Tag Archive | Cuộc đời Hồ Chí Minh

Những lời Bác dạy đầu tiên

Mùa thu năm 1946, tôi và ba đồng chí nữa được vinh dự theo Bác về nước trên chiếc tàu Đuymông Đuếvin. Tàu này là một chiếc tàu chiến đã cũ, chạy lừ đừ chậm chạp. Lúc bấy giờ, tình hình ở trong nước đang căng thẳng ai nấy đều sốt ruột mong về sớm, nhưng giờ đây nghĩ lại, đối với chúng tôi, đó là một dịp may hiếm có để được kéo dài những ngày chung sống với Bác.

Trên chuyến xe lửa từ Pari đi Macxây, Bác nói:

– Nước ta còn nghèo vì 80 năm bị đế quốc bóc lột, chiếm đóng. Đồng bào Nam bộ giờ đây còn đổ máu. Chúng ta còn gian khổ chiến đấu nhiều chứ chưa được sung sướng ngay đâu. Các chú về nước chính là để phục vụ Tổ quốc, phục vụ đồng bào…

Lên tàu rồi, một hôm Bác dặn:

– Ở nhà không có gì đâu. Nước ta thiếu máy móc, nguyên liệu, thiếu cả thợ lành nghề, tiền của ta lại ít. Song nước ta giàu về rừng núi, sông biển, đồng bào ta giàu về quyết tâm, dũng cảm và sáng tạo. Các chú về phải chịu thương, chịu khó làm ăn, đưa những cái đã học ở nước ngoài về áp dụng thiết thực vào trong nước, giúp đỡ và hướng dẫn anh em trong nước cùng làm.

Tôi còn nhớ lúc đi tàu, thỉnh thoảng có những hôm tên đại tá chỉ huy tàu tổ chức tập trận trên giữa biển cả mênh mông, tiếng súng đại bác, súng máy các loại thi nhau gầm thét, khói mịt mù, nước biển tung toé ngoài khơi. Trong chúng tôi, thoạt tiên cũng có người hồi hộp, nhưng riêng Bác vẫn điềm nhiên, ung dung hút thuốc lá, đứng xem. Bác mỉm cười bảo chúng tôi:

– Đấy, người ta thử kiểm tra tinh thần của các chú. Các chú có sợ không?

Nhân đó, Bác chỉ cho chúng tôi thấy bọn đế quốc thường hay phô trương, khoe khoang về sức mạnh vật chất, còn nhân dân cách mạng tuy nghèo nhưng hàng triệu người đoàn kết thành một khối, có tinh thần dũng cảm và mưu trí, nhất định đánh bại được bọn chúng…

Tại Đại hội liên hoan anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất, tôi được Bác khen…

Vinh dự đó thuộc về anh em ngành quân giới trong đó tôi nhờ sự chỉ bảo, dẫn dắt của Bác đã đóng góp một phần.

Những lời dạy của Bác như bức cẩm nang quyết định mọi thắng lợi trong công tác của tôi.

Theo dayhocintel.net

hcmpc.com.vn

Những chuyện ít biết về công tác bảo vệ Bác Hồ: Kỳ 2

Người cận vệ đầu tiên của Bác Hồ

Giadinh.net – Ông là người cận vệ đã bảo vệ Bác Hồ khi từ Côn Minh (Trung Quốc) về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Ông vinh dự và tự hào được Bác Hồ đặt tên, từng là Tư lệnh đầu tiên của Quân chủng Phòng không – Không quân và 23 năm liền giữ cương vị Phó Tổng tham mưu trưởng.

>> Kế hoạch bảo vệ an toàn đón Bác Hồ về nước

Ông là Thượng tướng Phùng Thế Tài, nguyên Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Từ đứa trẻ lang lang ở Côn Minh

Tên thật của ông là Phùng Văn Thụ, sinh ra trong một gia đình nghèo tại xã Văn Nhân, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây (cũ). Nhà đông anh em nên làm ruộng quanh năm mà không đủ ăn. Thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên mấy bà con đi buôn bán bên Trung Quốc bảo ông sang xin việc làm để kiếm sống.

Thượng tướng Phùng Thế Tài.

Năm 1933, khi đó mới 13 tuổi, ông theo một người làng đi kiếm sống. Điểm dừng chân đầu tiên của ông là thị trấn Chỉ Thôn, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Thị trấn này là một trạm hoả xa trung chuyển tất cả đầu máy từ Vân Nam về, từ Lào Cai của Việt Nam sang. Vì nhỏ tuổi nên ông không xin được việc của người lớn. Một gia đình bản địa nhận ông về làm giúp việc nhà.

Nhưng ở được một thời gian, vì không chịu được cảnh hống hách bắt nạt của con chủ nhà nên ông bỏ lên Côn Minh, thủ phủ của tỉnh Vân Nam. Suốt một tuần lễ không xin được việc gì. Giữa trời đông lạnh giá, bụng đói meo, quần áo tơi tả không có một bộ mang theo, ông lang thang rồi mệt ngủ luôn trên ghế đá công viên Hạ Lầu, ngoại thành Côn Minh. Đang thiu thiu, có một người đàn ông đánh thức dậy và nói bằng tiếng Việt: “Em từ đâu đến mà nằm ngủ ở đây?”

Sau khi trình bày hoàn cảnh của bản thân, ông được người đàn ông này đưa về hãng dầu cù là Nhị Thiên Đường. Qua một thời gian thử thách và được giác ngộ, ông được tham gia các đoàn thể và đi theo cách mạng.

Người gặp ông buổi tối ở công viên Hạ Lầu chính là đồng chí Vũ Anh (bí danh Trịnh Đông Hải). Thời gian đó đồng chí Vũ Anh được Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương cử sang Trung Quốc hoạt động cách mạng, làm Biện sự sứ, xây dựng cơ sở trong công nhân lao động. Năm 1939, chính đồng chí Vũ Anh đã dìu dắt, giúp đỡ và giới thiệu kết nạp ông vào Đảng Cộng sản Đông Dương (đồng chí Vũ Anh đã nhận ông làm con nuôi). Người thứ hai giới thiệu kết nạp ông là đồng chí Thanh Bình (sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đồng chí Thanh Bình là thứ trưởng Bộ Nội Vụ).

Thành cận vệ đầu tiên của Bác Hồ

Một buổi sáng đầu năm 1940, có người khách đến hãng Nhị Thiên Đường tìm gặp đồng chí Vũ Anh. Hai người đến địa điểm khác trao đổi công việc. Đến chiều, đồng chí Vũ Anh cho biết người đến tìm gặp là ông Trần và giao Phùng Thế Tài bảo vệ người này. Nhìn thái độ và nghe đồng chí Vũ Anh dặn dò cẩn thận, ông biết đây là một người rất quan trọng. Sau này, ông mới biết ông Trần chính là bí danh của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Và ông đã trở thành cận vệ đầu tiên của Bác Hồ từ thời khắc ấy. Sau này ông được Bác đặt tên là Phùng Hữu Tài (một thời gian sau ông xin Bác cho đổi tên là Phùng Thế Tài).

Bác Hồ tặng quà Tết và nói chuyện với các chiến sỹ Đoàn không quân Sao Vàng.

Về kỷ niệm ngày đầu bảo vệ Bác Hồ, Thượng tướng Phùng Thế Tài kể: “Sau khi đồng chí Vũ Anh giới thiệu tôi là cận vệ, ông Trần nhìn tôi tỏ ý hài lòng. Tuần lễ đầu, ông Trần và tôi nói chuyện với nhau bằng tiếng Trung Quốc, sau mới dùng tiếng Việt. Do nguyên tắc hoạt động bí mật nên cả ông Trần và tôi làm như không quen biết nhau. Gọi là đi bảo vệ nhưng thực ra tôi có súng ống gì đâu. Tôi vốn hiếu động, dạo trước đã làm một quả đấm sắt, một con dao. Vậy là giờ đây nó hữu ích. Tôi không được phép vào nhà ở của ông Trần, mà chỉ được đứng chếch ở bên phải hoặc bên trái lề đường để quan sát. Thấy ông Trần đi là tôi đi theo cách 5 đến 10 mét”.

Trong dịp Tết Tân Tỵ (năm 1941), ông cũng nằm trong số những cán bộ đi cùng để bảo vệ Bác Hồ về nước. Khi về đến cột mốc 108, ông Phùng Thế Tài được tổ chức phân công ở lại Côn Minh hoạt động. Vì thạo tiếng Trung Quốc nên quân đội Tưởng tuyển ông làm cho cơ quan tình báo để chuẩn bị cho kế hoạch “ Hoa quân nhập Việt” và cho ông vào học lớp quân chính về nghiệp vụ tình báo của trường quân sự Hoàng Phố.

Là ngưòi thông minh, tiếp thu nhanh, chỉ sau khóa học ông được phong cấp Thiếu Hiệu (ngang với Thiếu Tá). Chúng cấp cho ông một số giấy chứng nhận đặc biệt, có đóng dấu Tưởng Thống chế. Giấy này cho phép được đi lại trong toàn quốc. Lợi dụng sự ưu đãi này, ông đã tranh thủ hoạt động có lợi cho phía ta. Những giấy tờ đó cũng đã thực sự trở thành “bảo bối” cứu nguy cho những chuyến công tác bảo vệ lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sang Trung Quốc sau này.

Đầu năm 1942, ông được tổ chức giao nhiệm vụ phụ trách đợt chuyển vũ khí về nước. Sau đó, được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và đồng chí Vũ Anh cho ở lại Pác Bó tiếp tục làm nhiệm vụ bảo vệ Bác. Dạo đó, tổ bảo vệ “Ké Thu” (bí danh của Bác Hồ ở Pác Bó) gồm có: Phùng Chí Kiên, Lê Quảng Ba, Đinh Đại Toàn, Đặng Văn Cáp, Dương Đại Lâm, Phùng Thế Tài… Thời gian này cuộc sống của Ké Thu và tổ bảo vệ rất thiếu thốn. Lúc rảnh rỗi anh em trong tổ bảo vệ đi mò cua bắt ốc, đào củ mài. Thấy lãnh tụ Nguyễn ái Quốc gầy yếu anh em ưu tiên dành gạo nấu riêng. Người không cho làm như vậy và bảo: “Các chú chịu khổ được, Bác cũng chịu được”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm và chúc Tết Đoàn không quân Sao Vàng và các đơn vị bảo đảm kỹ thuật đường băng thuộc quân chủng Phòng không Không quân vào sáng mồng 1 Tết Đinh Mùi (9/2/1967). Cùng đi có Thượng tướng Văn Tiến Dũng-Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (người đi bên trái Bác) và Đại tá Phùng Thế Tài-Tư lệnh quân chủng Phòng không Không quân (người đi bên phải Bác).

Một mình bảo vệ Bác trở lại Trung Quốc

Tháng 8/1944, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lấy tên là Hồ Chí Minh và quyết định sang Trung Quốc gặp đại diện quân đồng minh để tranh thủ sự giúp đỡ. Đồng chí Phùng Thế Tài được giao nhiệm vụ bảo vệ Bác trong chuyến đi này.

Thượng tướng Phùng Thế Tài kể: “Lần ấy chỉ có một mình tôi đi bảo vệ Bác. Tôi mặc bộ dạ sỹ quan Tưởng oai lắm, nói thạo tiếng Trung Quốc, lại có sẵn giấy thông hành đặc biệt của chính quyền Tưởng Giới Thạch cấp hồi còn học ở trường quân sự Hoàng Phố nên yên trí. Bác mặc bộ quần áo của quân đội Tưởng, người ngoài nhìn chẳng khác anh lính trẻ đi với ông lính già. Khi đến Tĩnh Tây, cơm nước xong, Bác vào làm việc tại trụ sở của Quốc dân đảng Trung Hoa và là tổng hành dinh của Trung tướng Trần Bảo Xương.

Tối hôm đó, Bác ngủ ngay ở chỗ làm việc. Tôi không rõ Bác liên lạc với Trần Bảo Xương để làm gì, không dám hỏi vì nguyên tắc bí mật. Trên đường về phòng nghỉ, Bác nói bỏ quên mũ ở phòng khách bảo tôi quay lại lấy. Nhờ thế, tôi vô tình nghe lỏm được bọn Trần Bảo Xương đang bàn trong phòng kín tìm cách bắt giữ hai Bác cháu tôi. Tôi nghe thế rất lo, vội quay báo ngay với Bác. Bác rất bình tĩnh, chỉ thoáng một chút đăm chiêu. Suy nghĩ một lúc, Bác quyết định quay về Việt Nam ngay trong đêm hôm đó”.

“Nhưng làm sao mà ra khỏi hai cánh cổng sắt có lính gác của tổng hành dinh Trần Bảo Xương được? Như hiểu được ý tôi, Bác khẽ nói: “Ta đi ngay, không mang hành lý gì, đi người không, giả bộ với lính gác ra ngoài mua bao thuốc lá!”. Thoát khỏi được tổng hành dinh của Trần Bảo Xương, hai Bác cháu quên cả mệt, đi như chạy ra khỏi Tĩnh Tây và cuốc bộ một mạch không nghỉ. Sáng hôm sau trông thấy Bác quá mệt, người phờ phạc, lòng tôi quặn lại”.

Thời gian sau thấy năng khiếu chỉ huy quân sự và nguyện vọng của ông Phùng Thế Tài được đi chiến đấu ngoài mặt trận, Bác đồng ý. Trước khi ra mặt trận, Bác dặn ông: “Chú sẵn sàng đi chiến đấu, thế là tốt, nhưng nhớ đừng có “hữu dũng, vô mưu” đó nhé…”. Những lời Bác dạy, ông luôn thấm thía và là hành trang luôn theo ông, giúp ông vượt qua mọi khó khăn, gian khổ trong suốt cuộc đời. Ông đã trở thành vị tướng mà nói đến ai cũng biết: “Tướng Tài”.

Nguyễn Đức Qúy

giadinh.net.vn

Những chuyện ít biết về công tác bảo vệ Bác Hồ: Kỳ 1

Kỳ 1: Kế hoạch bảo vệ an toàn đón Bác Hồ về nước

Giadinh.net – Cuối tháng 2/1940, được tin lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về đến Côn Minh (Vân Nam, Trung Quốc), Trung ương Đảng đã cử một số cán bộ như: Phạm Văn Đồng (bí danh là Lâm Bá Kiệt), Võ Nguyên Giáp (bí danh là Dương Hoài Nam), Đặng Văn Cáp (bí danh là Đặng Văn Linh), Hoàng Văn Lộc và một số đồng chí khác sang Trung Quốc để tìm gặp, báo cáo tình hình trong nước và xin chỉ thị của Người.

Sau gần 3 tháng, đến tháng 5/1940 đồng chí Phùng Chí Kiên dẫn đồng chí Đặng Văn Cáp đến Côn Minh gặp Bác.

Những người bảo vệ Bác về nước

Sau khi trao đổi, Bác đồng ý phương án về nước bằng đường Côn Minh – Lào Cai, qua huyện Khai Viễn. Bác phái đồng chí Bùi Thanh Bình, Hoàng Văn Lộc về Hồ Kiều (một thị trấn của tỉnh Vân Nam sát địa phận tỉnh Lào Cai nước ta) để thăm dò đường sá. Người chịu trách nhiệm nhóm công tác bảo vệ Bác trong thời gian chuẩn bị về nước là đồng chí Phùng Thế Tài.

Hưởng ứng cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và tiến tới kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của Người, Báo GĐ&XH khởi đăng loạt tư liệu đặc biệt về công tác bảo vệ an ninh cho Bác.

Báo GĐ&XH cảm ơn Trung tá Nguyễn Đức Quý – Đội trưởng đội Nghiên cứu khoa học, Phòng Tham mưu, Bộ Tư lệnh Cảnh vệ – người đã trực tiếp chắp bút cho loạt bài này. Chúng tôi cũng trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo và cán bộ, chiến sỹ Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đã giúp đỡ để hoàn thành loạt tư liệu này. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Nhưng bất ngờ cuối tháng 6/1940 đường giao thông Côn Minh- Lào Cai bị tắc nghẽn nên kế hoạch không thực hiện được. Bác chỉ thị cho đồng chí Hoàng Văn Lộc phải trở lại ngay Côn Minh.

Ngày 5/1/1941, đồng chí Hoàng Văn Thụ, Thường vụ Trung ương Đảng từ Việt Nam sang Tân Khư (Tĩnh Tây- Quảng Tây- Trung Quốc) gặp Bác để báo cáo kết quả thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng về xây dựng và củng cố an toàn khu Cao Bằng và việc tổ chức thành lập Ban Công tác đội cũng như phong trào cách mạng ở đây.

Sau khi báo cáo kết quả việc chuẩn bị Hội nghị Trung ương lần thứ 8, đồng chí Hoàng Văn Thụ nêu nguyện vọng của Trung ương Đảng, đề nghị Bác về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đồng chí cũng đề nghị Bác về qua ngả Cao Bằng, vì trình độ giác ngộ cách mạng của nhân dân dọc biên giới tương đối cao và cán bộ ở đây vững vàng.

Ngày 6/1/1941, Bác Hồ cùng các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên, Đặng Văn Cáp… được đồng chí Hoàng Sâm dẫn đi qua Nậm Bo xuống Nậm Quang (Tĩnh Tây- Trung Quốc) để chuẩn bị lập kế hoạch cụ thể cho việc về nước. Tại đây, Bác Hồ đang mở lớp học và trực tiếp huấn luyện chính trị cho 43 đồng chí trong Ban công tác đội do Trung ương cử sang. Thời gian lớp học kéo dài khoảng 20 ngày, kết thúc vào dịp gần Tết Âm lịch năm 1941 (Tân Tỵ).

Bức họa bảo vệ Bác về đến cột mốc 108, ngày 28/1/1941 tại Pác Bó (Cao Bằng).

Sau khi kết thúc lớp học, Bác mới chỉ đạo kế hoạch về nước. Người quyết định qua cột mốc 108 về Pác Bó (Cao Bằng). Đoàn về nước được chia làm 3 nhóm. Nhóm thứ nhất do đồng chí Hoàng Sâm phụ trách về nước bằng đường Xuyên Sơn tới Pác Bó.

Nhóm thứ hai do đồng chí Phùng Chí Kiên phụ trách đi qua cột mốc 108, rồi theo đường 203 về Pác Bó. Hai nhóm này về trước nắm tình hình hoạt động của địch, và tổ chức khảo sát đường đi để Bác về nước. Ngay khi hai nhóm đầu lên đường về nước thì nhóm thứ ba, trực tiếp bảo vệ Bác cũng đi về bản Nậm Tẩy (Quảng Tây-Trung Quốc) để chờ tin trong nước, sẵn sàng xuất phát khi điều kiện thuận lợi. Khi về nước, hành lý mà Bác mang theo hầu như chẳng có gì. Chỉ có một chiếc vali nhỏ quần áo cũ và một chiếc máy chữ xách tay hiệu “Ba Bi”. Chiếc máy chữ này là vật dụng cá nhân quý giá mà Bác luôn mang theo bên mình.

Sau một thời gian nắm tình hình, thời cơ đến, Bác Hồ quyết định lên đường về nước. Nhóm bảo vệ trực tiếp và đi theo Bác Hồ lúc này ngoài đồng chí Phùng Thế Tài, còn có những người sau: Hoàng Văn Lộc- một cán bộ người dân tộc Tày, có kinh nghiệm hoạt động bí mật ở vùng Cao Bằng; Đặng Văn Cáp là thanh niên rất khoẻ, giỏi võ, bắn súng cũng rất giỏi và biết chữa bệnh bằng thuốc nam; Thế An cũng là một người dân tộc Tày, rất thông thạo đường rừng, đặc biệt là những đường đi tắt; Lê Quảng Ba cũng là một cán bộ người dân tộc Tày, rất am hiểu phong tục của đồng bào dân tộc ít người, thông thạo tiếng Dao, Mán, Nựng và tiếng Quan Hoả (Trung Quốc). Nhóm trực tiếp bảo vệ Bác Hồ do đồng chí Lê Quảng Ba phụ trách, tuy nhiên Bác Hồ chỉ đạo trực tiếp.

Cái Tết quê hương đầu tiên sau 30 năm xa Tổ quốc

Bác Hồ đã thống nhất kế hoạch hóa trang và phân công nhiệm vụ cho từng người. Về hóa trang, Bác phân tích: Vùng này có nhiều người dân tộc Nùng. Họ có phong tục, cứ đến Tết là các chàng rể (già cũng như trẻ) đều phải mang đồ lễ về “cúng ma” ở nhà bố mẹ vợ. Vì vậy, cả nhóm ăn mặc như những chàng rể người Nùng đang trên đường về nhà bố mẹ vợ. Bác Hồ cũng mặc một bộ quần áo đặc trưng của đàn ông Nùng thường mặc trong dịp Tết: quần áo chàm, đầu đội mũ kiểu bê-rê cũng may bằng vải màu chàm, chân đi đôi giày vải đen, quàng khăn để vừa ấm vừa che kín bộ râu.

Khu vực Bác làm việc trước đây.

Sáng sớm 28/1/1941, tức ngày mồng 2 Tết (Tân Tỵ), nhận được tin từ trong nước báo sang tình hình thuận lợi, cả đoàn xuất phát từ bản Nậm Quang từ rất sớm. Sau 8 giờ đi đường, khoảng 12h trưa thì cả đoàn đến dãy núi Phia Sum Khảo, nơi có cột mốc biên giới số 108 trên biên giới Việt – Trung, thuộc xã Trường Hà, châu Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.

Cùng lúc đó, nhóm được cử nhiệm vụ đi đón Bác do đồng chí Hoàng Sâm từ trong nước cũng có mặt tại cột mốc 108. Tất cả đều xúc động khi thấy Bác đứng lặng đi bên cột mốc số 108, ngắm nhìn núi rừng trùng điệp của tỉnh Cao Bằng- mảnh đất địa đầu của Tổ quốc. Sau 30 năm xa Tổ quốc, bôn ba đi tìm đường cứu nước, đúng vào dịp Tết cổ truyền của dân tộc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã trở về đất nước. Người cúi xuống cầm nắm đất lên hôn. Sau đó Bác vui vẻ bắt tay chúc Tết mọi người.

Rời cột mốc 108, cả đoàn theo con đường mòn xuống thung lũng Pắc Bó. Tại đây đoàn công tác bảo vệ bố trí Bác ở gia đình nhà ông Máy Lỳ, dân tộc Nùng, một cơ sở cách mạng tin cậy. Gia đình ông Máy Lỳ chỉ có hai vợ chồng và một người con gái. Đây là địa điểm thường được Trung ương Đảng chọn làm nơi hội họp và trạm dừng chân cho cán bộ đi công tác qua lại. Gia đình ông Máy Lỳ rất nghèo nhưng lại có tinh thần yêu nước nồng nàn. Căn nhà của ông nằm độc lập ở dưới một quả đồi nhưng thoáng đãng. Từ sân nhà nhìn ra có thể thấy toàn cảnh thung lũng ở phía trước. Sau nhà là một con suối, kế đến là một khu rừng rậm rất tiện cho yêu cầu bảo vệ khi có tình huống bất trắc có thể xảy ra.

Gia đình ông Máy Lỳ hầu như đã quen mặt biết tên hết các cán bộ trong đoàn nhưng không biết Bác là ai. Khi đến nhà ông Máy Lỳ, Bác mặc áo chàm, đi dép rơm, tay cầm gậy. Mọi người gọi Bác là ông Ké và giới thiệu là cán bộ dưới xuôi lên. Ông Máy Lỳ gọi con gái mang ra một thau nước nóng, mời ông Ké rửa trước.

Nghỉ ngơi một lát, ông Máy Lỳ lại sai con gái bưng một mâm cỗ Tết ra mời ông Ké và đoàn cán bộ dùng. Bên mâm cỗ Tết, mọi người trò chuyện râm ran, riêng Bác cứ lặng yên, nét mặt rất xúc động. Ông Máy Lỳ nâng bát rượu mời Bác và anh em cán bộ cùng đi. Bác chúc sức khoẻ ông Máy Lỳ. Ông Máy Lỳ rất vui, gọi vợ và con gái ra tiếp khách để tỏ lòng mến khách.

Đến ngày 8/2/1941, đoàn cán bộ bảo vệ tiếp tục đưa Bác vào ở và làm việc trong hang Cốc Bó.

(Còn nữa)
Nguyễn Đức Quý

giadinh.net.vn

Điện mừng Quốc khánh nước Cộng hoà Thống nhất Tandania (3-4-1969 )

Kính gửi Ngài Mơonlimu Duyliút K.Niêrêrê, Tổng thống nước Cộng hoà thống nhất Tandania, Đa ét Xalam.

Nhân dịp kỷ niệm lầnthứ nǎm Quốc khánh nước Cộng hoà thống nhất Tandania tôi xin gửi đến Ngài, Chính phủ và nhân dân Tandania anh em lời chúc mừng nhiệt liệt nhất.

Nhân dân Việt Nam rất vui mừng trước những thành tích tốt đẹp về mọi mặt mà nhân dân Tandania, dưới sự lãnh đạo của Ngài, đã thu được trong nǎm nǎm qua. Nhân dân Việt Nam chân thành chúc nhân dân Tandania thu được nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa trong sự nghiệp đấu tranh nhằm củng cố độc lập dân tộc, xây dựng nước Cộng hoà thống nhất Tandania phồn vinh, góp phần giữ gìn hoà bình ở châu Phi và trên thế giới, chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới do đế quốc Mỹ đứng đầu.

Trong những nǎm qua, quan hệ hữu nghị giữa hai nước chúng ta đã không ngừng phát triển. Chính phủ và nhân dân Tandania đã luôn luôn nhiệt tình ủng hộ cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước của nhân dân chúng tôi. Đó là biểu hiện rõ rệt của tình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân các nước á – Phi. Nhân dịp này, chúng tôi xin chân thành cảm ơn Chính phủ và nhân dân Tandania về sự ủng hộ quý báu đó.

Chúc tình hữu nghị giữa Việt Nam và Tandania ngày càng củngcố và phát triển.

Chúc Ngài sức khoẻ.

Hà Nội, ngày 23 tháng 4 nǎm 1969
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
Hồ Chí Minh

———————–

Báo Nhân dân, số 5491, ngày 26-4-1969.

cpv.org.vn

Người quay những thước phim cuối cùng về Hồ Chủ tịch

“9h47 ngày 2/9, Bác trút hơi thở cuối cùng. Nén nỗi đau, chúng tôi cố gắng ghi lại hình ảnh thiêng liêng này, nhưng cứ đưa máy lên là nước mắt giàn giụa, ướt nhòa cả thước ngắm máy quay”, ông Nguyễn Thanh Xuân nhớ lại.

Trong căn nhà nhỏ ở Làng Sen xã Kim Liên (Nam Đàn, Nghệ An), thiếu tá Nguyễn Thanh Xuân đã kể về cuộc đời cũng như việc thực thi nhiệm vụ đặc biệt của mình.

Năm 1952, khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang bước sang giai đoạn khó khăn, chàng trai 21 tuổi Nguyễn Thanh Xuân ở Làng Sen lên đường nhập ngũ tham gia các chiến dịch giải phóng Tây Bắc, Điện Biên Phủ… Kháng chiến chống Pháp thành công, Thanh Xuân tiếp tục cuộc đời binh nghiệp với nhiệm vụ tiếp quản thủ đô, tham gia diễu binh chào mừng chiến thắng, đón Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về từ chiến khu.

ông XuanNhà quay phim Nguyễn Thanh Xuân. Ảnh tư liệu.

Năm 1961, nhờ khả năng tổ chức văn nghệ, lại nhanh nhẹn và có năng khiếu nên Nguyễn Thanh Xuân được chuyển về công tác ở xưởng phim quân đội. Từ đây, người lính trẻ bắt đầu làm quen với chiếc máy quay Liên Xô và những thước phim. “Mặc dù được phân công phụ trách khói lửa cho những cảnh quay về chiến trường, nhưng hễ rảnh là tôi lại mày mò chiếc máy quay phim. Sau những ngày tháng học lỏm về thước ngắm, góc ảnh, tiêu cự, lấy nét… tôi đã sử dụng thành thạo máy quay Convat của Nga. Thấy vậy, cấp trên cho tôi đi học lớp nghiệp vụ để về quay phim”, ông Xuân kể về cơ duyên đến với nghề quay phim.

Cùng với Trần Anh Trà, đạo diễn Phạm Quốc Vinh…, Nguyễn Thanh Xuân trực tiếp quay những hình ảnh tư liệu về Hồ Chủ tịch khi đi thăm chiến sĩ pháo cao xạ, hải quân. “Chúng tôi rất xúc động với hình ảnh Bác Hồ xắn quần, lội ruộng thăm hỏi tình hình sản xuất của bà con nông dân như một lão nông tri điền; hình ảnh Bác chia kẹo cho thiếu nhi, chòm râu bạc trắng như một ông tiên với đôi mắt hiền từ bắt nhịp bài ca Kết đoàn và hát say sưa…”, người quay phim già kể.

Sáng 29/8/1969, hai nhà quay phim Nguyễn Thanh Xuân và Trần Anh Trà được Tổng cục Chính trị điều đi làm nhiệm vụ đặc biệt mà không biết đi đâu, làm gì. Nhận lệnh, hai người cẩn thận lau chùi lại máy móc, chuẩn bị phim nhựa rồi lên ôtô. “Xe chở chúng tôi tới Phủ Chủ tịch. Một cảm giác thật lạ, một chút hồi hộp, một chút vui mừng vì lần đầu tiên được đến đây và một chút lo lắng cứ đan xen trong tôi. Gặp Bác, ai cũng lệ nhòa nước mắt. Ông Vũ Kỳ, thư ký của Bác cho biết sức khỏe của Bác rất yếu. Bộ Chính trị yêu cầu tổ làm phim quân đội ghi lại những giây phút có lẽ là cuối cùng của Người”, ông Xuân nhớ lại.

Ngày 30/8, đoàn làm phim được thông báo “Bác đỡ hơn”. Đến sáng 1/9, ông Vũ Kỳ lại thông báo sức khỏe Hồ Chủ tịch tiến triển không tốt. Chiều hôm đó, 2 nhà quay phim Nguyễn Thanh Xuân, Trần Anh Trà được mang máy vào phòng bệnh để ghi hình. Chủ tịch Hồ Chí Minh nằm đó trong lặng im, đứng quanh là lãnh đạo Bộ Chính trị, Ban bí thư, Quân ủy Trung ương…, ai cũng lặng thinh, xúc động.

ông XuânDù đã bước sang tuổi 80 nhưng khi nhắc đến những phút giây được ghi lại hình ảnh cuối cùng về cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Xuân lại rưng rưng. Ảnh: T.P.

“Hai chiếc máy Liên Xô đều đã cũ, mỗi lần bấm máy lại phát ra những tiếng kêu rệu rạo nên chúng tôi rất ái ngại sẽ ảnh hưởng đến việc chăm sóc Bác. Để hạn chế tiếng ồn, chúng tôi đã dùng các tấm xốp để cách âm và chăm chú vào thước ngắm”, ông Xuân nhớ lại.

“Sáng 2/9, ông Vũ Kỳ thông báo sức khỏe Bác rất yếu và yêu cầu chúng tôi mang máy vào. 9h47, Bác trút hơi thở cuối cùng trong tiếng nấc nghẹn ngào, thương xót của những người có mặt. Chúng tôi cố gắng ghi lại hình ảnh thiêng liêng này, nhưng cứ đưa máy lên là nước mắt giàn giụa, ướt nhòa cả thước ngắm máy quay. Khi đó, chúng tôi cứ mở ống kính ở độ rộng nhất và cứ thế mà quay”, người quay phim nhớ lại.

Đến trưa, khi xe cứu thương chở thi hài Hồ Chủ tịch về Viện Quân y 108, ông Xuân lại được phân công ghi lại hình ảnh các chuyên gia Liên Xô tìm cách bảo vệ thi hài. Sau khi quay xong gần 5.000 mét phim nhựa lịch sử về những giây phút cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó có hình ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp xới cơm mời Bác, Bác dặn dò các lãnh đạo trong Bộ Chính trị…, toàn bộ hình ảnh được giao lại cho Xưởng phim quân đội để quản lý và bảo mật.

Năm 1989, khi UNESCO chuẩn bị kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, danh nhân văn hóa thế giới, Điện ảnh Quân đội và Bảo tàng Hồ Chí Minh quyết định giao cho đạo diễn Phạm Quốc Vinh dựng bộ phim về những giây phút cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh dựa trên hình ảnh mà hai nhà quay phim Nguyễn Thanh Xuân và Trần Anh Trà đã thực hiện.

“Đạo diễn Phạm Quốc Vinh đã dựng thành bộ phim Những giờ phút cuối đời Bác Hồ và được Cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh duyệt ngày 17/4/1989. Từ đó đến nay, phim được chiếu thường xuyên ở Bảo tàng, các dịp lễ. Khi xem lại những hình ảnh mình ghi, tôi cũng không cầm được nước mắt vì xúc động”, ông Xuân tâm sự.

Bước sang tuổi 80 nhưng đôi mắt của nhà quay phim quân đội Nguyễn Thanh Xuân vẫn tinh anh, cương nghị. Góc bàn thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh trong căn nhà nhỏ ở Làng Sen dù giản dị nhưng lúc nào cũng ấm cúng.

“May mắn được sinh ra trên quê hương Hồ Chủ tịch, được làm người lính cụ Hồ, được ghi lại những giây phút thiêng liêng, lịch sử mà xúc động về Người là niềm tự hào lớn nhất của cuộc đời tôi”, ông chia sẻ.

Theo VNEXPRESS

hcmpc.com.vn

Hồ Chí Minh trong hồi ức đẹp của nhà báo Pháp

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Léo Figuèrre (Ảnh tư liệu - Nguồn ảnh: VTV4)

Bộ phim tài liệu Hồ Chí Minh – Ước vọng hòa bình (thời lượng 47 phút 50 giây) do bà Dominique de Miscault, một nhà báo, họa sỹ, nhiếp ảnh đồng thời là một nhà hoạt động xã hội thuộc dòng dõi quý tộc Pháp sản xuất vừa được bà đích thân trao tặng cho kênh Truyền hình Đối ngoại VTV4 của Đài Truyền hình Việt Nam.

Dành trọn vẹn một năm để tổ chức sản xuất sau khi đã có một thời gian dài dụng công nghiên cứu và tích lũy vốn hiểu biết về con người vĩ đại Hồ Chủ tịch, nay “đứa con tinh thần” được nuôi dưỡng bằng tất cả niềm say mê, tâm huyết và sự nghiệp của Dominique đã được bà trao về với quê mẹ.

Gian nan một chặng đường…

Bà Dominique cho biết, bộ phim tài liệu này có nội dung dựa theo cuốn sách Je reviens au Vietnam libre (Tôi trở lại đất nước Việt Nam tự do) cùng những ghi chép về chuyến đi trên 20.000km để đến Việt Bắc trong chiến tranh và những cảm nhận của cố nhà báo Léo Figuèrre – nguyên Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thanh niên dân chủ thế giới, Tổng biên tập báo Tiền Phong Pháp đã vừa mất hồi tháng 8/2011 về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại chiến khu Việt Bắc năm 1950.

Bộ phim đã tập trung khắc hoạ sự tài tình trong lãnh đạo, tinh tế trong văn hóa ứng xử và tinh thần yêu chuộng hòa bình, lòng yêu thương con người của Bác.

Hình ảnh ông Léo Figuèrre những năm cuối đời và bà Dominique – Nguồn ảnh: VTV4

Bộ phim được tổ chức theo hình thức phỏng vấn, lồng ghép những cảnh chiến khu Việt Bắc trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp nhằm thể hiện những ấn tượng tốt đẹp cũng như những suy nghĩ, trải nghiệm của ông Léo Figuèrre về đất nước, con người Việt Nam ngày nay yêu chuộng tự do và độc lập.

Với thời lượng chưa đầy 50 phút, bộ phim đã thể hiện được những giá trị tình cảm lớn lao và khát vọng hòa bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như những tiên đoán tài tình của Người trong quá trình lãnh đạo cuộc kháng chiến và tình cảm yêu mến, kính trọng của bạn bè quốc tế nói chung và nhân dân Pháp nói riêng đối với vị Cha già của dân tộc Việt Nam.

Một năm làm phim cũng làm quãng thời gian đầy những gian khó. Bà Dominique đã phải tiến hành thu thập tư liệu hình ảnh về Bác Hồ và Việt Nam tại Trung tâm lưu trữ vùng Aix Provence, Sucy, Montmorency, Paris và một số địa điểm khác ở Pháp.

Ngoài ra, bà còn gặp gỡ và tác động nhà báo Léo Figuèrre để ông đồng ý tham gia làm phim và trả lời phỏng vấn, sau đó phối hợp với phóng viên Hãng Truyền hình Arte của Pháp và tiến hành quay phim tại Pari và nhiều địa phương khác.

Một cảnh trong phim – Nguồn ảnh: VTV4

Và đương nhiên, để xây dựng được một tác phẩm trọn vẹn, bà Dominique cũng đã phối hợp với các cơ quan hữu quan Việt Nam tiến hành thu thập và thẩm định các thông tin, tài liệu, cứ liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Việt Nam.

… Nghệ sĩ làm phim tài liệu chính trị, lịch sử

Nhà làm phim chuyên nghiệp cũng không dễ dàng nếu muốn sản xuất phim tài liệu, chưa nói đó lại là một bộ phim chính trị, lịch sử. Trong khi Dominique de Miscault lại là một nghệ sĩ vốn chỉ quen cầm cọ vẽ, bút viết, chụp ảnh, quen ghi lại cuộc sống bằng tâm hồn lãng mạn với những gam màu đậm tính thẩm mỹ về cái đẹp chưa chưa làm phim bao giờ.

Có lẽ phải bằng một tình yêu mãnh liệt với Hồ Chí Minh Dominique mới có đủ can đảm và niềm tin để xây dựng nên một Hồ Chí Minh – Ước vọng hòa bình dung dị và giàu cảm xúc đến thế.

“Thật khó khăn với tôi bởi tôi là một nghệ sĩ nên đối tượng tôi hướng tới và thường thích là những gì mang vẻ đẹp thẩm mỹ, còn đây lại là danh nhân chính trị, lịch sử. Nhưng dù vậy tôi vẫn muốn cố gắng mang đến một cách nhìn hết sức nhân văn và đậm tính thẩm mỹ về nhân vật Hồ Chí Minh. Vì với tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh trước hết là một Con Người,” bà Dominique nói.

Bà Dominique cũng cho biết thêm, bộ phim này được làm dựa trên sáng kiến của người bạn Việt Nam. Người bạn này đã “thắp lửa” cho tình yêu Hồ Chí Minh của bà. Khi thực sự bắt tay vào làm mới thấy nhiều khó khăn chồng chất do“độ vênh về văn hóa giữa Việt Nam và Pháp.”

Một cảnh trong phim – Nguồn ảnh: VTV4

Rồi yếu tố tài chính khó khăn đôi khi cũng khiến Dominique mệt mỏi. Bởi phim đã được khởi động trong 10 năm trời trước khi chính thức sản xuất trong vòng một năm, từ tháng 10/2010 và vừa mới hoàn thành tháng 10/2011.

“Nhưng điều quan trọng là chúng ta đã được làm cùng nhau,” bà Dominique khẳng định.

Tiếp nhận Hồ Chí Minh – Ước vọng hòa bình, Trưởng ban Truyền hình Đối ngoại, kênh Truyền hình VTV4 Bạch Ngọc Chiến cho biết, phim chưa trình chiếu ở đâu và sẽ được Ban biên tập VTV4 phát sóng vào thời điểm phù hợp như dịp Quốc khánh 2/9, sinh nhật Bác hay dịp Tết…

“Có thể chúng tôi sẽ sử dụng bản tiếng Pháp với phụ đề tiếng Việt hoặc lồng tiếng Việt,” ông Chiến nói.

VTV4 là đơn vị truyền hình đầu tiên tiếp nhận bản quyền phát sóng bộ phim này. Đây cũng chính là cơ hội giúp khán giả cả nước tìm hiểu xem cách nhìn nhận, đánh giá của người nước ngoài về vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam anh hùng./.

ChiLê (Vietnam+)

vietnamplus.vn

Điện cảm ơn Chủ tịch Trịnh Đình Thảo và Uỷ ban Trung ương Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam (23-5-1969)

Kính gửi Chủ tịch Trịnh Đình Thảo, Uỷ ban Trung ương Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam,

Thưa Chủ tịch thân mến,

Tôi xin chân thành cảm ơn Chủ tịch và các vị trong Uỷ ban Trung ương của Liên minh về những lời chúc mừng thân thiết nhân dịp ngày sinh của tôi.

Ra đời cách đây hơn một nǎm trong cao trào tổng tiến công và nổi dậy, Liên minh ngày càng phát huy tác dụng to lớn của mình, tập hợp đông đảo các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình ở các thành thị miền Nam, luôn luôn sát cánh với Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, để cùng nhau đưa sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn.

Tôi tin rằng Liên minh sẽ giành thêm nhiều thành tích rực rỡ hơn nữa.

Dù đế quốc Mỹ còn điên cuồng giở những thủ đoạn tàn ác và thâm độc, chúng nhất định sẽ thất bại, nhân dân ta nhất định sẽ thắng lợi.

Xin chúc Chủ tịch, các vị trong Uỷ ban Trung ương và toàn thể thành viên của Liên minh cố gắng hơn nữa và giành được nhiều thắng lợi hơn nữa trong cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước.

Hà Nội, ngày 23 tháng 5 nǎm 1969
Hồ Chí Minh

—————————

Báo Nhân dân, số 5519, ngày 25-5-1969.

cpv.org.vn

Thư gửi lớp chỉnh huấn cán bộ trung, cao cấp của quân đội(1) (5-1969)

Bác được báo cáo về lớp chỉnh huấn của cán bộ trung cấp và cao cấp trong quân đội, do Bộ Tổng tư lệnh tổ chức. Bác thân ái gửi lời thǎm hỏi tất cả các chú và chúc các chú học tập tốt.

Trong cuộc chống Mỹ, cứu nước, do đường lối của Đảng ta rất đúng đắn, bộ đội và nhân dân ta rất anh dũng cho nên chúng ta đã giành được nhiều thắng lợi lớn. Chúng ta có nhiều kinh nghiệm mới, nhiều ưu điểm, nhưng cũng còn nhiều khuyết điểm. Vì vậy, bộ đội ta, trước hết là cán bộ, phải học tập để phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, nâng cao trình độ về mọi mặt, làm cho ta càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng.

Bác dặn các chú:

– Vấn đề số một là phải không ngừng nâng cao quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, đánh cho đến thắng lợi cuối cùng. Phải có quyết tâm cao để vượt mọi khó khǎn làm tròn nhiệm vụ. Quyết tâm phải biến thành hành động dũng cảm, chiến đấu kiên quyết, không sợ hy sinh gian khổ, triệt để chấp hành nghiêm chỉnh mọi chỉ thị, mệnh lệnh, trong bất kỳ tình huống nào cũng phải chỉ huy đơn vị quyết đánh, quyết thắng, cũng phải quản lý đơn vị chặt chẽ, giữ nghiêm kỷ luật, chấp hành tốt mọi chính sách.

– Phải có cách đánh giặc tốt. Trong mỗi lần hoạt động phải rút kinh nghiệm và học tập kinh nghiệm tốt các đơn vị đánh giỏi, để đơn vị nào cũng đánh giỏi, địa phương nào cũng đánh giỏi.

– Tinh thần trách nhiệm phải cao. Phải thật sự đồng cam cộng khổ với chiến sĩ.

– Phải giáo dục bộ đội giữ gìn tốt vũ khí trang bị, tiết kiệm từng viên đạn, từng hạt gạo, không được để lãng phí.

Bác nhờ các chú chuyển lời thân ái thǎm hỏi toàn thể cán bộ, chiến sĩ và đồng bào các nơi các chú đóng quân. Chúc các chú lập được chiến công.

Chào thân ái và quyết thắng

Bác Hồ

Bản gốc bức thư lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

—————————-

1) Lớp chỉnh huấn cán bộ trung, cao cấp của quân đội họp tháng 5-1969.

cpv.org.vn

Lời kêu gọi nhân ngày 20 tháng 7 (20-7-1969)

Hỡi toàn thể quân và dân yêu quý!

15 nǎm trước đây, sau thắng lợi vẻ vang Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ về Việt Nam đã công nhận các quyền cơ bản của dân tộc ta là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Hiệp định ấy quy định đến tháng 7 nǎm 1956 phải tiến hành tổng tuyển cử tự do để thống nhất cả nước Việt Nam.

Nhưng đế quốc Mỹ đã trắng trợn phá hoại Hiệp định Giơnevơ, xâm lược đất nước ta, gây ra cuộc chiến tranh thực dân tàn bạo nhất trong lịch sử loài người.

Suốt 15 nǎm qua, quân và dân cả nước ta, đoàn kết một lòng, vượt mọi hy sinh, gian khổ, chiến đấu cực kỳ anh dũng chống Mỹ, cứu nước. Các kế hoạch xâm lược của đế quốc Mỹ đã lần lượt phá sản, thất bại của Mỹ ngày càng nặng; nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và nhất định sẽ thắng lợi hoàn toàn.

Quân và dân miền Bắc đã đập tan chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ.

Quân và dân miền Nam đang đánh thắng “chiến tranh cục bộ” của chúng.

Từ mùa Xuân Mậu Thân đến nay, tình hình đã thay đổi hẳn, có lợi cho ta, không lợi cho địch. Bốn phần nǎm đất đai với ba phần tư số dân miền Nam đã được giải phóng. Trong những điều kiện thắng lợi ấy, Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam đã họp và nhất trí bầu ra Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam 41 và Hội đồng cố vấn. Chính phủ ấy liền được hai mươi hai nước anh em và bầu bạn công nhận, nhân dân thế giới nhiệt liệt hoan nghênh.

Phản bội lợi ích của nhân dân Mỹ, Tổng thống Níchxơn vẫn tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam nước ta, tǎng cường đánh phá bằng máy bay B.52 và chất độc hoá học, điên cuồng ném bom phá huỷ làng mạc, thành thị, tàn sát đồng bào ta, gây thêm nhiều tội ác vô cùng man rợ.

Níchxơn thực hiện âm mưu “phi Mỹ hoá” chiến tranh 42 hòng dùng quân nguỵ đánh lại nhân dân miền Nam Việt Nam.

Tại Hội nghị Pari, đế quốc Mỹ cứ khư khư đưa ra những đòi hỏi cực kỳ vô lý, không chịu thảo luận nghiêm chỉnh giải pháp toàn bộ 10 điểm hợp tình, hợp lý do Mặt trận dân tộc giải phóng và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam chủ trương.

Níchxơn định rút 25.000 quân Mỹ, hòng xoa dịu dư luận nhân dân Mỹ và dư luận thế giới. Đó là một trò bịp.

Nhân dân Việt Nam kiên quyết đòi tất cả quân Mỹ và quân chư hầu của Mỹ phải rút hết sạch, chứ không phải chỉ rút 25.000 hoặc 250.000 hay là 50 vạn, mà phải rút hết, toàn bộ, không điều kiện. Chỉ có như thế, mới lấy lại được danh dự của nước Mỹ và tránh cho hàng chục vạn thanh niên Mỹ phải tiếp tục chết một cách vô ích ở miền Nam Việt Nam, tránh cho hàng chục vạn gia đình Mỹ khỏi bị tang tóc đau thương.

Sau khi quân Mỹ và quân chư hầu của Mỹ rút hết, miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng khỏi ách ngoại xâm, Chính phủ liên hợp lâm thời, như đã ghi trong giải pháp toàn bộ 10 điểm, sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do và dân chủ để nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định chế độ chính trị của mình, bầu ra Quốc hội lập hiến, xây dựng hiến pháp và thành lập Chính phủ liên hợp chính thức của miền Nam Việt Nam, không cho phép nước ngoài can thiệp vào. Hễ quân Mỹ và ngụy quyền còn tồn tại ở miền Nam Việt Nam thì quyết không thể có tổng tuyển cử thật sự tự do và dân chủ.

Đế quốc Mỹ thất bại đã rõ ràng nhưng chúng chưa chịu từ bỏ dã tâm bám lấy miền Nam nước ta. Quân và dân cả nước ta, triệu người như một, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, không sợ hy sinh, không sợ gian khổ, quyết kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến, quyết chiến quyết thắng, đánh cho quân Mỹ phải rút hết sạch, đánh cho nguỵ quân và nguỵ quyền sụp đổ hết, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hoà bình thống nhất nước nhà.

Nhân dịp này, tôi thay mặt quân và dân Việt Nam ta chân thành cảm ơn sự ủng hộ và giúp đỡ quốc tế to lớn và tin rằng các nước xã hội chủ nghĩa anh em, chính phủ và nhân dân các nước yêu chuộng hoà bình, công lý, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ, sẽ tǎng cường ủng hộ và giúp đỡ nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn.

Quân và dân cả nước ta hǎng hái tiến lên!
Đế quốc Mỹ xâm lược nhất định thua!
Nhân dân Việt Nam nhất định toàn thắng!

————————

Báo Nhân dân, số 5575, ngày 20-7-1969.

cpv.org.vn

Những nhận định thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đúng lúc phát xít Nhật vừa đầu hàng, quân Đồng minh chưa kịp tiến vào, Đông Dương bị bỏ ngỏ, Hồ Chí Minh đã chỉ ra đó là thời cơ ngàn năm có một.

Thời cơ ấy đến trong mùa thu năm 1945, và đã được tận dụng triệt để. Chỉ một lực lượng nhỏ, chỉ cần dùng uy thế của quần chúng cũng lấy được chính quyền, khai tử chế độ phong kiến, nô lệ, xây dựng nền cộng hòa dân chủ. Một sự kiện vĩ đại trong vài ba sự kiện vĩ đại nhất trong lịch sử ngàn năm của dân tộc.

Điều lạ lùng là lãnh tụ Hồ Chí Minh đã đoán biết được thời cơ này từ nhiều năm trước. Đoán một cách chắc chắn, cụ thể, không chỉ bằng lời nói, mà bằng bút mực, giấy in hẳn hoi.

Đó là cuối năm 1941, chiến tranh thế giới đang tràn lan, châu Âu, châu Phi bị quân Đức, Ý giày xéo. Châu Á- Thái Bình Dương quân Nhật đang thắng thế quân Anh, Mỹ. Trung Quốc khói lửa mù mịt. Đông Dương đã rơi vào tay Nhật. Trong tình hình ấy, lãnh tụ Hồ Chí Minh vào ngày năm mới 1/1/1942 đã có một nhận định táo bạo, thiên tài: “Ta có thể quyết đoán rằng, Nga nhất định thắng, Đức nhất định bại. Anh-Mỹ sẽ được, Nhật Bản sẽ thua. Đó là một dịp rất tốt cho dân ta khởi nghĩa đánh đuổi Pháp, Nhật, làm cho tổ quốc ta được độc lập tự do.

Trong lúc ấy mà đoán được kết cục chiến tranh đâu phải dễ. Và phải nói là rất thiên tài khi thấy đó là một cơ hội cho dân tộc. Cụ thể hơn nữa, vào tháng 10/1944, vừa ra khỏi nhà tù Quốc dân đảng Trung Quốc trở về, Người chỉ rõ: “Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt. Các Đồng minh quốc sắp tranh được sự thắng lợi cuối cùng. Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ trong một năm, hoặc năm rưỡi nữa.”

Thực tế lịch sử đã diễn ra, cơ hội đến sau đó đúng một năm!

Điều lạ lùng hơn nữa là vào năm 1942, khi viết “Lịch sử nước ta” lãnh tụ Hồ Chí Minh đã ấn định được ngày Việt Nam độc lập. Đây là một cuốn lịch sử bằng thơ lục bát, do Việt Minh tuyên truyền Bộ ấn hành 2/1942.

Cuốn sách được mở đầu:
Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam
Kể năm hơn bốn nghàn năm
Tổ tiên rực rỡ anh em thuận hòa…

Sau đó tác giả nhắc đến các sự kiện, các nhân vật lịch sử kể từ Hùng Vương, Thục Phán đến Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Lê Lợi… đến Nguyễn Huệ, Hoàng Hoa Thám… Những sự kiện lịch sử gần nhất được nhắc đến là:

Kìa Yên Bái, nọ Nghệ An
Hai lần khởi nghĩa tiếng vang toàn cầu
Nam kỳ im lặng đã lâu
Năm kia khởi nghĩa đương đầu với Tây

Sau khi tóm tắt lịch sử nước nhà, tác giả kêu gọi:

Chúng ta có hội Việt Minh
Đủ tài lãnh đạo chúng mình đấu tranh
Mai sau sự nghiệp hoàn thành
Rõ tên Nam Việt, rạng danh Lạc Hồng

Điều kỳ lạ nhất của cuốn lịch sử mà chúng tôi muốn nói đến nằm ở phần phụ lục ghi chú “Những năm quan trọng”. Tác giả đưa ra 30 cái mốc quan trọng:
Trước tây lịch
– 2879 Hồng bàng
-111 Tàu lấy nước ta lần đầu
Sau tây lịch
– 40 Hai Bà trưng đánh Tàu
– 248 Bà Triệu Ẩu khởi nghĩa
– 554 Vua Lý đánh Tàu
– 608 Tàu lấy nước ta
– 939 Vua Ngô khởi nghĩa
– 968 Đời Đinh (12 năm)

…………………………………………….

– 1794 Gia Long thông với Tây
– 1893 Ông Phan Đình Phùng khởi nghĩa
– 1940 Bắc Sơn và Đô Lương khởi nghĩa
– 1941 Nam kỳ khởi nghĩa
– 1945 Việt nam độc lập

Nhận định “Nga nhất định thắng, Đức nhất định bại. Anh-Mỹ sẽ được, Nhật Bản sẽ thua” trong lúc cục diện chiến tranh đang nghiêng hẳn về phe phát xít thể hiện một lòng tin, một cái nhìn sáng suốt về sự phát triển của lịch sử, hay như ta vẫn nói, về “thế lớn trong thiên hạ”. Làm được điều này đã là thiên tài, nhưng chưa làm cho người đời sau kinh ngạc bằng việc nói lên một điều cụ thể.

Năm 1942 đen tối nhường ấy mà ấn định được cái mốc “1945 Việt Nam độc lập” thì quả là thiên tài, thiên tài đến lạ lùng!

Theo: Công thương online

hcmpc.com.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời chất vấn Quốc hội

Sáng 28/10/1946, khóa họp lần thứ hai của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khai mạc tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Các đại biểu đứng lên chất vấn những công việc mà dân đã ủy nhiệm cho Chính phủ. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ trả lời chất vấn.

Hàng vạn nhân dân đón mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị được giới thiệu ứng cử đại biểu QH tại Hà Nội (5/1/1946). Ảnh tư liệu.

“Chất vấn biểu lộ tinh thần dân chủ”

Sáng 28/10/1946, khóa họp lần thứ hai của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khai mạc tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Nhà hát Lớn sáng hôm ấy được trang hoàng đầy vẻ mỹ thuật và uy nghiêm. Trên tường, tấm  vải đỏ căng những dòng chữ vàng: “Đoàn kết, thống nhất, độc lập, tự do, hạnh phúc”.

Ở trước Nhà hát Lớn, nhân dân tụ họp khá đông để theo dõi buổi họp Quốc hội qua máy phát thanh. Đúng 8 giờ các đại biểu Quốc hội đến đầy đủ, có cả quan khách ngoại quốc như lãnh sự Anh, Mỹ, Trung Hoa, Thụy Sĩ; các phóng viên của Mỹ, Pháp, Anh…

Toàn thể đại diện Quốc hội khóa I chụp ảnh với Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tất cả đang chờ đợi một khóa họp Quốc hội mà chỉ nghe qua chương trình nghị sự đã có thể cảm nhận được tầm quan trọng của nó đối với vận mệnh đất nước: Các Bộ trưởng trả lời chất vấn; Hồ Chủ tịch trả lời chất vấn; Chính phủ từ chức; Quyết nghị của Quốc hội đối với Chính phủ; Trình bày dự án Hiến pháp; Thảo luận Hiến pháp…

Buổi họp ngày 31/10, người dân đến dự thính buổi họp Quốc hội tăng đột biến. Hai tầng gác Nhà hát Lớn kín những người ngồi, đứng. Người dân đến đông để chứng kiến một cảnh tượng chưa từng có trong lịch sử Việt Nam, một cảnh tượng do Cách mạng tháng Tám mang lại: các đại biểu của nhân dân đứng lên chất vấn những công việc mà nhân dân đã ủy nhiệm cho Chính phủ gánh vác.

Quốc hội – với đại diện của nhiều thành phần  như Dân chủ, Xã hội, Việt Minh… đã đặt ra nhiều câu hỏi chất vấn Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu.

Hồ Chủ tịch bước lên diễn đàn, ôn tồn nói: “Sáng nay, Chính phủ nhận được 62 câu hỏi. Nửa tiếng đồng hồ lại nhận thêm được 26 câu hỏi nữa. Tất cả 88 câu. Chính phủ trước hết xin cảm ơn Quốc hội vì đã tỏ rõ Quốc hội hết sức quan tâm về các vấn đề của Quốc gia và sự chất vấn này có thể biểu lộ được rõ ràng tinh thần dân chủ thật thà của nước Việt Nam.

Chính phủ đã xét kỹ từng câu hỏi ấy và chia ra làm hai loại: Nội chính và ngoại giao. Trong hai loại ấy lại chia ra những câu thuộc về từng Bộ: Quân sự, Quốc phòng, Ngoại giao, Kinh tế… Những câu hỏi chú trọng nhất là về quân sự, rồi đến tài chính, tư pháp, nội vụ”…

Hồ Chủ tịch trả lời một số câu hỏi: “Về ông Phó Chủ tịch Nguyễn Hải Thần, ông nguyên Bộ trưởng Bộ ngoại giao Nguyễn Tường Tam  và ông nguyên Phó Chủ tịch Quân ủy hội Vũ Hồng Khanh. Các ông ấy bây giờ không có mặt ở đây. Lúc nước nhà đang gặp bước khó khăn, quốc dân tin ở người nào mới trao cho người ấy công việc lớn. Thế mà các ông ấy lại bỏ đi thì các ông ấy phải tự hỏi lương tâm thế nào.

Trả lời thế là đủ. Những người bỏ việc đi kia, họ không muốn gánh việc nước nhà hoặc họ cũng không đủ sức mà gánh nổi. Nay chúng ta không có họ ở đây, chúng ta cũng cứ gánh được như thường. Nhưng nếu các anh em ấy biết nghĩ lại mà trở về  thì chúng ta cũng hoan nghênh”.

Sau đó, Hồ Chủ tịch trả lời một số câu hỏi chất vấn về  đường lối ngoại giao của Chính phủ. Trả lời xong, trước khi bước xuống, Người nói với toàn thể Quốc hội: “Nếu trong Chính phủ, có những người khác lầm lỡ thì lỗi ấy tôi xin chịu, xin gánh và xin lỗi đồng bào”. Tiếng vỗ tay theo Hồ Chủ tịch cho đến khi Người về chỗ ngồi.

Vì sao bán thuốc không kiểm soát giá và chất lượng?

Đến lượt các thành viên Chính phủ tiếp tục trả lời chất vấn. Bà Nguyễn Thị Thục Viên chất vấn ông Trương Đình Tri (Bộ trưởng Bộ Y tế và Xã hội) vì sao việc bán thuốc lại không kiểm soát giá và chất lượng thuốc?

Ông Trương Đình Tri trả lời: Việc đó rất đáng tiếc, nhưng không làm thế nào được vì không có hội đồng hóa giá. Từ khi Nhật đảo chính Pháp, thuốc chữa bệnh đã tràn vào lộn xộn.

Bộ Y tế và Xã hội đã chỉ thị cho các nhà buôn còn giữ thuốc không độc và thông thường thì phải khai và chỉ được phép bán đến cuối năm 1946. Đã có sắc lệnh cho kiểm soát chất lượng thuốc, nhất là thuốc tiêm. Ai khiếu nại sẽ xét cẩn thận.

Ông Nguyễn Đình Thi chất vấn Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Ca Văn Thỉnh về chính sách văn hóa của Chính phủ. Ông Ca Văn Thỉnh cho biết: Đại thể chính sách ấy là xây dựng một nền văn hóa dân chủ thay vào nền văn hóa cũ, chịu ảnh hưởng phong kiến và thực dân.

Nền văn hóa ấy phổ cập cho tất cả nhân dân cùng hưởng thụ và tham dự. Nó phải có tính cách dân chủ và dân tộc. Nhưng cái tính cách quốc gia này không hẹp hòi vì nền văn hóa ấy sẽ thâu nhận tất cả những ưu điểm và tinh hoa của các nền văn hóa trên thế giới.

Ông Hoàng Đạo Thúy tỏ ra lo ngại về cấp tiểu học năm nay bắt đầu chậm và thiếu sách giáo khoa. Bộ trưởng Ca Văn Thỉnh trả lời: Năm nay học trò tiểu học nhập trường chậm mất 15 ngày, điều đó vì tình thế. Các trường đến đây bị quân ngoại quốc dùng làm nơi ở. Sau đó phải sửa sang lại nhiều.

Còn sách giáo khoa là một vấn đề rất khó khăn vì giấy in và nhà in chưa giải quyết được. Bản thảo những sách ấy đã có hết rồi  chỉ chờ lần lượt xuất bản. Để bù vào chỗ thiếu, Bộ Giáo dục đã ra một tờ giáo dục tân văn.

Cũng trong phiên chất vấn, Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến trả lời về ngân sách, thuế khóa, lương công chức… Bộ trưởng Tư pháp Vũ Đình Hòe nói về việc áp dụng luật của Việt Nam với người ngoài quốc  sống ở Việt Nam và làm thế nào để ngăn chặn nạn hối lộ. Nghị trường thực sự  “nóng”  khi những vấn đề liên quan đến sự tồn vong của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được các đại biểu nêu câu hỏi chất vấn.

Đại biểu Trần Đình Tri tỏ ra lo lắng trước tin đồn ông Nguyễn Hải Thần tự phong chức Tổng Tư lệnh hải, lục, không quân, lập Chính phủ ở hải ngoại. Trong tình thế nước nhà chuyển sang giai đoạn mới, phải có một Chính phủ mạnh mẽ đủ uy tín để đối nội cũng như đối ngoại. Chính phủ đó phải là một Chính phủ liêm khiết…

“Sẽ dùng luật pháp trị cho kỳ hết những kẻ ăn hối lộ”

Buổi họp kéo tới tối  31/10/1946. Từ trên diễn đàn ánh sáng của chiếc đèn có chụp hắt xuống bàn, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt toàn thể Chính phủ trả lời chất vấn trước khi Chính phủ từ chức. Người nói:“Chính phủ hiện thời thành lập mới hơn một năm, hãy còn thanh niên. Quốc hội bầu ra được hơn 8 tháng lại còn thanh niên hơn. 

Vậy mà Quốc hội đã đặt ra những câu hỏi thật già dặn, đề cập đến tất cả những vấn đề có quan hệ đến vận mệnh nước nhà. Với sự trưởng thành chính trị và sự quan tâm về việc nước ấy, ai dám bảo dân ta không có tư cách độc lập”.

Hồ Chủ tịch lần lượt trả lời từng câu hỏi. Về câu chất vấn: “Vì sao Chính phủ  đưa đề nghị thay Quốc kỳ lên Thường trực Quốc hội xem xét?”, Hồ Chủ tịch nói: “Chính phủ không bao giờ dám đòi thay đổi Quốc kỳ. Chỉ vì một vài người trong Chính phủ đề nghị việc ấy lên, nên Chính phủ phải để Thường trực Quốc hội xét. Tình thế từ ngày ấy đến giờ biến chuyển nhiều, lá cờ đỏ sao vàng đã nhuộm bao nhiêu máu chiến sỹ Việt Nam ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, đã đi từ Á sang Âu, lại từ Âu sang Á, tới đâu cũng được chào kính cẩn”.

Nói đến đây mắt Người sáng quắc lên, giọng Người vang to hơn và nhấn mạnh từng tiếng: “Trừ khi cả 25 triệu đồng bào, còn ngoài ra không ai có quyền gì mà đòi thay đổi nó”.

“Còn cái tin ông Nguyễn Hải Thần, tự xưng là Tổng Tư lệnh Hải, Lục, Không quân Việt Nam? Nếu Việt Nam không có Hải, Lục, Không quân thì ông Nguyễn Hải Thần cứ việc làm Tổng Tư lệnh! Và nếu Việt Nam không có Hải, Lục, Không quân mà ông Nguyễn Hải Thần tổ chức được hải lục không quân  cho Việt Nam thì cố nhiên chúng ta hoan nghênh”.

“Về việc Chính phủ liêm khiết, thì Chính phủ hiện tại đã cố gắng liêm khiết. Nhưng trong Chính phủ từ Hồ Chí Minh cho đến những người làm việc  ở các Ủy ban đông lắm và phức tạp lắm. Dù sao Chính phủ đã hết sức làm gương. Và nếu làm gương không xong, thì sẽ dùng luật pháp mà trị những kẻ ăn hối lộ. Đã trị, đang trị và sẽ trị cho kỳ hết”.

Bằng lối nói đặc biệt của mình, lấy những ví dụ dễ hiểu để diễn đạt những nội dung sâu sắc, lý luận chặt chẽ, đanh thép, Hồ Chủ tịch đã trả lời hết các câu hỏi chất vấn. Mỗi khi Người kết thúc một câu trả lời thì tiếng vỗ tay lại đồng loạt vang lên.

12 giờ kém 15 phút,  Hồ Chủ tịch tuyên bố thay mặt Chính phủ hiện thời xin từ chức, trao quyền lại cho Quốc hội để Quốc hội theo nguyên tắc dân chủ bầu ra một Chính phủ mới.

“Tôi chỉ có một đảng: Đảng Việt Nam”

Quốc hội thảo luận và đã đưa ra quyết nghị: Ủy nhiệm cụ Hồ Chí Minh lập Chính phủ mới theo nguyên tắc đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái.

Hồ Chủ tịch lại lên diễn đàn, cảm ơn Quốc hội rồi nghiêm trang tuyên bố: “Lần này là lần thứ hai, Quốc hội lại giao cho tôi phụ trách Chính phủ một lần nữa. Việt Nam chưa được độc lập, chưa được thống nhất thì bất kỳ Quốc hội ủy cho tôi hay cho ai cũng phải gắng mà làm.

Tôi xin nhận. Giờ tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước Quốc dân, trước thế giới: Hồ Chí Minh không phải là kẻ tham quyền cố vị, mong được thăng quan phát tài. Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái.

Tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước Quốc dân, trước thế giới rằng tôi chỉ có một đảng: Đảng Việt Nam. Tuy trong quyết nghị không nói đến, không nêu lên hai chữ liêm khiết, tôi cũng xin tuyên bố trước Quốc hội, trước Quốc dân và trước thế giới: Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết.

Theo lời quyết nghị của Quốc hội, Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ biết làm việc, có gan góc, quyết tâm đi vào mục đích: Trong thì kiến thiết, ngoài thì tranh thủ độc lập, thống nhất của nước nhà. Anh em trong Chính phủ mới sẽ dựa vào sức của Quốc hội và Quốc dân, dẫu nguy hiểm mấy cũng đi vào mục đích mà Quốc dân và Quốc hội đã trao cho”.

Tiếng vỗ tay vang rền trong Nhà hát lớn. Phiên họp Quốc hội kết thúc lúc 1 giờ đêm.

———————————–

Theo Phùng Nguyên – Tiền Phong

* Bài báo có sử dụng tư liệu của báo Cứu Quốc và báo Dân Thanh

tuoitre.vn

Điện mừng Hội nghị thế giới chống bom nguyên tử và bom khinh khí (29-7-1969)

Kính gửi Hội nghị thế giới lần thứ 15 chống bom nguyên tử và khinh khí họp ở Nhật Bản,

Thay mặt nhân dân Việt Nam và nhân danh cá nhân, tôi gửi đến Hội nghị lời chào mừng nhiệt liệt.

Nhân dân Việt Nam hoàn toàn đồng tình và ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Nhật Bản anh em đòi triệt để cấm vũ khí hạt nhân, đòi xoá bỏ “Hiệp ước an ninh” Nhật – Mỹ, đòi trả ngay không điều kiện và hoàn toàn đảo Ôkinaoa cho Nhật, đòi huỷ bỏ tất cả cǎn cứ của Mỹ trên đất Nhật, chống việc phục hồi chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản.

Trong cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước, nhân dân Việt Nam luôn luôn được sự đồng tình và ủng hộ mạnh mẽ của các tầng lớp nhân dân Nhật Bản, của bè bạn khắp nǎm châu, cũng như của Hội đồng Nhật Bản chống bom nguyên tử và bom khinh khí.

Nhân dịp này, tôi xin gửi đến nhân dân Nhật Bản và quý vị lời cảm ơn chân thành và chúc Hội nghị đạt được những mục tiêu cao cả của mình, vì lợi ích của hoà bình thế giới.

Ngày 29 tháng 7 nǎm 1969
Hồ Chí Minh

———————-

Báo Nhân dân, số 5586, ngày 31-7-1969.

cpv.org.vn