Tag Archive | Cuộc đời Hồ Chí Minh

“Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước dân chủ”

– Ngày 23/3/1949, báo “Cứu Quốc” đăng nội dung Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn của nhà báo Walter Briggs, phóng viên của nhiều tờ báo ở Mỹ. Cuộc phỏng vấn này không thực hiện trực tiếp mà qua văn bản.

Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp năm 1946

Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp năm 1946

Trả lời câu hỏi điều kiện nào Việt Nam chấp nhận sự can thiệp của Liên Hiệp Quốc, Bác khẳng định: “Độc lập và thống nhất thực sự của Việt Nam”;

Hỏi “Cụ có phải là một người cộng sản nữa không?”, Bác trả lời: “Tôi luôn luôn là người yêu nước, tranh đấu cho độc lập và thống nhất thực sự của Tổ quốc tôi”;

Hỏi: “Việt Nam công khai tuyên bố trong 24 vị thành viên của Chính phủ có 4 vị là cộng sản, thế thì 4 vị ấy có ảnh hưởng đặc biệt hay cũng như các vị khác”, Bác trả lời: “Tất cả các bộ trưởng Chính phủ Việt Nam đều cộng đồng phụ trách và ảnh hưởng bình quân”;

Hỏi: “Một khi độc lập thì Việt Nam sẽ đứng với Nga và các nước đồng minh với Nga hay là với dân chủ phương Tây?”, Bác trả lời: “Một khi đã độc lập, Việt Nam sẽ đứng với tất cả các nước bàu bạn”;

Hỏi: “Một khi độc lập đã thành công, về mặt quốc tế, Cụ sẽ đưa Việt Nam đứng với Nga và các nước đồng minh của Nga hay là với dân chủ phương Tây, hay là theo chính sách độc lập của mình?”, Bác trả lời: “Một khi đã độc lập, Việt Nam sẽ đứng với tất cả các nước bầu bạn”….

Có thể nói đây là quan điểm nhất quán mà ngay sau khi Cách mạng tháng 8/1945 thành công và nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, người đứng đầu nhà nước đã tuyên bố “Nước Việt Nam chủ trương làm bạn với tất cả các nước dân chủ trên thế giới, không muốn gây sự với ai…”(1945-1946), và nó tiếp tục được khẳng định ngay cả khi chiến tranh đã bùng nổ và vào thời điểm phỏng vấn đang diễn ra ác liệt.

Cũng trong tháng 3/1949, trả lời phỏng vấn của nhà báo Standley Harrison của báo “Telepress” (đăng trên Cứu Quốc ngày 26/3/1949), Bác cũng khẳng định: “Pháp công nhận Việt Nam thống nhất thực sự và độc lập thực sự thì chiến tranh sẽ lập tức chấm dứt”.

Trả lời câu hỏi: “Vì lẽ gì mà Việt Nam thành công về mặt quân sự?”, Bác trả lời: “Vì toàn dân đại đoàn kết để chống thực dân Pháp và để tranh lấy thống nhất và độc lập thật sự cho Tổ quốc mình”.

Hỏi: “Khi ngoại thương Việt Nam đã khôi phục, thì Việt Nam sẽ giao dịch với các nước dân chủ nhân dân những gì?”, Bác khẳng định: “Việt Nam sẽ giao dịch với tất cả các nước nào trên thế giới muốn giao dịch với Việt Nam một cách thật thà”.

X&N
bee.net.vn

Bác và nhà báo Úc W.Burchett

– W.Burchett sau này nhiều lần đến Việt Nam đã đưa ra nhận xét: “Cảm giác đầu tiên của tôi là sự thân mật, ấm áp và giản dị. Hồ Chủ tịch có khả năng khiến người ta thấy nhẹ nhõm ngay từ khoảnh khắc đầu tiên và trình bày những vấn đề phức tạp nhất chỉ trong vài từ và cử chỉ rõ ràng.

Chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn ngày 13/3/1954 bằng trận tấn công vào cứ điểm Him Lam và kết thúc đợt 1 bằng việc đánh trên đồi Độc lập (15/3) và bức hàng cụm cứ điểm Bản Kéo.

Giữa đợt 1 và đợt 2 (bắt đầu từ 30/3), tại căn cứ địa Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nhà báo Úc Wilfred Burchett người sau này tiếp tục gắn bó phản ánh và ủng hộ nhân dân ta cho đến cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Ngày 22/3/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với Hội nghị tổng kết công tác bình dân học vụ toàn miền Bắc năm 1956.Ngày 22/3/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với Hội nghị tổng kết công tác bình dân học vụ toàn miền Bắc năm 1956.

Mối quan tâm của dư luận lúc này là sau khi chiến trận đã bùng nổ, với những diễn biến vô cùng ác liệt và thực dân Pháp được can thiệp Mỹ hỗ trợ cũng thể hiện cũng đang say máu quyết huy động lực lượng vào trận quyết chiến này với tất cả các vũ khí hiện đại thì liệu khả năng chiến thắng của lực lượng kháng chiến sẽ ra sao?

Trong hồi ức của mình, nhà báo Úc đã thuật lại cách giải thích của người đứng đầu Chính phủ Việt Nam kháng chiến: “Bác Hồ đặt ngửa chiếc mũ trên bàn, đưa những ngón tay gầy guộc theo vành chiếc mũ và nói: “Tình hình thế này, đây là những ngọn núi mà lực lượng chúng tôi đang chiếm giữ. Dưới kia là thung lũng Điện Biên Phủ. Đó là nơi đóng quân của người Pháp với những đội quân thiện nghệ nhất mà họ có tại Đông Dương. Và họ sẽ không bao giờ rút ra được”.

“Vậy đây chính là Stalingrad ở Đông Dương?” Burchett hỏi. Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời: “Căn cứ vào điều kiện ở đây thì đúng như vậy. Nói khiêm tốn thì đó là một điều gì đó giống như thế”.

W.Burchett sau này nhiều lần đến Việt Nam đã đưa ra nhận xét: “Cảm giác đầu tiên của tôi là sự thân mật, ấm áp và giản dị. Hồ Chủ tịch có khả năng khiến người ta thấy nhẹ nhõm ngay từ khoảnh khắc đầu tiên và trình bày những vấn đề phức tạp nhất chỉ trong vài từ và cử chỉ rõ ràng.

Trong những cuộc gặp gỡ tiếp theo với nhân cách vĩ đại này, sự ấm áp, giản dị, cách thể hiện rõ ràng xuất phát từ trí tuệ mẫn tiệp và sự thấu hiểu trọn vẹn chủ đề khiến ta có ấn tượng vô cùng sâu sắc. Bất cứ ai được Hồ Chủ tịch tiếp đều bình luận về những phẩm chất ấy và cao hơn hết là cảm giác của họ ngay lập tức như người trong nhà của Chủ tịch”.

X&N

bee.net.vn

“Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên”

– Ngày 20/3/1947, dưới bút danh “Tân Sinh”, Bác hoàn thành cuốn sách “Đời Sống Mới” và giao cho Uỷ ban Trung ương Vận động Đời sống mới xuất bản rộng rãi. 

“Đời Sống Mới” có thể được coi là cuộc vận động văn hoá đầu tiên được phát động cùng với sự ra đời của chế độ mới, ngay sau khi nước nhà độc lập, ngay tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ Lâm thời.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khi nêu lên những “nhiệm vụ cấp bách”, ngoài những mục tiêu chống nạn đói, nạn dốt, tổ chức tổng tuyển cử, bỏ các loại thuế bất hợp lý, ban hành tự do tín ngưỡng… đã nhấn mạnh: “Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở thành một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”.

Ngày 20/3/1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm lại đình Tân TràoNgày 20/3/1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm lại đình Tân Trào

Và ngày 3/4/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh thành lập “Ban Trung ương vận động Đời sống mới” nhằm giáo dục cán bộ và nhân dân tư tưởng cần, kiệm, liêm, chính, xoá bỏ những tư tưởng và tập quán lạc hậu của chế độ thực dân và phong kiến để lại và tham gia cuộc vận động này có vai trò của Hội Văn hoá Cứu quốc.

Ngay trong hoàn cảnh chiến tranh đã bùng nổ trên cả nước, phải tập trung sức lực cho công cuộc kháng chiến, nhưng mục tiêu xây dựng con người Việt Nam mới vẫn là một tư tưởng nhất quán .

Trong lời tựa, Bác viết: “Trong lúc kháng chiến, chúng ta phải đồng thời kiến quốc. Thực hành “Đời sống mới” là một điều cần kíp cho công cuộc cứu quốc và kiến quốc”.

Giải thích thế nào là “Đời sống mới”, tác giả nêu rõ: “Không phải là cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ… Cái gì cũ mà không xấu nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý. Cái gì cũ mà tốt thì phải phát triển thêm… Cái gì mới mà hay thì phải làm… Làm thế nào cho đời sống của dân ta, vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn. Đó là mục đích của Đời sống mới”.

Cuốn sách được viết dưới dạng những câu hỏi và câu trả lời đề cập tới nhiều lĩnh vực của đời sống, nhiều tầng lớp xã hội. Để trả lời câu hỏi “Thực hành Đời sống mới khó hay dễ?”, tác giả trả lời: “Nói dễ thì dễ. Nói khó thì khó. Tục ngữ có câu: “Việc đời không gì khó, chỉ sợ chí không bền”.

4 năm sau đó, ngày 20/3/1951 cái tinh thần này một lần nữa đã được Bác nhắc lại như một châm ngôn hành động cho thế hệ trẻ Việt Nam. Gặp gỡ phân đội Thanh niên Xung phong C12 đang làm nhiệm vụ tại Nà Cù thôn Nà Tu, xã Cẩm Giàng, Bạch Thông, Bắc Kạn, Bác tặng 4 câu thơ: “Không có việc gì khó/ Chỉ sợ lòng không bền/ Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên”.

X&N
bee.net.vn

“Việt – Lào… tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”

– Ngày 13/3/1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiễn đưa Đoàn đại biểu cao cấp Vương quốc Lào do Vua Xrivang Vathana và Thủ tướng Xuvana Phuma dẫn đầu kết thúc chuyến thăm Việt Nam.

Trong lời tiễn Bác đã đọc 4 câu thơ: “Thương nhau mấy núi cũng trèo/ Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua/ Việt – Lào hai nước chúng ta/ Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”.

Trong bối cảnh rất phức tạp ở bán đảo Đông Dương sau khi thực dân Pháp đã phải ký kết Hiệp định Giơnevơ (1954) và từng bước rút khỏi chính trường Đông Dương, đế quốc Mỹ đã thế chân tiếp tục can thiệp mở rộng chiến tranh, Vương quốc Lào thực hiện một chính sách trung lập.

Ngày 13-3-1960, Bác Hồ thăm Trường thiếu nhi vùng cao nhân thăm tỉnh Thái Nguyên.jpg (57KB)Ngày 13/3/1960, Bác Hồ thăm Trường thiếu nhi vùng cao nhân thăm tỉnh Thái Nguyên

Việt Nam một mặt tiếp tục cuộc đấu tranh giành thống nhất đất nước từ phương pháp hoà bình thực hiện Hiệp định Giơnevơ đến tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng chống sự can thiệp của Mỹ.

Nhằm tranh thủ nền trung lập của Lào hạn chế sự can thiệp của Mỹ vào đất nước láng giềng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nhà nước Việt Nam đã giành một thái độ rất trọng thị khi mời nhà Vua, Hoàng gia và Chính phủ Vương quốc Lào sang thăm Việt Nam.

Ngay trong lời chào mừng đọc ngày 10/3, Bác điểm lại lịch sử: “Hai dân tộc Việt – Lào từ lâu đời đã có những quan hệ anh em khăng khít với nhau. Nhưng gần một thế kỷ, bọn đế quốc đã cướp nước chúng ta, chia rẽ nhân dân 2 nước. Chúng ngăn cản, không để nhân dân Viêt Lào gần gũi giúp đỡ nhau.

Chúng làm cho nhân dân hai nước chúng ta: “Bức tường nô lệ chắn ngang/ Tuy trong gang tấc, gấp ngàn quan sơn”. Ngày nay hai nước chúng ta đã độc lập… dễ dàng đi lại thăm viếng nhau “Bấy lâu cách trở quan hà/ Từ nay Lào – Việt rất là gần nhau”.

Con tại buổi chiêu đãi các vị khách quý Lào (tối 10/3), Bác lại khẳng định: “Hai dân tộc Việt và Lào sống bên nhau trên cùng một dải đất, cùng có chúng một dãy núi Trường Sơn. Hai dân tộc chúng ta đã nương tựa vào nhau,giúp đỡ lẫn nhau như anh em. Trải qua nhiều năm đấu tranh gian khổ và anh dũng, nhân dân hai nước chúng ta đã giành được độc lập, đã làm chủ đất nước của mình. Ngày nay chúng ta lại giúp đỡ lẫn nhau để xây dựng cuộc sống mới. Tình nghĩa láng giềng anh em Việt – Lào thật là thắm thiết không bao giờ phai nhạt được”.

Một đường lối hoà bình, hữu nghị cùng chung mục tiêu giành độc lập đối với nước Lào láng giềng chính là một nhân tố bảo đảm thắng lợi cho cách mạng Việt Nam.

X&N
bee.net.vn

“Chính nghĩa bao giờ cũng thắng”

 Ngày 12/3/1965, tham dự cuộc họp của Bộ Chính trị bàn về âm mưu của Mỹ và đối sách của ta, Bác đã phát biểu nhiều ý kiến quan trọng (được ghi trong biên bản).

Bác nói: Mỹ đã nói đến việc mở rộng chiến tranh từ tháng 2/1964 mà chúng ta nghiên cứu còn yếu. Phải có quyết tâm từ Bắc chí Nam là hy sinh, là trận sống còn (một là chết hai là thắng lợi), phải có tổ chức, phải làm cho toàn Đảng toàn dân hiểu và quyết tâm.

Phải tính đến hoàn cảnh thật gay gắt, địch sẽ dùng cả không quân và hải quân nên phải đề phòng sự dao động nghiêng ngả. Phải tăng cường tổ chức và tiềm lực. Phòng không nhân dân phải chú ý giải quyết đời sống của những gia đình khó khăn. “Các cháu bé quý hơn nhà máy”. Cách sống của mình còn hoà bình, phải chuyển miền Bắc sang “nửa chiến tranh”.

Ngày 12/3/1961, Bác tiếp các đại biểu dân tộc ít người tham dự Đại hội Phụ nữ VN lần thứ IIINgày 12/3/1961, Bác tiếp các đại biểu dân tộc ít người tham dự Đại hội Phụ nữ VN lần thứ III

Về ngoại giao, Bác chỉ rõ: Cần nghĩ trước việc vận động mở lại Hội nghị Giơnevơ để tranh thủ dư luận đồng thời nên tổ chức các hoạt động tuyên truyền chống chiến tranh ở nhiều nước, nhiều tổ chức quốc tế.

Phải thấy trong quá trình tiến hành chiến tranh chống Mỹ, phải vừa kiên quyết vừa khéo léo. Lúc nào Mỹ muốn đi thì tạo điều kiện cho Mỹ rút. Thực tiễn lịch sử 10 năm sau đó (1975) đã chứng minh giá trị những ý kiến trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cùng trong ngày hôm đó, báo “Nhân Dân: số ra ngày 12/3/1965, đăng bài “Đế quốc Mỹ cút đi” của Bác, viết dưới bút danh “Chiến Sĩ” trong đó nhắc lại ý kiến sáng suốt và thiện chí của một số chính khách và nhà báo Mỹ khi đánh giá về tình hình cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam là “vô vọng”.

Bài báo kèm theo lời “tái bút”: “Nhân dân Việt Nam kiên quyết đánh bại đế quốc Mỹ xâm lược. Nhưng chúng ta thông cảm với những người Mỹ có chồng con bị lừa đi chết ở chiến trường Việt Nam. Chúng ta cảm ơn các vị nghị sĩ, các người trí thức và lãnh đạo các tôn giáo, các đoàn thể công nhân, các chị em phụ nữ và anh em thanh niên, sinh viên Mỹ đã cương quyết bảo vệ chính nghĩa và đòi đế quốc Mỹ rút ngay ra khỏi miền Nam Việt Nam…”.

Chỉ 1 năm sau, vào thời điểm Mỹ đã mở rộng chiến tranh bằng không quan và hải quân ra miền Bắc, trực tiếp đưa bộ binh vào tác chiến ở miền Nam, ngày 12/3/1966, Bác họp Hội nghị Bộ Chính trị nghe báo cáo tình hình chiến sự và đồng ý tuyển 50 ngàn quân đợt 3 và 4 năm 1966 và đề nghị không tuyển người đứng tuổi, con em những gia đình đã có nhiều con vào bộ đội, không tuyển những người có trình độ cao còn cần cho các ngành kinh tế.

Trước đó 22 năm, vào tháng 3/1948, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Pháp đang có những biến chuyển ác liệt, trả lời điện hỏi của nhà báo nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ quan điểm của nhân dân Việt nam về chiến tranh: “Dù phải hy sinh cực khổ mấy. Chính phủ và Nhân dân Việt Nam cũng quyết kháng chiến đến cùng để tranh kỳ được thống nhất và độc lập thực sự…

Hơn 80 năm dưới quyền thống trị của Pháp, nhân dân Việt Nam đã nếm đủ sỉ nhục và đau khổ. Nhân dân Việt Nam quyết không chịu là nô lệ lần nữa… Nếu thực dân Pháp vẫn khư khư giữ chặt tham vọng cũ thì chúng sẽ thất bại. Chính nghĩa bao giờ cũng thắng!”.

Có thể thấy, trong cả hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhất quán và toàn diện với những dự báo chủ động và chính xác!

X&N
bee.net.vn

“Đảng LĐVN sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa của dân”

 Ngày 3/3/1951, thưc hiện Nghị quyết của Đại hội II, Đảng Lao động Việt Nam tổ chức buổi “lễ ra mắt quốc dân” (một thời kỳ ngày 3/3 được coi là ngày thành lập Đảng Lao động Việt Nam).

Trong “lời kết thúc”, với cương vị là Chủ tịch Đảng mới được bầu, Bác Hồ nhấn mạnh rằng mục đích của Đảng “có thể gồm trong 8 chữ là: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”; nhiệm vụ là lãnh đạo toàn dân đi đến “Kháng chiến thắng lợi, Kiến quốc thành công”; chính sách của Đảng “có thể đúc lại trong mấy chữ là làm cho nước Việt Nam ta Độc lập – Thống nhất – Dân chủ – Phú cường”…

Ngày 3/3/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm đền Brôbađua, nhân dịp Người thăm Cộng hòa IndonesiaNgày 3/3/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm đền Brôbađua, nhân dịp Người thăm Cộng hòa Indonesia

“Đảng Lao động Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, nghĩa là những người thợ thuyền, dân cày và lao động trí óc kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân, những người mà: Giàu sang không thể quyến rũ. Nghèo khó không thể chuyển lay. Uy lực không thể khuất phục…” vì thế “Đảng Lao động Việt Nam không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn đến mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề nguy hiểm đến mấy, nhưng Đảng Lao động Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân.

Tuy vậy, Đảng Lao động Việt Nam cũng do nhiều người tổ chức lại mà thành. Mà người thì ai cũng có ít nhiều khuyết điểm. Vì vậy, Đảng Lao động Việt Nam mong mỏi và hoan nghênh sự phê bình thật thà của các đảng phái và đoàn thể bạn, của các nhân sĩ và của toàn thể đồng bào để cho Đảng tiến bộ mãi”.

Thành lập từ mùa Xuân 1930, Đảng Cộng sản Đông Dương đã tuyên bố “tự giải tán” để góp phần tăng cường khối đoàn kết toàn dân trong bối cảnh vô cùng phức tạp sau ngày  giành được độc lập. Nói cách khác, sự thành lập Đảng Lao động Viêt Nam cũng có ý nghĩa là sự “ra mắt, trở lại hoạt động” của Đảng Cộng sản ở nước ta.

Vào thời điểm này không còn quan điểm về một Đảng Cộng sản Đông Dương và ở Lào và Campuchia các đảng cộng sản cũng đã được thành lập đoàn kết cùng Đảng Lao động Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung.

Cùng ngày hôm đó, Bác còn tham dự lễ khai mạc Đại hội thống nhất 2 Mặt trận Việt Minh và Liên Việt và bày tỏ niềm sung sướng khi chứng kiến “rừng cây đại đoàn kết ấy nở hoa kết quả và gốc rễ của nó đang ăn sâu lan rộng khắp toàn dân và nó có một cái tương lai “trường xuân bất lão” và “chẳng những là toàn dân Việt Nam đại đoàn kết mà toàn dân 2 nước anh em là Cao Miên và Ai Lao cũng đi đến đại đoàn kết”.

X&N
bee.net.vn

Ngày 19/2: Vị luật sư “cứu sống” Bác Hồ

– Ngày 19/2/1960, ông bà luật sư Loseby, ân nhân đã cứu Bác Hồ khỏi nhà tù của thực dân Anh trong vụ án “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông” (1931-1933) sau chuyến thăm Việt Nam theo lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi trở về đã viết thư cảm ơn Bác.

Trong lá thư có đoạn: “Ngài nói rằng tôi đã “cứu sống Ngài”, điều đó có thể đúng, nếu vậy thì đó chính là việc làm tốt nhất mà tôi đã từng làm, và mãi mãi là một việc làm sáng suốt…”.

Ông Francis Henry Loseby (1883-1967) sinh trưởng ở nước Anh, làm luật sư trong quân đội hoàng gia trong Thế chiến I, năm 1926 sang Hồng Kông, lúc đó là thuộc địa của Anh trên lãnh thổ Trung Quốc và mở văn phòng luật sư.

bác cùng vị luật sư Loseby gặp công nhân Nhà máy Trung Quy mô 2-1960Bác cùng luật sư Loseby gặp công nhân Nhà máy Trung Quy mô tháng 2/1960

Trước vụ án “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông”, ông đã từng cãi giúp một người Việt Nam thoát khỏi bản án trao cho thực dân Pháp. Thời kỳ phát xít Nhật xâm lược Trung Quốc, ông đã từng tham gia đội quân tình nguyện bảo vệ Hồng Kông vì thế bị Nhật bắt giam từ 1/1942 đến 8/1945. Ông sống ở Hồng Kông cho đến lúc qua đời năm 1967. Được tin ông qua đời, Bác Hồ đã gửi vòng hoa đến viếng.

Năm 1960, sau khi đã cho người tìm được gia đình luật sư Loseby ở Hồng Kông, Bác viết thư mời sang thăm Việt Nam vào dịp Tết Nguyên đán. Ngày 26/1/1960, ông bà Loseby cùng con gái đến Hà Nội, Bác Hồ ra tận sân bay đón và đưa về nhà khách. Những ngày tiếp theo Bác dẫn gia đình ân nhân của mình đi thăm nhiều nơi và ngày 3/2 tiễn trở về Hồng Kông.

Bác Hồ chụp ảnh với đoàn đại biểu dự hội nghị cán bộ phụ trách thiếu niên toàn quốc do Trung ương Đoàn thanh niên lao động Việt Nam tổ chức ngày 19/2/1959Bác Hồ chụp ảnh với đoàn đại biểu dự hội nghị cán bộ phụ trách thiếu niên toàn quốc do Trung ương Đoàn thanh niên lao động Việt Nam tổ chức ngày 19/2/1959

Về chuyến đi này, ông Loseby kể: “Năm 1956 một nhà báo Anh (đảng viên cộng sản Anh) sang thăm Việt Nam về Hương Cảng đến tìm và trao cho tôi một bức thư và 2 bức ảnh Hồ Chủ tịch, một bức gửi cho vợ chồng tôi, một bức gửi cho con gái tôi… Chúng tôi gửi thư cám ơn và gửi ảnh cho Hồ Chủ tịch.

Sau đó đại diện Sở vận tải Trung Hoa ở Hương Cảng điện thoại cho chúng tôi 2 lần và đến gặp chúng tôi, gửi cho chúng tôi một gói quà của Hồ Chủ tịch, trong đó có một bức thêu Chùa Một Cột và một cái khay sơn mài và một bức thư của Hồ Chủ tịch mời sang thăm Việt Nam…”.

Trong buổi đến thăm và gặp gỡ cán bộ công nhân Nhân Nhà máy Cơ khí Trung quy mô ở Hà Nội, ngày 2/2/1960, Bác Hồ mào đầu: “Bác xin giới thiệu với các cô chú, đây là luật sư Loseby, ân nhân của Bác. Nếu không có luật sư thì chưa biết Bác sống chết ra sao?…”.

Còn vị luật sư người Anh thì bày tỏ: “Các bạn rất may mắn có một vị lãnh tụ rất vĩ đại và tốt là Hồ Chủ tịch… Khi gặp Hồ Chủ tịch chúng tôi rất cảm động nhưng chúng tôi không lạ vì chúng tôi thường được xem ảnh luôn và chúng tôi xem Bác như người nhà của chúng tôi. Hồ Chủ tịch là một người bất cứ ở đâu và trong hoàn cảnh nào cũng làm cho mọi người mến phục. Không phải bây giờ, ở đây như vậy mà trước kia khi ở Hương Cảng, trong hoàn cảnh khó khăn cũng vậy.

Hồ Chủ tịch có cái biệt tài là làm cho mọi người đều cười được từ các em thiếu nhi hôm chúc Tết ở Chủ tịch phủ, đến các em nhi đồng ở Trại nhi đồng miền Nam và đến cả các anh em công nhân Nhà máy Trung quy mô cũng vậy. Hồ Chủ tịch có thể làm cho mọi thứ đều cười…

Đến Việt Nam, tôi thấy một điều làm cho tôi thấy đặc biệt là mọi người đều vui vẻ, ai cũng có nụ cười trên môi… Nhiều điều tôi mới được thấy lần đầu và vượt quá ý nghĩ của chúng tôi… Tôi có thể kết luận rằng đó là kết quả của cả cuộc đời hy sinh của Hồ Chủ tịch cho nhân dân Việt Nam”.

Trong buổi tiễn đưa gia đình luật sư Loseby tại sân bay Gia Lâm, Bác không quên dặn cô con gái của ông bà: “Bao giờ có đám cưới, cháu Pat nhớ cho Bác hay nhé”.

X&N

bee.net.vn

Bác Hồ và nhóm “Con Nai”

– Ngày 15/2/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư trả lời bức điện của Đại uý Charles Fenn, một sĩ quan tình báo trong đơn vị OSS đã từng tiếp xúc với Bác Hồ trong thời gian ở Côn Minh.

15-2-1965 HCM đọc văn bia tại chùa Côn Sơn,Hải Dương.jpg

Ngày 15/2/1965, Bác Hồ đọc văn bia tại chùa Côn Sơn, Hải Dương.

Bức thư trả lời bằng tiếng Anh bày tỏ: “Chúng tôi cảm kích vì thiện chí của Ngài muốn giúp Việt Nam. Nếu như Ngài tới đây với tư cách là một nhà báo Mỹ của một tờ báo lớn thì Ngài có thể làm được rất nhiều việc”.

Charles Fenn, trong Đại chiến Thế giới lần thứ II là một trung uý hải quân Hoa Kỳ được phái đến công tác tại AGAS (cơ quan hỗ trợ cho không quân tại mặt đất) lúc này đóng tại Côn Minh (Trung Quốc). Đó cũng là thời điểm Hồ Chí Minh đưa viên trung uý phi công Shaw được Việt Minh cứu sống khi máy bay bị quân Nhật bắn rơi trên chiến trường Bắc Đông Dương, sang Côn Minh để tìm cách trao trả cho Đồng Minh nhằm xác lâp mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít.

Thực thi chức trách của mình, Ch. Fenn đã bố trí cuộc tiếp xúc đầu tiên vào ngày 17/3/1945. Sau này , trong hồi ức của mình Ch.Fenn đã thuật lại: Hồ Chí Minh cùng đi với một người trẻ tuổi tên là  Phạm. Trước đó ông Hồ đã tìm gặp một số người Mỹ nhằm vận động sự công nhận đối với tổ chức Việt Minh như một thành viên trong lực lượng chống phát xít.

Ba ngày sau, hai người gặp lại nhau để nhất trí việc đưa một số thiết bị thông tin và đào tạo các báo vụ viên cho Việt Minh. Tiếp đó, Hồ Chí Minh yêu cầu Ch. Fenn giúp đỡ để trực tiếp gặp Tướng Claire Chennault, tư lệnh một Tập đoàn không quân của Mỹ mang biệt hiệu “Hổ bay” đang đóng bản doanh tại vùng Hoa Nam Trung Quốc, cũng là người dại diện cao nhất của Đồng Minh tại khu vực.

Cuộc gặp đã diễn ra ngày 29/3/1945 và sau cuộc gặp này mối quan hệ giữa Việt Minh và Đồng Minh được xác lập. Phía Mỹ đã cung cấp thiết bị liên lạc, một số vũ khí nhẹ và ngày 17/7 năm đó, một đơn vị đặc biệt mang biệt danh “Con Nai – The Deer” của OSS (Cơ quan tình báo chiến lược) của Mỹ đã nhảy dù xuống Tân Trào, tham gia huấn luyện, xây dựng sân bay dã chiến và thành lập Đại đội Việt – Mỹ… Phía Việt Minh sẽ cung cấp những thông tin tình báo và khí tượng cho không quân Mỹ hoạt động trên chiến trường đánh Nhật ở miền Bắc Đông Dương…

Đơn vị này đã tham gia bao vây quân Nhật ở Thái Nguyên và về Hà Nội sau khi Việt Minh giành được chính quyền. Nhưng ngay sau đó, chính phủ Mỹ yêu cầu các quân nhân Mỹ phải rời khởi Việt Nam…

Sau khi giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ những liên hệ với Ch. Fenn với nhiều tình cảm tốt đẹp. Trong thư đề tháng 8/1945 gửi Ch. Fenn, Bác viết: “Chiến tranh đã kết thúc. Đây là điều tốt cho mọi người. Tôi cảm thấy áy náy khi những người bạn Mỹ rời chúng tôi quá nhanh…

Tôi tin rằng ông và nhân dân Mỹ vĩ đại sẽ luôn luôn ủng hộ chúng tôi…Tôi cũng tin rằng sớm hay muộn chúng tôi sẽ đat đựơc mục đích của mình, bởi vì mục đích đó là chính nghĩa. Và đất nước chúng tôi sẽ độc lập. Tôi trông chờ ngày hạnh phúc được gặp ông và những người bạn Mỹ của chúng tôi ở Đông Dương hay trên đất Mỹ”.

Bức thư đề ngày 15/2/1947 giữa lúc nhân dân Việt Nam đang kháng chiến chống thực dân Pháp và vào lúc chính sách của Mỹ ngày càng đồng loã với cuộc chiến tranh xâm lược trở lại Đông Dương, cho thấy quan điểm của Bác luôn tin tưởng vào một bộ phận tiến bộ trong nhân dân Mỹ sẽ đứng về nhân dân Việt Nam.

Sau khi Bác Hồ qua đời, Ch.Fenn đã là người viết cuốn tiểu sử chính trị đầu tiên về Hồ Chí Minh bằng Anh ngữ xuất bản ở phương Tây (1973: “Hồ Chí Minh một tiểu sư chính trị”) và vì thế mà bị chính quyền Mỹ trục xuất khỏi đất nước của mình.

Tháng 8/1995, ngày sau khi quan hệ Việt – Mỹ được bình thường hoá, Ch.Fenn cùng các cựu chiến binh của đơn vị “Con Nai” đã trở lại thăm Việt Nam. Khi đã ngoài 100 tuổi (năm 2004) Charles Fenn còn viết: “Cuộc sống cá nhân mẫu mực, tính kiên định vì nền độc lập và tự do của Việt Nam, những thành quả phi thường của ông bất chấp những khó khăn chồng chất đã có thể đưa Hồ Chí Minh, trong sự phán xét cuối cùng của nhân loại lên hàng đầu danh sách những lãnh tụ của thế kỷ XX”.

X&N
bee.net.vn

Một vị ẩn sĩ chân chính

 – Ngày 13/2/1958, Bác Hồ kết thúc cuộc viếng thăm lịch sử nước Cộng hoà Ấn Độ. Trước khi rời thành phố Calcuta để lên đường thăm Miến Điện, Bác đến thăm Hội Mahabodi, một tổ chức Phật giáo có tiếng ở Ấn Độ. Sau khi lễ Phật Bác dự buổi mít tinh do các Phật tử tổ chức.

Lời chào mừng của người đứng đầu tổ chức này đã đánh giá: “Như một vị ẩn sĩ chân chính, Chủ tịch đã hy sinh suốt đời cho nhân dân và Tổ quốc Ngài; Chủ tịch đã từ bỏ những hào nhoáng lộng lẫy của địa vị Chủ tịch một nước. Cũng như Hoàng đế Asoka, một vị Phật tử đầy lòng hy sinh, Chủ tịch đã nêu cao trước thế giới một lý tưởng mà chỉ có thể thực hiện bởi một người có đầy lòng tin tưởng…”.

Còn trong diễn văn của ông Thị trưởng thành phố Calcuta nơi đón tiếp và tiễn đưa Bác sau 10 ngày thăm Ấn Độ, đã ca ngợi: “Cũng như người Cha vĩ đại của dân tộc chúng tôi là Thánh Gandhi, Ngài là biểu hiện của một đời sống giản đơn, thanh cao và khắc khổ. Chúng tôi hết lòng cầu với Thượng đế rằng cuộc viếng thăm lịch sử của Ngài đến đất nước này sẽ đúc nên những sợi dây chuyền vàng bằng hữu nghị để thắt chặt hai dân tộc chúng ta trong tình nghĩa anh em sáng chói”.

Hồ Chí Minh với các cháu thiếu nhi dũng sĩ miền Nam ra thăm miền Bắc (13/2/1969)Hồ Chí Minh với các cháu thiếu nhi dũng sĩ miền Nam ra thăm miền Bắc (13/2/1969)

Còn Thủ tướng Ấn Độ J.Nerhu thì khẳng định: “Hồ Chủ tịch là một nhà đại cách mạng phi thường trong thời đại này. Người luôn luôn giải quyết những vấn đề khó khăn với nụ cười trên môi”…

Ngày 13/2/1964 là ngày mồng 1 Tết Giáp Thìn, Bác vẫn có lời thơ chúc mừng năm mới: “Bắc Nam như cội với cành/ Anh em ruột thịt, đấu tranh một lòng/ Rồi đây thống nhất thành công/ Bắc Nam ta lại vui chung một nhà/ Mấy lời thân ái nôm na/ Vừa là kêu gọi vừa là mừng Xuân”.

Năm ấy Bác xuất hành tới vùng đất Cổ Loa, thăm trạm biến thế điện và hợp tác xã nông nghiệp Lỗ Khê và khen câu khẩu hiệu bằng thơ kể trên đình làng: “Đón Xuân mở hội làm giàu/ Mừng Xuân cần kiệm lúa màu tốt tươi”. Buổi chiều Bác thăm và chúc Tết Trung đoàn phòng không 260 bảo vệ Thủ đô và các chiến sĩ công an Hà Nội. Cùng ngày Bác dự  đón Đoàn của Bí thư thứ Nhất Lê Duẩn vừa sang thăm Liên Xô trở về nước.

Ngày 13/2/1969, Bác đón các cháu trong đoàn thiếu niên dũng sĩ miền Nam ra thăm miền Bắc và tiếp bà Menba Hernadez, Chủ tịch Uỷ ban Cuba đoàn kết với Việt Nam và các bạn Cu ba trong Viện Hữu nghị các dân tộc đang thăm nước ta.

Sau này bà Menba Hernandez đã viết về ấn tượng của mình về Chủ tịch Hồ Chí Minh: “là hình ảnh tổng hợp của một nhà cách mạng đấu tranh không biết mệt mỏi vì tự do và hạnh phúc của nhân dân, một người khiêm tốn và giản dị, một nhà thơ nhạy cảm và sâu sắc, có khả năng nói lên những tình cảm trong sáng nhất của con người…”.

X&N

bee.net.vn

Bức điện cuối cùng của Bác Hồ gửi Quốc trưởng Campuchia

 – Ngày 7/2/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới Quốc trưởng Vương quốc Campuchia Norodom Sihanouk để cảm ơn sự ủng hộ đối với lập trường của Việt Nam tại cuộc đàm phán với Mỹ ở Paris. Đây cũng là văn kiện cuối cùng trong mối giao tiếp hữu nghị với người đứng đầu Vương quốc láng giềng.

Chỉ hơn nửa năm sau, ngày 2/9/1969 nhà lãnh đạo Việt Nam qua đời. Ngày 9/9/1969, Quốc trưởng Sihanouk đã có mặt tại Hà Nội để dự lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh. Và sau rất nhiều biến cố lịch sử, trong hồi ký “Từ cuộc chiến chống CIA đến người tù của Khơ me Đỏ” viết sau này, Cựu vương Sihanouk đã bày tỏ:

“Từ buổi dự lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội, tôi được vinh dự đứng túc trực bên cạnh linh cữu. Tôi sực nhớ đến câu nói của Người mà tôi cho rằng không gì đúng hơn . Đó là câu “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Bác Hồ thăm và chúc Tết cán bộ và nhân dân Quảng Ninh(2/1965)Bác Hồ thăm và chúc Tết cán bộ và nhân dân Quảng Ninh (2/1965)

Cụ Hồ là một bậc cách mạng lão thành, xuất thân từ tầng lớp bình dân. Tôi là một nhà quý tộc thuộc dòng dõi quân chủ lâu đời nhất ở Campuchia. Cụ với tôi không chung thế hệ, bởi vì Cụ hơn tôi tới ba chục tuổi. Nhưng Cụ và tôi đều cùng chung nguyện vọng muốn cho nước nhà độc lập. Để đạt mục đích này, Cụ đã chọn con đuờng cách mạng gay go ác liệt. Còn tôi, một con người trẻ tuổi lại rất sợ đổ máu. Nhưng cuối cùng chính Cụ đã dạy cho chúng tôi bài học là tất cả các thế lực đế quốc chỉ cho các dân tộc bị chúng áp bức một con đường duy nhất để giành lại tự do. Đó là con đưòng đấu tranh vũ trang mà Hồ Chí Minh đã xác định”.

Cũng trong tập hồi ký này, Norodom Sihanouk còn viết : “Từ lâu tôi đã rất ngưỡng mộ Bác Hồ. Người không chỉ thuộc về nhân dân Việt Nam mà là cả Đông Dương, cả châu Á và có thể là cả thế giới, bởi vì Người luôn luôn bảo vệ những quyền lợi của các dân tộc bị áp bức ở các thuộc địa cũng như quyền lợi của những người da đen ở Mỹ.

Đối với riêng tôi, Người cũng là “đồng chí”. Người đã gửi cho tôi những bức thư trìu mến và tôi cũng luôn mong được gặp Người, nhất là trong những năm gần đây tôi thường đề nghị có cơ hội đi thăm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội. Nhưng các bạn Việt Nam nói Mỹ đang ném bom miền Bắc Việt Nam, một chuyến đi thăm như vậy là rất nguy hiểm đối với tôi.

Tôi đáp lại: “Thì đây chính là dịp để tôi biểu thị tình đoàn kết với Việt Nam”. Các bạn Việt Nam vẫn khẳng định: ”Ngài là Quốc trưởng Campuchia và cũng là người bạn lớn của Việt Nam. Chúng tôi phải chịu trách nhiệm trước nhân dân nước Ngài vì những trận ném bom của Mỹ”.

Và thế là mãi mãi tôi không bao giờ được gặp Chủ tịch Hồ nữa… Chuyến đi thăm đầu tiên của tôi tới nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà lại là để dự lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

X&N
bee.net.vn

Mùng 1 Tết cách nay 49 năm

– Ngày 6/2/1951 là mồng 1 Tết Tân Mão, trên báo “Cứu Quốc” của Mặt trận Liên Việt ra trước đó 1 ngày đã đăng “Thư chúc Tết” của Bác Hồ mang tinh thần phấn khởi sau chiến thắng của Chiến dịch Biên giới, cuộc kháng chiến bắt đầu có được nguồn lực của bè bạn quốc tế:

“Xuân này kháng chiến đã 5 xuân/ Nhiều xuân kháng chiến càng gần thành công/ Toàn dân hăng hái một lòng/ Thi đua chuẩn bị Tổng phản công kịp thời”.

Bác đến dự liên hoan tại Câu Lạc bộ thiếu nhi đêm giao thừa Nhâm Dần tháng 2/1962Bác đến dự liên hoan tại Câu Lạc bộ thiếu nhi đêm giao thừa Nhâm Dần tháng 2/1962

Nhật ký của Bộ trưởng Lê Văn Hiến ghi lại ngày Tết kháng chiến thứ 5 của Bác: “Mùng Một Tết Tân Mão. Vừa sáng, Hồ Chủ tịch đã dậy và đến phòng các vị bộ trưởng, thứ trưởng bắt tay và chúc Tết từng người một. Riêng Bộ Tài chính, Cụ chúc năm mới “phát tài”. Mọi người đều vui mừng và bắt tay Cụ trong phòng ngủ.

Một vài vị ngủ trưa (dạy muộn) bị Cụ “đột kích” chồm dậy mắt nhắm mắt mở nhảy xuống bắt tay Cụ và bập bẹ một câu nửa mê nửa tỉnh làm ai nấy cười rộ. Ăn sáng xong, Hội đồng Chính phủ họp…”.

Đây là cái Tết thứ hai các thành viên chính phủ ăn Tết chung, lần trước là Tết Đinh Hợi (1947) họp tại Quốc Oai (thuộc tỉnh Hà Đông, gần Hà Nội) lần này trên chiến khu Việt Bắc, lần trước đang đối phó với sự tấn công của giặc, lần này đã khai thông biên giới chuẩn bị Tổng phản công.

Tại kỳ họp Chính phủ này sau khi nghe chúc Tết của đại diện Quốc Hội (cụ linh mục Phạm Bá Trực), đại diện Chính phủ (cụ Phan Kế Toại, bộ trưởng cao niên nhất) và của Quân đội (Đại tướng Võ Nguyên Giáp), “Đến lượt Hồ Chủ tịch cám ơn và chúc mọi người. Cụ cho mang vào một mâm cam và biếu mỗi vị một quả với câu “khổ tận cam lại” (khổ mãi rồi cái sướng sẽ đến)… Cụ lại dặn các vị có gia đình thì đem về làm quà cho gia đình…” Cuộc họp kéo dài đến tối.

Tối hôm đó “Hồ Chủ tịch và các vị bộ trưởng, thứ trưởng chơi lửa trại. Hồ Chủ tịch bắt mỗi người đều có một trò chơi, hoặc làm thơ, hoặc nói chuyện hoặc hát. Bắt đầu là Hồ Chủ tịch rồi đến các vị khác theo thứ tự ABC…”. Ngày hôm sau Chính phủ tiếp tục họp cho đến 1 giờ chiều và mọi người lên đường tới địa điểm chuẩn bị cho cuộc họp trù bị Đại hội lần thứ Hai của Đảng diễn ra vài ngày sau đó.

Cùng trong ngày mùng Một Tết Tân Mão, Bác còn viết nhiều lá thư chúc Tết các đơn vị quân đội và đồng bào miền Trung Du vừa dành thắng lợi trong trên chiến trường và ký vài sắc lệnh liên quan đến việc giúp vốn cho người nghèo tăng gia sản xuất và giảm án tử hình cho một phạm nhân…

Ngày 6/2/1969, 10 giờ 15 phút, tại Phủ Chủ tịch, Bác làm việc với Đài phát thanh để ghi lời chúc mừng năm mới để phát vào phút giao thừa bước sang Xuân Kỷ Dậu, mùa Xuân cuối cùng với câu thơ kết thúc bằng một viễn cảnh tươi sáng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc: “Bắc Nam xum họp Xuân nào vui hơn!”.

X&N
bee.net.vn

Hai bài thơ chúc Tết thời kháng chiến

 Ngày 29/1 ứng với 2 ngày mùng 1 Tết Nguyên đán của năm Kỷ Sửu (1949) và Mậu Thân (1968).

Tết Kỷ Sửu vào thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã vượt qua thách thức của thời kỳ cầm cự, bài “Thơ chúc Tết” của Bác Hồ, người đứng đầu lực lượng kháng chiến mang đầy tinh thần khích lệ và lạc quan: “Kháng chiến lại thêm một năm mới/ Thi đua yêu nước thêm tiến tới/ Động viên lực lượng và tinh thần/ Kháng chiến càng thêm mau thắng lợi/ Người người thi đua/ Ngành ngành thi đua/ Ngày ngày thi đua/ Ta nhất định thắng!/ Địch nhất định thua!”.

Ngày 29/1/1960, Bác Hồ thăm Văn Miếu Quốc Tử Giám. Người xem bia ghi danh các tiến sĩ đầu tiên ở Việt Nam.Ngày 29/1/1960, Bác Hồ thăm Văn Miếu Quốc Tử Giám. Người xem bia ghi danh các tiến sĩ đầu tiên ở Việt Nam.

Cũng nhân ngày Tết Nguyên đán, từ chiến khu Việt Bắc, Bác gửi “Thư chúc Tết đồng bào trong vùng tạm thời bị địch chiếm”. Bằng những lời lẽ thống thiết, thư viết: “… Trong ngày xuân tươi ấm, Tết nhất vui vẻ, đại gia đình Việt Nam ở vùng tự do sum họp vui vầy để tưởng nhớ đến tổ tiên và hân hoan cùng con cháu, tôi ngậm ngùi nghĩ đến đồng bào…

Tôi rất đau lòng thương xót đồng bào tạm lâm vào hoàn cảnh ấy vì lũ thực dân hung ác, nhưng một phần cũng vì tôi, người phụ trách số phận đồng bào chưa lập tức xua đuổi được loài thú dữ và cứu vớt ngay đồng bào ra khỏi địa ngục thực dân…

Nhân dịp năm mới, tôi trịnh trọng tuyên bố với đồng bào rằng: Chính phủ và quân đội ta kiên quyết kháng chiến đến cùng, để tranh lại thống nhất và độc lập cho Tổ quốc, để mau mau giải phóng đồng bào ra khỏi lầm than…”.

19 năm sau, ngày 29/1/1968 chính là ngày “Tết Mậu Thân” ngày nay đã trở thành một thuật ngữ sử học gắn liền với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn bộ chiến trường miền Nam. Theo người thư ký thân cận là ông Vũ Kỳ thì vào thời điểm giao thừa này Bác không có mặt ở trong nước.

Ông viết: “Tối nay từ Bắc Kinh xa xôi, hai bác cháu lại ngồi im lặng bên nhau nghe tin tức, ngâm thơ Tết, chờ đón giao thừa. Chắc Bác đang nhớ về đất nước, nhớ chiến sĩ và đồng bào, nhớ các cháu thiếu nhi… Chỉ có mùa Xuân này Bác phải xa Tổ quốc…

Có tiếng pháo nổ ran tiễn Đinh Mùi và đón Mậu Thân. Cùng lúc, từ chiếc đài bán dẫn, lời chúc Tết của Bác Hồ vang lên sang sảng: “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua/ Thắng lợi tin vui khắp nước nhà/ Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ/ Tiến lên toàn thắng ắt về ta”. Trong căn phòng chỉ có 2 người… khi đài phát xong câu cuối của bài thơ, tôi bỗng nghe Bác nói khẽ “Giờ này, miền Nam đang nổ súng…”.

Giờ đây nhìn lại trận quyết chiến chiến lược này, lịch sử nói đến những hy sinh to lớn và cuộc chiến đấu còn gian khổ phải thêm 7 năm nữa mới tới ngày toàn thắng (1975), nhưng điều có thể khẳng định rằng nó đã tạo nên một bước ngoặt căn bản đánh bại ý chí xâm lược và buộc Mỹ phải bước vào cuộc hội đàm ở Paris.

X&N

bee.net.vn