Tag Archive | Dân tộc

Người thanh niên Chilê viết ca khúc về Bác Hồ

Anh Victore Hara và 5 người bạn (Victore đứng ngoài cùng bên phải) đang hát bài hát về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại buổi mít tinh ngày 23/9/1969 tại Quảng trường Hakaniemi.

Dù chưa một lần được gặp Bác, nhưng Victore Hara – một thanh niên hoạt động trong Phong trào Cánh tả ở Chilê đã viết ca khúc về Người.

Ở một nơi cách xa đất Việt hàng vạn dặm, người thanh niên Chilê ấy đã đặt hình ảnh Bác Hồ vào tim mình và hô vang tên Người cho đến khi trút hơi thở cuối cùng dưới bàn tay đẫm máu của chế độ độc tài Pinochet…

… 2giờ 30 phút đêm của một ngày trung tuần tháng 8/1969, ngay khi vừa đặt chân tới sân bay Helsinki (Phần Lan), trong Đoàn đại biểu thanh niên Việt Nam tham dự “Gặp gỡ thanh niên – sinh viên thế giới”, Nhà nghiên cứu lịch sử Văn Tùng được đưa thẳng đến một khu ký túc xá đã cũ.

Không gian về đêm im ắng lạ thường, chỉ còn một căn phòng sáng đèn. Một thanh niên chừng 30 tuổi dáng to béo lao ra bắt tay ông Văn Tùng và như reo lên: “Tôi rất mong gặp anh!” Người thanh niên ấy là nhạc sỹ Victore Hara – làm việc tại Viện Âm nhạc Chilê.

Nói đoạn Victore kéo ông Văn Tùng lại chiếc bàn làm việc đang bày la liệt tài liệu.

Ông Văn Tùng vô cùng ngạc nhiên bởi trên bàn có nhiều tấm ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh như ảnh Bác cưỡi ngựa trên đường đi công tác tại Việt Bắc, ảnh Bác đang chỉ huy Chiến dịch Biên giới, ảnh Bác câu cá, ảnh Bác bên nhà sàn tại Hà Nội… Cạnh đó là mấy trang giấy đang dang dở nhiều nốt nhạc.

Victore Hara hỏi: “Ở Việt Nam, người dân thường gọi Hồ Chí Minh là gì?”. Ông Văn Tùng cho biết, người dân Việt Nam gọi Bác bằng nhiều cái tên khác nhau như Cụ Hồ, Ông Ké, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bác Hồ…Trước tình cảm nồng nhiệt của Victore Hara, ông Văn Tùng đã đưa cho Victore xem bức thư Bác Hồ viết bằng tiếng Pháp gửi các đại biểu thanh niên quốc tế.

Victore xúc động đọc và cầm lá thư đặt vào tim mình. Khi đó Victore mới cho ông Văn Tùng biết là đang viết một ca khúc về Chủ tịch Hồ Chí Minh và đó cũng là bài hát chính thức của cuộc gặp mặt thanh niên lần này. Và đã từ lâu Victore quan tâm tìm hiểu về cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bài hát về Bác Hồ đã được Victore viết trong sự dâng trào cảm xúc và được hơn 5.000 đại biểu thanh niên – sinh viên trên khắp thế giới và hàng vạn bạn trẻ Helsinki nồng nhiệt đón nhận. Ngay trong lễ khai mạc cuộc gặp gỡ vào 9 giờ sáng ngày 23/8/1969, cả Quảng trường Hakaniemi rộng lớn giữa Thủ đô Helsinki vang lên lời bài hát mà người lĩnh xướng trên đài cao chính giữa Quảng trường là Victore cao lớn và nhóm bạn của mình.

Quốc kỳ Việt Nam, hàng trăm khẩu hiệu về Việt Nam, về Hồ Chí Minh tung bay hòa nhịp cùng lời bài hát. Bài hát được viết và hát bằng tiếng Tây Ban Nha trên nhiều đường phố của Helsinki. Lời bài hát tạm dịch là: “Hồ Chí Minh là của chúng ta/ Hồ Chí Minh là nguồn sáng cho chúng ta/Hồ Chí Minh sẽ đưa chúng ta đến chiến thắng/Hô…Hồ Chí Minh/Hô…Hồ Chí Minh/Hồ Chí Minh muôn năm! (Viva Hồ Chí Minh)…!”.

Lễ mít tinh tại Quảng trường Haka.

Sau khi Việt Nam thống nhất, năm 1983, trong một lần đi công tác tại Ba Lan, ông Văn Tùng may mắn gặp lại bà Helen – một đại biểu nữ người Thụy Điển mà ông từng quen biết trong cuộc gặp năm 1969 tại Phần Lan.
Bà Helen kể lại cho ông Văn Tùng về việc Victore đã bị sát hại dã man dưới bàn tay đẫm máu của chính quyền độc tài Pinochet. Bản thân bà Helen đã từng gặp nhiều chiến hữu của Victore chạy từ Chilê sang Thụy Điển lánh nạn.

Ngay sau khi Tổng thống Cánh tả Chilê Salvador Allende bị đảo chính và hy sinh, lực lượng của Pinochet đã lập ra chính quyền mới và quay ra đàn áp những người cánh tả, bắt giam, tàn sát và cầm tù những người yêu nước chân chính.

Hàng vạn người đã bị chế độ độc tài Pinochet lùa vào các nhà tù khiến cho nhà tù quá tải. Victore và hàng ngàn người khác đã bị giam ngay tại một sân vận động. Trước họng súng của lực lượng Pinochet, Victore vẫn hát vang những bài ca về tổ quốc, về Tổng thống Allende và Chủ tịch Hồ Chí Minh khiến lính canh giữ như điên lên vì tức giận.

Một tên lính thúc họng súng vào ngực Victore thét lên “mày còn hát nữa không?”, Victore không thèm trả lời mà còn hô vang “Hồ Chí Minh muôn năm!”. Tên lính rút dao găm chặt đứt một cánh tay Victore. Ngay cả khi không còn tay, Victore vẫn hát cho đến khi gục xuống…

Theo ông Văn Tùng, những thông tin về sự hy sinh cao đẹp của Victore đã được báo chí trong và ngoài nước khi đó xác nhận.

bqllang.gov.vn

Bác sẽ chịu trách nhiệm cho

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà non trẻ nằm giữa vòng vây của thù trong giặc ngoài, vận nước nghìn cân treo sợi tóc, việc sống còn trước hết là phải giữ vững chính quyền cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh, người lãnh trách nhiệm trước lịch sử, trước dân tộc, cầm lái con thuyền cách mạng vượt lên mọi sóng gió, gìn giữ cho được độc lập dân tộc. Người luôn quan tâm đến các chiến sĩ ở ngoài mặt trận, ởbiên giới, hải đảo nói chung và bộ đội cảnh vệ bảo vệ ở Bắc Bộ Phủ nói riêng.

Vào những ngày đầu năm 1946, sau khi học một lớp đào tạo tại Khu Bốn cột ở Ngã tư Vọng, Hà Nội, tôi được điều động về làm Chính trị viên Đại đội 1, làm nhiệm vụ bảo vệ Bắc Bộ Phủ, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc. Nhà Bắc Bộ Phủ gồm ba tầng, tầng trên cùng là nơi Bác Hồ và Cụ Huỳnh Thúc Kháng – Phó Chủ tịch nước làm việc. Tầng hai là nơi để Bác và Cụ Huỳnh tiếp khách, đồng thời là phòng họp của Chính phủ. Tầng một thường gọi là tầng hầm, được bố trí làm nhà bếp, nấu cơm hàng ngày của Cụ Hồ và Cụ Huỳnh Thúc Kháng và là nơi trú quân của cán bộ, chiến sỹ Đại đội 1 chúng tôi. Ở trên tầng ba nhưng hàng ngày Bác xuống tầng một để hỏi thăm sức khoẻ của cán bộ, chiến sỹ. Một hôm, Bác xuống thăm đúng vào giờ ăn cơm trưa, thấy trong mâm cơm chỉ có đĩa rau muống luộc, vài miếng đậu phụ kho tương, với bát nước luộc rau, Bác hỏi: “Các chú ăn có được no không?”. Tôi thay mặt cán bộ, chiến sỹ thưa lại với Bác. “Dạ thưa Cụ …”, (hồi ấy chúng tôi thường gọi Bác là Cụ, để biểu lộ lòng tôn kính vị Chủ tịch nước, sau này được phép mới gọi bằng Bác). Giọng Bác bùi ngùi, Người nói: “Nước ta mới giành được chính quyền, lại vừa qua nạn đói khủng khiếp năm 1945, nên còn nghèo lắm. Nay đang phải đối phó với cả ba thứ giặc: Giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm nên Chính phủ chưa thể tăng tiêu chuẩn ăn cho bộ đội. Các chú cố gắng tăng gia tự túc được rau, dồn tiền mua thêm ít thịt cá để cải thiện bữa ăn”. Rồi Bác hỏi: “Mỗi tuần các chú vẫn nhịn ăn một bữa để cứu đói đấy chứ?”. Tôi thưa lại với Bác: “Dạ thưa Cụ hàng tuần vào chiều thứ sáu chúng cháu vẫn thực hiện nhịn ăn một bữa để góp gạo cứu đói ạ”. Nghe chúng tôi thưa lại Người trầm ngâm suy nghĩ, nhìn anh em từ đầu đến chân rồi lặng lẽ bước lên cầu thang.

Mấy ngày sau, tôi triệu tập cán bộ Tiểu đội, Trung đội lên phổ biến chỉ thị mới của Cụ: Từ nay các chiến sỹ làm nhiệm vụ bảo vệ ở Bắc Bộ Phủ không phải nhịn ăn mỗi tuần một bữa nữa để bảo đảm sức khoẻ thực hiện nhiệm vụ.

Nghe tôi phổ biến xong anh em ai nấy đều xúc động, muốn khóc, nghĩ rằng hàng tuần vào chiều thứ sáu bếp nấu ăn cho Cụ Hồ và Cụ Huỳnh đều không nhóm lửa vì hai cụ vẫn làm gương nhịn ăn một bữa trong tuần để cứu đói cho đồng bào, bộ đội mình luyện tập và canh gác tuy có mệt nhưng làm sao mệt bằng các Cụ trăm công nghìn việc?

Bác Hồ còn chăm sóc đến giấc ngủ của các chiến sỹ. Một đêm đã khuya tôi đi thay phiên gác về, chợt trông thấy một bóng người đi đến từng giường, giắt lại màn cho từng chiến sỹ. Một chiến sỹ ngủ say bỏ tay ra ngoài, Người nhẹ nhàng nhấc bàn tay đặt vào rồi giắt lại màn rất cẩn thận. Lúc đầu tôi cứ tưởng là đồng chí Đại đội trưởng đi kiểm tra, khi đến gần, tôi giật mình nhận ra Bác Hồ, vị Chủ tịch nước của chúng ta! Tôi bước nhẹ nhàng đến gần Bác cất tiếng chào: “Cháu chào Cụ ạ”. Bác quay lại hỏi: “Chú là chỉ huy phải không?”. Tôi thưa lại: “Dạ thưa Cụ vâng ạ”. Tôi nhớ đêm hôm ấy là vào tháng 7 âm lịch, trời rất nóng. Gian buồng của Tiểu đội một chúng tôi lại ở gian giữa, không có quạt, không có cửa sổ cho nên càng nóng hơn, ban đêm muỗi lại nhiều. Bác nhìn tôi, lại nhìn các giường kê sát nhau, Bác nói: “Trời nóng thế này anhem ngủ sao được. Trên tầng hai rộng rãi lại có quạt trần, từ nay đêm nào nóng quá lên đó mà ngủ, sáng ra dọn dẹp xong lại xuống, còn bây giờ các chú có thể lên ngay”. Tôi thưa lại: “Cháu cảm ơn Cụ, nhưng để cháu báo cáo lại với cấp trên của cháu cho đúng quy định, nếu không thì sáng mai cháu bị khiển trách”. Bác nói ngay: “Đã khuya rồi, đừng báo cáo các chú chỉ huy nữa, chú cứ cho anh em lên tầng hai ngủ, sáng mai cấp trên của chú có hỏi, chú cứ báo cáo là Bác Hồ đã cho phép. Nếu chú bị khiển trách thì Bác sẽ chịu trách nhiệm cho”.

Từ ngày ấy, mấy chục nghìn ngày đã trôi qua, nhưng ấn tượng về sự chăm sóc ân cần của Bác Hồ đối với chiến sỹ vẫn in đậm trong tâm trí tôi. Với tấm lòng thành kính, tôi ước mong sao ai cũng học tập được một chút ít gì dù nhỏ nhoi theo tấm tương đạo đức của Người – quan tâm ân cần đối với những người sống quanh ta.

Lê Gia Định
Nguyên Chính trị viên Đại đội 1 bảo vệ Bắc Bộ Phủ (kể)
Theo Trần Minh Hiền, Tạp chí Xây dựng Đảng
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ với nông nghiệp, nông dân và nông thôn

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm kè bảo vệ sông Đà ở Cổ Đô, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (8-7-1958)

Sinh thời, Bác Hồ luôn quan tâm đến vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Người cho rằng, nông nghiệp phải là mặt trận hàng đầu, muốn phát triển đất nước phải coi trọng cả nông nghiệp và công nghiệp.

Khi cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ ở miền Bắc diễn ra ác liệt, Bác dành thời gian xuống tận các Hợp tác xã (HTX) thăm hỏi, động viên nông dân. Hình ảnh Bác xắn quần lội ruộng, cùng tát nước, cùng đạp guồng nước chống úng với bà con là những hình ảnh đẹp trong lòng người dân. Khi biết tin đê sông Hồng ở khu vực Hưng Yên, Thái Bình bị vỡ, Bác trực tiếp xuống kiểm tra việc khắc phục hậu quả. Bác hỏi cặn kẽ có mấy người bị nạn, dặn dò trước hết phải lo cái ăn để dân khỏi đứt bữa, sau đến nơi ở và ổn định sinh hoạt cho mọi người, tập trung nhân tài vật lực để đắp lại chỗ đê bị vỡ. Bác hứa khi nào đắp xong Bác sẽ xuống thăm. Giữ đúng lời hứa, bốn tháng sau Bác xuống dự khánh thành đoạn đê vừa mới đắp. Bác đi kiểm tra, nhìn chỗ giáp ranh đê mới đê cũ, Bác nhắc nhở phải tăng cường gia cố mới an toàn. Bác khen đắp nhanh nhưng chưa lèn chặt, cần tăng cường lực lượng đầm thật kỹ mới đảm bảo lâu dài.

Trong “Thư gửi nông dân thi đua canh tác” vào tháng 2-1951, Bác viết: “Thực túc thì binh cường! Chiến sĩ ở trước mặt trận thi đua giết giặc lập công thì đồng bào ở hậu phương phải thi đua tăng gia sản xuất. Ruộng rẫy là chiến trường, cuốc cày là vũ khí, nhà nông là chiến sĩ, hậu phương thi đua với tiền phương”(1). Bức thư đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Bác với giai cấp nông dân và sản xuất nông nghiệp.

Khi đến thăm đồng bào, Bác không dùng những lời lẽ chung chung mà rất cụ thể, nói rõ từng việc, chỉ ra ưu điểm để phát huy, vạch rõ khuyết điểm để khắc phục. Đứng trước bà con, Bác không đọc diễn văn mà ân cần chuyện trò thăm hỏi. Một lần về xã Đại Nghĩa, Hà Đông nói chuyện với cán bộ xã viên HTX nông nghiệp, Bác đưa ra những con số cụ thể làm bà con ngỡ ngàng. Bác nói: Xã có 600 hộ mà chỉ mới nuôi được có 500 con lợn như vậy là ít, mỗi hộ chưa được một con, còn gà vịt bình quân mỗi hộ cũng chỉ có 10 con, vì vậy xã phải đẩy mạnh chăn nuôi. Từ những việc cụ thể, Bác khái quát: Phát triển kinh tế tập thể nhưng phải phát triển thích đáng kinh tế của gia đình xã viên. Bác chỉ ra nguyên nhân: Coi trọng sản xuất lúa là tốt, nhưng bà con nông dân còn xem nhẹ hoa màu và cây công nghiệp. Do xem nhẹ hoa màu nên chăn nuôi không phát triển được

Những năm tháng cuối đời, tuy sức khỏe yếu nhưng Bác vẫn dành nhiều thời gian làm việc với các đồng chí phụ trách nông nghiệp. Họp Bộ Chính trị hay các buổi làm việc về nông nghiệp, Bác thường nhắc bản Điều lệ Hợp tác xã. Bác bảo công nhân có ngày kỷ niệm thì nông dân cũng phải có ngày kỷ niệm, nên lấy ngày ban hành Điều lệ Hợp tác xã làm ngày kỷ niệm cho nông dân. Bác dặn, viết bản Điều lệ sao cho nông dân ít học cũng hiểu được. Sau khi đọc Bản dự thảo, Bác nói đây là bản dùng cho cán bộ, đối với xã viên thì viết phải gọn hơn, dễ hiểu hơn. Bác đọc và sửa chữa rất kỹ, chỗ nào chữ nghĩa cầu kỳ khó hiểu Bác đều sửa lại. Thứ tự các chương đánh số La Mã, Bác sửa lại thành “Chương Một… Hai…”. Câu “Nhà nước hết lòng giúp đỡ” Bác bỏ chữ “hết lòng” vì thừa. Câu “xã viên phải góp ruộng đất, trâu bò, các công cụ chủ yếu”, Bác sửa: “Xã viên phải góp ruộng đất, góp cổ phần, để lại trâu bò và các công cụ chủ yếu”. Chữ “để lại” vừa có tình vừa có nghĩa giữa xã viên và HTX.

Trong cuộc họp Bộ Chính trị bàn về nông nghiệp, Bác đề nghị: “Quỹ tích lũy để khoảng 7-10% thu nhập HTX là quá cao, đời sống dân còn thấp nên tập trung nâng mức sống của dân”. Bộ Chính trị nhất trí chỉ để quỹ tích lũy 5-10%. Sau đó Bác yêu cầu chuyển đổi nội dung Bản Điều lệ sang diễn ca phát trên đài phát thanh để dân dễ thuộc, dễ nhớ, dễ làm theo. Trong Di chúc, Bác đề nghị Chính phủ khi sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ toàn thắng thì “miễn thuế nông nghiệp 1 năm cho các HTX nông nghiệp để cho đồng bảo hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”(2).

Những việc làm của Bác đối với nông nghiệp, sự quan tâm chia sẻ vất vả với nông dân của Bác đến nay còn nguyên giá trị cả về tình cảm, đạo đức và trí tuệ.

Đất nước ta đang đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn theo đường lối đổi mới của Đảng. Đảng ta luôn xác định giải quyết vấn đề “tam nông” là vấn đề lớn, có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hội nhập và phát triển của đất nước. Tại Đại hội XI, Đảng ta tiếp tục đưa ra những quan điểm chỉ đạo đối với vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Đại hội khẳng định những thành tựu trong phát triển kinh tế – xã hội nói chung, những kết quả đạt được của nông nghiệp, nông dân, nông thôn nói riêng và nhấn mạnh: “Sự phát triển ổn định trong ngành nông nghiệp, nhất là sản xuất lương thực đã bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Kinh tế nông thôn và đời sống nông dân được cải thiện hơn trước. Việc tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, đầu tư, phát triển giống mới có năng suất, chất lượng cao, phát triển các cụm công nghiệp, làng nghề, tiểu thủ công nghiệp… đã có tác động tích cực đến việc sản xuất, tạo việc làm và xóa đói, giảm nghèo”(3). Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đặt chỉ tiêu trong 5 năm (2011 – 2015): “Phấn đấu giá trị gia tăng nông nghiệp bình quân 5 năm đạt 2,6-3%/năm. Tỉ trọng lao động nông nghiệp năm 2015 chiếm 40-41% lao động xã hội. Thu nhập của người dân nông thôn tăng 1,8-2 lần so với năm 2010”(4).

Quan điểm chỉ đạo thực hiện mục tiêu phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong giai đoạn này cũng được Đảng xác định rõ: Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững trên cơ sở phát huy những lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới gắn với giải quyết tốt các vấn đề nông dân, nông thôn. Xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp nông dân, chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng nêu rõ: “Nâng cao trình độ giác ngộ của giai cấp nông dân, tạo điều kiện để nông dân tham gia đóng góp và hưởng lợi nhiều hơn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hỗ trợ, khuyến khích nông dân học nghề, chuyển dịch cơ cấu lao động, tiếp nhận và áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi để nông dân chuyển sang làm công nghiệp và dịch vụ. Nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư nông thôn; thực hiện có hiệu quả bền vững công cuộc xóa đói, giảm nghèo, làm giàu hợp pháp”(5). Nghị quyết còn xác định: “Xây dựng nông thôn mới theo hướng văn minh, giàu đẹp, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân”(6)…

Nghị quyết Đại hội XI của Đảng là kế thừa và phát triển tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề tam nông, từng bước nâng cao mức sống nông dân, thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn./.

————

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG-ST, H.2002, tập 6, tr.178. (2) Sách đã dẫn, tập 12, tr.504. (3), (4), (5), (6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXBCTQG-ST, H.2011, tr. 151-152, 198, 241, 39.

Nguyễn Thị Thọ, Trường Cao đẳng Sư phạm Huế
Theo Tạp chí Xây dựng ĐảngTâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 21-5: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 21-5-1928, từ Thủ đô nước Đức, Nguyễn Ái Quốc gửi thư về Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, đóng góp ý kiến cho hoạt động của Ban Thuộc địa Đảng Cộng sản Pháp, nhờ chăm sóc các đồng chí Đông Dương đang học ở Nga và cho biết đã sẵn sàng lên đường tới nơi cần đến.

Cũng trong thời gian này (tháng 5-1928), tập san “Inprekorr” bản tiếng Pháp của Quốc tế Cộng sản đăng bài “Phong trào công nhân và nông dân mới đây ở Ấn Độ” khảo sát những biến đổi to lớn đang diễn ra tại quốc gia rộng lớn này và bài “Chủ nghĩa đế quốc, kẻ tiêu diệt nòi giống bản xứ” để đi đến kết luận: “Lịch sử của nhiều chế độ thực dân đã cho thấy rằng nhiều dân tộc bản xứ bị tiêu diệt hoàn toàn khi tiếp xúc với nền văn minh của người da trắng… và muốn cứu vãn những nòi giống này, ta phải lật đổ chủ nghĩa đế quốc”.

Ngày 21-5-1939, Nguyễn Ái Quốc đã có mặt tại Quế Lâm (Trung Quốc) và tìm cách liên hệ với phong trào trong nước bằng cách gửi loạt bài “Thư từ Trung Quốc” về đăng trên tờ “Notre Voix” (Tiếng nói của chúng ta) của những người cộng sản hoạt động công khai tại Hà Nội. Bài “Những khó khăn của quân đội Nhật” phản ánh những vấn đề thời sự đang diễn ra trong đạo quân Nhật tại Trung Quốc và phân tích nguy cơ của chủ nghĩa phát xít đang ở rất gần Đông Dương.

Ngày 21-5-1964, Tạp chí “Minority of One” của một nhóm nhân sĩ trí thức tiến bộ xuất bản tại Mỹ đăng bài phỏng vấn nhân ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong bài trả lời, Bác bày tỏ: “Từ nước Việt Nam cách xa Hoa Kỳ hàng vạn cây số, tôi gửi đến các bạn Mỹ lời chào hữu nghị và lời kêu gọi tha thiết này. Tôi mong các bạn sẽ hiểu rõ hơn sự thật cay đắng ngày nay ở miền Nam Việt Nam, một nửa Tổ quốc chúng tôi. Ở đây đang diễn ra một cuộc chiến tranh vô cùng tàn khốc, một cuộc chiến tranh lớn nhất, dai dẳng nhất, đẫm máu nhất hiện nay trên trái đất này…

Nhân dân Việt Nam hiểu rõ rằng nhân dân Mỹ muốn sống hòa bình và hữu nghị với các dân tộc khác. Tôi đã đến nước Mỹ, tôi hiểu nhân dân Mỹ rất trọng chính nghĩa và có nhiều tài năng… Chính những kẻ đang phá hoại nền độc lập tự do của dân tộc chúng tôi cũng là những kẻ phản bội bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ trong đó đã nêu cao chân lý “tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng” và nêu cao những quyền bất khả xâm phạm của con người: “quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”…

Chẳng những chúng tôi đau xót vì đồng bào miền Nam chúng tôi phải gian khổ hy sinh, mà chúng tôi cũng thương xót cho những bà mẹ và các người vợ Mỹ đã mất con, mất chồng trong cuộc chiến tranh phi nghĩa ở miền Nam Việt Nam do bọn quân phiệt Mỹ tiến hành… Tôi mong lời kêu gọi khẩn thiết này sẽ đến tai nhân dân Mỹ”.

Tháng 5-1967, từ Quảng Châu, sau một tháng sang Trung Quốc chữa bệnh, Bác đã viết bài thơ gửi về Bộ Chính trị ở trong nước: “Thời giờ đã chóng tựa đưa thoi/Thấm thoát xa nhà một tháng rồi/Nghìn dặm vui nghe tin thắng lợi/Một mình nằm tính việc xa xôi”.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 22-5: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 22-5-1893, ông ngoại Bác Hồ qua đời (ngày 7-4 năm Quý Tỵ). Tháng 5-1901, thân phụ của Bác là Nguyễn Sinh Sắc đỗ phó bảng. Sinh năm Nhâm Tuất (1863), Nguyễn Sinh Sắc (còn có tên là Nguyễn Sinh Huy) đỗ cử nhân năm Giáp Ngọ (1894).

Kỳ thi Hội năm Tân Sửu, Thành Thái thứ 13 (1901) có 13 người trúng “phó bảng” (trong đó có Phan Châu Trinh). Cuối tháng 5-1906, Bác cùng anh trai là Nguyễn Tất Đạt theo cha vào Huế để nhận chức thừa biện Bộ Lễ.

Ngày 22-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là thành lập một “Ủy ban nghiên cứu đặc biệt các vấn đề sẽ đàm phán ở Paris” để chuẩn bị cho chuyến sang thăm chính thức nước Pháp của người đứng đầu nhà nước Việt Nam độc lập. Tham gia ủy ban này, ngoài Bác còn có các vị: Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Tường Tam, Phan Anh, Võ Nguyên Giáp và Vũ Hồng Khanh.

Cũng trong ngày 22-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký nhiều sắc lệnh quan trọng, trong đó có các sắc lệnh thành lập tại Bắc bộ một “Ủy ban hộ đê Trung ương”, quy định chức năng, phương thức hoạt động và các chính sách để bảo vệ đê điều, chống lũ lụt; Sắc lệnh về quân đội của nước Việt Nam là một quân đội quốc gia được chỉnh đốn theo một quy tắc được ban hành gồm 2 tiết, 6 chương với 62 điều.

Ngày 22-5-1968, Bác tham dự cuộc họp của Bộ Chính trị bàn về công tác đối ngoại. Về các động thái chính trị đang diễn ra ở Đông Âu, Bác phát biểu: “Tình hình xảy ra ở Tiệp Khắc cũng có thể bùng ra ở một số nước khác. Sinh hoạt xa xỉ, những sự bất mãn, trình độ giác ngộ không nâng cao thì sinh ra chuyện. Đó cũng là bài học, không nên xem nhẹ việc giáo dục đạo đức”.

Tháng 5-1969, mặc dù sức khỏe đã yếu nhưng Bác vẫn quan tâm gửi thư cho lớp học nghiên cứu về tình hình nhiệm vụ của cán bộ trung, cao cấp toàn quân được triệu tập tại Hà Nội. Bác căn dặn: “Vấn đề số một là phải không ngừng nâng cao quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Quyết tâm phải biến thành hành động dũng cảm, chiến đấu kiên quyết, không sợ hy sinh gian khổ…”

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Những câu chuyện cảm động bên Lăng Bác Hồ

Ông Hồ Ngọc Khiết tại điểm xuất phát ở Dinh Độc lập ngày 27/2/2011

Cùng hành trình với các phóng viên của Đài Truyền hình Việt Nam để ghi lại những phóng sự về Lăng Bác nhân dịp kỷ niệm 121 năm ngày sinh của Người, chúng tôi thật bất ngờ khi đi bên cạnh mình là một ông lão ngoài 70 tuổi, râu dài, tóc bạc, da ngăm đen, gầy gò trong bộ quần áo bộ đội đã bạc màu nhưng bước chân còn rất nhanh nhẹn.

Đó là ông Hồ Ngọc Khiết, sinh năm 1939, thường trú tại thôn Cát Lợi, xã Phước Cát 1, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng. Ông đã hai lần xuyên Việt, một lần bằng xe đạp và lần này là đi bộ từ Dinh Thống Nhất ra viếng Lăng Bác. Sau 2 tháng 18 ngày đi bộ liên tục (trong đó có 5 này ông phải nghỉ vì trời mưa), vượt qua gần 2.000 km đường, ông Hồ Ngọc Khiết đã có mặt tại Hà Nội và vào Lăng viếng Bác đúng vào kỷ niệm 121 năm ngày sinh của Người, để hoàn thành chuyến đi bộ xuyên Việt của mình.

Để chuẩn bị cho chuyến đi, một tháng liền, ông Khiết đi bộ 12 km mỗi ngày để luyện tập sức bền. Ông dành dụm tiền từ việc bán cây cảnh để làm chi phí đi đường. Đầu tháng 4-2010, ông đã quyết định xuyên Việt bằng xe đạp ra Hà Nội viếng Bác và năm nay nhân kỷ niệm 36 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, 121 năm ngày sinh của Bác, ông muốn làm một điều gì đó thật ý nghĩa nên quyết định một lần nữa xuyên Việt bằng chính đôi chân của mình. Điểm xuất phát được ông chọn là Dinh Thống Nhất và điểm đến là Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Và điểm đến là Lăng Bác Hồ vào sáng ngày 19/5/2011

Ông Khiết cho biết: Mục đích chuyến đi này của ông là tái hiện hình ảnh anh Bộ đội Cụ Hồ năm xưa “Sẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai”, để ôn lại những chiến công hiển hách, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và cũng là để góp phần giáo dục thế hệ trẻ, tiếp lửa truyền thống cha ông.Đúng 4h ngày 27/2, tại Dinh Độc Lập, ông Khiết bắt đầu cuộc hành trình. Hành trang gọn nhẹ với một chiếc ba lô trên vai đã bạc mầu với chiếc mũ tai mèo đội trên đầu và một ít đồ dùng sinh hoạt cá nhân, trong đó chỉ có 2 bộ quần áo lót, 2 bộ quần áo bộ đội mặc thay đổi, một chiếc võng dù, một chiếc chăn, một chiếc màn đơn, một ít thuốc, một cái máy đo huyết áp để tự kiểm tra sức khỏe, một chiếc máy ảnh, một cuốn nhật ký và một chiếc điện thoại di động để liên lạc với bạn bè và gia đình.

Khi biết được câu chuyện cảm động ấy, các phóng viên và đồng bào về Lăng viếng Bác đã vây quanh ông để hỏi thăm sức khỏe và nghe những kỷ niệm trên đường hành trình từ Nam ra Bắc của ông. Tất cả ai cũng bày tỏ sự khâm phục về ý chí quyết tâm, nghị lực của người đàn ông này.

Với gần 2.000 km đường đi bộ là cả một thử thách mà không phải ai cũng vượt qua được nhưng với tinh thần và nghị lực phi thường, bằng ý chí và niềm tin mãnh liệt, người lính Cụ Hồ năm xưa đã kiên trì đi bộ dọc chiều dài của đất nước để về bên Bác đúng dịp kỷ niệm 121 năm ngày sinh của Người./.

Đức Hùng

bqllang.gov.vn

Bức tranh thêu và tình bạn thủy chung

Nguyễn Ái Quốc lúc ở Hồng Kông với tên gọi Tống Văn Sơ và luật sư Frank Loseby năm 1931 ở Hồng Kông

Hơn 40 năm đã qua nhưng bức tranh thêu “Chùa Một Cột” Bác Hồ tặng ông bà Frank Loseby tháng 12/1959 ở Hồng Kông nay được lưu giữ ở Bảo tàng Hồ Chí Minh vẫn được giữ nguyên vẻ đẹp ban đầu. Đó là một minh chứng cho tình bạn cao đẹp và thủy chung giữa Bác Hồ và luật sư F.Loseby, ân nhân đã giúp Bác tìm lại được tự do sau vụ án “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông” kéo dài từ tháng 6/1931 đến đầu năm 1933.

Theo ông Paul Tagg (mẹ ông gọi luật sư F.Loseby bằng chú ruột) thì bức tranh đã được trang trí ở nhiều ngôi nhà, từ Hồng Kông đến London và được nhiều người chiêm ngưỡng vẻ đẹp cổ kính trước khi yên vị ở Bảo tàng Hồ Chí Minh từ năm 2005.

Tháng 6/2001, tôi có dịp gặp ông Paul Tagg lần đầu tiên trong chuyến đi cùng bà Lady Borton sang London và Paris thu thập thêm tư liệu lưu trữ ở Bộ Ngoại giao Anh và Pháp về vụ án của “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông” mà bà Lady đã cất công sưu tầm từ mấy năm trước ở các cơ quan lưu trữ của Anh và Hồng Kông. Chúng tôi đã trò chuyện với ông Paul trong một hiệu ăn Ấn Độ ở trung tâm London.

Ông Paul tâm sự: “Tôi được biết bức tranh này khi tôi chuyển đến làm việc ở Hồng Kông năm 1987 và có dịp thân thiết với cô Patricia là luật sư ở đó. Cô là con gái duy nhất của ông bà Loseby sống độc thân, không có con. Họ Loseby có truyền thống làm luật sư đã 4 đời. Chính vợ tôi là người đầu tiên trong gia đình phát hiện ra vẻ đẹp duyên dáng và tinh tế từ đường kim mũi chỉ đến các gam màu từ vàng đến nâu rất trang nhã của bức tranh đặc biệt này. Nay tôi rất vinh hạnh được cô tôi ủy thác việc trao lại bức tranh cho Bảo tàng Hồ Chí Minh lưu giữ vì cô đã suy nghĩ là không đâu có thể làm tốt hơn nơi này sau khi cô mất. Nhưng đây cũng là một trách nhiệm rất lớn lao. Tôi đã phải tìm đến hãng bảo hiểm cho việc chuyên chở thật an toàn và nguyên vẹn đến đích. Tôi cũng đã sang Hà Nội làm việc sơ bộ với Bảo tàng Hồ Chí Minh để xem các thể thức bảo quản và sử dụng sao cho nhiều người được chiêm ngưỡng và biết rõ tình bạn cao quý giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và luật sư F.Loseby khi đến thăm bảo tàng mang tên Người”.

Trong buổi gặp gỡ này, ông Paul có nhã ý cho tôi xem tập kỷ vật về chuyến đi của luật sư Patricia cùng cha mẹ sang thăm Hà Nội Tết Nguyên đán 1960, bao gồm những bức ảnh cùng tập nhật ký của cô và các bài báo ở Hà Nội nói về chuyến thăm đó. Những kỷ vật này đã được cô Patricia gìn giữ cẩn thận và trao lại cho ông trước khi cô mất vào đầu năm 2001 ở London.

Trong khi ông Paul trao đổi với bà Lady, người bạn thân thiết của Bảo tàng Hồ Chí Minh để đưa bức tranh thêu “Chùa Một Cột” từ London về Hà Nội thật an toàn thì ngoài trời mưa rất to. Tôi mừng là “vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách” khiến tôi có thể yên tâm ngồi đọc những câu chuyện cảm động về cuộc tái ngộ kỳ diệu sau 27 năm không tin tức của những người bạn thủy chung. Và nếu theo tâm linh, nay họ đều đã lại trùng phùng ở thế giới của những người hiền.

Năm 1960, báo chí Việt Nam tập trung nhiều vào nhân vật trung tâm là luật sư Loseby còn những kỷ vật lại cho tôi biết rõ cảm tưởng của cô Patricia và bà Rosa về chuyến đi này. Tập nhật ký ghi lại rất sinh động những ngày giá lạnh ở Hà Nội tại một biệt thự ngay trước mặt hồ Thiền Quang có những căn phòng cao rộng thênh thang mà chiếc lò sưởi điện không đủ ấm khiến mọi người khi ngủ vẫn phải mặc áo len và đi tất. Tuy nhiên không khí đón tiếp gia đình Loseby thật nồng ấm, chân tình.

Những ngày giáp tết, nhân dân Hà Nội hồ hởi đi sắm tết, đặc biệt hoa tươi nhiều vô kể và ai nấy đều vui mừng khi mang một cành đào thắm về nhà. Cô Patricia đặc biệt xúc động trước sự quan tâm chu đáo hết sức tế nhị của Bác Hồ. Lúc Bác đến nhà cô ở Hồng Kông, cô còn quá nhỏ không có ký ức gì. Giờ gặp ở sân bay cô hết sức ngạc nhiên về tiếng Anh rất chuẩn của Người. Hết ngạc nhiên này lại đến ngạc nhiên khác qua mỗi ngày.

Sáng mồng Một Tết, Bác Hồ đã gửi đến tặng gia đình cô một lẵng hoa đẹp rực rỡ và ấn tượng đầm ấm ngày tết của gia đình cô chính là cảnh sum vầy thân mật giữa Bác Hồ với các cháu thiếu nhi xinh tươi như các đóa hoa đến Phủ Chủ tịch múa hát và liên hoan bánh kẹo với Bác Hồ và gia đình cô. Bác Hồ đã cùng gia đình cô đi thăm Nhà máy Cơ khí trung quy mô ngày đầu năm, cô lại được thấy giữa người lãnh đạo đất nước và các công nhân có sự chan hòa đồng cảm như người thân trong gia đình. Và đến ngày chia tay ở sân bay thật bịn rịn.

Tình thân ái không chỉ được nối lại giữa Bác Hồ và gia đình cô, bên cạnh đó nhân dân Việt Nam và những người gần gũi đã phục vụ tận tụy cho chuyến đi của gia đình được tốt đẹp đã tạo ra sự quyến luyến không dứt. Hoa tặng quá nhiều, gia đình cô chỉ biết cảm ơn và xin chuyển đến quân y viện tặng các thương bệnh binh. Trong chuyến đi này cô cảm nhận thấy dường như Chủ tịch Hồ Chí Minh thật hạnh phúc khi Người ở bên nhân dân lao động, những chiến sỹ và nhất là các cháu thiếu nhi.

Chùa Một Cột được dùng làm hình ảnh trong bức tranh thêu Bác Hồ tặng luật sư Loseby

Về phía bà Rosa, phu nhân của luật sư Loseby, những kỷ niệm của bà đối với Bác Hồ được phóng viên Hãng Reuters ghi lại trong buổi phỏng vấn bà khi Bác Hồ mất năm 1969. Lúc đó luật sư Loseby đã mất từ năm 1967. Bà Rosa nhớ rất chi tiết các sự kiện xảy ra từ năm 1931 đến đầu năm 1933 khi Bác Hồ bị giam ở nhà tù Hồng Kông, tính mạng bị đe dọa như ngàn cân treo trên sợi tóc, còn chồng bà phải đấu tranh rất căng thẳng về pháp lý với quyết tâm đem lại công lý cho thân chủ của mình bất chấp mọi sức ép ghê gớm của các lực lượng thù địch bên ngoài.

Bà nhớ như in buổi tiếp xúc đầu tiên với người tù mà chồng bà kể lại là theo những cáo buộc của nhà cầm quyền Pháp và Lãnh sự Pháp ở Hồng Kông trình bày với nhà đương cục Hồng Kông, thì “tên phiến loạn” vô cùng nguy hiểm đến an ninh thuộc địa của Pháp và cả của Anh quốc này cần được dẫn độ về Việt Nam để thực hiện bản án tử hình đã chờ sẵn từ vài năm trước.

Cùng chung nhận định với chồng và bạn thân của bà là vợ ông Phó thống đốc Hồng Kông – một nữ văn sỹ Anh – người đã theo bà đến nhà tù gặp người tù đặc biệt yêu hoa này, bà chỉ thấy đó là một con người lịch lãm, yêu văn học và thơ ca, yêu thiên nhiên và nhất là yêu đất nước mình. Họ đã đồng lòng phải làm mọi cách để giúp đỡ người tù này vượt qua những khổ ải của thân phận tù mà những người thống trị Anh và Pháp câu kết với nhau chỉ muốn trừ khử bằng mọi cách. Và lần cuối cùng khi Nguyễn Ái Quốc bị cảnh sát ở Singapore (thuộc địa của Anh lúc đó) bắt phải quay lại Hồng Kông trong khi phán quyết của Tòa án tối cao ở Anh đã buộc Bác phải khẩn trương rời Hồng Kông. Một lần nữa vợ chồng bà lại giúp bạn tìm con đường về với tự do.

Trong hoàn cảnh gian nan trăm bề khi đó, vợ chồng luật sư Loseby, lúc này không phải với tư cách luật sư mà là những người bạn, đã giúp nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc cải trang thành một thương gia Trung Hoa giàu sang đi vé tàu hạng nhất cùng một tùy tùng (là thư ký văn phòng của Luật sư) đi Thượng Hải. Họ đã rời Hồng Kông ra neo đậu tàu bằng chính xuồng lớn của Thống đốc Hồng Kông do bà vợ Phó thống đốc giúp đỡ vào bữa giáp tết cổ truyền năm 1933.

Bà Rosa chỉ bức tranh thêu Chùa Một Cột ở Hà Nội được treo ở vị trí trang trọng trong ngôi nhà ông bà ở Hồng Kông cho ông phóng viên xem và kể tiếp: “Thật xiết bao vui mừng và cảm động, sau 27 năm xa cách không hề có tin tức của nhau, một ngày gần lễ Giáng sinh năm 1959 vợ chồng tôi nhận được món quà quý giá này của người tù năm xưa nay là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi tặng do ông lãnh sự Việt Nam ở Hồng Kông đem lại sau khi ông báo cáo với Chủ tịch Hồ Chí Minh là đã tìm được địa chỉ của luật sư Loseby. Cùng với quà tặng, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn gửi thư mời gia đình ông bà sang thăm Hà Nội nhân dịp Tết Nguyên đán 1960. Sau cuộc tái ngộ với bao ân tình giữa hai người bạn tóc đều bạc, chồng tôi đã viết thư cảm ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh và nói rằng nếu như trong đời ông làm được việc có ích nhất, đó chính là giúp được người bạn mình tìm lại được tự do”.

Ông Paul kể thêm với chúng tôi là luật sư F. Loseby là một người chồng và người cha tốt bụng, sống giản dị khiêm nhường, sẵn sàng tư vấn về pháp luật cho bất kỳ ai dù giàu hay nghèo tìm đến ông, trung thành với nguyên tắc là mọi người phải được đối xử bình đẳng theo pháp luật, công lý phải được bảo vệ. Ông còn tâm sự với tôi là sau khi đi thăm Việt Nam lần thứ nhất, được thăm nhà sàn và khung cảnh sống của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông vô cùng xúc động và ngưỡng mộ nhân cách thanh cao của Người. Ông đã từng sống nhiều năm ở Nam Phi trước khi làm việc ở Hồng Kông rồi chuyển về London, từng đi nhiều nước, ông càng khâm phục Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người luôn dấn thân trong gian khổ, cả đời mình đấu tranh cho độc lập tự do và thống nhất đất nước, sống bình dị, hết lòng vì nước vì dân, không có tài sản cá nhân, không một tấm huân chương.

Ngày 22/5/2005, trong buổi lễ trang trọng tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, ông Paul Tagg đại diện cho gia đình luật sư Loseby đã trao tặng lại cho Bảo tàng kỷ vật quý báu của gia đình với niềm tin tưởng tình bạn thủy chung giữa luật sư Loseby và Chủ tịch Hồ Chí Minh tượng trưng cho những giá trị nhân văn cao đẹp, mặc dù có khác biệt về chính trị và văn hóa, vẫn sống mãi với thời gian.

Đạm Thư
Theo antg.cand.com.vn
Phương Thúy (st)

bqllang.gov.vn

Kỳ 2: Nhận thức về con đường giải phóng dân tộc của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc

Tìm ra con đường chân lý QĐND Online – Hành trang ban đầu của Nguyễn Tất Thành khi ra nước ngoài là tri thức về văn hóa phương Đông và phương Tây, lòng yêu nước nhiệt thành, tiếp thu có chọn lọc con đường cứu nước của các nhà yêu nước lớp trước và một dự định rõ rệt, lớn lao, đó là “xem nước Pháp và các nước khác, sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta”, đó là dự định đi tìm con đường cứu nước, cứu dân. Ngày 5 tháng 6 năm 1911, trên con tàu “Đô đốc Latouche Tresville”, từ bến cảng Nhà Rồng của Thành phố Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành đã lên đường sang Pháp. Người làm bất cứ việc gì để sống và hoạt động (phụ bếp dưới tàu, làm bánh trong các khách sạn, cào tuyết, đốt lò, chụp ảnh…).

Gần mười năm, vừa lao động kiếm sống, vừa tiến hành khảo sát thực tiễn nhiều nước tư bản và các nước thuộc địa, khảo sát các cuộc cách mạng ở các nước Pháp, Anh, Mỹ… Nguyễn Tất Thành đã có nhận thức quan trọng là: Cách mạng tư sản là những cuộc cách mạng vĩ đại, nhưng là những cuộc cách mạng chưa đến nơi. Nó đã phá tan gông xiềng phong kiến cùng những luật lệ hà khắc và những ràng buộc vô lý để giải phóng sức lao động của con người. Cách mạng tư sản xây dựng lên một chế độ mới tiến bộ hơn xã hội phong kiến. Nhưng cách mạng xong rồi dân chúng vẫn khổ, vẫn bị áp bức, bóc lột và vẫn mưu toan làm cách mạng. Từ đó, Người đi đến kết luận, chúng ta đổ xương máu để làm cách mạng thì không đi theo con đường cách mạng này. Nguyễn Tất Thành đã tìm ra những mặt trái của xã hội phương Tây, nhận ra “ở đâu cũng có người nghèo khổ như xứ sở mình” do ách áp bức, bóc lột dã man, vô nhân đạo của bọn thống trị. Điều đó đã giúp Người có một nhận thức quan trọng: Nhân dân lao động trên toàn thế giới cần đoàn kết lại để đấu tranh chống kẻ thù chung là giai cấp thống trị; cùng nhau thực hiện nguyện vọng chung là độc lập, tự do.

Sống hòa mình cùng nhân dân lao động và phong trào đấu tranh của công nhân Pháp, Nguyễn Ái Quốc say sưa hoạt động cách mạng, viết báo, hội họp, tuyên truyền, cổ động. Năm 1917, Nguyễn Tất Thành tham gia hoạt động trong phong trào của những người Việt Nam yêu nước tại Pháp. Thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 có ảnh hưởng rất lớn đến tình cảm và nhận thức của Người. Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng Xã hội Pháp. Ngày 18-6-1919, với tên Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi bản yêu sách tới Hội nghị Véc-xây yêu cầu về quyền tự do, dân chủ, bình đẳng dân tộc cho nhân dân An Nam. Tám yêu cầu không được chấp nhận, nhưng đã vạch trần bản chất giả dối của các cường quốc thống trị, đồng thời cũng đem lại cho Nguyễn Ái Quốc một nhận thức tỉnh táo là các dân tộc muốn được giải phóng chỉ có thể dựa vào sức lực của bản thân mình.

Ra đi tìm đường cứu nước với tuổi đời còn rất trẻ và từ một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến, lúc đó Nguyễn Ái Quốc chưa có một ý niệm rõ ràng về giai cấp, đấu tranh giai cấp, đảng chính trị, chủ nghĩa Mác – Lê-nin… Từ những hoạt động thực tiễn trên và đọc “Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lê-nin đăng trên báo LHumanité tháng 7-1920, Người đã đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Trong bối cảnh bấy giờ có nhiều trí thức Việt Nam sống tại Pháp, nhưng Người đã thể hiện tính vượt trội của tư tưởng khi nhận ra được chân lý lớn nhất của thời đại. Luận cương đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc những băn khoăn về con đường giành độc lập, tự do cho dân tộc, trả lời câu hỏi ai là người lãnh đạo, lực lượng tham gia và mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng ở các nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc… Luận cương đã ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành thế giới quan cộng sản của Nguyễn Ái Quốc.

Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam soi sáng đường cách mạng.

Quá trình tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lê-nin của Nguyễn Ái Quốc ngày càng có hệ thống và hoàn thiện khi Người tham gia Đảng Cộng sản Pháp, học tập ở Đại học phương Đông, sống trong không khí sục sôi ở trung tâm phong trào cộng sản ở Nga, hoạt động trong Quốc tế Cộng sản. Nhận thức của Người về sức mạnh của nhân dân lao động thế giới, về mối quan hệ giữa các dân tộc bị áp bức, giữa cách mạng ở các nước thuộc địa và các nước chính quốc trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân, về chính quyền cách mạng và sử dụng bạo lực cách mạng… ngày càng sâu sắc và có những luận điểm bổ sung, phát triển, sáng tạo. Sự kiện Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp tháng 12-1920 là một mốc lịch sử quan trọng trong hành trình đi tìm đường cứu nước của Người, đánh dấu bước chuyển biến quyết định, nhảy vọt, thay đổi về chất trong nhận thức tư tưởng và lập trường chính trị của Người – từ một nhà yêu nước chân chính trở thành một chiến sỹ cộng sản. Đồng thời, sự kiện đó cũng đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam, mở đầu quá trình kết hợp đấu tranh giai cấp với đấu tranh dân tộc, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tinh thần yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Từ đây, cách mạng Việt Nam bắt đầu đi vào quỹ đạo của cách mạng vô sản. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội bắt đầu hình thành.

Đầu năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc). Tại đây, Người bắt đầu xây dựng những nhân tố bảo đảm cho cách mạng Việt Nam: Truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Việt Nam, khơi dậy tinh thần đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, xây dựng tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, phát triển lực lượng cách mạng… Việc Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt do Người dự thảo được thông qua tại Hội nghị hợp nhất, chứng tỏ đến 1930, tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về con đường cách mạng Việt Nam đã được hình thành cơ bản.

Nguyễn Ái Quốc và một số đồng chí dự Quốc tế Cộng sản V

Sau hơn 40 năm xa Tổ quốc, ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc trở về nước để trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng. Một trang mới mở ra trong cuộc đời cách mạng của Người và cũng là bước ngoặt mới cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam.

Lịch sử đã khẳng định và chứng minh rằng: Việc tìm ra con đường cứu nước, con đường phát triển dân tộc của Nguyễn Ái Quốc có ý nghĩa lịch sử to lớn. Đó là, đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, với học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học, Nguyễn Ái Quốc đã đặt nền móng cho lý luận cách mạng Việt Nam trong thời đại mới; chấm dứt khủng hoảng đường lối cứu nước triền miên từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy đường lối phát triển đúng đắn cho dân tộc, phù hợp với trào lưu tiến hóa chung của nhân loại và xu thế của thời đại.

Quá trình mà người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành quyết ra đi tìm con đường chân lý đến khi Người trở thành Lãnh tụ Hồ Chí Minh là quá trình đã đem ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lê-nin soi đường cho phong trào yêu nước, chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, làm cho chủ nghĩa yêu nước vươn lên tầm thời đại, trở thành chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh, mà sau này biểu tượng sáng chói trong hai cuộc kháng chiến lừng lẫy của dân tộc chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, trong công cuộc tái thiết và phát triển đất nước theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Với việc tìm ra con đường cứu nước, phát triển của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đóng góp to lớn, thiết thực chuẩn bị cho việc mở ra một giai đoạn phát triển mới của phong trào cách mạng vô sản nói chung, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới và châu Á nói riêng.

Kỳ 3: Tầm nhìn và những quyết định sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước bước ngoạt của cách mạng

Theo Quân đội nhân dân
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Kỳ 1: Hành trình mở trang sử mới

Bến Nhà Rồng hiện nay trong lung linh ánh điện-Ảnh Internet

QĐND Online – Ngày 5-6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành bước chân xuống con tàu A-mi-ran La-tút-sơ Trê-vin (Amiral Latouche Tréville) với mục đích tìm ra con đường cứu nước. Hành trình cách mạng của người thanh niên ấy (sau này là lãnh tụ Hồ Chí Minh) đã mở ra một trang mới cho lịch sử dân tộc Việt Nam. Nhân kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, báo QĐND Online gửi đến bạn đọc tư liệu tổng hợp về một phần hành trình của Người…

Bối cảnh lịch sử Việt Nam

Những năm cuối thế kỷ IX đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp bắt tay vào khai thác thuộc địa lần thứ nhất. Xã hội Việt Nam bắt đầu có những biến chuyển và phân hóa. Sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản Pháp đã làm nảy sinh trong xã hội Việt Nam hai giai cấp mới: Giai cấp tư sản và giai cấp vô sản.

Trước sự áp bức, đè nén của thực dân Pháp, truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam đã phát huy mạnh mẽ. Các phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta diễn ra đa dạng, sôi nổi: Phong trào có khuynh hướng dân chủ tư sản Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân, Việt Nam Quang Phục Hội; phong trào chống sưu thuế của nông dân ở Trung Kỳ; phong trào đánh Pháp như: vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội, cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Yên Thế… Thực dân Pháp đã tìm mọi cách để dập tắt các phong trào yêu nước đó và sau khi dập tắt phong trào , thực dân Pháp bắt tay vào cuộc khai thác thực địa để làm giàu cho chính quốc.

Sở dĩ các phong trào yêu nước chống Pháp trên đều thất bại có nguyên nhân sâu xa là do thiếu đường lối chính trị đúng đắn, khoa học, thiếu sự lãnh đạo của một giai cấp tiên tiến. Giai cấp phong kiến, có vai trò tiến bộ nhất định trong lịch sử đã trở thành giai cấp phản động, bán nước, tay sai cho đế quốc. Giai cấp tư sản mới ra đời, còn non yếu với lực lượng kinh tế phụ thuộc và khuynh hướng chính trị cải lương, không có khả năng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống đế quốc và phong kiến để giành độc lập tự do.

Trong bối cảnh đó, xuất hiện một con người – người mà sau này trở thành lãnh tụ của cách mạng Việt Nam. Đó là Nguyễn Sinh Cung – Nguyễn Tất Thành.

Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống hiếu học, ở một địa phương có truyền thống yêu nước nồng nàn. Từ lúc tuổi còn nhỏ, Người sớm được tiếp cận với các tư tưởng lớn của phương Đông, hấp thụ vốn văn hóa truyền thống của dân tộc cũng như vốn kiến thức Hán học và bước đầu tiếp xúc với văn hóa phương Tây. Chứng kiến cảnh khổ cực của người dân mất nước, tinh thần đấu tranh bất khuất của cha anh, Người càng tỏ rõ tinh thần yêu nước, thương dân sâu sắc và hun đúc những hoài bão lớn lao. Nguyễn Tất Thành rất khâm phục tinh thần yêu nước của các văn thân, chí sĩ xả thân vì nước, nhưng Người không tán thành đường lối cứu nước của các bậc tiền bối. Tư tưởng yêu nước của Nguyễn Tất Thành tuy lúc đó chưa gặp chủ nghĩa xã hội, nhưng đã thể hiện tầm vóc vượt trước quan điểm cứu nước đương thời. Người cho rằng, chủ trương của cụ Phan Chu Trinh yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương chẳng khác gì “đến xin giặc rủ lòng thương”; chủ trương của cụ Phan Bội Châu nhờ Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp chẳng khác nào “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”, chủ trương của cụ Hoàng Hoa Thám tuy thực tế hơn, nhưng không có hướng thoát rõ ràng, “còn mang nặng cốt cách phong kiến”.

Thất bại của các cụ Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… nói lên một sự thật lịch sử là: Không thể cứu nước trên lập trường phong kiến hay lập trường của giai cấp tư sản, tiểu tư sản. Các đường lối và phương pháp này đều không đáp ứng được yêu cầu giải phóng dân tộc trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc đã trở thành hệ thống thế giới. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam đang đòi hỏi được đổi mới, đó là một nhu cầu cấp thiết của dân tộc lúc bấy giờ.

Mô hình lớp học ở Trường Dục Thanh (Phan Thiết), nơi Thầy giáo Nguyễn Tất Thành dạy học trước lúc ra đi tìm đường cứu nước. (Ảnh Intrenet)

Vốn có tư chất thông minh, tinh thần ham học hỏi, khả năng tư duy độc lập, tính ham hiểu biết và nhạy bén với cái mới, Người bị lôi cuốn bởi khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái” và thôi thúc bởi ý định tìm hiểu “cái gì ẩn dấu sau” những mỹ từ đẹp đẽ đó ở chính nước sinh ra khẩu hiệu đó. Những tư tưởng tiến bộ của cuộc cách mạng ở Pháp năm 1789, thành tựu văn minh, tiến bộ của nhân loại ở Pháp và các nước châu Âu khác, đã thúc đẩy Người muốn đến tận nơi tìm hiểu. Đó chính là những lý do Nguyễn Tất Thành quyết định chọn nước Pháp, chọn châu Âu làm điểm đến đầu tiên trong cuộc hành trình đi tìm đường cứu nước năm 1911.

Tình hình chính trị thế giới

Vào nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã từ giai đoạn tự do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc và đã xác lập được sự thống trị trên phạm vi thế giới. Phần lớn các nước châu Á, châu Phi, châu Mỹ La-tinh đã trở thành thuộc địa và phụ thuộc của chúng. Chủ nghĩa đế quốc vừa tranh giành xâu xé, vừa vào hùa với nhau để nô dịch các dân tộc nhỏ bé. Cùng với những mâu thuẫn cơ bản trong xã hội tư bản – mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và tư sản, chủ nghĩa đế quốc làm phát sinh mâu thuẫn mới – mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc thực dân. Đời sống nhân dân ở các nước thuộc địa và phụ thuộc vô cùng cực khổ, trong đó có nhân dân Việt Nam dưới xiềng xích của chế độ thực dân Pháp. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc bắt đầu phát triển và có xu hướng lan rộng.

Ở Trung Quốc, lúc ấy đất nước rộng lớn này bị các nước tư bản phương Tây xâu xé và cũng đang tìm lối ra nhưng đến giữa năm 1911, nhìn chung vẫn chưa có lối thoát mà phải đợi đến tháng 10-1911, dưới sự lãnh đạo của Tôn Dật Tiên, Trung Quốc mới tìm thấy hướng đi thông qua cuộc cách mạng Tân Hợi.

Ở Ấn Độ, đất nước bị thực dân Anh đô hộ, những nhà ái quốc Ấn Độ cũng đang tìm hướng đi cho dân tộc mình và Đảng Quốc Đại đã bước lên vũ đài chính trị.

Ở In-đô-nê-xi-a (bị thực dân Hà Lan đô hộ), nhiều tổ chức yêu nước của trí thức tư sản tiến bộ ra đời, thu hút đông đảo nhân dân tham gia.Từ 1905, nhiều tổ chức công nhân được thành lập và bước đầu truyền bá chủ nghĩa Mác.

Đất nước Lào, đầu thế kỷ XX, nhân dân các bộ tộc Lào đã nhiều lần nổi dậy chống thực dân Pháp…

Như vậy, bối cảnh trong khu vực, thế giới có những thay đổi, đòi hỏi mỗi quốc gia, dân tộc phải có những bước chuẩn bị tiền đề cho sự đi lên của mình. Và ngày 5-6-1911, với tên gọi Văn Ba, từ bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn cũ), trên con tàu A-mi-ran La-tút-sơ Trê-vin (Amiral Latouche Tréville), Nguyễn Tất Thành trong vai người phụ bếp đã bắt đầu con đường sứ mệnh lịch sử đối với dân tộc Việt Nam.

Theo Quân đội nhân dân
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Picasso: “Có một họa sĩ Nguyễn Ái Quốc”

Picasso thời trẻ tại Paris và Nguyễn Ái Quốc thời trẻ trên con tàu sang Pháp

Thiên tài hội họa lớn nhất thế kỷ 20 đã nói về những bức tranh do Nguyễn Ái Quốc vẽ trên tờ báo “Người cùng khổ” với một niềm ngưỡng mộ chân thành trước tâm hồn và tư tưởng của Người.

Cuốn sách “Bác Hồ – một tình yêu bao la” do NXB Kim Đồng phát hành tháng 5/2010 chứa đựng vô số câu chuyện chân thực và xúc động từ những họa sỹ, nghệ nhân lớn trong và ngoài nước kể về Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, trong đó có nhiều sự kiện mà không phải ai cũng biết. Đi kèm với đó là hình ảnh về những tác phẩm nghệ thuật mà họ đã sáng tạo nên, điển hình như tượng chân dung bằng đồng của Vũ Cao Đàm, tranh khắc gỗ Hồ Chủ tịch ở Việt Bắc của Nguyên Văn Ty – Phan Kế An, tranh sơn dầu của Tô Ngọc Vân, tranh bút sắt Bác Hồ của Vân Đa, tranh in đá của Lê Huy Tiếp, bột màu và bút kim “Ngục trung nhật kí” của Lê Huy Trấp, Kí họa Nguyễn Ái Quốc của Eric Johanson (Đức).

Tranh của Bác Hồ đăng trên báo Người cùng khổ (Ảnh chụp từ sách)

Đặc biệt, có một câu chuyện kể về cuộc gặp gỡ của Bác Hồ và danh họa Picasso tại Paris vào năm 1946 – một cuộc gặp đáng nhớ sau 35 năm của hai người bạn, hai người đồng chí từng hoạt động tại Đảng Cộng sản Pháp. Câu chuyện của ông Vũ Đình Huỳnh – Thư ký của Bác thời bấy giờ – được ghi lại bởi tác giả Cần Thư Công trong cuốn sách “Bác Hồ – một tình yêu bao la”, tư liệu này đồng thời đã được xuất bản trên báo Ấp Bắc ra ngày 5/3/1992.

Năm Bác Hồ 21 tuổi đặt chân lên đất Pháp thì gặp họa sỹ Picasso lúc đó 30 tuổi đã nổi danh ở Paris. Hai người kết bạn với nhau rồi lại xa nhau. Năm 1946, Bác qua Pháp để dự Hội nghị Fontainebleau, gặp lại Picasso sau nhiều chục năm xa cách. Ông Vũ Đình Huỳnh – Thư ký của Bác khi đó kể lại cuộc tái ngộ của hai người như sau:

Một hôm, Bác gọi tôi đến bảo:

– Chú thay bộ quân phục, mặc thường phục đi với tôi ngay bây giờ.

Lúc lên xe, đi một quãng Bác mới cho hay:

– Hôm nay, chúng ta đến thăm danh họa Picasso.

Tôi ngạc nhiên:

– Bác cũng quen họa sĩ Picasso à?

Bác nói:

– Giả sử không quen biết từ trước thì đến thủ đô Paris này, chúng ta vẫn phải đến chào một con người sáng tạo hội họa khó hiểu mà nghệ thuật của tranh ông lại làm nhiều người mê.

Bút ký của Bác Hồ "Việt - Nam - độc - lập" (1941) (Ảnh chụp từ sách)

Bác đến không báo trước. Lúc người giúp việc của Picasso đưa Bác đến gần cửa, họa sĩ đã nhận ra Bác. Ông vội chạy tới:

– Chào anh Nguyễn!

Hai người ôm chầm lấy nhau. Rồi Picasso lùi lại một bước ngắm Bác:

Anh chóng già quá, nhưng đôi mắt vẫn trẻ và như sáng hơn thời chúng ta gặp nhau ở Trụ sở nhóm Clarté (Ánh sáng)”.

Picasso đưa Bác đi xem phòng tranh của ông. Bác cầm từng bức tranh, im lặng tuyệt đối. Tôi thấy sự xúc động hiện rõ trên gương mặt trầm tư của Người. Lúc trở vào phòng trà, Picasso hỏi Bác.

– Anh cho tôi một lời khuyên.

Bác nói:

– Chúng tôi đến chiêm ngưỡng nghệ thuật của anh. Mọi lời bình về tranh Picasso chỉ là nét viền quanh cái khung của bức tranh. Anh miễn cho tôi – một người không am hiểu nghệ thuật hội họa cho lắm.

Picasso cười thoải mái, giọng vui hẳn lên:

– Tôi còn nhớ bức tranh anh vẽ trên báo Le Paria (Người cùng khổ), anh ký Nguyễn Ái Quốc bằng chữ Tàu. Ngày ấy tôi nói với Henri Basbusse: “Chỉ mấy nét vẽ này ta đã thấy một tư tưởng, một tâm hồn đẹp tàng ẩn bên trong”. Nếu như anh tiếp tục con đường hội họa thì biết đâu đấy, cũng có thể sẽ có một Nguyễn Ái Quốc họa sĩ. Nhưng hôm nay anh Nguyễn là Hồ Chủ tịch, người đi đầu trong cuộc đấu tranh cho độc lập tự do của dân tộc mình và của các dân tộc bị áp bức khác.

Ông mời Bác uống nước, rồi phác mấy nét chân dung Bác. Xong, ông cất vào cặp giấy vẽ. Đến lúc tiễn Bác ra cửa, ông mới trao cho Bác. Sau đó, Bác trao lại cho tôi cất giữ…

Bác Hồ – một tình yêu bao la – NXB Kim Đồng
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 27-5: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi Hà Bắc

Ngày 27-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội đồng Chính phủ và quyết định giao quyền Chủ tịch nước trong thời gian Bác đi thăm nước Pháp cho Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng, người cao niên nhất trong Chính phủ.

Ngày 27-5-1947, Bác viết thư “Gửi nam nữ chiến sĩ, dân quân, tự vệ và du kích toàn quốc”, khẳng định vai trò “Dân quân, tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận địch nhân hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó, thì địch nào cũng phải tan rã. Các chiến sĩ dân quân, tự vệ và du kích ở Nam bộ, ở thủ đô, ở miền duyên hải và ở các nơi đã chứng tỏ sự thực đó một cách rất anh hùng. Từ đây về sau, lực lượng ta càng ngày càng vững, kinh nghiệm ta càng ngày càng nhiều thì ta càng tỏ cho quân địch biết, tỏ cho thế giới biết rằng dân quân, tự vệ và du kích Việt Nam là những người ái quốc sắt đá, là những chiến sĩ anh hùng…”.

Ngày 27-5-1959, Bác dự phiên thảo luận về Dự thảo Luật Hôn nhân và Gia đình tại Quốc hội: “Dự Luật Hôn nhân và Gia đình gọi nôm na là dự luật lấy vợ, lấy chồng, nhằm xây dựng hạnh phúc chung, nhưng trước hết là nhằm giải phóng chị em phụ nữ. Việc nghiên cứu bổ sung cho dự luật được hoàn chỉnh là một nhiệm vụ mà Chính phủ phải làm… Nhưng vấn đề này quan hệ mật thiết đến phụ nữ, cho nên khi giải thích tuyên truyền, chị em phụ nữ phải ra sức hoạt động nhiều để tinh thần luật được thấm nhuần đến tất cả mọi tầng lớp trong xã hội, đến từng người, từng địa phương…”.

Ngày 27-5-1965, Bác gửi thư khen quân dân miền Bắc bắn rơi chiếc máy bay thứ 300, cùng lời nhắc nhở phải cảnh giác cao độ trước những bước leo thang chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ.

Ngày 27-5-1969, Bác làm việc với Phó Chủ tịch Ủy ban Thiếu niên, nhi đồng Trung ương về công tác giáo dục và bảo vệ sức khỏe cho trẻ em. Bác căn dặn: “Phải kết hợp giữa gia đình, nhà trường, xã hội để nuôi dạy và giáo dục các cháu. Tất cả mọi người, mọi đoàn thể, mọi ngành, mọi gia đình phải có trách nhiệm chăm sóc các cháu”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 25-5: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 25-5-1922, trên báo “L’ Humanité” (Nhân Đạo), với tinh thần cộng sản, Nguyễn Ái Quốc viết bài “Mấy ý nghĩ về vấn đề thuộc địa”, đóng góp ý kiến cho Đảng Cộng sản Pháp về thái độ đối với vấn đề thuộc địa.

Ngày 25-5-1947, sau cuộc hội kiến với Paul Mus, phái viên của chính quyền thực dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước”, tố cáo thái độ của giới quân phiệt “quen thói hung tàn, bất nhân, vô lễ” và kêu gọi mọi người dân Việt Nam hãy kiên quyết hy sinh chiến đấu, đánh tan bọn quân phiệt thực dân, giành lấy thống nhất và độc lập cho Tổ quốc.

Cùng ngày, Bác viết “Thư gửi nhân dân Pháp”, nêu rõ: “Bọn quân phiệt thực dân đã bắt buộc chúng tôi phải tiếp tục chiến đấu, chúng tôi sẽ chiến đấu đến cùng, chúng tôi lấy câu châm ngôn hiên ngang của các bạn làm châm ngôn của chúng tôi: “Thà chết không làm nô lệ”. Chúng tôi chiến đấu vì công lý. Chúng tôi sẽ tồn tại. Chúng tôi sẽ chiến thắng”.

Còn trong thư gửi “Anh em văn hóa và trí thức Nam bộ”, Bác nhắn nhủ: “Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà, mà anh em văn hóa và trí thức phải làm cũng như là những chiến sĩ anh dũng trong công cuộc kháng chiến, tranh lại quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc. Nhân dân ta sẵn lòng thân thiện với nhân dân Pháp, nhưng quyết không chịu làm nô lệ cho thực dân phản động. Anh em văn hóa với trí thức là lớp tiên tri tiên giác, càng phải quyết tâm không chịu làm nô lệ”.

Ngày 25-5-1948, Báo Cứu Quốc đăng bài Bác trả lời phỏng vấn của tờ báo Pháp “Frères d ’Armes”. “Hỏi: Thưa Chủ tịch, Chủ tịch ghét gì nhất? Trả lời: Điều ác / Hỏi: Thưa Chủ tịch, Chủ tịch yêu gì nhất? Trả lời: Điều thiện / Hỏi: Chủ tịch cầu mong gì nhất? Trả lời: Nền độc lập của nước tôi và của tất cả các nước trên toàn cầu / Hỏi: Thưa Chủ tịch, Chủ tịch sợ gì nhất? Trả lời: Chẳng sợ gì cả! Một người yêu nước không sợ gì hết và nhất thiết không được sợ gì”.

Ngày 25-5-1954, Báo Nhân Dân đăng bài “Tuyên truyền”, trong đó Bác phê phán quan niệm chủ quan coi thường tuyên truyền của địch và nhấn mạnh: “Trách nhiệm của mỗi cán bộ, của mỗi người yêu nước là tìm mọi cơ hội, dùng mọi hình thức để đập tan tuyên truyền giả dối và thâm độc của địch. Chúng ta phải đánh thắng địch về mặt tuyên truyền, cũng như bộ đội ta đã đánh thắng địch về mặt quân sự!”.

Ngày 25-5-1962, dự cuộc họp của Bộ Chính trị bàn về “Quy hoạch sông Hồng”, Bác nhắc nhở: “Việc làm phải tính toán cho tốt”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn