta chiến đấu giành thắng lợi cuối cùng. Với người dân thành phố mang tên Bác nói riêng và đồng bào miền Nam nói chung, đã từ lâu, hình ảnh vị Cha già dân tộc luôn soi sáng trên từng bước đường đi tới và là niềm tin lớn lao trong lòng mọi thế hệ người dân.

Bác Hồ – Người đã dành trọn cuộc đời, tâm huyết của mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Cả cuộc đời Bác chỉ có một niềm mong ước là “làm sao cho nước nhà được độc lập, dân ta được tự do” và vì lẽ đó con người ấy luôn sống trọn đời vì dân vì nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu nước, quê hương giàu truyền thống cách mạng. Cha của Bác, cụ Nguyễn Sinh Sắc, muốn con mình theo tấm gương của những bậc hiển nhân, cống hiến cuộc đời cho lý tưởng vì dân. Mẹ của Bác, bà Hoàng Thị Loan, tần tảo nuôi dưỡng những người con khôn lớn, trưởng thành. Thời thơ bé, cuộc sống của Bác trôi qua với lời ru đau đáu về thân phận người dân mất nước. Làng Dương Nỗ, nơi cậu bé Nguyễn Sinh Cung được học chữ trong lớp học do chính cha mình giảng dạy, là bạn học với những người mà khi đến tuổi trưởng thành đều là những nhà yêu nước. Bởi vậy, ngay từ nhỏ, Người đã được hấp thụ tinh thần yêu nước bất khuất của phong trào đấu tranh chống Pháp, Người thấu hiểu được nỗi thống khổ của người dân, không cam chịu để dân tộc mình sống cuộc đời nô lệ, lầm than dưới ách đô hộ của chế độ thực dân phong kiến. Tình cảm yêu quê hương đất nước, căm thù giặc sâu sắc đã hun đúc lên hoài bão lớn lao của Người.

Sau khi tham gia phong trào chống thuế ở Trung Kỳ và bị đuổi học, Người lên đường vào Nam, dừng lại ở Phan Thiết làm nghề dạy học ở trường Dục Thanh. Theo như kể lại, thầy giáo Nguyễn Tất Thành đã dạy dỗ học trò bằng tất cả trái tim và nhiệt huyết, hướng học trò của mình suy ngẫm về thân phận của người dân trong cảnh nước mất nhà tan. Năm 1910, tạm biệt trường Dục Thanh, Người tiếp tục con đường của mình, dừng chân ở Sài Gòn. Thành phố Sài Gòn hồi đầu thế kỷ XX là một Cảng thị sầm uất với Bến cảng Sài Gòn – nơi những con tàu tấp nập từ muôn phương đến và đi. Có lẽ không biết bao nhiều lần, Người đứng nơi Bến cảng, ngắm những con tàu và tự hỏi: “Không biết ở phía bên kia đường chân trời, những điều gì đang xảy ra?”. Vượt khỏi tầm nhìn của những nhà yêu nước đương thời, năm 1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành quyết chí ra đi tìm đường cứu nước. Hình ảnh ấy đã được Chế Lan Viên khắc họa vô cùng xúc động trong bài thơ “Người đi tìm hình của nước”:

“Đất nước đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi.
Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác”

Ngày Bác ra đi, cả đất nước vẫn chìm trong đêm đen nô lệ. Chế độ thực dân tạo dựng nên quyền uy trên mồ hôi và xương máu của nhân dân Việt Nam. Sau bao nhiêu năm bôn ba nơi đất khách quê người, chứng kiến bao nhiêu cảnh lầm than của các dân tộc bị áp bức trên thế giới, Người nhận ra rằng chỉ có con đường cách mạng vô sản theo ánh sáng của Chủ nghĩa Mác – Lênin mới đem lại no ấm hạnh phúc cho dân tộc. Ngày trở về, người thanh niên Nguyễn Tất Thành trở thành người cộng sản yêu nước Nguyễn Ái Quốc, cùng với cả dân tộc làm nên cuộc cách mạng Tháng tám lịch sử, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc.

Sau ngày tuyên bố độc lập (2-9-1945) chưa đầy một tháng, đồng bào miền Nam đã phải cầm vũ khí để bảo vệ nền độc lập của nước nhà khi thực dân Pháp lén lút đánh úp, chiếm trụ sở UBND Nam bộ tại Sài Gòn. Ngày 30-10-1945, Hồ Chủ tịch đã ra “Lời kêu gọi đồng bào Nam bộ” với những tình cảm thân thiết và một ý chí sắt đá quyết đồng tâm, hiệp lực vì sự sống còn của dân tộc. Người viết: “Tâm trí tôi luôn luôn bên cạnh mấy triệu đồng bào quyết chiến đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ cho nền độc lập Việt Nam, để tỏ rõ cho hoàn cầu biết rằng dân tộc Việt Nam đầy đủ tinh thần hy sinh chiến đấu…”.

Miền Nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam! Nghe theo tiếng gọi của Bác Hồ, hàng nghìn, hàng nghìn chiến sỹ giải phóng quân miền Bắc đã xung phong Nam tiến, sát cánh cùng đồng bào Nam bộ anh dũng chiến đấu. Biết bao người đã ra đi không hẹn ngày về. Không ít người còn sống, ở lại trong đó suốt đời, trở thành những đứa con của các ba, các má nơi Thành đồng Tổ quốc. Kháng chiến chống Pháp thắng lợi không trọn vẹn, miền Bắc được giải phóng nhưng miền Nam còn phải tiếp tục đấu tranh. Năm 1954, sông Bến Hải trở thành dòng sông chia cắt đất nước. Những người cùng chung một Tổ quốc, một lịch sử, cùng nhau đứng lên chiến đấu vì lợi ích chung của dân tộc, vì một đất nước giải phóng, tự do. Đồng bào miền Bắc hướng vào miền Nam, đồng bào miền Nam hướng ra đất Bắc. Tuân theo những điều khoản của Hiệp định Giơ-ne-vơ, cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc. Cuộc hẹn gặp sau 2 năm, phải mất 30 năm mới trở thành hiện thực. 30 năm – 10 ngàn ngày, miền Nam luôn sống trong trái tim dân tộc, luôn sống trong trái tim của Bác.

Tết Ất Mùi năm 1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh xúc động nhận được cây vú sữa, là món quà của đồng bào vùng tận cùng của Tổ quốc gửi tặng. Cây vú sữa trở thành biểu tượng của tấm lòng Bác Hồ đối với miền Nam, và của miền Nam đối với Bác. Bao nhiêu năm vẫn thế, miền Nam luôn hướng về Người, sâu nặng và nghĩa tình. Mong ước cho nước nhà thống nhất, Bắc Nam sum họp, được vào thăm miền Nam ruột thịt cũng luôn là mối trăn trở của Người. Hình ảnh Người vui mừng khi nghe tin miền Nam lại “thắng to” cho thấy tấm lòng thiết tha của Người đối với đồng bào miền Nam. Mỗi khi nghe tin có đoàn cán bộ ở miền Nam ra, Bác vội đến thăm ngay và hỏi han tình hình rất kỹ. Những chiến thắng của đồng bào miền Nam đã tiếp thêm sức mạnh cho Bác. Có một câu chuyện cảm động thế này:

Ngày 10/5/1969, đồng chí Vũ Kỳ báo cáo với Bác việc anh Văn (Đại tướng Võ Nguyên Giáp) đề nghị mời Bác chiều mai tiếp số cán bộ quân sự cao cấp sắp vào chiến trường miền Nam. Nghe nói được gặp gỡ cán bộ Quân đội, Bác đồng ý ngay. Bác dặn đồng chí Vũ Kỳ cố làm sao để các đồng chí Quân đội không biết là Bác đã yếu. Bác lo điều đó sẽ ảnh hưởng đến tư tưởng toàn quân. Đây là một việc không dễ gì, vì đến lúc này, Bác đi lại đã rất khó khăn. Lại còn giọng nói của Bác nữa. Từ năm ngoái, đã có hiện tượng bị lạc tiếng. Bác sĩ Trần Hữu Tước đã được gọi vào để chữa cho Bác, nhưng cũng chỉ đỡ được phần nào. Sau đó Bác phải luyện tiếng cả một tuần liền để thu thanh lời chúc mừng năm mới. Đồng bào và chiến sĩ cả nước nghe lời chúc mừng năm mới của Bác “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” không thể biết được rằng Bác đã phải kiên trì tập luyện như thế nào mới giữ được giọng nói tỏ ra vẫn khoẻ như thế. Thực ra Bác đã cố gắng rất nhiều, vì niềm vui của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, Bác không nề hà một việc gì. Nhớ hôm đồng chí Nguyễn Văn Linh vừa ở miền Nam ra, vào thăm Bác, được Bác mời ở lại cùng ăn cơm. Hôm đó đồng chí Phó Bí thư Trung ương Cục thấy Bác ăn ngon cả bát cơm đầy nên rất yên tâm. Sau này, đồng chí Nguyễn Văn Linh có tâm sự, khi biết chuyện Bác Hồ cố ăn cho đồng bào miền Nam yên tâm, đồng chí Linh đã không ngăn được nước mắt. Đồng chí đã kể cho nhiều người khác nghe và ai cũng xúc động bởi tấm lòng của Bác với miền Nam. Cho đến những ngày cuối đời, Bác Hồ cầm bát cơm ăn cũng là vì miền Nam.

Năm 1966, khi tiếp một nhà báo Cuba, Bác đã đặt một bàn tay lên ngực mình và nói: “Nhân dân miền Nam, mỗi người, mỗi nhà đều có một nỗi đau. Đem cộng tất cả những nỗi đau đó lại, thì đấy là nỗi đau của tôi”. Kể từ lúc rời Bến cảng Sài Gòn ra đi tìm đường cứu nước đến ngày giành được độc lập, chưa một lần Bác trở lại miền Nam, để nỗi niềm thương nhớ ngày đêm canh cánh bên lòng không một phút giây nào nguôi. Từ ngọn núi, dòng sông, đến con người miền Nam anh dũng; tất cả hòa trong tim Bác, đồng nghĩa với hòa bình, độc lập, thống nhất và phát triển. Đồng bào miền Nam luôn khắc sâu chân lý: “Đồng bào Nam bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi”, thực hiện được lời dạy thiêng liêng của Người “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”.

Nhưng niềm vui chưa được trọn vẹn, Người ra đi khi nước nhà còn chưa thống nhất, ước nguyện một lần vào miền Nam thăm các chiến sỹ, đồng bào đã không thực hiện được. Nỗi niềm ấy gửi trọn vào Di chúc thiêng liêng: “Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà”.

Nhập tâm sâu sắc Di chúc Bác Hồ, cán bộ, đảng viên, chiến sỹ và đồng bào Sài Gòn – Gia Định nêu cao khí phách của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, đạp bằng muôn trùng gian nguy, chiến đấu ngoan cường, vượt qua giai đoạn ác liệt nhất từ giữa năm 1968 đến đầu năm 1970, củng cố thế và lực cách mạng, đập tan chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của địch, chủ động và tích cực tham gia vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, làm rạng rỡ truyền thống vẻ vang của “Thành đồng Tổ quốc”, góp phần viết nên những trang huy hoàng nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc vẻ vang cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân của Đảng và nhân dân ta; thành phố Sài Gòn – Gia Định được vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh và bước vào kỷ nguyên mới, cùng cả nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; nhằm thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Thực hiện lời dạy của Bác, sau khi đất nước thống nhất, Đảng bộ và nhân dân thành phố đã nỗ lực phấn đấu, ra sức hàn gắn vết thương chiến tranh, khắc phục những hậu quả nặng nề do tàn dư của chủ nghĩa thực dân để lại. Đồng thời, dốc toàn lực để vượt qua những khó khăn, thử thách khắc nghiệt: Chính sách cấm vận, bao vây kinh tế của các thế lực thù địch, thiên tai xảy ra dồn dập, chiến tranh trên biên giới Tây Nam, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội diễn biến phức tạp…

Trong bối cảnh đó, Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh đã kiên trì tìm tòi, thử nghiệm, phát kiến ra những mô hình mới, biện pháp mới, cách làm mới, nhằm “tháo gỡ” khó khăn, vướng mắc, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển, xóa dần cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp; tiến hành cải cách mạnh mẽ về kinh tế trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng; từ đó, đã dần dần thực hiện được mục tiêu ổn định đời sống, ổn định kinh tế – xã hội. Chính trong thời điểm này, đã xuất hiện hàng loạt mô hình mới về sản xuất – kinh doanh, hàng vạn lao động tiên tiến, chiến sĩ thi đua, tổ đội lao động xã hội chủ nghĩa; hàng ngàn tổ dân phố, tổ nhân dân tiên tiến cấp thành phố với hàng ngàn sáng kiến có giá trị đã được phát hiện để nhân rộng điển hình.

Thành phố đã nỗ lực từng bước kiến tạo được nền tảng cơ sở vật chất – kỹ thuật của một đô thị theo hướng văn minh, hiện đại, làm cho diện mạo thành phố mang tên Bác ngày càng “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, xứng đáng là trung tâm kinh tế hàng đầu của cả nước. Một hệ thống liên hoàn các dự án lớn về những công trình trọng điểm đã và đang được xây dựng nhằm phục vụ cho hoạt động kinh tế và dân sinh, đóng vai trò trọng yếu trong việc nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả sản xuất xã hội, đã biến thành động lực cho sự phát triển của nền kinh tế như: Mạng lưới cầu đường, hệ thống bến cảng và kho bãi, mạng bưu chính viễn thông; nguồn điện cung ứng cho thành phố và khu vực phía Nam; sự xuất hiện các trung tâm thương mại – dịch vụ lớn; các khu đô thị mới, các khu chế xuất – khu công nghiệp tập trung…

Nhờ kinh tế tăng trưởng khá nhanh cùng với sự phát triển của kết cấu hạ tầng đô thị, các chương trình an sinh xã hội đã đạt được nhiều tiến bộ và kết quả thiết thực. Hoạt động văn hóa – xã hội có điều kiện để phát triển ngày càng phong phú, đa dạng, từng bước đáp ứng yêu cầu cải thiện đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng và phổ biến pháp luật. Hệ thống trường, lớp được phát triển không ngừng, số lượng học sinh các cấp đã tăng lên đều đặn, từ xóa xong nạn mù chữ đến phổ cập tiểu học và trung học cơ sở, đang phấn đấu phổ cập bậc trung học phổ thông, từng bước nâng cao trình độ dân trí.

Hệ thống cơ sở khám chữa bệnh được đầu tư mở rộng và nâng cao năng lực điều trị, cùng với việc thực hiện bảo hiểm y tế cho người nghèo, cho trẻ em dưới 6 tuổi đã góp phần đáp ứng yêu cầu bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Hệ thống các nhà văn hóa, câu lạc bộ, rạp hát được củng cố; việc xã hội hóa và đa dạng hóa các loại hình hoạt động văn hóa – nghệ thuật được đẩy mạnh, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng tăng của nhân dân. Nhiều phong trào, nhiều cuộc vận động ở thành phố có sức lan tỏa rộng như: Phong trào “đền ơn đáp nghĩa”, “xây dựng nhà tình nghĩa”, “xây dựng nhà tình thương”, “phụng dưỡng các mẹ Việt Nam anh hùng”, chăm lo các gia đình chính sách, người khuyết tật…

Đặc biệt, theo số liệu thống kê, năm 2010, thu nhập bình quân đầu người của thành phố đạt 2.800USD/người/năm; chương trình xóa đói, giảm nghèo đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ. Từ gần 122.000 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 17% tổng số hộ dân thành phố vào năm 1992, đến cuối năm 2010, cơ bản không còn hộ nghèo có mức thu nhập gấp đôi tiêu chí cũ và phấn đấu đến năm 2015 thành phố cơ bản không còn số hộ nghèo theo tiêu chí mới là dưới 12 triệu đồng/người/năm.

Đảng bộ thành phố luôn quan tâm lãnh đạo gắn nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội với an ninh, quốc phòng và đối ngoại trong quy hoạch và các kế hoạch phát triển thành phố, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ và lực lượng võ trang vững mạnh, góp phần giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ thành phố và đất nước.

Thấm nhuần lời dạy của Bác “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”, Đảng bộ thành phố luôn tăng cường lãnh đạo củng cố, kiện toàn tổ chức, phát huy vai trò của Mặt trận và các đoàn thể trong việc tuyên truyền, giáo dục, vận động giai cấp công nhân, nông dân, đội ngũ trí thức, các tầng lớp nhân dân, đồng bào các dân tộc, các tôn giáo tham gia các phong trào hành động cách mạng, gắn với phong trào thi đua yêu nước. Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”; giải quyết kịp thời các vấn đề bức xúc về dân sinh, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, không ngừng củng cố, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng vững mạnh.

Như vậy, sau 36 năm kể từ ngày giải phóng, thực hiện Di chúc Bác Hồ, thành phố Hồ Chí Minh đã “cùng cả nước” không ngừng nỗ lực phấn đấu khắc phục khó khăn để ổn định và phát triển đi lên. Và “vì cả nước”, thành phố Hồ Chí Minh đã tích cực đóng góp vào quá trình tìm tòi sáng tạo và thử nghiệm, vận dụng nhiều mô hình, cơ chế quản lý mới, nhằm góp phần có ý nghĩa vào việc hình thành, phát triển và thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng ta.

Có thể để khẳng định, một trong những nguyên nhân hàng đầu giúp cho Đảng bộ và nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phấn đấu giành được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội, là do Đảng bộ và nhân dân đã ra sức thực hiện những lời di huấn quý báu trong Di chúc của Bác Hồ về công tác xây dựng Đảng, nỗ lực phấn đấu thực hiện lời thề thiêng liêng của toàn Đảng, toàn dân khi vĩnh biệt Người: Hết lòng, hết sức giữ gìn sự đoàn kết trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình, tăng cường sức chiến đấu của Đảng, làm hạt nhân cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nguyện “Suốt đời học tập đạo đức tác phong của Người, bồi dưỡng phẩm chất cách mạng, không sợ gian khổ, không sợ hy sinh, rèn luyện mình thành những chiến sĩ trung thành với Đảng, với dân, xứng đáng là đồng chí, là học trò của Hồ Chủ tịch”.

Đặc biệt, từ năm 2007 đến nay, cùng với toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, Đảng bộ thành phố đã tự giác và có nhiều nỗ lực thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn Đảng bộ, trong hệ thống chính trị và toàn xã hội. Việc triển khai thực hiện Cuộc vận động đã mang lại kết quả bước đầu với những chuyển biến quan trọng về nhận thức và hành động của đảng viên, cán bộ công chức và các tầng lớp nhân dân thành phố.

Chuyển biến lớn nhất qua các đợt học tập, là “nỗ lực làm theo” tấm gương đạo đức của Bác Hồ, tinh thần trách nhiệm, tính tiên phong gương mẫu của người đảng viên, chất lượng sinh hoạt của chi bộ, năng lực lãnh đạo của các cấp ủy cũng như thực hiện tự phê bình, phê bình, thực hành dân chủ, đoàn kết trong nội bộ được nâng cao. Đã xuất hiện nhiều tập thể và cá nhân thực hiện tốt, nhất là trong việc thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí; trong công tác phòng, chống tham nhũng; trong cải cách hành chính, sửa đổi lối làm việc ở các cấp, trong việc giải quyết các vấn đề bức xúc của dân, chăm lo cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống cho dân và qua việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Hàng trăm cán bộ, đảng viên, công chức ở các cấp được biểu dương khen thưởng vì đã “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân”, góp phần củng cố, tạo thêm lòng tin của người dân đối với cơ quan chính quyền các cấp.

Thực hiện lời dặn dò có tính chiến lược cách mạng và tư tưởng nhân văn sâu sắc trong Di chúc của Bác đối với đoàn viên, thanh niên, trong nhiều năm qua, Đảng bộ thành phố đặc biệt quan tâm đến việc “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau”, thường xuyên giáo dục, xây dựng và phát huy thế hệ trẻ giàu lòng yêu nước, kiên định lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức cách mạng, ý thức chấp hành pháp luật; có năng lực, bản lĩnh trong hội nhập quốc tế, có sức khỏe, tri thức và tác phong công nghiệp trong lao động để trở thành những công dân tốt, những người chủ hiện tại và tương lai của thành phố và đất nước, kế thừa trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của dân tộc.

Lòng tôn kính Bác Hồ của người dân còn thể hiện trong từng nếp sống văn hóa truyền thống của mỗi gia đình người dân. Trên bàn thờ tổ tiên của một số gia đình, bức chân dung Bác Hồ luôn đặt ở vị trí trang trọng nhất, nhân dân thờ Người bằng tất cả tấm lòng kính yêu vị Cha già của dân tộc.

Từ sau khi nước nhà độc lập, dù nắng hay mưa, ngày ngày từng dòng người tấp nập vẫn xếp hàng để được vào Lăng viếng Bác, trong đó có biết bao đồng bào, chiến sỹ, nhân dân miền Nam lần đầu tiên mới được thỏa lòng ước nguyện nhìn thấy Bác kính yêu. Chúng ta không thể quên hình ảnh Đoàn Mẹ Việt Nam Anh hùng từ miền Nam ra Lăng viếng Bác. Nhiều Mẹ đã ở vào tuổi “xưa nay hiếm”, bước đi chậm chạp, khó khăn, sự chịu đựng hy sinh, mất mát đã in hằn trên khuôn mặt khắc khổ của các Mẹ, đôi mắt giờ đã không còn tinh tường nhưng khi được nhìn thấy Bác, xem những thước phim tư liệu về giờ phút cuối đời của Bác, Mẹ nào cũng nước mắt rưng rưng.

Để tỏ lòng thành kính với Người, cứ mỗi độ Tết đến xuân về, như đã thành thông lệ, nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và nhân dân Nam bộ nói chung lại về Lăng báo công với Bác những thành tích đã đạt được trong một năm qua và gửi tình Nam ra Bắc qua những đóa hoa Mai vàng rực rỡ thay lời chúc mừng năm mới đến tập thể cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ làm việc tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Thủ đô Hà Nội và nhân dân cả nước. Miền Nam của Người, niềm mong mỏi cháy lòng của Người lại về bên Người, chào đất nước thêm một mùa xuân mới. Đó là những cây Mai vàng tượng trưng cho tấm lòng người con miền Nam trở về bên Người như về với chính cội nguồn bằng tình cảm thân thương, kính trọng nhất đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và tri ân các Anh hùng liệt sỹ đã hy sinh vì độc lập của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân.

Với công lao to lớn của Người, với tư tưởng đạo đức cách mạng và nhân cách trong sáng của Người, Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi xứng đáng là một con người vĩ đại nhất của dân tộc Việt Nam anh hùng. Tấm gương hy sinh cả cuộc đời vì dân, vì nước; tư tưởng, đạo đức, tác phong của Người luôn cổ vũ, động viên các thế hệ người Việt Nam vững bước đi theo con đường mà Người và dân tộc đã lựa chọn. Giữ gìn lâu dài thi hài và xây dựng Lăng của Người là góp phần giữ gìn tư tưởng, đạo đức, sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời là giữ gìn một di sản vô giá của dân tộc và toàn nhân loại. Ngày nối ngày, trên Quảng trường Ba Đình, nhân dân trong nước và khách quốc tế lại về bên Người. Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn ung dung, giản dị như vừa chợp mắt sau một ngày làm việc…

Trong dòng mạch văn hóa đời sống của người dân miền Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, hình ảnh Bác luôn được đặt ở nơi trang trọng nhất và luôn ở trong tim mỗi người. Đảng bộ và nhân dân thành phố hôm nay nguyện phấn đấu làm theo Lời Bác dạy để rèn luyện, học tập tư tưởng, đạo đức của Người nhằm góp phần cùng cả nước xây dựng “Đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như sinh thời Bác đã mong ước và căn dặn, mãi xứng đáng là thành phố được mang tên Người./.

Nguyễn Thị Hồng Vượng
Phòng Pháp chế, Văn phòng Ban Quản lý Lăng
Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

K9 – KHU DI TÍCH LỊCH SỬ VỀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài của Đảng và nhân dân ta, Người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất. Chủ tịch Hồ Chí Minh tượng trưng cho tinh hoa của dân tộc Việt Nam, là tấm gương sáng ngời về phẩm chất đạo đức của người chiến sỹ cộng sản yêu nước. Cuộc đời và sự nghiệp của Người gắn liền với những sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc ta trong thế kỷ XX. Những miền quê đất nước Người đã từng sống và làm việc đã trở thành địa danh lịch sử, văn hoá Việt Nam. Khu Di tích K9 nằm bên bờ sông Đà, thuộc Đá Chông, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội là một trong những địa danh lịch sử, văn hoá đó. Đây là di tích đặc biệt gắn liền với Chủ tịch Hồ Chí Minh kể từ khi Người còn sống đến khi Người đã qua đời.

Khu Di tích K9 (Khu Di tích Đá Chông, trước đây gọi là K84) nằm trong hệ thống đồi gò có diện tích 234 ha, giáp địa giới hành chính với ba xã Minh Quang, Ba Trại, Thuần Mỹ thuộc huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội và xã Đồng Luận, huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ. Xưa kia, đây là khu đồi thông yên tĩnh, xen kẽ với các loài cây gỗ lớn, tán lá rộng tạo thành khu rừng nguyên sinh đầy sức quyến rũ. Trên đồi có những tảng đá to đứng lô nhô, sắc nhọn như những mũi chông, ngọn mác nên gọi là Đá Chông. Truyền thuyết kể lại rằng đây là bãi chông chà, dấu tích của những trận chiến dữ dội giữa Sơn Tinh và Thuỷ Tinh thời tiền sử. Theo trí tưởng tượng dân gian, khu vực này mang dáng dấp một con rồng, đầu đang cúi xuống uống nước sông Đà, U Rồng là đỉnh cao nhất của khu đồi. Địa danh này có đặc điểm rất kỳ lạ là sông Đà chảy qua Lai Châu về Hoà Bình, chảy xuôi qua đằng Khê Thượng, đến đây đột ngột chuyển dòng ngược về hướng Bắc, tạo thành một khúc gầy, đến ngã ba Bạch Hạc (Việt Trì) gặp sông Hồng, sông Thao để rồi cùng chầu về Đền Hùng, đất Tổ.

Trong “Diễn ca Thánh Tản Viên – Sơn Tinh” có đoạn viết:

Chúng thủy giai Đông tẩu
Đà giang độc Bắc lưu

Dịch là:

Các sông đều chảy về Đông
Sông Đà riêng một, ngược dòng Bắc lưu.

Vùng đất này đã có một sự kiện đặc biệt để rồi sau này trở thành một địa danh lịch sử. Đó là vào một ngày của tháng 5 năm 1957, Bác đến thăm Trung đoàn 36 – Sư đoàn 308 diễn tập bên sông Đà. Bác đã dừng chân nghỉ, ăn cơm trưa trên đồi, nơi có 3 mỏm đá nhọn như hình mũi chông, ngọn mác xếp liền kề nhau. Bác đứng ở vị trí Đá Chông, nhìn ra sông Đà trước mặt thấy đây là nơi sơn thuỷ hữu tình, dòng sông uốn khúc, cảnh vật tươi đẹp, gần dân mà xa đường quốc lộ. Với tầm nhìn của nhà chiến lược thiên tài, Người đã ngỏ ý với các đồng chí cùng đi xây dựng ở đây một nhà làm việc của Bác và Trung ương, đề phòng đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc.

Sáng ngày 23 tháng 2 năm 1958, Bác Hồ lên thăm và xem xét lại địa bàn khu vực Đá Chông. Cùng đi với Bác có đồng chí Nguyễn Lương Bằng – Uỷ viên Trung ương Đảng và một số đồng chí khác của Phủ Chủ tịch và lãnh đạo tỉnh Sơn Tây. Sau chuyến đi của Bác, Tổng cục Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam được giao nhiệm vụ xây dựng một số ngôi nhà cấp bốn trong khu vực Đá Chông.

Bước sang năm 1959, trước nguy cơ của một cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc của đế quốc Mỹ đã rõ ràng. Cục Doanh trại, Tổng cục Hậu cần được lệnh tiếp tục lên xây dựng khu căn cứ của Trung ương. Đồng chí Hoàng Linh, Cục trưởng Cục Doanh trại phụ trách được giao vẽ thiết kế ngôi nhà 2 tầng, phỏng theo kiểu nhà sàn. Đặc biệt, Bác đã trực tiếp duyệt thiết kế, cắm cọc, nhắm hướng cho ngôi nhà chính làm nơi hội họp, nghỉ ngơi của Bác và Trung ương. Công trình được chuẩn bị từ tháng 6 và đến tháng 9 năm 1959 bắt đầu khởi công xây dựng. Bộ đội Công binh xây dựng một hệ thống công sự kiên cố. Quá trình xây dựng, khu vực này mang mật danh “Công trường 5”, (gọi tắt là KV). Theo gợi ý của Bác, khu căn cứ của Trung ương chia làm 3 khu vực. Khu A dành cho Bộ Chính trị họp và tiếp khách; khu B dành cho các đồng chí lãnh đạo nghỉ; khu C dành cho các đồng chí bảo vệ và phục vụ. Quá trình thi công, Bác Hồ đã lên thăm và trực tiếp kiểm tra nhiều lần. Ngày 15 tháng 3 năm 1960 ngôi nhà 2 tầng được hoàn thành, Bác đã đi máy bay trực thăng lên dự buổi khánh thành. Từ lúc này nơi đây được đổi tên thành “Khu căn cứ K9” (gọi tắt là K9).

Trong 9 năm (từ 1960 – 1969) Bác Hồ và một số đồng chí trong Bộ Chính trị, chỉ huy Quân đội đã nhiều lần đến làm việc tại đây. Đặc biệt, ngày 20 tháng 9 năm 1964, Bác Hồ cùng đồng chí Phạm Văn Đồng và một số đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị đã lên họp tại K9. Bác và các đồng chí cùng đi đã trao đổi về tình hình quốc tế và trong nước từ sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ (ngày 5 tháng 8 năm 1964) và một số vấn đề về công tác phòng không nhân dân. Cũng tại nơi này, Bác đã từng tiếp đón bà Đặng Dĩnh Siêu- phu nhân Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai, ông Hà Vĩ – Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam và Đoàn cán bộ Quân đội Liên Xô do Anh hùng phi công vũ trụ G.M Ti-tốp dẫn đầu.

9 giờ 47 phút ngày 2 tháng 9 năm 1969, Hồ Chủ tịch qua đời. Thể theo nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã quyết định giữ gìn lâu dài thi hài Bác. Từ cuối năm 1969, cuộc kháng chiến của nhân dân ta bước vào giai đoạn quyết định. Đề phòng chiến tranh có thể xảy ra trên phạm vi cả nước, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương quyết định tìm một vị trí thật yên tĩnh, bí mật, xa Hà Nội, thuận tiện cho di chuyển thi hài Bác khi chiến tranh lan rộng. K9 đã được quyết định chọn là nơi giữ gìn thi hài Bác. Lúc này K9 được mang mật danh “Khu căn cứ K84”.

Trong 6 năm chiến tranh chống Mỹ cứu nước (1969 – 1975), thi hài Bác được giữ gìn bảo quản tại K9 ba lần với tổng thời gian là 4 năm 4 tháng 19 ngày. Đó là các thời gian sau:

– Đợt 1: Từ ngày 23 tháng 12 năm 1969 tới ngày 03 tháng 12 năm 1970, vì lúc đó cả nước có chiến tranh nên lưu giữ Bác ở căn cứ K84 an toàn hơn ở Hà Nội. Cuối năm 1970 do Mỹ – Nguỵ tập kích bằng máy bay trực thăng xuống một vị trí ở gần thị xã Sơn Tây, cho nên thi hài Bác lại được chuyển về Viện Quân y 108.

– Đợt 2: Từ ngày 19 tháng 8 năm 1971 tới ngày 11 tháng 7 năm 1972, khi đó ở miền Bắc mưa to liên tiếp 10 ngày, nước sông Hồng dâng cao 12m80, có nguy cơ vỡ đê nên thi hài Bác lại được đưa trở về bảo quản tại khu căn cứ K84. Cuối năm 1972 ta nhận định có nguy cơ Mỹ dùng máy bay B52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng, mà K84 nằm trên đường bay của địch từ Thái Lan sang, cho nên thi hài Bác lại được chuyển sang bảo quản tại H21.

– Đợt 3: từ ngày 08 tháng 02 năm 1973 tới ngày 17 tháng 7 năm 1975, sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, thi hài Bác lại được đưa trở lại K84 để bảo quản, vì nơi đây có điều kiện kỹ thuật tốt hơn ở H21.

Tại K84 không chỉ là nơi giữ gìn bảo quản thi hài Bác một cách đơn thuần, mà còn diễn ra nhiều sự kiện chuyên môn rất quan trọng như tiến hành chỉnh hình thi hài Bác. Hội đồng khoa học liên quốc gia Liên Xô – Việt Nam đánh giá trạng thái thi hài Bác. Cũng tại nơi đây chúng ta không chỉ giữ gìn an toàn thi hài Bác mà còn tổ chức nhiều buổi viếng Bác rất trọng thể cho nhiều đoàn đại biểu khác nhau. Tiêu biểu nhất là đoàn Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương do đồng chí Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng dẫn đầu viếng Bác vào ngày 23 tháng 8 năm 1970; đoàn cán bộ Trung ương Cục miền Nam do đồng chí Nguyễn Văn Linh dẫn đầu viếng Bác (tháng 2 năm 1974). Cũng tại nơi đây chúng ta cùng với các chuyên gia Liên Xô đã nghiên cứu một số vấn đề để chuẩn bị cho việc phục vụ lễ viếng thường xuyên sau này tại Lăng Bác ở Quảng trường Ba Đình lịch sử. Ngoài ra còn nhiều cuộc trao đổi kinh nghiệm giữa các chuyên gia Bạn và cán bộ y tế của ta để học tập kinh nghiệm của Bạn, cũng là nơi để thử thách rèn luyện cả về ý chí lý tưởng cách mạng cho tất cả các lớp cán bộ, cũng là nơi tích luỹ kinh nghiệm thực tiễn trong chuyên môn nghiệp vụ về y tế, kỹ thuật, phương án bảo vệ an ninh trong điều kiện đất nước có chiến tranh.

Sau chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (ngày 30 tháng 4 năm 1975), miền Nam hoàn toàn được giải phóng, Tổ quốc thống nhất, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta mong đợi được đón Bác về Lăng. Đúng 16 giờ ngày 18 tháng 7 năm 1975, đoàn xe đặc biệt chở thi hài Bác được lệnh xuất phát rời K84 về Lăng của Người tại Ba Đình lịch sử. Lúc này Khu căn cứ K84 trở thành căn cứ dự phòng cho Lăng Bác.

Cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã in dấu khắp năm châu bốn biển, ở đâu Người cũng hiện thân của sự hoà đồng giữa con người với thiên nhiên. Bác ở Khu căn cứ K9 cũng vậy, ngay khi xây dựng ngôi nhà, làm đường sá, Người đã yêu cầu giữ lại tất cả các cây trồng lấy gỗ. Các ngôi nhà, đường sá đều được làm trên những khoảng đất trống không có cây trồng. Bác còn tạo những mảnh vườn nhỏ để trồng các loại cây nhãn, quế, vải, bưởi, trồng rau xanh và trồng hoa. Hai loại cây được trồng ở những nơi thường xuyên Người có thể nhìn thấy được đó là cây vú sữa của miền Nam thân yêu và cây hoa râm bụt của quê hương. Cây vú sữa được trồng ngay trước cửa sổ bàn làm việc; cây hoa dâm bụt trồng ở con đường bậc thang ngày ngày Bác vẫn đi dạo rèn luyện sức khoẻ.

Có thể nói, với tư cách là chủ thể, Bác đã không chỉ giữ gìn vẻ đẹp tự nhiên nguyên sơ mà còn cải tạo, điểm tô cho thiên nhiên trở lại phục vụ con người, biến thiên nhiên trở thành đối tượng của cái đẹp dành cho con người thưởng thức, hưởng thụ. Bởi thế cho đến hôm nay các công trình đều được ẩn mình trong một không gian xanh của những tán rừng nguyên sinh. Tất cả những gì của thiên nhiên vẫn còn nguyên vẹn. Những con đường sỏi, những bậc đá trên đường dẫn xuống sông, hòn non bộ vẫn được lưu giữ như thuở nào. Bởi lẽ, bảo tồn nguyên vẹn di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại K9 chính là bảo tồn một không gian thiêng liêng, một không gian thể hiện tư tưởng, đạo đức tác phong của Người. Đã qua một thời gian dài trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt nhưng tất cả cảnh quan, kiến trúc, các di vật liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh ở đây vẫn được giữ gìn nguyên vẹn. Từ những vườn cây tự tay Người trồng tỉa đến phòng họp của Bộ Chính trị ở ngôi nhà hai tầng, phòng ở của Bác Hồ, phòng nghỉ của khách, nơi làm việc của các đồng chí bảo vệ, cơ quan văn phòng…

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành biểu tượng cho tinh hoa của dân tộc Việt Nam, lương tâm của thời đại. Chính vì vậy, những địa danh gắn với cuộc đời và sự nghiệp của Người đã trở thành di tích văn hoá, lịch sử vô giá, được các tầng lớp nhân dân và bạn bè quốc tế ngưỡng mộ, thành kính thăm viếng. Khu Di tích K9 là một trong số trên 600 địa điểm như vậy trong cả nước.

Đầu năm 1995, thực hiện ý kiến chỉ đạo của đồng chí Đỗ Mười, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá VIII), sau khi báo cáo Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức tổ chức đón tiếp các cơ quan, đơn vị, đoàn thể địa phương trong cả nước đến dâng hương tưởng niệm Bác, sinh hoạt chính trị và tham quan Khu di tích. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước khi lên tham Khu di tích đã trồng cây lưu niệm. Chỉ tính từ năm 1999 đến nay, từ chỗ có gần 300 đoàn đến Khu di tích trong một năm; năm 2010 đã có 4.293 đoàn với hơn 120 nghìn lượt người. Đến đây ai cũng xúc động trước những hiện vật, những công trình liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của Bác, khi người còn sống và lúc đã đi xa.

Trong số các Khu di tích, điểm lưu niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cả nước, Khu Di tích K9 có một giá trị đặc biệt về ý nghĩa lịch sử, văn hoá đó là nơi Bác Hồ và các đồng chí thân thiết của Người đã làm việc và nghỉ ngơi; nơi thể hiện tình cảm cao cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh với bầu bạn quốc tế; nơi bảo vệ, giữ gìn tuyệt đối an toàn thi hài Bác trong những năm chiến tranh ác liệt; nơi thể hiện tình cảm của nhân dân ta đối với Bác Hồ kính yêu và cũng là một căn cứ dự phòng của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là nơi tiếp nối mạch nguồn lịch sử – văn hoá của thời đại Hồ Chí Minh. Địa danh Đá Chông nằm ở nơi bắt nguồn, nơi tiếp nối của mạch nguồn lịch sử – văn hoá, bắt đầu từ thời Hùng Vương. Đứng trên núi tổ Ba Vì ta có thể thấy Đền Thượng, Đền Trung, Đền Hạ, phóng xa tầm mắt về phía Bắc là miền trung du đất tổ Vua Hùng, phía sau là đồng bằng Bắc Bộ, Thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến. Trên vùng đất địa linh nhân kiệt này có biết bao huyền thoại, tồn tại rất nhiều di chỉ khảo cổ, di tích lịch sử – văn hoá. Chắc chắn vùng đất này chứa đựng những trầm tích lịch sử – văn hoá đặc biệt, mà một linh cảm đặc biệt mà Bác đã phát hiện ra và để lại dấu ấn của mình. Khu Di tích K9, thể hiện dấu ấn của một con người có đạo đức, phong cách sống giản dị, hiện thân của nhà văn hoá Hồ Chí Minh với tư tưởng “con người sống hoà hợp với thiên nhiên”.

Di sản của Người để lại nơi đây chính là đạo đức, tác phong sống cao đẹp, giản dị, cùng một cảnh quan thiên nhiên đã được Người chăm sóc và gìn giữ. Vì thế chúng ta cần phải giữ gìn, phát huy ý nghĩa chính trị, văn hoá của Khu di tích lịch sử này để góp phần thực hiện thắng lợi Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; giáo dục truyền thống cách mạng, tự hào dân tộc cho các thế hệ hôm nay và mai sau để chúng ta vững vàng, có niềm tin thực hiện thắng lợi mong muốn của Bác lúc sinh thời là xây dựng nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh./.

Thượng tá Nguyễn Thanh Huống
Chính uỷ Đoàn 285 Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng
Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Ngày 1-7: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

https://i0.wp.com/www.bqllang.gov.vn/imagesnews/1.7.jpgNgày 1-7-1924, tham dự Đại hội V của Quốc tế Cộng sản, tại phiên họp thứ 22, Nguyễn Ái Quốc lại đăng đàn thẳng thắn phê bình các đảng của các nước có thuộc địa chưa thi hành một chính sách tích cực. Nguyễn Ái Quốc kết luận: “Thưa các đồng chí, vì chúng ta tự coi mình là học trò của Lê-nin, cho nên chúng ta cần phải tập trung tất cả sức lực và nghị lực để thực hiện trên thực tế những lời di huấn quý báu của Lê-nin đối với chúng ta về vấn đề thuộc địa cũng như các vấn đề khác”.

Ngày 1-7-1942, Báo Việt Nam Độc lập, xuất bản tại Chiến khu Cao Bằng, đăng một bài thơ ngụ ngôn của Bác với nhan đề “Con cáo và tổ ong”. Sau khi kể lại việc đàn ong đã đoàn kết chống trả cáo để bảo vệ tổ của mình, Bác kết luận:

“Bây giờ ta thử so bì
Ong còn đoàn kết huống chi là người
Nhật Tây áp bức giống nòi
Ta nên đoàn kết để đòi tự do”

Ngày 1-7-1946, tại Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đón tiếp nhiều Việt kiều đến thăm. Họa sĩ Vũ Cao Đàm xin vẽ và nặn tượng Bác. Cùng ngày, nhiều nhà văn, trí thức tiến bộ Pháp đến chào Bác như Louis Aragon, Jean Richard Bloch, Pierre Emmanuel…

Ngày 1-7-1947, Bác viết thư gửi một số nhân sĩ họ Đinh ở Hòa Bình đã vận động đồng bào Mường ở địa phương tham gia kháng chiến.

Cùng ngày, Bác viết thư động viên nhà thơ Huyền Kiêu đã viết bản trường ca “Hồ Chí Minh – Tinh hoa dân tộc”: “…Tôi mong chú và anh chị em văn nghệ sĩ trong Hội Văn hóa cứu quốc đi sâu hơn nữa vào cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, sáng tác được nhiều tác phẩm phục vụ cuộc kháng chiến lâu dài và gian khổ nhưng nhất định thắng lợi của nhân dân ta”.

Ngày 1-7-1954, viết trên Báo Nhân Dân, trong bài “Những việc vô lý”, Bác bình luận về những bài viết trên báo chí Pháp đề cập tới tội ác của quân viễn chinh Pháp để đi đến nhận định, với nước Pháp và binh sĩ Pháp, “cuộc chiến tranh này thật là vô nghĩa… Nó đã đưa thực dân Pháp đến Điện Biên Phủ và sẽ đưa chúng đến nhiều Điện Biên Phủ khác nữa”.

Ngày 1-7-1958, Báo Nhân Dân đăng bài viết “Mấy kinh nghiệm Trung Quốc”, trong lời kết Bác lưu ý: “Chúng ta phải học kinh nghiệm quý báu của các nước anh em. Cố nhiên phải vận dụng những kinh nghiệm ấy một cách sáng tạo, hợp với hoàn cảnh thực tế của nước ta, chứ không nên học một cách máy móc”.

Ngày 1-7-1960, nói chuyện tại Đại hội Đảng bộ và các cơ quan dân chính Đảng Trung ương, Bác vạch rõ: “Tuy cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đã xong, nhưng chúng ta còn phải tiếp tục kháng chiến chống một thứ giặc khác, đó là giặc nghèo nàn, lạc hậu… Cho nên đảng viên ta cũng phải có thêm tinh thần như thanh niên “đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 7-7: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Đoàn Dũng sĩ Quân Giải phóng miền Nam vinh dự được đến thăm, chúc thọ Bác Hồ (5/1969) Ảnh: TL

Ngày 7-7-1946, tại Paris, Bác tiếp tục gặp gỡ nhiều bà con Việt kiều, tiếp và mời cơm gia đình tướng Raoul Salan, đồng thời dự những hình thức lễ nghi và hội pháo hoa tại cung điện Versailles để chào mừng khách quý từ Việt Nam.

Tháng 7-1952, nói chuyện tại Hội nghị Chiến tranh du kích Bắc bộ, Bác phân tích: “Cuộc kháng chiến của ta là trường kỳ gian khổ nhưng nhất định thắng lợi. “Trường” là “dài”, tức là đánh bao giờ địch bại, địch cút, thế mới là “trường”…Chớ có vội vàng muốn đánh ngay thắng ngay, thế là chủ quan. Trường kỳ thì phải gian khổ nhưng nhất định thắng lợi…Kháng chiến trường kỳ gian khổ đồng thời lại phải tự lực cánh sinh. Cố nhiên sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác. Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”.

Sau khi phân tích những khuyết điểm cần phải sửa chữa, Bác nói đến những công việc phải làm: “Điểm trọng yếu là bất kỳ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích đều phải bám sát lấy dân, rời dân ra nhất định thất bại. Bám lấy dân là làm sao cho được lòng dân, dân tin, dân mến, dân yêu. Như vậy thời bất kể việc gì khó cũng làm được cả và nhất định thắng lợi”.

Ngày 7-7-1954, Báo Nhân Dân đăng bài “Công giáo Pháp chống chiến tranh xâm lược Việt Nam”, trong đó Bác bình luận về việc nhiều giáo dân, giáo chức và tờ báo lớn của Thiên Chúa giáo ở Pháp lên tiếng chống chiến tranh, kêu gọi đình chiến, để từ đó đưa ra lời kêu gọi: “Trước thái độ đúng đắn của những người Công giáo Pháp, thì những người Công giáo Việt Nam ai lầm đường theo giặc, phản nước, phản Chúa, cần phải mau mau hối cải, mau mau quay về với chính nghĩa, với Tổ quốc yêu mến của chúng ta”.

Ngày 7-7-1958, Bác tham dự Đại hội Anh hùng và Chiến sĩ thi đua công, nông, binh toàn quốc lần thứ II và biểu dương: “Anh hùng, chiến sĩ thi đua là những người tiên phong trong sản xuất mà cũng là gương mẫu về đạo đức cách mạng…Họ toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân chứ không nửa tâm, nửa ý… không suy bì hơn thiệt cá nhân, không ganh tị về địa vị và hưởng thụ, không giấu nghề, không dìm những anh em chung quanh mình, không tự kiêu, tự mãn, tự tư, tự lợi”.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh tặng danh hiệu Anh hùng Lao động cho 26 tấm gương xuất sắc nhất trong phong trào thi đua yêu nước.

Ngày 7-7-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự phiên họp khai mạc kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa II. Tại kỳ họp này, Bác được tái tín nhiệm đảm nhận cương vị Chủ tịch nước./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn