Tag Archive | Chủ tịch Hồ Chí Minh

Màu áo của Bác

Đón Bác về Lăng, ngày ngày nhìn dòng người nối dài như bất tận vào Lăng viếng Bác, cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ làm nhiệm vụ giữ gìn giấc ngủ của Người rất xúc động. Ai ai cũng thầm hứa với Bác sẽ quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, giữ gìn tuyệt đối an toàn lâu dài thi hài Bác để muôn đời con cháu mai sau được đến thăm viếng, chiêm ngưỡng và nguyện đi theo con đường mà Người đã lựa chọn.

Là một cán bộ kỹ thuật, nhiều năm được giao nhiệm vụ bảo đảm vật tư cho nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Bác và hoạt động công trình Lăng của Người, tôi nhớ mãi kỷ niệm về việc lựa chọn vải và màu sắc áo của Bác. Đây là một việc có ý nghĩa hết sức quan trọng và nhạy cảm phải đảm bảo cả màu sắc, nhưng quan trọng nhất là chất liệu vải phải phù hợp với công tác gìn giữ thi hài và tổ chức lễ viếng. Vải phải đảm bảo không bị phân hủy, ố vàng khi tiếp xúc với dung dịch làm thuốc, phải ăn ly, không bị nhầu, bị ẩm.

Về màu sắc, sinh thời Bác thường mặc bộ quần áo ka ki màu vàng nhạt trong những ngày lễ lớn, lúc tiếp nguyên thủ các nước hay đi thăm các công trường, xí nghiệp, trường học, đơn vị quân đội… Hình ảnh đó rất đỗi thân quen đối với nhân dân ta. Đó cũng là màu áo mà Bộ Chính trị đã chọn để Bác mặc lúc tiễn Người đi xa. Có thể nói màu áo của Bác là một trong những nét đặc trưng về hình ảnh Bác kính yêu trong lòng nhân dân ta và bạn bè quốc tế, cần được tôn trọng giữ gìn.

Vậy là phải tìm cho được chất liệu vải bảo đảm màu áo của Bác. Tuy số lượng không lớn song thị trường bấy giờ rất hiếm loại vải đó. Trong các cửa hàng bách hoá thời bao cấp mặt hàng vải rất khan hiến, chủng loại, màu sắc rất ít. Còn thị trường bên ngoài, ở các chợ có chăng cũng nhỏ lẻ và không rõ xuất xứ, nếu tìm được liệu có bảo đảm an toàn và cung cấp thường xuyên được không ?

Trong lúc đang lúng túng tìm nguồn hàng tin cậy, cán bộ vật tư đã đề xuất nhờ Tổng Công ty dệt may giúp đỡ. Ngay sau đó, Bộ Tư lệnh đã trực tiếp làm việc với đồng chí Thứ trưởng Bộ Công nghiệp nhẹ kiêm Tổng Giám đốc Tổng Công ty dệt may Việt Nam. Kết quả buổi làm việc rất nhanh gọn. Ngay sau đó, Tổng Công ty dệt may yêu cầu Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng cung cấp chất liệu, màu vải để Viện Kỹ thuật dệt phân tích, đo đếm chính xác số lượng, chất lượng sợi vải, lập quy trình sản xuất. Tổng Công ty giao cho Nhà máy dệt Thành Công dệt loại vải đó.

Sau 2 tháng khẩn trương nghiên cứu, những bàn tay kheo léo của người thợ Nhà máy dệt Thành Công đã sản xuất xong số lượng vải mà đơn vị yêu cầu. Trước khi tiếp nhận, đơn vị đã giao cho Viện 69 kiểm tra kỹ và gửi mẫu đi Liên Xô để kiểm nghiệm. Kết quả thử nghiệm của cả ta và Bạn đều rất tốt. Toàn bộ số vải đã được giao nhận đưa về đơn vị để may áo cho Bác.

Ngắm nhìn những cuộn vải được kiểm tra bảo đảm đầy đủ các yêu cầu đặt ra trong một thời gian ngắn, tôi thầm biết ơn tình cảm, trí tuệ của cán bộ, công nhân Nhà máy dệt Thành Công, cũng như đồng bào, chiến sĩ cả nước đã tích cực đóng góp, thể hiện tình cảm biết ơn đối với Bác Hồ muôn vàn kính yêu.

Đại tá Trần Quang Châu
Nguyên Phó Tham mưu trưởng – Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Kỷ niệm về Trường “C 100”

Sau thất bại thảm hại trong cuộc tập kích chiến lược bằng không quân vào Hà Nội, Hải Phòng và nhiều địa phương trên miền Bắc cuối năm 1972, đế quốc Mỹ buộc phải tuyên bố chấm dứt ném bom toàn miền Bắc và chấp nhận trở lại hội nghị ở Pa-ri. Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định về “Chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam” được ký chính thức giữa các bên, đồng thời cũng chấm dứt vai trò của quân viễn chinh Mỹ trên chiến trường miền Nam. Tuy vậy, chúng vẫn không từ bỏ âm mưu chiếm đóng lâu dài miền Nam Việt Nam. Mỹ tăng viện trợ, gấp rút củng cố ngụy quân, ngụy quyền miền Nam trong quỹ đạo của đế quốc Mỹ. Được Mỹ tiếp sức, quân ngụy ra sức phá hoại Hiệp định Pa-ri, liên tiếp mở những cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng. Cuộc chiến ở miền Nam vẫn diễn ra rất ác liệt.

“…Việt Nam trên đường chúng ta đi, nghe gió thổi đồng xanh quê ta đó, nghe sóng biển ầm vang xa tận tới chân trời…Ta còn đến nơi đâu còn giặc, ta chưa về khi Tổ quốc chưa yên…”. Lời bài hát cứ vang mãi, vang mãi, thôi thúc trong tim chúng tôi, những người lính trẻ nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc tiếp bước cha anh cầm súng đi đánh giặc.

Sau 3 tháng huấn luyện chiến sĩ mới tại Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 144 – Bộ Tổng Tham mưu, đơn vị đóng quân gần sân bay Gia Lâm, Hà Nội, một số chiến sĩ mới của huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Thái và huyện Kim Bôi, tỉnh Hoà Bình được tuyển chọn đi làm “nhiệm vụ đặc biệt”. Điểm tập kết đầu tiên là ở Nhổn thuộc xã Tây Tựu, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Đến đây chúng tôi được biết còn có cả những anh lính mới “tò te” của các Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 144 thuộc các địa phương khác như: huyện Yên Lập, huyện Thanh Sơn tỉnh Vĩnh Phú; huyện Định Hoá, huyện Phú Lương tỉnh Bắc thái.

Sau 1 tuần học tập về tình hình nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, đơn vị lại tiếp tục tuyển chọn trong số khoảng gần 900 chiến sĩ mới. Phụ trách tuyển chọn là đồng chí Trung tá Đỗ Hải – Chính uỷ Trung đoàn 144 và một số đồng chí cán bộ. Tiêu chuẩn đầu tiên là chiều cao. Những ai không đủ 1m65 trở lên là bị loại; ngoại hình phải cân đối; quân dung sáng sủa; toàn thân, nhất là các vùng ở mặt, đầu, cổ, chân tay không có khuyết tật, dị tật và không nói lắp. Mặc dù được giữ bí mật và không được thông báo, nhưng chúng tôi cũng nghe phong phanh là được tuyển chọn đi đào tạo làm nhiệm vụ bảo vệ Lăng Bác Hồ, nên ai cũng cũng háo hức, chờ đợi và ước ao mình được trúng tuyển.

Sau lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22 tháng 12 năm 1974, chúng tôi được lệnh hành quân lên trường huấn luyện.

Trung tâm huấn luyện thuộc huyện Tam Nông, tỉnh Vĩnh Phú. Doanh trại nằm giữa những quả đồi với bạt ngàn cây sơn, một loại cây đã gắn liền với câu tục ngữ “Sơn ăn tuỳ mặt, ma bắt tuỳ người”. Đón chúng tôi là những đồng chí chuẩn uý, hạ sĩ, trung sĩ mới toe nhưng với một thân hình rắn chắc, đen sạm nắng gió và với những cái tên đầy ấn tượng: Nào là “Mỹ ục”, “Sơn lắp”, “Ba Gãi”… Đây là những cán bộ vừa tốt nghiệp lớp đào tạo hạ sỹ quan chỉ huy và sẽ là trung đội trưởng, tiểu đội trưởng làm nhiệm vụ huấn luyện. Chúng tôi được biên chế thành 3 trung đội. Tôi thuộc Tiểu đội 6, Trung đội 2. Toàn đại đội được trang bị súng trường CKC với lưỡi lê sáng quắc. Mỗi người được cấp thêm một đôi giày da của Liên Xô (giày Kô-sư-ghin) và một bộ quân phục mới. Sau 2 ngày làm công tác chuẩn bị, lễ khai giảng khoá huấn luyện diễn ra ngắn gọn nhưng thật trang trọng. Trên lễ đài là các đồng chí chỉ huy Trung đoàn 144, đại diện của Bộ Tổng Tham mưu, Cục Bảo vệ Quân đội. Toàn đại đội đứng nghiêm như nuốt lấy từng lời của đồng chí Trung đoàn trưởng Vũ Ngạch. Đồng chí nói: “Với tấm lòng kính yêu vô hạn và đời đời nhớ ơn Bác Hồ vĩ đại, thể theo ý nguyện rất thiết tha của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đặc biệt là đồng bào miền Nam, Đảng và Nhà nước đã quyết định giữ gìn lâu dài thi hài Bác và xây dựng Lăng của Người. Ngày 2 tháng 9 năm 1973, Lăng Bác đã được khởi công xây dựng tại Quảng trường Ba Đình lịch sử. Hiện nay công trình xây dựng Lăng Bác đang được thi công rất khẩn trương, các đồng chí có một vinh dự là được tuyển chọn để huấn luyện làm nhiệm vụ đặc biệt, đó là nhiệm vụ bảo vệ Lăng Bác. Vinh dự cho bản thân, cho gia đình, quê hương, vinh dự to lớn nhưng trách nhiệm cũng hết sức nặng nề, các đồng chí phải ra sức tu dưỡng, học tập và rèn luyên để trở thành những chiến sĩ cận vệ ưu tú đại diện cho Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng canh giữ giấc ngủ của Người. Quân đội ta đã có các Trường 200, Trường 300, Trường 400…và hôm nay Trường 100 được thành lập để đào tạo những chiến sĩ cận vệ trung thành”. Trong không khí trang nghiêm, đại đội trưởng của chúng tôi đã lên đọc lời tuyên thệ và tất cả hô vang lời thề danh dự nguyện học tập và tu dưỡng rèn luyện thật tốt, nguyện sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại.

Bảo vệ Lăng Bác, là một nhiệm vụ hoàn toàn mới mẻ. Trên cơ sở tham khảo, nghiên cứu những kinh nghiệm của Lăng Lê-nin, Ban Chỉ đạo huấn luyện đã xây dựng một chương trình đào tạo rất cơ bản, phù hợp với thực tế của Việt Nam. Trong các nội dung tập luyện có lẽ môn tập tiêu binh đứng nghiêm là vất vả nhất, nó đòi hỏi cả sức khoẻ và cả ý chí quyết tâm. Mỗi tuần chúng tôi có hai buổi tập đứng nghiêm, bắt đầu là đứng nghiêm 30 phút, sau nâng dần lên 45 phút, 1 giờ, 2 giờ, 4 giờ và kỷ lục đứng nghiêm của chúng tôi là 5 giờ. Trước buổi tập, chúng tôi được phép khởi động và làm mọi công tác chuẩn bị, vệ sinh cá nhân và vào vị trí chữ T đứng nghiêm. Sau khi kiểm tra tư thế động tác thật chuẩn “đầu ngay, cổ thẳng, miệng ngậm, cằm thu, ngực nở, bụng thót, quân dung tươi tỉnh, mắt hạn chế chớp” là khẩu lệnh “Nghiêm, bắt đầu”, 20 phút đầu thật đơn giản. Sau những buổi tập võ thuật, tập vác súng, đi đều, đi nghiêm, giương lê, gập lê, thì đứng nghiêm thế này thật nhàn hạ như là được nghỉ ngơi, mới đầu ai cũng nghĩ như vậy, nhưng sau 30 phút trở đi, đứng nghiêm là cả một sự thử thách gian nan chỉ có những ai đã từng đứng nghiêm mới cảm nhận được. Để rèn luyện ý chí và quyết tâm, đại đội quy định trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không được rời vị trí khi chưa hết thời gian của buổi tập. Thế là từ khoảng hơn 1 giờ trở đi thỉnh thoảng lại nghe tiếng rơi khô khốc của khẩu súng trường và tiếng đổ vật của thân thể người bị ngã, chúng tôi gọi là bị “đổ ”. Một tổ quân y luôn túc trực để sẵn sàng cấp cứu. Để có được sức khoẻ thực hiện các bài huấn luyện, vấn đề rèn luyện thể lực được đại đội quan tâm. Môn rèn luyện thường xuyên của chúng tôi là chạy dài, sáng nào cũng vậy, sau tiếng còi báo thức là chạy dài 30 km.

Tháng Tám – mùa thu lịch sử, những ngày ấy, khắp nơi trên mọi miền đất nước đều hướng về Quảng trường Ba Đình. Ai cũng mong chờ Lăng Bác được khánh thành. Ngày 20 tháng 8 năm 1975, chúng tôi được lệnh hành quân về Hà Nội. Trước đó đã có 2 lần về Ba Đình để tập làm quen với địa hình thực tế. Ngồi trên xe “Páp”, chúng tôi hát đến khản cả giọng những khúc quân hành và bài hát “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”. Tập kết tại Ba Đình, Đại đội 100 được chia thành 3 đội: Tiêu binh danh dự, Cảnh vệ đặc biệt và Cảnh vệ vũ trang, tôi được biên chế về đội Tiêu binh danh dự. Từ đây kết thúc C100 – trường đào tạo đầu tiên của tôi trong đời binh nghiệp.

Phiên gác tiêu binh đầu tiên tại Lăng Bác thật nhiều cảm xúc, đến bây giờ tôi vẫn nhớ như in buổi sáng mùa thu năm ấy. Tôi được đảm nhiệm đứng tiêu binh số 2 túc trực bên thi hài Bác, số 1 là Hà Văn Tặng, số 3 là Bùi Thanh Vững quê ở Kim Bôi – Hoà Bình (nay đã xuất ngũ) và số 4 là Nguyễn Trọng Nghĩa (nay là Đội trưởng Đội di tích – Đoàn 285). Phòng Bác nằm có cảm giác thật ấm cúng và yên tĩnh. Bác đang yên nghỉ. Phía trên đầu Bác nằm có 2 lá cờ – cờ Đảng và cờ Tổ quốc được ghép bởi hơn 4.000 miếng đá hồng ngọc. Búa liềm và ngôi sao năm cánh ghép bằng đá cẩm vân sáng vàng. Sau lễ viếng của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước là lễ viếng của các đơn vị quân đội, công an, dân quân, tự vệ tham gia lễ duyệt binh được phép ưu tiên vào viếng Bác trước để sẵn sàng làm nhiệm vụ trong ngày lễ kỷ niệm Quốc khánh 2-9.

Thấm thoắt đã hơn 30 năm kể từ ngày những người chiến sĩ cận vệ qua trường C100 đứng gác phiên đầu tiên ấy. Trong số họ có những người đã trưởng thành là những sỹ quan cao cấp trong quân đội, có người đã xuất ngũ và trở thành bác sĩ, giáo viên, luật sư, doanh nhân; có người đã trở về với cuộc sống của người dân bình thường. Nhưng ở đâu, với cương vị nào, họ vẫn xứng đáng với sự tin cậy, yêu mến của Đảng, quân đội và nhân dân đã dành cho “Bộ đội Lăng Bác Hồ”. Riêng với tôi, sau này còn nhiều những lần vào học ở các nhà trường trong quân đội, nhưng trường C100 vẫn là một kỷ niệm sâu sắc trong đời người lính mà tôi không bao giờ quên.

Đại tá Nguyễn Phúc Trị
Phó Tham mưu trưởng – Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Đón những chuyến hàng đặc biệt

Đã là tháng 2 năm 1975, công trường xây dựng Lăng Bác đang tiếp tục đợt thi đua mới, đẩy mạnh tiến độ xây dựng và lắp máy, sao cho kịp khánh thành Lăng vào tháng 9 năm nay. Vui, hào hứng, sôi nổi, mọi người ở đây làm việc không quản ngày đêm, không nghỉ ngày chủ nhật và ngày lễ. Nhưng trong tâm tư của mỗi người vẫn thấp thỏm chờ đợi, lo âu: Tại sao đến bây giờ hệ thống máy điều hòa nhiệt độ, được ví như lá phổi lớn của Lăng vẫn biệt vô âm tín và toàn bộ thiết bị quan tài kính cũng đang mỏi mong chờ đợi?

Mãi đến cuối tháng, tin vui từ Hải Phòng về: Tàu chở máy điều hòa đã đến phao số “O” làm nức lòng cả công trường, nhất là anh chị em lắp máy thuộc Trung đoàn 259 Công binh.

Phó Thủ tướng Đỗ Mười, đồng thời là Trưởng ban xây dựng Lăng giao nhiệm vụ: Trong vòng 5 ngày, thiết bị phải về đến Lăng (thông thường phải hàng tháng).

Tình hình hết sức khẩn trương. Gần tối, chiếc xe com – măng – ca chở chúng tôi đến giao lệnh chở hàng cho Tổng cục Đường sắt xong, rồi phóng một mạch xuống Hải Phòng giao lệnh cho Giám đốc Cảng. Trời đã về đêm, sau một thoáng suy nghĩ, Giám đốc Cảng nói với chúng tôi: Giờ thì đã khuya, sáng sớm mai, các đồng chí cùng tôi ra phao số “O” gặp chủ tàu. Chúng tôi thầm nghĩ: Ngày đầu như vậy là hết sức thuận lợi.

Đúng 6 giờ sáng hôm sau, chiếc ca nô chở tất cả chúng tôi rời cảng, nhẹ nhàng lướt trong sương mù lãng đãng, khoảng gần một tiếng đồng hồ thì đến phao số “O” cặp mạn tàu của Bạn. Đây là chiếc tàu vượt đại dương mới tinh vừa đóng xong ở Ba lan, được Liên Xô thuê chở hàng cho ta.

Giám đốc Cảng báo cho chủ tàu: Ngay chiều nay, chờ con nước, tàu các anh sẽ vào cảng để bốc hàng. Khỏi phải nói, chủ tàu và thủy thủ xiết bao mừng rỡ. Lập tức rượu sâm panh nổ bốp bốp, đồ nhắm được bày ra, phần nhiều là thức ăn khô và lạnh nhưng khá thịnh soạn.

Tàu ở phao số “O” còn cả chục chiếc, sẽ vào cảng theo thứ tự trước sau, như vậy ít ra phải 15 ngày sau tàu này mới được vào cảng. Cán bộ, thuỷ thủ trên tàu không ngờ chiều nay được vào Cảng. Họ rất vui mừng, mặt mày ai nấy nở hoa phấn khởi.

Lại nói về Tổng cục Đường sắt, trong một, hai ngày phải có 9 toa xe lửa võng có mặt ở cảng Hải Phòng. Bởi vì thiết bị to, cao quá khổ, nếu chở trên toa thường sẽ không qua được cầu Long Biên. Trong khi miền Bắc lúc đó có khoảng chục toa võng nằm rải rác ở các ga từ Lạng Sơn vào đến Thanh Hóa. Để kịp thời gian, ga nào có toa xe lửa võng được sử dụng 1 đầu máy kéo ngay về Hà Nội, ghép thành đoàn xuôi Hải Phòng. Một cuộc chạy đua ngoạn mục với thời gian.

Trở lại Cảng, ngay đêm hôm đó, tàu chở thiết bị đã được dẫn vào. Sáng hôm sau bốc hàng thì đoàn tàu trong đó chủ yếu là toa võng đã có mặt kịp thời.

Nếu như Cảng cử đội bốc xếp giỏi nhất, an toàn nhất để dỡ hàng, thì Đoàn tàu cũng được một Anh hùng Lao động lái, với kíp phục vụ tiên tiến nhiều năm.

Bốc xếp xong, sau khi thiết bị được cố định chắc chắn, đoàn tàu khởi hành ngay về Hà Nội. Đầu máy được trang hoàng rực rỡ cờ, khẩu hiệu rất khí thế. Các đồng chí công an đã lập phương án bảo vệ đoàn tàu rất cụ thể, tỉ mỉ, bảo đảm tuyệt đối an toàn. Toa nào cũng có các đồng chí công an canh giữ. Tàu chạy suốt không dừng ở các ga. Dù vậy nhân viên nhà ga ra hướng dẫn tàu đều mặc đồng phục, tỏ lòng tôn kính. Những chỗ Quốc lộ 5 chạy sát đường tàu đều được các đồng chí công an canh chừng, đề phòng xe ô tô mất tay lái va phải tàu. Các cầu lớn như Lai Vu, Phú Lương, Long Biên đều được bảo vệ cẩn mật cả trên đường lẫn dưới lòng sông. Xung quanh các cột cầu đều có ca nô của công an tuần tiễu bảo đảm an toàn.

Tàu về đến ga Giáp Bát, trời vừa tối. Tính ra đã bốn ngày trôi qua. Lực lượng công an cũng như những thiết bị hiện đại được điều đến bảo vệ đoàn tàu nghỉ đêm tại đây.

Sáng hôm sau đoàn ô tô của công trường đã có mặt ở ga, sẵn sàng tiếp nhận hàng. Vì hàng thuộc loại cao quá khổ, lại quan trọng nên mỗi ô tô có một đồng chí công an bảo vệ, một đồng chí thợ điện với cây sào cách điện sẵn sàng nâng dây điện cho ô tô đi qua. Ô tô công an dẫn đường và khóa đuôi, đoàn xe vận chuyển khí thế an toàn về đến Lăng đúng 5 ngày kể từ khi hàng còn ở phao số “O”.

Khi về đến công trình, lập tức chuyên gia Bạn và ta mở thùng hàng kiểm kê: Thật tuyệt vời. Thiết bị hệ điều hòa nặng hơn 160 tấn do Liên Xô thiết kế với hàng trăm phụ tùng máy móc mua của nhiều nước: Nhật, Mỹ, Đan Mạch… vận chuyển hàng vạn cây số như vậy mà không mảy may suy chuyển. Nếu có xảy ra dù chỉ một hư hỏng nhỏ phải thay thế thì không thể nào kịp tiến độ.

Máy về đến nơi, chưa kịp nghỉ, ngày hôm sau Bộ chỉ huy lắp máy đã phát động đợt thi đua: “40 ngày lắp xong hệ điều hòa”.

*
* *

Một buổi sáng cuối xuân năm 1975, đoàn tiếp nhận của công trường xây dựng Lăng Bác với những chiếc ô tô chuyên dụng đã chờ sẵn ở sân bay Gia Lâm. Khoảng 10 giờ, trời nắng đẹp, tiếng ầm ì từ xa vọng lại ngày càng rõ, chiếc máy bay mang số hiệu 42988 nhẹ nhàng hạ cánh xuống sân bay giữa sự vui mừng khôn xiết của những người ra đón. Tổ lái cùng anh em đoàn tiếp nhận sau khi chụp ảnh chung, đã nhanh chóng bắt tay vào việc bốc dỡ hàng từ máy bay lên xe ô tô chuyên dụng. Cửa hậu máy bay được mở, từng chiếc ô tô lần lượt vào nhận hàng.

Đây là toàn bộ thiết bị quan tài kính được tháo rời, đóng gói chắc chắn để vận chuyển. Thiết bị này do Liên Xô thiết kế, chế tạo ở nhiều cơ sở có trình độ chuyên môn cao rất hiện đại và chính xác. Đó là những tấm kính dày cỡ vài chục ly trong suốt, ánh sáng xuyên qua không bị khúc xạ, được chế tạo đơn chiếc với công nghệ đặc biệt. Thiết bị nâng hạ được chế tạo theo nguyên lý trục vít, bảo đảm chính xác và an toàn tuyệt đối. Hàng chục bộ đèn nhiều tia được chiếu qua một hệ kính lọc, bảo đảm ánh sáng có thể điều chỉnh màu sắc và hạn chế gia nhiệt.

Do tính chất quan trọng như vậy nên phía Bạn đã quyết định vận chuyển những thiết bị này bằng máy bay, cho dù tốn kém hơn nhiều so với đi đường biển.

Đoàn xe sau khi cố định xong, từ từ thận trọng chuyển bánh về công trình Lăng, với sự bảo vệ nghiêm ngặt của các đồng chí công an Hà Nội. Anh em tiếp nhận chưa kịp phấn khởi thì nỗi lo lại đến. Đây là những thiết bị có độ chính xác cao, nếu khí hậu thay đổi thất thường, dễ cong vênh, lắp ráp sẽ không đảm bảo độ kín theo yêu cầu. Vậy nên, Bạn đề nghị phải để trong phòng có điều hòa nhiệt độ và khống chế độ ẩm. Lúc bấy giờ tìm được vài máy điều hòa cỡ trung bình thật không dễ chút nào. Nhưng tất cả vì Bác kính yêu nên ở đâu có máy là họ sẵn sàng cho mượn. Đồng chí Đỗ Mười, Phó Thủ tướng kiêm Trưởng ban phụ trách xây dựng Lăng cho phép sử dụng Câu lạc bộ Ba Đình là nơi tập luyện thể thao của cán bộ cao cấp để cất giữ thiết bị tạm thời.

Lập tức phòng bóng bàn của Câu lạc bộ được cải tạo, đục tường, lắp những cánh cửa lớn, lắp 4 máy điều hòa cỡ trung bình. Sau khi chạy thử, bảo đảm thông số, thiết bị được mở ra bảo quản theo quy định, sẵn sàng chuyển vào lắp ráp trong Lăng khi điều kiện cho phép.

Công việc lắp ráp thiết bị quan tài kính trong Lăng chủ yếu do chuyên gia Bạn làm, cán bộ, nhân viên kỹ thuật Việt Nam làm việc phụ và theo dõi học tập.

Vậy là, nếu hệ điều hòa là “lá phổi đặc biệt của Lăng”, thì thiết bị quan tài kính là “quả tim lớn”, đã được Bạn và ta lắp ráp bảo đảm chất lượng, đúng tiến độ.

Nhiều năm sau, thiết bị vẫn làm việc liên tục, an toàn, góp phần quan trọng giữ gìn lâu dài thi hài Bác. Đó chính là phần thưởng vô giá đối với cán bộ, chiến sĩ lắp máy và vận hành trên công trình xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đại tá Nguyễn Quế
Nguyên Đoàn trưởng Đoàn 195 – Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Đi Liên Xô tham gia thiết kế Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Năm 1971, tôi được tham gia phục vụ đoàn cán bộ Việt Nam làm việc với đoàn chuyên gia Liên Xô thiết kế Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nếu Mỹ không mở rộng chiến tranh không quân đánh phá miền Bắc, thì theo kế hoạch năm 1972 chúng ta sẽ tiến hành khởi công xây dựng Lăng. Tháng 12 năm 1972, Mỹ dùng máy bay B52 đánh phá Hà Nội và một số thành phố khác nên việc khởi công xây dựng Lăng phải dừng lại. Đến tháng 1 năm 1973, do bị thất bại nặng nề nên Mỹ buộc phải ký Hiệp định Pa-ri về Việt Nam, rút quân về nước và chấm dứt đánh phá bằng không quân đối với miền Bắc.

Tháng 3 năm 1973, ta đặt vấn đề lại với Liên Xô sẽ khởi công xây dựng Lăng vào tháng 9 năm 1973, Bạn trả lời lại rằng: “Do tạm hoãn nên chúng tôi không thể cung cấp bản thiết kế kỹ thuật hoàn chỉnh kịp”. Khi đó, ta đề nghị sẽ cử một số cán bộ kỹ thuật giỏi trong các ngành sang Liên Xô để cùng tham gia thiết kế kỹ thuật và Bạn đã chấp thuận.

Tháng 8 năm 1973, đoàn Việt Nam gồm 12 đồng chí. Trong đó, Bộ Kiến trúc 4 đồng chí: Anh Nguyễn Đình Phúng – Kiến trúc sư; anh Nguyễn Tấn Vạn – Kiến trúc sư và anh Ngô Thanh Cẩn, anh Lư – Kỹ sư xây dựng. Bộ Tư lệnh Công binh 8 đồng chí: Anh Nguyễn Trung Thành, anh Nguyễn Đức Nghị – Kỹ sư điện, anh Hoàng Quang Bá – Kỹ sư nước, anh Bùi Danh Chiêu – Kỹ sư điều hòa, anh Đặng Thành Trung – Kỹ sư cơ khí, anh Phạm Văn Quang và anh Nguyễn Văn Tẩy – Cán bộ phiên dịch và tôi – Trần Quốc Dân – Kỹ sư công trình quốc phòng. Riêng tôi được cấp hộ chiếu đỏ để mang theo các tài liệu mật làm việc với các chuyên gia.
Do được chuẩn bị kỹ, khi sang đến Mát-xcơ-va, người nào việc ấy, chúng tôi cùng với các chuyên gia bắt tay vào thiết kế luôn. Ở nhà, các đồng chí Đỗ Mười, Bùi Quang Tạo, Phùng Thế Tài rất sốt ruột, điện hỏi thăm luôn. Chúng tôi hứa sẽ có thiết kế vào tháng 9 năm 1973. Việc thiết kế được tiến hành theo kiểu cuốn chiếu từ dưới lên trên, vừa thiết kế vừa thi công. Theo quy định, hàng tuần, tôi phải đến Đại sứ quán Việt Nam tại Liên Xô để báo cáo tình hình thiết kế và làm việc với chuyên gia cho đồng chí Võ Thúc Đồng, Đại sứ được Trung ương giao theo dõi việc này.

Trong thời gian ở Mát-xcơ-va, mỗi ngày chúng tôi cùng làm việc 7 giờ với cán bộ Viện thiết kế Liên Xô, tối về họp tổ để trao đổi công việc trong ngày, bàn kế hoạch cho ngày hôm sau và sắp đến. Trong quá trình làm việc, cũng có lúc hai bên chưa nhất trí, chúng tôi phải tìm mọi cách để thuyết phục Bạn.

Ngày ấy, tổ chúng tôi luôn ý thức được trách nhiệm nặng nề nên ai cũng hăng say với công việc, làm ngày làm đêm cho kịp thiết kế để gửi về nước. Mới có 2 tháng mà ai cũng gầy đi, mặc dù bơ sữa, bánh mỳ không thiếu.

Trước khi đi, mỗi người chúng tôi được trang bị hai bộ comple, hai bộ đồ ngủ, hai đôi giày, một áo khoác, một mũ phớt. Sang Mát-xcơ-va mới được ba tháng, do đi lại nhiều nên tất bị rách, giày do Việt Nam đóng không chịu nổi băng tuyết ở Nga nên đã hỏng, anh em chúng tôi phải tự khâu vá lại để dùng. Một hôm, tôi đến đại sứ quán để báo cáo với đồng chí Võ Thúc Đồng. Sau khi nghe báo cáo, đồng chí hỏi: “Đời sống anh em như thế nào, có vất vả lắm không ?”. Tôi trả lời: “Báo cáo đồng chí, về cuộc sống vật chất, so với anh em trong nước chúng tôi còn sướng hơn nhiều, chỉ có mấy ngày vừa rồi tuyết rơi nhiều mà giày anh em đều đã hỏng, tuyết ngấm vào chân, đi làm về ai cũng bị buốt chân”. Ngay lập tức, đồng chí cho gọi chị Trưởng ban Tài vụ của Đại sứ quán lên và bảo: “Chị xuất cho đồng chí này 450 rúp để mua 9 đôi giày và 9 đôi tất”. Sau đấy, tôi về nói lại với anh em trong tổ, ai cũng cảm động, tuy rằng đấy chỉ là một việc nhỏ nhưng đã động viên chúng tôi rất nhiều. Ngày chủ nhật sau đó, tất cả anh em chúng tôi cùng đi mua giày và tất.

Đến tháng 9 năm 1973, thông qua Đại sứ quán, chúng tôi đã có bản thiết kế nền móng để gửi về Việt Nam. Hôm tôi lên Đại sứ quán, đồng chí Võ Thúc Đồng nói: “Ở nhà đã nhận được thiết kế nền móng rồi, đồng chí Đỗ Mười gửi lời khen các cậu”. Biết tin ấy, anh em chúng tôi càng thêm phấn khởi, quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ. Theo kế hoạch thống nhất giữa ta và Bạn thì khoảng đến tháng 10 năm 1974, những thiết kế kỹ thuật cơ bản sẽ hoàn thành. Đầu tháng 12 năm 1973, nhận được điện của Ban Chỉ đạo xây dựng Lăng, tôi và anh Ngô Thanh Cẩn phải thu xếp đem thiết kế đã làm được về ngay để giải quyết sự chênh lệch giữa công trình kiến trúc và công trình bảo vệ. Vì hai công trình là một tổng thể, nhưng hai bộ phận thiết kế khác nhau và tính chất bí mật cũng khác nhau.

Việc chuẩn bị lên đường trở về nước đã được đồng chí Võ Thúc Đồng chỉ thị cho anh Đoàn, lúc bấy giờ là Thương vụ sứ quán lo liệu mọi mặt. Tối ngày mồng 8 tháng 12 năm 1973, tôi, anh Cẩn và một số cán bộ bảo vệ của đại sứ quán lên tàu hỏa trở về nước trong một buồng riêng. Buồng có bốn giường, nhưng một giường giành riêng chỉ để tài liệu, tất cả có bảy kiện, khoảng chừng 200 cân và tôi là người được giao nhiệm vụ phụ trách chính. Năm ngày sau, chúng tôi đến Bắc Kinh, khi tàu vừa đến ga đã có xe của Đại sứ quán Việt Nam ở Trung Quốc ra đón và đưa tất cả tài liệu, tư trang của chúng tôi về đại sứ quán chứ không về nghỉ ở khách sạn.

Tối ngày 18 tháng 12 năm 1973, chúng tôi về đến ga Hà Nội, Ban chỉ huy công trường 75808 đưa xe ra đón. Ban chỉ huy công trường, lúc đó có anh Mỹ, anh Nhi, anh Đặng, anh Soạn và rất nhiều anh em nữa đón và ôm hôn chúng tôi thắm thiết như đón những người thân ruột thịt từ nơi xa trở về.

Tài liệu được đưa ngay vào phòng bảo mật niêm cất. Nhìn tài liệu nhiều quá, ai cũng yên tâm vấn đề cơ bản là thiết kế phần xây dựng đã được giải quyết. Còn lại phần thiết kế kỹ thuật, đặc biệt về thiết bị: điện, nước, điều hoà, lạnh, thông tin… do các đồng chí Nguyễn Tấn Vạn, đồng chí Lư (Bộ Kiến trúc); đồng chí Nguyễn Trung Thành, đồng chí Nguyễn Đức Nghị, đồng chí Bùi Danh Chiêu, đồng chí Hoàng Quang Bá, đồng chí Nguyễn Văn Tẩy (Bộ Tư lệnh Công binh) tiếp tục làm việc ở Liên Xô tới ngày 1 tháng 5 năm 1974 mới về nước. Đến lúc này phần thiết kế kỹ thuật có bản đã được giải quyết. Còn các thiết kế chi tiết khi thi công thì cán bộ kỹ thuật Việt Nam và chuyên gia Liên Xô cùng giải quyết trực tiếp tại hiện trường. Do có sự tham gia thiết kế của các cán bộ kỹ thuật Việt Nam ngay từ đầu nên bản thiết kế đã đáp ứng được với thực tiễn của Việt Nam.

Sáng ngày 19 tháng 12 năm 1973, tôi đã bàn giao tài liệu cho công trường 75808, gồm các đồng chí: Nguyễn Đức – Trưởng phòng Kỹ thuật, Nguyễn Ngọc Định – cán bộ bảo mật và đồng chí Ngô Thanh Cẩn – người làm chứng. Trong biên bản xác nhận: Các tài liệu còn nguyên cặp chì và toàn bộ tài liệu còn nguyên gói, đủ số lượng kê trong bản kê số 236/TM73 của Thương vụ Việt Nam tại Liên Xô.

Mười ngày đêm lo lắng, vất vả đã qua, khi đã bàn giao xong tài liệu, tôi mừng đến rơi nước mắt vì đã hoàn thành một nhiệm vụ quan trọng. Anh Đặng bảo với tôi rằng: “Thưởng cho cậu 2 ngày phép, ngày kia đến sớm để giải quyết công việc”.

Tôi viết lại kỷ niệm này để mọi người có thể hiểu thêm về một phần công việc có liên quan đến công trình lịch sử Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngày nay, giữa Ba Đình lịch sử, hiển hiện một công trình văn hóa của thế kỷ, in đậm tình hữu nghị Việt – Xô, niềm tự hào của dân tộc, để mọi người dân Việt Nam và bầu bạn quốc tế luôn hướng về đó, tìm ra chân lý và những suy nghĩ trong sáng tốt đẹp.

Đại tá Trần Quốc Dân
Nguyên Trưởng ban Quản lý công trình xây dựng cơ bản – Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Kỷ niệm của những người phục vụ Bác ở Đá chông

Tôi đã có mặt trong buổi gặp mặt các nhân chứng lịch sử đã từng được phục vụ Bác Hồ và Trung ương tại Đá Chông. Tháng 5, tuy cái nắng hè oi ả nhưng thời tiết ở nơi đây thật là dễ chịu với bao cảm xúc. Đã gần nửa thế kỷ trôi qua, hôm nay người còn, người mất nhưng trong tiềm thức của mỗi nhân chứng lịch sử đều gợi nên những kỷ niệm sâu sắc, tình cảm kính yêu Bác vô hạn. Xin được ghi lại một vài kỷ niệm của các bác, các anh, những thế hệ đi trước đã vinh dự được phục vụ Bác và Trung ương tại Đá Chông.

Sau những cái bắt tay thân thiết, là những câu chuyện cảm động, hỏi thăm sức khoẻ, hoàn cảnh gia đình của nhau, mọi người chậm bước hướng vào ngôi nhà nơi Bác đã từng sống và làm việc để làm lễ dâng hương tưởng niệm Người. Biết bao những kỷ niệm đầy ắp cứ trào dâng trong lòng. Những hiện vật một thời từng gắn liền với Bác; những nơi Bác và các đồng chí Trung ương đã từng làm việc, nghỉ ngơi, tiếp khách, những cuộc họp quan trọng bàn quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước trong những năm chiến tranh. Các ông lần giở cuốn sổ vàng ghi lưu niệm của khách tới tham quan, có nhiều đoàn, nhiều người viết rất cảm động. Đây là lời ghi cảm tưởng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nguyên Tổng Tư lệnh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông nhiều năm được sống và làm việc bên cạnh Bác Hồ: “Ngày 1 tháng 1 năm 1998 lên thăm Khu di tích K9, cũng thường gọi là khu Đá Chông, nhìn lại bức tượng khá giống Bác, ngồi lại cái bàn trước đây Bác đã họp cùng các anh trong Bộ Chính trị, càng nhớ Bác vô cùng, cảm thấy như ngày nào lên đây làm việc với Bác”. Đọc xong những dòng lưu niệm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, mọi người nhìn nhau lặng đi trong giây lát, cùng chung một cảm xúc: Tuy Bác đã đi xa nhưng ngôi nhà, chiếc bàn, chiếc ghế làm việc, chiếc giường như còn ấm hơi Người, ngày nào còn được phục vụ bên Bác, được Bác ân cần chỉ bảo, thế mà đã thấm thoát một phần hai thế kỷ. Ông Nguyễn Văn Rự – 86 tuổi, nguyên Phó Chánh Văn phòng Uỷ ban Hành chính tỉnh Sơn Tây những năm 1957 đến năm 1959, tuy tuổi đã cao, sức đã yếu nhưng còn minh mẫn; ông chậm rãi kể lại: “Tháng 2 năm 1958, tôi cùng với ông Phương – Chủ tịch Uỷ ban Hành chính tỉnh vinh dự được đón Bác lên thăm khu vực đồn điền cà phê cũ (công trường 5 sau này). Hôm đó, Bác và đoàn công tác nghỉ ăn trưa tại đây. Buổi chiều Bác nói chuyện với gần 500 cán bộ chủ chốt của tỉnh ở thị xã Sơn Tây. Sau này Bác Hồ và Trung ương quyết định chọn nơi đây làm căn cứ, tôi lại vinh dự được cử tham gia Ban chỉ huy công trường, đồng thời tham gia Đảng uỷ công trường. Ông say sưa kể tiếp: “Thú thực lúc đó tôi vừa mừng vừa lo, mừng rỡ cấp trên tin tưởng giao nhiệm vụ, một nhiệm vụ rất quan trọng, rồi đây trên quê hương mình có Bác Hồ, có các đồng chí Trung ương ở và làm việc, không mừng sao được”, nét mặt ông rạng lên: “Nhưng cũng rất lo vì nhiệm vụ nặng nề, yêu cầu khẩn trương, công trình phải đảm bảo chất lượng và tiến độ quy định. Vì vậy tôi phải luôn bám sát công trình. Mấy lần được đi cùng Bác lên thăm và kiểm tra, còn lại tôi thường dùng chiếc xe máy cơ động lúc ở Sơn Tây, lúc ở Công trường 5”.

Nghe ông Rự nói, tôi chợt nhớ đến ông Vũ Kỳ – Thư ký riêng của Bác những năm trước đây đã kể lại: “Vào một ngày tháng 5 năm 1957, khi Bác đến thăm cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 308 diễn tập ở thượng nguồn Sông Đà, Bác nghỉ ăn cơm nắm cùng các đồng chí bên cạnh “Ba ngọn núi” Đá Chông, chỗ đó đất phẳng, có một cây phượng vĩ, sau đó Người nằm nghỉ một lát ngay dưới gốc cây”. Bác Hồ đến Đá Chông không chỉ một lần, nhưng buổi trưa tháng 5 năm 1957 đó, cũng theo ông Kỳ: Người đã đứng ở vị trí “3 ngọn núi” Đá Chông nhìn Sông Đà trước mặt, thấy nơi đây sơn thuỷ hữu tình, dòng sông uốn khúc, cảnh vật tươi đẹp, gần dân, xa đường quốc lộ. Với tầm nhìn của nhà chiến lược thiên tài, Người đã tính đến việc lập một căn cứ, khi cần thiết có thể đưa Bộ tham mưu của cách mạng đến đây để tiếp tục chỉ đạo cuộc đọ sức quyết liệt với kẻ thù.

Theo ý kiến của Bác, khu vực Đá Chông được xây dựng gồm nơi làm việc của Trung ương, nơi nghỉ ngơi và khu vực dành cho lực lượng phục vụ. Ngay sau đó, Tổng cục Hậu cần được giao nhiệm vụ xây dựng một số ngôi nhà cấp 4. Đến tháng 5 năm 1959, trước nguy cơ của một cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ ra miền Bắc, Trung ương đã chỉ đạo các lực lượng của quân đội và địa phương khẩn trương xây dựng các công trình của khu căn cứ. Sau khi hoàn thành, khu căn cứ mang mật danh K9.

Kể về những ngày đầu xây dựng khu căn cứ, ông Cù Văn Chước – nguyên Trưởng phòng Văn thư Văn phòng Chủ tịch nước, nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh, là người vinh dự được phục vụ Bác Hồ nhiều năm chậm rãi tâm sự: “Trong thời gian xây dựng khu nhà này, Bác Hồ đã lên kiểm tra 3 lần. Ngôi nhà chính được xây dựng mô phỏng theo kiểu nhà sàn và chính Bác là người cắm cọc nhắm huớng cho ngôi nhà. Để giữ bí mật, khi xây dựng, cây trong khu vực không được phép tuỳ tiện chặt phá. Nhiều cây lâu năm cạnh nhà sàn (ngôi nhà 2 tầng) đến nay vẫn còn: cây gạo, cây vải, cây long não, bồ hòn, cà phê….Nhiều cây được trồng thêm sau này như: cây hoa lan, cây bạch quế… trồng ở đây vừa thêm bóng mát lại có hương thơm bảo vệ cho môi trường. Cây vú sữa miền Nam trồng trong vườn Bác cũng được chiết cành đem trồng trên công trường 5 và một số nơi nghỉ khác như: Nhà nghỉ Hồ Tây, khu vườn ươm trong Phủ Chủ tịch…”.

Ông Lê Văn Năm, chiến sĩ Trung đội 1, Đại đội 1, Trung đoàn 600 đã từng làm nhiệm vụ bảo vệ khu Đá Chông từ năm 1960 đã bồi hồi nhớ lại: trong đời quân ngũ của ông đã vinh dự được gặp Bác Hồ nhiều lần, nhưng lần đầu tiên được gặp Bác là sâu sắc nhất mà đến nay, buổi gặp đó vẫn in đậm trong tâm trí của ông. Đó là sáng ngày 28 tháng 1 năm 1960 (tức ngày mồng 1 Tết Canh tý) Bác Hồ lên Đá Chông (Công trường 5) thăm và chúc Tết cán bộ, chiến sĩ bảo vệ và công nhân làm việc trên công trường. Biết một số anh em công nhân là người miền Nam rất nhớ nhà, Bác căn dặn: “Các cô, các chú nhớ miền Nam thì phải làm việc bằng hai để xây dựng miền Bắc tiến lên xã hội chủ nghĩa, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc”. Kế đó Bác đến chúc Tết hai gia đình cụ Tô, cụ Cẩm ở chân đồi. Bác mặc bộ quần áo nâu, đội mũ len, đi đôi dép cao su đen. Khi Bác đến gần mọi người đều ngạc nhiên, vui mừng và luống cuống. Cụ Tô, cụ Cẩm chắp tay và nói: “Lạy cụ, lạy cụ”. Bác tươi cười giơ tay vẫy và nói: “Các cụ đừng làm thế. Nhân dịp năm mới chúc các cụ, các chú mạnh khỏe, ăn tết vui vẻ và tiến bộ”. Sau đó Bác chúc Tết và chia quà cho mọi người. Tất cả mọi người vỗ tay và cảm ơn Bác. Bác chào và đi lên nhà sàn.

Còn nhiều câu chuyện khác hết sức cảm động, đó là vào các dịp lễ, tết, và kỷ niệm ngày sinh của Bác, Người không muốn tổ chức chúc tụng nhiều và Người đã chủ động bố trí những chuyến đi công tác xa. Đá Chông là địa điểm được Người đến nhiều nhất.

Mỗi người bổ sung thêm một câu chuyện, một kỷ niệm với Bác, tưởng chừng như không dứt. Các ông đứng lặng người ngắm nhìn ngôi nhà, mọi đồ vật vẫn nguyên vẹn như xưa, đây là nơi tiếp khách, là phòng họp của Bộ Chính trị, có kê một dãy bàn dài, ghế ngồi và quạt trần. Hệ thống cửa được thiết kế đẩy ra vào cơ động trên ray, tạo thông thoáng, bệ cửa dùng làm ghế ngồi khi có số lượng người dự họp đông, hoặc lúc nghỉ giải lao. Những năm sau khi Bác mất, vào những ngày Tết Nguyên Đán, ngày giỗ Bác, cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ tại đây đều đến thắp hương tưởng nhớ Bác. Ngày 17 tháng 4 năm 1995 (tức ngày 18 tháng 3 năm Ất Hợi) đơn vị đã lập bàn thờ Bác. Lúc đầu bàn thờ đặt ảnh chân dung, đến ngày 8 tháng 5 năm 1997 (tức ngày 2 tháng 4 năm Đinh Sửu) đã thay ảnh Bác bằng pho tượng đồng. Đây là tác phẩm của hoạ sĩ Minh Đỉnh công tác tại Bảo tàng Quân đội (nay là Bảo tàng Lịch sử Quân sự) đã dựng lại chân dung Bác ngồi trên chiếc ghế trúc (một đồ dùng quen thuộc của đồng bào Cao Bằng tặng Người). Bác vừa dừng đọc báo Nhân dân, dường như để đón khách với ánh mắt hiền từ nhân hậu. Mọi người dừng lại ngắm kỹ pho tượng Bác, rồi lần bước cầu thang lên tầng 2 ngôi nhà. Tại đây ông Cù Văn Chước, ông Nguyễn Văn Mùi – lái xe phục vụ Bác còn nhớ rất rõ năm 1961 Bác đã tiếp bà Đặng Dĩnh Siêu (phu nhân cố Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai) và năm 1962 Bác Hồ đã đón tiếp Anh hùng vũ trụ Liên Xô Giéc – man Ti – tốp. Sự kiện Bác Hồ tiếp hai vị khách quốc tế tại K9 có ý nghĩa rất lớn. Đây là một cử chỉ rất thân tình của Bác đối với nhân dân Liên Xô và nhân dân Trung Quốc anh em. Hiện nay những cây ngọc lan và vàng anh do Bác và các vị khách quý trồng bốn mùa vẫn xanh lá, trổ hoa thơm ngát, tượng trưng cho tình bạn, tình đồng chí thuỷ chung của nhân dân Việt Nam.

Cạnh hai phòng khách là phòng họp nhỏ. Căn phòng này đã diễn ra buổi họp của Bác với các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước để bàn bạc và quyết định những việc có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc.

Phòng Bác nghỉ được bố trí những đồ dùng rất giản dị, những thứ rất cần thiết. Ông Cù Văn Chước kể: “Đây là chiếc đệm cỏ của đồng bào Sơn La tặng Bác, chiếc đèn ngủ, tấm thảm len là quà tặng khi Bác đi sang Trung Quốc”. Bác vẫn nói với anh em phục vụ: “Những thứ tốt, đồ dùng khá hơn nên dành cho khách quý, Việt Nam ta vốn có truyền thống hiếu khách, quý trọng bạn bè”. Trong phòng này những khi Bác lên làm việc và nghỉ, trên bàn làm việc thường có lọ hoa huệ – thứ hoa mà Bác rất thích.

Trước cửa ngôi nhà có một bể tròn, ở giữa có hòn non bộ tự nhiên, phía trước bên phải, đầu cầu thang xuống có xây hầm trú ẩn nhỏ cho 3 – 4 người sử dụng. Phía trước bên phải ngôi nhà có một con đường xây gạch, rải sỏi, từ nhà xuống sông Đà gồm 81 bậc, mọi người gọi là “Con đường rèn luyện sức khoẻ” của Bác và hôm nay ai cũng nhìn thấy những cây bông bụt khá to được trồng từ khi xây dựng khu căn cứ để gợi nhớ những cây trồng trong vườn nhà ở quê hương Kim Liên, Nam Đàn.

Rời ngôi nhà sàn thân quen, mọi người trở về thăm khu nhà kính, khu nhà đã bảo vệ, che chở an toàn cho thi hài Bác trong 6 năm chiến tranh. Đứng trước tấm biển “Nơi đây đã giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm 1969 – 1975” do Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh trực tiếp gắn vào ngày 16 tháng 5 năm 2001, các ông đã kể nhiều câu chuyện cảm động về tinh thần khắc phục khó khăn gian khổ, âm thầm chịu đựng, những sáng kiến cải tiến kỹ thuật của các kỹ sư, bác sĩ, cán bộ, công nhân viên, kỹ thuật viên của Việt Nam sát cánh cùng chuyên gia Liên Xô trong quá trình giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác trong những năm tháng chiến tranh ác liệt.

Kết thúc phần tham quan, các ông bước vào phòng khách. Mặc dù trước đó đã dốc tâm sự, nhưng lúc này các nhân chứng lịch sử còn đầy ắp những kỷ niệm đẹp. Sau này, mỗi người được phân công một nhiệm vụ khác nhau, nhưng luôn luôn theo dõi từng bước đi của Đoàn 69 trước đây, cũng như Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày nay. Trong điều kiện khó khăn, gian khổ, thiếu thốn và giai đoạn bước ngoặt sau khi Liên Xô sụp đổ, đơn vị đã vững vàng từng bước vươn lên làm chủ nhiệm vụ giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác. Riêng khu di tích Đá Chông, nhiều năm các ông mới trở lại, nhưng vẫn được bảo vệ giữ gìn nguyên vẹn, các khu vực lân cận nhà sàn, nhà kính được tôn tạo khang trang, đẹp đẽ.

Đứng ngắm nhìn các bác, các ông – những người đã một thời có vinh dự được làm nhiệm vụ đặc biệt, giờ tuổi đã cao, sức đã yếu, nhưng vẫn minh mẫn kể lại cho lớp con cháu những kỷ niệm thiêng liêng của mình đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, trong tôi trào dâng niềm kính phục và biết ơn vô hạn.

Đại tá Lê Hồng Đường
Phó Chủ nhiệm Chính trị – Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Tổ Kỹ thuật trên Công trình K9

Tổ thiết kế và chỉ đạo thi công công trình K9 (Đá Chông), nơi giữ gìn thi hài Bác Hồ trong thời gian trước khi có Lăng gồm 6 kỹ sư của Ban thiết kế Phòng Công trình – Bộ Tư lệnh Công binh: kỹ sư xây dựng Nguyễn Trọng Quyển – Trưởng ban trực tiếp phụ trách chung; kỹ sư Nguyễn Cao Đàm phụ trách phần xây dựng; kỹ sư Bùi Danh Chiêu đảm nhiệm thiết bị điều hoà thông gió; kỹ sư Hoàng Quang Bá phụ trách phần cấp nước; kỹ sư điện Phạm Hoàng Vân tổ chức thi công và tôi, Nguyễn Trung Thành, phụ trách hệ thống điện và tự động. Trong thời gian này, 6 anh em chúng tôi sống và làm việc liên tục tại công trường trong điều kiện hết sức khó khăn.

Buổi sáng, cầm củ sắn luộc vừa ăn vừa đi ra công trường, bữa trưa và bữa tối ăn “bo bo” với cá khô, ăn cùng bếp ăn của tiểu đoàn thi công. Những lúc rỗi rãi hoặc buổi chiều, ngày chủ nhật, chúng tôi rủ nhau đi câu cá để cải thiện.

Nhiệm vụ của tôi gồm 4 hạng mục:
– Thiết kế và chỉ đạo thi công hệ thống cấp điện dự phòng. Nói là dự phòng nhưng trong thời gian chiến tranh, hệ thống điện lưới quốc gia hầu như bị mất, nên hệ thống này thành nguồn cấp điện chính.

– Giám sát và nghiệm thu việc kéo đường dây cao thế 35 KV và lắp đặt trạm biến áp hạ thế để cấp điện lưới quốc gia cho công trình.

– Thiết kế và chỉ đạo thi công phòng điều khiển trung tâm số 7 để điều khiển hệ thống điều hoà, cấp nước đảm bảo thông số nhiệt, ẩm giữ gìn thi hài Bác.

– Thiết kế lắp đặt hệ thống chiếu sáng đặc biệt phục vụ việc tổ chức viếng Bác.

Một loạt vấn đề kỹ thuật đặt ra, tôi phải cân nhắc lựa chọn các giải pháp thiết kế sao cho phù hợp với yêu cầu tiến độ, trình độ thi công và tình hình cung cấp vật tư thời đó. Nhiều khi vừa đi vừa nghĩ các giải pháp trong đầu, nhặt miếng giấy xi măng vẽ phác thảo để đêm về thể hiện lên bản vẽ cho công nhân thi công. Buổi sáng xắn quần lội mấy cây số đường rừng cùng anh em công nhân chi nhánh điện Hà Đông giám sát thi công đường dây cao thế dẫn vào công trình; gần trưa trên đường về đói quá, bị hạ đường huyết, hoa mắt chóng mặt, đành ngồi tựa cột điện nghỉ. Giá có một chiếc kẹo để ngậm thì có thể đi tiếp được, nhưng giữa rừng lấy đâu ra của hiếm đó. Mồ hôi ướt đầm áo, chân tay bủn rủn, tưởng gục dọc đường, nhờ sức trẻ nghỉ một lúc lại tiếp tục trở về công trường. Về đến nhà, cơm canh nguội tanh nguội ngắt, cố chan canh và ào vào bụng cho đỡ đói. Khi những thợ điện được đào tạo tại đơn vị chạy lại nhờ đọc bản vẽ để thi công hệ tự động điều chỉnh phòng điều khiển, tôi lại xé giấy xi măng vẽ tách ra từng phần để giảng giải cho anh em. Nhưng cuối cùng tôi vẫn phải ra hiện trường trực tiếp vừa làm, vừa hướng dẫn cho công nhân. Tôi cầm kìm tuốt dây uốn khuyết làm mẫu, cầm đồng hồ đo thử các đi ốt để mọi người khỏi đấu nhầm. Đã từng là công nhân nên tôi nói anh em hiểu ngay và tiếp tục thi công suôn sẻ. Đang làm việc với thợ thi công, thì anh Hanh phụ trách vật tư công trình đến, anh nói:

– Các loại vật tư cậu yêu cầu, tôi đã đến tận nhà máy sản xuất thiết bị điện, nhưng đều không có chủng loại đó. Mai cậu bố trí thời gian đi với tôi đến Văn Giang để xác định loại thay thế.

Thế là tôi thành cán bộ vật tư cùng với anh Hanh đi Văn Giang, Hà Đông rồi lên Thái Nguyên. Đi trong ngày về trong đêm cho kịp thi công, ngủ gà gật trên xe. Chẳng riêng gì tôi, các đồng chí khác cũng ở trong tình trạng vừa thiết kế, vừa chỉ đạo thi công, vừa chạy vật tư do yêu cầu tiến độ khẩn trương. Vật tư ngành điện vốn nhiều chủng loại nên tôi càng vất vả.

Khi thiết kế nguồn điện dự phòng, tôi nhận được yêu cầu kỹ thuật rất cao, có cả yêu cầu quân sự mà người làm công tác kỹ thuật phải am hiểu. Nguồn điện này phải đủ công suất cho mọi yêu cầu sử dụng điện của công trình và khởi động bình thường các máy điều hoà công suất lớn. Chất lượng điện (điện áp và tần số) phải đảm bảo và ổn định để các thiết bị y tế làm việc tốt. Nguồn điện có khả năng làm việc liên tục lâu dài trong trường hợp đế quốc Mỹ bắn phá các nhà máy điện và trạm phân phối. Đồng thời tính đến phương án tiết kiệm nhiên liệu, phòng khi việc cung cấp bị gián đoạn do cầu đường bị bắn phá. Việc chuyển đổi các nguồn điện không cho phép mất điện quá một phút, vì quá thời gian trên ảnh hưởng đến thông số nhiệt, ẩm giữ gìn thi hài Bác.

Phải mất nhiều ngày xắn quần lội khắp khu vực công trường chúng tôi mới xác định được vị trí xây hầm đặt các trạm phát điện. Đi khắp các kho sơ tán của Phòng khí tài Bộ Tư lệnh Công binh ở Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hoà Bình, tôi mới chọn được các trạm phát điện vừa ý. Nhiều đêm ngồi đọc sách tham khảo, tôi mới tìm đủ các giải pháp thoả mãn các yêu cầu trên. Thực tế vận hành nhiều năm sau này ở K9 đã lần lượt xảy ra như các giả định ban đầu và hệ thống nguồn điện đã phục vụ tốt cho nhiệm vụ.

Tôi đã chọn các trạm phát điện di động đi-ê-zen AД 75 (75 KVA) của Liên Xô, có khả năng cơ động cao, công suất đảm bảo, dễ vận hành, tự động điều chỉnh tốc độ và công suất nên điện áp và tần số ổn định, nhược điểm của trạm là khó khởi động, nhất là buổi sáng mùa đông. Tôi không chọn máy xăng cho dễ khởi động, là vì lúc này các kho Bộ Tư lệnh Công binh không có máy xăng công suất lớn, hơn nữa về lâu dài nhiên liệu đi-ê-zen tiết kiệm hơn, dễ cung cấp hơn. Tôi bố trí mỗi hầm 2 tổ máy nằm sâu vào trong lòng đất. Tất cả ống khói được kéo dài ra ngoài hầm và qua xử lý kiểu bếp Hoàng Cầm nên khói chỉ lan toả dưới bụi cây. Ba hầm máy bố trí cách nhau theo thế chân vạc xung quanh khu vực. Ngoài các giải pháp kỹ thuật đi kèm còn có quy trình vận hành, chăm sóc máy chặt chẽ, được tập huấn cho công nhân vận hành một cách chu đáo. Các tổ máy phát điện nằm trong chế độ trực, buổi sáng đều phải được nổ máy 10 đến 20 phút, máy nóng trong tư thế sẵn sàng khởi động. Tôi còn thiết kế một trạm nạp bù ắc quy, một khu chăm sóc ắc quy bổ sung nước cất và axit.

Tính đến việc tiết kiệm máy, tiết kiệm nhiên liệu trong thời gian mùa đông nhiệt độ ngoài trời thấp, máy lạnh làm việc ít, thời gian về khuya công suất tiêu thụ nhỏ, tôi xây dựng một trạm máy phát công suất nhỏ, AД – 15 (15 KVA).

Yêu cầu không để mất điện quá một phút làm tôi lúng túng đau đầu nhất. Thiết kế một mạch tự động đóng nguồn dự phòng không có gì khó khăn đối với một kỹ sư điện. Cái khó ở đây là nguồn dự phòng do các máy đi-ê-zen đảm bảo. Làm sao trong vòng một phút máy phải nổ nhanh, ổn định công suất và điện áp để mang tải. Trong trường hợp khởi động máy một không nổ phải tự động chuyển sang máy hai hoặc máy ba. Để cho các máy đi-ê-zen nổ ngay phải có các yếu tố sau: ắc quy phải thật khoẻ, máy nóng, các kim phun nhiên liệu tốt và cả dầu đi-ê-zen phải hâm nóng… Đúng là phải có giải pháp tổng hợp vừa kỹ thuật, vừa trình độ vận hành. Phác thảo trong đầu rồi lắp ráp và thử đi thử lại nhiều lần, nhưng đều thất bại ở khâu đếm giờ, chuyển mạch. Nếu như ngày nay tìm một bộ vi xử lý có mạch đếm giờ tự động chuyển mạch không khó khăn gì, còn thời kỳ đó tôi phải lắp lấy bằng các linh kiện rời, rồi mò mẫm thí nghiệm, cuối cùng tôi cũng tìm ra mạch đạt yêu cầu.

Thiết kế và lắp đặt bảng điện ở phòng trung tâm điều khiển số 7 lại có tính chất phức tạp khác. Xung quanh phòng giữ thi hài Bác có 9 máy điều hoà thay nhau làm việc. Các máy này đều của Nhật kiểu cục bộ, tất cả bảng điều khiển đều lắp trước mặt máy. Các công nhân vận hành không được phép vào phòng đặt thi hài để điều khiển máy, cũng không thể bóc tất cả bảng điều khiển về tập trung ở phòng số 7, làm như vậy dây rợ rất phức tạp, giảm độ tin cậy làm việc của máy. Yêu cầu đặt ra là công nhân ngồi tại buồng trung tâm có thể biết được nhiệt độ, độ ẩm trong phòng thi hài, máy nào đang làm việc, cũng như nhiệt độ, độ ẩm ngoài trời để quyết định tăng giảm máy lạnh bằng cách ấn nút trên bảng điện. Ngoài ra công nhân còn theo dõi các thông số khác như: lượng nước, nhiệt độ nước làm mát v.v… Nhìn các đèn đỏ, đèn xanh nhấp nháy và tiếng kêu sè sè của đồng hồ tự ghi làm việc, các chuyên gia y tế Liên Xô chăm chú theo dõi, ngạc nhiên, nhưng rất tin tưởng. Để có một bảng điều khiển như vậy, ngày nay chắc khó ai tưởng tượng nổi, các đèn đỏ đèn xanh đều dùng bóng đèn pin sơn xanh đỏ, làm việc được một thời gian sơn bong hết, lại phải sơn lại hoặc thay thế, tôi cũng đã tìm cách hạ điện áp cấp để kéo dài tuổi thọ bóng đèn pin. Thành công này có sự giúp đỡ to lớn của anh Chiêu, anh Bá và sự sáng ý của các công nhân Trung đoàn Công binh 259; sự giúp đỡ của Nhà máy Y cụ Hà Nội và Xưởng X49 Bộ Tư lệnh Công binh. Họ sẵn sàng tháo từng cái nút bấm, công tắc của máy công cụ để phục vụ công trình bảo quản giữ gìn thi hài Bác làm tôi rất cảm động.

Công trường bước sang giai đoạn gấp rút hoàn thiện để đón Bác lên. Công nhân chuyển sang làm 3 ca liên tục, còn nhiều hạng mục dang dở. Chúng tôi liên tục bám công trường để xử lý kịp thời các vướng mắc, chỉ tranh thủ ngủ khi nào quá mệt. Ai nấy đều gầy rộc, đen sạm, đến như đồng chí Cao Đàm mọi người quen gọi là “Đàm sữa”, vì da anh trắng như thư sinh, giờ cũng mai mái đen, nhưng không ai bị ốm.

Chúng tôi đã làm việc như vậy ở nhiều công trình, chưa một ai được biểu dương khen thưởng, ngay cả trong các cuộc giao ban, mọi người coi đó là chuyện bình thường. Lúc nào cũng được giáo dục tinh thần trách nhiệm, niềm vinh dự lớn lao được thay mặt Quân đội nhân dân Việt Nam đảm nhận những công trình cơ mật quốc gia. Ở đây, ai cũng quá quen phong cách làm việc của Phó Tư lệnh Trần Bá Đặng. Ông đã đi khắp các công trình mật. Ông là con người của công việc. Phó Tư lệnh thường gọi vui chúng tôi là ông “vua” của các ngành: xây dựng, điều hoà, điện nước.

Một buổi sáng chủ nhật, cả công trường nghỉ, chúng tôi được Phó Tư lệnh quan tâm đặc biệt cho theo xe ông về Hà Nội thăm vợ con. Ai cũng rất vui mừng vì đã lâu không được về thăm nhà. Mọi người lễ mễ xách theo lương khô, suất bồi dưỡng ca đêm giành làm quà cho con. Xe qua thị xã Sơn Tây được mấy cây số, đang chạy bon bon, bỗng một chiếc Uoát từ phía Hà Nội lên dừng lại ven đường vẫy chúng tôi. Phó Tư lệnh và anh Quyển bước xuống xe, một vị tướng bệ vệ, trán hói bước ra. Lần đầu tiên tôi trông thấy Tướng Phùng Thế Tài. Ngay sau đó, xe chúng tôi chở Thủ trưởng Tài, Phó Tư lệnh và anh Quyển quay lại công trường, không giải thích, động viên. Tất cả chúng tôi nhìn nhau ngỡ ngàng, ai cũng buồn, có lẽ do thói quen phục tùng của người lính nên không ai kêu ca gì.

Những ngày lao động hết mình, bao nhiêu công sức của cả đơn vị, bao mong đợi bấy lâu đã được đền bù. Đêm đón thi hài Bác lên đã tới. Từ chập tối tất cả các đèn quanh công trình đã bật sáng. Từ ngoài cổng dưới chân đồi con đường dẫn lên đỉnh đồi, những ngọn đèn cao áp hai bên đều bật sáng tạo thành một vệt sáng trắng lượn vòng quanh chân đồi lên đến đỉnh trông rất huyền ảo. Chúng tôi tất cả vào vị trí trực của mình sẵn sàng đảm bảo thiết bị hoạt động để đón Bác.

Phó Tư lệnh Trần Bá Đặng hạ lệnh cho tôi thử các phương án mất điện. Ông cầm đồng hồ bấm giây theo dõi, đứng cạnh ông là đồng chí Lê Quang Đạo. Tôi ấn nút tắt điện lưới quốc gia, chưa đầy mấy giây sau máy đi-ê-zen số một hoà mạng. Chạy được một lúc giả định sự cố, mấy giây sau máy hai hoà mạng, tiếp đó có điện lưới quốc gia, tự động đóng nguồn trở lại . “Thật tuyệt vời – Phó Tư lệnh khen – chính xác đến mức người ta chưa cảm nhận được mất điện”. Gần sáng đoàn xe đưa thi hài Bác đến công trình.

Để thiết kế hệ thống chiếu sáng phục vụ thăm viếng, tôi đã về Hà Nội trèo lên trần sân khấu Hội trường Ba Đình xem xét hệ thống chiếu sáng đã phục vụ lễ tang Bác trước đó rồi đến Xưởng Phim truyện I ở Thụy Khuê xem cách họ chiếu sáng diễn viên để quay phim, mua đèn và phụ kiện của họ. Phòng đặt quan tài kính của Bác ở K9 thấp và nhỏ nên không thể dùng phương án chiếu sáng ở Hội trường Ba Đình. Tôi thiết kế các giá lắp đèn, thiết bị điều chỉnh nhỏ gọn hơn, gắn lên tường, chiếu từ xa. Tất cả đèn và giá đều được mạ crôm bóng loáng phù hợp với yêu cầu y tế. Mọi việc đã xong, nhưng không có điều kiện chiếu thử trên mô hình để xác định góc chiếu và màu sắc, tôi rất lo lắng vì thời gian hiệu chỉnh trên thi hài Bác chỉ được phép 15 phút. Biết được lo lắng của tôi, Phó Tư lệnh Trần Bá Đặng đã báo cáo Thủ trưởng Tài, người phụ trách trực tiếp đón các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị lần đầu tiên lên viếng Bác nhân Ngày sinh của Người (19- 5). Thật bất ngờ, ông cho phép tôi thử trực tiếp trên người ông. Thấy tôi băn khoăn quá, ông hỏi:

– Còn đắn đo gì nữa ?

– Thưa, nếu chiếu trực tiếp lên người thủ trưởng không có hòm kính sẽ rất nóng, các đèn có công suất lớn đến 1.000W- Tôi đành thú thật.

– Có nóng bằng đèn chiếu lên đầu Nguyễn Đức Thuận không? – Ông cười hỏi tôi.

– Dạ ! Chắc không đến, vì các đèn để xa từ 2m trở lên – Tôi giải thích.

– Thế thì chuẩn bị, mai thử, sau đó lắp thật sáng, ngày kia các anh ấy lên viếng Bác rồi. Cậu chỉ được phép làm tốt như hồi tang lễ, sẽ có thưởng! – Ông vỗ vai tôi.

Hôm sau, ông nằm trên phản hai tay đặt trên bụng như tư thế Bác vẫn nằm. Tôi bật đèn, những luồng sáng mạnh hắt lên khuôn mặt của ông. Tôi nhanh tay hiệu chỉnh góc nghiêng, tiêu cự. Mới được mấy phút mà mồ hôi trên trán ông chảy ròng ròng xuống phản. Tôi luống cuống. Đang giữa hè, nơi thử không có quạt. Thế mà nét mặt ông vẫn bình thản chịu đựng. Tôi nhanh tay hiệu chỉnh lần nữa. Mọi người đứng ở phía sau thấy rất đạt tiêu chuẩn. Tôi tắt đèn. Ông bật dậy. Lập tức, người đưa khăn ướt, người dùng tấm bìa quạt mát cho ông.

– Các cậu thấy thế nào ?- Ông hỏi mọi người.

– Đẹp lắm thủ trưởng ạ !

Tôi chuẩn bị thu dọn, bỗng ông lại nằm lên phản và nói: thử lần nữa cho chắc, các cậu xem kỹ đi, cậu Thành nhớ mai mà chiếu cho Bác.

Tôi bật đèn, hiệu chỉnh lại tiêu cự cho tia sáng tập trung hơn vào khuôn mặt, mọi người nhất trí.

Nhìn ông đi ra cùng mọi người, áo phía sau tấm lưng to ướt đẫm, trên trán vẫn còn nhiều giọt mồ hôi, tôi ái ngại, thấy thương và cảm phục ông.

Tối hôm đó tôi được gọi lên phòng đặt thi hài Bác, các Thủ trưởng đã có mặt ở đó đông đủ, có vài chuyên gia y tế Liên Xô. Tôi chỉ được phép 15 phút để hiệu chỉnh ánh sáng trên thi hài Bác để hội đồng duyệt.

Đứng sau quan tài kính ngắm Bác một lúc lâu, tôi mới bắt tay hiệu chỉnh. Tôi sung sướng vô cùng được ngắm Bác thoả thích như đứa cháu nhỏ lâu ngày về thăm ông. Tôi nhớ lại những lần gặp Bác trước đây. Hồi ở Vai Cày -Thái Nguyên, công binh chúng tôi xây dựng khu nhà tạm để Trung ương ở trước khi về tiếp quản Thủ đô, chiều chiều tôi ra ngồi xem Bác đánh bóng chuyền cùng các đồng chí cảnh vệ, ngày ấy Bác gầy và đen hơn. Lần thứ hai là ngày tôi đứng giới thiệu gian trưng bày bom mìn trong triển lãm sáng kiến toàn quân tại phố Lý Nam Đế. Một hôm Bác đến thăm, Người mặc bộ bà ba lụa nâu, chân đi dép lốp, chăm chú nghe tôi giới thiệu. Khi ra ngoài sân tôi đẩy xe cút kít giới thiệu sáng kiến rải mìn bằng xe thô sơ, Người cười và nói: “Người ta sắp lên mặt trăng rồi, các chú còn đi bằng xe cút kít”. Mọi người cười vui vẻ.

Lần này, thấy Bác nằm thanh thản như đang ngủ, vẫn vầng trán cao vời vợi, chòm râu trắng. Tôi tự nhủ phải chỉnh ánh sáng sao cho mọi người đều cảm nhận rằng: Bác như đang ngủ. Bác thật vĩ đại mà gần gũi, giản dị.

Đại tá Nguyễn Trung Thành
Nguyên Phó Chủ nhiệm Kỹ thuật – Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Nơi Bác Hồ yên nghỉ trong những năm tháng chiến tranh

Tôi nhớ như in một buổi chiều thu năm 1968 tại khu sơ tán ở Hà Tây, anh Tạ Xuân Mẫn, Trưởng ban Thiết kế Phòng công trình Bộ Tư lệnh Công binh báo cho biết: “Về ngay Hà Nội để nhận nhiệm vụ mới”. Nhận thông báo như vậy, tâm trạng tôi vừa mừng, vừa lo. Mừng vì được trên tin tưởng giao nhiệm vụ. Lo là nhiệm vụ mới, môi trường công tác mới, xa anh em, đơn vị, liệu mình có đảm đương, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao?

Tổ công tác gồm 4 người: Đồng chí Nguyễn Trọng Quyển phụ trách chung và 3 chúng tôi là: anh Phạm Hoàng Vân – Kỹ sư điện, anh Nguyễn Lam Sinh – Kỹ sư xây dựng và tôi – Kỹ sư công trình thiết kế phần điều hoà thông gió.

Công việc đầu tiên của chúng tôi là đến ngay Viện Quân y 108 để cùng thảo luận và làm việc với Tổ y tế đặc biệt do bác sĩ Nguyễn Gia Quyền phụ trách.

Nhiệm vụ đòi hỏi chúng tôi phải cải tạo khu phẫu thuật của Bệnh viện thành một khu thí nghiệm đặc biệt có phiên hiệu 75A, mà buồng chính phải đảm bảo được các điều kiện sau:

– Nhiệt độ: 160C ± 0,20C;
– Độ ẩm: 75% ± 5%;
– Không được có gió lùa;
– Phải vô trùng tuyệt đối;
– Thời gian hoàn thành càng nhanh càng tốt và phải tuyệt đối giữ bí mật.

Việc đầu tiên là tìm kiếm thiết bị vật tư có ở Việt Nam, sau đó lập phương án thiết kế cho từng buồng, từng công trình. Để nắm chắc các thông số kỹ thuật của máy điều hoà, chúng tôi đã phải làm thí nghiệm liên tục 24/24 giờ. Tôi cùng đồng chí Phạm An Đông, Lê Trần Đống thay nhau theo dõi. Sau đó, chúng tôi về buồng số 1 tại khu giải phẫu của bệnh viện tiếp tục nghiên cứu thí nghiệm.

Công việc hết sức gian nan! Gian nan một cách thầm lặng, đòi hỏi phải kiên nhẫn, một sự kiên nhẫn tột cùng. Ở khu giải phẫu này, ngày cũng như đêm, hết sức tĩnh lặng. Đêm nghe tiếng dế, tiếng côn trùng kêu át cả tiếng máy chạy. Sau nhiều ngày đêm nghiên cứu, tôi và đồng chí Vân mới tìm ra được cách đấu lại hệ thống điện trong máy để đáp ứng yêu cầu hạ nhiệt của máy.

Để giải quyết việc đọng sương, chúng tôi đã dùng tấm nhựa cách điện “bakêlít” ốp trên trần, việc này đồng thời đảm bảo được cả yêu cầu vô trùng. Bây giờ nghĩ lại tôi càng thấm thía câu thành ngữ: “Cái khó ló cái khôn”.

Khó khăn nhất là công việc đảm bảo độ ẩm của buồng chính, nơi giữ thi hài theo yêu cầu của y tế. Công việc đó được thực hiện vào thời điểm của 37 năm về trước, khi máy móc còn rất thiếu thốn và thô sơ, hơn nữa trong hoàn cảnh đất nước đang có chiến tranh, khó khăn bộn bề. Cuối cùng, chúng tôi đã tìm ra cách dùng lượng gió nóng của máy WPH-105 hoà trộn với lượng gió lạnh của máy UC-26. Việc thử nghiệm đã cho kết quả tốt.

Công trình 75B là công trình phục vụ Lễ Quốc tang tại Hội trường Ba Đình. Công trình này tuy nhỏ nhưng hết sức khó khăn về mặt kỹ thuật. Tôi đã phải túc trực thường xuyên bên máy để điều chỉnh. Có lúc hơi focmol và hoá chất lọt ra ngoài làm mắt cay xè. Để đảm bảo công việc, tôi đã nhiều đêm thức trắng. Có lúc buồn ngủ quá, tôi phải đổ nước lạnh lên đầu cho tỉnh táo để tiếp tục làm việc. Tôi đã có một kỷ niệm nhỏ không thể quên trong những ngày này. Đó là buổi họp của Ban lễ tang để kiểm tra các công tác chuẩn bị. Vừa nghe Phó tổng Tham mưu trưởng Phùng Thế Tài nói được 5 phút, tôi đã gục xuống ngủ không hay biết gì. Các đồng chí xung quanh thấy vậy nhưng biết chúng tôi đã phải thức đêm liên tục nên không đánh thức, để tôi được chợp mắt trong chốc lát. Thủ trưởng Tài cũng biết nhưng ông đã rộng lượng tha thứ.

Thực tế khách quan lại đưa đến một khó khăn mới buộc chúng tôi phải suy nghĩ và tìm cách giải quyết. Đó là tại Hội trường Ba Đình lúc đó chưa có máy điều hoà nhiệt độ, chỉ có quạt thông gió đơn thuần. Nhiệt, ẩm do dòng người vào viếng Bác toả ra, cộng với nhiệt do đèn chiếu sáng để quay phim, chụp ảnh v..v… ảnh hưởng đến nhiệt độ của quan tài kính và gây ra hiện tượng đọng sương. Qua nhiều ngày đêm thí nghiệm, nghiên cứu quên cả ăn, ngủ, chúng tôi đã tìm được cách khắc phục là dùng tốc độ gió của quạt bàn, cộng với lượng gió lạnh thổi xung quanh quan tài kính để giải quyết.

Đáp lại niềm tin của Đảng, Chính phủ, của nhân dân và quân đội, chúng tôi đã làm việc suốt ngày đêm, chạy đua với thời gian, bảo đảm tiến độ và chất lượng tốt nhất. Cuối tháng 8 năm 1969, đoàn cán bộ y tế Liên Xô và Ban chỉ đạo công tác giữ gìn thi hài Bác kiểm tra công trình 75A, 75B đã kết luận có đủ điều kiện để tiến hành công tác giữ gìn thi hài Bác giai đoạn đầu phục vụ lễ viếng, lễ tang Bác.

Trong những ngày tổ chức Lễ Quốc tang tại Hội trường Ba Đình, cả nhóm chúng tôi và các Thủ trưởng Bộ Tư lệnh Công binh luôn có mặt, không ai rời vị trí công việc của mình một phút. Lễ viếng Bác sang ngày thứ 3, đồng chí Nguyễn Lương Bằng- Uỷ viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Kiểm tra Trung ương hỏi chúng tôi: “Liệu có đảm bảo thêm thời gian để nhân dân vào viếng Bác không?” Chúng tôi rất tự tin thưa: “Về kỹ thuật, chúng tôi hoàn toàn bảo đảm, kéo dài bao lâu cũng được”.

Tiếp theo là việc cải tạo công trình K9 (sau này đổi tên là K84), công trình bảo vệ, giữ gìn lâu dài thi hài Bác trong những năm chiến tranh gồm 2 khu: khu mặt đất và khu ngầm để tránh bom đạn của địch. Công trình phải được hoàn thành trong 3 tháng. Điều kiện thi công rất khó khăn, không có điện lưới, không đủ nước cung cấp cho thiết bị điều hoà. Ngoài ra còn phải tuân thủ các quy tắc nghiêm ngặt, không được dùng thuốc nổ và máy thi công lớn để đảm bảo bí mật.

Các bộ phận thiết kế, điện, nước, điều hoà, cơ khí, xây dựng làm việc liên tục suốt ngày đêm. Chúng tôi đều hiểu rõ đây là nhiệm vụ quan trọng và có ý nghĩa lịch sử lớn lao, vì thế mọi người đều hết sức cố gắng, cùng chung ý chí, cùng thương yêu, động viên nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ. Ngày 15/12/1969, công trình K9 hoàn thành, vượt trước thời gian quy định 10 ngày và được đổi thành K84. Sáng sớm ngày 24 tháng 12 năm năm đó, thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh được di chuyển lên K84 để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, giữ gìn lâu dài trong những năm tháng chiến tranh ác liệt chống đế quốc Mỹ xâm lược.

Năm 1972, Tổng thống Ních Xơn ra lệnh ném bom trở lại miền Bắc. Bom Mỹ bắn phá ác liệt nhiều nơi như Hà Nội, Hải Phòng. Mặc dù K84 ở xa Hà Nội nhưng lại nằm trong phạm vi đường bay của máy bay Mỹ. Đề phòng khi bị đánh trả quyết liệt, máy bay Mỹ sẽ ném bom bừa bãi để tháo chạy. Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương quyết định di chuyển thi hài Bác đến một nơi khác an toàn hơn, trước ngày 15 tháng 7 năm 1972. Chúng tôi tiếp tục được giao nhiệm vụ xây dựng công trình này. Tôi cùng đồng chí Phạm Hoàng Vân, Hoàng Quang Bá được lệnh lên khảo sát thiết kế thi công tại chỗ. Chúng tôi đề ra mục tiêu phấn đấu hoàn thành công việc trong 20 ngày. Địa điểm là nơi rừng núi, hang sâu ẩm ướt, vắt muỗi nhiều vô kể. Đường lên khó khăn, điện nước không có, ăn uống vô cùng thiếu thốn. Nhưng khó khăn không làm nhụt được tinh thần và ý chí của chúng tôi. Với tấm lòng kính yêu vô hạn và biết ơn đối với Bác, được sự chỉ đạo của Thiếu tướng Phạm Ngọc Mậu, công trình đã hoàn thành đúng thời gian, đảm bảo chất lượng. Hơn một tuần sau khi hoàn thành công trình, thi hài Bác kính yêu đã được đưa về giữ gìn tại đây.

Hơn một phần ba thế kỷ trôi qua nhưng mỗi khi nhớ lại những suy nghĩ, tình cảm, những đêm thức trắng, cùng đồng chí, đồng đội miệt mài nghiên cứu, thiết kế, những khó khăn vất vả phải vượt qua … tôi vô cùng xúc động. Đó là những năm tháng không thể nào quên. Những năm tháng “khó khăn nào cũng vượt qua” để hoàn thành nhiệm vụ vinh quang mà Đảng và nhân dân giao cho.

Bộ phận kỹ thuật chúng tôi kết hợp với bộ phận y tế đã cùng nhau giữ gìn nguyên vẹn thi hài Bác đến khi đón Bác về Lăng. Chúng tôi rất xúc động khi được nghe Hội đồng khoa học gồm các chuyên gia y tế Liên Xô và Việt Nam sau khi kiểm tra đã kết luận: Ở một nước khí hậu nhiệt đới, lại phải di chuyển xa, nhưng hình dáng Người vẫn nguyên vẹn như khi Người còn sống và có đủ điều kiện để giữ gìn lâu dài.

Viết lại những dòng kỷ niệm ngắn ngủi này, tôi chỉ muốn nhắn nhủ rằng: Ở Thế kỷ XX, trong những năm tháng chiến tranh gian khổ của đất nước, cán bộ, chiến sĩ kỹ thuật Công binh đã thầm lặng xây dựng những công trình tuyệt mật, nơi Bác Hồ yên nghỉ trong những năm chiến tranh, góp phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp giữ gìn lâu dài thi hài Bác kính yêu.

Đại tá Bùi Danh Chiêu
Nguyên cán bộ Phòng Công trình – Bộ Tư lệnh Công binh

bqllang.gov.vn

Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quảng trường mang tên Người tại Matxcơva.

Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những bức tượng đồng có tầm cỡ ở Matxcơva. Cuối năm 1969, sau khi Người tạ thế, khu Công viên Akademichexki rộng hơn một hec-ta được đặt hòn đá đầu tiên chuẩn bị cho việc dựng tượng.

Đây là một vị trí rất đẹp của Thành phố. Công viên là điểm cắt của hai con đường lớn, đường Đmitria Ulianôpva và đường 60 năm Tháng Mười, xung quanh là những ngôi nhà cổ và nhà bằng gạch cao từ tám đến mười tầng, không che mất tầm nhìn. Lúc này, Nhà hàng Hà Nội đang tồn tại, án ngữ phía Tây như là một biểu tượng của văn hóa ẩm thực Việt Nam… Chín năm sau, tượng Bác bằng đồng cao 5 mét được đặt trên bệ cũng bằng đồng khối có chiều dài 6 mét, dày nửa mét; diện tích khuôn viên là 676m2, có ba chiếu nghỉ và 8 bậc thang rộng được khánh thành. Hàng chữ “Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do” bằng tiếng Nga, khắc sâu vào mặt trước của tượng đài, cách vài ba trăm mét vẫn có thể đọc được. Trước nhà số 1/24 và số 2/22 của hai phố Đmitria Ulianôpva và phố Công đoàn đều có hai tấm bảng bằng đá khổ 1m x 1m20 ghi rõ “Quảng trường Hồ Chí Minh” và tóm tắt thân thế và sự nghiệp của Người.

Quảng trường, khu tượng Bác là nơi nghỉ ngơi, giải trí của khu dân cư, lao động khu vực Viện Hàn lâm. Những hàng ghế gỗ màu xanh kê dọc các lối đi, không lúc nào vắng bóng các cụ già dừng chân, những đôi gái trai ngồi tâm sự. Những ngày đẹp trời, các em bé rải vụn bánh mì cho hàng đàn bồ câu và chim sẻ.

Vì chỉ nằm cách lối vào Metrô Viện Hàn lâm chưa đầy 100 mét, nên ngày ngày trước tượng Bác lúc nào cũng cuồn cuộn dòng người qua lại. Vào những ngày thứ Bảy, Chủ Nhật, ngày lễ, hàng chục thanh niên Nga lại tụ tập trước tượng Bác chơi đến tận khuya.

Đã thành một truyền thống, các Đoàn đại biểu cấp cao từ trong nước sang thăm hữu nghị chính thức nước bạn đều đến thành kính đặt hoa trước tượng đài Hồ Chủ tịch và cũng thành thông lệ hàng năm, vào ngày 19-5 và ngày 2-9, đúng mười giờ sáng, cán bộ Đại Sứ quán, đại biểu Cộng đồng người Việt làm ăn và sinh sống ở Matxcơva và những người bạn Nga lại xếp hàng làm lễ dâng hoa trước tượng Người. Những người Nga sống quanh khu vực vừa ngạc nhiên, vừa trân trọng tình cảm thành kính của người Việt Nam và cả bạn bè Nga yêu mến Việt nam đối với lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Chủ tịch QH Nguyễn Phú Trọng và Đoàn Đại biểu Quốc hội Việt nam tại Tượng đài Hồ Chủ tịch tháng 4 năm 2009

Hầu như trong chương trình những đám cưới của người Việt, bao giờ các đôi trai gái cũng mang hoa đến đặt trước tượng Bác và Đài Liệt sĩ vô danh tại điện Kremli như là một nghĩa cử và một nếp sống văn hóa. Những điều này, hầu như một người Việt nào ở Nga cũng biết….

40 năm kể từ khi Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quảng trường mang tên Người được khởi công, giờ đây sự hiện hữu của công trình tưởng niệm Người lớn nhất và sớm nhất ở nước ngoài này đã trở thành một biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai dân tộc, hai đất nước, niềm tự hào của mỗi người Việt nam, đặc biệt đối với những ai đã từng học tập làm việc, công tác tại Liên xô trước đây nói chung và Thủ đô Matxcova nói riêng với Lãnh tụ Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới .

Vladimir Efimovich Tsigal tác giả tượng đài Hồ Chủ tịch ở Matxcova

Sinh năm 1917, tác giả bức tượng đài Hồ Chí Minh ở Matxcơva, Nghệ sĩ điêu khắc Nhân dân Liên Xô và LB Nga V.E. Tsigal đã bỏ bao công sức sáng tạo nên, đã làm ấm lòng biết bao người Việt xa xứ, khiến họ cảm thấy gần gũi nhau hơn mỗi khi đặt chân tới quảng trường Hồ Chí Minh ở Matxcơva.

Nghệ sĩ điêu khắc Nhân dân Liên Xô và LB Nga Vladimir Efimovich Tsigal

V.E.Tsigal luôn tự hào rằng Quảng trường Hồ Chí Minh cùng bức chân dung Người bằng đồng đã trở thành địa chỉ gần gũi không những đối với người Việt đang học tập, làm ăn, sinh sống tại LB Nga, mà còn đối với nhiều người dân Matxcơva. Không chỉ vào dịp sinh nhật Người, mà vào ngày lễ tết, nhiều người Việt Nam luôn tới đây đặt hoa tưởng nhớ vị lãnh tụ vĩ đại đã mang lại độc lập, tự do cho dân tộc. Cô dâu chú rể người Việt trong ngày hạnh phúc cũng không quên đến bên Người, coi đây là địa điểm dừng chân mang ý nghĩa lớn trong khoảnh khắc đặc biệt của cuộc đời. Các đoàn đại biểu Việt Nam sang thăm và làm việc tại LB Nga cũng coi việc tới đặt vòng hoa tại Quảng trường Hồ Chí Minh là một phần không thể thiếu trong chương trình nghị sự… Và khi tới đây, không ít khách tham quan chắc hẳn đều nhắc tới ông – người nghệ sĩ đã góp phần đáng kể tạo nên một địa điểm gặp gỡ mang ý nghĩa văn hóa xã hội rất lớn .Cái tên Vladimir Efimovich Tsigal, người được vinh dự nhận giải thưởng Lênin và nhiều giải thưởng quốc gia Liên Xô – LB Nga, viện sĩ Viện hàn lâm mỹ thuật Liên Xô, đã trở nên thân quen, và Quảng trường Hồ Chí Minh đã trở thành địa điểm gắn liền với nhiều sự kiện lớn góp phần tăng cường tình đoàn kết hữu nghị, thúc đẩy sự hợp tác giữa hai nước Việt Nam và LB Nga.

Là một trong số 6 tượng đài Hồ Chí Minh được đặt ở nước ngoài gồm Cuba, Hungary, Pháp, Ấn Độ, Madagascar, tượng đài Hồ Chí Minh ở Matxcơva được tọa lạc trong một không gian có thể nói là rộng lớn nhất. Đặt chân tới đây, chắc hẳn không ai bỏ qua cơ hội ngắm nhìn thật kỹ bức chân dung bằng đồng của Bác. Từ trên cao, với nụ cười hiền hậu, vầng trán cao và chòm râu bạc, Người như đang mỉm cười với mỗi người khách tới thăm Quảng trường.

Nhớ lại cách đây 4 năm, chúng tôi đã có dịp được nhà điêu khắc V.E. Tsigal đón tiếp tại nhà riêng ở Matxcơva. Khi đó, mặc dù đã 88 tuổi, nhưng V.E. Tsigal vẫn nhanh nhẹn và đặc biệt ông có trí nhớ thật tuyệt vời. Trong căn phòng bài trí nên thơ với những bức tranh vẽ phong cảnh nước Nga và tĩnh vật mang phong cách cổ điển, V.E. Tsigal ngồi trầm ngâm và lục tìm trong trí nhớ những ký ức về hai chuyến thăm Việt Nam, về quá trình sáng tạo nên bức phù điêu chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh và về quãng thời gian ông miệt mài với từng đường nét trên bức chân dung và toàn bộ bố cục của tượng đài. Có lẽ thời gian ông giành cho bức tượng đài rất dài, nên ông không thể nhớ cụ thể đã mất bao nhiêu năm để hoàn thành tác phẩm. Ông nhớ rằng, khi lần đầu sang thăm Việt Nam năm 1985, ông đã mang theo dự án đầu tiên về bức phù điêu Hồ Chí Minh. Khi đó, theo tư duy của ông, Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại, là học trò của Các Mác và Lênin, là người đã mang lại tự do cho dân tộc Việt Nam, vì vậy ý tưởng ban đầu của nhà điêu khắc là muốn tạo hình tượng Hồ Chí Minh theo cách truyền thống – ở tư thế đứng, tay đặt trên quyển sách, tượng trưng cho những tác phẩm của Mác và Lênin.

“Nhưng khi thực hiện chuyến đi xuyên Việt bằng ôtô, có cơ hội tìm hiểu cuộc sống, tính cách, phong tục tập quán của những người dân sống ở những vùng quê dọc theo đất nước Việt Nam, tôi nhận ra rằng Việt Nam mà tôi tận mắt thấy hoàn toàn khác với Việt Nam trong trí tưởng tượng của tôi và tôi đã quyết định bỏ dự án thứ nhất và bắt tay vào soạn thảo dự án thứ hai với những cảm xúc hoàn toàn mới” – V.Tsigal tâm sự. Để có tư liệu phục vụ cho dự án thứ hai của bức tượng đài Hồ Chí Minh, nhà điêu khắc đã ghi nhớ và sâu chuỗi từng chi tiết nhỏ khi tới thăm nhà sàn, ao cá Bác Hồ, khi xem những bức ảnh chụp về cuộc đời hoạt động của Bác và khi nghe ông Vũ Kỳ – nguyên Giám đốc Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh, kể về Người. Ngoài ra, V.Tsigal còn đọc những tác phẩm viết về Bác, nghiên cứu di chúc của Bác viết trước lúc đi xa. Ông đã cố gắng hết sức mình không chỉ để tìm hiểu con người, tính cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà còn tìm hiểu cuộc sống của đất nước, con người Việt Nam. “Người Việt Nam sống ra sao, họ nghĩ gì và quan tâm đến điều gì? Tất cả những kiến thức đó rất cần cho tôi” – V.Tsigal khẳng định.

Nếu có dịp được chiêm ngưỡng bức phù điêu Hồ Chí Minh ở Matxcơva, chắc hẳn bất cứ ai cũng có thể nhận thấy phong cách thể hiện ý tưởng và cấu trúc của tác phẩm là độc nhất vô nhị, không giống với những bức tượng đài khác. Đó cũng chính là mục đích hướng tới của nhà điêu khắc tài năng V.Tsigal: “Tôi muốn bức phù điêu Hồ Chí Minh thu hút sự chú ý và sẽ để lại ấn tượng sâu sắc cho bất cứ ai từng một lần đứng trước tác phẩm này”.

Để bức phù điêu Hồ Chí Minh được công chúng tiếp nhận như một tác phẩm điêu khắc “có một không hai”, tác giả V.Tsigal đã gửi gắm vào tác phẩm tình cảm và suy tư của ông về lịch sử đất nước, con người Việt Nam, về Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ đã được UNESCO công nhận là danh nhân thế giới và năm 1990 – năm khai trương bức phù điêu, cũng là Năm Quốc tế Hồ Chí Minh. Từ khi khánh thành đến nay, Quảng trường Hồ Chí Minh với bức chân dung Người được khắc nổi trên tấm đồng tròn khổng lồ cùng câu nói nổi tiếng của Người được dịch sang tiếng Nga “Không có gì quí hơn độc lập tự do”, với hình tượng chàng trai Việt Nam ở thế chuẩn bị bật dậy, hình tượng cây tre, đã trở thành điểm du lịch tôn thêm vẻ đẹp của thành phố vốn nổi tiếng với nhiều bức tượng mang tính nghệ thuật cao là Matxcơva.“Vòng tròn là hình tượng mặt trời của Việt Nam, tiềm ẩn mơ ước về một Việt Nam với tương lai tươi sáng – V.Tsigal miêu tả ý tưởng sáng tạo bức tượng đài – Ở mặt sau của hình tròn là hai cây tre – loài cây luôn sẵn sàng gồng mình chống chọi với bão tố. Tôi xây dựng hình tượng cây tre cũng là xuất phát từ sự hiểu biết về loài cây đặc trưng của Việt Nam: cây có thể bị uốn cong, nhưng khó bị bẻ gẫy, giống như ý chí và sức mạnh Việt Nam vậy”.

Đối với nhà điêu khắc, lịch sử Việt Nam là lịch sử của những cuộc đấu tranh giành độc lập và tự do cho đất nước. Người Việt Nam đã trải qua bao đau thương và mất mát mới giành được nền độc lập của hôm nay. Bởi vậy ban đầu, ý tưởng thiết kế hình tượng chàng trai Việt Nam ở phía dưới chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh là chàng trai cầm khẩu súng máy trong tay. “Nhưng sau đó tôi đã suy nghĩ lại, – V.Tsigal nhớ về thời kỳ cuối những năm 80 khi ông bắt tay đúc bức phù điêu, – Tôi đã tự hỏi mình: Tại sao lại gắn hình ảnh vị lãnh tụ Việt Nam bên cạnh vũ khí như vậy? Hãy để đất nước này sống trong hòa bình, không bao giờ còn biết tới những khẩu súng. Và tôi đã bỏ khẩu súng đó ra khỏi bố cục của bức tượng”. Giờ đây, chàng trai Việt Nam trong tác phẩm của ông là một chàng trai với sức vóc khỏe mạnh, đang trong tư thế chuẩn bị xuất phát trên con đường đến với tương lai. Và cho tới nay, ông nhận thấy ý tưởng loại bỏ khẩu súng trong tay chàng trai thật đúng với hiện thực: Việt Nam đang vươn mình đi lên xây dựng tương lai no ấm trong hòa bình.

Và không chỉ bức phù điêu bằng đồng khổng lồ mang ý nghĩa sâu xa, mà cả bệ đá hoa cương mà bức phù điêu trụ trên đó cũng hàm chứa nhiều ý nghĩa. “Chắc có nhiều người đặt câu hỏi: tại sao không phải là 3 hay 5 bậc đá hoa cương dẫn tới tượng đài, mà lại là 8 bậc? – Tác giả Tsigal dường như tự hỏi mình – Con số 8 mang ý nghĩa tượng trưng, bởi tôi nhận thấy bông sen – loài hoa được người Việt Nam coi là biểu tượng của sự thanh tao, thường có 8 cánh”.

Có thể nói, mỗi chi tiết điêu khắc thể hiện trên bức phù điêu Hồ Chí Minh đều mang ý nghĩa sâu xa xuất phát từ sự hiểu biết, từ tấm lòng ngưỡng mộ của tác giả đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, với lịch sử đất nước và con người Việt nam. Và như cảm tưởng của nhiều vị khách từng đến với Quảng trường Hồ Chí Minh, thì đây là địa điểm mang đậm phong cách và tinh thần Việt Nam. Phong cách và tinh thần Việt Nam ấy đã được nghệ sĩ điêu khắc tài năng V.E.Tsigal chuyển tải một cách tài tình và đầy sức thuyết phục. Phát biểu cảm tưởng của mình về Chủ tịch Hồ Chí Minh, V.E. Tsigal đã nói: “Đó là vị Chủ tịch giản dị nhất trong số các vị Chủ tịch và Tổng thống mà tôi từng được biết. Có vị Tổng thống nào mà trong túi luôn có kẹo để phân phát cho trẻ nhỏ! Đó là con người thật thông minh, phúc hậu”.

Nhà điêu khắc còn ghi nhớ từng sự kiện nhỏ liên quan tới quá trình sáng tác bức tượng đài Hồ Chí Minh .Ông biết rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh từng mơ ước được gặp V.I.Lênin . Khi ông đúc bức phù điêu Hồ Chí Minh trong một xưởng điêu khắc rất lớn ở Matxcơva, thì cùng thời điểm đó, một nhà điêu khắc khác cũng đang đúc tượng V.I.Lênin. “Và đôi lúc tôi cảm thấy rất vui vì dường như mình đã góp phần tạo điều kiện để hai con người vĩ đại đó gặp gỡ nhau trong lĩnh vực điêu khắc”./-

Theo vtv4.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển giá trị văn hóa dân tộc và nhân loại

Đại hội IX của Đảng khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”. Ở đây, xin làm rõ phần nào nhận định đúng đắn của Đảng ta về tư tưởng vĩ đại của Người.

1-Tư tưởng Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Tư tưởng Hồ Chí Minh có cội nguồn từ những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Khi tôn vinh Người là danh nhân văn hóa kiệt xuất và Anh hùng giải phóng dân tộc, tổ chức UNESCO đã ghi nhận: Nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh là kết tinh của truyền thống văn hóa ngàn năm của dân tộc Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau… Dân tộc Việt Nam trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã tạo lập cho mình một nền văn hóa riêng, phong phú và bền vững với những giá trị truyền thống tốt đẹp và cao quý.

Trước hết đó là chủ nghĩa yêu nước và ý chí bất khuất đấu tranh để dựng nước và giữ nước. Đây là một trong những tài sản có giá trị nhất trong hành trang của Hồ Chí Minh lúc ra đi tìm đường cứu nước năm 1911. Nó là cơ sở xuất phát, là động lực, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã có quá trình lịch sử hàng ngàn năm với nội dung phong phú và sâu sắc như: yêu nước gắn liền với yêu quê hương, yêu con người Việt Nam, yêu truyền thống văn hóa quý giá. Thời kỳ phong kiến, yêu nước có nội dung trung quân ái quốc, lợi ích giai cấp thống trị phù hợp với lợi ích của nhân dân lao động trong sự nghiệp chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc.

Hồ Chí Minh đã làm phong phú nội dung của chủ nghĩa yêu nước. Yêu nước đối với Người là gắn liền với yêu nhân dân. Người nói, lòng thương yêu nhân dân và nhân loại của Người không bao giờ thay đổi…Người có một ham muốn tột bậc là làm sao nước ta được độc lập, dân ta có cơm ăn, áo mặc và được học hành. Người đã nêu ra chuẩn mực “trung với nước, hiếu với dân” và phát triển những nội dung mới của chủ nghĩa yêu nước. Đó là yêu nước dựa trên quan điểm giai cấp công nhân, yêu nước mở rộng ra thành tình yêu vô cùng rộng lớn đối với nhân dân lao động, những người cùng khổ, đối với giai cấp công nhân các nước trên thế giới. Trên cơ sở tư tưởng của giai cấp công nhân, Người đã nêu ra nội dung mới: Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì chỉ có chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mình mới ngày một ấm no thêm, Tổ quốc ngày một giàu mạnh thêm.

Trong các giá trị truyền thống Việt Nam, tinh thần nhân nghĩa, truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái là những nét hết sức đặc sắc. Truyền thống này hình thành một lúc với sự hình thành dân tộc, từ hoàn cảnh và nhu cầu đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên và giặc ngoại xâm. Người Việt Nam gắn bó với nhau trong tình làng, nghĩa xóm. Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát huy sức mạnh bốn chữ “đồng” (đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh). Người thường nhấn mạnh, nhân dân ta đã từ lâu sống với nhau có tình có nghĩa. Tình nghĩa ấy được Người nâng lên cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà. Ngay cả khi tiếp thu lý luận Mác-Lênin – đỉnh cao của trí tuệ nhân loại – cũng phải trên nền tảng của giá trị truyền thống. Người nhấn mạnh: Hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu kinh sách mà sống không có tình nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin được…Tư tưởng đại nhân, đại nghĩa ở Hồ Chí Minh là phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của con người, là cứu nước, độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, tạo mọi điều kiện cho con người phát triển. Trong văn hóa đạo đức Việt Nam, chữ “Nghĩa” có ý nghĩa là lẽ phải, ngay thẳng. Nguyễn Trãi đã từng nói: Phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, nên “công to phải lấy nhân nghĩa làm đầu”, Hồ Chí Minh lấy chữ nghĩa để phân rõ bạn thù. Ai làm điều gì có lợi cho nhân dân, cho Tổ quốc đều là bạn. Bất kỳ ai làm điều gì có hại cho nhân dân và Tổ quốc đều là kẻ thù.

Trong những giá trị truyền thống cao đẹp của dân tộc, Hồ Chí Minh đã kế thừa tinh thần cộng đồng, một lối sống thành thực, thân ái, những thuần phong mỹ tục, trở thành những yếu tố đậm nét trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Ngay từ năm 1947, trong khi cuộc chiến chống thực dân Pháp đang diễn ra quyết liệt, người đã nói đến đời sống mới của một người, một nhà, một làng và khắp cả nước. Xoay quanh hạt nhân của đời sống mới là cần, kiệm, liêm, chính. Hồ Chí Minh đã nói đến thuần phong mỹ tục, không có cờ bạc, hút xách, bợm bài, trộm cắp. Người nhắc đến tục ngữ “lá lành đùm lá rách”, “đói cho sạch rách cho thơm”. Và, nếu một mình no ấm mà nỡ để đồng bào xung quanh đói rét…, thì dù giàu cũng không hưởng được. Người nói: Cách cư xử đối với đồng bào thì nên thành thực, thân ái, sẵn lòng giúp đỡ…Nhiều lần, Người nhấn mạnh đến việc xây dựng và phát triển thuần phong mỹ tục, tức là phát triển một trong những giá trị truyền thống. Mặt khác, khi trân trọng giữ gìn thuần phong mỹ tục, Hồ Chí Minh luôn gắn với việc phê phán, bài trừ đồi phong, bại tục. Người đã nói đến việc “khôi phục vốn cũ” với một tinh thần trân trọng các giá trị của người xưa để lại như: tương thân tương ái, tận trung với nước, tận hiếu với dân…Song, Người yêu cầu xóa bỏ cái xấu (tính lười biếng, tham lam…), sửa đổi các phiền phức (cúng bái, cưới hỏi quá xa xỉ).

2- Hồ Chí Minh tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại

Nói đến văn hóa nhân loại có tầm cỡ vĩ đại nhất và ảnh hưởng lớn nhất đối với Hồ Chí Minh là phải nói đến chủ nghĩa Mác-Lênin. Có thể nói, Hồ Chí Minh đã tiếp thu phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin và ứng dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của đất nước, đưa cách mạng Việt Nam giành nhiều thắng lợi vĩ đại và cống hiến nhiều vào kho tàng lý luận mác-xít cũng như phương pháp hoạt động sáng tạo của cuộc cách mạng vô sản.

Xuất thân trong một gia đình khoa bảng, với tư chất thông minh tuyệt vời, từ nhỏ, Hồ Chí Minh đã được giáo dục Hán học và đã tiếp thu nền văn hóa phương Tây tại trường Quốc học Huế. Khi bôn ba khắp năm châu, bốn bể, Người vừa hoạt động cách mạng, vừa học hỏi không ngừng. Người đã thông thạo các ngôn ngữ tiêu biểu cho nền văn minh của nhân loại, am tường các nền văn hóa Đông, Tây, kim, cổ. Khi tiếp thu các nền văn hóa, Người bao giờ cũng phân tích các yếu tố giá trị toàn nhân loại và vĩnh cửu. Người đã làm giàu trí tuệ của mình bằng tinh thần văn hóa nhân loại. Người là tượng trưng cho sự kết hợp hài hòa giữa các nền văn hóa và tỏa ra một nền văn hóa của tương lai.

Tiếp thu văn hóa phương Đông, trước hết là Nho giáo, Hồ Chí Minh đã đánh giá đúng đắn vai trò của Nho giáo và người sáng lập ra nó là Khổng Tử và đã đặc biệt khai thác những mặt tích cực của tư tưởng Nho giáo.

Hơn ai hết, Hồ Chí Minh hiểu rõ những mặt bất cập, hạn chế của Nho giáo. Đó là trong Nho giáo có những yếu tố duy tâm, lạc hậu, phản động như tư tưởng đẳng cấp, khinh lao động chân tay, khinh phụ nữ, khinh thường thực nghiệm, doanh lợi…Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng thấy được những mặt tích cực của nó và khuyên chúng ta “nên học”. Theo Người, mặt tích cực của Nho giáo là nó đề cao văn hóa, lễ giáo, tạo ra truyền thống hiếu học với châm ngôn “Học không biết chán, dạy không biết mỏi”. Về điểm này, Nho giáo hơn hẳn các học thuyết cổ đại, bởi vì nhiều học thuyết cổ đại chủ trương ngu dân để dễ cai trị.

Hồ Chí Minh đã khai thác Nho giáo, lựa chọn những yếu tố tich cực, phù hợp để phục vụ cho nhiệm vụ cách mạng.

Tiếp thu tư tưởng vị tha ở Phật giáo, Hồ Chí Minh là hiện thân của lòng nhân ái, độ lượng, khoan dung – những nét đặc trưng của giáo lý đạo Phật.

Thứ nhất là, tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ cứu nạn, thương người như thể thương thân – một tình yêu bao la không chỉ dành cho con người mà dành cho cả chim muông, cây cỏ.

Thứ hai là, nếp sống có đạo đức, trong sạch, giản dị, chăm lo làm điều thiện.

Thứ ba là, tinh thần bình đẳng, tinh thần dân chủ chất phác chống lại mọi phân biệt đẳng cấp.

Thứ tư là, Phật giáo Thiền tông đề ra luật “chấp tác”: “nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực” (một ngày không làm, một ngày không ăn), đề cao lao động, chống lười biếng. Cuối cùng, Phật giáo vào Việt Nam, gặp chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc ta, đã hình thành nên Thiền phái Trúc lâm Việt Nam, chủ trương sống không xa rời, lẩn tránh mà gắn bó với đời sống của nhân dân, với đất nước, tham gia vào cộng đồng, vào cuộc đấu tranh của nhân dân, chống kẻ thù dân tộc.

Như thế, có thể nói, những mặt tích cực của Phật Việt Nam đã đi vào đời sống tinh thần dân tộc và nhân dân lao động. Gia đình Bác Hồ là gia đình nhà nho nghèo, gần gũi với nông dân, cũng thấm nhuần tinh thần đó và để lại dấu ấn trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Ngoài ra, còn có thể tìm thấy nhiều trích dẫn khác nữa về các nhà tư tưởng phương Đông như Lão Tử, Mặc Tử, Quản Tử… trong các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh. Cũng như sau này, khi đã trở thành người mác-xít, Nguyễn Ái Quốc vẫn tìm hiểu thêm về Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn và tìm thấy trong đó “những điều thích hợp với điều kiện nước ta”. Các tiêu chí của chủ nghĩa Tam dân là dân tộc – độc lập; dân quyền – tự do; dân sinh – hạnh phúc đã được Hồ Chí Minh rút gọn trong quốc hiệu của Việt Nam “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc”. Là người mác-xít tỉnh táo và sáng suốt, Hồ Chí Minh đã biết khai thác những yếu tố tích cực của tư tưởng và văn hóa phương Đông để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng nước ta.

Lĩnh hội tư tưởng văn hóa phương Tây: Trong ba mươi năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Hồ Chí Minh sống chủ yếu ở châu Âu nên cũng chịu ảnh hưởng rất sâu rộng của nền văn hóa dân chủ và cách mạng của phương Tây.

Khi xuất dương, Người đã từng sang Mỹ, đến sống ở Niu Oóc, làm thuê và thường đến thăm khu ở của người da đen. Trong các bài viết sau này, Người thường nhắc đến ý chí đấu tranh cho tự do, độc lập, cho quyền sống của con người được ghi lại trong Tuyên ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ. Người đã tiếp thu giá trị của tư tưởng nhân quyền với nội dung là quyền tự do cá nhân thiêng liêng trong bản tuyên ngôn này. Sau này Người đã phát triển nó thành quyền sống, quyền độc lập, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của tất cả các dân tộc. Nội dung nhân quyền được Người nâng lên một tầm cỡ mới trong Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam năm 1945.

Cuối năm 1917, Người từ Anh sang Pháp và quyết định sống và hoạt động ở thủ đô nước Pháp có ý nghĩa lịch sử rất lớn, mở ra một thời kỳ mới trong cuộc đời mình. Là Thủ đô của nước Pháp, Pa-ri cũng đồng thời là trung tâm văn hóa – nghệ thuật của Châu Âu. Các trào lưu triết học và các trường phái nghệ thuật nổi tiếng thế giới phần lớn đều được hình thành và ra mắt tại đây. Sống ở giữa nơi hợp lưu của các dòng văn hóa thế giới, Người đã có điều kiện thuận lợi để nhanh chóng chiếm lĩnh vốn tri thức của thời đại, đặc biệt là truyền thống văn hóa dân chủ và tiến bộ của nước Pháp.

Đến với quê hương của lý tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, Hồ Chí Minh được tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm của các nhà tư tưởng khai sáng: Von-te, Rút-xô, Mông-tét-xki-ơ, những lý luận gia của đại cách mạng Pháp 1789, như Tinh thần pháp luật của Mông-tét-xki-ơ, Khế ước xã hội của Rút-xô, v.v… tư tưởng dân chủ của các nhà khai sáng đã có ảnh hưởng tới tư tưởng của Người. Ngoài ra, Người còn hấp thụ được tư tưởng dân chủ và hình thành được phong cách dân chủ của mình từ trong cuộc sống thực tiễn. Rõ ràng là, ở Pháp, Người đã có thể hoạt động và đấu tranh cách mạng một cách tương đối tự do, thuận lợi hơn ở trên đất nước mình, dưới chế độ thuộc địa.

Nhờ được rèn luyện trong phong trào công nhân Pháp và sự cổ vũ, dìu dắt trực tiếp của nhiều nhà cách mạng và trí thức tiến bộ Pháp như M. Ca-sanh, P.V. Cu-tuya-ri-ê, G.

Mông-mút-xô…mà Hồ Chí Minh đã từng bước trưởng thành. Con người ấy, trên hành trình cứu nước, đã làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn trí tuệ của thời đại, Đông và Tây, vừa thâu thái, vừa gạn lọc để có thể từ tầm cao của tri thức nhân loại mà suy nghĩ và lựa chọn, kế thừa và đổi mới, vận dụng và phát triển.

Kế thừa lòng nhân ái, đức hy sinh của Thiên chúa giáo: Nói đến việc kết hợp văn hóa Đông, Tây trong con người Hồ Chí Minh, không thể không đề cập đến sự kế thừa lòng nhân ái, đức hy sinh, những giá trị cơ bản của Thiên chúa giáo. Người đã cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân lao động khỏi ách áp bức, bóc lột; đã là hiện thân của lòng nhân ái và đức hy sinh cao cả. Sau này, Người luôn luôn giáo dục cán bộ, đảng viên về lòng thương người, thương dân, thương các chiến sỹ ngoài mặt trận – đó là những tư tưởng thấm đậm những giá trị cao cả mang tính nhân loại mà Thiên chúa giáo đã khởi xướng và răn dạy.

Người lên án gay gắt những kẻ “giả danh Chúa” để thực hiện những “hành vi ác quỷ”: dẫn đường cho đội quân viễn chinh; cướp của cải, đánh đập, bắt giết người (đặc biệt là trẻ em); chiếm ruộng đất canh tác, v.v…Người coi những hành động đó là sự đi ngược lại và phản bội lòng nhân ái cao cả của Chúa, làm hoen ố tư tưởng lớn của Ngài là muốn mưu cầu phúc lợi cho xã hội. Người viết: “Nếu Chúa bất hạnh đã chịu đóng đanh trên cây thánh giá trở về cõi thế này, thì chắc Ngài sẽ vô cùng ngao ngán khi thấy “các môn đồ trung thành” của mình thực hiện đức khổ hạnh như thế nào”.

Người lên án những giáo sĩ đại diện cho chủ nghĩa tư bản phương Tây, những kẻ nhân danh Chúa để quan hệ mật thiết với thế lực thực dân, tham gia vào guồng máy của chủ nghĩa thực dân, xâm nhập về kinh tế và quân sự, áp đặt nền văn hóa thực dân, làm xuất hiện nguy cơ bá quyền văn hóa, v.v…

Tóm lại, Hồ Chí Minh tiếp thu các tinh hoa văn hóa nhân loại một cách có chọn lọc rồi vận dụng tinh hoa đó một cách sát hợp vào những điều kiện cụ thể của đất nước, của dân tộc vì mục đích không chỉ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc mình mà còn góp phần tích cực nhất vào sự nghiệp của các dân tộc khác trên thế giới./.

Theo TS. Hồ Văn Chiểu
Ban Tư tưởng – Văn hóa TW
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Nghĩ về nét độc đáo trong Tư tưởng Hồ Chí Minh

Đến nay ở nước ta có nhiều công trình nghiên cứu về Tư tưởng Hồ Chí Minh dưới nhiều góc độ khác nhau; nhưng về cơ bản các nhà nghiên cứu đã thống nhất chung về nền tảng của Tư tưởng Hồ Chí Minh và quá trình hình thành hệ tư tưởng đó; đồng thời phân chia hệ tư tưởng ra làm 3 bộ phận lớn: Tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức Hồ Chí Minh và phương pháp phong cách Hồ Chí Minh.

Trong khuôn khổ phạm vi bài viềt này xin nói lên cảm nghĩ về một trong 3 bộ phận nói trên của hệ Tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là đạo đức Hồ Chí Minh. Thiết nghĩ đây là nét độc đáo nhất trong hệ tư tưởng của Người. Bởi lẽ bộ phận đạo đức trong hệ tư tưởng nói trên được thế hiện là đặc trưng kết hợp giữa tinh hoa dân tộc với tinh hoa thời đại, trong đó bao trùm là tính tư tưởng nhân văn được diễn đạt một cách khái quát: độc lập và thống nhất cho Tổ quốc, tự do và dân chủ cho nhân dân, công bằng và hạnh phúc cho mọi người; hòa bình và hữu nghị cho các dân tộc, sự phát triển các quan hệ văn hóa và nhân dân cho thời đại.

Đạo đức Hồ Chí Minh được các nhà nghiên cứu khẳng định là tấm gương đạo đức lớn, là sức mạnh chính trị, tinh thần to lớn cho toàn Đảng, toàn dân noi theo. Đạo đức Hồ Chí Minh bao gỗm 2 bộ phận là tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức.

Tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh đã đóng góp làm phong phú thêm tư tưởng đạo đức cách mạng của đạo đức học Mác-Lênin, được biểu hiện vận dụng nhuần nhuyễn giữa tính nhân văn của các dân tộc Việt Nam với đạo đức cách mạng của giai cấp công nhân.

Tấm gương đạo đức của Nguời là đỉnh cao đặc trưng con người mới. Đó là: Suốt đời hy sinh cho dân tộc không một chút riêng tư, hết lòng yêu thương nhân dân, lấy dân làm gốc; chí công vô tư, cần kiệm liêm chính; giản dị, khiêm tốn; suỗt đời học tập rèn luyện vươn lên. Từ đó Người đã hết lòng vì sự nghiệp giải phóng con người bao gổm: đồng bào bị đau khổ, nhân loại bị áp bức không phân biệt màu da, chủng tộc… yêu con người, tin vào sức mạnh con người và đem lòng chí công vô tư để đối xử với con người.

Đạo đức Hồ Chí Minh còn được thể hiện rõ nét và độc đáo trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc qua 2 thời kỳ, Người đã kế thừa và nâng cao truyền thóng đạo đức của dân tộc Việt Nam trong đấu tranh với kẻ thù: “Lấy chí nhân thay cường bạo, lấy đại nghĩa thắng hung tàn. Người không những thế hiện lòng nhân đạo đối với kẻ thù, cảm thông đối với những ai lầm đường lạc lối và với cả những người lính viễn chinh, công cụ của giai cấp bóc lột cũng là nạn nhân của chiến tranh phi nghĩa. Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Người vẫn mời Vĩnh Thụy (Bảo Đại) và giám mục Lê Hữu Từ làm cồ vấn cho Chính phủ.

Khi lập ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người đa chủ trương thực hiện chính sách thêm bạn bớt thù; đã cử các ông Nguyễn Hải Thần làm Phó Chủ tịch Chính phủ, NguyễnTườngTam, làm Bộ trưởng Ngoại giao, Vũ Hồng Khanh làm Phó Chủ tịch Quân ủy hội, cùng nhiều nhân vật khác của Quốc dân Đảng tham gia vào Ban Thường trực Quốc hội. Điều đó nói lên đức khoan hồng, đại độ và bản lĩnh của Người. Ngày 31-5-1946, trong thư gởi đổng bào Nam Bộ, Người viết: “Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. Năm ngón tay có ngón ngắn, ngón dài. Nhưng ngắn dài đều hợp lại nơi bàn tay, trong mấy triệu người cũng có người thế này, người thế khác, nhưng cả thảy đều là dòng dõi tổ tiên ta.

Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ, ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ; có thế mới thành đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc chắn sẽ vẻ vang. Trong công cuộc giải phóng miền Nam, Đảng và quân đội ta thực hiện tư tưởng của Người: Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Tuy nhiên, phải đánh như thế nào đề miền Nam ít tổn thất về sinh mạng và của cải nhân dân. Thể hiện tính nhân đạo của Người, lúc sinh thời là đánh thế nào làm tan rã về tỗ chức của quân ngụy, đánh sụp đổ về tinh thần và ý chí, đồng thời mở con đường sống cho quân ngụy còn có ngày cải tà qui chính quay về với dân tộc.

Ngày nay, đất nước đang tiếp tục sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, việc phát huy nâng cao Tư tưởng Hồ Chí Minh là rất to lớn. Điều đó sẽ giúp cho việc đổi mới chỉnh đốn Đảng trong sạch vững mạnh; đồng thời đoàn kết rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân và kiều bào ở nước ngoài, cũng như mở ra chính sách ngoại giao làm bầu bạn các nước trên thế giới; nhằm huy động sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

(Thành đoàn TP HCM)

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh

“Tư tưởng Hồ Chí Minh” không khép kín, tự đủ, không nhất thành bất biến mà luôn luôn phát triển với dân tộc và thế giới.

Nói về thế kỷ XX vừa lùi vào quá khứ, có người đã khái quát bằng một hình ảnh thật độc đáo có ý nghĩa khơi gợi rất lớn: Nếu lịch sử hơn 4 triệu năm của loài người thu lại trong 1 năm thì thế kỷ XX chỉ là 13 phút, từ 23h47’ đến 24h của ngày 31/12 . Trong 13 phút ấy, đặc biệt trong 5 phút cuối cùng, loài người đã hiểu biết nhiều hơn toàn bộ hệ thống kiến thức tích luỹ trước đó, tức là từ khi trên trái đất bắt đầu có con người! Bình minh của thiên niên kỷ mới với những năm đầu của thế kỷ XXI đã cho ta những cảm nhận thật sống động, những biến động dữ dội khó mà tiên liệu được! Một sự dồn nén như vậy tất sẽ đưa đến những đột biển lớn lao trong lịch sử tư tường của loài người, “lượng” sẽ biển thành “chất”. Đúng là, “chúng ta đang làm biến đổi môi trường của ta đến tận gốc rễ đến mức rồi ta phải tự biến đổi chính mình để tồn tại được trong môi trường đó” (Nobert Wiener)

Chính những diễn biển của cuộc sống ở buổi bình minh của thiên niên kỷ đang khẳng định một sự thật: Chuẩn mực chính là sự thay đổi!

Với Hồ Chí Minh, chúng ta có tấm gương tuyệt vời vế sự nhất quán từ trước đến sau, từ lúc khởi đầu cuộc tìm đường cứu nước, với bao sức ép từ mọi phía cho đến khi Đảng ra đời qua bao thăng trầm, thử thách khốc liệt để có cách mạng Tháng Tăm 1945, ra đời nước cộng hoà non trẻ giữa vòng vây trùng điệp của kẻ thù, tiến hành hai cuộc kháng chiến với ý chí “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Đó là sự dân quyền về mục tiêu độc lập cho dân tạc, tự do cho nhân.

Với mục tiêu đó, Hồ Chí Minh đã đấu tranh cho sự hợp nhất và ra đời của Đảng năm 1930, thậm chí có lúc vì mực tiêu đó mà dám có quyết định táo bạo cho dù đau đớn là tuyên bố Đảng tự giải tán. Thực chất là Đảng rút vào hoạt động bí mật chính vào lúc giành được chính quyền vào năm 1945. Rồi cũng vì mục tiêu đó mà sáng suốt và kiên quyết đổi tên Đảng Cộng sản Đông Dương thành Đảng Lao động Việt Nam vào năm 1951.

Tên tuổi và sự nghiệp của Hồ Chí Minh đã thực sự là ngọn cờ trong khối óc và trái tim cửa người Việt Nam của dân tộc Việt Nam. Giương cao ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh để vẫy gọi và quy tụ mọi tấm lòng Việt Nam vốn nặng lòng vì quê hương, đất nước. Những người đã trải qua sự thử thách trong gần nửa thế kỷ chiến đấu và chiến thắng. Những người với những hoàn cảnh và điếu kiện khác nhau đã gửi gắm tình yêu nước thương nòi của mình trong nhiều hành động và nghĩa cử không ai giống ai. Làm cho mọi giọt máu của mỗi người Việt Nam cùng chảy về trái tim của dân tộc để rồi toả đi khắp bốn phương nuôi dưỡng hành động vì nghĩa lớn đất nước. Làm được điều đó cũng là cách tao nên được sự đồng thuận xã hội sâu sắc và rộng lớn, có sức vẫy gọi và hội được khối đại đoàn kết toàn dân tộc hường về mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ công bằng văn minh.

“Tư tưởng Hồ Chí Minh” không khép kín, tự đủ, không nhất thành bất biến mà luôn luôn phát triển với dân tộc và thế giới. Phải biết làm cho tư tường Hồ Chí Minh sống trong cuộc sống của mọi người Việt Nam, tiếp tục cho nghị lực và tâm hồn của mỗi con người đang xây dựng cuộc sống của mình, gia đình mình và góp phần vào sự nghiệp chung của đất nước. Có thể làm được điều đó vì tư tưởng Hồ Chí Minh gần gũi với mọi tấm lòng Việt Nam, gần gũi như khí trời, như cơm ăn nước uống trong mạch sống Việt Nam từ túp lều tranh cho đến ngôi biệt thự.

Tư tưởng Hồ Chí Minh gần gũi với người nông dân còn bao gian khó, đổ mồ hôi, sôi nước mắtt trên cánh đồng chưa có mấy trợ lực của khoa học và công nghệ, cũng như với bà con nghèo đô thị nơi xóm thợ nghèo khổ của những công nhân làm việc tại các khu chế xuất, các xí nghiệp liên doanh… với bao nỗi lo toan trong cuộc mưu sinh nhọc nhằn. Hồ Chí Minh đến được với họ vì bình sinh Người chỉ có một “ham muốn, ham muốn tột bậc là làm cho cuộc sống của họ được no ấm, con em của họ được học hành. Những người lao động lam lũ ấy hiểu Hồ Chí Minh vì tư tưởng của người lãnh tự nhân dân, đã quy tụ được những khát vọng, những mong mỏi hàng ngày vốn bình dị và nghiệt ngã như chính cuộc sống của họ vậy thôi.

Và, với những nhà doanh nghiệp đang có vai trò lớn trong xây dựng nến kinh tế thị trường lành manh, dấn bước trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế, Hồ Chí Minh không xa lạ với họ. Từ những ngây đầu của chính quyến cách mạng Hồ Chí Minh đã nhận rõ vi trí của các nhà công thương trong khối đại đoàn kết dân tộc để làm cho đất nước phú cường. “Tuyên ngôn Độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam mới được có trong căn phòng của một nhà tư sản lớn giàu lòng yêu nước.

Hơn ai hết, những người trí thức Việt Nam hiểu rõ Hồ Chí Minh, nhận ra tầm vóc lãnh tụ của dân tộc ở trí tuệ một nhà văn hoá lớn cùng trái tim ấp ủ những khát vọng nhân văn của một con người khao khát tự do: “Trên đời ngàn vạn điều cay đắng/ Cay đắng chi bằng mất tự do”. Hồ Chí Minh đã biết cách trả về lại cho người trí thức Việt Nam ngọn nguồn yêu nước truyền thống vốn nằm sâu trong tâm thức của họ, khơi dậy năng lực cống hiến của tiềm lực trí tuệ trong họ. Với Hồ Chí Minh, người trí thức Việt Nam hiểu được chỗ đứng của họ trong lòng dân tộc.

Thời gian đủ để kiểm nghiệm độ chính xác và sự tường minh của một tư tưởng, trải qua những biến động dồn dập cả trong nước và trên thế giới vẫn chứng minh được sức bền, độ “chín” của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là sự kết tinh trí tuệ và khí phách của một dân tộc, là sự tiếp nhận và hội tụ những tinh hoa của tư tưởng mà loài người đã giữ lại qua quá trình tiếp biến, thanh lọc và kiểm nghiệm. Vì thế nó đủ tầm cao của sự khái quát của lý luận và đường hướng phát triển, vừa gần gũi, đi thẳng vào lòng người Việt Nam vì nó diễn đạt được chân lý của cuộc sống.

Chân lý thì luôn luôn đơn giản, song hiểu được chân lý, đến được với chân lý thì thường lại cực kỳ gian chuân.

Cuộc sống đang sải những bước đi táo bạo và quyết đoán trong thời đại của những biến động dồn dập. Tầm mắt không ít người dã được mở rộng hơn nhờ vào “sự xé toang một tấm màng bưng bít, sự hiện ra và sáng lên của sự thật, sự tan vỡ một số huyền thoại, sự phá sản nhiều giáo điều, sự bộc lộ những sai lầm trầm kha, sự nhận thức mới, không phải về tưởng mà về lý luận cách mạng, thực tiễn hoạt động và thực tế đời sống, sự khơi dậy những niềm hy vọng mới, sự bắt đầu một quá trình thanh lọc và tái tạo đầy hứa hẹn” (trích từ bài viết thế kỷ XX của Việt Phương – thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ).

Để bắt đầu một quá trình thanh lọc và tái tạo đầy hứa hẹn ấy, mở rộng tầm mắt là điều kiện tiên quyết. Đó cũng là đòi hỏi trước tiên đề có thể chủ động đón nhận sự thách thức mới trong qúa trình hội nhập quốc tế. Tính chất gay gắt và chưa có tiền lệ của những thách thức ấy đang đòi hỏi một bản lĩnh mới của những người đang gánh trên vai mình trách nhiệm nặng nề của lịch sử. Bản lĩnh ấy, xét đến cùng lại cũng được quyết định quyết định bởi tầm nhìn mới, bởi “đôi mắt mới nhìn vào thế giới”.

Không phải là không có lý khi người ta cho rằng: thế giới đã thay đổi và kiểu tư duy tuyến tính không con thích hợp với một thế giới phi tuyến. Không có một bản đồ vạch sẵn cho con đường phía trước. Những kinh nghiệm có sẵn, những phương pháp truyền thống không còn đủ cho hành trình của dân tộc đi về phía trước. Vì thế, sáng tạo và linh hoạt trong tư duy cũng như trong hành động phải là phẩm chất hàng đầu của con người Việt Nam đang sống trong thế kỷ XXI. Để có được phẩm chất đó, đỏi hỏi phải có “sự nhận thức mới, không phải về lý tưởng mà về lý luận cách mạng, thực tiễn hoạt động và thực tế đời sống”. Để làm được điều đó, phải biết khai thác cái lợi thế vô song của chúng ta, đó là uy tín của tên tuổi và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh – anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hoá mà thế giới từng biết và đã tỏ lòng ngưỡng mộ.

Theo Báo Lao Động

bqllang.gov.vn

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh nơi hội tụ tình cảm của nhân dân Việt Nam và bầu bạn Quốc tế

Ngày 2/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kiệt xuất, Anh hùng giải phóng dân tộc, người chiến sĩ cộng sản quốc tế lỗi lạc, Danh nhân văn hoá của nhân loại đã đi vào cõi vĩnh hằng, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho toàn thể nhân dân Việt Nam và bầu bạn quốc tế.

Thể theo nguyện vọng thiết tha của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã quyết định: “Với tấm lòng kính yêu vô hạn và đời đời nhớ ơn Hồ Chủ tịch, chúng ta phải thực hiện đến mức tốt nhất nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Hồ Chủ tịch và xây dựng Lăng mộ của Người”.

Quyết định của Bộ Chính trị vừa phù hợp với truyền thống, phong tục tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, một dân tộc từ lâu đời đã có truyền thống thờ phụng ông bà, tổ tiên, xây dựng Lăng mộ để tưởng nhớ những người có công trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời cũng đáp ứng với nguyện vọng của mọi người dân Việt Nam được tận mắt trông thấy Người, được thường xuyên đến viếng thăm Người, được thể hiện tấm lòng tôn kính và đời đời biết ơn công lao to lớn của Người đối với dân tộc. Đặc biệt là tình cảm của đồng bào, chiến sĩ miền Nam đang ngày đêm trực tiếp đối mặt với quân thù, chưa một lần được gặp Bác.

“Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người Anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta”…

Chủ tịch Hồ Chí Minh là kết tinh của những giá trị tinh thần cao quý của dân tộc và thời đại. Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người, tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá của Liên hợp quốc (UNESCO) đã công nhận Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam và là nhà văn hoá lớn của nhân loại. Nghị quyết của UNESCO khẳng định: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”.

Với công lao to lớn của Người, với tư tưởng đạo đức cách mạng và nhân cách trong sáng của Người, Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi xứng đáng là một con người vĩ đại nhất của dân tộc Việt Nam anh hùng. Tấm gương hy sinh cả cuộc đời vì dân, vì nước; tư tưởng, đạo đức, tác phong của Người luôn cổ vũ, động viên các thế hệ người Việt Nam vững bước đi theo con đường mà Người và dân tộc đã lựa chọn. Giữ gìn lâu dài thi hài và xây dựng Lăng của Người là góp phần giữ gìn tư tưởng, đạo đức, sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời là giữ gìn một di sản vô giá của dân tộc và toàn nhân loại.

Thấm thoắt đã 38 năm Người đi xa và 32 năm khánh thành công trình Lăng vĩ đại. Ngày nối ngày, trên Quảng trường Ba Đình, nhân dân trong nước và khách quốc tế lại về bên Người. Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn ung dung, giản dị như vừa chợp mắt sau một ngày làm việc…

Ba hai năm đã qua kể từ ngày khánh thành Lăng đến nay đã có hơn 33 triệu lượt người, trong đó hàng triệu lượt người nước ngoài của hầu hết các quốc gia và tổ chức quốc tế vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những năm gần đây, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, kinh tế trong nước tăng trưởng, hệ thống giao thông được mở mang, đời sống nhân dân có nhiều cải thiện… nhân dân vào Lăng viếng Bác mỗi ngày một tăng, năm sau cao hơn năm trước; nhất là những ngày nghỉ, ngày lễ; đặc biệt vào dịp kỷ niệm 19/5 và 2/9 mỗi ngày có tới hàng vạn người vào Lăng viếng Bác. Đối với khách nước ngoài, theo đánh giá của Tổng cục Du lịch, hầu như 100% khách du lịch khi đến Hà nội đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và hiện nay, số lượng khách quốc tế vào Lăng viếng Bác tăng từ 3 đến 4 lần so với các năm trước đây.

Về Lăng viếng Bác, đối với mỗi người dân Việt Nam như một nhu cầu tình cảm, một phong tục tập quán mới, một sinh hoạt truyền thống biết ơn cội nguồn, hướng về gốc rễ trước mỗi bước đi lên. Từ cụ già đến các cháu thiếu nhi; từ người dân bình thường đến cán bộ, công chức nhà nước, tuy mỗi người có một tâm trạng khác nhau nhưng khi về bên Bác đều thấy thanh thảnh, bình yên. Nhiều người nước ngoài khi đến Việt Nam, đứng trước Lăng của Người đã có cảm nhận: Hiếm có lãnh tụ nào trên thế giới được nhân dân mến mộ như Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngoài hoạt động phục vụ thăm viếng, trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quảng trường Ba Đình còn diễn ra các sinh hoạt văn hoá, chính trị. Những lễ báo công, giao ước thi đua, kết nạp Đảng, kết nạp Đoàn… và những năm gần đây, nam nữ thanh niên đã hình thành nên phong tục tập quán mới đó là đặt hoa trước Lăng Bác trong ngày cưới. Từ ngày 19/5/2001, nghi lễ chào cờ hàng ngày đã được tiến hành trang trọng trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hình ảnh của Tổ quốc với lãnh tụ được hoà quyện vào nhau, càng tôn thêm giá trị văn hoá, tinh thần và ý nghĩa chính trị của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Những năm tới, trong bối cảnh đất nước hội nhập, mở rộng quan hệ giao lưu quốc tế số lượng người nước ngoài đến Việt Nam sẽ nhiều hơn và khách đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh dự kiến sẽ cao hơn so với trước. Tình hình đó đòi hỏi công tác bảo đảm an ninh phải được quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ.

Mặt khác, thực hiện Chỉ thị số 23 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá IX) về việc tăng cường học tập tư tưởng Hồ Chí Minh và Chỉ thị số 06 của Bộ Chính trị (khoá X) về triển khai cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quảng trường Ba Đình sẽ diễn ra nhiều hoạt động phong phú, thu hút với số lượng lớn nhân dân và khách quốc tế. Để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động đón tiếp, tuyên truyền và phát huy ý nghĩa chính trị, văn hoá của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, xin đề xuất một số nội dung sau đây:
– Một là, thường xuyên chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ các cấp, các ngành, các địa phương trong việc tổ chức để nhân dân được về Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh thuận tiện, chu đáo.

Thực tế hiện nay, nhu cầu tình cảm của nhân dân các địa phương trong cả nước được về Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh rất lớn. Mặc dù Đảng, chính quyền, các ngành của địa phương, nhất là ngành lao động, thương binh và xã hội, những năm qua đã có nhiều cố gắng để tổ chức cho các đoàn chính sách, các Mẹ Việt Nam anh hùng… được về Lăng viếng Bác, nhưng số lượng còn quá ít ỏi so với nhu cầu. Vì vậy vấn đề đặt ra là cần có một kế hoạch cụ thể để phối hợp chặt chẽ các ngành, các địa phương trong việc tổ chức để nhân dân được về thủ đô Hà Nội và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vấn đề này, ngành lao động, thương binh và xã hội nên chủ trì và phối hợp với ngành du lịch, giao thông vận tải và các tổ chức quần chúng khác để lập kế hoạch phối hợp với Ban quản lý Lăng tổ chức để nhân dân, nhất là các gia đình chính sách được về Lăng viếng Bác.

– Hai là, thường xuyên chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đón tiếp, tuyên truyền phục vụ nhân dân và khách quốc tế khi về Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tham gia các hoạt động văn hoá, chính trị trong Cụm di tích Lịch sử – Văn hoá Ba Đình.

Cụm di tích Lịch sử – Văn hoá Ba Đình gồm các công trình, di tích lịch sử: Lăng Bác, Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, Bảo tàng Hồ Chí Minh và Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ. Hàng ngày, trên khu vực Quảng trường Ba Đình, thường xuyên có hàng nghìn người đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tham gia các hoạt động văn hoá, chính trị. Đây là lực lượng quần chúng đông đảo, tự giác đến để được nghe tuyên truyền, học tập về cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh và tấm gương đạo đức cách mạng, trong sáng của Người. Vì vậy, cần có sự quan tâm, chỉ đạo chặt chẽ của Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Văn hoá – Thông tin trong việc giáo dục tuyên truyền, định hướng tư tưởng cho nhân dân và khách quốc tế đến tham quan khu vực. Mặt khác, đối với các lực lượng làm nhiệm vụ trực tiếp tại Lăng Bác, Khu di tích Phủ Chủ tịch và Bảo tàng Hồ Chí Minh cần chủ động đề xuất và tích cực cải tiến nội dung, hình thức giáo dục, tuyên truyền, nhất là hình thức trực quan sinh động để tạo ấn tượng hấp dẫn phong phú cho nhân dân và khách quốc tế đến với khu vực Quảng trường Ba Đình lịch sử.

– Ba là, phối hợp chặt chẽ các lực lượng làm nhiệm vụ bảo đảm an ninh trong khu vực, nhất là hai lực lượng nòng cốt bộ đội và công an trong tình hình hiện nay.

Tổ chức đón tiếp nhân dân và khách quốc tế đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tham gia các hoạt động trong khu vực vừa thuận lợi, chu đáo; vừa tuyệt đối an toàn là yêu cầu lớn nhất đối với các lực lượng làm nhiệm vụ trong Cụm di tích Lịch sử – văn hoá Ba Đình. Trong tình hình hiện nay, kẻ địch có thể lợi dụng bất cứ sự sơ hở nào của chúng ta để gây mất ổn định chính trị, tạo cớ để vu khống, phá vỡ sự bình yên của đất nước. Chính vì thế, các lực lượng bộ đội và công an cần phải có kế hoạch, phương án cụ thể và hợp đồng chặt chẽ để chủ động ứng phó với mọi tình huống, tuyệt đối không để bị động bất ngờ. Bên cạnh việc tăng cường các biện pháp bảo đảm an ninh, cần chú trọng làm tốt công tác đón tiếp, hướng dẫn nhân dân và khách quốc tế, để mọi người đều cảm nhận được sự thoải mái, chu đáo khi về Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tham quan khu vực, không vì nhiệm vụ bảo đảm an ninh mà ảnh hưởng đến công tác đón tiếp, tuyên truyền. Mỗi suy nghĩ, mỗi việc làm của cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên phải thấm nhuần tư tưởng nhân ái, yêu thương con người như sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhắc nhở. Làm tốt những điều đó chính là góp phần vào việc tuyên truyền, học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong mọi tầng lớp nhân dân và tuyên truyền quảng bá hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với nhân dân và bầu bạn quốc tế. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ mãi mãi trường tồn cùng với dân tộc và là nơi hội tụ tình cảm của nhân Việt Nam và bầu bạn quốc tế.

TS. Đặng Nam Điền

bqllang.gov.vn