Tag Archive | Độc lập

Xuất xứ của 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên, nhi đồng

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất yêu quý thiếu niên, nhi đồng. Không chỉ yêu quý, Bác còn rất quan tâm giáo dục các em. Bác nói thiếu nhi là người chủ tương lai của nước nhà, cho nên cần phải sớm rèn luyện đạo đức cách mạng cho thiếu nhi. Nhiều thế hệ thiếu niên, nhi đồng Việt Nam luôn ghi nhớ 5 điều Bác dạy. Vậy 5 điều Bác dạy thiếu nhi có xuất xứ như thế nào ?

Cách đây tròn 46 năm, vào năm 1961, nhân Lễ kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Đội Thiếu niên Tiền phong Việt Nam (15/5/1941 – 15/5/1961), theo đề nghị của Trung ương Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi một bức thư cho thiếu niên, nhi đồng. Bảo tàng Hồ Chí Minh hiện còn lưu giữ bản thảo của bức thư đó. Trong thư Bác căn dặn: “Các cháu cũng tham gia đấu tranh bằng cách thực hiện mấy điều sau đây:

Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào
Học tập tốt, lao động tốt
Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt
Giữ gìn vệ sinh,
Thật thà, dũng cảm”.

Nhưng trong cuốn sổ Giải thưởng Bác Hồ là loại sổ dành riêng để thưởng cho giáo viên và học sinh có thành tích xuất sắc trong học tập năm học 1964 – 1965 thì 5 điều Bác dạy trên đây lại được in hoàn chỉnh là:

“Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào
Học tập tốt, lao động tốt
Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt
Giữ gìn vệ sinh thật tốt,
Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm”.

(Chữ “thật tốt” và chữ “khiêm tốn” được bổ sung vào 2 câu cuối, nên mỗi câu đều có 6 chữ).

Đồng chí Vũ Kỳ, thư ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho biết: Sở dĩ như vậy vì gần đến cuối năm 1965, để chuẩn bị phần thưởng cho giáo viên và học sinh vào cuối năm học, Bác thấy 5 điều Bác dạy thiếu niên, nhi đồng từ năm 1965 trở về trước, 3 câu đầu mỗi câu có 6 chữ còn 2 câu cuối mỗi câu chỉ có 4 chữ, như vậy không cân đối. Bác đã suy nghĩ và bổ sung thêm cho mỗi câu đủ 6 chữ.

Đặc biệt, ở câu thứ 5, Bác thêm chữ “Khiêm tốn” vì từ năm 1965 trở đi, đế quốc Mỹ bắt đầu mở rộng chiến tranh, ném bom bắn phá miền Bắc, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Mỗi người làm việc bằng hai để đền đáp cho đồng bào miền Nam ruột thịt” nên xuất hiện ngày càng nhiều gương “Người tốt việc tốt” ở mọi lứa tuổi. ở miền Bắc xuất hiện nhiều gương thiếu nhi dũng cảm cứu người, cứu hàng; ở miền Nam xuất hiện nhiều gương dũng sỹ diệt Mỹ. Nhưng Bác không muốn các em tự kiêu, mà muốn các em khiêm tốn, vì đức khiêm tốn sẽ giúp các em tiến bộ mãi. Bác còn đánh giá rất cao đức khiêm tốn ở các em. Bác nói: “ở nước Mỹ, người ta giết nhau chỉ vì đồng bạc giấy, thế mà ở Việt Nam ta các cháu bé đã biết sống như thế nào… Có cháu lên 6 tuổi cùng bạn đi chơi, bạn nó sảy chân ngã xuống ao, nếu chạy về gọi người lớn thì bạn chết mất, cháu liền bám vào bụi cỏ bờ ao, nhoai cái chân nhỏ xíu ra, miệng bảo bạn “bám vào đây, bám vào đây”. Cháu tuy nhỏ tuổi mà biết thương bạn như vậy. Thương bạn, thông minh và dũng cảm, cháu lại khiêm tốn nữa, cứu được mạng người mà không khoe khoang. Văn minh chiến thắng bạo tàn. Xã hội ta văn minh hơn xã hội Mỹ từ những việc làm của các cháu bé như vậy”.

Và 5 điều Bác dạy thiếu niên, nhi đồng đã được phổ biến rộng khắp trong các trường học ở Việt Nam. Nghe theo lời dạy của Người, thiếu niên, nhi đồng Việt Nam hăng hái thi đua tham gia phong trào “Hai tốt”, phong trào “Thiếu nhi làm nghìn việc tốt”. Chính những đóng góp nhỏ bé của các em đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và sự nghiệp dựng xây đất nước.

Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới đất nước, 5 điều Bác dạy thiếu niên nhi đồng vẫn là bài học thuộc lòng quý giá để mỗi em ghi nhớ, học tập, rèn luyện và noi theo.

Theo Hà Nội mới

bqllang.gov.vn

Còn mãi những kỷ niệm về Bác Hồ !

Đó là Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, nơi Bác đã sống và làm việc suốt 15 năm cuối đời (1954-1969). Trải dài từ Bắc vào Nam, có hơn 600 di tích và điểm di tích về Bác Hồ. Mỗi di tích chứa đựng những nội dung lịch sử, văn hóa khác nhau, cùng góp phần làm phong phú thêm các sự kiện và giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng tìm hiểu tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh ở di tích của Người tại Phủ Chủ tịch có ưu thế hơn cả.

Đây là nơi Bác ở và làm việc liên tục lâu nhất trong cuộc đời và hơn thế lại là 15 năm ở cương vị người lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, song những chuẩn mực đạo đức cách mạng vẫn được Người thực hiện một cách gương mẫu và là giai đoạn Người viết nhiều bài nhất về vấn đề đạo đức. Đây cũng là một trong số rất ít di tích về Bác còn giữ được gần như nguyên vẹn các bộ phận cấu thành di tích cũng như cảnh quan môi trường. Di tích lại ở ngay trung tâm chính trị, văn hóa, lịch sử Ba Đình, gắn với Lăng và Bảo tàng Hồ Chí Minh, rất thuận lợi trong việc phối hợp hoạt động cũng như các điều kiện phục vụ đông đảo nhân dân tới tham quan, học tập.

Những lý do nêu trên đã tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt của Khu di tích. 37 năm qua, Khu di tích đã đón và phục vụ chu đáo gần 50 triệu lượt khách trong và ngoài nước đến tham quan, nghiên cứu, học tập. Theo kết quả điều tra những năm gần đây, thì có tới 82% số người được hỏi bày tỏ nguyện vọng sẽ trở lại thăm di tích nhiều lần. Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại trong sự giản dị. Mọi người – từ các nhà khoa học, các chính khách đến tầng lớp bình dân – đều có chung đánh giá: Người là lãnh tụ cao mà không xa, mới mà không lạ, lớn mà không làm ra vĩ đại, soi sáng mà không gây choáng ngợp, gặp lần đầu mà như thân thuộc từ lâu.

Những nội dung chính của đạo đức Hồ Chí Minh (trung với nước, hiếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; tình yêu thương con người và tinh thần quốc tế trong sáng) đều hội tụ đủ và có thể khai thác hiệu quả thông qua việc tìm hiểu cuộc sống và những cống hiến của Người trong 15 năm sống và làm việc tại Khu di tích. Được nghe những câu chuyện chân thực, sinh động về hành vi đạo đức của Người trong sinh hoạt, cuộc sống, cách ứng xử, được tận mắt chứng kiến những đồ dùng tiện nghi của một nguyên thủ quốc gia, cũng như ý nghĩa của mỗi tài liệu, hiện vật trưng bày, đã thực sự gây xúc động đối với khách đến thăm Khu Di tích.

Hưởng ứng Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, hơn 2 tháng qua, Khu di tích đã tổ chức phục vụ 25 đơn vị với hơn 3.500 lượt người đến học tập, sinh hoạt chính trị như báo công, phát động thi đua… Rất nhiều người đã ghi những cảm tưởng xúc động, chân thành. Đoàn cán bộ, học viên Học viện Hậu cần ghi: “Về viếng Bác và thăm nơi ở, làm việc của Người, chúng cháu càng thêm kính trọng và thương nhớ Bác…”. Đoàn sinh viên Học viện Ngân hàng ghi: “Chúng cháu xin hứa với Bác sẽ không ngừng phấn đấu nhiều hơn nữa, góp phần xây dựng đất nước. Bác ơi ! Chúng cháu yêu Bác rất nhiều”…

Thực tế ở Khu Di tích cho thấy, muốn hiệu quả, thiết thực trong tuyên truyền, vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, trước hết cần phải nhận thức rõ: Học tập tấm gương đạo đức Bác Hồ không có nghĩa là bắt chước một cách máy móc, mà phải hiểu rõ tinh thần cốt lõi của từng bài học để mỗi người soi vào đó, giải quyết hài hòa ba mối quan hệ: với người, với mình và với công việc. Qua đó, ai cũng nhận thấy việc học tập và làm theo Người không phải là xa lạ hoặc quá sức, ngược lại mỗi người đều có thể sáng tạo, vận dụng ở mỗi công việc cụ thể hằng ngày…

Theo Hà Nội mới

bqllang.gov.vn

Tôi học Bác từ những chuyện nhỏ nhất!

“Tôi được học Bác từ những chuyện rất là nhỏ nhưng không thể nào quên được. Nhiều lắm, mênh mông lắm. Thực sự mà nói, tôi cảm nhận Bác như là một ông tiên”.

Ông Phạm Ngọc Toản ở xã Tam Nghĩa, huyện Núi Thành, Quảng Nam là một trong số rất ít cán bộ miền Nam được cử đi học lớp đào tạo Công an nhân dân Việt Nam khóa 1 tại căn cứ Việt Bắc. Sau khi phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ, ông được chọn lựa vào đội ngũ những người cận vệ trung thành bảo vệ Bác Hồ cho đến lúc Bác đi xa.

Năm nay đã hơn 82 tuổi, dù đã bị căn bệnh tai biến hành hạ hơn 10 năm trời, nhưng ông vẫn còn rất minh mẫn. Bên ly nước chè xanh trong căn phòng khách nhỏ gọn gàng, đơn sơ dưới cái nắng gay gắt giữa mùa hè của đất Quảng Nam, ông nhớ lại. “Đầu năm 1953, tôi có quyết định ra Việt Bắc học trường công an. Nghe tin thế, tôi rất vui sướng vì tin chắc rằng đến Việt Bắc nhất định sẽ được gặp Bác Hồ, lúc đó được gặp Bác Hồ là ước mơ đến cháy bỏng của biết bao người.

Trong 15 năm ở gần Bác Hồ, tôi chỉ được ở gần Bác thôi, như là người hàng xóm của Bác chứ không phải như người trong nhà. Bởi vì có một số anh em được trực tiếp, tiếp cận bảo vệ Bác, còn tôi chỉ bảo vệ vòng ngoài. Bác đi đâu, chúng tôi lo đường đi chỗ đến cho Bác. Tôi có may mắn là trong nhiều năm luôn là người trực tiếp đi chuẩn bị những nơi Bác đến thăm. Bác cũng đến những nơi mà không ai ngờ nhất. Bác luôn quan tâm đến mọi người dù những việc nhỏ nhất. Có lần Bác đến thăm một cơ quan, trong lúc lãnh đạo cơ quan đang chuẩn bị đón Bác ở trên hội trường được trang hoàng rất sạch đẹp. Nhưng khi chúng tôi đưa đến, Bác yêu cầu đưa Bác ra phía sau trước. Thế là Bác xuống bếp ăn, xuống nhà vệ sinh, xuống thăm khu tập thể… Khi thăm xong thấy mặt Bác không vui. Ngay sau đó, Bác cho gọi lãnh đạo cơ quan ấy, cho gọi Chủ tịch Công đoàn và Bí thư Đoàn thanh niên và đề nghị cho giải quyết ngay vấn đề vệ sinh và hẹn sau 5 ngày phải báo cáo cho Bác biết”.

“Trong suốt 15 năm phục vụ Bác Hồ, ông học được gì về đạo đức tư cách của Bác?” – chúng tôi hỏi. Ông Phạm Ngọc Toản trả lời: “Nhiều lắm, mênh mông lắm. Thực sự mà nói, tôi cảm nhận Bác như là một ông tiên. Tôi được học Bác từ những chuyện rất là nhỏ nhưng không thể nào quên được”. Ông kể tiếp:

“Lúc ấy chúng tôi ở tại Văn phòng T.Ư bên này, Bác ở bên Văn phòng Phủ Chủ tịch cách nhau một con đường Hoàng Diệu. Bác thường thức dậy rất sớm (khoảng 5 giờ hoặc 5 giờ 30 phút). Nhiều lần nhìn sang bên chúng tôi, thấy còn để đèn sáng là Bác gọi điện qua nhắc nhở. Bác nói: “Đã sáng tỏ mặt người rồi sao các chú còn để điện? Phải tiết kiệm chứ”.

Tôi đã học được từ Bác chữ kiệm rất nhiều. Ngày ấy, có khoảng thời gian cả nước gặp khó khăn, bì thư mà Bác sử dụng luôn được làm từ giấy báo. Bác nhờ chúng tôi lấy giấy báo đã đọc rồi cắt làm bì thư, chứ Bác không chịu sử dụng phong bì bằng giấy trắng. Những mảnh giấy trắng nếu còn dùng được dù chỉ bé bằng bàn tay, Bác cũng cất lại để dán lên phong bì giấy báo để ghi địa chỉ người nhận, người gửi”.

Ông Toản dừng lại một hồi… Bất chợt, ông lại kể tiếp: “Vào những lúc chúng tôi được ăn cơm cùng Bác, Bác thường bảo cái gì mà mình đã ăn thì phải ăn hết, còn cái gì mà mình không thích thì đừng đụng đũa để dành cho người khác ăn. Đừng có ăn lở dở mỗi đĩa một miếng không hay lắm. Ăn xong rồi Bác bảo phải thu dọn cho ngăn nắp, đĩa ra đĩa, chén ra chén, đũa ra đũa để khi người phục vụ đến người ta bưng cho đỡ bớt thì giờ của người ta. Đó là những chuyện rất nhỏ, còn những chuyện lớn thì ai cũng biết rồi, tôi không cần nói làm chi”.

Sau ngày Bác mất, ông Phạm Ngọc Toản được bổ nhiệm chức vụ Phó hiệu trưởng trường An ninh E1171, là cơ sở đào tạo cán bộ an ninh cho toàn bộ chiến trường miền Nam và sau đó là lãnh đạo trường Công an 5 ở huyện Núi Thành, Quảng Nam và ông về hưu cách đây gần 30 năm với quân hàm thượng tá. Học tập chữ Kiệm của Bác, ông hiện sống rất giản dị, thanh thản với căn nhà nhỏ quây quần bên gia đình và con cháu.

Theo Tấn Tú – Thanh Niên

bqllang.gov.vn

Những bức thư tháng bảy ân tình

(HNM) – Cách đây vừa tròn 60 năm, tại An toàn khu – huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, Nhà nước và Chính phủ non trẻ của chúng ta đã chọn ngày 27 – 7 hằng năm là ngày của các thương binh và gia đình liệt sĩ.

Sinh thời, dù bận trăm công nghìn việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn không bao giờ quên ngày 27 – 7. Những dịp này, Người thường cố gắng bố trí thời gian để tới thăm hoặc viết thư động viên các thương binh và gia đình liệt sĩ.

Bảo tàng Cách mạng Việt Nam hiện lưu giữ được khá nhiều những bức thư tháng bảy đầy ân tình của Người. Trong thư, Người ân cần thăm hỏi anh em thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ. Khi thì thông qua cụ Vũ Đình Tụng – Bộ trưởng Bộ Thương binh, Cựu binh thời kỳ đó, còn hầu hết, Người gửi thư trực tiếp thăm hỏi anh em. Thư thường do tự tay Người đánh máy, theo kiểu chữ riêng của mình mà thoạt nhìn chúng ta đều nhận biết dễ dàng. Thư có bức dài, bức ngắn, luôn chứa đựng tình cảm lớn lao, sâu nặng của Người đối với những chiến sĩ đã hy sinh, những gia đình có công đóng góp vào sự nghiệp chung của dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở các cấp, các ngành và đồng bào, đồng chí “uống nước nhớ nguồn”, hết lòng chăm lo cho thương binh, gia đình liệt sĩ. Người viết: “Bổn phận của chúng ta là phải biết ơn, phải thương yêu và giúp đỡ họ. Nhiều nơi, đồng bào đã hiểu đúng và làm đúng như vậy, nhưng cũng còn có một số ít địa phương chưa hiểu đúng, làm đúng. Tôi tin rằng đồng bào, đoàn thể và các cán bộ ở những địa phương đó sửa chữa những thiếu sót ấy và quan tâm giúp đỡ những người đã hi sinh xương máu cho nước nhà” (Thư ngày 17-7-1956).

Trong hầu hết các bức thư, bên cạnh việc khẳng định công lao to lớn của thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, Người thường xuyên nhấn mạnh trách nhiệm của Đảng, của Chính phủ và nhân dân đối với họ: “Tôi cũng nhắc nhở các cơ quan đoàn thể phải chấp hành một cách chu đáo các chính sách của Đảng và Chính phủ đối với anh em thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ” (Thư ngày 17-7-1952).

Trách nhiệm ấy, theo quan điểm của Người là sự trân trọng, biết ơn chứ không phải là sự gia ơn. Người cho rằng, muốn làm tốt điều này, phải luôn chú ý đến hai mặt của vấn đề: Toàn Đảng, toàn dân trân trọng, biết ơn, tri ân, nghĩa tình với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ. Đồng thời, anh em thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ phát huy truyền thống, giữ vững phẩm chất, vượt lên khó khăn để luôn xứng đáng với sự quan tâm của Đảng, Chính phủ và nhân dân. Người nhắc nhở: “Đã là quân nhân cách mạng thì bao giờ cũng phải là chiến sĩ anh dũng. Khi ở trại (trung tâm điều dưỡng thương binh nặng – LMĐ) thì nên thi đua học tập, công tác. Lúc ra trại thì nên hăng hái tham gia công tác, sản xuất ở địa phương, ở cơ quan” (Thư ngày 17-7-1956).

Lời lẽ trong nhiều bức thư gần gũi, chân tình như anh em trong một gia đình. Và hơn thế, Người luôn thể hiện thái độ tôn trọng và khích lệ họ: “Chớ bi quan chán nản, phải luôn cố gắng. Trước kia anh em đã xung phong diệt giặc thì nay anh em sẽ tùy điều kiện mà xung phong tăng gia sản xuất. ở nước ta, chú Tấn, chú Cầu cụt một tay mà vẫn công tác rất hăng” (Thư ngày 27-7-1952).

Trong nhiều bức thư, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chia những món quà nhỏ của mình, gửi các thương binh, gia đình liệt sĩ, thể hiện sự gắn bó nghĩa tình “đói cùng chịu, no cùng hưởng”: “Tôi xin gửi một tháng lương nhờ cụ (tức cụ Vũ Đình Tụng – LMĐ) chuyển làm quà cho anh em với lời thân ái hỏi thăm của tôi” hoặc: “Tôi xin gửi 50 chiếc khăn tay của đồng bào Thái biếu tôi. Nhờ cụ chuyển tới anh em giúp tôi” (Thư ngày 17-7-1952).

60 mươi năm đã trôi qua, mỗi một tháng bảy đến, được đọc lại những bức thư tháng bảy của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, chúng ta càng kính yêu Người vô hạn, càng biết ơn những anh hùng, liệt sĩ và thân nhân của họ đã hy sinh xương máu cho độc lập của dân tộc, tự do của nhân dân, cho đất nước Việt Nam yêu quý đơm hoa, kết trái, vững bước trên đường đổi mới, hội nhập như ngày nay.

Lê Minh Độ
(Bảo tàng Cách mạng Việt Nam)

bqllang.gov.vn

Tấm lòng của Bác Hồ với thương binh, liệt sĩ

Bác Hồ thăm các thương binh nặng ở trại điều dưỡng Bắc Ninh - Ảnh gdtd.vnQĐND Online – Vào năm 1947, ngay buổi đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khởi xướng và chọn ngày 27-7 hằng năm là ngày “Thương binh toàn quốc”. Ý nghĩa của ngày này được Hồ Chủ Tịch nêu rõ trong Thư gửi Ban thường trực tổ chức ngày “Thương binh toàn quốc” đầu tiên: “Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc và đồng bào mà các đồng chí đó chịu ốm yếu… Vì vậy Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy. Ngày 27-7 là dịp để đồng bào tỏ rõ lòng hiếu nghĩa bác ái và tỏ lòng yêu mến thương binh”.

Bao năm qua, lời căn dặn của Bác Hồ đã được toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta ghi nhớ và thực hiện. Ý nghĩa của ngày 27-7 cũng đã được nâng cao thành ngày “Thương binh – liệt sĩ” – ngày thu hút sự quan tâm của hàng triệu tấm lòng, ngày thể hiện tình cảm tốt đẹp của hàng triệu con tim. Đặc biệt là tình cảm trân trọng, biết ơn các liệt sĩ, mà Bác Hồ là người khởi nguồn và bồi đắp bằng những lời dạy thật sâu sắc: “Máu đào của các liệt sĩ đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt qua tất cả những khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã chuyển lại cho chúng ta”.

Ngay buổi đầu chống Pháp, ngày 16-2-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 20/SL, đặt “Chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sĩ”, mở đầu cho sự phát triển của một hệ thống chính sách thương binh – liệt sĩ. Trong kháng chiến chống Mỹ, sau khi chế độ bảo hiểm xã hội ra đời, ngày 30 tháng 10 năm 1969, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 161/CP về “Điều lệ ưu đãi quân nhân, quân dân dự bị, dân quân tự vệ bị thương, bị chết”. Sau này đối tượng được xác nhận là thương binh, liệt sĩ được mở rộng thêm và bao gồm cả thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến, lực lượng vận tải, cán bộ chủ chốt xã, y tế xã.

Kỷ niệm ngày thương binh 27-7-1948, Người lại gửi bức thư đầy tâm huyết tới đồng bào. Không chỉ những lời động viên, chia sẻ qua thư, mà Người đã gương mẫu thực hiện lời kêu gọi đó thông qua những việc làm thiết thực: gửi quà tặng thương binh, gia đình liệt sỹ vào dịp kỷ niệm 27-7 hằng năm, đến thăm các trại điều dưỡng thương binh. Câu nói bất hủ của Người: “Thương binh tàn nhưng không phế” có sức động viên mạnh mẽ hàng vạn thương binh cố gắng phấn đấu vươn lên trong cuộc sống với niềm tin mãnh liệt.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá 3) giáp tết Bính Ngọ (1966), trong bài nói của Bác, Người yêu cầu các địa phương, đoàn thể phải coi trọng giúp đỡ gia đình thương binh, gia đình liệt sỹ, gia đình có con là chiến sỹ đi chiến đấu ở chiến trường miền Nam, Lào, Cam-pu-chia.

Trải qua các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, đất nước ta đã thật sự “nở hoa độc lập, kết trái tự do”. Song sự hy sinh, mất mát cũng thật lớn lao. Không gì có thể bù đắp được những hy sinh vô giá đó. Duy chỉ có lòng biết ơn thật sự mới có thể làm vơi đi những nỗi đau. Lòng biết ơn thương binh – liệt sĩ đã làm sáng lên truyền thống đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, khẳng định bản chất xã hội ta là một xã hội dân chủ, công bằng.

Khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới, cùng với việc đưa ra các giải pháp tình thế khắc phục mặt trái của cơ chế thị trường, tháo gỡ khó khăn, ổn định đời sống thương binh – gia đình liệt sĩ, xử lý những bất hợp lý do lịch sử để lại, Nhà nước ta đã ban hành Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng và Pháp lệnh Phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Việc ra đời 2 Pháp lệnh này đã đánh dấu một bước tiến trong quá trình “luật hoá” hệ thống chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, được nhân dân cả nước đồng tình và tích cực thực hiện.

Những năm qua, phong trào toàn dân chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công với cách mạng không ngừng phát triển và đi vào chiều sâu. Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” đã ủng hộ gần 5.000 tỷ đồng, xây mới 243.412 căn nhà tình nghĩa, sửa chữa 104.125 căn nhà, với tổng số tiền là 2.389 tỷ đồng, giúp đỡ trên 300.000 gia đình chính sách có nhà ở ổn định, tặng trên 604.000 sổ tiết kiệm tình nghĩa, 15.000 vườn cây tình nghĩa. Sau 10 năm phát động phong trào, cả nước đã có 9.636 xã, phường được công nhận làm tốt công tác thương binh, liệt sỹ và người có công, 22 tỉnh, thành phố có 100% xã, phường hoàn thành tốt công tác này.

Hiện nay, cả nước có 85% gia đình chính sách có mức sống bằng và cao hơn mức sống trung bình của người dân địa phương nơi cư trú. Phong trào toàn dân “Đền ơn đáp nghĩa” đã trở thành nét đẹp trong đời sống của toàn dân, có ý nghĩa chính trị sâu sắc. Công tác đền ơn đáp nghĩa với hàng triệu đối tượng chính sách là công việc thường nhật của các tổ chức trong hệ thống chính trị trong cả nước, đã và đang làm vơi đi nỗi đau, sự mất mát do kẻ thù gây nên, góp phần giúp các đối tượng ngày càng ổn định cuộc sống, giúp họ yên ổn về vật chất, vui vẻ về tinh thần, động viên họ đóng góp vào sự phát triển của dân tộc, phấn đấu trở thành “Người thương binh gương mẫu, gia đình liệt sỹ kiểu mẫu”, đại bộ phận thương binh “tàn nhưng không phế” đúng như lời dạy của Bác Hồ kính yêu.

Mặc dù chiến tranh đã lùi xa, nhưng lịch sử chói sáng của dân tộc vẫn khắc đậm chiến công của các vị anh hùng, thương binh, liệt sĩ. Trong mỗi trái tim Việt Nam vẫn sẽ mãi khắc ghi sự ngưỡng mộ, lòng biết ơn đối với các Anh hùng – Liệt sĩ – chiến sĩ đã sẵn sàng hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc. Mong rằng sự ngưỡng mộ, lòng biết ơn ấy mãi là ngọn lửa ấm tiếp thêm nguồn năng lượng mới để mỗi thương binh, thân nhân liệt sĩ có thêm nghị lực, niềm tin trong cuộc sống.

Thái Sơn (tổng hợp)

bqllang.gov.vn

Bà tôi và hũ gạo Cụ Hồ

Bà tôi dịu dàng an ủi: “Đáng lẽ ra bà nấu thêm một ít, nhưng đã hai hôm nay hũ gạo cụ Hồ chẳng có vốc nào, hôm nay bà phải bù lại”… Đã bao năm qua, hình ảnh bà ngoại tôi với hũ gạo kháng chiến vẫn in sâu trong tâm trí tôi…

Cách mạng tháng Tám vừa thành công, âm hưởng của nạn đói kinh hoàng chưa đi qua. Mồ côi mẹ, tôi ở với bà ngoại. Cuộc sống hai bà cháu dựa vào mấy sào vườn cây ăn quả, một đám đất khô mỗi năm hai mùa trồng sắn.

Giặc Pháp trở lại gây hấn ở Nam Bộ, thanh niên nô nức tòng quân. Lúc đó, cả nước còn thiếu ăn, lương thực hoàn toàn trông vào nền kinh tế nông nghiệp èo uột. Bác Hồ phát động phong trào “Hũ gạo kháng chiến” để nuôi quân.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác, bà ngoại tôi lấy ra một cái hũ to bằng quả dừa để vào bếp. bà gọi đó là hũ gạo cụ Hồ. Đều đặn, trước khi mang gạo đi vo, bà tôi đưa tay vào rá vốc một vốc bỏ vào hũ. Đến cuối tuần, một cán bộ phụ nữ xã đến thu, bà tôi trân trọng bê hũ đóng góp ủng hộ kháng chiến.

Năm ấy quê tôi đói kém. Gạo không còn một hạt, đã hai ngày bà cháu tôi phải ăn sắn trừ cơm. Dì tôi xót ruột, từ chợ Thông gửi về cho bà cháu năm lon gạo. Tôi mừng rỡ chắc mẩm tối nay được bữa cơm no. Đến bữa, tôi xịu mặt vì thất vọng, nhìn vào nồi cơm vơi mà khóc ròng, giận bà ra mặt.

Bà tôi dịu dàng an ủi: “Đáng lẽ ra bà phải nấu thêm một ít, nhưng cháu biết không, đã hai hôm nay hũ gạo cụ Hồ chẳng có vốc nào. Hôm nay bà phải bù lại, cháu chịu khó ăn ít cơm một tí, gắng ăn sắn thêm vào, ngày mai chị V. đến thu lấy cái chi mà ủng hộ”.

Tôi nghe…. mà trong bụng còn ấm ức, nhưng thầm cảm phục bà. Hơn nữa, tôi là một đoàn viên thanh niên cứu quốc, chính tôi là người đã tích cực vận động bà hưởng ứng phong trào hũ gạo kia mà.

Giặc Pháp ngày càng hung hăng, trắng trợn phá hoại hiệp định đình chiến, thanh niên lớp lớp lên đường, theo nhịp bước các khúc quân hành “Xếp bút nghiên”, “Lên đàng” hừng hực khí thế giết giặc cứu nước.

Tôi không sao quên được buổi chiều hôm đó, chân bước liêu xiêu, bà ngoại tiễn chân tôi đến bến đò Làng Hạ. Năm ấy, ngoại tôi đã bảy mươi lăm tuổi. Tôi đi kháng chiến, bà ở lại còm cõi một mình. Bà nắm tay tôi nói trong nghẹn ngào: “Con đi đi, gắng theo cụ Hồ, đi cho đến nơi đến chốn”. Tôi không nói nên lời, bước đi không dám quay đầu lại.

Đã bao năm qua, hình ảnh bà ngoại tôi với hũ gạo kháng chiến cùng những lời dặn dò của bà vẫn in sâu trong tâm trí tôi. Nó là một hành trang giúp tôi vững bước vào đời. Trong suốt cả cuộc kháng chiến lâu dài của dân tộc, lời của bà luôn văng vẳng bên tai. Mỗi khi gặp khó khăn, suýt vấp ngã, lời bà như động viên, thúc giục tôi bền chí vững lòng, bước tiếp trên con đường cách mạng đầy chông gai và gian khổ.

Bà ơi! cho đến bây giờ lời của bà cháu vẫn luôn ghi nhớ…

Lê Đức Minh

bqllang.gov.vn

Như người cha hiền..

Tôi nhớ mãi mùa hè năm ấy, cách đây vừa tròn 50 năm, vào một ngày tháng 6 – 1957, Bác Hồ về thăm sư đoàn 325 chúng tôi, lúc ấy đang đóng quân ở Đồng Hới, Quảng Bình. Bốn giờ chiều, tin Bác đến, lòng chúng tôi rạo rực nôn nao một niềm vui khôn tả…

Chiếc xe con màu trắng đưa Bác đến. Hàng ngũ bộ đội nhốn nháo, ai cũng muốn nhoài người ra để được gần Bác hơn, được nhìn Bác rõ hơn. Đến gần bộ đội, Bác xuống xe, giơ mũ vẫy chào. Bác mặc bộ kaki màu sáng quen thuộc, chân đi đôi dép lốp. Tiếng hô “Hồ Chủ tịch muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm!” muốn vỡ tung lồng ngực. Bác đáp lại: “Các cháu về đi, tối nay Bác cháu ta họp mặt”.

Chúng tôi giải tán về doanh trại, bồn chồn đứng ngồi không yên, chỉ chờ tiếng còi tập hợp để ra sân gặp Bác. Từ trong nhà, Bác ung dung đi ra, với bộ đồ nâu giản dị, một tay xách chiếc chiếu đơn gấp lại ở giữa, một tay cầm chiếc quạt giấy, thong thả trải chiếc chiếu lên thềm rồi ngồi xuống.

Tất cả chúng tôi, ai ai cũng muốn ngâm một bài thơ, hát một bài để nói lên niềm kính yêu vô hạn đối với Bác.
Cứ sau một tiết mục, Bác lại lấy ra từ một bọc vải một hoặc hai cái kẹo; ai ngâm thơ hay hát thì Bác cho hai cái, ai đọc thơ thì Bác cho một cái… Cứ như thế, Bác cháu quây quần suốt hai tiếng đồng hồ, giữa lãnh tụ và chiến sĩ không còn khoảng cách mà như hòa làm một, khác nào cha với con trong niềm thương yêu dạt dào tình cảm.

Thời gian trôi đi nhanh quá. Bác đứng dậy nhìn đoàn quân, giọng ôn tồn như lời cha hiền dặn con: “Các cháu ngâm thơ và hát rất hay, Bác còn muốn nghe mãi…. Nhưng trời đã khuya, mai các cháu còn phải học tập và công tác, Bác cũng phải làm việc. Trước khi ra về Bác đề nghị một việc: để kỷ niệm ngày Bác cháu mình gặp mặt, mỗi người hứa trồng cho Bác hai cây phi lao. Các cháu có làm được không?”.

“Được ạ! Được ạ! Hồ Chủ tịch muôn năm !”.

Theo lời Bác, kể từ ngày ấy khắp sư đoàn rộ lên một phong trào trồng cây phi lao phủ xanh bờ biển. Mỗi chúng tôi không chỉ trồng hai cây mà thi đua trồng thật nhiều, có chiến sĩ trồng hàng ngàn cây dọc suốt bờ biển Quảng Bình.
Mười tám năm sau…

Năm 1975, ngày thống nhất đất nước, trên đường về Nam, ngang qua Quảng Bình, tôi chú ý quan sát vùng đất mà bộ đội, trong đó có tôi, trồng phi lao ngày trước. Ôi! Không ngờ ngay trên tuyến lửa này, mặc cho bom cày đạn xới, suốt mười mấy năm chống Mỹ, những cây phi lao bé bỏng ngày xưa đã thành rừng dày đặc, xanh um, chạy dài tít tắp.

Ôi! Bác của chúng ta vĩ đại mà gần gũi biết bao! Màu xanh Bác để lại vẫn muôn đời còn đó.

Lê Đức Minh (Cựu chiến binh, Tân Phú, TP.HCM)

bqllang.gov.vn

Thời gian là quý lắm

Chuyện kể rằng, năm 1945, mở đầu bài nói chuyện tại lễ tốt nghiệp khoá V Trường huấn luyện cán bộ Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh thẳng thắn góp ý: “Trong giấy mời tới đây nói 8 giờ bắt đầu, bây giờ là 8 giờ 10 phút rồi mà nhiều người vẫn chưa đến. Tôi khuyên anh em phải làm việc cho đúng giờ, vì thời gian quý báu lắm”.

Cũng về giờ giấc, trong kháng chiến chống Pháp, một đồng chí sĩ quan cấp tướng đến làm việc với Bác chậm 15 phút, tất nhiên là có lý do: Mưa to, suối lũ, ngựa không qua được.

Bác bảo: “Chú làm tướng mà chậm đi mất 15 phút thì bộ đội của chú sẽ hiệp đồng sai bao nhiêu? Hôm nay chú đã chủ quan không chuẩn bị đủ phương án, nên chú không giành được chủ động”.

Một lần khác, Bác và đồng bào phải đợi một đồng chí cán bộ đến để bắt đầu cuộc họp. Bác hỏi: “Chú đến muộn mấy phút? Thưa Bác, chậm mất 10 phút ạ! Chú tính thế không đúng, 10 phút của chú phải nhân với 500 người đợi ở đây”.

Năm 1953, Bác quyết định đến thăm lớp chỉnh huấn của anh em trí thức, lúc đó đang bước vào cuộc đấu tranh tư tưởng gay go. Sắp đến giờ lên đường bỗng trời đổ mưa xối xả. Các đồng chí làm việc bên cạnh Bác đề nghị cho hoãn đến một buổi khác. Có đồng chí còn đề nghị tập trung lớp học ở một địa điểm gần nơi ở của Bác… Nhưng bác không đồng ý: “Đã hẹn thì phải đến, đến cho đúng giờ, đợi trời tạnh thì đến bao giờ? Thà chỉ mình bác và vài chú nữa chịu ướt còn hơn để cả lớp phải chờ uổng công!”. Thế là Bác lên đường đến thăm lớp chỉnh huấn đúng lịch trình trong tiếng reo hò sung sướng của các học viên…

Bác Hồ của chúng ta quý thời gian của mình bao nhiêu thì cũng quý thời gian của người khác bấy nhiêu. Chính vì vậy, trong suốt cuộc đời Bác không để bất cứ ai đợi mình. Sự quý trọng thời gian của Bác thực sự là tấm gương sáng để chúng ta học tập. Thế nhưng, hiện nay ở không ít các cơ quan, đơn vị, tình trạng lãng phí thời gian vẫn liên tục xảy ra. Tại một số Bộ, ngành, địa phương lại xảy ra tình trạng: Trong giờ hành chính lãnh đạo đơn vị thả cho nhân viên muốn làm gì thì làm. Thế nhưng hết giờ hành chính lại triệu tập mọi người đến họp, hoặc làm thêm việc (làm ngoài giờ). Đương nhiên việc họp và làm ngoài giờ sẽ được “phù phép” đủ điều kiện để được hưởng tiền làm việc thêm giờ. Chính sự buông lỏng việc quản lý giờ giấc và lề lối làm việc thiếu nghiêm túc của một số lãnh đạo nên đã có không ít nhân viên trong giờ làm việc đã “tranh thủ” lên sàn xem giá cổ phiếu hôm nay lên, xuống ra sao; một số khác thì rạo phố mua sắm hay vào chợ mua đồ ăn cho gia đình… Thực tế tại một số cơ quan, đơn vị cho thấy tình trạng lãng phí thời gian của đội ngũ cán bộ, công chức diễn ra khá phổ biến và ngày càng tinh vi. Có những người vừa đến cơ quan là ngồi ngay ngắn vào bàn, nhưng không phải để làm việc mà vào mạng “chít chát” với bạn bè. Cũng có người hễ bước chân đến cơ quan là kêu nhiều việc, thiếu thời gian để hoàn thành, nhưng lại có thời gian để “buôn điện thoại” tán gẫu với bạn bè hàng giờ liền…

Vẫn biết thời gian là vàng, ngọc, có những cái mất đi chúng ta vẫn tìm thấy, song nếu để thời gian trôi đi một cách vô ích thì chúng ta sẽ không bao giờ tìm lại được. Chính vì vậy, học tập tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi chúng ta cần xem lại mình, hãy biết quý trọng thời gian, biết tận dụng thời gian để làm việc có ích cho xã hội, cho gia đình và bản thân.

Nguyễn Minh (Trung Hoà, Cầu Giấy, Hà Nội)

bqllang.gov.vn

Phê bình cấp dưới

Trong cuộc sống hằng ngày, cán bộ cấp trên phê bình, chê trách cán bộ, nhân viên cấp dưới thuộc quyền là chuyện thường xảy ra. Tôi đã chứng kiến những trường hợp cấp trên phê bình đúng, phê bình gần đúng, hoặc phê oan sai mà cấp dưới vẫn nín nhịn, chịu đựng. Trước những việc làm sai trái của cấp dưới, có cán bộ cấp trên phê bình theo kiểu mắng nhiếc, chì chiết, té tát vào mặt; phê cho bõ tức, cho thỏa cơn nóng giận. Thậm chí có cán bộ cấp phân đội ở đơn vị không chỉ phê bình chiến sĩ sai phạm bằng lời mà còn đánh chiến sĩ. Cũng có cán bộ do nóng nảy, sau khi phê bình nặng lời cấp dưới thì tĩnh tâm, ân hận, hối lỗi việc đã làm. Nhưng có cán bộ lại coi cách phê bình nặng lời ấy là “biện pháp mạnh” để răn đe, áp đảo giúp cấp dưới nhận ra sai sót phải sửa chữa, khắc phục ngay.

Phê bình, góp ý, khuyên răn cấp dưới là việc làm cần thiết và thường xuyên của cấp trên nên phải coi đó là một phương pháp công tác và nghệ thuật cư xử của người cán bộ. Sinh thời, Bác Hồ gặp nhiều trường hợp cán bộ, nhân dân làm sai, Bác đều phê bình thẳng thắn nhưng nhẹ nhàng, sâu sắc mà thấm thía, giúp cho người được phê bình nhớ lâu, nhận rõ hơn việc làm sai trái của mình. Có lần, Bác được biết một đồng chí sĩ quan cao cấp trong quân đội nóng nảy, hay quát mắng cán bộ cấp dưới. Khi gặp, Bác rót một chén nước đun sôi đưa cho người sĩ quan cao cấp có “máu Trương Phi” uống. Cầm chén nước nóng ran, bốc hơi nghi ngút, người sĩ quan ngập ngừng không dám uống. Đúng lúc ấy, Bác ôn tồn nói: Nước nóng chú không uống được. Cũng như khi chú quá nóng, mắng mỏ cấp dưới thì họ cũng không tiếp thu được đâu…

Lời phê ý nhị, nhẹ nhàng ấy khiến người sĩ quan có “máu Trương Phi” ấy xúc động và coi đó là bài học nhớ đời, kiên quyết khắc phục bệnh quân phiệt trong việc cư xử với cán bộ cấp dưới. Ở đơn vị tôi có đồng chí cán bộ khi thấy cán bộ cấp dưới làm những điều không phải, đồng chí gặp riêng phê bình, nhắc nhở thân tình. Chỉ những trường hợp sai phạm nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần đồng chí mới đưa ra phê bình trước tập thể. Nhờ vậy, đơn vị luôn tạo nên mối đoàn kết thống nhất; các đồng chí mắc khuyết điểm đều nhận rõ trách nhiệm của mình, thể hiện ý thức ăn năn, quyết tâm sửa chữa. Đặc biệt, trong đơn vị thể hiện rõ không khí dân chủ, chan hòa giữa cán – binh; đóng góp phê bình nhau chân tình, thẳng thắn. Nếu tình trạng cán bộ cấp trên phê bình cấp dưới theo kiểu “cả vú lấp miệng em” thì đôi khi còn làm cho cấp dưới e ngại, sợ không dám có ý kiến trở lại. Trong cuốn “Sửa đổi lối làm việc” Bác viết tháng 10-1947, cũng đề cập đến hậu quả ấy: “Không phải họ không có gì nói, nhưng vì họ không dám nói, họ sợ. Thế là mất hết dân chủ trong Đảng. Thế là nội bộ của Đảng âm u, cán bộ trở nên những cái máy trong lòng uất ức, không dám nói ra; do uất ức mà hóa ra oán ghét, chán nản”…

Mục đích của phê bình là nhằm giúp cho cấp dưới nhận rõ khuyết điểm, có hướng khắc phục, sửa chữa để làm tốt hơn. Muốn được như vậy, cán bộ cấp trên phải tu dưỡng, rèn luyện, học tập tác phong và đạo đức của Bác Hồ, thực sự thương yêu, tôn trọng cấp dưới, dùng lời lẽ hành động nhẹ nhàng, tế nhị khuyên nhủ để cấp dưới dễ tiếp thu, sửa chữa khuyết điểm.

Nguyễn Đình Thống (Trường cao đẳng kỹ thuật Vin – hem Pích)

bqllang.gov.vn

“Ham muốn tột bậc” của Bác Hồ

Năm 1946, khi đã là Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà, Bác Hồ muôn vàn kính yêu của chúng ta đã trả lời các nhà báo: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.

Đó là ham muốn tột bậc của Hồ Chủ tịch. Là một người lính Cụ Hồ, tôi hằng suy nghĩ nhiều về câu nói trên và càng suy nghĩ càng thêm thương nhớ Bác, kính yêu Bác, tin tưởng Bác và thêm phấn khởi để tiến bước trên con đường Bác vạch ra.

“Ham muốn tột bậc” là sự ham muốn thiết tha nhất, duy nhất. Sự ham muốn tột bậc đã chiếm lĩnh toàn bộ trái tim, toàn bộ tâm hồn Bác. Không có một ham muốn nào khác, đam mê nào khác có thể chen vào trái tim, chen vào tâm hồn Bác ngoài ham muốn “Nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.

Chính sự ham muốn tột bậc đó đã tạo nên tình yêu nước, thương dân không bờ bến. Suốt đời Bác Hồ làm việc không giây phút nào ngơi cũng là có sự ham muốn tột bậc đó. Chính nhờ sự “ham muốn tột bậc” nên Bác Hồ có được một nghị lực phi thường để chiến thắng mọi khó khắn gian khổ, mọi cám dỗ tầm thường-chiến thắng cả bệnh tật để làm việc không ngừng cho Dân, cho nước.

Cũng nhờ sự ham muốn đó mà Bác Hồ không ngừng học tập, rèn luyện để có một tài năng tuyệt vời, trở thành “Danh nhân văn hoá thế giới, anh hùng giải phóng dân tộc”.

Kiến thức của Người uyên bác, đạo đức của Bác mênh mông, nên Hồ Chủ tịch đã cầm lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt muôn trùng sóng gió để tới đỉnh vinh quang.

Chính ham muốn tột bậc đó đã tạo nên cuộc đời huyền thoại của Hồ Chủ tịch: “Không một chút riêng tư, toàn bộ trái tim, sức lực của Hồ Chủ tịch đều hiến dâng cho Tổ quốc, nhân dân”.

Bác Hồ không có thì giờ để nghĩ đến riêng mình. Thế giới ngợi ca Hồ Chủ tịch bởi vì cuộc đời của Người “trong như ánh sáng”, không gợn một chút riêng tư. Trái tim của Hồ Chủ tịch chỉ biết đập vì nhân dân vì Tổ quốc.

Trái tim vĩ đại của Bác Hồ bao giời cũng hoà nhịp đập với đồng bào bị áp bức đau khổ. Hàng ngày tôi suy nghĩ về Bác Hồ. Cuộc đời huyền thoại của Bác Hồ là có thật. Bác sống và làm việc như lời Bác nói. Bác Hồ không có gia đình riêng vì toàn bộ trái tim Bác là của đồng bào, Tổ quốc. Do đó, mà người Việt Nam ai cũng nhận là con cháu của Bác Hồ – vì có Bác Hồ ta mới thoát ách nô lệ, được sống tự do.

Noi theo gương Người, chúng ta quyết tâm thực hiện ham muốn của Người, đưa lá cờ bách chiến bách thắng của Người tới đích cuối cùng – Đó là xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản ở nước ta mà cụ thể là thực hiện “Dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh”.

Phạm Mai Khôi

bqllang.gov.vn

Bài học từ người cận vệ Bác Hồ

Ngày 19 – 5 – 1958, Bộ Công an đã trao quyết định đề bạt chức vụ cục phó Cục Cảnh vệ cho người con đất mũi Phan Văn Xoàn nhân sinh nhật của Bác.

Ông có nhiều dịp làm công tác bảo vệ những chuyến đi của Bác Hồ nhưng sau đó hai năm (năm 1960), ông trở thành người trực tiếp bảo vệ Bác Hồ.

Ở tuổi ngoài 80, tướng Phan Văn Xoàn vẫn rắn chắc, giọng nói sang sảng. Trong căn phòng làm việc của ông treo tấm hình Bác Hồ chụp trong lần về thăm một HTX ở Nam Định năm 1959, phía trên là tấm ảnh Bác Hồ với dòng chữ “Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà, miền Nam mong Bác nỗi mong cha”.

Phải tìm hiểu mới nói!

Mùa xuân năm 1960, khoảng tháng ba, anh Phan Văn Xoàn nhận nhiệm vụ trực tiếp bảo vệ Bác Hồ. “Thật quá bất ngờ, tôi vô cùng hãnh diện và sau đó là nỗi lo lắng, hồi hộp. Suốt nhiều đêm tôi không ngủ, trằn trọc suy nghĩ, đây là sự kiện lớn nhất trong đời tôi.

Ngày đầu tôi không tự chủ được và luôn dè dặt, giữ đúng nguyên tắc. Biết được tâm trạng của tôi, Bác gọi đến và bảo: “Bác nhớ miền Nam lắm! Có chú ở đây, ngày nào cũng được thấy miền Nam, vậy là Bác vui lắm rồi”.

Ông còn bồi hồi chia sẻ những bài học mà ông đã học được từ Bác qua những chuyến đi. Ông kể: “Một lần, Bác cùng chúng tôi vượt qua đoạn dốc thật cao. Mọi người mồ hôi vã ra như tắm. Đang đi, Bác hỏi tôi: “Chú có biết đường lên dốc kia đi có được không?”. Tôi suy nghĩ nếu nói là đi được, Bác sẽ tiếp tục đi. Sợ ảnh hưởng sức khỏe Bác, tôi nói: “Thưa Bác, cháu thấy đường khó đi, cây rậm rạp chắc đi không được ạ”. Nhưng Bác lại bảo: “Chú trèo lên dốc xem thế nào rồi xuống đây báo cáo lại cho Bác”. Tôi chạy lên lưng chừng dốc đứng trông lên rồi quay lại đã thấy Bác đứng phía sau, tôi giống như đứa trẻ bị bắt quả tang nói dối, lúng túng. Bác cười bảo: “Chú phải rút kinh nghiệm, nếu chưa điều tra nghiên cứu thì chưa được phát ngôn”.

Những năm giặc Mỹ gây chiến tranh phá hoại miền Bắc, từ một tình huống của anh cảnh vệ vì quá lo lắng cho sự an toàn của Bác đã hốt hoảng mời Bác xuống hầm trú ẩn khi mới nghe dự báo động có máy bay địch… Bác nói: “Khi có địch phải biết bình tĩnh như khi không có địch, khi không có địch phải sẵn sàng như khi có địch”. Câu nói đó trở thành một trong những phương châm của người cảnh vệ trong mọi thời đại.

Truyền lửa cho đời sau

Năm 1992, về hưu khi 68 tuổi nhưng chỉ sau ba năm ông cho ra đời Công ty Long Hải chuyên về nghiệp vụ bảo vệ. ông luôn tâm huyết muốn xây dựng hình ảnh người vệ sĩ toát lên tinh thần nghĩa khí của Lục Vân Tiên. Và ông đã lấy “Nhân – lễ – nghĩa – trí – tín” làm gốc để giáo dục và xây dựng nhân cách người vệ sĩ. Trong giáo án tập luyện, ông còn soạn hẳn một bài giảng về đạo đức người vệ sĩ. “Tôi quan niệm đó là bài học đầu tiên và vô cùng quan trọng cho các em khi chấp nhận bước vào nghề. Bài giảng đạo đức soạn thảo từ khóa huấn luyện cho 44 vệ sĩ đầu tiên vẫn được truyền giữ đến bây giờ, sau 10 năm với hơn 3.000 vệ sĩ” – ông nói.

Lời dạy “có thái độ tốt với đồng bào” của Bác năm xưa dành cho người cận vệ nay được ông truyền lại cho thế hệ các bạn trẻ trong công ty. Ông bảo: “Người vệ sĩ phải là người có trí tuệ luôn tỉnh táo, tôi không có quan điểm khuyến khích các em xử lý tình huống bằng vũ lực. Đạo đức nghề nghiệp của người vệ sĩ ngoài tính trung thực, ngay thẳng, hiểu biết pháp luật là lòng nhân đạo nghĩa”.

Người cận vệ gần chục năm làm việc bên Bác chia sẻ: “Sự vĩ đại của Bác Hồ chúng ta không có gì xa xôi. Trong bất cứ công việc gì Bác cũng giống một con người bình thường, giản dị, chan hòa, không hề có khoảng cách. Đi bên Người chúng ta thấy tự tin hơn, ấm áp hơn như bên cạnh người cha, người ông…”.

Kim Anh

bqllang.gov.vn

Là tướng càng phải học

Năm 1964, kỷ niệm 10 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, Tổng cục Chính trị điện cho tướng Vương Thừa Vũ – lúc đó là Tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn – về Tổng cục nhận bài phát biểu do cơ quan đã viết sẵn để sáng ngày 07 tháng 05 đọc trước cuộc mít tinh.

Ông về sớm nhận bài phát biểu đã đánh máy sẵn trên giấy đen, bằng máy chữ của Pháp cũ, chữ nhỏ không có dấu, chấm phẩy không rõ. Ông đọc trước, tự đánh dấu vào từng chữ, từng câu. Khi mít tinh, đến lượt ông đọc bài phát biểu, nhưng do chữ nhỏ và mờ, ông đọc không rõ một số từ và dừng nghỉ không đúng chỗ. Sau mít tinh, Bác Hồ gọi ông vào nhà sàn. Bác hỏi:

– Từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ đến nay chú đã học thêm văn hóa đến đâu?

Tướng Vương Thừa Vũ trả lời:

– Thưa Bác, cháu đã học xong các lớp do Tổng cục Chính trị tổ chức.

– Bác Hồ lại hỏi:

– Sau lớp tập trung về đơn vị có học thêm nữa không?

Tướng Vũ đáp:

– Dạ thưa Bác, do bận nhiều công việc nên cháu không học nữa.

Bác Hồ trầm ngâm giây lát rồi tháo chiếc đồng hồ ở cổ tay mình đeo vào cổ tay tướng Vũ và ân cần nói:

– Bác cho chiếc đồng hồ này, về đơn vị phải tiếp tục học “Là tướng càng phải học, học suốt đời…”.

Tướng Vương Thừa Vũ rất xúc động, xin hứa làm theo lời Bác dạy.

Về đơn vị, ông yêu cầu sắp xếp công việc trong ngày, trong tuần có giờ học văn hóa. Ông đặt chỉ tiêu phấn đấu và định kỳ thời gian về báo cáo kết quả học tập cho Bác. Phòng văn hóa phân công anh Phạm Tiến Đại – sau này là đại tá ở xưởng phim quân đội-giúp tướng Vũ học Toán; giáo viên khác giúp ông học Lý, Hóa. Nhóm chúng tôi giúp ông học Văn, Sử, Địa. Hằng ngày, đến chiều nhìn đồng hồ của Bác cho, xem giờ, ông điện thoại nhắc chúng tôi đến đúng giờ để ông được học tập.

Những lần đi công tác, ông thường đem kiến thức đã học được ứng dụng vào thực tế như kiểm tra vũ khí khí tài của bộ đội phòng thủ bờ biển, ông hỏi cán bộ tham mưu nhắc lại những công thức hóa học làm gỉ sắt; có lần kiểm tra pháo binh bắn đạn thật, ông hỏi về công thức toán. Cán bộ tham mưu động viên ông cố gắng học lên nữa thì giải thích mới hiểu được. Ông rất chú ý lắng nghe ý kiến của cấp dưới. Ông bảo: “Càng học càng thấy nhiều điều mình chưa biết gì”.

Khi Bộ điều ông về làm Phó Tổng tham mưu trưởng, ông thực hiện nghiêm túc chỉ thị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, hằng tuần một số cán bộ cao cấp và tướng lĩnh của Bộ Tổng tham mưu, Bộ Quốc phòng đều phải học tại chức vào chiều thứ bảy tại ngôi nhà một tầng cạnh hầm chỉ huy của Cục Tác chiến. Chương trình học rất linh hoạt “cần gì học nấy”. Khi Mỹ sử dụng bom La-zer, cán bộ học tập ngay về vũ khí La-zer và điều khiển học; ôn lại các chương trình về vũ khí hóa học và vũ khí nguyên tử; học về tâm lý học và tâm lý học quân sự do giáo viên Đại học Sư phạm và giáo viên trường Trung Cao Chính trị đến trình bày. Riêng về Khoa học quân sự mặc dù đã được đào tạo cơ bản tại một trường sĩ quan ở Côn Minh, sau này lại được học tại Học viện quân sự Nam Kinh-Trung Quốc, nhưng ông vẫn mời cán bộ đến nhà giảng dạy và ông tự nghiên cứu. Điều gì chưa rõ ông tìm cán bộ để hỏi. Tướng Hoàng Minh Thảo ở Tây Nguyên viết cuốn Tổ tiên ta đánh giặc gửi ra Hà Nội tặng ông. Ở trường Trung Cao, tướng Đỗ Trình cũng viết một tập về Tổ tiên ta đánh giặc in Rônêô trên giấy đen gửi biếu tướng Vũ. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ra một số sách về Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung…, ông mời anh Phạm Ngọc Phụng, giáo viên trường Trung Cao quân sự đến trình bày. Tướng Vũ yêu cầu chúng tôi sưu tầm các tập nghị quyết quân sự của Đảng từ năm 1930 đến năm 1960 khoảng 500 trang để ông nghiên cứu. Tướng Trần Độ thấy ông say sưa học tập, nghiên cứu đã tặng ông một tập do chính tay tướng Trần Độ viết, in Rônêô về “Tư tưởng quân sự và học thuyết quân sự Xô Viết”-Đúc kết kinh nghiệm đại chiến Thế giới thứ hai.

Tướng Vũ yêu cầu chúng tôi sưu tầm đủ 06 tập Luận văn quân sự của Ăng – ghen. Hiện nay chúng tôi còn giữ được 05 tập khoảng 1.300 trang tướng Vương Thừa Vũ đã đọc, đánh dấu, gạch dưới những đoạn cần lưu ý.

Qua học tập nghiên cứu, kết hợp kinh nghiệm thực tế của bản thân cùng với kinh nghiệm thực tế của các chiến trường, ông đã viết 11 cuốn sách và còn 119 trang bản thảo viết tay chưa in.

Trước khi ra đi về cõi vĩnh hằng, ông đã gửi lại Bảo tàng Quân đội chiếc đồng hồ của Bác Hồ kính yêu đã tự đeo vào cổ tay ông và ân cần dặn dò ông “Là tướng càng phải học!”. Cả cuộc đời ông đã nghiêm túc thực hiện lời dạy của Bác.

Thiếu tướng TS. Nguyễn Chu Phác

bqllang.gov.vn