Tag Archive | Độc lập

Những kỷ niệm thiêng liêng ngày Độc lập

Lễ đài nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945

(VOV) – 66 năm qua với biết bao “vật đổi sao rời”, nhưng những kỷ niệm sâu sắc về ngày 2/9/1945 mãi mãi ghi đậm trong khối óc và trái tim của những người lính… Thời khắc lịch sử ngày 2/9/1945 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cách nay đã 66 năm. Những người chiến sỹ trẻ nhiệt huyết, hăng hái xung phong, tích cực tham gia vào các hoạt động cách mạng ở Hà Nội năm xưa, nay đã trở thành những người lính già đầu bạc, mắt mờ và đi lại cũng khó khăn. Những người còn lại còn rất ít, có thể đếm trên đầu ngón tay.

Trong câu chuyện với chúng tôi về ngày độc lập đầu tiên ấy, mỗi người lính già đều không giấu nổi niềm tự hào. Có thể thấy ở họ vẫn toát lên tinh thần sục sôi cách mạng, ý chí chiến đấu để thoát khỏi ách áp bức nô lệ mà khi đó, họ đã là những nhân chứng sống, nhân chứng lịch sử của ngày tháng hào hùng không thể nào quên…

Tiếng Bác Hồ rung động mãi trong tim…

Tiếp chúng tôi trong căn phòng rộng hơn 20m2 nằm sâu trong ngõ Vĩnh Tuy, Hà Nội, ông Phạm Thế Cường (tức Phạm Đình Cảnh – tên gọi lúc tham gia hoạt động cách mạng) năm nay đã ngoài 80 tuổi. Tuổi cao khiến việc đi lại của ông Cường trở nên khó khăn, nhưng trí nhớ thì vẫn còn minh mẫn.

Ông bảo, những đồng đội cũ cùng lứa tuổi với ông giờ đã ra đi gần hết, những người còn sống sức khỏe đã yếu, vài người có bệnh tai biến, phải sống cuộc sống thực vật. Rồi cũng có người vừa mới hôm qua còn gọi điện cho ông hẹn hò tham dự buổi hòa nhạc “Còn mãi với thời gian” vào ngày 2/9 tới, giấy mời còn chưa đến tay thì đã ra đi mất rồi…

Đột nhiên ông hạ giọng nói: “Thời gian đối với tôi vô cùng quý giá, nó có thể tính bằng giây, bằng phút. Hôm nay tôi còn có thể nói chuyện được với anh chị, nhưng không biết ngày mai có còn không?”… Ngừng một lát, ông bồi hồi kể lại hồi ức về quãng đời hoạt động của mình cách đây 66 năm…

“Tôi sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, bố mẹ mất sớm phải ở với chị họ. Năm 16 tuổi, tôi tham gia hoạt động trong Đội tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu. Đây là một đơn vị bộ đội địa phương do Xứ ủy và Thành ủy trực tiếp chỉ đạo, mang danh nghĩa như một đoàn thể quần chúng có vũ trang. Thành viên của đội đều là những đoàn viên đã được rèn luyện và thử thách của đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh.

Ông Phạm Thế Cường

Lúc đầu, đội được sử dụng để bảo vệ các cơ quan lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Mặt trận Việt Minh ở cấp Trung ương, Xứ ủ­­­­­y Bắc Kỳ và Thành ủy Hà Nội, bảo vệ Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo cấp cao khác. Đội tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu được giao cử 2 đơn vị (Đơn vị Tô Hiệu và Trần Quốc Toản) đến Quảng trường Ba Đình dự lễ Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945.

Đơn vị Tô Hiệu của ông Cường có vinh dự đặc biệt là đứng ngay ở hàng đầu sát lễ đài, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, như một hàng rào danh dự, trực tiếp bảo vệ lễ đài. Tất cả anh em đều rất xúc động một phần vị sự tin cậy của Đảng, một phần vì lòng náo nức được tận mắt nhìn thấy Bác Hồ kính yêu, người lãnh tụ tối cao của dân tộc Việt Nam. Mọi người rất phấn khởi. Anh em số đông là thanh niên trẻ, sôi nổi”.

Ông Cường nhớ lại, ngày 2/9 cách đây 66 năm: “Hôm ấy, tham dự mít tinh gồm đủ mọi thành phần, mọi tầng lớp xã hội: công nhân, dân quân, thanh niên, phụ nữ, thiếu nhi, các cụ phụ lão, các nhà sư…

Ánh mắt ông Cường rực sáng lên khi nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam: “Ngày hôm đó trời nắng, oi bức, Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất hiện trong trang phục giản dị, áo ka ki cao cổ, chân đi dép cao su trắng. Cả biển người im phăng phắc lắng nghe Bác đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Lời Người điềm đạm, nhưng cương quyết, từng lời nói đi vào tâm khảm người nghe, tràn đầy tình cảm sâu sắc và ý chí kiên quyết”.

Có lẽ với ông Cường, tiếng hô “Xin thề!” của hàng vạn chiến sỹ đồng bào và câu hỏi chân tình “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?” của Bác Hồ trong giờ phút thiêng liêng ấy là điều mãi mãi không thể nào quên. Ông Cường chia sẻ: “Có nhiều người dân vừa khóc vừa hô “Xin thề!” và tôi hiểu rằng, những người như chúng tôi, từ thân phận đói nghèo, nô lệ, nay trở thành người dân của nước Việt Nam độc lập. Đấy là niềm hạnh phúc vô cùng lớn lao mà chỉ những ai đã trải qua mới thấu hiểu”.

“Đó là những ngày tháng gian khổ, hào hùng nhưng cũng hạnh phúc nhất cuộc đời tôi. Những tư tưởng mới trong bản Tuyên ngôn độc lập đã thấm sâu trong tâm trí chúng tôi. Chúng tôi đã thấy giá trị của độc lập, thấy trách nhiệm thiêng liêng phải bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nền độc lập mới giành được…” – Ông Cường nói trong xúc động.

Dòng ký ức hùng tráng làm ông Cường như quên đi thực tại, một hồi lâu ông mới kể tiếp, sau ngày 2/9/1945, ông Cường tiếp tục tham gia tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu. Năm 1986, ông về nghỉ hưu và được phong hàm Đại tá.

Trải qua 41 năm trong quân ngũ, dù có nhiều khó khăn, nhưng niềm tự hào nhất của ông là được chiến đấu cho đến ngày giành độc lập 30/4/1975. Ông Cường có 4 người con, trong đó có người trai đầu đã hy sinh vì Tổ quốc. Và cha ông cũng là liệt sỹ.

Tất cả như vừa mới hôm qua…

Rời nhà ông Cường, chúng tôi tìm gặp bà Lê Thị Thanh, nguyên là Hiệu phó trường Cao đẳng sư phạm mẫu giáo Trung ương. Trong những ngày mùa thu cách mạng năm 1945, bà Thanh tham gia Hội Phụ nữ cứu quốc, rồi trở thành nữ chiến sỹ của Trung đoàn Thủ đô có mặt trong 60 ngày đêm chiến đấu quyết tử bảo vệ Hà Nội.

Cũng giống như ông Cường, bà Thanh hồ hởi khi kể về kỷ niệm của một thời oanh liệt: “Là học sinh yêu nước trường Trung học Nguyễn Huệ – Hà Nội, tôi sớm được giác ngộ cách mạng. Năm 16 tuổi, tôi được phân công làm tình báo, liên lạc viên và đi rải truyền đơn ở nhiều nơi. Có lần, trong khi làm nhiệm vụ, tôi phải đi qua những ngôi mộ của các đồng đội đã hy sinh, tôi sợ lắm! Nhưng, tôi tự trấn an tinh thần bằng cách nghĩ về họ lúc còn sống và khe khẽ cất tiếng hát. Sau đó một thời gian, trong một đợt địch càn quét, tôi đã dũng cảm bắn chết 1 tên giặc Pháp và được tham gia các buổi mít tinh ở Làng Cót, Hà Nội”.

Trong cuộc đời mình, có lẽ giây phút được tham gia và chứng kiến không khí của ngày chiến thắng, ngày độc lập 2/9 cách đây 66 năm là điều hạnh phúc và cảm giác khó tả đối với không chỉ riêng bà Thanh mà với nhiều người. Cảm xúc đó còn lưu lại mãi cho đến tận bây giờ.

Bà Lê Thị Thanh

Bà Thanh hồi tưởng: “Tôi nhớ ngày 2/9/1945, lúc đó quần chúng đi lại rất đông ở các khu phố của Hà Nội, các cửa hàng cửa hiệu phần lớn là đóng cửa và treo cờ hoa mừng ngày độc lập. Những đoàn người rầm rập kéo về Quảng trường Ba Đình: Phụ nữ nội thành mặc áo dài trắng, phụ nữ ngoại thành áo nâu quần đen, chít khăn mỏ quạ. Thanh niên áo sơ mi cộc tay, quần soóc, công nhân quần áo xanh, các đoàn tu sĩ thiên chúa giáo áo đen, các em thiếu nhi áo trắng, quần soóc xanh”.

“Buổi sáng 2/9, tôi cùng các chị em trong đoàn phụ nữ cứu quốc đến từng gia đình vận động họ tham gia cuộc mít tinh vào buổi chiều cùng ngày. Đến 14h, đoàn phụ nữ cứu quốc tiến về Quảng trường Ba Đình rực rỡ cờ hoa với những tiếng hô vang khẩu hiệu “Ủng hộ Việt Minh, ủng hộ Việt Minh!”, “Ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh!”. Đoàn phụ nữ cứu quốc của chúng tôi được đứng vị trí đầu tiên. Khoảng 14h30, bà Dương Thị Thoa (tức Lê Thi) trong đoàn được Ban Tổ chức cử lên kéo cờ độc lập cùng với bà Đàm Thị Loan”.

Cả biển người bỗng im phăng phắc để lắng nghe Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Lần đầu tiên được nhìn thấy Người, tôi đã nhận thấy ở Người sự giản dị và gần gũi” – Bà Thanh hào hứng kể.

Câu chuyện của bà Thanh kể về ngày độc lập như vừa mới đây thôi. 66 năm trôi qua, nay bà Thanh đã bước sang tuổi 81 nhưng tinh thần vẫn vô cùng minh mẫn. Bà phục vụ trong quân ngũ đến khi 53 tuổi mới chuyển sang ngành giáo dục và làm Hiệu phó của trường Cao đẳng Sư phạm Mẫu giáo Trung ương cho tới khi nghỉ hưu. Giờ đây, cứ mỗi dịp tháng 8 hàng năm, bà và các đồng đội cũ lại gặp nhau, ôn lại kỷ niệm xưa. Thi thoảng, ngày độc lập đầu tiên ấy, bà và đồng đội ôn lại như để tiếp thêm ý chí, nghị lực cho thế hệ con cháu…

Câu chuyện của những người lính đã đi qua ngày tháng hào hùng như ông Phạm Thế Cường, bà Lê Thị Thanh cùng biết bao người chiến sỹ khác về ngày 2/9/1945 sẽ không chỉ là dòng sự kiện trong trang sử vàng vẻ vang của dân tộc. Ký ức Cách mạng mùa thu tháng Tám cùng hình ảnh Bác Hồ trong ngày độc lập đầu tiên ấy, chắc hẳn sẽ còn đọng mãi trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam. Đó như một bài học truyền thống, soi rọi cho các thế hệ sau tiếp nối truyền thống của cha anh trên con đường cách mạng, sống, chiến đấu, lao động, học tập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

Theo vov.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tuyên ngôn độc lập “Là hoa quả của sự đổ máu và hy sinh tính mạng”!

Ngày hội non sông trên Quảng trường Ba Đình. Ảnh: Sỹ Minh

Đó là kết luận được tác giả Trần Dân Tiên viết ra trong tác phẩm “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch (Nxb Văn học 1970, trang 110) như một lời nhắn nhủ đến mỗi thế hệ người con Việt Nam luôn biết trân trọng giá trị của độc lập tự do, biết hy sinh lợi ích riêng tư để quyết bảo vệ, giữ gìn độc lập tự do của Tổ quốc trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

Và một điều hiển nhiên là, sẽ yêu quý độc lập tự do hơn, khi chúng ta thấu hiểu sự hy sinh xương máu của bao thế hệ ông cha ta đã ngã xuống qua mấy ngàn năm lịch sử, từ đánh đuổi giặc ngoại xâm phương Bắc đến đánh thắng đế quốc Âu – Mỹ và tên phát xít Nhật ở phương Đông cũng vì để đổi lấy nền độc lập tự do cho dân tộc Việt Nam hôm nay! Một dân tộc nhỏ bé, đất không rộng người không đông như Việt Nam nhưng đã gan góc, kiên cường đến lạ thường, trở thành một điều hiếm thấy trong lịch sử nhân loại từ cổ tới kim.

Trên thực tế, để có bản Tuyên ngôn độc lập tuyên bố với thế giới ngày 2/9/1945 tại Ba Đình (Hà Nội), toàn thể dân tộc ta phải chiến đấu kiên cường suốt 87 năm trời, kể từ khi liên quân Pháp – Tây Ban Nha nổ súng tấn công đánh chiếm bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) ngày 01/9/1858. Ngay từ khi Pháp đánh chiếm Đà Nẵng, các tầng lớp từ nhân dân đến nho sĩ và quan lại đã vùng lên đấu tranh quyết liệt để giữ nền độc lập cho dân tộc.

Trước hết phải kể đến cha con Trương Định – Trương Quyền, rồi Nguyễn Trung Trực, Võ Duy Dương, Nguyễn Hữu Huân, hai anh em Phan Tôn – Phan Liêm…rồi một số quan lại yêu nước như đốc học Phạm Văn Nghị đem 300 quân tình nguyện từ Bắc vào kinh đô Huế xin được lên đường giết giặc, Tổng đốc Nguyễn Tri Phương cùng con trai đã anh dũng hi sinh khi bảo vệ thành Hà Nội năm 1873, đến Tổng đốc Hoàng Diệu kiên cường đánh Pháp giữ thành Hà Nội năm 1882. Nhiều tri thức nho sỹ còn dùng ngòi bút làm vũ khí đánh giặc như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị…

Tiếp đến là các phong trào đấu tranh để đòi lại nền độc lập cuối thế kỷ XIX, trong đó phải kể đến phong trào Cần vương dưới sự chỉ huy của Tôn Thất Thuyết, khởi nghĩa Ba Đình, Hùng Lĩnh, Hương Khê ở Trung kỳ; khởi nghĩa Sông Đà, Bãi Sậy ở Bắc kỳ… diễn ra rầm rộ nhưng cuối cùng trước sau đều kết thúc thất bại. Sang đầu thế kỷ XX, các phong trào yêu nước và cách mạng theo khuynh hướng dân chủ diễn ra rầm rộ, tiêu biểu là cụ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh. Đến lượt Bác Hồ với những hoạt động không biết mệt mỏi cùng với sức mạnh tổng lực của nhân dân theo con đường chủ nghĩa Mác – Lênin, thành lập một chính đảng của giai cấp vô sản, kinh qua 15 năm chiến đấu, cuối cùng đã làm nên thắng lợi Cách mạng tháng Tám năm 1945 vĩ đại, độc lập tự do đã về với Tổ quốc Việt Nam sau 61 năm rơi vào tay giặc (1884 -1945).

Khi cuộc Cách mạng tháng Tám đang tiến đến những thắng lợi cuối cùng thì cũng là lúc Bác Hồ viết ra những dòng đầu tiên trong bản Tuyên ngôn độc lập nhằm khẩn trương tuyên bố với đồng bào và thế giới sự ra đời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Bác Hồ viết Tuyên ngôn trong bối cảnh lịch sử hết sức đặc biệt, ở thời khắc gấp rút của cách mạng, trong thời gian chỉ 3 ngày, tại phòng ăn ở số 48 Hàng Ngang, dưới thân phận bí mật…, nhưng nó được coi là “áng thiên cổ hùng văn” và được đưa vào chương trình dạy học phổ thông từ mấy năm nay.

Ngày 27/7/1945, Thường vụ Trung ương họp, rồi Hội đồng chính phủ lâm thời họp, bàn nhiều việc quan trọng, trong đó có việc tổ chức lễ tuyên bố độc lập vào ngày 2/9/1945, Bác Hồ phụ trách soạn thảo Tuyên ngôn độc lập. Từ ngày 28/8/1945, tức là ngày 21/7/Ất Dậu (1) – khi mà nhân dân ở Hà Tiên và Đồng Nai giành được chính quyền về tay nhân dân, Bác Hồ bắt đầu viết Tuyên ngôn. Bác Hồ viết Tuyên ngôn độc lập tại tầng 2, nhà ông Trịnh Văn Bô, bà Hoàng Thị Minh Hồ ở số 48 phố Hàng Ngang – một gia đình doanh nhân giàu lòng yêu nước.

Suốt 3 ngày, với tâm lực, trí tuệ và bản lĩnh của một vị lãnh tụ cách mạng luôn canh cánh nỗi lòng vì độc lập cho dân tộc, vì hạnh phúc ấm no cho nhân dân; từng trải nghiệm hoạt động cách mạng từ Đông sang Tây với chiếc máy đánh chữ đã sử dụng hồi ở căn cứ địa Việt Bắc, Bác Hồ đã viết xong bản Tuyên ngôn độc lập vào ngày 30/8 – ngày mà vua Bảo Đại đọc chiếu thoái vị trước đông đảo nhân dân tại Ngọ Môn kinh đô Huế và nộp ấn kiếm cho Chính phủ cách mạng lâm thời. Viết xong, Bác mời một số đồng chí để trao đổi, góp ý kiến cho bản dự thảo Tuyên Ngôn độc lập này rồi ngày hôm sau, tức 31/8 Bác bổ sung, chỉnh sửa một số điểm và chỉ còn chờ ngày được tuyên bố.

2 giờ chiều ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nền dân chủ cộng hoà trước đông đảo nhân dân trong và ngoài nước rằng:

“..Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do…Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay,…đứng về phe Đồng minh chống phát xít. Dân tộc ấy phải được tự do,…phải được độc lập!…Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy” (2).

Những câu chữ chứa đựng hồn non sông nước Việt ấy là nỗi lòng hoạt động cách mạng suốt 35 năm của Bác. Chính vì vậy mà ngày 30/8/1945, sau khi đọc bản thảo cho những người công tác thân cận nghe và hỏi ý kiến họ, Bác Hồ đã không dấu nổi sự sung sướng nói rằng: “Trong đời tôi, tôi đã viết nhiều, nhưng đến bây giờ mới viết được một bản Tuyên ngôn như vậy”. Sung sướng vì đây là “kết quả của những bản yêu cầu gửi cho hội nghị Véc-xây mà Bác Hồ đã viết năm 1919 và chương trình Việt Minh Bác viết năm 1941. Hơn nữa, bản Tuyên ngôn độc lập là kết quả của những bản tuyên ngôn khác và tinh hoa của tiền bối như các cụ Thủ Khoa Huân, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu và của nhiều người khác, của bao nhiêu sách báo truyền đơn bí mật viết bằng máu và nước mắt của những nhà yêu nước từ hơn 80 năm trước”. Nó còn “là hoa là quả của bao nhiêu máu đã đổ và bao nhiêu tính mạng đã hy sinh của những người con anh dũng của Việt Nam trong nhà tù, trong trại tập trung, trong những hải đảo xa xôi, trên máy chém, trên chiến trường,… là kết quả của bao nhiêu hy vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn 20 triệu nhân dân Việt Nam”(3).

Bản tuyên ngôn đó có tính dân tộc, lại có tính quốc tế, vừa có ý nghĩa lịch sử lại có ý nghĩa thời đại sâu sắc. Nó có tác động trực tiếp đến sự thắng lợi trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ và công cuộc xây dựng CNXH hiện nay. Giành – giữ và củng cố độc lập dân tộc không chỉ là nhiệm vụ của thời chiến mà còn là nhiệm vụ quan trọng của toàn dân tộc ta ở thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước trên con đường CNXH. Trong bối cảnh thế giới ngày nay, khi mà sự hội nhập để phát triển đã trở thành tất yếu thì vấn đề giữ vững nền độc lập để không bị phụ thuộc vào các nước lớn về nhiều mặt, đặc biệt là kinh tế và văn hoá luôn đặt ra cho chúng ta những thách thức không nhỏ./.
_________________

Chú thích:
(1), Theo Vũ Kỳ, Thư ký Bác Hồ kể chuyện, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2005, tr.17.
(2), Hồ Chí Minh toàn tập, t.3, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2000, tr.555-557.
(3) Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Văn học 1970, tr.110.

Theo Lê Đức Hoàng
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tấm gương Bác Hồ về cần kiệm liêm chính chí công vô tư

Rèn luyện và tu dưỡng đạo đức là vấn đề quan tâm hàng đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo Người: “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc. Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Thiếu một mùa, thì không thành trời, Thiếu một phương, thì không thành đất. Thiếu một đức, thì không thành người”.

Một ngày sau khi nước nhà giành được độc lập (3-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ. Người trình bày sáu nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, trong đó có vấn đề thứ tư cần phải giải quyết lúc bấy giờ là “Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện. Nó đã dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hoá dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác. Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”. Để làm được những điều đó, Người đề nghị “mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH”.

Để giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều tác phẩm viết về vấn đề này. Ngay từ năm 1927, trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”, chương đầu tiên của cuốn sách là Tư cách một người cách mệnh và tiêu chuẩn đầu tiên trong tư cách một người cách mệnh chính là: Cần kiệm. Sau này là các tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (10-1947), “ Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu” (1952). “Đạo đức cách mạng” (12-1958) và các bài báo như “Chớ kiêu ngạo, phải khiêm tốn”, “Cần kiệm liêm chính”, “Cần tẩy sạch bệnh quan liêu mệnh lệnh”, “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sách chủ nghĩa cá nhân”… Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, Người nhắc “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư…” và “Sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân”.

Về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói một cách ngắn gọn, giản dị, cụ thể, dễ hiểu và dễ làm theo. CẦN tức là “Siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai” và nếu đã cần thì việc gì, dù khó khăn mấy, cũng làm được. Người chỉ ra cách thực hiện CẦN sao cho có kết quả. Đó là làm việc phải có kế hoạch, dù công việc gì, to hay nhỏ, lớn hay bé, đều phải sắp xếp khoa học và tính toán cẩn thận. Phân công công việc theo năng lực của từng người, như vậy sẽ không bị mất thời gian và hiệu quả công việc cao. Cần phải đi đôi với chuyên. Nếu không chuyên thì cũng vô ích. Cần không phải là xổi. Phải biết nuôi dưỡng sức khoẻ, tinh thần và lực lượng để làm việc lâu dài. Một người lười biếng sẽ làm chậm và ảnh hưởng đến công việc của rất nhiều người khác. Cần là nâng cao năng suất lao động.

KIỆM là “tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi”. Cần với kiệm đi đối với nhau như hai chân của một người. Cần mà không kiệm “thì làm chừng nào xào chừng ấy”, cũng như một cái thùng không đáy, nước đổ vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không. Kiệm mà không cần, thì không tăng thêm, không phát triển được.

Bác cho rằng cần phải tiết kiệm cả của cải, thời gian và sức lực, bởi của cải nếu hết còn có thể làm ra được, còn thời gian đã qua đi, không bao giờ quay trở lại. Muốn tiết kiệm thời gian, bất kỳ việc gì, nghề cũng phải chăm chỉ, làm nhanh, không nên lần nữa. Không nên ngồi lê, nói chuyện phiếm, làm mất thời giờ của người khác. Theo Bác “Tiết kiệm không phải là bủn xỉn”. Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm. Việc đáng tiêu mà không tiêu, là bủn xỉn, chứ không phải là kiệm”.

Để thực hành tiết kiệm phải kiên quyết với những việc làm xa xỉ, như kéo dài thời gian lao động không cần thiết, làm hao phí vật liệu trong sản xuất, luôn tìm cách ăn ngon, mặc đẹp trong lúc đồng bào còn khó khăn, thiếu thốn, v.v… Phải biết cách tổ chức thì tiết kiệm mới có hiệu quả.

LIÊM là “trong sạch, không tham lam”; “không tham địa vị”. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”.

Liêm phải đi đôi với kiệm, bởi có kiệm mới liêm được. Tham lam là một điều rất xấu hổ. Những hành động bất liêm đều phải dùng pháp luật để trừng trị, dù đó là người nào, giữ cương vị gì, làm nghề gì. “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, là dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ”. Và như cụ Mạnh Tử đã nói “Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy”.

Cần, kiệm, liêm là gốc rễ của chính. CHÍNH “nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn”. Một người phải cần, kiệm, liêm, nhưng còn phải chính mới là người hoàn toàn. Chính đối với mình là không tự cao, tự đại, luôn luôn chịu khó học tập, cầu tiến bộ, phát triển điều hay và sửa chữa khuyết điểm của mình. Đối với người, phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ, không nịnh hót người trên, xem khinh người dưới. Phải để việc nước, việc công lên trên việc tư, việc nhà. Công việc dù to hay nhỏ đều phải cố gắng hoàn thành. Phải luôn luôn nhớ “việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh”.

Về CHÍ CÔNG VÔ TƯ, Bác nói: “Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, với việc”, “Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”, “Phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Người giải thích “…Cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp là ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”.

Vụ án Trần Dụ Châu những năm 50 là một bài học đắt giá cho những cán bộ, đảng viên không thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng, không thực hành cần kiệm liêm chính, dẫn đến hành động tham ô, hủ hoá, suy thoái về đạo đức. Lời nói phải đi đôi với việc làm, nói được, làm được sẽ mang lại thành công, được nhiều người hưởng ứng và làm theo. Nếu chính mình tham ô mà bảo người khác liêm khiết thì không được. Nếu nói răng phải cần kiệm liêm chính, mà bản thân mình lại lười lao động, lười học tập, không hoàn thành những công việc được giao, không tiết kiệm, sống hoang phí, xa hoa, luôn tìm cách tham ô, bòn rút tiền của Nhà nước và nhân dân, tâm không trong sáng… thì sẽ không hiệu quả và không có tính thuyết phục. Thực hành tốt cần kiệm liêm chính, chí công vô tư sẽ rèn luyện, làm cho con người có những phẩm chất tốt, như “Giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”.

Chính nhờ thực hành cần kiệm liêm chính mà trong những năm đầu mới giành được độc lập nhân dân ta đã thu được nhiều thắng lợi, chiến thắng giặc lụt, giặc đói và giặc ngoại xâm. Trong những năm hoà bình xây dựng đất nước, từng bước đời sống nhân dân đã được nâng cao cả về vật chất và tinh thần. Trong đạo đức thì việc nêu gương là vô cùng cần thiết, vì “…Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”.

Bác rất quan tâm đến việc rèn luyện tư cách đạo đức, tác phong cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, từ lời nói đến việc làm. Bản thân Bác là một tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, thương dân, về cần kiệm liêm chính, chí công vô tư để chúng ta học tập và noi theo.

Sinh thời, Bác sống rất giản dị, từ lời nói đến việc làm, phong cách làm việc, từ cách ăn mặc cho đến những sinh hoạt hàng ngày, ngay cả khi Người đã là Chủ tịch nước. Tác phong giản dị ấy mang lại một sự gần gũi, một ấn tượng khó quên với những ai đã được gặp Bác dù chỉ một lần. Bác mặc rất giản dị và tiết kiệm. Quần áo Bác mặc chỉ có vài bộ, may cùng kiểu. Có cái áo của Bác rách, vá đi vá lại, thay cổ mà Bác vẫn không cho đổi. Có lần Bác nói với một đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng một cách chân tình: “Này chú! Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mặc áo vá vai thế này là cái phúc của dân đấy. Đừng bỏ cái phúc ấy đi”.

Đôi dép cao su của Bác, bộ quần áo ka-ki sờn Bác vẫn dùng hàng ngày, khi biết các đồng chí phục vụ định thay, Bác không đồng ý. Chiếc bút chì mòn vẹt Bác dùng để theo dõi tin tức trên báo. Những trang bản thảo được Bác viết ở mặt sau của những tờ tin tham khảo của Việt Nam Thông tấn xã. Chiếc ô tô Bác đi công tác hay đi thăm đồng bào và chiến sĩ trong cả nước cũng chỉ là loại xe bình thường. Bác không dùng chiếc điều hoà nhiệt độ do các đồng chí cán bộ ngoại giao đang công tác ở nước ngoài biếu, mà đề nghị chuyển chiếc điều hoà ấy cho các đồng chí thương bệnh binh đang điều trị tại trại điều dưỡng hoặc quân y viện, mặc dù lúc đó Bác đang ở trong ngôi nhà của người thợ điện (nhà 54) rất nóng. Những bữa ăn thanh đạm của Người “thường là dưa cà, đôi khi có thịt”. Những lần đi thăm các địa phương, Bác thường không báo trước và mang theo cơm nắm để tránh sự đón rước linh đình, gây phiền hà và tốn kém tiền của nhân dân.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trên chiến khu Việt Bắc, Bác ở trong ngôi nhà sàn đơn sơ, giản dị thì đến khi cách mạng thành công, trở về Thủ đô, Bác chỉ ở trong ngôi nhà nhỏ của người thợ điện, sau đó chuyển sang nhà sàn, chứ không ở ngôi nhà to, sang trọng của Toàn quyền Đông Dương. Bác dành ngôi nhà sang trọng đó làm nơi đón tiếp khách của Đảng và Nhà nước ta.

Sự tiết kiệm của Bác còn thể hiện trong việc sử dụng đội ngũ cán bộ. Là Chủ tịch Chủ tịch nước, nhưng những năm tháng sống trên chiến khu Việt Bắc, đi theo Bác chỉ là tổ công tác ít người kiêm nhiều việc. Cách mạng tháng Tám thành công, trở về Thủ đô, các đồng chí phục vụ Bác ở Phủ Chủ tịch cũng rất ít. Những lần đi công tác xa, không cần nhiều cán bộ cùng đi, Bác cho những anh em còn lại về thăm gia đình. Bác dặn “Các chú tranh thủ về thăm nhà, nhưng nhớ đúng hẹn lên đón Bác”. Điều đó thể hiện sự quan tâm của Bác đối với con người và cũng là một hình thức tiết kiệm thời gian.

Những lời nói của Bác về cần kiệm liêm chính, chí công vô tư cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Đặc biệt là tấm gương của Bác về thực hành cần kiệm liêm chính vẫn mãi mãi để cán bộ, đảng viên và nhân dân ta noi theo. Trong kháng chiến cũng như trong xây dựng đất nước đã có nhiều tấm gương tiêu biểu về cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Họ là những người luôn luôn gương mẫu, đi đầu trong lao động sản xuất, chiến đấu và học tập. Tuy nhiên còn có một số không ít cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những cán bộ có chức, có quyền vẫn chưa làm đúng những lời dạy của Bác. Nạn tham ô, tham nhũng, hối lộ, lãng phí, xa xỉ, quan liêu, công thần, cửa quyền… ngày càng nhiều. Các vụ án PMU18 ở Bộ Giao thông vận tải, vụ chạy cô-ta ở Bộ thương mại hay vụ án Mạc Kim Tôn ở Thái Bình, v.v… cho thấy đó là những cán bộ, đảng viên bị sa sút về tư tưởng, chính trị, đạo đức và tha hoá về lối sống. Họ đã làm giảm sút lòng tin, uy tín của Đảng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Thực hành tốt những lời dạy của Bác về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là chúng ta đã góp phần làm giàu cho đất nước, làm tăng lòng tin của nhân dân vào Đảng và chính quyền. Như vậy là chúng ta cũng đã góp phần thực hiện tốt Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí M

___________________

1. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.5; tr631
2. Sdd, t.4, tr.8-9
3. Sdd, t.5, tr.637
4. Sdd, t.5, tr.252
5. Sdd, t.5, tr.642
6. Sdd, t.5, tr.641
7. Sdd, t.5, tr.645
8. Sdd, t.5, tr.641
9. Sdd, t.1, tr.263
10. Chuyện kể của những người giúp việc Bác Hồ, Nxb. Thông tấn H, 2003, tr.115

Theo Tiến Linh
Baotanghochiminh.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chuyện về chiếc áo Bác mặc ngày 2/9/1945

Hiện nay, tại Viện Bảo tàng Cách mạng đang trưng bày một chuyên đề đặc biệt gồm những hiện vật liên quan đến sự kiện lịch sử 2/9/1945: Chiếc Micro Hồ Chủ tịch sử dụng trong Lễ tuyên ngôn độc lập, một số kèn đồng mà đội quân nhạc cử Quốc ca tại Quảng trường Ba Đình… Và đặc biệt là bộ quần áo Bác Hồ đã mặc trong ngày lễ khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Bộ quần áo ấy đã bạc màu, sờn cổ…

Ngày 23 tháng 8 Bác Hồ về đến thôn Gạ (Phú Thượng – Hà Nội ), nghỉ ở đây một ngày. Hôm sau, Người được Trung ương và Thành uỷ bố trí đến ở tại gác hai số nhà 48 Hàng Ngang (là nhà của ông Trịnh Văn Bô – một thương gia yêu nước, cơ sở tin cậy của cách mạng). Về đến Hà Nội, Bác rất gầy yếu, sau những trận ốm và phải đi xa nhưng mọi người đều thấy đôi mắt của Người luôn rực sáng.

Bà Trịnh Văn Bô, nữ chủ nhân của ngôi nhà 48 Hàng Ngang kể lại: Bác từ chiến khu về chỉ có một đôi dép cao su nhãn hiệu con hổ trắng, chiếc quần soóc nâu, chiếc áo sơ mi ngắn tay, một chiếc can và chiếc mũ phớt bạc màu. Đêm đêm, Bác thức rất khuya đánh máy chữ. Chuông đồng hồ điểm 12 tiếng, đèn bàn của Ông cụ mới tắt, nhưng 5 giờ sáng đã thấy Ông cụ tập thể dục ngoài ban công. Hàng ngày lúc 7 giờ, ông Vũ Đình Huỳnh đón Bác ra Bắc Bộ Phủ làm việc đến chiều mới về 48 Hàng Ngang. Buổi tối, Bác thường xuyên bận vì phải hội kiến làm việc với các ông Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt…

Sau này, bà Bô mới biết rằng khi tiếng đánh máy chữ vang lên trong đêm khuya ấy chính là Bác Hồ đang soạn thảo bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Tuy đã 91 tuổi nhưng bà Bô vẫn còn nhớ như in những ngày tháng hào hùng đó. Vào khoảng những ngày 26-27/8/1945 tức là khi đã ấn định Lễ tuyên ngôn độc lập vào 2/9/1945, anh em cán bộ mới sực nhớ ra cần phải trang bị mỗi người một bộ quần áo thật tươm để mặc ra mắt trên lễ đài. Đặc biệt là bộ trang phục của Bác. Đa số anh em từ chiến khu trở về và kể cả Bác cũng đều mặc những đồ đã cũ sờn hoặc chắp vá tạm bợ. Bà Bô bồi hồi nhớ lại: “Lúc bấy giờ trong tủ của nhà chúng tôi có rất nhiều vải (vì là nhà buôn vải vóc), tôi lấy ra mấy súc kaki để may cho anh em. Ngoài ra, trong tủ còn có hàng chục bộ quần áo khá sang trọng may sẵn mà ông Bô chưa dùng nên tôi lấy ra cho các anh ấy mặc tạm trước, anh nào mặc vừa bộ nào thì dùng bộ nấy, ông Phạm Văn Đồng, rồi ông Võ Nguyên Giáp… nhưng tầm người như Ông Cụ không hợp bộ nào cả”. Gần sát ngày lễ, ông bà Trịnh Văn Bô đã chọn riêng loại vải kaki cốtlê của Anh, sau đó cùng ông Vũ Đình Huỳnh – nguyên là thư ký lễ tân mang đến xin ý kiến Bác.
Bác nói:

– Tôi mặc xuềnh xoàng thôi. Không len, dạ đắt tiền làm gì, cốt tươm tất giản dị, không phải cà vạt cổ cồn là tốt…

– Ông Vũ Đình Huỳnh chợt nhớ tới một bức ảnh của Stalin nên ướm thử với Bác may theo kiểu áo đó, cũng không có cà vạt mà oai vệ.

Bác mỉm cười nói: “Nhưng mình có phải là Stalin đâu”.

Bác luôn học hỏi tinh hoa nhưng không chấp nhận bắt chước khuôn mẫu sẵn. Cuối cùng ông Vũ Đình Huỳnh mời ông Phú Thịnh chủ hiệu may có tiếng ở phố Hàng Quạt tới và trình bày: Tôi có người nhà là cụ lý ở quê ra thăm Thủ đô, tôi muốn cắt vài bộ đồ cho cụ, nhờ anh cắt may kiểu áo bốn túi, mặc kín cổ khi có việc quan trọng, lúc thường nhật thì mở khuy áo thoải mái, đi giày đi dép đều hợp với cụ lý nhà tôi. Ông Phú Thịnh ngẫm nghĩ một lúc dè dặt nói: “Tôi đã mường tượng ra kiểu áo ấy rồi. Chỉ cần tính toán cái ve áo nhọn hay tù?”. Ông Phú Thịnh ngắm nghía tấm ảnh Stalin rồi nói: “Kiểu tướng soái này oách lắm nhưng không hợp với các cụ người nhà mình. Thôi được tôi sẽ lo liệu để có bộ áo hợp ý với cụ lý”.

Hai hôm sau, ông Phú Thịnh đem hai bộ quần áo đến, cười ý nhị, nói: “Tôi trộm nghĩ cụ lý này không phải là lý trưởng mà có lẽ là một cụ lý…khác thường”. Ông Vũ Đình Huỳnh cười đáp lại tình cảm tinh tế của ông thợ may. Hôm sau, lựa lúc Bác tập thể dục tắm sáng xong, ông Vũ Đình Huỳnh đem bộ quần áo mới vào. Bác ướm thử, ngắm kỹ cổ áo và mỉm cười: “Được, thế này là hợp với mình”. Ông Vũ Đình Huỳnh lúc đó rất vui và thầm nghĩ, chỉ trong vài ngày nữa, ông Phú Thịnh sẽ vô cùng sung sướng và ngạc nhiên, vinh dự khi “cụ lý” mà mình may quần áo cho lại chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh – người đọc Tuyên ngôn độc lập tại Vườn hoa Ba Đình khai sinh ra một quốc gia độc lập – nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà.

Theo Vietbao.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Khát vọng vươn tới

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, ngày 2.9.1945. Ảnh: Tư Liệu

Cuộc đổi thay vĩ đại nhất trong lịch sử – cuộc đổi thay vận mệnh đối với cả một dân tộc cũng như cuộc đổi đời đối với mỗi con người – đã thực sự bắt đầu từ ngày 2.9.1945. Vào đầu thế kỷ 21, một cuộc kiến tạo vĩ đại chưa từng có đang được các thế hệ con Lạc cháu Hồng trong thời đại Hồ Chí Minh thực hiện trên dải đất hình chữ S đã thấm mồ hôi, nước mắt và máu của biết bao thế hệ tiền nhân.

Ở mọi thời đại, trong mọi giai đoạn lịch sử, bài học dân là gốc luôn là điều cốt tử! Hôm nay, khi đất nước đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, trước những dòng xoáy thế sự dữ dội, nhạy cảm và vô cùng phức tạp, bài học này vẫn đang nóng bỏng tính thời sự.

Điều gì đã giúp cho nhà nước ta vượt qua tất cả những thử thách cam go, tình thế hiểm nghèo “ngàn cân treo sợi tóc” trong các cuộc chiến tranh cứu nước trước đây cũng như ở thời điểm “chuyển dời dâu bể” sau khi chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Việt Nam phải tự đứng vững và tìm lấy con đường đi tới CNXH của mình? Nhìn lại chặng đường 25 năm đổi mới, chúng ta càng thấy rõ bản lĩnh, trí tuệ, khả năng vượt khó của toàn dân tộc dưới sự chèo lái của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chưa bao giờ thế và lực của đất nước ta mạnh như ngày nay. Đó thực sự là một kỳ tích.

Năm 2010, với GDP vượt mốc 100 tỉ USD, thu nhập bình quân tính theo đầu người đạt 1.168USD, chúng ta đã thoát khỏi tình trạng nước nghèo, thu nhập thấp. Trong khi thế giới chưa thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ, các nguồn vốn đang được cân nhắc rất thận trọng, kỹ lưỡng, nhưng Việt Nam vẫn là một điểm đến đáng tin cậy của các nhà đầu tư.

Những thành tựu đó là minh chứng hùng hồn cho sự năng cảm và tài thao lược của Đảng ta trong một thế giới đang biến động khôn lường, một thế giới vừa hợp tác vừa cạnh tranh gay gắt mà ở đó cuộc đuổi bắt lợi ích quốc gia và dân tộc đang diễn ra tinh vi và quyết liệt chưa từng có.

Từ nhiều năm nay, phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng sống luôn là bài toán khó giải đối với nhiều quốc gia. Đây đó trên mọi vùng miền của đất nước và ngay giữa Thủ đô, vẫn còn không ít người dân phải bươn chải khuya sớm vì miếng cơm manh áo, phải vật lộn để mưu sinh; một số còn phải chịu cảnh đời ngang trái, bất công.

Sức vóc nền kinh tế và tiềm lực quốc gia còn có hạn, nhưng chúng ta đã nỗ lực lớn để giải quyết hợp lý vấn đề tăng trưởng với bảo đảm an sinh xã hội và Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong những quốc gia thành công nhất về xóa đói giảm nghèo. Những biến động dữ dội trong đời sống của nhiều quốc gia hiện nay càng cho thấy rõ nghèo đói, bất công xã hội, phân hóa giàu – nghèo đang lộ diện là những vấn đề xã hội ngày càng gay gắt, nếu không có một đường lối chiến lược rõ ràng để giải quyết cơ bản và bền vững thì chúng sẽ không những làm lu mờ thành quả phát triển kinh tế mà còn tích tụ trong lòng xã hội những mâu thuẫn, xung khắc không thể xem thường.

Bây giờ, khi tốc độ hội nhập của đất nước ngày càng tăng lên thì toàn thể hệ thống cần được nâng cấp lên trình độ mới. Chúng ta đã xác lập cơ chế đúng đắn Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, nhưng việc vận hành cơ chế này sao cho khoa học, nhịp nhàng, thông suốt và có hiệu quả là cả tổng thể một loạt vấn đề rất hệ trọng vì nó liên quan, tác động trực tiếp đến những khía cạnh nhạy cảm, phức tạp và căn cốt nhất của thể chế, của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội.

Chúng ta đã và đang đấu tranh quyết liệt, nhưng tệ quan liêu, tham nhũng, thói đặc quyền đặc lợi, vô trách nhiệm, vô cảm, sự tù đọng trong tư duy và trì trệ trong hành động… vẫn đang lộ diện như một nguy cơ lớn kìm hãm công cuộc đổi mới. Khi đất nước phải đương đầu với những thử thách mới, trận chiến chống tham nhũng, tiêu cực càng nóng bỏng.

Đó trước hết là một cuộc đấu tranh không khoan nhượng trong nội bộ Đảng. Cuộc đấu tranh này thử thách bản lĩnh của một đảng cầm quyền. Cuộc kiến tạo lớn sẽ không thể tiến bước nếu bộ máy của ta quá cồng kềnh, đủng đỉnh, nếu chúng ta không loại bỏ được những kẻ tham ô hám lợi, những kẻ vô trách nhiệm, vô cảm trước nỗi bất hạnh và đau khổ của người dân.

Trong ngày Tết độc lập, con tim ta trào dâng xúc động khi nghe giọng Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử. Đó là lời hịch muôn đời vang vọng núi sông. Năm 2011 này tiếp tục là một năm thử thách hết sức khắc nghiệt bản lĩnh và khả năng vượt khó của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta.

Ở những thời điểm thử thách nhất, chúng ta càng phải thấm nhuần sâu sắc hơn lời dạy của Người: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết! Thành công, thành công, đại thành công! Trong đại dương thế giới đầy biến động, vẻ đẹp Việt Nam, sức cuốn hút Việt Nam, sức mạnh Việt Nam ẩn chứa và tích hợp trong sự ổn định chính trị – xã hội, bình yên dưới mọi mái nhà. Bình yên trong lòng người! Là con dân nước Việt, đừng ai làm điều gì là tổn hại đến sự bình yên và khối đại đoàn kết quý giá đó./.

Theo laodong.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Cảm nhận của một người Mỹ về ngày lễ độc lập của Việt Nam

Năm 1975 đã kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Trong khi người Việt Nam hân hoan với thắng lợi vừa giành được, thì ở bên kia bờ đại dương có những người Mỹ đang cố gắng trả lời câu hỏi là tại sao Mỹ thua Việt Nam. Năm 1980, Archimesdes L.A. Patti đã xuất bản cuốn sách “Why Việt Nam” (Tại sao Việt Nam) để góp phần trả lời câu hỏi đó. Tiến sĩ Trần Viết Nghĩa (Khoa Lịch sử, ĐHQG Hà Nội) tóm lược cảm nghĩ của sĩ quan tình báo Mỹ về ngày lễ độc lập trong cuốn sách này.

Patti nguyên là một sĩ quan tình báo OSS ở Trung Quốc trong Thế chiến hai. Trong năm 1945, Patti từng gặp gỡ Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số nhà lãnh đạo cao cấp khác của Việt Nam, và là một trong số rất ít người Mỹ đã tham dự buổi lễ độc lập của Việt Nam tại Quảng trường Ba Đình.

Ngày 22.8.1945, Patti đáp máy bay từ Côn Minh đi Hà Nội để giải quyết vấn đề tù binh ngoại quốc ở Đông Dương. Trên đường từ sân bay Gia Lâm về Hà Nội, Patti thấy có nhiều biểu ngữ và lá cờ đỏ sao vàng của Việt Minh tràn ngập phố xá. Hà Nội thanh bình sau ngày Việt Minh giành được chính quyền.

Trưa 29.8.1945, Hồ Chủ tịch cho xe đón Patti đến phố Hàng Ngang gặp Người. Người thông báo cho Patti về phiên họp đầu tiên của Chính phủ mới ở Bắc Bộ phủ, quyết định lấy ngày mùng 2 tháng 9 là ngày độc lập. Người sẽ công bố nền độc lập dân tộc, ra mắt các thành viên Chính phủ với nhân dân và chương trình hành động của Chính phủ cho mọi người đều biết.

Điều đặc biệt là Patti được Hồ Chủ tịch cho xem bản thảo Tuyên ngôn độc lập. Patti rất ngạc nhiên khi trong mấy câu đầu nhắc đến một số danh từ rất quen thuộc và giống với Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776. Patti hỏi Người có ý định sử dụng câu đó không. Người cười nhã nhặn và hỏi lại Patti một cách dịu dàng: “Tôi không thể dùng được câu ấy à?”. Patti cảm thấy ngượng ngập và lúng túng khi trả lời: “Tất nhiên, tại sao không”.

Sau khi yêu cầu người phiên dịch đọc lại đoạn đầu một lần nữa, Patti nhớ lại thì thấy các danh từ đã được chuyển vị và nhận xét các chữ “tự do” và “quyền sống” đã bị thay đổi. Người liền nói: “Đúng, không thể có tự do mà không có quyền sống, cũng như không thể có hạnh phúc mà không có tự do”.

Sáng ngày thứ bảy – mùng 1 tháng 9, Patti đi một vòng quanh Hà Nội và nhận thấy: “Ai cũng bận rộn, hớn hở và vội vàng, nhưng không ai tỏ ra hấp tấp. Trước cửa nhà, trên ban công, ngoài cổng ra vào đầy các loại cờ đỏ, hoa, đèn. Nhiều toán người hăm hở giăng lên ngang trên đường phố, những khẩu hiệu hô hào “Độc lập và tự do cho Việt Nam”, và hoan nghênh Đồng Minh”. Chiều cùng ngày, Patti được Hồ Chủ tịch mời đến ăn cơm. Hồ Chủ tịch mở đầu câu chuyện bằng việc Patti đi thăm phố phường Hà Nội có thỏa mãn về những điều được nghe và thấy không. Patti trả lời rằng ông ấn tượng mạnh mẽ đối với công tác chuẩn bị buổi lễ và sự cởi mở của những người dân mà ông đã bắt chuyện.

Ông Hoàng Minh Giám phấn khởi thông báo cho Patti biết dân chúng đã tự bỏ tiền ra để sửa sang, làm sạch và trang trí thành phố phục vụ ngày lễ. Patti hỏi trong ngày lễ độc lập có diễu binh không. Ông Võ Nguyên Giáp trả lời cũng muốn có một số đội diễu binh, nhưng bộ đội vừa mới ở rừng về nên không có đủ thời gian diễn tập, vì vậy những đơn vị chỉ sắp hàng đứng tại chỗ. Sau bữa cơm thân mật, Hồ Chủ tịch mời Patti uống cà phê. Người ôn lại những sự cộng tác của Người với người Mỹ tại Trung Quốc và rừng núi Bắc Kỳ, bày tỏ mong muốn người Mỹ ủng hộ nền độc lập của nước Việt Nam.

Đến buổi trưa, nhóm của Patti đi đến Quảng trường Ba Đình. Nhóm chọn một địa điểm thuận lợi ngay trước lễ đài. Đội danh dự trong trang phục mũ bấc, đồng phục kaki, quần soóc, tất cao và vũ khí mới. Đây là lực lượng được huấn luyện, trang bị và có kỷ luật nhất. Ngoài ra, còn có các đội dân quân, tự vệ với nhiều loại vũ khí khác nhau.

Patti cảm thấy không khí oi bức, nhưng đôi lúc có vài cơn gió nhẹ làm phấp phới cả biển cờ trên quảng trường. Bất chợt, có tiếng còi và hiệu lệnh quân sự phát ra từ các đội hình. Đội danh dự và các đơn vị bộ đội đứng thẳng. Mấy phút sau nổi lên tiếng hô “Bồng súng chào”. Trên lễ đài, mọi người đều mặc đồ trắng, thắt cavát và đầu để trần, trừ Hồ Chủ tịch mặc đồ kaki màu sẫm.

Sau khi nghe Hồ Chủ tịch đọc Tuyên ngôn độc lập, Patti khó nắm bắt được nội dung của Tuyên ngôn, dù đã có người phiên dịch, nhưng cảm nhận được “cứ nghe giọng nói của ông Hồ, bình tĩnh và rõ ràng, ấm cúng và thân mật, và nghe thấy được quần chúng trả lời thì chúng tôi không còn nghi ngờ gì nữa là ông đã thấu tới tận quần chúng”.

Sau ngày độc lập, Patti còn ở lại Việt Nam thêm một thời gian nữa, chứng kiến thêm nhiều khó khăn mới của nước Việt Nam, được tiếp kiến thêm với Hồ Chủ tịch và một số nhà lãnh đạo khác của Việt Nam. Trước khi về Mỹ, Patti được Hồ Chủ tịch mời dự tiệc chia tay.

Trong buổi chia tay, ông Võ Nguyên Giáp đã đánh giá cao sự giúp đỡ của “Người Mỹ ở Côn Minh” – trong đó có Patti – đối với Việt Nam trước khởi nghĩa. Ông chúc Patti lên đường may mắn và tỏ ý mong rằng Việt Nam sẽ sớm có một người bạn ở Washington. Điều này làm cho Patti ngạc nhiên và xúc động, vì trước đó ông Giáp không bao giờ để lộ ra bất cứ một tình cảm nào đối với Mỹ và cá nhân Patti. Hồ Chủ tịch chia sẻ với Patti sự thất vọng khi Mỹ từ chống thực dân lại đang trang bị và tiếp tế cho quân Pháp tái xâm lược Đông Dương. Người nói với Patti: “Điều đó, họ sẽ phải trả bằng một giá đắt”./.

Theo TS Trần Viết Nghĩa
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Từ Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đến Nhà nước pháp quyền Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

(TCTG) – Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đến việc xây dựng Nhà nước dân chủ mới. Theo Người, Nhà nước phải phát huy dân chủ đến cao độ nhưng không thể có dân chủ ngoài pháp luật, pháp luật là bà đỡ của dân chủ.

Đích đến của bất cứ một cuộc cách mạng nào cũng là lật đổ chính quyền của giai cấp thống trị, thiết lập chính quyền mới tiến bộ hơn của giai cấp bị trị. Với cách mạng Việt Nam, Chính cương vắn tắt của Đảng Cộng sản năm 1930 đưa ra mô hình “Dựng ra Chính phủ công nông binh”(1). Tháng 5/1941, Hội nghị lần thứ Tám BCHTW chủ trương: “không nên nói công nông liên hiệp và lập chính quyền Xô viết mà phải nói toàn thể nhân dân liên hợp và lập Chính phủ Dân chủ cộng hòa”(2). Tháng 8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào đi đến quyết định lịch sử: Phát động tổng khởi nghĩa, thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam. Ủy ban này làm chức năng của Chính phủ lâm thời ngay sau Cách mạng tháng Tám thắng lợi. Đây là quyết định rất sáng suốt và kịp thời trong tình hình đất nước và thế giới có nhiều sự kiện đang diễn ra hết sức mau lẹ.

Và như lịch sử từng trân trọng ghi lại, chiều ngày 2/9/1945, tại Vườn hoa Ba Đình – Hà Nội (Quảng trường Ba Đình – Hà Nội), các thành viên của Chính phủ lâm thời có mặt trên lễ đài. Thành phần Chính phủ bao gồm đại biểu các tầng lớp nhân dân, gần một nửa số bộ trưởng là nhân sĩ, trí thức không đảng phái; một số cán bộ Đảng và Việt minh đã tự nguyện rút khỏi danh sách Chính phủ. Chủ tịch Hồ chí Minh, thay mặt Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khẳng định: “Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ cộng hòa”. Người trịnh trọng tuyên bố với thế giới “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Đất nước đứng trước vô vàn khó khăn, có những khó khăn hết sức nghiêm trọng, ta phải cùng lúc đối phó với cả thù trong lẫn giặc ngoài. Ngày 3/9/1945, phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày sáu vấn đề cấp bách nhất cần tập trung giải quyết để đưa nước nhà ra khỏi hiểm nguy: Một là, giải quyết nạn đói; hai là, thanh toán nạn dốt; ba là, tổ chức tổng tuyển cử; bốn là, giáo dục lại nhân dân theo tinh thần cần, kiệm, liêm chính; năm là bỏ ngay các thứ thuế bóc lột vô nhân đạo; sáu là, thực hiện tự do tín ngưỡng, lương giáo đoàn kết.

Dưới sự điều hành của Chính phủ lâm thời, cả nước hăng hái hưởng ứng phong trào diệt “giặc đói” và “giặc dốt”, thu được kết quả tốt đẹp. Nhân dân cả nước, nhất là ở các thành phố, còn hăng hái đóng góp vào Quỹ độc lập, Quỹ đảm phụ quốc phòng để xây dựng nền tài chính quốc gia và ngân sách quốc phòng.

Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước ta được tổ chức trên cả nước ngày 6/1/1946, bất chấp bom đạn của thực dân Pháp ở miền Nam và những hành động phá hoại của bọn phản động ở miền Bắc, có 333 đại biểu được bầu. Kỳ họp đầu tiên của Quốc hội ngày 2/3/1946 chấp nhận thêm 70 đại biểu không qua bầu cử, nhất trí đề nghị Người thành lập Chính phủ mới và Người đã đệ trình Quốc hội chuẩn y danh sách thành viên Chính phủ liên hiệp kháng chiến.
Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ngay từ khi còn non trẻ đã thể hiện là một Nhà nước kiểu mới trong lịch sử dân tộc, có thành phần tham gia rộng rãi nhất của các giai tầng xã hội và khác hẳn với nền cộng hòa dân chủ của các nước tư bản.

Nếu vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền thì vấn đề cơ bản của một chính quyền là ở chỗ nó thuộc về ai, phục vụ cho quyền lợi của ai. Hiến pháp năm 1946 khẳng định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả các quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”, có nghĩa Nhà nước là của dân. Nhà nước do dân lựa chọn, bầu ra những đại biểu của mình, do dân ủng hộ, giúp đỡ, đóng thuế để Nhà nước hoạt động, lại do dân phê bình, xây dựng, giúp đỡ, đó là Nhà nước do dân. Nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, không có đặc quyền đặc lợi, thực sự trong sạch, cần kiệm, liêm chính, đó là Nhà nước vì dân(3).

Với tính chất ưu việt như vậy, xuyên suốt ba mươi năm chiến tranh ác liệt, gian khổ, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã huy động được sức mạnh tổng hợp to lớn của toàn dân để tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954) và cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954-1975), vừa kháng chiến vừa kiến quốc, từ năm 1954 đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng CNXH ở miền Bắc và tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam có uy tín với nhân dân trong nước và nhân dân thế giới, giành nhiều thắng lợi trên mặt trận ngoại giao.

Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội nhằm thực hiện mục tiêu chung của toàn thể nhân dân và dân tộc. Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng đường lối, chính sách và các nghị quyết của Đảng. Nhưng do tính chất của một thời kỳ lịch sử, đặc biệt trước năm 1975 và một số năm sau đó, Đảng phải áp dụng những phương thức lãnh đạo đặc biệt, với các biện pháp chính trị cứng rắn, quyết đoán. Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng các nguyên tắc lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối và toàn diện, nhằm thống nhất cao độ sự lãnh đạo chính trị và thực hành chính trị. Đặc biệt lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước thể hiện ở sự hòa quyện, không phân biệt rõ chức năng Đảng lãnh đạo Nhà nước và chức năng quản lý của Nhà nước đối với xã hội, Đảng với Nhà nước dường như là một. Đảng đóng vai trò tổng chỉ huy và tổ chức toàn bộ công cuộc kháng chiến và kiến quốc. Do đó, đường lối, chủ trương của Đảng không dừng lại ở các nguyên tắc chung mà thường rất cụ thể, bao quát cả các chức năng của Nhà nước (4).

Đến Hiến pháp năm 1992, mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước có những thay đổi quan trọng. Hiến pháp quy định: “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Quy định này hoàn toàn phù hợp với nội dung Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH của Đảng và thực tế Việt Nam. Cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ được đặt ra trong quá trình đổi mới hệ thống chính trị. Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đảng không quyết định trực tiếp mọi công việc của Nhà nước và Đảng không phải là cấp trên của Nhà nước. Quyền lực Nhà nước được tập trung. Tình trạng Đảng bao biện làm thay cơ quan Nhà nước, can thiệp vào chức năng của cơ quan Nhà nước, dùng phương pháp mệnh lệnh, áp đặt đối với cơ quan Nhà nước được khắc phục. Thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền” được Đại hội lần thứ VIII của Đảng năm 1996 nhắc lại là: “Tăng cường pháp chế XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức”. Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của Đảng đã khẳng định đó là một tất yếu lịch sử và là tinh hoa, sản phẩm trí tuệ của loài người, của nền văn minh nhân loại.

Chỉ nói từ đầu thế kỷ XXI đến nay, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam không ngừng được củng cố, phát huy hiệu lực quản lý, điều hành, tuy còn một số mặt cần đổi mới mạnh mẽ hơn nữa. Thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2001 – 2010, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, nhân dân ta “đạt được những thành tựu to lớn, rất quan trọng, nhiều mục tiêu chủ yếu của Chiến lược đã được thực hiện. Mười năm qua là giai đoạn đất nước ta đã tranh thủ thời cơ, thuận lợi, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, nhất là tác động tiêu cực của hai cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế khu vực và toàn cầu, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế… Các lĩnh vực văn hóa, xã hội đạt thành tựu quan trọng trên nhiều mặt, chính trị-xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường. Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh”(5).

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, yêu cầu dân chủ hóa xã hội và sự tham gia tích cực của đất nước vào quá trình toàn cầu hóa đặt ra yêu cầu phải nâng cao hơn nữa năng lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước, cải cách mạnh mẽ nền hành chính quốc gia, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Trong văn kiện Đại hội lần thứ XI, Đảng ta đã xác định đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN với 4 nội dung: Nâng cao nhận thức về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN; Tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy Nhà nước; Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới; Tích cực thực hành tiết kiệm, phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí.

Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đến việc xây dựng Nhà nước dân chủ mới. Theo Người, Nhà nước phải phát huy dân chủ đến cao độ. Nhưng không thể có dân chủ ngoài pháp luật, pháp luật là bà đỡ của dân chủ. Mọi quyền dân chủ của người dân phải được thể chế hóa bằng hiến pháp và pháp luật, ngược lại hệ thống pháp luật phải bảo đảm cho quyền tự do, dân chủ của người dân được tôn trọng. Để xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hiệu quả, Người nhấn mạnh cần tăng cường pháp luật đi đôi với đẩy mạnh giáo dục đạo đức và kiên quyết chống ba thứ giặc nội xâm “là tham ô, lãng phí, quan liêu”(6). Đó là những lời dạy vô cùng quý giá để cán bộ quản lý Nhà nước và cán bộ nói chung học tập, làm theo, xứng đáng vừa là người lãnh đạo vừa là công bộc của nhân dân và đó cũng chính là thiết thực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh./.
__________________________

(1) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, H, 2002, tr.1.
(2) – ĐCSVN: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb.CTQG, H, 2000, t.7, tr.27.
(3), (6) – Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb.CTQG, H, 2009, tr.263, 281.
(4) – Đảng và các tổ chức chính trị xã hội trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay (Nguyễn Hữu Đổng chủ biên), Nxb.CTQG, H, 2009, tr.118, 119.
(5) – Báo cáo Chính trị trình bày tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, 1-2011.

Theo Tuyengiao.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Học và hành theo tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá cầm quyền

Nói văn hóa cầm quyền là nói tới cái đẹp, cái giá trị của Đảng cầm quyền, của Chính phủ và cá nhân nhà lãnh đạo, quản lý. Văn hóa cầm quyền là nguồn lực nội sinh vô tận, to lớn của Đảng và hệ thống chính trị, chìa khóa sự phát triển của Đảng, Nhà nước, thấm sâu và tạo dấu ấn khai sáng trong quá trình phát triển của Đảng, Nhà nước.

Hồ Chí Minh nói “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Trong Di chúc, Người lại viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng”… Đó là tư tưởng, tinh thần Hồ Chí Minh về văn hóa cầm quyền. Văn hóa cầm quyền bàn tới ở đây là nói tới văn hóa lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền. Đương nhiên, khi nói tới đảng cầm quyền thì không thể không nói tới chính quyền nhà nước mà trực tiếp là Chính phủ, cơ quan hành pháp với ý nghĩa “kéo dài” sự lãnh đạo của Đảng. Theo tinh thần của Lê-nin, khi Đảng trở thành Đảng cầm quyền thì văn hóa của đảng phải tương đối khác so với khi Đảng chưa cầm quyền. Văn hóa cầm quyền là biến lý luận thành thực tiễn, thông qua tổ chức, xây dựng, thể hiện mối quan hệ giữa Đảng với các thành tố trong hệ thống chính trị; đạo đức của đảng cầm quyền; văn hóa ứng xử của Đảng, Chính phủ với nhân dân và văn hóa dùng người.

1. Văn hóa cầm quyền – nguồn lực nội sinh vô tận, chìa khóa sự phát triển của Đảng

Nói văn hóa cầm quyền là nói tới cái đẹp, cái giá trị của Đảng cầm quyền, của Chính phủ và cá nhân nhà lãnh đạo, quản lý. Văn hóa cầm quyền là nguồn lực nội sinh vô tận, to lớn của Đảng và hệ thống chính trị, chìa khóa sự phát triển của Đảng, nhà nước, thấm sâu và tạo dấu ấn khai sáng trong quá trình phát triển của Đảng, nhà nước. Hồ Chí Minh nói “Văn hóa không thể đứng ngoài mà đứng trong kinh tế và chính trị”, điều đó có nghĩa là tổ chức chính trị, hoạt động chính trị, đảng chính trị và cá nhân nhà chính trị phải thấm nhuần văn hóa. Năng lực chính trị thực chất và cốt tủy là năng lực văn hóa.

Văn hóa cầm quyền thuộc dòng văn hóa chính trị. Trong những năm gần đây, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, trong khi khẳng định sự phát triển của xã hội dựa trên thế của “kiềng ba chân”: Gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt và phát triển văn hóa – nền tảng tinh thần của xã hội”, Đảng ta “đặc biệt coi trọng nâng cao văn hóa lãnh đạo, quản lý”(1), “Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền”(2). Nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng, năng lực quản lý của nhà nước thực chất sâu xa và cốt tủy là nâng cao văn hóa cầm quyền của Đảng và văn hóa quản lý của nhà nước; đồng thời nâng cao văn hóa lãnh đạo, quản lý của từng cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.

Trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta kiên trì mục tiêu vì dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Muốn thực hiện được mục tiêu đó, trước hết Đảng phải đề ra được một cương lĩnh cách mạng xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân, phù hợp với xu thế vận động của thời đại. Điểm chung của thực tiễn Việt Nam từ xưa đến nay là văn hóa, lịch sử, con người Việt Nam. Đó là một thực tiễn hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước với sự đắp bồi nhiều giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam. Những giá trị đó là nguồn lực vô tận để nhân dân Việt Nam thực hiện khát vọng ngàn đời của mình là độc lập dân tộc và sống đời hạnh phúc. Việt Nam ngày nay đang trong quá trình hội nhập vào thế giới toàn cầu hóa với bao điều mới mẻ của cách mạng khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức, kinh tế thị trường, biến đổi môi trường… Việt Nam phải phát triển bền vững trong quỹ đạo và xu thế của thế giới là hòa bình, hợp tác, dân chủ và đa dạng văn hóa. Xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, sải bước cùng thời đại là một tiêu chí của văn hóa cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thước đo văn hóa cầm quyền của Đảng là lòng dân. Đảng cầm quyền nhưng dân là chủ. Đảng cầm quyền để dân làm chủ. Đảng cầm quyền nhưng dân là gốc. Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân; trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Bài học quý giá Hồ Chí Minh để lại cho Đảng ta ngày nay là: “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”(3).

Trong đường lối lãnh đạo và cương lĩnh của Đảng, tức là về mặt lý thuyết, Đảng đã khẳng định rõ ràng, dứt khoát tất cả mọi hoạt động của Đảng là vì hạnh phúc của nhân dân. Nhưng cái khó nhất, cũng là văn hóa cao nhất của Đảng cầm quyền lại không phải nằm ở lý luận mà phải nằm ở thực tiễn. Hành động để đem lại hiệu quả thật sự cho dân chúng từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đến “tương, cà, mắm, muối” và lấy hiệu quả đó làm thước đo mới là điều khó nhất của một đảng cầm quyền. Bác thường dạy: “Nói thì dễ, làm thì khó”. Cái khó trong khi làm không phải là khó khăn, vất vả, mệt nhọc mà cái chính là không vượt qua được chính mình để thực hiện quan điểm quần chúng. Ví dụ: “Miệng thì nói dân chủ nhưng làm việc thì họ theo lối “quan” chủ. Miệng thì nói “phụng sự quần chúng”, nhưng họ làm trái ngược với lợi ích của quần chúng”(4). “Làm theo lối “quan” chủ” tức là lãnh đạo thiếu văn hóa, lãnh đạo bằng quyền lực, “làm việc theo cách quan liêu. Cái gì cũng dùng mệnh lệnh. Ép dân chúng làm”(5). Làm như vậy thì dân oán. Mà “dân oán, dù tạm thời may có chút thành công, nhưng về mặt chính trị, là thất bại”(6) (người trích nhấn mạnh). Chính trị thất bại tức là không được lòng dân. Mà cái nguy hiểm nhất là mất lòng dân. Bởi vì, mất tiền và của cải thì còn làm lại được, còn đã mất lòng tin, đặc biệt là mất lòng tin của dân là mất tất cả. Nâng cao văn hóa cầm quyền là Đảng phải có sự lựa chọn sáng suốt, có tầm nhìn, trí tuệ và bản lĩnh văn hóa giữa việc lấy cái căn bản quy tụ của lòng dân và lợi ích lâu dài thay vì lợi ích và thành tích trước mắt mang mầm bệnh. Văn hóa cầm quyền là phải “sao cho được lòng dân”(7).

2. Đảng phải tôn trọng chính quyền, hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật

Nói đến Đảng cầm quyền là phải nói tới quản lý của nhà nước. Trong văn hóa cầm quyền thì văn hóa lãnh đạo và văn hóa quản lý thâm nhập vào nhau. Giá trị, uy tín, quyền uy tạo sức mạnh của đảng cầm quyền không chỉ trong khuôn phép của Đảng mà được cân, đong, đo, đếm bằng văn hóa quản lý. Nói cách khác, văn hóa quản lý là một thước đo của văn hóa lãnh đạo của đảng cầm quyền, trong đó “Chính phủ là công bộc của dân” như Hồ Chí Minh dạy là tiêu chí hàng đầu.

Trên cơ sở nhận thức nhà nước là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng, văn hóa của đảng cầm quyền là Đảng phải tôn trọng chính quyền, tôn trọng nhà nước. Đảng cầm quyền nhưng không thể và không được đứng trên nhà nước, đứng trên và đứng ngoài pháp luật. Xã hội xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng là một xã hội có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Đây là một nhận thức rất quan trọng trong cấu trúc quyền lực của hệ thống chính trị đương đại. Với nhà nước đó thì Quốc hội là cơ quan có quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết. Nhân dân có quyền bãi miễn các đại biểu Quốc hội nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân. “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”(8). “Bãi miễn các đại biểu” là tinh thần của “văn hóa từ chức” theo cách nói ngày nay. Nghĩa là, các vị đại diện khi được dân bầu – tức là dân ủy thác quyền lực – thì phải làm hết trách nhiệm “như một người lính vâng lệnh quốc dân ra trước mặt trận”; khi dân không còn tín nhiệm nữa thì phải vui vẻ từ chức theo lời dạy của Bác Hồ “khi nào đồng bào cho tôi lui thì tôi rất vui lòng lui”. Đảng cầm quyền, mọi tổ chức và cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật và tuân thủ hiến pháp và pháp luật mà không có một ngoại lệ nào. Tất cả họ phải hành xử theo đúng hiến pháp và pháp luật.

Khi Đảng trở thành đảng cầm quyền, việc giải quyết mối quan hệ giữa Đảng với nhà nước là giá trị văn hóa hàng đầu, vì Đảng phải hoàn thành sứ mệnh “hai vai”. Là người lãnh đạo nhà nước, Đảng phải xứng danh lãnh đạo với một chiều sâu trí tuệ, một bề dày đạo đức, sự vững chắc về bản lĩnh chính trị và phương thức lãnh đạo trọng dân, tin dân, gần dân, hiểu dân, học dân, hỏi dân, theo đúng đường lối quần chúng. Là một thành tố của hệ thống chính trị, Đảng phải hành xử phù hợp với hiến pháp và luật pháp, không được lạm quyền, coi khinh dư luận.

3. Đảng, Chính phủ phải luôn luôn tự phê bình và hoan nghênh nhân dân phê bình mình

Đảng luôn luôn tự phê bình, hoan nghênh nhân dân và đảng viên phê bình mình. Đảng phải nâng cao dân trí, bồi dưỡng ý thức làm chủ, nâng cao tính tích cực công dân, tự do ngôn luận, khuyến khích nhân dân tham gia vào các công việc của nhà nước, khắc phục mọi thứ dân chủ hình thức.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”(9). Phải khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến. Nếu cán bộ không nói năng, không đề ý kiến, không phê bình, thậm chí lại tâng bốc mình, thế là một hiện tượng rất xấu. Thế là mất hết dân chủ trong Đảng. Thế là nội bộ của Đảng âm u, cán bộ trở nên những cái máy, trong lòng uất ức, không dám nói ra, do uất ức mà hóa ra oán ghét, chán nản. “Nếu đào tạo một mớ cán bộ nhát gan, dễ bảo “đập đi, hò đứng”, không dám phụ trách. Như thế là một việc thất bại cho Đảng”(10).

Văn hóa truyền thống, phía sau cái mạnh trọng tình, bộc lộ cái hạn chế duy tình, thiếu văn hóa tranh luận, mà thực chất là giấu giếm khuyết điểm và thích khen, không thích chê, trở thành bệnh thành tích. “Nếu ai nói chúng ta không dân chủ, thì chúng ta khó chịu. Nhưng nếu chúng ta tự xét cho kỹ, thì thật có như thế”(11). Nâng cao văn hóa của đảng cầm quyền là thể hiện một đảng văn minh như cách nói của Bác Hồ. Ngược lại, “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sữa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.

Trên nền tư duy “Chính phủ là công bộc, đầy tớ của dân”, Hồ Chí Minh chỉ ra rằng “khi dân dùng đày tớ làm việc cho mình, thì phải giúp đỡ Chính phủ. Nếu chính phủ sai thì phải phê bình, phê bình nhưng không phải là chửi… Xin đồng bào hãy phê bình, giúp đỡ giám sát công việc Chính phủ”(12).

Khuyết điểm, sai lầm là xấu, là phản văn hóa, nhưng nếu nhận ra khuyết điểm, sai lầm và tìm mọi cách khắc phục, sửa chữa sai lầm, khuyết điểm thì đó là một hành vi mang giá trị văn hóa. Nhân dân chính là người mang lại giá trị văn hóa lãnh đạo, văn hóa quản lý cho Đảng và Chính phủ. Nhận thức rõ điều đó, Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở “Chính phủ mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm tròn nhiệm vụ của mình là người đầy tớ tận tụy của nhân dân”.

Tư duy Hồ Chí Minh là Đảng và Chính phủ phải luôn luôn tạo điều kiện để nhân dân phê bình mình. Bởi vì, dân chúng thông minh, sáng tạo “biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”.

“Dám nói” theo quan điểm Hồ Chí Minh là một giá trị văn hóa đỉnh cao. Chỉ có một đảng cách mạng chân chính, đạo đức, văn minh thì mới đủ trí tuệ, bản lĩnh tạo điều kiện cho dân dám nói. Và chỉ khi nào dân chúng và cán bộ đảng viên dám nói, dám phê bình, kiểm soát hoạt động của Đảng và Chính phủ thì Đảng và Chính phủ mới làm việc tốt hơn và cán bộ, viên chức các cơ quan chính phủ mới thật sự là công bộc của dân. Vì vậy, “cần phải có biện pháp khác, biện pháp nghiêm ngặt hơn, để trừng trị loại cán bộ tha hóa, biến chất. Phải gây nên một đạo đức để ngăn ngừa, gây nên một phong trào quần chúng gớm ghét, bao vây lũ giặc ấy. Biện pháp ấy là gây nên một cuộc vận động trong công nông chống tiêu cực, làm cho những kẻ “chạy” không sống còn được”(13).

4. Văn hóa cầm quyền – văn hóa dùng người

Văn hóa của đảng cầm quyền, văn hóa lãnh đạo đạo, quản lý có một nội dung căn cốt là văn hóa dùng người. Con người sáng tạo ra văn hóa và cũng là sản phẩm của văn hóa. Cán bộ là gốc của mọi công việc. Mọi việc thành hay bại đều liên quan tới cán bộ tốt hay kém.

Một trong những phương thức lãnh đạo của đảng cầm quyền là thông qua cán bộ và công tác cán bộ. Hiện nay chúng ta đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong công tác cán bộ, đó là nạn chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy dự án, chạy bằng cấp, chạy tuổi, chạy huân huy chương… Lại có một dạng thách thức khác, đó là năng lực, bản lĩnh, đạo đức, phương pháp công tác của cán bộ không tương xứng với vị trí, chức vụ quản lý, lãnh đạo. Một thực tế đáng buồn đang diễn ra ở những mức độ khác nhau ở tất cả các loại cán bộ, các ngành, các cấp, các địa phương là có một loại cán bộ không chịu rèn đức, luyện tài mà chỉ rèn “công nghệ” xu nịnh, luồn cúi, a dua, “đi nhẹ, nói khẽ, hay cười và chạy…”, “thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi”, theo gió bẻ buồm, không có khí khái. Còn một bộ phận thuộc loại cán bộ được Đảng, nhà nước giao cho trọng trách làm công tác cán bộ lại thích người chạy và kẻ khéo nịnh hót mình, ghét người chính trực. Nhưng nguy hiểm nhất là những cái đó đang dần dần có xu hướng trở thành “giá trị” trong cơ cấu quyền lực của hệ thống chính trị, của xã hội và được một bộ phận xã hội đồng tình, chưa bị sức mạnh văn hóa, đạo đức của xã hội, của nhân dân đánh bại. Những ai chỉ chăm chú rèn đức, luyện tài, phát biểu trung thực thẳng thắn, vì sự thật thà đoàn kết và phát triển của đơn vị mà lại thiếu những “tố chất chạy”, lại thường bị coi là những người “xa lạ”, không thức thời. Nói tóm lại, một nguy cơ lớn là sự đảo lộn giá trị. Một đơn vị mà đa số cán bộ thuộc loại kém và trung bình, mang tư tưởng “dĩ hòa vi quý, chín bỏ làm mười”, còn thiểu số là tích cực, trung thực, thẳng thắn, thật sự tu dưỡng hồng, chuyên thì nguyên tắc “thiểu số phục tùng đa số” sẽ không mang lại kết quả tích cực như mong muốn.

Trước tình trạng đó, một đảng độc quyền lãnh đạo, nếu không có trí tuệ, tầm nhìn và bản lĩnh văn hóa trong việc dùng người thì nhất định thất bại. Đảng phải tìm thấy giá trị trong các mối quan hệ giữa người già và người trẻ; người trong Đảng và người ngoài Đảng; người có bằng cấp và không có bằng cấp, doanh nhân và trí thức, nhà lãnh đạo, quản lý và nhà khoa học… Trí tuệ văn hóa thể hiện bản lĩnh văn hóa của đảng cầm quyền là phải thấy thanh niên là người chủ tương lai của đất nước, thế hệ mới chắc chắn sẽ vượt thế hệ cũ (và có như thế thì đất nước và dân tộc mới có phúc). Có nhiều người không có bằng cấp nhưng có tài, có đức, cần phát hiện, trọng dụng và có chế độ đãi ngộ xứng đáng. Không phải đã lãnh đạo, quản lý là giỏi. Một người lãnh đạo, quản lý mất đi có người thay thế được ngay, còn một nhà khoa học, thật sự khoa học (đầu ngành hay chuyên ngành) mất đi, rất khó tìm người thay thế (thậm chí không có được người thay thế). Trong Đảng cũng có những người kém, người xấu. Hồ Chí Minh dạy: “Đảng ta không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra. Vì vậy, tuy nói chung, thì đảng viên phần nhiều là những phần tử tốt, nhưng vẫn có một số chưa bỏ hết những thói xấu tự tư tự lợi, kiêu ngạo, xa hoa… Trong Đảng ta chưa hoàn toàn tránh khỏi một vài kẻ vu vơ, những việc không chính đáng”(14). Vì vậy, văn hóa của đảng cầm quyền là đủ khả năng phân định có chất lượng khoa học và cách mạng một cách rõ ràng thật – giả, vàng – thau, tốt – xấu, đúng – sai… Đảng không chọn được những người có đức, có tài, quyết tâm, suốt đời, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân thì đó là thất bại cho Đảng, cũng là thất bại cho cách mạng.

5. Phải thật sự thấm nhuần văn hóa đạo đức

Trong điều kiện cầm quyền, cùng với việc Đảng xây dựng đường lối khoa học, đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng. Nếu học và hành theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh không tốt thì đó là nguy cơ lớn của Đảng. Cuộc vận động xây dựng Đảng về đạo đức trong những năm qua chưa đạt yêu cầu đặt ra. “Có những tổ chức đảng tê liệt, mất sức chiến đấu… Bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng; vẫn còn tình trạng “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy tội”, “chạy bằng cấp”. Thoái hóa biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, đẩy lùi…, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Đó là một nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ(15). Như vậy là rất rõ ràng. Nếu Đảng cầm quyền thiếu văn hóa đạo đức thì Đảng sẽ mất lòng tin của dân, sẽ cô độc. Mà “cô độc thì nhất định thất bại”(16).

…Mấu chốt là ở chỗ, “Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy” như Hồ Chí Minh đã dạy. Văn hóa chính trị mà cốt lõi là văn hóa cầm quyền sẽ thật sự đem lại cho Đảng những tố chất trong sạch, vững mạnh. “Đảng vững” theo tư tưởng Hồ Chí Minh là Đảng đạo đức, văn minh. Tăng cường xây dựng văn hóa cầm quyền, văn hóa lãnh đạo – quản lý là xây dựng năng lực, trí tuệ, đạo đức, bản lĩnh, phương pháp, phong cách của Đảng, Chính phủ, của đảng viên, cán bộ, nhất là người đứng đầu.

Người Trung Quốc quan niệm cầm quyền là sự nghiệp, ý nghĩa của sự nghiệp là cống hiến. Cầm quyền là khoa học, giá trị của khoa học là ở cầu sự chân thực. Cầm quyền là nghệ thuật, sức sống của nghệ thuật là ở sáng tạo. Cầm quyền là thách thức, mấu chốt của ứng đối là ở bản thân. Nếu nói rằng, địa vị cầm quyền của Đảng không phải sinh ra đã có thì chúng ta cũng có thể nói rằng, địa vị cầm quyền của Đảng luôn đi cùng với sự cống hiến và hy sinh. Nếu nói rằng, địa vị cầm quyền của Đảng không phải có rồi sẽ tồn tại mãi mãi, thì cũng có thể khẳng định rằng, chỉ cần Đảng một lòng vì công thì Đảng có thể đứng vững lâu dài; chỉ cần Đảng một lòng vì dân thì Đảng có thể cầm quyền tốt đẹp; chỉ cần Đảng kiên trì tôn chỉ và tính chất của mình, không ngừng tăng cường xây dựng mình, thì Đảng có thể vĩnh viễn đứng ở vị trí chiến thắng (17)./.

(1), (15) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, 2006, tr.213, 263-264.
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Sđd, tr.279.
(3), (5), (6), (8), (10), (11), (12), (14), (16) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1995, t.5, tr.293, 293,293, 61, 281, 243, 60-61, 238.
(4), (13) Sđd, t.6, tr.292, 501
(7) Sđd, t.4, tr.47.
(9)Sđd, t.12, tr.223.
(17) Xem Tôn Chí Cương: Suy nghĩ về tăng cường xây dựng năng lực cầm quyền của Đảng, trong Những vấn đề chính trị- xã hội, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, số 13, 2006, tr.1-13.

Theo tuyengiao.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Nhớ mãi những việc Bác làm, những lời Bác dạy

Bác Hồ trong chuyến đi Pháp năm 1945

Cách đây 66 năm, sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2-9-1945 nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam châu Á ra đời, đất nước ta phải đối mặt với bao nguy cơ, thử thách, thế nước trong tình trạng “ngàn cân treo sợi tóc”. Trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đó, với tầm nhìn xa trông rộng, với trí tuệ và bản lĩnh chính trị tuyệt vời của mình, Bác Hồ kính yêu của chúng ta vẫn vững tay chèo lái con thuyền cách mạng, vượt qua bao sóng gió, lãnh đạo toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta giữ vững nền độc lập, tự do. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, nhưng những việc Bác làm, những lời Bác dạy giữa mùa thu lịch sử ấy vẫn còn in đậm trong ký ức của mỗi một người con dân đất Việt.

Những ngày đó, trước vận mệnh dân tộc, với tinh thần trách nhiệm cao cả, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định: Phận sự của tôi như một người cầm lái, phải chèo chống thế nào để đưa chiếc thuyền Tổ quốc vượt khỏi những cơn sóng gió mà an toàn đi tới bến bờ hạnh phúc của nhân dân. Người đã nhanh chóng đề ra những chủ trương sáng suốt về đối nội và đối ngoại nhằm giải quyết những yêu cầu cấp bách của tình hình lúc đó. Các tác phẩm viết trong thời kỳ này của Người đã phản ánh sâu sắc những quan điểm đúng đắn về chiến lược và sách lược, đồng thời thể hiện cụ thể sự lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức tài tình của Người.

Ngay sau ngày tuyên bố độc lập, ngày 3-9-1945, Bác Hồ triệu tập họp phiên đầu tiên của Hội đồng Chính phủ và nêu ra 6 nhiệm vụ cấp bách của chính quyền cách mạng. Giữa lúc nạn ngoại xâm, nạn đói đang đe dọa dân tộc hàng ngày, hàng giờ, Bác đã sớm nhận ra nhiều loại giặc cũng cực kỳ nguy hiểm không kém, trong đó phải kể đến giặc dốt và giặc “nội xâm”. Với tầm nhìn văn hóa rộng lớn, Người chỉ rõ: Kẻ dốt là kẻ hèn, là kẻ nô lệ. Còn “giặc nội xâm” là kẻ thù còn nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm bởi không có sự phân biệt rạch ròi chiến tuyến để dễ bề nhận biết, mà lại nằm ngay trong hàng ngũ của ta, trong chính con người ta và được ngụy trang cực kỳ tinh vi, thủ đoạn.

Với các tầng lớp nhân dân, Người nhắc nhở, người làm chủ đất nước phải chứng tỏ tinh thần và sức mạnh của mình, thiết thực góp sức vào công cuộc bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ, xây dựng chính quyền vững mạnh. Điều đó chứng tỏ rằng, Người rất chú ý coi trọng sự tham gia của nhân dân vào công cuộc kiến thiết đất nước và quản lý nhà nước. Người động viên: Đồng bào ta ai có tài năng và sáng kiến về những công việc đó (tức kiến thiết ngoại giao, kiến thiết kinh tế, kiến thiết quân sự, kiến thiết giáo dục), lại sẵn sàng hăng hái giúp ích nước nhà thì xin gửi kế hoạch rõ ràng cho Chính phủ. Chính phủ sẽ nghiên cứu kế hoạch ấy một cách kỹ lưỡng, có thể thực hành được thì sẽ thực hành ngay…

Với cán bộ, đảng viên, Người dạy không được làm việc trái phép, cậy quyền cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo. Bởi mắc phải những lỗi lầm đó sẽ nảy sinh hiện tượng: Ăn muốn cho ngon, mặc muốn cho đẹp, càng ngày càng xa xỉ… lấy của công làm việc tư, quên cả thanh liêm đạo đức; kéo bè, kéo cánh, bà con bạn hữu mình không tài năng gì cũng chức này, chức nọ. Người có tài, có đức nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài… Từ đó mà dẫn đến việc coi khinh nhân dân, cử chỉ lúc nào cũng vác mặt “quan cách mệnh” lên. Thái độ kiêu ngạo đó sẽ làm mất lòng tin cậy của dân, sẽ hại đến oai tín của Chính phủ. Người cho rằng: “Muốn cho dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Phải chú ý giải quyết hết các vấn đề dẫu khó đến đâu mặc lòng, những vấn đề quan hệ đến đời sống của dân. Phải chấp đơn, phải xử kiện cho dân mỗi khi người ta đem tới. Ngoài ra, đối với tất cả mọi người trong các tầng lớp dân chúng, ta phải có một thái độ mềm dẻo, khôn khéo, biết nhân nhượng, biết trọng nhân cách người ta. Phải tỏ cho mọi người biết rằng công việc là công việc chung, thiếu người ra gánh vác thì mình ra, nếu có người thay, mình sẽ nghỉ để làm việc khác, sẵn sàng nhường lại cho ai muốn làm và làm được” (Sao cho được lòng dân – Báo Cứu quốc, ngày 12-10-1945).

Người từng phê phán các Ủy ban nhân dân làm việc chưa khoa học, chia công việc không khéo thành ra bao biện. Trong một Ủy ban, có nhiều người rất rỗi rãi, cả ngày chỉ chạy ra chạy vào cho có việc; có người lại bù đầu rối óc vì một mình phải kiêm đến mấy việc. Cán bộ nhiều người chưa có tính chủ động, sáng tạo trong công việc. Từ thực tiễn đó, Bác chỉ rõ rằng: Cán bộ chăm chỉ làm việc chưa đủ, cần phải biết làm việc cho có phương pháp,… có mắt ta phải trông, có óc ta phải nghĩ, có tay ta phải làm… Phải biết rằng, tình hình khách quan thay đổi hàng giờ, hàng phút, một chủ trương của ta hôm nay đúng, hôm sau đã không kịp thời, nếu ta không tỉnh táo kiểm điểm những hành vi của ta để bỏ đi những cái quá thời, sai hỏng, nhất định ta sẽ không theo kịp tình hình, ta sẽ bị bỏ rơi … Muốn được thích hợp với tình thế, ta phải cần nhận thức và tự giáo dục không ngừng, cần phải có sự thành thực tự vạch ra những khuyết điểm sai lầm để bồi bổ và sửa đổi đi.

Người chỉ rõ: “Chỉ có chế độ của chúng ta mới thật sự phục vụ lợi ích của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động, bảo đảm mọi quyền lợi của nhân dân, mở rộng dân chủ để nhân dân thật sự tham gia quản lý nhà nước. Vì vậy cho nên nhân dân ta đưa hết khả năng làm tròn nhiệm vụ người chủ nước nhà để xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho nước ta mạnh, dân ta giàu”. Hơn nữa, chính quyền nhà nước của ta là một chính quyền “phải nhằm vào mục đích duy nhất là mưu cầu tự do, hạnh phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên hết thảy” (Báo Cứu quốc, số 46, ngày 19-9-1945). Đặc biệt, trong “Thư gửi các Ủy ban nhân dân các bộ, tỉnh, huyện và làng”, Người đã nêu: “… Chính phủ và nhân dân phải đoàn kết thành một khối”; “… Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì”; “ … Các cơ quan của Chính phủ, từ toàn quốc cho đến các làng đều là đầy tớ của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân …”; “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại cho dân, ta phải hết sức tránh”. Tư tưởng trên quán xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Không những thế, ngay trong những ngày đầu mới lập nước, Người đã nhận ra và nghiêm khắc cảnh báo cán bộ ta về những căn bệnh nguy hiểm mà mỗi cán bộ, đảng viên cần phải khắc phục để xứng đáng với vai trò và nhiệm vụ lịch sử của Đảng mình. Những việc làm và lời dạy của Bác lúc đó đều nhằm một mục đích duy nhất là kiến tạo nền móng của chính quyền nhân dân, tiến tới hoàn chỉnh việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN – một nhà nước của dân, do dân và vì dân. Lời Người hôm nay vẫn nóng hổi tính thời sự đối với những “công bộc” của nhân dân.

Hiện nay, ở một số địa phương vẫn có những lời ca thán về thái độ phục vụ nhân dân của không ít cán bộ, đảng viên. Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trong buổi tiếp xúc cử tri hồi tháng 7-2007 cũng đã thẳng thắn phê phán rằng nhiều đơn thư của dân, trong đó có cả đơn do Chủ tịch nước chuyển về các cơ quan chức năng cũng bị “mất hút”, không thấy ai giải quyết, trả lời. Tại kỳ họp Quốc hội năm 2009, trong khi thảo luận ở tổ, có đại biểu Quốc hội bức xúc: Chính phủ luôn đánh giá bộ máy hành chính còn cồng kềnh, hiệu lực, hiệu quả còn thấp. Trong khi cải cách hành chính thực hiện hàng chục năm. Chúng ta đã cử nhiều cán bộ ra nước ngoài học tập, nâng cao trình độ. Nhưng kết quả vẫn vậy, cán bộ từ cơ sở đến trung ương vẫn có vấn đề về năng lực, trình độ và phẩm chất đạo đức.

66 năm qua, phần lớn cán bộ, đảng viên đã nghiêm túc thực hiện theo lời răn dạy của Người, nhưng cũng còn đó “những con sâu” đã và đang lợi dụng chức quyền để tác oai, tác quái bất chấp dư luận và luật pháp, làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng và Chính phủ, “làm cho nền đoàn kết lay động”. Những kẻ đó, bất kể là ai và ở cấp bậc nào, “nếu không tự sửa chữa” thì cần “Chính phủ sẽ không khoan dung”.

Đọc lại lời Người, chúng ta cảm thấy như Người vẫn bên cạnh, ân cần chỉ ra những tồn tại, những thiếu sót trong vấn đề dân sinh, dân nguyện đang gây nên những bức xúc trong cuộc sống hôm nay. Đất nước đang từng bước phát triển và trưởng thành, thời cơ, thuận lợi có nhiều nhưng những khó khăn và thử thách phía trước cũng không phải là ít. Để đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới – giai đoạn hội nhập, phát triển, CNH và HĐH đất nước, việc lựa chọn những “công bộc” của dân, do dân, vì dân là vấn đề rất quan trọng. Theo tư tưởng, tiêu chí lựa chọn của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì đó phải là những người có công tâm, trung thành, sốt sắng với quyền lợi dân chúng, có năng lực làm việc, được đông đảo nhân dân tín nhiệm. Không thể nhờ tiền tài hay một thế lực gì khác mà chui vào lọt… Lời Bác Hồ 66 năm trước, những người làm công tác tổ chức cán bộ hôm nay xin hãy khắc ghi!

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Học và làm theo Bác trong công tác tuyên truyền

Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1959 (ảnh Bảo tàng Lịch sử Việt Nam)

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tuyên truyền cách mạng là một hoạt động thống nhất trên ba mặt: Thứ nhất là nhận thức về mục đích và vai trò của tuyên truyền. Thứ hai là phương pháp tuyên truyền. Thứ ba là yêu cầu đối với người làm công tác tuyên truyền. Cả ba mặt luôn luôn thống nhất với nhau, liên hệ tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó nhận thức về mục đích đóng vai trò chủ đạo, chi phối trực tiếp đến mọi phương pháp hoạt động tuyên truyền. Quá trình từ nhận thức đến phương pháp tuyên truyền đều thông qua con người cụ thể. Do đó, người tuyên truyền đóng vai trò có ý nghĩa quyết định.

Trong suốt hành trình từ “người đi tìm đường” trở thành “người dẫn đường” cho cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã dành nhiều công sức, trí tuệ và sự quan tâm đến công tác tuyên truyền cách mạng. Người xem đó là công cụ quan trọng để tạo ra lực lượng mới hùng mạnh cho cách mạng.

Về mục đích tuyên truyền, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh đó là “đem một việc gì đó nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó là tuyên truyền thất bại” và mục đích của tuyên truyền là giải thích lập luận, chứng minh để “dân hiểu, dân nhớ, dân tin, dân làm theo”.

Về đối tượng tuyên truyền, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trước hết, người tuyên truyền phải nắm vững đối tượng được tuyên truyền. Nếu “người tuyên truyền không điều tra, không phân tích, không nghiên cứu, không hiểu biết quần chúng, chỉ gặp sao nói vậy, bạ gì viết nấy, nhất định thất bại”. Người cũng lưu ý rằng, “Dân chúng không nhất luận như nhau, trong dân chúng cũng có nhiều tầng lớp khác nhau, ý kiến khác nhau, có lớp tiên tiến, có lớp lưng chừng, có lớp lạc hậu”. Đối với mỗi tầng lớp đối tượng, Người yêu cầu phải có phương thức tuyên truyền thích hợp và phải chú trọng ưu tiên cho lớp đối tượng có trình độ nhận thức, trình độ văn hóa thấp. Vì đối tượng này hiểu được thì các đối tượng khác cũng nắm bắt dễ dàng.

Về công tác chuẩn bị nội dung tuyên truyền. Người tuyên truyền phải chuẩn bị nội dung tuyên truyền thật chu đáo. Bởi theo Người, làm được như vậy sẽ tránh được lối nói ba hoa, rỗng tuếch, cẩu thả, lặp lại, nhàm chán. Người từng cảnh báo: “Trước khi nói không sắp sửa kỹ càng. Lúc ra nói hoặc lắp lại những cái người trước đã nói. Hoặc lắp đi lắp lại những cái mình đã nói rồi. Lúng túng như gà mắc tóc. Thôi đi thì trẽn, nói nữa thì chán tai”. Người căn dặn: “Khi viết xong một bài báo, một bản báo cáo hoặc thảo một bài diễn văn nhất định phải đọc lại vài lần. Mình tự phê bình bài viết của mình, hỏi ý kiến đồng chí khác. Những câu những chữ thừa vô ích bỏ đi. Rửa mặt phải kỳ sát ba lần mới sạch, viết văn diễn thuyết cũng phải như vậy”. Để nội dung bài nói, bài viết có chất lượng, Bác yêu cầu người tuyên truyền phải chịu khó “nghe”, “thấy”, “xem” và “ghi chép”. Khi chuẩn bị nội dung phải suy nghĩ cho chín, sắp đặt cho cẩn thận, và nên nhờ chính những người thuộc đối tượng được tuyên truyền xem và cho ý kiến. Người yêu cầu cụ thể: “Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng; Phải luôn dùng những lời lẽ, những thí dụ đơn giản, thiết thực và dễ hiểu; Phải tự hỏi nói cho ai nghe, viết cho ai xem; Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết; Trước khi nói phải sắp đặt cho cẩn thận, phải suy nghĩ cho chín chắn. Sau khi viết rồi phải xem đi xem lại ba bốn lần. Nếu là một tài liệu quan trọng phải xem đi xem lại chín mười lần”.

Đối với người làm công tác tuyên truyền, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải có cách tuyên truyền phù hợp với đối tượng, với hoàn cảnh, cách nói, cách viết phải ngắn gọn, bởi lẽ “người lính đánh giặc, người dân đi làm không cho phép xem lâu”, cho nên “viết ngắn từng nào tốt chừng ấy”. Tuy vậy, “ngắn gọn nhưng không phải là cụt đầu, cụt đuôi, mà phải có đầu có đuôi” và “không nhất thiết cái gì cũng phải ngắn mới tốt”. Phù hợp với đối tượng là phải gắn liền với những đối tượng cụ thể. Tuyên truyền cho đồng bào miền núi phải khác với đồng bào miền xuôi; tuyên truyền cho đồng bào các tôn giáo phải khác với đồng bào không theo tôn giáo. Với các đối tượng phải tìm cho ra các đặc thù. Ví như, với đồng bào miền núi thì phải nói ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo. Nội dung tuyên truyền phải cụ thể, thiết thực “Một là gì, hai là gì, rồi ba, bốn, năm là gì? Làm như thế nào” và “… không nên nói trên trời dưới đất, nào là khách quan, chủ quan, nào là tích cực và tiêu cực, không đâu vào đâu cả”. Đồng thời phải nắm, phải thu phục cho được các già làng, trưởng bản. Nếu đạt kết quả thì tiếng nói của người tuyên truyền có sức nặng hơn, việc tuyên truyền vận động sẽ có kết quả hơn.

Người tuyên truyền phải học cách tuyên truyền của quần chúng. Đó là sự kết hợp của việc học trong sách vở, học trong thực tiễn công tác. Xuất phát từ quan điểm “Dân là gốc của tuyên truyền”, Người cho rằng, cách tuyên truyền phù hợp và có hiệu quả nhất với dân chính là cách tuyên truyền của chính nhân dân. Bằng cách đó, dân dễ hiểu, dễ nhớ nên sẽ tin và sẽ làm theo. Người từng cho rằng : “Cách nói của dân chúng rất đầy đủ, rất hoạt bát, rất thiết thực mà lại rất đơn giản. Anh em đi tuyên truyền chưa học được cách nói đó, cho nên khi nói, khi viết khô khan, cứng nhắc, không hoạt bát, không thiết thực”. Người cũng đã từng phê phán những cán bộ “không chịu học hỏi quần chúng, cứ đóng cửa lại mà làm, ngồi ỳ trong phòng giấy mà viết, cứ tưởng cái gì mình làm cũng là đúng, mình viết cũng là hay”. Riêng với những cán bộ được cử lên công tác ở miền núi, Người cũng căn dặn là cần phải học cả tiếng nói của dân tộc để tuyên truyền với đồng bào dân tộc đó. Như thế sẽ gây được mối thiện cảm bền lâu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, muốn nâng cao hiệu quả tuyên truyền thì người tuyên truyền phải là người hiểu biết rộng, đặc biệt là nhận thức sâu việc mình tuyên truyền. Không những có đủ kiến thức lý luận mà phải có vốn sống phong phú; không những giỏi về nghiệp vụ chuyên môn mà còn phải có trình độ văn hóa cao. Người tuyên truyền giỏi phải là người biết tổ chức quần chúng, người thức tỉnh và tập hợp quần chúng. Một yêu cầu không kém phần quan trọng là người tuyên truyền phải có vốn sống về thơ ca, nhạc họa thì tác dụng và hiệu quả tuyên truyền sẽ là rất lớn. Điều Bác hằng quan tâm trăn trở là đạo đức của người tuyên truyền. Nếu thiếu điều này, thì sẽ mất đi sự đồng tình, ủng hộ của quần chúng. Vì vậy mà không những không đạt được mục đích tuyên truyền mà còn ngược lại. Yêu cầu của Bác về đạo đức của người cán bộ tuyên truyền cũng rất cụ thể: Một là phải lễ độ. Lễ độ ở đây không phải là “gọi dạ bảo vâng”, mà theo Bác thì: Nếu một cán bộ tuyên truyền vào làng bản có cả người già, phụ nữ, trẻ em mà cất tiếng lên là “Các đồng chí” …điều đó tuy không vô phép nhưng không hợp với hoàn cảnh nên chướng tai, các cụ già sẽ không bằng lòng. Hai là, người cán bộ phải biết hòa mình với quần chúng, sống như họ đang sống, nói cái họ chưa hiểu, chịu khó, chịu khổ, khéo ở, siêng làm. Ba là, phải luôn nêu cao ý thức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Và cuối cùng là phải có tác phong quần chúng. Mà theo Người thì, “thấy dân làm việc gì, bất kỳ to nhỏ, ta cũng ra tay làm giúp”, “thái độ phải mềm mỏng, đối với các cụ già phải cung kính, với anh em phải khiêm tốn, với nhi đồng phải thân yêu, với mọi người phải thành khẩn”.

Học và làm theo những lời Người dạy nhất định những người làm công tác tuyên truyền ngày nay sẽ hoàn thành một cách xuất sắc và có hiệu quả nhiệm vụ đầy vẻ vang mà Đảng giao phó./.

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chính phủ là công bộc của dân

Phát biểu trong buổi lễ ra mắt ứng cử viên tổ chức tại Việt Nam học xá ngày 5- 1- 1946 Người nói: “Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không bầu. Ngày mai, không ai ép, không ai mua, toàn dân sẽ thực hiện cái quyền dân chủ ấy”.

1. Giữ gìn, kiến thiết là một công việc khó khăn, phức tạp

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ từ nhân dân, của nhân dân, vì nhân dân phục vụ. Khi đất nước còn đắm chìm trong đêm dài nô lệ, Người quyết chí ra đi tìm đường cứu nước, không sợ hy sinh, không ngại khó khăn, gian khổ với mục đích cao nhất là giải phóng đồng bào. Sau khi tìm được con đường cứu nước đúng đắn, khoa học, cách mạng và nhân văn, Người đã tổ chức và lãnh đạo toàn dân đứng lên xóa bỏ chính quyền bóc lột của thực dân – phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân.

Chỉ một ngày sau khi giành được chính quyền ở Hà Nội, Hồ Chí Minh đã nhắc lại ý kiến của Lê-nin với các học trò của mình, rằng “giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn”. Người tiên tri, tiên lượng cái khó của chính quyền mới trên nhiều phương diện. Đó là thù trong giặc ngoài, nạn đói, nạn dốt. Dưới chế độ quân chủ cai trị rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, người dân bị đầu độc nhiều thói xấu như lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác; nước ta không có Hiến pháp, nhân dân không được hưởng quyền tự do dân chủ. Đặc biệt là những khó khăn của đội ngũ cán bộ, công chức do hạn chế về tài năng, sự hiểu biết và điều hành, quản lý một xã hội mới – xã hội do dân làm chủ.

Chỉ một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập, khi trình bày những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Sau tám mươi năm bị áp bức, bị bóc lột, và dưới chính sách ngu dân của thực dân Pháp, các bạn và tôi, chúng ta đều chưa quen với kỹ thuật hành chính. Nhưng điều đó không làm cho chúng ta lo ngại. Chúng ta vừa làm vừa học. Chắc rằng chúng ta sẽ phạm khuyết điểm, nhưng chúng ta sẽ sửa chữa, chúng ta có can đảm sữa chữa khuyết điểm”(1). Người thấy rõ và hình dung những khó khăn của việc kiến thiết đất nước: “Công việc phá hoại xong rồi. Nay bước đầu công việc dọn dẹp, sắp đặt, giữ gìn, kiến thiết. À! Việc này mới khó chứ. Trong việc phá hoại chống kẻ thù đòi độc lập, thì dễ dàng kéo cả toàn dân. Trong việc kiến thiết thì khó kéo hơn, vì nó đụng chạm đến quyền lợi riêng của một đôi giai từng trong nước. Vả lại, chúng ta phải thật thà thừa nhận rằng kinh nghiệm chúng ta còn ít, tài năng chúng ta còn kém, mà công việc thì nhiều: nào quân sự, nào ngoại giao, nào tài chính…, trăm đầu nghìn mối, đều những việc mới lạ cho chúng ta. Lại thêm nguy hiểm ngoại xâm và tình hình nội trị”(2). Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất là một bộ phận cán bộ bắt đầu có biểu hiện thoái hóa biến chất, lên mặt làm quan cách mạng, hủ hóa, không quan tâm gì đến đời sống của nhân dân.

Trăn trở, chăm lo xây dựng chính quyền vững mạnh, thật sự của dân, do dân, vì dân, Chính phủ là công bộc của dân, chính quyền “sao cho được lòng dân”, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm cảnh báo những căn bệnh của cán bộ và sự quan liêu hóa của bộ máy nhà nước. Đúng nửa tháng sau ngày đọc Tuyên ngôn độc lập tại vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), ngày 17- 9- 1945, trong Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà, Hồ Chí Minh đã nói tới việc “đề phòng hủ hóa”. Người chỉ rõ “cán bộ ta nhiều người “cung cúc tận tụy”, hết sức trung thành với nhiệm vụ, với Chính phủ, với quốc dân. Nhưng cũng có người hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư. Thậm chí dùng pháp công để báo thù tư, làm cho dân oán đến Chính phủ và Đoàn thể”(3). Người nhấn mạnh “những khuyết điểm trên, nhỏ thì làm cho dân chúng hoang mang, lớn thì làm cho nền đoàn kết lay động”. Vì vậy, “chúng ta phải lập tức sửa đổi ngay. Chúng ta không sợ có khuyết điểm, chúng ta chỉ sợ không có quyết tâm sửa đổi. Chúng ta phải lấy lòng chí công vô tư”. Hồ Chí Minh nghĩ tới những kế sách xây dựng một nhà nước thật sự trong sạch, vững mạnh, được lòng dân.

2. “Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu”(4)

Để khắc phục những khó khăn và hạn chế đó, Hồ Chí Minh đã đặt lên hàng đầu việc củng cố sự đoàn kết toàn dân, mà một trong những biện pháp quan trọng hàng đầu vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu dài là chính sách dùng người, “đem những người có danh vọng hoặc có tài cán ở địa phương vào giúp việc”, tìm người tài đức, chiêu hiền đãi sĩ, cầu người hiền tài. Theo Người, “việc dùng nhân tài, ta không nên căn cứ vào những điều kiện quá khắt khe. Miễn là không phản lại quyền lợi dân chúng, không là Việt gian, thân Pháp, thân Nhật, có lòng trung thành với Tổ quốc là có thể dùng được. Tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy”(5).

Ngày 19 – 9 – 1945, với bút danh Chiến Thắng, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài Chính phủ là công bộc của dân, đăng báo Cứu quốc số 45 phân tích rõ sự đảo lộn cách mạng giữa Chính phủ trước và sau cuộc khởi nghĩa 19-8-1945. Trước, nói tới hai chữ Chính phủ, người ta nghĩ ngay tới một bọn đầu đảng cướp nguy hiểm, xảo quyệt. Sau, nói tới Chính phủ, ai ai cũng đều có một cảm tình thân mật xen lẫn với một tôn kính sâu xa: Chính phủ đối với ta như người “anh cả” trong gia đình, một đồng chí phụ trách trong một địa phương, một người đứng mũi chịu sào ta có thể vững lòng trông cậy và gửi số mệnh vào.

Với quan điểm xuyên suốt “Chính phủ là công bộc của dân”, Hồ Chí Minh chỉ rõ “các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do hạnh phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”. Người khẳng định: “Các Ủy ban nhân dân làng, phủ là hình thức Chính phủ địa phương phải chọn trong những người có công tâm, trung thành, sốt sắng với quyền lợi dân chúng, có năng lực làm việc, được đông đảo nhân dân tín nhiệm. Không thể nhờ tiền tài hay một thế lực gì khác mà chui lọt vào các Ủy ban đó”(6).

Ngày 17-10-1945, Hồ Chí Minh viết bài “Bỏ cách làm tiền ấy đi” đăng trên báo Cứu quốc, số 69. Nội dung bài báo là đề cao Ủy ban nhân dân tổ chức theo một tinh thần dân chủ mới, khoa học, rất cấp tiến nên không thể “đè đầu bóp cổ”, hay dùng những thủ đoạn không chính đáng như làm tiền bằng cách bán ngôi thứ. Người viết: “Làm tiền bằng cách bán ngôi thứ tức là gây cho dân chúng có óc hiếu danh, trong khi cần phải trừ tiệt óc đó để gây cho mọi người có óc thiết thực, góp sức vào công cuộc giữ gìn và xây dựng đất nước… Bán ngôi thứ làm cho óc người ta đen tối thêm! Tiền lấy như vậy cũng là một thứ tiền phi nghĩa… Cách làm tiền đó có hại cho sự tiến hóa của dân, cần phải bỏ ngay đi, cũng như cần phải phủi đi hết những hủ tục khác như làm rượu ăn mừng được bầu vào Ủy ban”(7).

Cùng với việc phê phán việc mua chức bán quyền, đồng thời Hồ Chí Minh cũng chỉ ra những lỗi lầm khác rất nặng nề như “cậy mình ở trong ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao được vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân. Quên rằng dân bầu ra mình là để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế với dân… Ông ủy viên đi xe hơi, rồi bà ủy viên, cho đến các cô các cậu ủy viên, cũng dùng xe hơi của công. Thử hỏi những hao phí đó ai phải chịu?”(8).

Với một nhãn quan văn hóa chính trị sáng suốt, Hồ Chí Minh thấu suốt sự nghiệp kiến thiết cần phải có nhân tài. Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà. Chính phủ mới cần phải có những người có đức có tài để quản lý đất nước. Chế độ dân chủ cộng hòa phải khác hẳn về chất so với chế độ vua quan, thực dân đế quốc. Một trong những cái khác căn bản là quyền làm chủ, quyền dân chủ và quyền bầu cử của nhân dân để nhân dân lựa chọn ra những người thật sự có đức có tài để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Một ngày trước khi tổ chức Tổng tuyển cử để bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh có lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu. Người nói: “Ngày mai, là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ… Ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình… Ngày mai, dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình, và gánh vác việc nước… Ngày mai, mỗi người nên vui vẻ hưởng quyền lợi của một người dân độc lập, tự do”(9).

Phát biểu trong buổi lễ ra mắt ứng cử viên tổ chức tại Việt Nam học xá ngày 5- 1- 1946 Người nói: “Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không bầu. Ngày mai, không ai ép, không ai mua, toàn dân sẽ thực hiện cái quyền dân chủ ấy”(10).

Sau khi nước nhà được độc lập, nỗi quan tâm lớn nhất của Hồ Chí Minh là dân được hưởng tự do, hạnh phúc. Hạt nhân trong di sản của Người là chữ “DÂN”: “Đối với dân, ta đừng làm gì trái ý dân. Dân muốn gì, ta phải làm nấy”(11). Dân muốn có những cán bộ, đảng viên quyết tâm, suốt đời hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Dân muốn cán bộ phải đủ phẩm chất đạo đức, năng lực trí tuệ, bản lĩnh chính trị, phong cách công tác quần chúng, có như vậy thì mới làm tròn bổn phận là công bộc của dân. Dân muốn những cán bộ khi đạo đức và năng lực trí tuệ không tương thích với chức vụ, quyền hạn, không còn được dân tín nhiệm thì phải sẵn sàng, vui vẻ từ chức. Dân không muốn có những cán bộ “chỉ biết lên mà không biết xuống. Chỉ chịu được sướng mà không chịu được khổ. Chỉ ham làm chủ tịch này, ủy viên nọ, chớ không ham công tác thiết thực”(12).

3. Quản lý, điều hành đất nước cần phải có lớp trẻ

Hồ Chí Minh luôn luôn nói đi đôi với làm. Người là tấm gương sáng về người lãnh đạo, người đứng đầu ở vị trí cao nhất nhưng không tham quyền cố vị, luôn luôn đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết. Người tâm sự khi phải giữ trọng trách Chủ tịch nước: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá, trồng hoa. Sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”(13).

Tư tưởng và tấm gương “tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào” một lần nữa lại được Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố trước Kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I (31-10-1946): “Lần này là lần thứ hai Quốc hội giao phó cho tôi phụ trách Chính phủ một lần nữa. Việt Nam chưa được độc lập, chưa được thống nhất thì bất kỳ Quốc hội ủy cho tôi hay cho ai cũng phải gắng mà làm. Tôi xin nhận. Giờ tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới rằng: Hồ Chí Minh không phải là kẻ tham quyền cố vị, mong được thăng quan phát tài”(14).

Trong lời tuyên bố của Hồ Chí Minh, chúng ta chú ý rằng Người nhấn mạnh việc đảm nhận chức vụ trong một hoàn cảnh đất nước khó khăn, đầy gian khổ, hy sinh khi “Việt Nam chưa được độc lập, chưa được thống nhất”. Chức vụ đó là do Quốc hội (nhân dân) ủy thác thì phải gắng sức làm. Còn khi đồng bào đã cho lui thì lại vui vẻ trở về cuộc sống của một người dân bình thường, vui thú trong một “căn nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc, câu cá trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”.

Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về việc không tham quyền cố vị. Người thấy trước công việc xây dựng, tạo ra những cái mới mẻ tốt tươi là cả một cuộc chiến đấu khổng lồ; thắng bần cùng lạc hậu khó hơn nhiều so với thắng đế quốc phong kiến. Vì vậy, cần phải có lớp trẻ. Người nói: “Thế hệ già thua thế hệ trẻ mới là tốt. Các cháu không hơn là bệt. Bệt là không tốt. Người ta thường nói: “Con hơn cha là nhà có phúc”(15). Tất nhiên phải là lớp trẻ có đức có tài. Người phê phán quan điểm đưa lớp trẻ vào nhưng lại mong muốn là con cháu của mình. Người nói: “Con cháu mình là ai? Con cháu mình là tất cả, là thanh niên Việt Nam. Chứ không phải như thời phong kiến: Cha làm quan, con là cậu ấm. Con mình xấu thì đề bạt sao được”(16).

Nói chuyện với những đảng viên hoạt động lâu năm ở Nghệ An trong lần về thăm quê năm 1961, Người tâm sự: “Còn vấn đề lo cho con cháu các đồng chí. Cái đó là đúng. Nhưng, nếu là con tôi – à, tôi không có con – mà nó không có khả năng, nó xấu cũng phải dẹp lại. Không phải hễ cứ bố là cán bộ thì con là “cậu ấm”. Bố có việc của bố, con có việc của con. Cố nhiên, con của những đồng chí đã mất đi, Đảng phải lo. Nhưng bố mẹ nó đang còn, nó xấu, mà đòi hỏi đặc biệt chú ý, thì chú ý cái gì?”(17).

Để Chính phủ được lòng dân thì Chính phủ phải là công bộc, thật sự công bộc của dân theo nghĩa là hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Nhưng đồng thời Chính phủ cũng phải chọn được người có phẩm chất đạo đức, có năng lực trí tuệ, có bản lĩnh chính trị và phong cách làm việc quần chúng. Không thể chấp nhận trong Chính phủ có những người thiếu tâm, dưới tầm, nói nhiều làm ít, nói hay làm dở, có khuyết điểm nhưng không nhận, không dám chịu trách nhiệm, lại tham quyền cố vị. Cách đây hơn nửa thế kỷ, Hồ Chí Minh thấy trước được trong bộ máy quản lý đất nước, cần những người có tài năng thật sự, nếu kém thì phải loại ra. Người chỉ rõ: “Có người nay còn lãnh đạo đó, nhưng sau này tiến lên máy móc, nếu không biết kỹ thuật, có lãnh đạo được không? Nếu không biết, phải mời anh ra, cho người khác giỏi hơn vào làm chớ không phải như ngày xưa mà tưởng rằng: “sống lâu lên lão làng”(18).

65 năm trước, theo tiếng gọi của Hồ Chí Minh, cuộc bầu cử Quốc hội khóa I thành công tốt đẹp. Chúng ta đã tìm ra được những người thật sự có tài có đức, vì dân vì nước vào Quốc hội và Chính phủ. Hy vọng dưới ánh sáng Đại hội XI, học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tinh thần dân chủ, trách nhiệm và sáng suốt đó lại được thể hiện rõ nét ở kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 để đất nước có được những người thật sự có tài, có đức quản lý đất nước, tạo được niềm tin của nhân dân, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững, vững bước tiến vào thập niên thứ hai của thế kỷ XXI./.

1), (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (10), (11), (13), (14), Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1995, t.4, 7, 20, 21, 147, 39, 22, 54-55, 57, 145-146, 147, 148, 161, 427
12) Sđd, t.5, tr.255
(15) (16), (17), (18), Sđd, t.10, tr.465, 465, 469, 469

Theo tuyengiao.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Thông điệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục, vẹn nguyên giá trị thời đại

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt coi trọng đến sự nghiệp trồng người của nước nhà, ảnh TL

Nghiên cứu di sản Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay cần phải đặt trong xu thế của thời đại. Từ lúc ra đi tìm đường cứu nước cho đến tận cuối đời, Hồ Chí Minh luôn trả lời được những câu hỏi của dân tộc và đáp ứng yêu cầu của thời đại, nên di sản của Người vẫn giữ nguyên giá trị thời đại. Thông điệp của Người về giáo dục là một ví dụ điển hình.

Không phải ngẫu nhiên mà ngày 5-6-1911 Hồ Chí Minh lại quyết định đi sang nước Pháp, tới các nước phương Tây mà lại không đi theo cách nghĩ và cách làm của các bậc cha chú như Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, Hoàng Hoa Thám. Trước khi ra nước ngoài, Hồ Chí Minh đã có những tư duy mới mẻ, độc lập, tự chủ, sáng tạo. Người không chấp nhận suy nghĩ cho rằng chỉ bằng nhiệt huyết yêu nước, lòng căm thù bọn xâm lược và khát vọng độc lập, tự do là có thể đánh bại quân xâm lược. Tư duy của Người cũng hoàn toàn xa lạ với kiểu “đồng văn, đồng chủng”. Suy nghĩ và hành động của Người với ý chí dù chỉ một mình cũng quyết tâm sang Pháp, nơi có khoa học – kỹ thuật phát triển, nơi tôi luyện những khái niệm về cách mạng, tiến bộ, dân chủ, tự do, bình đẳng, bác ái… cho thấy ngay từ lúc đó Hồ Chí Minh đã muốn hiểu biết, khám phá thế giới theo tinh thần “muốn đánh Pháp phải hiểu nước Pháp, muốn hiểu Pháp phải học chữ Pháp”, phải có trí tuệ để nghiên cứu, tìm hiểu đối tượng.

Thông điệp của Người là muốn đánh kẻ thù thì phải hiểu kẻ thù. Chính vì vậy khi được cha cho học trường Pháp – bản xứ ở Vinh, rồi trường Tiểu học Đông Ba, trường Quốc học Huế, Người rất tích cực học tập. Những ngày trước khi ra nước ngoài, Hồ Chí Minh đã có ý định xin vào học trường Kỹ nghệ thực hành ở Sài Gòn. Người quyết định sang Pháp không phải để chống lại nước Pháp mà để tìm hiểu, nghiên cứu văn hóa, văn minh Pháp, lấy cái đó làm “vũ khí” trí tuệ để chống lại bọn thực dân xâm lược trên đất nước mình.

Những tháng năm hoạt động ở nước ngoài, Người tiếp tục thực hiện ý định về việc khám phá, học tập, tiếp thu trí tuệ của thời đại. Người đã có đơn gửi Tổng thống nước Pháp từ Mác-xây, đề ngày 15-9-1911 xin vào học trường Thuộc địa (với lá đơn này, các thế lực thù địch đã có hành động xuyên tạc xấu xa mục đích tìm đường cứu nước chân chính của Nguyễn Tất Thành và đã bị các nhà sử học chân chính của nước Pháp và nhiều nhà nghiên cứu bóc trần).

Cùng với hoạt động thực tiễn, Hồ Chí Minh tích cực nghiên cứu lý luận, tiếp thu có chọn lọc văn minh Âu, Mỹ. Bằng sự trải nghiệm của bản thân, Hồ Chí Minh thấy rằng muốn làm cách mạng thành công phải “trồng người”, huấn luyện, đào tạo cán bộ. Từ những năm hai mươi, phát hiện ra sự hạn chế về tư duy lý luận của những người yêu nước Việt Nam, Hồ Chí Minh đã chú trọng công tác đào tạo cán bộ, rồi gửi những học viên ưu tú tiếp tục được đào tạo ở nước ngoài tại trường quân sự Hoàng Phố (Quảng Châu, Trung Quốc) và trường Đại học phương Đông (Mát-xcơ-va, Liên Xô).

Khi Đảng ra đời, Hồ Chí Minh cùng Đảng lãnh đạo dân tộc đấu tranh giành chính quyền về tay nhân dân. Trong thời gian ngắn trên đường về nước, được tin hơn 40 thanh niên các dân tộc Cao Bằng, vì bị đế quốc Pháp khủng bố đã vượt biên giới sang Quảng Tây (Trung Quốc), Hồ Chí Minh nghĩ ngay tới việc tổ chức một lớp huấn luyện cho anh em, sau đó đưa họ trở về củng cố và mở rộng phong trào ở Cao Bằng. Lớp học đã được tổ chức tại làng Nậm Quang (Tĩnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc). Các tài liệu huấn luyện được tổ chức biên soạn thành cuốn sách nhan đề: Con đường giải phóng. Thông điệp và việc làm của Hồ Chí Minh về đào tạo, huấn luyện cán bộ cho cách mạng có ý nghĩa to lớn cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, Hồ Chí Minh – con người đã từng là thầy giáo và có ba mươi năm lăn lộn ở ngoài nước, hiểu rõ ý nghĩa sâu xa và vai trò to lớn của tri thức – đã xác định sự nghiệp bảo vệ nền độc lập dân tộc và kháng chiến là cuộc đấu tranh chống lại ba kẻ thù: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Thông điệp của Người ngay trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ (3-9-1945) là: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Và Người đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ. Hàng loạt sắc lệnh liên quan tới giáo dục được Hồ Chí Minh ký như Sắc lệnh về việc thành lập Nha bình dân học vụ (6-9-1945); Sắc lệnh về việc thiết lập một Quỹ Tự trị cho trường Đại học Việt Nam (10-10-1945); Sắc lệnh về việc thành lập Hội đồng Cố vấn học chính (10-10-1945); Sắc lệnh về việc thiết lập một ban đại học Văn khoa tại Hà Nội (10-10-1945)…

Sau cuộc Tổng Tuyển cử bầu Quốc hội, cùng với việc ra đời của nhiều bộ, Bộ Giáo dục cũng được thành lập… Để thực hiện nhiệm vụ của Nha Bình dân học vụ là cấp tốc xóa nạn mù chữ trong nhân dân, ngày 4-10-1945, Hồ Chí Minh đã có lời hiệu triệu “Chống nạn thất học”. Người nhấn mạnh: “Một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này là nâng cao dân trí”. Người kêu gọi:“Muốn giữ vững nền độc lập, Muốn làm cho dân mạnh, nước giàu, mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”.

Điều thú vị là Hồ Chí Minh cho rằng xóa bỏ nạn mù chữ là tạo nên một phong trào giáo dục đại chúng. Người chỉ ra rằng học đọc và học viết có thể được tiến hành bất cứ ở đâu, dùng than, mặt đất hoặc lá chuối làm bút và giấy. Ai cũng có thể học được. Đặc biệt sự chú trọng của Người đối với tình trạng bất bình đẳng về điều kiện sống và về thế giới cho đến nay vẫn mang tính toàn cầu và đúng với mọi lứa tuổi. Chúng ta có thể thấy tinh thần của thông điệp đó được phản ánh đầy đủ trong báo cáo mới đây về phổ cập giáo dục cho tất cả mọi người mang tên “Tiếp cận những người bị gạt sang bên lề xã hội”.

Năm 1955, kỷ niệm 10 năm Bình dân học vụ, Hồ Chí Minh đưa ra một thông điệp: Dốt thì dại, dại thì hèn. Vì không chịu dại, chịu hèn, cho nên thanh toán nạn mù chữ là một trong những nhiệm vụ cấp bách và quan trọng của nhân dân các nước dân chủ mới. Trong giai đoạn nhân dân miền Bắc bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, khi bàn về nhiệm vụ giáo dục, Hồ Chí Minh nhấn mạnh phương châm giáo dục “học đi đôi với hành”, nội dung giáo dục ở từng cấp học tiểu học, trung học, đại học phải góp phần giải quyết nhiệm vụ của từng giai đoạn lịch sử, phù hợp với lứa tuổi.

Đó phải là một nội dung toàn diện về văn hóa, đạo đức, ngoại ngữ, giáo dục thể chất, chuyên môn. Đại học phải đi sâu nghiên cứu lý luận, góp phần giải quyết được những vấn đề lớn của cách mạng Việt Nam. Về phương pháp giáo dục, Hồ Chí Minh chú trọng tự học, học suốt đời, học từ thực tiễn, học nhân dân, học bạn, học thầy, càng tiến bộ càng phải học.

Giáo dục theo quan điểm Hồ Chí Minh không chỉ nhằm nâng cao dân trí, giữ nền độc lập, xây dựng đất nước mà còn là một yếu tố cần thiết cho việc xóa nghèo, giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em, kiềm chế sự phát triển dân số, đạt được sự bình đẳng giới và bảo đảm phát triển bền vững, hòa bình và dân chủ. Trong Di chúc, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: kế hoạch xây dựng lại đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế. Phát triển công tác vệ sinh, y tế. Sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân, như phát triển các trường “nửa ngày học tập nửa ngày lao động”.

Theo bà Ka-thơ-rin Mu-lơ Ma-rin, Trưởng Đại diện Văn phòng UNESCO tại Hà Nội, từ khi được thành lập vào năm 1946, UNESCO đã đi đầu trong nỗ lực xóa bỏ nạn mù chữ trên toàn cầu với những chương trình như giáo dục cho mọi người. Điều này đã được Hồ Chí Minh nêu lên từ năm 1945 khi Người trở thành Chủ tịch Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bốn trụ cột của giáo dục đã có trong di sản Hồ Chí Minh là: Học để biết, ngụ ý cung cấp những công cụ nhận thức cần có để hiểu biết thế giới và những điều phức tạp của nó một cách tốt hơn, và để có nền tảng đủ và phù hợp để học tập trong tương lai. Học để làm, có nghĩa là cung cấp các kỹ năng giúp các cá nhân tham gia một cách có hiệu quả vào nền kinh tế và xã hội toàn cầu. Học để làm người, có nghĩa là cung cấp những khả năng tự phân tích và kỹ năng xã hội để giúp các cá nhân phát huy đầy đủ nhất tiềm năng của mình về mặt tâm lý – xã hội, về tình cảm cũng như thể chất, để trở thành một “con người toàn diện” về mọi mặt. Học để chung sống, ngụ ý là hướng các cá nhân vào những giá trị tiềm ẩn trong các nguyên tắc dân chủ, sự hiểu biết giữa các nền văn hóa, tôn trọng và hòa bình ở mọi cấp bậc xã hội và quan hệ giữa người với người nhằm giúp cho các cá nhân và các xã hội cùng sống trong hòa bình và hòa thuận.

Xu hướng của thế giới toàn cầu hóa hiện nay là học suốt đời, là giáo dục đại chúng, giáo dục cho mọi người. Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã thấy được trở lực trên con đường phát triển nhanh, bền vững là nghẽn về giáo dục. Đảng ta xác định: Yêu cầu cấp bách trong thời kỳ chiến lược tới là tái cấu trúc nền kinh tế, trong đó một nội dung quan trọng là chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu theo bề rộng, dựa vào sự gia tăng vốn đầu tư và nguồn chất lượng thấp hiện nay sang kết hợp hợp lý giữa tăng trưởng theo bề rộng với tăng trưởng theo chiều sâu trên cơ sở áp dụng các tiến bộ về khoa học công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và kỹ năng quản lý hiện đại.

Từ buổi khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (9-1945), Hồ Chí Minh đã nói: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Quan điểm của Hồ Chí Minh cách đây hơn 65 năm đã nói trước được điều mà ngày nay thế giới đang rất quan tâm, đó là nguồn nhân lực chất lượng cao. Và Việt Nam đang trở lại với tư tưởng của Người khi Đảng ta khẳng định cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục là quốc sách hàng đầu.

Nhận thức được vai trò của giáo dục với ý nghĩa “quốc sách hàng đầu” là điều có ý nghĩa rất quan trọng, nhưng biến nó thành hiện thực mới là điều có ý nghĩa quyết định nhất./.

Theo PGS.TS Bùi Đình Phong
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn