Tag Archive | Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bản “Tuyệt đối bí mật” – Di chúc Bác sửa chữa năm 1968

Năm 1969, từ các ngày 1-15/5, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc lại và viết lại Tuyệt đối bí mật (Di chúc). Người đã căn dặn thêm nhiều điểm cụ thể về công tác đảng, về việc chăm lo đời sống nhân dân, hạnh phúc con người, về những điều mà Người luôn đau đáu.

Ngày 10-5, đúng 9h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết lại phần mở đầu của bản Di chúc và phần “về việc riêng”. Đến 10h30, Người làm việc với Chủ tịch Quốc hội Trường Chinh về việc chuẩn bị cho kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá III.

Ngày 11-5, đúng 9h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục viết Di chúc phần nói về công tác chỉnh đốn Đảng: “Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình…”. Đến 10h, Người làm việc với đồng chí Hoàng Quốc Việt về kế hoạch đi thăm vùng mỏ.

Ngày 12-5, đúng 9h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục viết Di chúc, đọc và sửa chữa những phần đã viết. Người căn dặn thêm nhiều điểm cụ thể về việc chăm lo đời sống của nhân dân sau chiến tranh:

“Đầu tiên là công việc đối với con người.

Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, chiến sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong…), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”…”. Đến 10h, Người tiếp đạo diễn điện ảnh Hà Lan Jorit Iven.

Ngày 13-5, đúng 9h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục viết và sửa chữa bản Di chúc. Người sửa đoạn viết về chăm lo hạnh phúc đối với con người: “Trong bao năm kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp đến chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân đã luôn luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta, ra sức góp của góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khăn, gian khổ. Nay ta đã hoàn toàn thắng lợi, tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp 1 năm cho các hợp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”.

Ngày 14-5, đúng 9h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục sửa bản Di chúc.

Ngày 15-5, từ 9h đến 10h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lại và sửa bản Di chúc.

Ngày 16-5, từ 9h đến 10h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc và sửa bản Di chúc.

Ngày 17-5, từ 9h sáng Chủ tịch Hồ Chí Minh bổ sung và sửa chữa bản Di chúc. Đến 10h, Người nghe Bộ trưởng Bộ Ngoại giao báo cáo về công tác ngoại giao.

Ngày 18-5, đúng 9h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục bổ sung và sửa chữa bản Di chúc. Sau bữa cơm chiều hôm ấy, Người rời nhà sàn đến nhà nghỉ Hồ Tây.

Ngày 19-5, tại nhà nghỉ Hồ Tây, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thân mật một số cán bộ đến chúc thọ Người. Từ 9h sáng đến đến 10h, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục bổ sung và sửa chữa bản Di chúc.

Dưới đây là bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Toàn văn Di chúc Bác sửa chữa năm 1968

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập, Tự do, Hạnh phúc(Tuyệt đối bí mật)

Năm nay, tôi vừa 78 tuổi, vào lớp những người “trung thọ”. Tinh thần vẫn sáng suốt tuy sức khỏe có kém so với vài năm trước đây. Người ta đến khi tuổi tác càng cao thì sức khỏe càng thấp. Đó là điều bình thường.

Nhưng không ai đoán biết được tôi sẽ sống và phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng mấy tháng, mấy năm nữa?

Vì vậy tôi viết sẵn và để lại mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước và đồng chí trong Đảng khỏi cảm thấy đột ngột.

Về việc riêng

Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa.

Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân.

Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là “hỏa táng”. Tôi mong rằng cách “hỏa táng” sau này sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất ruộng. Khi ta có nhiều điện, thì “điện táng” càng tốt hơn.

Tro thì chia làm 3 phần, bỏ vào 3 cái hộp sành. Một hộp cho miền Bắc. Một hộp cho miền Trung. Một hộp cho miền Nam.

Đồng bào mỗi miền nên chọn l quả đồi mà chôn hộp tro đó. Trên mả, không nên có bia đá tượng đồng, mà nên xây 1 ngôi nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ, để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi.

Nên có kế hoạch trồng cây trên và chung quanh đồi. Ai đến thăm thì trồng một vài cây làm kỷ niệm. Lâu ngày, cây nhiều thành rừng sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp. Việc săn sóc nên giao phó cho các cụ phụ lão.

Tháng 5-1968, khi xem lại thư này tôi thấy cần phải viết thêm mấy điểm không đi sâu vào chi tiết.

Ngay sau khi cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi, công việc toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta phải ra sức làm là mau chóng hàn gắn vết thương nghiêm trọng do đế quốc Mỹ gây ra trong cuộc chiến tranh xâm lược dã man. Đó là một công việc cực kỳ to lớn, phức tạp và khó khăn. Chúng ta phải có kế hoạch sẵn sàng, rõ ràng, chu đáo, để tránh khỏi bị động, thiếu sót và sai lầm. Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi.

Đầu tiên là công việc đối với con người.

Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong..,), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”.

Đối với các liệt sĩ, mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta.

Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ bị đói rét.

Những chiến sĩ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong đều đã được rèn luyện trong chiến đấu và đều tỏ ra dũng cảm. Đảng và Chính phủ cần chọn một số ưu tú nhất, cho các cháu ấy đi học thêm các ngành, các nghề, để đào tạo thành những cán bộ và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững chắc. Đó là đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thăng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ.

Đối với những nạn nhân của chế độ xã hội cũ, như trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu, v.v.. thì Nhà nước phải dùng vừa giáo dục, vừa phải dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện.

Trong bao năm kháng chiến chống Pháp, tiếp đến chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân đã luôn luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta, ra sức góp của góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khăn gian khổ. Nay ta đã hoàn toàn thắng lợi, tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp 1 năm cho các hợp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất.

Ở đây nói về kế hoạch xây dựng lại thành phố và làng mạc đẹp đẽ, đàng hoàng hơn trước chiến tranh. Khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế. Phát triển công tác vệ sinh, y tế. Sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân, như phát triển các trường nửa ngày học tập, nửa ngày lao động. Củng cố quốc phòng. Chuẩn bị mọi việc để thống nhất Tổ quốc…

Công việc trên đây là rất to lớn, nặng nề, và phức tạp, mà cũng là rất vẻ vang. Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân.

BVK (tổng hợp)

cpv.org.vn

Bản Di chúc của Bác viết năm 1965

(ĐCSVN) – Năm 1965, khi tròn 75 tuổi, Bác Hồ bắt tay vào viết “Tuyệt đối bí mật” chúc. Lúc này, đồng bào và chiến sĩ cả nước đang sôi nổi thi đua lập thành tích chúc thọ Bác.

Từ ngày 10 đến ngày 14-5-1965, mỗi ngày Người dành từ một đến hai tiếng để viết và đã hoàn thành bản thảo Di chúc đầu tiên gồm 3 trang, do chính Người tự đánh máy, ở cuối đề ngày 15-5-1965.

Ngày 10-5, từ 9h đến 10h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu thảo tài liệu “Tuyệt đối bí mật” – Di chúc.

Ngày 11-5, từ 5h 45′ sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi tiễn đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Italia về nước. Sau đó từ 9h đến 10h, Người viết tiếp tài liệu “Tuyệt đối bí mật”.

Ngày 12-5, từ 9h đến 10h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục viết tài liệu “Tuyệt đối bí mật”.

Ngày 13-5, từ 9h đến 10h sáng Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục viết tài liệu “Tuyệt đối bí mật”.

Ngày 14-5, sáng sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm Hợp tác xã nông nghiệp Phương Đông (Từ Liêm, Hà Nội).

10h sáng, Người họp Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng bàn về công tác đào tạo cán bộ. Từ 14h đến 16h, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết phần cuối tài liệu “Tuyệt đối bí mật”.

18h, Người tiếp các đồng chí ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng đến chúc thọ Người.

Ngày 15-5, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Hà Nội đi thăm Trung Quốc.

Dưới đây là bản thảo đánh máy “Tuyệt đối bí mật” năm 1965 của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nguyên văn bản thảo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

VIỆT NAM DÂN CHỦ CÔNG HOÀ
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
————————-

Tuyệt đối bí mật Nhân dịp mừng 75 tuổi

Người làm thơ rất nổi tiếng, ở Trung Quốc đời nhà Đường là cụ Đỗ Phủ có câu thơ rằng “nhân sinh thất thập cổ lai hy”. Nghĩa là: Người thọ 70, xưa nay hiếm.

Nǎm nay, tôi đã 75 tuổi. Tinh thần vẫn sáng suốt, thân thể vẫn mạnh khỏe. Tuy vậy, tôi cũng đã là lớp người “xưa nay hiếm”.

Ai đoán biết tôi sẽ sống và phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng mấy năm mấy tháng nữa?

Vì vậy, tôi để lại mấy lời này, chỉ nói tóm tắt vài việc thôi. Phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước và đồng chí trong Đảng khỏi cảm thấy đột ngột.

Trước hết nói về Đảng – Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hǎng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.

Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Đoàn viên thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hằng hái xung phong, không ngại khó khǎn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chǎm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.

Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều nǎm chiến tranh.

Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hǎng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng.

Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và vǎn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể kéo dài mấy năm nữa. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

Còn non, còn nước, còn người,
Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!

Dù khó khǎn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam, Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to – là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc.

Về phong trào cộng sản thế giới – là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hoà hiện nay giữa các đảng anh em!

Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý có tình.

Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại.

*
*  *

Về việc riêng – Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức đám đình, lãng phí ngày giờ và tiền bạc của nhân dân.

Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, nói chữ là “hỏa táng”. Tôi mong rằng cách “hỏa táng” dần dần sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất. Bao giờ ta có nhiều điện, thì “điện táng” càng tốt hơn.

Tro xương thì tìm một quả đồi mà chôn. Gần Tam Đảo và Ba Vì như hình có nhiều đồi tốt. Trên mộ, nên xây 1 cái nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi.

Nên có kế hoạch trồng cây trên đồi. Ai đến thăm thì trồng một cây làm kỷ niệm. Trồng cây nào phải tốt câu ấy. Lâu ngày, cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp.

Nếu tôi qua đời trước ngày nước ta được thống nhất, thì nên gửi một ít tro xương cho đồng bào miền Nam.

Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng.

Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn, và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế.

Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

Hà nội, ngày 15 tháng 5 nǎm 1965
Hồ Chí Minh

BVK (tổng hợp)

cpv.org.vn

Giới thiệu sách “Giữ yên giấc ngủ của Người”

“Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”. Sau khi Người qua đời, với tấm lòng kinh yêu vô hạn và đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh, thể theo nguyện vọng của toàn dân, Đảng và Nhà nước quyết định giữ gìn lâu dài thi hài Bác và xây dựng Lăng của Người. Đây là một nhiệm vụ đặc biệt thiêng liêng, chưa có tiền lệ ở Việt Nam.

Với vinh dự và trách nhiệm được giao, gần 38 năm qua, lớp lớp cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Bảo vệ Lăng đã vượt qua mọi khó khăn thử thách, luôn “Trung hiếu vẹn toàn, đoàn kết hiệp đồng, tự lực tự cường, chủ động sáng tạo”, bảo vệ, giữ gìn thi hài Bác ở trạng thái tốt nhất. Những nét đặc trưng của Người lúc sinh thời được giữ gìn nguyên vẹn.

Để giúp bạn đọc hiểu thêm về sự nghiệp giữ gìn lâu dài thi hài Bác và xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu từng phần cuốn sách “Giữ yên giấc ngủ của Người” được Nhà xuất bản Quân đội nhân dân phát hành năm 1990 (sau đó có bổ sung, tái bản nhiều lần). Nội dung cuốn sách đã thể hiện một cách chân thành và cảm động tình cảm kính yêu vô bờ bến của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và tình cảm quốc tế cao đẹp của Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô đối với Bác Hồ.

Cuốn sách gồm lời nói đầu, lời giới thiệu và 6 chương:

Chương I: Những ngày tháng cuối cùng của Bác.
Chương II: Đơn vị đặc biệt, nhiệm vụ đặc biệt.
Chương III: Những nơi Bác yên nghỉ.
Chương IV: Công tác chuẩn bị.
Chương V: Ngày, đêm trên Quảng trường Ba Đình.
Chương VI: Đón Bác về Lăng.

Ban biên tập

bqllang.gov.vn

Lời giới thiệu
Chương I: Những ngày tháng cuối cùng của Bác
Chương II (Phần 1): Đơn vị đặc biệt, nhiệm vụ đặc biệt
Chương II (Phần 2): Đơn vị đặc biệt, nhiệm vụ đặc biệt
Chương III: Những nơi Bác yên nghỉ
Chương IV: Công tác chuẩn bị
Chương V: (Phần 1) Ngày, đêm trên Quảng trường Ba Đình
Chương V: (Phần 2) Ngày, đêm trên Quảng trường Ba Đình
Chương VI: Đón Bác về Lăng

longliveUncleHo

Nguyên tắc đạo đức “Nói thì phải làm” của Bác Hồ

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”

Chủ tịch Hồ Chí Minh đi vào cõi vĩnh hằng gần 40 năm, nhưng Người đã để lại cho muôn đời con cháu mai sau một di sản tinh thần vô giá, đó là hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về các vấn đề: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; về Đảng Cộng sản Việt Nam; về đại đoàn kết; về quân sự; Nhà nước của dân, do dân,vì dân; về văn hoá và đạo đức…

Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, các nhà khoa học đã thống nhất và rút ra những nội dung cơ bản của văn hoá đạo đức Hồ Chí Minh, đó là: Trung với nước, hiếu với dân, phẩm chất đạo đức quan trọng nhất, bao trùm nhất là tình yêu thương đối với con người; là cần kiệm liêm chính, chí công vô tư và tinh thần quốc tế trong sáng, đồng thời cũng khẳng định ba nguyên tắc đạo đức của Người: Nói thì phải làm; xây đi cùng với chống và tu dưỡng đạo đức suốt đời. Trong bài viết này chúng tôi xin đi sâu vào nguyên tắc đầu tiên của đạo đức trong tư tuởng Hồ Chí Minh là “Nói thì phải làm”.

Ngay từ những năm 20, khi còn bôn ba hoạt động cách mạng ở nước ngoài, tại lớp huấn luyện chính trị ở thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, nơi đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh (lúc ấy lấy bí danh là Lý Thuỵ) đã có bài giảng về “Tư cách một người cách mệnh”. Trong bài giảng của mình, Hồ Chí Minh đã nêu lên những đức tính cần phải có của một người cách mạng, đó là: Đối với mình, đối với người và đối với công việc, trong đó đối với mình được Người đặt lên hàng đầu, bởi cái khó nhất của con người là phải đấu tranh với chính bản thân mình. Từ cuối cùng của cả ba vấn đề mà Bác nêu lên trong bài giảng này đều là từ “phải”, một từ có ý nghĩa bắt buộc trong việc rèn luyện tư cách đạo đức, phong cách, lối sống và công việc của mỗi người. Bác viết:

“Tự mình phải: Cần kiệm. Hoà mà không tư. Cả quyết sửa lỗi mình. Cẩn thận mà không nhút nhát. Hay hỏi. Nhẫn nại (chịu khó). Hay nghiên cứu, xem xét. Vị công vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ chủ nghĩa cho vững. Hy sinh. Ít lòng tham muốn về vật chất. Bí mật”(1).

Có thể nói đạo đức là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong sự nghiệp cách mạng của mình, Bác có nhiều tác phẩm cũng như bài nói, bài viết về vấn đề này như: “Sửa đổi lối làm việc”, “Đạo đức cách mạng”, “Chớ kiêu ngạo, phải khiêm tốn”, “Cần kiệm liêm chính”, “cần tẩy sạch bệnh quan liêu mệnh lệnh” v.v…

Từ những ngày đầu cách mạng chuẩn bị cho công cuộc giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước thì “Tư cách một người cách mệnh” tuy ngắn gọn nhưng đầy đủ về những chuẩn mực của tư cách đạo đức, tác phong lối sống, đối nhân xử thế và cách làm việc. Bài báo cuối cùng Bác viết về đạo đức là “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Đảng (3-2-1969) khi sức khỏe của Người đã giảm sút.

“Nói thì phải làm”, chỉ với bốn từ đơn giản tưởng chừng như rất dễ thực hiện ấy, nhưng suốt cả cuộc đời mình Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không ngừng phấn đấu làm gương cho sự thống nhất giữa tư tưởng, lời nói với hành động và hiệu quả. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quanh vinh và Bác Hồ vĩ đại, nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giành độc lập tự do cho dân tộc, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Một trong những yếu tố quan trọng làm nên thắng lợi đó có vai trò to lớn của đạo đức cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Đại đa số chiến sỹ cách mạng là người có đạo đức: Cả đời hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, sinh hoạt ngày thường thì làm gương mẫu: gian khổ, chất phác, kính trọng của công… Đạo đức ấy có ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp đổi xã hội cũ thành xã hội mới và xây dựng mỹ tục thuần phong”(2). Và với bản thân mình, Bác đã làm đúng như khi trả lời các nhà báo nước ngoài năm 1946: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(3).

Đối với mỗi người để thực hiện được việc thống nhất giữa lời nói với hành động, lời nói đi đôi với việc làm là điều không dễ, nó đòi hỏi cần phải có sự cố gắng, bền bỉ và một quyết tâm, bởi bất kỳ công việc nào, nhiệm vụ gì, dù lớn hay bé, khó hay dễ, phức tạp hay giản đơn, nhưng nếu không ra sức phấn đấu thì cũng không thể thành công được. Kết quả công việc là thước đo của mỗi người. Với các cán bộ, đảng viên và những người làm công tác lãnh đạo thì lời nói với việc làm lại càng quan trọng và cần thiết, vì cán bộ là gốc của mọi công việc, là những tấm gương để quần chúng noi theo. Trong đạo đức việc nêu gương là vô cùng cần thiết vì “… Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”(4). Lời nói đi đôi với việc làm, nói được làm được, sẽ mang lại những hiệu quả lớn, được nhiều người hưởng ứng và làm theo. Để làm được điều đó, khi đề ra công việc tránh cách nói chung chung, đại khái và khó hiểu, cần phải cụ thể, thiết thực, từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao, từ dễ đến khó. Ngược lại nói nhiều làm ít hoặc nói mà không làm thì sẽ chỉ mang lại những kết quả phản tác dụng. Nếu chính mình tham ô mà bảo người khác liêm khiết thì không được. Nếu rói rằng phải cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, mà bản thân mình lại lười biếng, không hoàn thành những công việc được giao, không tiết kiệm, sống hoang phí, xa hoa trong khi cuộc sống của đại đa số nhân dân còn nhiều thiếu thốn , luôn tìm cách tham ô tiền của Nhà nước và nhân dân… thì những lời nói đó sẽ không có tác dụng giáo dục.

Với trình độ giác ngộ và dân trí ngày càng cao, không phải cứ nghe cán bộ nói là quần chúng sẽ làm theo mà họ xem việc cán bộ làm. Bác Hồ đã chỉ ra rằng nhân dân chỉ quý mến những người có phẩm chất và tư cách đạo đức tốt, vì vậy muốn hướng dẫn họ thì mình phải làm mực thước “Cần phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm. Chứ không phải chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh… Phải thật thà nhúng tay vào việc”(5).

Mỗi người, mỗi ngành, mỗi giới, mỗi tầng lớp nhân dân đều có những công việc, nhiệm vụ, cách làm và trách nhiệm riêng. Do đó khi gặp các đồng chí lãnh đạo của từng ngành Bác đều chỉ ra cách làm sao cho thiết thực, nhanh, gọn và đạt hiệu quả cao. Với cán bộ và chiến sỹ trong lực lượng vũ trang, Bác căn dặn: “Các đồng chí cán bộ của Đảng ở các cấp phải cố gắng tiến bộ hơn, để lãnh đạo bộ đội. Từ việc lớn đến việc nhỏ, cán bộ đều phải làm kiểu mẫu. Giữ gìn kỷ luật, học tập kỹ thuật, luyện quân lập công, xung phong hãm trận, thân ái đoàn kết, nói tóm lại, mỗi việc trong bộ đội, cán bộ đều phải làm gương. Như thế thì quân đội ta sẽ là một quân đội vô địch, và kháng chiến nhất định thành công”(6).

Còn với công nhân, những người trực tiếp làm ra của cải vật chất cho xã hội, thì Bác nhắc: “Phải nâng cao kỷ luật lao động. Tình trạng muốn làm thì làm, không muốn làm thì thôi, nghỉ sớm, không ốm cũng cáo ốm để nghỉ, đều là thiếu kỷ luật lao động. Bộ đội không có kỷ luật, đánh giặc nhất định thua; nhà máy không có kỷ luật lao động, không phải là nhà máy tốt. Kỷ luật lao động không phải Bác đưa ra hay ở đâu đưa đến, mà chính là các cô, các chú bàn bạc, thông qua, tự giác thi hành. Thông qua rồi, ai không theo không được”(7). Các cán bộ cần phải đi sâu đi sát, kiểm tra đôn đốc kết quả của việc thực hiện những công việc đã đề ra, không thể làm theo lối quan liêu, như cách “Tỉnh gửi giấy về huyện, huyện gửi giấy về xã. Giấy không thể che rét cho trâu bò được”(8).

Lực lượng thanh niên, những chủ nhân tương lai của nước nhà, những người có vai trò rất lớn trong sự thịnh vượng hay suy yếu của đất nước, Bác đã chỉ ra cho họ những việc cần phải làm, những đức tính tự mình phải rèn luyện để có thể đảm đương được các trọng trách đó. Theo Bác mỗi thanh niên, nhất là mỗi cán bộ phải kiên quyết làm cho bằng được những điều sau đây:

a) Các sự hy sinh khó nhọc thì mình làm trước người ta,còn sự sung sướng thanh nhàn thì mình nhường người ta hưởng trước…
b) Các việc đáng làm, thì có khó mấy cũng cố chịu quyết làm cho kỳ được.
c) Ham làm những việc ích quốc lợi dân. Không ham địa vị và công danh phú quý.
d) Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, đối với việc.
e) Quyết tâm làm gương về mặt: siêng năng, tiết kiệm, trong sạch.
f) Chớ kiêu ngạo, tự mãn, tự túc. Nói ít làm nhiều, thân ái đoàn kết”(9).

Năm 1959, khi nói chuyện với giáo viên tại lớp học chính trị về nhiệm vụ vẻ vang của các thầy cô giáo trong công tác giáo dục đào tạo thế hệ trẻ, Bác nhấn mạnh: “Giáo viên phải chú ý cả tài, cả đức, tài là văn hoá, chuyên môn, đức là chính trị. Muốn cho học sinh có đức thì giáo viên phải có đức.Ví như bảo học trò phải dậy sớm mà giáo viên thì trưa mới dậy. Cho nên thầy giáo, cô giáo phải gương mẫu, nhất là đối với trẻ con”(10).

Cả cuộc đời mình Bác rất quan tâm đến việc rèn luyện tư cách đạo đức, tác phong của các cán bộ, đảng viên, đến lời nói phải đi đôi với việc làm và bản thân Bác là một tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, về kiệm liêm chính để chúng ta học tập và noi theo.

Sinh thời Bác sống rất giản dị, từ lời nói đến việc làm, tác phong làm việc, từ cách ăn mặc cho đến những sinh hoạt hàng ngày, ngay cả khi Người đã là Chủ tịch nước. Tác phong giản dị ấy mang lại một sự gần gũi, một ấn tượng khó quên với những ai đã được gặp Bác dù chỉ một lần. Vì Bác của chúng ta cao mà không xa, mới mà không lạ, lớn mà không làm ra vĩ đại, toả sáng mà không choáng ngợp, gặp lần đầu mà như thân thuộc từ lâu, bình dị, khiêm nhường trong công việc và trong khi giao tiếp với mọi người.

Bác ăn mặc rất giản dị và tiết kiệm: “Chỉ có hai bộ áo quần ka-ki, một cái khăn tay vải to và hai đôi bít tất. Khi ở Pa-ri về, người ta thấy Hồ Chủ tịch mặc một bộ ka-ki đã vá. Có người yêu cầu Chủ tịch thay bộ áo quần khác. Chủ tịch đáp: “Nhiều đồng bào ta, nếu được bộ áo quần như thế này cũng là tốt lắm. Thế thì việc gì tôi phải thay”(11). Đôi dép cao su của Bác, bộ quần áo ka ki sờn Bác vẫn dùng hàng ngày, khi biết các đồng chí phục vụ định thay, Bác không đồng ý. Chiếc bút chì mòn vẹt Bác dùng để theo dõi tin tức trên báo. Những trang bản thảo được Bác viết ở mặt sau của những tờ tin tham khảo của VNTTX. Chiếc ô tô Bác đi công tác, đi thăm đồng báo chiến sỹ trong cả nước cũng chỉ là loại xe bình thường, Bác không dùng điều hoà nhiệt độ do các đồng chí cán bộ ngoại giao đang công tác ở ngoài biếu, mặc dù ngôi nhà Bác đang ở lúc đó (nhà 54, lúc này Bác chưa chuyển sang nhà sàn) rất nóng. Bác đề nghị chuyển chiếc điều hoà nhiệt độ ấy cho các đồng chí thương bệnh binh đang điều trị tại các Trại điều dưỡng hoặc Quân y viện. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trên Chiến khu Việt Bắc, Bác ở trong ngôi nhà sàn đơn sơ, giản dị và đến khi cách mạng thành công, trở về Thủ đô, Bác cũng chỉ ở trong ngôi nhà nhỏ của một người thợ điện, sau đó chuyển sang ở nhà sàn, chứ không ở ngôi nhà to, sang trọng của Toàn quyền Đông Dương. Bác dành ngôi nhà sang trọng đó làm nơi đón tiếp khách của Đảng và Nhà nước. Những bữa ăn thanh đạm của Người “Thường là dưa cà, đôi khi có thịt”.

Sự tiết kiệm của Bác không chỉ thể hiện ở tác phong hay lối sống mà còn thể hiện trong việc sử dụng đội ngũ cán bộ. Là Chủ tịch nước, nhưng những năm tháng sống trên Chiến khu Việt Bắc, đi theo Bác cũng chỉ là tổ công tác có ít người nhưng kiêm đủ mọi công việc. Cách mạng tháng Tám thành công, trở về Thủ đô, nhưng các đồng chí phục vụ Bác ở Phủ Chủ tịch cũng rất ít. Những khi đi công tác xa, Bác thường tạo điều kiện để các đồng chí phục vụ được về thăm gia đình, điều này thể hiện sự quan tâm của Bác và cũng là một hình thức tiết kiệm sức người, tiết kiệm thời gian. Bác luôn luôn đòi hỏi các cán bộ, đảng viên phải tin yêu, quý trọng con người, phải kính già yêu trẻ và Bác là tấm gương mẫu mực về tôn trọng con người. Với đồng bào, chiến sỹ cả nước và bạn bè quốc tế ở khắp năm châu Bác dành trọn vẹn những tình cảm thương yêu, tình đồng chí, tình bạn và tình người thân thiết. Bác đã từng khẳng định: Lòng thương yêu của tôi đối với nhân dân và nhân loại không bao giờ thay đổi.

Gần tám mươi năm trôi qua, bài giảng về tư cách một người cách mạng, về đạo đức cách mạng, về “Nói thì phải làm” của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị. Trong kháng chiến cũng như trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước hôm nay, nhiều cán bộ, đảng viên, nhiều người đã làm tốt những lời Bác dạy, đã có rất nhiều tấm gương tiêu biểu về sự hy sinh, lòng nhân ái, về cần kiệm liêm chính, chí công vô tư… Đó là những con người luôn luôn đi đầu trong chiến đấu, lao động sản xuất và nghiên cứu khoa học. Họ đã biết mang đức và tài của mình ra để cống hiến cho đất nước ngày càng nhiều hơn về vật chất lẫn tinh thần. Song bên cạnh đó chúng ta cũng nhận thấy rằng còn có không ít những cán bộ, đảng viên, đặc biệt một số cán bộ có chức, có quyền vẫn chưa làm đúng những lời dạy của Bác. Nạn tham ô, tham nhũng, hối lộ, lãng phí, xa xỉ, quan liêu, công thần, cửa quyền… ngày càng nhiều. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên sa sút về tư tưởng, chính trị và đạo đức, bị tha hoá về lối sống. Tình trạng đạo đức giả, nói mà không làm, nói nhiều làm ít, nói một đằng làm một nẻo, không phải là ít. Tình trạng đó đã gây nên sự giảm sút lòng tin và uy tín của Đảng và Nhà nước trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Để có một xã hội ngày càng tốt đẹp, nhân dân thực sự được hưởng một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đất nước ngày càng mạnh giàu, hơn lúc nào hết lối sống mình vì mọi người, mọi người vì mình, phương châm và nguyên tắc sống “Nói thì phải làm” cần phải được thực hiện rộng rãi trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Làm đựơc như vậy là chúng ta đã làm tốt những điều mà lúc còn sống Bác Hồ luôn mong muốn và căn dặn./.

——————————-

1. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, t.2, tr.260.
2. Sdd, t.7, tr.568
3. Sdd, t.4, tr.161
4. Sdd, t.1, tr. 263
5. Sdd, t.5, tr. 699
6. Sdd, t.5, tr. 394
7. Sdd t.8, tr.341
8. Sdd, t.12, tr. 213
9. Sdd, t.5, tr.185-186.
10.Sdd, t.9, tr. 492
11. Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1975; tr: 148.

Theo Tiến Linh, Baotanghochiminh.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông – Lời nói đầu

Lời nói đầu

oOo

Chủ tịch Hồ Chí Minh – lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của Đảng và dân tộc ta, Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới; Người tượng trưng cho tinh hoa của dân tộc Việt Nam; là tấm gương sáng ngời về phẩm chất đạo đức của người cách mạng. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người gắn liền với những sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX.

Những nơi Người đã từng sống và làm việc nay trở thành địa danh lịch sử – văn hoá để giáo dục truyền thống cho các thế hệ. Khu Di tích Đá Chông (K9, K84) là địa danh lịch sử – văn hoá như vậy. Nơi đây, Bác đã sống và làm việc. Người cùng với các đồng chí trong Bộ Chính trị và Trung ương Đảng đã bàn và quyết định những vấn đề hệ trọng của đất nước trong giai đoạn quyết định của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Người đã dành nơi này để tiếp những người bạn, người đồng chí từ Trung Quốc và Liên Xô đến thăm. Sau này khi Người qua đời, nơi đây trở thành địa điểm chủ yếu gìn giữ tuyệt đối an toàn thi hài của Bác trong những năm chiến tranh ác liệt (1969-1975).

Sau đại thắng mùa Xuân năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, cũng là thời điểm Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được khánh thành. Thi hài Bác được đưa từ K84 về ngôi nhà vĩnh hằng của Người tại Ba Đình lịch sử, Khu di tích Đá Chông trở thành nơi cán bộ, nhân dân đến tham quan, học tập và sinh hoạt, giáo dục truyền thống lịch sử.

Xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ chính trị của đơn vị, nhằm nghiên cứu một cách hệ thống quá trình hình thành và phát triển của Khu di tích; năm 2006 và 2007, Ban Quản lý Lăng đã triển khai nghiên cứu đề tài cấp bộ “Nghiên cứu bảo tồn, tôn tạo phát huy tác dụng Khu di tích lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông”. Đề tài được nghiệm thu đạt loạt xuất sắc đã góp phần đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, tham quan học tập về các Di tích lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh của cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân trong cả nước.

Nhân dịp kỷ niệm 118 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thiết thực triển khai thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Ban quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh giới thiệu với bạn đọc cuốn sách: Khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông.

Xin trân trọng cám ơn các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; các cán bộ lão thành cách mạng; cán bộ, công nhân viên và chiến sĩ đã từng công tác tại Khu du tích qua các thời kỳ. Cám ơn Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Hà Tây, Bảo tàng Hồ Chí Minh và các cơ quan, đơn vị có liên quan đã cung cấp, xác minh tư liệu quý về Khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông.

BAN QUẢN LÝ LĂNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

bqllang.gov.vn

SỰ HÌNH THÀNH KHU DI TÍCH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TẠI ĐÁ CHÔNG
NHỮNG SỰ KIỆN LỊCH SỬ DIỄN RA Ở KHU DI TÍCH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TẠI ĐÁ CHÔNG
XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ LỊCH SỬ – VĂN HOÁ CỦA KHU DI TÍCH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TẠI ĐÁ CHÔNG
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TỒN, TÔN TẠO CÁC HIỆN VẬT TẠI KHU DI TÍCH
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC, TUYÊN TRUYỀN TẠI KHU DI TÍCH
NHỮNG HẠN CHẾ, NGUYÊN NHÂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
TÌNH HÌNH VÀ TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN CỦA KHU DI TÍCH
YÊU CẦU CÔNG TÁC BẢO TỒN, TÔN TẠO VÀ PHÁT HUY TÁC DỤNG KHU DI TÍCH
CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM BẢO TỒN, TÔN TẠO VÀ PHÁT HUY TÁC DỤNG KHU DI TÍCH
PHẦN KẾT LUẬN

Khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông – Phần thứ nhất: A

Nghiên cứu xác định giá trị lịch sử – văn hóa khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông

oOo

I. SỰ HÌNH THÀNH KHU DI TÍCH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TẠI ĐÁ CHÔNG

1. Một vài nét về Hà Tây và những di tích danh lam thắng cảnh tiêu biểu:

Hà Tây nằm ở phía Tây Thủ đô Hà Nội, Bắc giáp Phú Thọ, được bao bọc bởi dãy núi Tam Đảo; Nam giáp Hòa Bình, thuộc hữu ngạn sông Hồng Hà (sông Hồng), đoạn cuối khúc sông chảy qua gọi là sông Đà và một nhánh sông Tích như dải lụa thanh thiên, núi Ba Vì sừng sững, mờ xa, bờ bãi ven sông nối tiếp những cánh đồng màu mỡ lúa, khoai, ngô, mía, cây thuốc lá, mùa nào thức nấy.

Nói đến Hà Tây, không thể không nhắc tới những danh lam nổi tiếng xứ Đoài, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” như:

Đường Lâm là một trong những làng cổ đặc sắc Việt Nam, vốn là mảnh đất lịch sử rất nổi tiếng; là đất có hai vua: Phùng Hưng (766-799) và Ngô Quyền (938-945).

Chùa Mía (thuộc xã Đường Lâm) có hiệu là Sùng Nghiêm Tự, một cảnh quan đẹp, trang nghiêm mà cổ kính, theo quan niệm của Phật giáo khi đến đây con người như bắt gặp cõi yên lạc, để xua đi những tạp niệm trong cõi vô thường. Tượng Phật chùa Mía có thể coi là những bông hoa điêu khắc rực rỡ, có giá trị độc đáo, hiếm thấy ở các ngôi chùa khác.

Hương Sơn, đệ nhất kỳ quan có từ đời Lê Chính Hòa cách đây 1.000 năm có lẻ, có động người xưa và con đường khổ ải để tới cõi niết bàn, lại là một vẻ đẹp hướng về cõi thiện, kết hợp hài hòa với con người, không biết được đâu là mơ, là thực.

Chùa Tây Phương (thế kỷ III) với 62 pho tượng, 18 vị La Hán “đến bây giờ mặt vẫn chau” (Huy Cận) xa lánh cõi nhân gian tục lụy tìm cách siêu thoát ở cõi Phật.

Chùa Thầy thờ Từ Đạo Hạnh, bậc chân tu, ông tổ của nghề múa rối nước, tương truyền đã hóa thân thành Vua Lý Thần Tông.

Chùa Đậu là một nơi đặc sắc nữa với xá lị của hai nhà sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường.
Không chỉ nổi tiếng với những danh lam thắng cảnh, Hà Tây là mảnh đất đã sinh ra những hiền tài vào bậc nhất qua nhiều thời đại, xứng đáng là danh nhân đất Việt, như:

Nguyễn Trãi, linh hồn của cuộc kháng chiến chống giặc Minh, nhà văn hóa lớn nhất thời cổ, tác giả của Bình Ngô Sách, Bình Ngô Đại cáo (bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ hai của dân tộc ta), ức Trai thi tập…

Ngô Thì Nhậm, là tướng giỏi của Tây Sơn Nguyễn Huệ, người đã bày kế sách “nước cờ Tam Điệp”, giúp Quang Trung bảo toàn lực lượng dồn sức quét sạch quân Thanh, tác giả của Hoàng Lê nhất thống chí.

Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan (xã Cần Kiệm, huyện Thạch Thất) là một tài năng xuất chúng, một sứ thần sắc sảo, uyên bác.

Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, Hà Tây là “lá chắn thép” bảo vệ Thủ đô Hà Nội và Trung ương Đảng. Hà Tây thật xứng danh là tỉnh Anh hùng.

2. Khu vực Đá Chông và sự hình thành Khu di tích:

Từ thành phố Sơn Tây đi về phía Tây theo quốc lộ 87 chừng 20km gặp một khu rừng thông xanh thẫm phủ kín những ngọn đồi đất sỏi, cao thấp nhấp nhô ở độ cao 40 – 50m, có đồi cao hơn 100m so với mặt nước biển. Những “mũi chông đá” nhiều hình, nhiều vẻ nhô lên khỏi mặt đất, những vỉa đá lô xô vươn về phía dòng sông Đà. Đó là khu vực Đá Chông. Theo trí tưởng tượng dân gian, khu vực này mang dáng dấp một con rồng, đầu đang cúi xuống uống nước sông Đà, U Rồng là đỉnh cao nhất của khu đồi.

Dòng sông Đà đến đây bỗng đổi hướng, ngược về Phú Thọ, rồi uốn lượn xuôi về miền hạ lưu Sơn Tây, nhập vào sông Hồng chảy về xuôi. Nép mình dưới cánh rừng nguyên sinh là vài ba ngôi nhà với kiểu dáng kiến trúc đơn giản nhưng khá đẹp.

Theo ông Vũ Kỳ – nguyên là Thư ký riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và lời truyền miệng của nhân dân: trong thời kỳ Pháp thuộc, nơi đây là đồn điền Satuptô của một kỹ sư canh nông người Pháp, đã trồng thông và khai thác quặng. Bây giờ khu vực này còn giữ được nhiều cây thông có độ tuổi khoảng 100 năm, xen kẽ với những cây mới trồng như chò, lim, long não, pơ mu…

Nhân dân vùng này gồm chủ yếu là người Kinh, có một số dân tộc Mường, Dao. Đất canh tác hạn hẹp, trồng 1 vụ lúa, 1 vụ ngô, khoai, sắn. Đời sống người nông dân không mấy thuận lợi. Đảng bộ và nhân dân địa phương có truyền thống cách mạng. Trong kháng chiến chống Pháp là vùng an toàn, nơi đi về của cán bộ, bộ đội; trong kháng chiến chống Mỹ là nơi đóng góp nhiều sức người, sức của cho chiến trường đánh giặc. Các xã Minh Quang, Ba Trại và Thuần Mỹ liền kề Khu di tích đều đã được Đảng, Nhà nước tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Vùng đất này đã có một sự kiện đặc biệt để rồi sau đó nó trở thành một địa danh lịch sử. Đó là vào một ngày của tháng 5 năm 1957, Bác đến thăm Sư đoàn 308 diễn tập bên sông Đà. Cũng như khi Người đi công tác các tỉnh thường không ăn cơm ở đó mà mang theo cơm nắm, thức ăn và Bác cháu cùng dùng bữa cơm dọc đường, sau đó Người nằm nghỉ một lát ngay dưới gốc cây.

Theo ông Vũ Kỳ kể lại: Hồ Chủ tịch đã đứng ở vị trí Đá Chông, nhìn ra sông Đà trước mặt thấy đây là nơi sơn thủy hữu tình, dòng sông uốn khúc, cảnh vật tươi đẹp, gần dân mà xa đường quốc lộ. Với tầm nhìn của nhà chiến lược thiên tài, Người đã ngỏ ý với các đồng chí cùng đi xây dựng ở đây một nhà làm việc của Bác và Trung ương. Bác đã ngồi ăn cơm nắm bên “ba ngọn núi” Đá Chông, chỗ đó có nhiều phiến đá bằng phẳng, có một cây phượng vĩ, trước có một ngôi miếu nhỏ.

Nhóm nghiên cứu đề tài được ông Vũ Kỳ trao cho bức ảnh chụp Bác Hồ và các đồng chí cùng đi đang ngồi tại Đá Chông vào ngày 23 tháng 2 năm 1958.

Năm 2006, được sự giúp đỡ của Ban Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh và các chuyên viên, nhóm nghiên cứu đề tài tiếp tục nhận được một bộ ảnh quý chưa công bố về Bác Hồ với Đá Chông. Đây là những tư liệu lịch sử xác thực về Khu di tích Đá Chông. Nhóm nghiên cứu đề tài cũng được sự giúp đỡ xác minh tư liệu của Ban Tuyên giáo, Tỉnh ủy Hà Tây trong những lần Bác về thăm và làm việc với Hà Tây. Đây là những tư liệu lịch sử xác thực về Khu di tích Đá Chông.

Một câu hỏi đặt ra là: Tại sao Bác lại chọn Đá Chông là nơi căn cứ làm việc của Bác và Trung ương? Qua thu thập tài liệu và lời kể của các nhân chứng có thể lý giải như sau:

Thứ nhất: Do tình thế cách mạng nước ta lúc đó, miền Bắc sau 2 năm hòa bình, miền Nam đang nằm trong vùng kiểm soát của địch, Mỹ – Diệm đang ra sức hô hào lấp sông Bến Hải, Bắc tiến, những diễn biến đó khiến Bác và Trung ương nghĩ đến cuộc đọ sức quyết liệt với kẻ thù, phải tính đến việc lập những căn cứ dự phòng khi cần thiết có thể đưa Bộ chỉ huy tối cao đến làm việc bảo đảm an toàn. Địa bàn Sơn Tây nói chung cũng như khu vực Đá Chông có thể coi như mảnh đất bàn đạp nằm tiếp giáp với chiến khu và vùng đồng bằng, thành phố. Người đã chọn căn cứ này trong một chuyến đi thăm và kiểm tra diễn tập thực binh của Sư đoàn chủ lực 308. Điều này, gợi nhớ lại khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Bác và Trung ương từ Tân Trào về Hà Nội, Người đã để lại một lực lượng giữ gìn xây dựng chiến khu với lý do: Biết đâu sau này Bác cháu ta lại có thể phải trở lại đây. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã diễn ra gian khổ, ác liệt, Bác và Trung ương phải quay trở lại chiến khu chỉ đạo cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp thắng lợi.

Thứ hai: Từ phong cách sống của Bác. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người rất giản dị, sống gần gũi với thiên nhiên. Người đã từng nói đại ý, Người không ham danh lợi, nếu không phải vì việc nước mà phục vụ thì Người chỉ ưa thích sớm tối trồng rau, hái củi, trò chuyện với những người bạn thân thiết. Người ưa sống gần gũi với thiên nhiên như ở Pắc Bó, Tân Trào và cả ở Phủ Chủ tịch cũng đều như vậy. Đó là một ngôi nhà nhỏ, cạnh sông suối, có đất trồng rau, có cây xanh tươi tốt. Những cảnh vật có ở Đá Chông đều phù hợp với phong cách sống của Bác và Bác đã chọn nơi này để sống và làm việc.

(Còn nữa)

bqllang.gov.vn

Khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông – Phần thứ nhất: B

Nghiên cứu xác định giá trị lịch sử – văn hóa khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông (tiếp theo)

oOo

II. NHỮNG SỰ KIỆN LỊCH SỬ DIỄN RA Ở KHU DI TÍCH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TẠI ĐÁ CHÔNG

Những tư liệu và tài liệu thu thập được từ các cuộc gặp gỡ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, những cán bộ đã từng giúp việc và phục vụ Bác tại căn cứ K9 và đặc biệt từ cuộc toạ đàm “Cán bộ, nhân viên đã từng phục vụ Bác tại Đá Chông” do Bảo tàng Hồ Chí Minh tổ chức vào tháng 4 năm 2006; Hội thảo khoa học “Những sự kiện Bác Hồ với Đá Chông”, ngày 1 tháng 7 năm 2006 và Hội thảo “Chủ tịch Hồ Chí Minh với Khu di tích Đá Chông“, ngày 28 tháng 5 năm 2007 do Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức đã có những căn cứ đáng tin cậy. Trên cơ sở đó, có thể đưa ra những phác thảo chính về những sự kiện lịch sử diễn ra ở Khu di tích Đá Chông như sau:

1. Thời kỳ Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước làm việc tại Đá Chông (từ năm 1957-1969)

Năm 1957

Cuối năm 1956, đầu năm 1957, Đá Chông được các đồng chí ở Ty Công an Sơn Tây khảo sát, báo cáo với tỉnh trong việc giúp Trung ương tìm chọn một nơi xây nhà nghỉ của Trung ương. Nơi đây hội đủ các yếu tố: có rừng cây, có núi, có sông, thuận tiện về giao thông thủy bộ.

Tháng 5 năm 1957, trong dịp theo dõi Sư đoàn 308 tập mẫu chiến thuật “Trung đoàn bộ binh tăng cường tiến công quân địch phòng ngự có chuẩn bị”, Bác đã dừng chân nghỉ, ăn cơm trưa trên đồi, nơi có 3 mỏm đá nhọn như hình mũi chông, ngọn mác xếp liền kề nhau. Thấy địa thế nơi đây hiểm trở, phong cảnh đẹp, khí hậu mát mẻ, Bác đã trao đổi với các đồng chí cùng đi, ngỏ ý chọn vị trí này làm nơi nghỉ ngơi và làm việc của Bác và Trung ương.

Năm 1958

Sáng ngày 23 tháng 2 năm 1958, Bác Hồ lên thăm và xem xét lại địa bàn khu vực Đá Chông. Cùng đi với Bác có đồng chí Nguyễn Lương Bằng – ủy viên Trung ương Đảng và một số đồng chí khác của Chủ tịch phủ và lãnh đạo tỉnh Sơn Tây.
Sau chuyến đi của Bác, Tổng cục Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam được lệnh xây dựng một số ngôi nhà cấp bốn trong khu vực Đá Chông.

Bước sang năm 1959, trước nguy cơ của một cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc của đế quốc Mỹ đã rõ ràng, Cục Doanh trại, Tổng cục Hậu cần được lệnh tiếp tục lên xây dựng Khu căn cứ của Trung ương, Bộ đội Công binh xây dựng một hệ thống công sự kiên cố. Quá trình xây dựng, khu vực này được gọi là Công trường 5.

Đặc biệt, Bác đã cắm cọc, nhắm hướng cho dựng một ngôi nhà chính làm nơi hội họp, nghỉ ngơi của Bác và Trung ương. Nhóm kiến trúc sư tài giỏi do đồng chí Hoàng Linh, Cục trưởng Cục Doanh trại phụ trách được giao vẽ thiết kế ngôi nhà trình lên Bác duyệt.

Năm 1960

Sáng ngày 28 tháng 1 năm 1960 (tức ngày mồng một Tết Canh Tý), Bác Hồ lên Đá Chông thăm và chúc Tết cán bộ, chiến sĩ bảo vệ và công nhân làm việc trên công trường. Biết một số anh em công nhân là người miền Nam rất nhớ nhà, Bác căn dặn: “Các cô, các chú nhớ miền Nam thì phải làm việc bằng hai để xây dựng miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc”.

Ngày 15 tháng 3 năm 1960 ngôi nhà được hoàn thành, Bác đã đi máy bay trực thăng lên dự buổi khánh thành.

Sau khi xây dựng xong, toàn bộ khu vực được giao cho Văn phòng Chủ tịch phủ quản lý và lực lượng bảo vệ là cán bộ, chiến sĩ Đoàn Tân Trào (Công an nhân dân vũ trang). Công trường 5 được đổi tên là K9.

Năm 1961

Đầu tháng 3 năm 1961, Bác Hồ cùng đồng chí Hà Vĩ, Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam lên thăm Đá Chông, đồng thời chuẩn bị đón Đoàn đại biểu Phụ nữ Trung Quốc sang thăm và dự Đại hội Phụ nữ Việt Nam lần thứ III.

Ngày 13 tháng 3 năm 1961, Bác Hồ cùng Đoàn đại biểu Phụ nữ Trung Quốc do bà Đặng Dĩnh Siêu dẫn đầu lên thăm khu vực Đá Chông. Cùng đi có đồng chí Hà Vĩ, đồng chí Lương Phong (phiên dịch) và một nữ thư ký. Tại đây, bà Đặng Dĩnh Siêu đã trồng hai cây quýt mang từ Trung Quốc sang. Bác và bà Đặng Dĩnh Siêu trồng cây ngọc lan trong khu vườn. Trưa hôm đó, Bác Hồ mời Đoàn đại biểu Phụ nữ Trung Quốc dùng cơm tại nhà khách ở Đá Chông và chụp ảnh lưu niệm với đoàn.

Năm 1962

Nhận lời mời của Trung ương Đảng và Nhà nước ta, Đoàn cán bộ Quân đội Liên Xô do Anh hùng phi công vũ trụ G.M Ti-tốp dẫn đầu sang thăm Việt Nam. Đoàn đã được đón tiếp nồng nhiệt. Bác đã cùng đồng chí G.M Ti-tốp đi thăm nhiều nơi, ở đâu Người cũng phát biểu thể hiện những tình cảm thắm thiết. Đây có lẽ là một vị khách rất đặc biệt, được đón tiếp như một “nguyên thủ quốc gia”, một người đồng chí anh em, niềm tự hào của thành tựu khoa học xã hội chủ nghĩa.

Ngày 24 tháng 1 năm 1962, Bác Hồ và Đoàn cán bộ quân đội Liên Xô đã đi trực thăng lên Đá Chông. Anh hùng vũ trụ G.M Ti-tốp đã trồng cây vàng anh trước ngôi nhà 2 tầng. Bác Hồ và đoàn cán bộ quân đội Liên Xô không nghỉ lại mà đi thăm khu vực này rồi trở về Hà Nội.

Ngày 19 tháng 5, Bác lên làm việc tại Đá Chông. Trước đó, ngày 18 tháng 5 các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh đã lên Đá Chông, buổi tối nghỉ lại để hôm sau lên chúc thọ Bác.

Năm 1963

Ngày 19 tháng 5, Bác lên làm việc tại Đá Chông. Anh em trong tổ bảo vệ và phục vụ tại đây đang chuẩn bị lên nhà 2 tầng chúc mừng ngày sinh lần thứ 73 của Bác, thì ngay từ sáng sớm đã thấy Bác xuống thăm nơi ở của anh em tại khu vực dành cho lực lượng bảo vệ và phục vụ.

Các đồng chí Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng lên chúc thọ Bác. Bác cùng đồng chí Lê Duẩn và đồng chí Phạm Văn Đồng ăn cơm trưa, trao đổi công việc. Sau đó, Bác và các đồng chí trong Bộ Chính trị đã đi thăm một số xã và gia đình ở trong khu vực, cụ thể:

– Bác đã tới xóm Đồi thăm gia đình cụ Cẩm.

– Đồng chí Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng đến thăm xóm Sung và thăm xã Đồng Luận, huyện Thanh Thuỷ, Phú Thọ.

– Đồng chí Võ Nguyên Giáp lên làm việc ở K9 và ra thăm xóm Đồi, xã Thuần Mỹ.

Buổi chiều hôm đó, Bác và các đồng chí trong Bộ Chính trị trở về Hà Nội.

Năm 1964

Ngày 20 tháng 9 năm 1964, Bác Hồ lên Đá Chông. Cùng đi có các đồng chí Phạm Văn Đồng và một số đồng chí ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị. Bác và các đồng chí cùng đi đã trao đổi về tình hình quốc tế và trong nước từ sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ (ngày 5 tháng 8 năm 1964) và một số vấn đề về công tác phòng không nhân dân.

Bác đã trao đổi với các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Song Hào, Trần Bá Đặng, cùng một số cán bộ Binh chủng Công binh và quyết định việc đào hầm trú ẩn tại K9. Trước đó Bộ đội Công binh đã đào hầm phía gần nhà bảo vệ và bể nước (ngay phía sau ngôi nhà 2 tầng), khi Bác lên quan sát địa thế, Bác đã yêu cầu chuyển xuống vị trí gần gốc đa, khu vực nhà kính bây giờ. Theo Bác, phía đó có sự che chắn của đỉnh U Rồng, địch khó có thể đánh phá bằng không quân được.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã bước vào giai đoạn quyết liệt nhất. Sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ, giặc Mỹ điên cuồng tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc. Những năm tháng này, Trung ương đã đề nghị Bác chuyển tới một nơi an toàn hơn để đề phòng địch đánh vào Hà Nội. Nhưng Người đã từ chối. Người vẫn ở lại Thủ đô Hà Nội cùng Bộ Chỉ huy tối cao lãnh đạo toàn dân đánh giặc. Ở vào những thời điểm cam go ấy, hình ảnh vị lãnh tụ tối cao vẫn ung dung làm việc tại ngôi nhà sàn trong Phủ Chủ tịch là một nguồn sức mạnh lớn lao động viên toàn quân, toàn dân ta quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

2. Thời kỳ giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm chiến tranh (từ tháng 9/1969 đến tháng 7/1975)

Năm 1969

9 giờ 47 phút ngày 2 tháng 9, Hồ Chủ tịch qua đời. Thể theo nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã quyết định giữ gìn lâu dài thi hài Bác. Từ cuối năm 1969, cuộc kháng chiến của nhân dân ta bước vào giai đoạn quyết định. Đề phòng chiến tranh có thể xảy ra trên phạm vi cả nước, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định tìm một vị trí thật yên tĩnh, bí mật, xa Hà Nội, thuận tiện cho di chuyển thi hài Bác khi chiến tranh lan rộng. K9 đã được quyết định chọn là nơi giữ gìn thi hài Bác.

Ngày 10 tháng 9, một số cán bộ của Bộ Tư lệnh Công binh và Tiểu đoàn 144 có mặt tại K9 để khảo sát thiết kế, cải tạo lại công trình và nhận bàn giao lại toàn bộ khu vực do các đơn vị Công an vũ trang và Văn phòng Chủ tịch phủ giao lại. Ban đầu, Ban Chỉ đạo giữ gìn thi hài Bác định sử dụng ngôi nhà kính đã có sẵn để lắp đặt thiết bị máy móc phục vụ nhiệm vụ gìn giữ thi hài Bác ở ngay trên mặt đất. Nhưng về sau, Quân ủy Trung ương quyết định phải cải tạo cả hệ thống hầm ngầm đểđưa thi hài Bác xuống khi chiến tranh có thể lan rộng tới khu vực này.

Trong điều kiện thi công khó khăn, phải bảo đảm bí mật, thời gian gấp, nhưng lực lượng Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 259, Bộ Tư lệnh Công binh đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Ngày 15 tháng 12 năm 1969, công trình phục vụ nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác hoàn thành. K9 được đổi thành K84. Đoàn 69 (đơn vị tiền thân của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng) đã vinh dự được giao nhiệm vụ giữ gìn tuyệt đối và an toàn thi hài Bác tại K84.

Sáng 24 tháng 12 thi hài Bác được chuyển từ công trình 75A ở Thủ đô Hà Nội lên K84. Từ đó, K84 trở thành nơi giữ gìn thi hài Bác chủ yếu trong những năm tháng chiến tranh ác liệt.

Năm 1970

Ngày 23 tháng 5, đoàn chuyên gia của Viện thi hài Lênin sang Hà Nội. Hội đồng khám nghiệm thi hài Bác gồm các chuyên gia y tế Liên Xô và Việt Nam đã kết luận: Thi hài Bác vẫn được bảo vệ giữ gìn rất tốt trong điều kiện ở một nước khí hậu nhiệt đới và phải di chuyển xa.

Ngày 23 tháng 8, các đồng chí Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương do đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng dẫn đầu lên K84 viếng Bác. Sau đó đồng chí Lê Duẩn đã gặp mặt thăm hỏi, động viên các đồng chí chuyên gia y tế Liên Xô và cán bộ, chiến sĩ Đoàn 69 đang làm nhiệm vụ tại K84.

22 giờ đêm ngày 3 tháng 12, sau cuộc tập kích của không quân Mỹ vào Sơn Tây (ngày 21 tháng 11 năm 1970) thất bại, để đảm bảo an toàn thi hài Bác được di chuyển trở về công trình 75A.

Năm 1971

Tháng 8 lũ lụt lớn xảy ra ở miền Bắc, Thủ đô Hà Nội bị đe doạ nghiêm trọng. 11 giờ trưa ngày 19 tháng 8, Đoàn 69 được lệnh hành quân di chuyển đưa thi hài Bác từ công trình 75A trở lại K84.

Cũng trong năm 1971, gia đình Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng và gia đình Thủ tướng Phạm Văn Đồng lên nghỉ ở K84.

Năm 1972

Đế quốc Mỹ sử dụng máy bay B52 đánh phá miền Bắc ác liệt. Ngày 11 tháng 7 thi hài Bác được di chuyển từ K84 đến H21 bằng đường sông trên chiếc xe PAP.
Năm 1973

Ngày 8 tháng 2 thi hài Bác được di chuyển từ H21 trở lại K84. Đây là lần thứ 5 di chuyển thi hài Bác.

Trong thời gian thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh giữ gìn tại K84, nhiều đồng chí Trung ương Cục miền Nam ra miền Bắc công tác như: Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt… đã lên K84 viếng Người, quyết tâm thực hiện “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” theo lời Người căn dặn.

Năm 1975

Sau Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (4-1975), miền Nam hoàn toàn được giải phóng, Tổ quốc thống nhất, toàn Đảng, toàn dân ta mong đợi được đón Bác về Lăng. Đúng 16 giờ ngày 18 tháng 7 đoàn xe đặc biệt chở thi hài Bác được lệnh xuất phát rời K84 về Thủ đô Hà Nội.

3. Thời kỳ bảo vệ, giữ gìn và hoạt động của Khu di tích Đá Chông (từ tháng 8-1975 đến nay)

Sau khi thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh được đưa về Lăng của Người tại Ba Đình lịch sử. Nhiệm vụ bảo vệ, giữ gìn, tôn tại Khu di tích được Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng giao cho cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ Đội 285 (tiền thân của Đoàn 285 hiện nay).

Đầu năm 1995, thực hiện ý kiến chỉ đạo của đồng chí Đỗ Mười, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII); sau khi báo cáo Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh chính thức tổ chức đón tiếp các cơ quan, đơn vị, đoàn thể địa phương và cả nước đến tham quan Khu di tích Đá Chông. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước khi lên thăm Khu di tích đã trồng cây lưu niệm.

– Ngày 16 tháng 8 năm 1992, đồng chí Võ Văn Kiệt – nguyên Chủ tịch Hội đồng Bộ Trưởng (Thủ tướng Chính phủ) lên thăm và trồng cây lưu niệm tại Khu di tích.

– Ngày 01 tháng 10 năm 1993, đồng chí Vũ Kỳ – nguyên Thư ký của Bác Hồ lên thăm và nói chuyện tại Khu di tích.

– Từ ngày 2 đến ngày 4 tháng 9 năm 1994, Chủ tịch nước Lê Đức Anh thăm và trồng cây lưu niệm tại Khu di tích.

– Ngày 2 tháng 7 năm 1995, Tổng Bí thư Đỗ Mười thăm Khu di tích và trồng cây lưu niệm.

– Thủ tưởng Phan Văn Khải đã nhiều lần lên thăm Khu di tích và trồng cây lưu niệm.

– Ngày 07 tháng 01 năm 1998, Đại tướng Võ Nguyên Giáp lên thăm Khu di tích, trồng cây và ghi sổ lưu niệm.

– Ngày 21 tháng 6 năm 1998, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu lên thăm và trồng cây lưu niệm tại Khu di tích.

– Ngày 02 tháng 9 năm 1999, Chủ tịch nước Trần Đức Lương lên thăm và trồng cây lưu niệm tại Khu di tích…

– Đặc biệt, ngày 16 tháng 5 năm 2001, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã trồng cây lưu niệm và dự lễ đặt tấm biển đồng kỷ niệm nơi giữ gìn thi hài Bác trong 6 năm chiến tranh chống Mỹ: “NƠI ĐÂY ĐÃ GIỮ GÌN THI HÀI CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TỪ NĂM 1969 ĐẾN NĂM 1975“.

(Còn nữa)

bqllang.gov.vn

Khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông – Phần thứ nhất: C

Phần thứ nhất: Nghiên cứu xác định giá trị lịch sử – văn hóa khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông (tiếp theo)

oOo

III. XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ LỊCH SỬ – VĂN HOÁ CỦA KHU DI TÍCH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TẠI ĐÁ CHÔNG

1. Giá trị lịch sử của Khu di tích

Chủ tịch Hồ Chí Minh suốt đời tận tuỵ hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, cho tự do, hạnh phúc của nhân dân, cho lý tưởng cộng sản chủ nghĩa. Phẩm chất và đạo đức đó mãi mãi là tấm gương sáng ngời cho cán bộ và nhân dân ta soi chung. Người cũng đã từng nói với Mác-ta Rô-bát (phóng viên báo Gramma – Cu Ba): “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi“.

Khi Hồ Chủ tịch qua đời, đồng bào và chiến sĩ ta vô cùng thương tiếc Người, bạn bè quốc tế cũng chia sẻ với chúng ta niềm đau thương vô hạn.

Đảng và nhân dân ta đã quyết định giữ gìn lâu dài thi hài Bác và xây dựng Lăng của Người tại Ba Đình. Với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” và thể hiện tình cảm kính yêu của nhân dân ta đối với con người vĩ đại đã sáng lập, rèn luyện Đảng ta, xây dựng Nhà nước ta, mang lại quyền làm người cho bao kiếp đời nô lệ lầm than. Trên khắp mọi miền đất nước, nhân dân đã bảo tồn, xây dựng các di tích, công trình tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Khu di tích Đá Chông – K84 là một Khu di tích đặc biệt trong hàng ngàn khu lưu niệm và công trình tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Giá trị lịch sử của Khu di tích Đá Chông được thể hiện:

Một là, khu căn cứ K9 là nơi Bác Hồ và các đồng chí trong Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã sống và làm việc.

Vào những năm đầu của thập kỷ 60 của thế kỷ XX, cách mạng nước ta đã bước vào một thời kỳ lịch sử vĩ đại. Miền Bắc sau những năm hàn gắn vết thương chiến tranh, bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất với khí thế dời non lấp biển của “Sóng Duyên hải”, “Gió Đại phong”, “Cờ Ba nhất”. Trong khi đó ở miền Nam, đồng bào ta đang rên xiết dưới ách thống trị của Mỹ – Diệm. Với đạo luật phát-xít 10-59, bọn giặc đã gây ra những vụ tàn sát đẫm máu, hung hăng hô hào lấp sông Bến Hải, “Bắc tiến” tìm diệt cộng sản. Sau Hội nghị Trung ương 15 (tháng 1 năm 1959) do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, xác định 2 nhiệm vụ chiến lược và vạch rõ con đường cách mạng của miền Nam. Phong trào cách mạng miền Nam đã chuyển biến với những bước thần kỳ. Miền Nam hướng về Trung ương Đảng và Bác Hồ với niềm tin son sắt, vững tin vào người chèo lái con thuyền cách mạng đang vượt qua ghềnh thác.

Theo ông Vũ Kỳ, K9 là một trong 2 khu căn cứ được gọi là Nhà khách Trung ương. Đây là nơi dành cho các Hội nghị của Bộ Chính trị. Khu nhà khách Trung ương ở Tam Đảo là nơi dành cho Hội nghị của Quân ủy Trung ương. K9 là nơi Bác và các đồng chí trong Bộ Chính trị, những người bạn chiến đấu gần gũi nhất, những người học trò xuất sắc nhất đã đến làm việc và nghỉ ngơi. Trong những buổi làm việc đó nhiều vấn đề trọng đại của đất nước đã được bàn và quyết định ở đây.

Tại tầng 1 của ngôi nhà sàn đã từng diễn ra Hội nghị Bộ Chính trị. Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong một lần tới thăm Khu di tích vào năm 1998 đã bồi hồi xúc động chỉ cho mọi người biết chiếc ghế Bác đã từng ngồi chủ trì Hội nghị Bộ Chính trị. Chiếc ghế lớn kê ở đầu bàn là nơi Bác ngồi. Phía tay phải Bác ngồi là đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và các đồng chí khác. Phía tay trái Bác là đồng chí Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp. Đại tướng đã ngồi vào chỗ ngồi trước đây và trầm ngâm nhớ tới Bác.

Hai là, Khu di tích Đá Chông, nơi thể hiện tình cảm cao cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh với bầu bạn quốc tế.

Ngôi nhà sàn là nơi Bác đã tiếp hai người bạn quý: Bà Đặng Dĩnh Siêu và Anh hùng phi công vũ trụ Liên Xô G.M Ti-tốp.

Người khách nước ngoài thứ nhất Bác Hồ đã tiếp tại K9 đó là Bà Đặng Dĩnh Siêu, phu nhân Thủ tướng Chu Ân Lai (Trung Quốc).

Trong những năm tháng hoạt động ở Quảng Đông, bà Đặng Dĩnh Siêu là người đã hoạt động cùng với Bác. Sau này bà Đặng Dĩnh Siêu giữ chức vụ Phó Chủ tịch Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Với Bác, Thủ tướng Chu Ân Lai có mối quan hệ huynh đệ đặc biệt thân tình từ khi hai người cùng hoạt động trong Quốc tế cộng sản. Chu Ân Lai thường gọi Nguyễn ái Quốc là anh và xưng là em. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, Thủ tướng Chu Ân Lai đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc cử làm Trưởng đoàn sang Việt Nam chia buồn và dự lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Người khách thứ hai được Bác tiếp tại K9 là Anh hùng phi công vũ trụ Liên Xô G.M Ti-tốp. Đây là người đã lái con tàu vũ trụ Phương Đông 2 bay 17 vòng quanh trái đất, làm nên một điều kỳ diệu nhất trong lịch sử loài người. Đồng chí G.M Ti-tốp sang thăm mang theo tình đoàn kết của nhân dân Liên Xô, đồng thời cũng mang theo kinh nghiệm thi đua hoàn thành kế hoạch Nhà nước do Đảng, Chính phủ Liên Xô đề ra.

Bác và Trung ương đã đón đồng chí G.M Ti-tốp với nghi thức trọng thể, nồng nhiệt và thắm tình hữu nghị anh em. Thay mặt Đảng và Nhà nước ta, Hồ Chủ tịch đã trao tặng G.M Ti-tốp danh hiệu Anh hùng lao động. Người đã phát động phong trào thi đua hoàn thành vượt mức kế hoạch và đề ra phần thưởng: Đơn vị nào, xí nghiệp nào, hợp tác xã nào vượt mức kế hoạch tốt nhất thì được lấy tên Anh hùng G.M Ti-tốp.

Sau này đồng chí G.M Ti-tốp là Chủ tịch Hội hữu nghị Việt – Nga và là người có nhiều đóng góp tích cực xây đắp tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân 2 nước Việt Nam và Liên Xô.

Sự kiện Bác Hồ tiếp hai đoàn khách quốc tế ở K9, ngoài nghi lễ ngoại giao, đây là một cử chỉ thể hiện tình cảm quốc tế cao cả và sự thân tình của Bác đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước Liên Xô, Trung Quốc. Điều này có ý nghĩa đặc biệt vào thời điểm mối quan hệ Liên Xô, Trung Quốc đang có sự bất hoà.

Ba là, Đá Chông là một địa danh lịch sử thiêng liêng, nơi đã bảo vệ, giữ gìn tuyệt đối an toàn thi hài Bác trong những năm chiến tranh ác liệt.

Sau những ngày tang lễ, thi hài Bác được giữ gìn ở 75A. Năm 1969, cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn đánh gãy xương sống Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ. Tổng thống Mỹ Ních-xơn đã tăng cường viện trợ cho quân ngụy và tuyên bố sẵn sàng ném bom trở lại miền Bắc Việt Nam.

Trước tình hình đó, để đảm bảo an toàn tuyệt đối thi hài Bác, Bộ Chính trị đã quyết định xây dựng một công trình khác cũng như 75A nhưng ở xa Hà Nội, bí mật, yên tĩnh, đi lại thuận tiện để khi cần sẽ di chuyển thi hài Bác tới đó giữ gìn bảo đảm an toàn. Sau nhiều lần đi khảo sát địa hình, cân nhắc tính toán các mặt, K9 đã được chọn làm nơi giữ gìn thi hài Bác. Bộ đội Công binh đã được giao nhiệm vụ cải tạo và thi công hệ thống công trình phục vụ cho nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Bác.

Những năm chiến tranh ác liệt, để giữ gìn tuyệt đối an toàn thi hài Bác, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, sự giúp đỡ của chuyên gia y tế Liên Xô, Đoàn 69 đã tổ chức 5 cuộc hành quân di chuyển thi hài Bác. Trong những cuộc hành quân đó có 3 lần thi hài Người được chuyển về K84 và thời gian Bác yên nghỉ ở K84 là lâu nhất (4 năm rưỡi trên tổng số 6 năm chiến tranh) trước khi đón Bác về Lăng, nơi yên nghỉ vĩnh hằng của Người.

Ngày nay, nơi Bác yên nghỉ trong những năm chiến tranh gian khổ đã trở thành một địa danh lịch sử thiêng liêng, in dấu những năm tháng không bao giờ quên của cán bộ, chiến sĩ Đoàn 69 và tinh thần quốc tế trong sáng của các chuyên gia y tế Liên Xô.

Bốn là, Khu di tích lịch sử – văn hóa Đá Chông, nơi thể hiện tình cảm của nhân dân ta đối với Bác Hồ kính yêu.

Những Khu di tích về Chủ tịch Hồ Chí Minh, nơi Bác đã sống và hoạt động cách mạng được trân trọng giữ gìn ở nhiều địa phương trên đất nước ta và cả ở nước ngoài. Đó chính là thể hiện tình cảm kính yêu đời đời biết ơn và sự ngưỡng mộ, thành kính của đồng bào ta và bạn bè quốc tế đối với Bác Hồ. Tại những khu di tích đó, khi được trực tiếp tiếp xúc với những bằng chứng sát thực nhất thông qua cảnh quan môi trường và những hiện vật lịch sử, mọi người càng hiểu biết đầy đủ hơn về cuộc đời và sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thật cảm động khi chúng ta biết được vào những năm tháng Bác yên nghỉ ở Khu di tích Đá Chông, các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, những người học trò xuất sắc của Người và cả những người con ưu tú của miền Nam đang chiến đấu đã đến đây kính cẩn viếng Người, nguyện thực hiện lời thề trước lúc vĩnh biệt Người.

Sau khi đón Bác về Lăng, cùng với việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đơn vị tiếp tục làm nhiệm vụ bảo vệ, giữ gìn Khu căn cứ K84. Cũng trong thời gian này, đáp ứng nguyện vọng của các đoàn cán bộ và nhân dân, được phép của cấp trên, đơn vị đã tổ chức đón tiếp một số đoàn đến thăm quan, nghiên cứu tại Khu căn cứ K84.

Khu di tích Đá Chông là một di tích lịch sử còn ở dạng nguyên khai. Những hiện vật ở đây đều là hiện vật gốc, được giữ gìn hầu như nguyên vẹn như khi Bác Hồ còn sống và làm việc tại đây. Cụm từ “Khu di tích lịch sử Đá Chông” mới chỉ được gọi gần đây. Vì vậy, chức năng tổ chức thăm quan tại Khu di tích một cách nền nếp cũng mới chỉ được thực hiện trong những năm gần đây.

Năm là, Khu di tích Đá Chông còn là một căn cứ dự phòng của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Những công trình tuyệt mật của quốc gia luôn đặt ra yêu cầu dự phòng cao về an ninh, kỹ thuật và phải có những địa điểm sơ tán để sẵn sàng di chuyển khi có tình huống đặt ra.

Trước đây, trong những năm chiến tranh, Bộ Chính trị đã giao Quân ủy Trung ương tìm một vị trí bí mật, xa Hà Nội và thuận tiện cho việc di chuyển thi hài Bác khi chiến tranh lan rộng. Các nhà chiến lược quân sự đã chọn K9 là nơi xây dựng một công trình cho việc bảo vệ và giữ gìn thi hài Bác. Theo Thiếu tướng Trần Kinh Chi, sở dĩ K9 được chọn vì những lý do sau:

Thứ nhất, K9 nằm trong dải rừng nối liền với núi Ba Vì. Từ trên cao nhìn xuống, các công trình của K9 nằm trong một vệt rừng và cũng không có những đặc điểm địa hình khác biệt, dễ bị chú ý, nên có nhiều thuận lợi trong việc giữ bí mật.

Thứ hai, K9 không quá xa Thủ đô Hà Nội, di chuyển thi hài Bác tương đối thuận lợi, lại nối liền với các khu vực có địa hình rừng núi an toàn, có thể cơ động trong những tình huống đặc biệt.

Thứ ba, có một điều không được nói lên thành lời, nhưng trong tâm thức ai cũng biết: Nơi đây lúc sinh thời, Bác Hồ rất yêu thích.

Mặc dù nơi đây điều kiện còn nhiều khó khăn, cơ sở vật chất thiếu thốn, nhưng vẫn là nơi giữ gìn thi hài Bác Hồ chủ yếu trong những năm chiến tranh ác liệt.

2. Giá trị văn hóa của Khu di tích

Một là, Khu di tích Đá Chông – nơi tiếp nối mạch nguồn lịch sử – văn hóa của thời đại Hồ Chí Minh.

Địa danh Đá Chông nằm ở nơi bắt nguồn, nơi tiếp nối của mạch nguồn lịch sử – văn hóa, bắt đầu từ thời đại Hùng Vương. Đứng trên núi tổ Ba Vì ta có thể thấy Đền Thượng, Đền Trung, Đền Hạ, phóng xa tầm mắt về phía Bắc là miền trung du đất tổ Vua Hùng, phía sau là đồng bằng Bắc Bộ, Thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến. Trên vùng đất địa linh nhân kiệt này có biết bao huyền thoại, tồn tại rất nhiều di chỉ khảo cổ, di tích lịch sử – văn hóa. Chắc chắn vùng đất này chứa đựng những trầm tích lịch sử – văn hóa đặc biệt, mà một linh cảm đặc biệt đã phát hiện ra và để lại dấu ấn của mình.

Đây là một vùng đất cổ xưa gắn với những huyền thoại Sơn Tinh, Thủy Tinh của thời đại Hùng Vương. Các nghiên cứu khoa học đã khẳng định rằng thời đại Hùng Vương là thời đại có thật trong lịch sử Việt Nam, danh xưng này khởi đầu từ truyền thuyết và ghi chép có phần hoài nghi trong các bộ sử biên niên của nước ta thời trung đại. Nhưng, gần đây giới sử học Việt Nam đã làm sáng tỏ thời đại có thật bị huyền thoại hóa này bằng hàng trăm di chỉ khảo cổ học thuộc Bắc Bộ và Trung Bộ. Khởi đầu thời đại Hùng Vương theo ghi chép trong sách Việt Sử lược là khoảng vào năm 696-682 trước công nguyên, tương ứng với văn hóa khảo cổ học Gò Mun. Tiếp nối di chỉ khảo cổ học Phùng Nguyên có niên đại vào khoảng đầu thiên niên kỷ II trước công nguyên, với đỉnh cao của nghề gốm nguyên thủy nước ta, các hoa văn trên gốm đạt đến trình độ tuyệt diệu, phức tạp, đối xứng sinh động. Đặc biệt được phân bổ rộng khắp từ Phú Thọ, Vĩnh Phúc đến Hà Tây, Hà Nội, Bắc Ninh.

Một vài địa danh văn hóa quen thuộc tỉnh Hà Tây chúng tôi dẫn ra đây có thể chứng minh cho nhận định rằng Hà Tây là vùng đất huyền thoại, nơi cư trú của người Việt cổ.

Núi Tản sông Đà, rừng quốc gia Ba Vì, nơi có đền thờ Thánh Tản Viên, một trong bốn vị bất tử của nước ta. Núi Tản được gọi là “Núi Tổ của nước ta đó” (theo Dư địa chí). Năm 1999 đã xây dựng đền thờ Bác Hồ trên đỉnh Vua (ở điểm cao 1.296m).

Ao Vua, thuộc xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây là một danh thắng, từng lưu giữ nhiều dấu vết Sơn Tinh. Những hiện vật được phát hiện cho thấy các dấu vết của quặng đồng, có thể ở đây có mỏ đồng hoặc nơi luyện đồng từ thời cổ.

Ấp Chông, thuộc xã Khánh Thượng, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây cũng phát hiện dụng cụ bằng đồng và hợp kim vào thiên niên kỷ I trước công nguyên.
Đồng Mô, thuộc xã Trầm Lộng, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây là danh thắng, một điểm du lịch. Ở đây cũng phát hiện một thùng bằng đồng có hoa văn, hai quai hổ phù ngậm vòng.

Trống đồng, phát hiện ở Sơn Tây được lưu giữ ở Bảo tàng lịch sử, thuộc loại trống nhóm A. Tại đây, năm 1400 nhà Hồ đã chọn Sơn Tây xây chiến lũy thành cổ để chống giặc Minh.

Hai là, dấu ấn của một con người có đạo đức, phong cách sống cao đẹp, giản dị

Nói đến phong cách sống của Bác, Giáo sư Phan Ngọc đã có cách lý giải rất xác đáng. Giáo sư cho rằng phong cách sống là một kiểu lựa chọn cách sống. Một triết nhân phương Đông, kiểu lựa chọn này thể hiện đầu tiên ở phong cách sống cho chính mình. Sự nghiệp và cuộc đời một người gắn bó làm một, không có sự phân chia thành hai phần. Ở phương Tây, nhiều khi người ta xem xét thành hai phần, phần thứ nhất là những công việc họ làm, phần thứ hai là cuộc đời của chính họ. Một con người phương Đông muốn xây dựng một lý thuyết, trước hết chọn một cách sống và cố gắng chung thủy với sự lựa chọn ấy trong mọi hoàn cảnh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà văn hóa thế giới và trước tiên Người là nhà văn hóa phương Đông. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là ở tầm cao, chiều sâu của một thiên tài nhiều mặt, đồng thời được thể hiện nhuần nhuyễn, mẫu mực trong phong cách đạo đức sống của Người.

“Hồ Chủ tịch không có cái gì riêng, cái gì của nước, của dân là của Người. Quyền lợi tối cao của nước, lợi ích hàng ngày của dân, là sự lo lắng hàng ngày của Người” (Phạm Văn Đồng).

Chúng ta đã biết, sau hòa bình lập lại, khi chuyển đến Phủ Chủ tịch, Bác chọn một căn phòng của một người thợ điện (ngày trước gọi là phu phen trong Phủ toàn quyền). Bác đã ở căn phòng đó 4 năm từ năm 1954 đến năm 1958. Bây giờ căn phòng của người thợ điện ấy là một hiện vật quý trong Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch. Năm 1958, Bác đi thăm một số nước gần 2 tháng, nhân đấy mọi người mới làm một cái nhà sàn. Lúc về, Bác nhận cái nhà sàn gỗ ấy mới không ở căn buồng người thợ điện (theo đồng chí Việt Phương, Thư ký Thủ tướng Phạm Văn Đồng).

Vậy khi Bác nhắm hướng, duyệt thiết kế và cho xây dựng ngôi nhà 2 tầng ở Đá Chông là Bác quyết định xây nhà cho Trung ương hội họp và nghỉ ngơi. Khi ta gọi một cách thân thuộc là nhà của Bác thì đã hiểu đó là nhà dành cho Trung ương Đảng.

Ngôi nhà hai tầng mái ngói đỏ có hàng cột tròn chạy xung quanh trông gần giống như ngôi nhà sàn trong Phủ Chủ tịch.

Con người Bác, cuộc sống của Bác thật giản dị, luôn chăm lo cho mọi người, Bác sống một cuộc sống của người bình thường giản dị, không bị chi phối bởi tiện nghi cầu kỳ. Việc gì Bác tự làm được thì không cần người giúp, cho nên bên cạnh Bác, người giúp việc và phục vụ có thể đếm trên đầu ngón tay. Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng chỉ rõ: Điều rất quan trọng cần phải làm nổi bật là sự nhất quán giữa đời hoạt động chính trị long trời chuyển đất với đời sống bình thường vô cùng giản dị và khiêm tốn của Hồ Chủ tịch.

Ba là, hiện thân của nhà văn hóa Hồ Chí Minh với tư tưởng “con người sống hòa hợp với thiên nhiên”

Bác Hồ đến khu vực Đá Chông, từ tâm thức Người đã có ý nguyện riêng tạo ra một nơi sống và làm việc cho mọi người và bản thân mình, nơi cảnh quan đẹp hài hoà, hữu ích. Nơi này đã trở thành một nơi mang dấu ấn văn hóa của Người đã tạo ra nó. Hay nói như cách định nghĩa của M. Goóc-ki: Văn hóa là “thiên nhiên thứ hai”.

Trước tiên, phải nói về ngôi nhà 2 tầng (nhà sàn). Gọi là “nhà sàn” nhưng nó mang dáng dấp của những ngôi nhà sàn nhỏ của Bác ở chiến khu Việt Bắc. Phần lớn các ngôi nhà sàn dựng lên bằng cọc trên những dòng suối để phòng tránh thú dữ, rắn rết. Những hàng cột xung quanh đã nâng đỡ ngôi nhà, tạo ra không gian thoáng rộng cho tầng dưới và dáng vẻ vững chắc của những hàng cột lại gợi cho ta liên tưởng đến những hàng cột trong các ngôi đền thờ cổ La Mã.

Qua sân nhà là con đường đi xuống bờ sông, từng bậc thang được trải đầy sỏi cuội. Thủ tướng Phạm Văn Đồng kể lại: “Người thích đi bộ, tắm sông, hút thuốc lá và thỉnh thoáng uống một ly rượu thuốc trong bữa ăn, tránh ăn no, không ngủ trưa và hoạt động thân thể, buổi sáng thể dục, buổi chiều làm vườn, lúc cần đi vác củi cho đồng bào”. Khi thi công con đường này, anh em muốn lát gạch hoặc láng bê tông cho phẳng, nhưng Bác đã yêu cầu đổ sỏi cuội cho mát và để khi đi bộ bàn chân sẽ tiếp xúc với sỏi cuội cho “chân cứng đá mềm”, sức thêm bền bỉ.

Một nét đặc sắc nữa của Khu vực Đá Chông là cảnh quan môi trường cho thấy Người đã ứng xử với thiên nhiên, tôn trọng thiên nhiên như thế nào?

Khi xây dựng các ngôi nhà, làm đường sá Người đã yêu cầu giữ lại tất cả các cây trồng lấy gỗ. Các ngôi nhà, đường sá đều được làm trên những khoảng trống không có cây trồng. Bác còn tạo những mảnh vườn nhỏ để trồng các loại cây nhãn, quế, vải, bưởi, trồng rau xanh và trồng hoa. Hai loại cây được trồng ở những nơi thường xuyên Người có thể nhìn thấy được đó là cây vú sữa của miền Nam thân yêu và cây hoa râm bụt của quê hương. Cây vú sữa được trồng ngay trước cửa sổ bàn làm việc; cây hoa râm bụt trồng ở con đường bậc thang ngày ngày Bác vẫn đi dạo rèn luyện sức khỏe.

Có thể nói, với tư cách là chủ thể, Bác đã không chỉ giữ gìn vẻ đẹp tự nhiên nguyên sơ mà còn cải tạo, điểm tô cho thiên nhiên, mang thiên nhiên trở lại phục vụ con người, biến thiên nhiên trở thành đối tượng của cái đẹp dành cho con người thưởng thức, hưởng thụ.

bqllang.gov.vn

Khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông – Phần thứ hai: A

Thực trạng công tác bảo tồn, tôn tạo và tổ chức hoạt động giáo dục, tuyên truyền khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông

oOo

I. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TỒN, TÔN TẠO CÁC HIỆN VẬT TẠI KHU DI TÍCH

1. Các yếu tố thiên nhiên, xã hội tác động ảnh hưởng đến công tác bảo tồn, tôn tạo các hiện vật

Đá Chông có, diện tích 234ha chủ yếu là đồi rừng, trong đó có 15ha ao hồ; phía Bắc giáp xã Thuần Mỹ, phía Nam giáp xã Minh Quang, phía Đông giáp xã Ba Trại thuộc huyện Ba Vì, phía Tây bao bọc bởi Sông Đà, vượt qua bên kia sông là xã Đồng Luận thuộc huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ.

Hệ thống giao thông thuỷ bộ từ Đá Chông đi mọi nơi đều thuận tiện “tiến công, thoái thủ, nhanh chóng, bí mật, bất ngờ”. Theo quốc lộ 87 qua Sơn Tây về Hà Nội có thể đi theo đường 32 hoặc đường Láng – Hòa Lạc. Cách Đá Chông gần 1 km là đường đi Ba Chẹ, nối với Quốc lộ số 6 đi Hoà Bình, Lai Châu, Điện Biên. Đường thuỷ ngược Sông Đà lên vùng núi chiến khu hoặc xuôi về đồng bằng Bắc Bộ. Đường không, có một bãi đất bằng phẳng ngay dưới chân đỉnh U Rồng có thể làm sân bay trực thăng.

Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn Đá Chông để làm nơi làm việc, nghỉ ngơi của Bác và Trung ương, hệ thống nhà cửa, đường sá, hầm trú ẩn… được xây dựng và củng cố, bảo đảm an toàn cho Bác và Trung ương.

Trong những năm chiến tranh từ 1969 đến 1975, thi hài Bác được gìn giữ tại Đá Chông. Hệ thống công trình và nhà cửa được tu sửa phục vụ cho nhiệm vụ chính trị: gìn giữ lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Từ năm 1995 đến nay, Đá Chông là nơi đón tiếp, tuyên truyền phục vụ cán bộ, nhân dân đến tham quan, tưởng niệm Bác. Hàng năm, Khu di tích đều được tu bổ, tôn tạo khang trang hơn.

Toàn thể quần thể Khu di tích được chia thành 4 khu theo thứ tự: A, B, C, D. Những hiện vật lịch sử gắn liền với hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng; những hiện vật liên quan đến sự nghiệp giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh đều tập trung ở Khu A. Các khu khác là vị trí đóng quân bảo đảm phục vụ yêu cầu nhiệm vụ chính trị của đơn vị hiện nay.

Trải qua những năm chiến tranh chống Mỹ ác liệt và hàng chục năm sau hoà bình, cốt nguyên thuỷ và chất lượng các công trình cơ bản không thay đổi, do vậy, di tích vẫn giữ được nét đặc trưng như khi mới xây dựng.

Các yếu tố tự nhiên

Điều kiện địa hình thuận lợi cho chiến lược quốc phòng an ninh nhưng cũng đặt ra nhiều vấn đề khó khăn, ảnh hưởng đến quá trình xây dựng, bảo tồn, tôn tạo Khu di tích Đá Chông. Mặt khác, điều kiện khí hậu, thời tiết cũng ảnh hưởng rất lớn tới việc bảo quản giữ gìn các hiện vật: độ ẩm cao, nhất là vào mùa mưa, tạo điều kiện cho nấm mốc phát triển làm ảnh hưởng tới hệ thống công trình và hiện vật.

Nhiệt độ hàng năm vào mùa hè có lúc lên đến 41,60C; mùa đông nhiệt độ xuống thấp; mùa xuân độ ẩm lên đến 88%, . Mùa mưa tập trung vào các tháng 6, 7, 8, lượng mưa hàng năm 1682 – 1798mm, có lúc xảy ra giông bão và lốc xoáy. Trong điều kiện như vậy, các vật liệu cấu thành di tích chịu tác động chu kỳ, chuyển từ trạng thái vật lý này sang trạng thái đối cực khác (nóng, lạnh, khô, ẩm, co, nở), các vật liệu như: gỗ, vữa, vôi, ngói…đều rất nhạy cảm với biến động của nhiệt độ và độ ẩm.

Ánh nắng mặt trời thường xuyên tác động đến các công trình một cách chậm chạp và khó nhìn thấy. Sự thay đổi thời tiết giữa ban ngày với ban đêm, giữa mùa nóng với mùa khô, mùa mưa, mùa lạnh đã làm cho các vết nứt trên các hiện vật di tích xuất hiện. Trên mặt ngoài tường của những ngôi nhà xây dựng bằng gạch, đá gây ra hệ số nở khác nhau.

Do tác động của nước mưa, những bộ phận bằng gỗ, bằng sắt đã bị han gỉ, long lở và một số viên gạch đã xuất hiện các vết nứt nhỏ. Những nơi ẩm không có ánh nắng mặt trời chiếu sáng, các loài côn trùng, nấm mốc phát triển. Ở những chỗ sử dụng nhiều vật liệu gỗ, bị đọng nước (như chỗ nối của mái dốc thoải và các tấm ngói, lá lớp trên mái nhà) bị thủng, nước ngấm vào đòn tay hay các bộ phận mái đỡ khác cũng sẽ bị mục hoặc nấm mốc làm cho sức bền và độ chịu lực của các bộ phận yếu dần đi.

Tác động sinh học

Đá Chông nằm trong khu vực có hoạt động mạnh của côn trùng, nấm mốc và đặc biệt là các yếu tố phá hoại các di tích kiến trúc bằng gỗ. Bên cạnh đó việc độ ẩm cao là môi trường cho các nấm mốc xâm thực, phân giải các độc tố trong gỗ, tạo điều kiện cho mối, côn trùng phá hoại. Ngoài mối và nấm còn có các loại cỏ cây dại, rêu là mối nguy cơ ăn mòn sinh học thường xuyên. Các cửa, sàn, lan can gỗ hàng năm đơn vị đã có các đợt diệt mối, côn trùng, sâu bọ nhưng do tốc độ phát triển của chúng quá nhanh dẫn đến một số công trình bị xuống cấp và mục ruỗng như: Nhà hậu cần, khung cửa nhà sàn, ngói, tay đỡ mái nhà… Những hạng mục này năm 2000 đã được tu bổ, và năm 2006 có sự tu sửa lớn đối với khu vục nhà hậu cần, nhà trưng bày hiện vật.

Ảnh hưởng của môi trường đến các loại vật liệu

Gỗ được sử dụng ở các công trình tai Khu di tích chủ yếu là: gỗ lim, lát, dổi, chất lượng gỗ rất tốt, được coi là vật liệu có tính cơ lý cao và có độ bền. Tuy nhiên sau nhiều năm dưới sự tác động của môi trường khắc nghiệt thì sự xâm thực của côn trùng là không tránh khỏi. Những tác động xâm thực của môi trường và sinh học đó gây cho gỗ bị rỗng, thủng phần trong, làm giảm khả năng chịu lực. Các loại sản phẩm đất nung bao gồm: gạch xây, gốm có men hoặc không men, ngói các loại, gạch lát, gạch trang trí các loại, vôi vữa, xi măng, các vật liệu bằng đá tự nhiên, dùng để xây máng, lát nền, xây tường, lan can, trang trí; các vật liệu bằng kim loại như: Đồng, sắt, nhôm… Các vật liệu bằng sứ, kính; các vật liệu có nguồn gốc thực vật và khoáng chất để trang trí như bột màu, nhựa thông… Các loại vật liệu trên đều bị lão hóa, biến chất dưới tác động của môi trường tự nhiên. Sự thoái hóa này ngày càng xảy ra nhanh và mạnh hơn nếu vật liệu xuống cấp, trực tiếp tiếp xúc với thiên nhiên: gạch ngói bị rêu mốc, mùn mục, mất men, bào mòn; kim loại bị han gỉ, gẫy; sơn bị bong tróc, mất màu, tường vôi bị bục rữa.

Quá trình bị huỷ hoại của vật liệu dưới sự tác động của tự nhiên là nguyên nhân chính, ngoài ra còn do ý thức giữ gìn bảo quản và điều kiện khách quan tác động hạn chế việc tôn tạo, bổ sung dẫn đến sự xuống cấp của công trình. Việc nghiên cứu để phòng chống, giảm thiểu ảnh hưởng của thiên nhiên cần được tính đến trong biện pháp trùng tu, bảo tồn, nhằm nâng cao chất lượng tuổi thọ của toàn bộ di tích và từng công trình.

Các yếu tố xã hội

Tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội ở khu vực Đá Chông tương đối ổn định; nhân dân đa số là thuần nông, trung thành với cách mạng, có trách nhiệm đối với việc bảo vệ Khu di tích. Đó là điều kiện thuận lợi rất lớn trong việc phối hợp bảo vệ, bảo tồn, tôn tạo và phát huy ý nghĩa chính trị, văn hóa, lịch sử của Khu di tích.

Bên cạnh đó còn có những mặt trái đã tác động đó là: Đời sống kinh tế gặp nhiều khó khăn và ý thức trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn Khu di tích chưa cao, do vậy một số người dân chấp hành không nghiêm quy định bảo vệ và giữ gìn Khu di tích (vào khu vực Đá Chông chăn thả trâu bò, chặt cành lấy củi…). Những năm gần đây, ở khu vực Đá Chông cũng đã xuất hiện một số tệ nạn xã hội. Điều này đã ảnh hưởng đến việc bảo vệ an toàn tuyệt đối Khu di tích, phòng chống cháy rừng và giữ gìn trật tự an ninh địa bàn đóng quân của đơn vị.

2. Những hiện vật tại Khu di tích Đá Chông

– Những hiện vật gắn liền với thời kỳ Bác Hồ và Trung ương làm việc tại Đá Chông

Ngôi nhà 2 tầng

Ngôi nhà 2 tầng được thiết kế xây dựng trên một quả đồi cao ở Khu A, phỏng theo kiểu nhà sàn. Nhà này do Cục Doanh trại – Tổng cục Hậu cần thiết kế và thi công. Ngôi nhà được xây vào năm 1959, khánh thành ngày 15 tháng 3 năm 1960 và vẫn thường được gọi với tên quen thuộc là ngôi nhà sàn.

Ngôi nhà 2 tầng được xây dựng theo hình chữ L, bằng gạch, trát vữa và quét ve màu xanh nhạt, với diện tích là 275 m2.

Tầng một của ngôi nhà được bố trí làm phòng họp, trang thiết bị gồm bàn, ghế, quạt trần. Hệ thống cửa được đẩy ra, vào trên ray, bệ cửa dùng làm ghế ngồi khi cần thiết. Tại ngôi nhà này, Bác đã tiếp khách quốc tế và tổ chức họp bàn những vấn đề quan trọng của đất nước.

Tầng hai gồm 4 phòng: Phòng Bác nghỉ, phòng họp nhỏ và 2 phòng khách. Phòng Bác nghỉ được đặt những đồ dùng đơn giản, quen thuộc. Chiếc đệm cỏ của đồng bào Sơn La tặng Bác; chiếc đèn bàn, tấm thảm len là quà tặng của Trung Quốc. Hai phòng khách được bố trí ngay chính diện ngôi nhà với tiện nghi và đồ dùng giống nhau.

Phía Tây ngôi nhà có căn hầm trú ẩn được xây dựng cùng lúc với xây dựng ngôi nhà 2 tầng. Hầm được đào sâu xuống lòng đất, đề phòng máy bay địch ném bom xuống khu vực.

Ngôi nhà phục vụ

Phía sau ngôi nhà 2 tầng là nhà phục vụ số 1 và số 2. Mỗi nhà có 4 gian, dùng để bố trí nơi nghỉ của bộ phận phục vụ; nhà kho; bếp, phòng ăn và phòng tắm.

Con đường bậc thang chạy từ chân đồi lên ngôi nhà 2 tầng

Con đường này có 81 bậc, được xây bằng gạch. Từng bậc và chiếu nghỉ được rải sỏi cuội. Hai bên đường trồng 2 hàng râm bụt, hiện nay còn một số cây râm bụt được trồng từ những năm đầu.

Vườn cây quanh nhà 2 tầng

Trước sân ngôi nhà 2 tầng trồng 2 cây vải, xung quanh gốc vải bây giờ đã xây lại. Những khi tiếp khách ở đây, buổi trưa Bác kê một chiếc ghế mây và nằm nghỉ bên gốc cây vải bên trái.

Phía trước ngôi nhà, có một khu vườn, Bác cho trồng nhiều loại hoa như: hoa ngâu, nhài, địa lan. Khu vườn này những năm gần đây, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước khi đến thăm Khu di tích đã trồng cây lưu niệm.

Đầu hồi ngôi nhà, Bác cho cải tạo thành 2 vườn nhỏ. Một bên vườn trồng quế, một bên trồng cây ăn quả. Xung quanh Bác cho trồng các cây bưởi, vải. Góc vườn trồng cây ngọc lan.

Hòn non bộ

Mỏm đá tự nhiên nằm chính giữa ngôi nhà 2 tầng. Khi xây dựng nhà, Bác cho xây quây lại, đưa nước vào tạo thành hòn non bộ trang trí cho ngôi nhà, vườn cây và cả khu vực. Những lần tiếp khách tại đây, Bác đều giới thiệu và chụp ảnh với các vị khách quốc tế bên hòn non bộ.

Các mỏm Đá Chông

Từ ngôi nhà 2 tầng xuôi sườn đồi về phía Sông Đà, có 3 mỏm đá chông cụm lại hình tượng như 3 đỉnh núi Ba Vì thu nhỏ. Phía dưới 3 mỏm Đá Chông là những phiến đá to, phẳng. Đây chính là nơi Bác và các đồng chí cùng đi đã ngồi nghỉ, ăn cơm và quyết định lựa chọn Đá Chông làm nơi nghỉ và làm việc của Bác và Trung ương.

Ngôi nhà khách

Ngôi nhà mái ngói 2 tầng là nơi dành cho các đồng chí trong Bộ Chính trị và Trung ương Đảng lên làm việc và nghỉ ngơi. Phía sau ngôi nhà có căn hầm đặt tổng đài điện thoại của Cục Bưu điện Trung ương phục vụ Bác và Trung ương làm việc tại đây.

Sân bay trực thăng

Bãi đất bằng phẳng ngay sát chân đỉnh U Rồng được xây dựng làm sân bay trực thăng. Bác đã đi máy bay trực thăng lên Đá Chông 2 lần (một lần lên khánh thành ngôi nhà 2 tầng và một lần đi cùng với Anh hùng vũ trụ Liên Xô G.M Ti – tốp). Những năm giữ gìn thi hài Bác tại Đá Chông, nhiều lần các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng Tham mưu đã đi máy bay trực thăng lên kiểm tra tình hình khu vực.

– Những hiện vật gắn liền với thời kỳ giữ gìn thi hài Bác tại Đá Chông

Nhà kính và công trình giữ gìn thi hài Bác trong những năm chiến tranh.

Nhà kính và công trình giữ gìn thi hài Bác được cải tạo, thi công vào cuối năm 1969m, ngay sau khi Bộ Chính trị quyết định giữ gìn thi hài Bác tại K9.

Nhà kính gồm 2 tầng với tổng diện tích là 628 m2. Tầng 1 gồm phòng họp, phòng khách và bếp. Tầng 2 có 3 phòng: Phòng sinh hoạt chung và 2 phòng ở của chuyên gia y tế Liên Xô.

Công trình giữ gìn thi hài Bác được xây ốp gạch men trắng, có hệ thống điều hoà thông gió và phòng làm thuốc đặc biệt. Trong phòng đặt hòm kính (do Xưởng 49, Bộ Tư lệnh Công binh thi công). Ngoài phần nổi còn phần ngầm của công trình.

Những chiếc xe tham gia di chuyển thi hài Bác

Xe UAZ cứu thương biển số FH-1468 tham gia di chuyển thi hài Bác từ những buổi đầu. Ngày 2 tháng 9 năm 1969, chiếc xe này do đồng chí Nguyễn Văn Hợp lái đã đưa thi hài Bác từ ngôi nhà 67 – cạnh nhà sàn của Bác trong Phủ Chủ tịch về Công trình 75A trong Quân y viện 108. Sau đó lại tiếp tục đưa thi hài Bác từ công trình 75A về công trình 75B (Hội trường Ba Đình) để phục vụ Lễ Quốc tang. Tháng 5 năm 2007, bệnh viện Trung ương Quân đội đã thống nhất giao xe cứu thương cho Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh làm hiện vật tại Khu di tích Đá Chông.

Xe Zin 157 biển số 470-189 được Tổng cục Kỹ thuật cải tiến máy, bệ gầm, bộ nhíp đáp ứng yêu cầu kỹ thuật khi di chuyển. Trong 6 năm chiến tranh, chiếc xe này đã trực tiếp di chuyển thi hài Bác từ Hà Nội lên K84 cũng như từ K84 về Hà Nội.

Xe Páp lội nước, biển số 31-162 đã đưa thi hài Bác vượt sông an toàn, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ di chuyển thi hài Bác trong những năm chiến tranh.

– Những hiện vật được tôn tạo, xây dựng từ sau năm 1975 đến nay

Nơi tưởng niệm Bác và cầu thang sắt tại ngôi nhà 2 tầng

Thể theo nguyện vọng của cán bộ, nhân dân khi tới thăm quan Khu di tích, ngày 17 tháng 4 năm 1995 (tức ngày 18 tháng 3 năm Ất Hợi), đơn vị đã lập bàn thờ Bác tại ngôi nhà Người đã sống và làm việc. Hai năm sau, ngày 8 tháng 5 năm 1997, đơn vị đã đúc pho tượng bằng đồng và tôn tạo nơi tưởng niệm Bác tại ngôi nhà này.

Năm 1997, để phục vụ cán bộ, nhân dân tham quan tầng 2 của ngôi nhà được thuận lợi, đơn vị đã xây dựng cầu thang sắt ở phía sau ngôi nhà. Khi khách tham quan xong, sẽ theo cầu thang này đi xuống.

Các mỏm Đá Chông

Khu vực 3 mỏm Đá Chông chính là địa điểm mà ngày 23 tháng 2 năm 1958, Bác Hồ và Đoàn cán bộ lên kiểm tra khu vực Đá Chông đã nghỉ trưa ăn cơm tại đây. Ngay dưới vị trí 3 mỏm Đá Chông có một phiến đá tương đối bằng phẳng, còn lại đường đi đến và quanh khu vực rất dốc. Năm 1996, đơn vị đã tiến hành tôn tạo, xây dựng tường bao quanh để tạo nơi bằng phẳng cho mọi người khi đến tham quan Khu di tích.

Hệ thống đường sá

Năm 1986, đơn vị tiến hành kè hồ Khu B, dải nhựa các con đường trong Khu di tích và xây dựng đường phía Tây ngôi nhà 2 tầng tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người đi tham quan toàn bộ Khu di tích.

Ngôi nhà ngói 2 tầng dành cho Trung ương lên làm việc, nghỉ ngơi

Ngôi nhà này từ năm 2001 đã được cải tạo nội ngoại thất làm các phòng nghỉ phục vụ các đoàn khách đến tham quan tại Khu di tích. Bê phải nhà 2 tầng là bể bơi phục vụ cho nhiệm vụ huấn luyện chiến sĩ mới và là nơi dự trữ nước để phòng chống cháy rừng.

Khu huấn luyện, rèn luyện bộ đội

Phía Đông sân bay trực thăng những năm gần đây đã được xây dựng các công trình phục vụ nhiệm vụ huấn luyện, rèn luyện sức khoẻ cho bộ đội. Công trình gồm 3 ngôi nhà, sân thể thao và bãi vật cản.

Công trình phòng chống cháy rừng

Năm 2006, để đáp ứng yêu cầu phòng chống cháy rừng, đơn vị đã báo cáo và được trên đồng ý cho xây dựng công trình phòng chống cháy rừng tại phía Bắc của Khu di tích. Công trình gồm bể chứa nước, hệ thống đường ống nước và nơi bảo vệ, quan sát, phát hiện phục vụ phòng chống cháy rừng.

3. Kiến trúc công trình và hệ thống kỹ thuật của Khu di tích

Kiến trúc công trình và hệ thống kỹ thuật của Khu di tích gồm nhiều hạng mục khác nhau.

– Công trình kiến trúc của Khu di tích

Các công trình kiến trúc bao gồm: Nền móng, tường, cột, và hệ thống hành lang, kết cấu nền, gạch lát nền; hệ thống mái và các chi tiết trang trí; hệ thống cửa, panô; kết cấu gỗ, thép, trần trang trí; sân vườn, hồ nước, cây cảnh.

Trải qua nhiều năm, các kết cấu vật liệu nói trên đã bị hư hỏng, xuống cấp, dưới sự tác động của thiên nhiên và môi trường. Trong đó, một số hạng mục công trình cần được tiếp tục tôn tạo, hoặc tu sửa lớn.

Hệ thống kết cấu chịu lực của các công trình ở Đá Chông chủ yếu là tường gạch, kiểu thức trang trí rất giản đơn, chủ yếu là phân vị các trụ ốp, gỗ, màu sắc trang trí trên tường là màu xanh, màu vàng, màu đỏ của ngói, màu xanh của cửa, chớp và khung cửa. Cách sử dụng màu đơn giản nhưng màu sắc tổng thể ở di tích rất hài hoà với cảnh quan, môi trường. Ngôi nhà 2 tầng, phòng nghỉ của Bác, nơi họp của các đồng chí Trung ương, nơi đón tiếp khách… được thiết kế phỏng theo nhà sàn ở Phủ chủ tịch. Khu nhà kính và nhà dành cho các đồng chí Trung ương lên làm việc tại Đá Chông cũng được xây dựng từ kiểu dáng, đến chất liệu hài hòa với khung cảnh, địa hình.

– Hệ thống kỹ thuật của Khu di tích

Tình trạng kỹ thuật của các công trình chính trong Khu di tích Đá Chông được đánh giá theo các khu: Khu A bao gồm ngôi nhà sàn Bác và Trung ương làm việc, nhà bộ phận phục vụ, nhà ở của chuyên gia Liên Xô và nơi giữ gìn thi hài Bác trong những năm chiến tranh; nhà ở của lực lượng bảo vệ; hệ thống hầm trú ẩn và sân bay. Khu B, C và D là nơi ở của Đoàn 285 mới được xây dựng từ sau năm 1975. Có thể khái quát như sau:

+ Hệ thống thoát nước

Địa hình ở đây là khu vực đồi cao cho nên hệ thống thoát nước chủ yếu dựa vào tự nhiên (không gây úng ngập), các hướng thoát nước đều chảy xuống ruộng, ao hồ. Trước đây hệ thống thoát nước chỉ có các hố ga, mương thoát nước chủ yếu được xếp bằng đá, năm 1996 mới được xây dựng thành hệ thống thoát nước kiên cố.

Hệ thống điện chiếu sáng

Hệ thống chiếu sáng ngoài trời: Do yêu cầu tính đặc thù của di tích cho nên hệ thống chiếu sáng ở đây đơn giản, cũ, khả năng chiếu sáng thấp (trước năm 1970 phải dùng máy phát điện; sau năm 1970 mới có điện lưới; năm 1990 mới làm hệ thống dây trần cột dẫn từ trạm biến áp đi các khu). Hệ thống chiếu sáng trước kia bóng đèn chủ yếu là sợi đốt tròn, công suất từ 60w đến 110w, có chao sắt che phía trên, về sau (kể từ khi tổ chức các hoạt động tham quan học tập) bổ sung thêm hệ thống đèn chiếu sáng – đèn nấm ngoài trời khá đẹp và tốt.

Hệ thống chiếu sáng trong nhà: Nguồn cấp điện lấy từ điện lưới sinh hoạt tiêu dùng được kéo vào tủ điện tổng của Đoàn 285, phân ra từng khu bằng các đường dây con, được cải tạo lắp đặt thiết bị bảo vệ (Aptomat). Các phụ tải trong nhà không được phân pha đều trong quá trình cải tạo, sửa chữa. Hệ thống dây dẫn trong các nhà dẫn đến các thiết bị phụ tải (đài, quạt, ổ cắm, máy điều hòa) luồn qua ống ghen đặt nối và được đi ngầm trên trần, tường…

Chiếu sáng nhà sàn, nhà kính chủ yếu là đèn neon. Đèn tròn sợi đốt (có chao) được bố trí xen kẽ chủ yếu ở Phòng khách số 1, 2; sân, vườn trong sảnh và hành lang. Các đèn này được gắn trên tường và trần nhà.

4. Thực trạng công tác bảo tồn, tôn tạo, trưng bày các hiện vật, di tích

– Công tác thống kê

Việc thống kê các hiện vật của di tích đã được đặt ra từ nhiều năm nay. Khi thực hiện đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu bảo tồn, tôn tạo phát huy tác dụng Khu di tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông”, nhóm nghiên cứu đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị có liên quan nhằm xác minh chuẩn xác các sự kiện lịch sử diễn ra tại Khu di tích. Trên cơ sở đó, trực tiếp cùng Đoàn 285 tiến hành thống kê các hiện vật, thiết lập mẫu quản lý để nắm chắc hồ sơ, lý lịch hiện vật của Khu di tích. Qua thống kê hiện có: 05 ngôi nhà; 01 công trình đặc biệt; 02 hầm trú ẩn; 01 sân bay trực thăng; 03 xe ô tô; ngoài ra còn hàng trăm hiện vật liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng trong Khu di tích.

– Thực trạng trưng bày, bảo quản, tôn tạo

– Trưng bày các hiện vật

Những năm qua Khu di tích Đá Chông đã chú trọng đến công tác trưng bày các hiện vật, có tổ chức, có chọn lọc, phù hợp với nội dung tuyên truyền, giúp người xem nhận thức được một cách khoa học về lịch sử, tự nhiên và xã hội, giúp họ hình dung được những sự kiện lịch sử tại Đá Chông. Điểm nổi bật ở đây là đã kết hợp chặt chẽ giữa nội dung tuyên truyền và giải pháp mỹ thuật với việc tận dụng cảnh quan môi trường, các trang thiết bị kỹ thuật, tài liệu… (mỹ thuật, không gian văn hoá tại thực địa cơ bản còn nguyên hiện trạng) cung cấp được nhiều lượng thông tin từ các hiện vật ở di tích.

Hầu hết khách đến tham quan Khu di tích Đá Chông và các nhà chuyên môn đều có chung ý kiến: Trưng bày ở Đá Chông vừa mang tính hiện thực, vừa mang tính khoa học và nghệ thuật. Cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ công tác tại Khu di tích Đá Chông đã có quá trình lao động nghiêm túc, kỷ luật với lòng tôn kính và biết ơn Bác vô hạn, có am hiểu nhất định về bảo quản di tích và những vấn đề có liên quan khác. Đồng thời am hiểu về lịch sử và nghệ thuật trưng bày. Khi tổ chức trưng bày các hiện vật, đã gắn với các sự kiện, thời gian, các giai đoạn lịch sử. Từ hiện vật tĩnh (nhà cửa, đồ dùng…) đến hiện vật sinh hoạt đời thường như: bát đĩa, vỏ chăn hoa, gối bông, ga trải giường, chăn len, thảm Trung Quốc, khăn lót gối ở phòng ngủ và làm việc của Bác Hồ…; hiện vật liên quan đến nhiều người như: chậu hoa rửa mặt của Trung Quốc, phích đựng nước đá loại 5 lít, sọt đựng rác, gạt tàn thuốc lá… Các hiện vật dùng cho cá nhân như: súng săn của cố Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tặng, giá khăn mặt, ấm chén; các hiện vật liên quan đến công tác bảo vệ giữ gìn thi hài Bác như xe Páp, xe Zin ba cầu 157, xe cứu thương… tất cả các hiện vật đó đã được trưng bày và bố trí sắp xếp khoa học, bảo đảm tính thẩm mỹ, tính lịch sử và hiện thực, giúp người tham quan hình dung được quá trình lịch sử diễn biến Khu di tích Đá Chông.

+ Bảo quản tu sửa, tôn tạo các di tích hiện vật

Hàng năm Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngừng nghiên cứu ban hành và bổ sung những quy định về việc bảo vệ, tôn tạo, phát huy giá trị văn hoá chính trị Khu di tích Đá Chông. Năm 1992 Huyện uỷ Ba Vì đã có Nghị quyết số 21 về việc phối kết hợp các lực lượng của Huyện Ba Vì với Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt là 3 xã Minh Quang, Ba Trại, Thuần Mỹ với Đoàn 285 trong việc bảo vệ, giữ gìn, tôn tạo và phát huy tác dụng Khu di tích Đá Chông. Cùng với các hoạt động phối hợp thường xuyên của Đoàn 285, vào dịp 22 tháng 12 hàng năm Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và chính quyền, đoàn thể Huyện Ba Vì – Hà Tây tổ chức hội nghị đoàn kết quân dân, đánh giá những mặt mạnh, yếu, bàn, đề xuất chủ trương, biện pháp thiết thực hữu hiệu để bảo vệ và phát huy giá trị Khu di tích Đá Chông, góp phần bảo vệ tuyên truyền tư tưởng Hồ Chí Minh.

Bảo quản tu sửa, tôn tạo các di tích, hiện vật.

Từ những năm 1990, Nhà nước, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đầu tư đáng kể cho việc tu bổ, tôn tạo và xây dựng mới một số hạng mục công trình. Năm 1994 trùng tu ngôi nhà 2 tầng (nhà sàn): đảo lại ngói, sơn lại tường, cửa. Ngày 17 tháng 4 năm 1994 đặt bàn thờ, phục vụ khách tham quan dâng hương tưởng niệm Bác; làm bổ sung cầu thang sắt sau ngôi nhà phục vụ khách tham quan đi lại thuận lợi; tu sửa lại căn hầm trú ẩn, bể nước và hòn non bộ; quy hoạch lại và trồng bổ sung vườn cây phía trước và bên trái nhà 2 tầng. Năm 1996 tôn tạo lại khu vực các mỏm Đá Chông – nơi Bác Hồ và các đồng chí trong đoàn nghỉ ăn cơm trưa ngày 23 tháng 2 năm 1958. Những năm tiếp theo, xây dựng nhà xe và trưng bày các xe PAP, xe ZIN 157 và xe cứu thương gắn liền với việc di chuyển thi hài Bác trong những năm chiến tranh ác liệt. Khu nhà nghỉ dành cho các đồng chí Trung ương khi lên làm việc, căn hầm đặt tổng đài điện thoại của Cục Bưu điện Trung ương phục vụ Bác Hồ và các đồng chí Trung ương làm việc tại K9 cũng được tu bổ, tôn tạo khang trang. Cạnh sân bay trực thăng là khu huấn luyện, thể thao, công trình cứu hoả được đầu tư xây dựng cơ bản, vững chắc, đáp ứng yêu cầu huấn luyện, rèn luyện sức khoẻ bộ đội và phòng chống cháy rừng. Hệ thống đường sá ở Khu di tích cũng được cải tạo nâng cấp từ mặt đường cấp phối, nay đã được rải nhựa, bê tông. Đoạn đường vào Khu A, Khu B hai bên trồng những hàng cây chò thẳng tắp làm tôn vẻ đẹp của con đường và Khu di tích. Nhìn chung, các đợt tu bổ, tôn tạo đều theo đúng nguyên tắc tu sửa di tích, cố gắng giữ được cơ bản hiện trạng ban đầu.

bqllang.gov.vn

Khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông – Phần thứ hai: B

Thực trạng công tác bảo tồn, tôn tạo và tổ chức hoạt động giáo dục, tuyên truyền khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông (tiếp theo)

oOo

II. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC, TUYÊN TRUYỀN TẠI KHU DI TÍCH

1. Nội dung, hình thức giáo dục tuyên truyền

– Nội dung

Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông là một di tích lịch sử văn hóa đặc biệt. Nội dung giáo dục, tuyên truyền tập trung làm rõ về ý nghĩa lịch sử di tích, hoạt động của Bác và Trung ương tại Khu di tích, những năm tháng giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chiến tranh ác liệt. Để thực hiện tốt yêu cầu trên, ngay từ khi được trên đồng ý để cán bộ và nhân dân đến tham quan Khu di tích, Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh dã chỉ đạo cơ quan ban hành nội dung giới thiệu Khu di tích. Đây là tài liệu làm cơ sở cho lãnh đạo, chỉ huy đơn vị và cán bộ, nhân viên làm công tác đón tiếp, tuyên truyền sử dụng làm nội dung giới thiệu về Khu di tích. Tháng 12 năm 2007, quá trình nghiên cứu, nhóm đề tài đã tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh nội dung giới thiệu lần thứ hai. Hiện tại nội dung giới thiệu gồm 5 phần chính:

Phần một, “Vài nét về địa danh Đá Chông – Ba Vì – Hà Tây”;
Phần hai, “Bác Hồ với Khu di tích Đá Chông”;
Phần ba, “Những hiện vật gắn liền với hoạt động của Bác tại Đá Chông”;
Phần bốn, “Nơi giữ gìn thi hài Bác trong những năm chiến tranh”;
Phần năm, “Di tích lịch sử – nơi giáo dục truyền thống”.

Qua điều tra 1.300 người (tỷ lệ 90%) đến tham quan Khu di tích, có 1.170 người cho là nội dung giới thiệu tốt, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của khách đến với Khu di tích.

Tham quan di tích giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Thông qua các sự kiện, hiện vật ở Khu di tích để tuyên truyền, giáo dục cán bộ, nhân dân về tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và sự nghiệp giữ gìn lâu dài thi hài Bác. Tổ chức tham quan là công tác giáo dục khoa học. Đến với di tích khách tham quan sẽ được cảm nhận cái đẹp, cái hay một cách trực tiếp – các giác quan chủ yếu là mắt và tai. Người thuyết minh sẽ giảng giải cho họ một cách sinh động rõ ràng. Người xem sẽ tận mắt nhìn thấy và họ sẽ cảm thụ một cách tích cực.

Hướng dẫn khách tham quan tại Khu di tích Đá Chông được tiến hành theo đề cương giới thiệu Khu di tích. Khách tham quan bao gồm nhiều đối tượng khác nhau, nhu cầu ở mức độ khác nhau nên các cơ quan chức năng và Đoàn 285 đã chủ động xây dựng đề cương tuyên truyền phù hợp với từng đối tượng. Song điểm đặc thù của khách đến với Khu di tích Đá Chông đó là lòng kính trọng và sự ham hiểu biết về thân thế, sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh nên nhu cầu nghe giới thiệu chi tiết, tỉ mỉ khá phổ biến.

Hiện nay hoạt động tham quan tại Khu di tích Đá Chông được chia làm hai loại: Tham quan toàn diện và tham quan theo chủ đề. Song cơ bản các đoàn tham quan theo hình thức toàn diện là phổ biến. Cụ thể là khách tham quan được nghe giới thiệu khái quát toàn bộ nội dung di tích: Từ lịch sử hình thành di tích Đá Chông rồi lần lượt tới những giá trị cơ bản của Khu di tích toát lên thông qua các hiện vật (tức là trình bày mối liên quan, quá trình tồn tại và hiện diện của hiện vật đến ngày nay). Bên cạnh hình thức tham quan toàn diện, đội ngũ cán bộ tuyên truyền ở Khu di tích Đá Chông còn tổ chức hướng dẫn tham quan theo chủ đề (tuỳ theo đối tượng và nhu cầu của khách tham quan).

Số lượng khách đến tham quan cũng thay đổi theo từng quý. Hàng năm khách tham quan tập trung vào các tháng 3, 4, 5, 8, 9. Đây là thời gian có nhiều lễ hội (đầu xuân), có những ngày kỷ niệm lịch sử về Bác (ngày sinh, ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh).

Đối tượng khách đến tham quan cũng đa dạng, nhưng hiện nay Khu di tích mới đón tiếp chủ yếu các đoàn đi tham quan tập thể, với đối tượng chủ yếu là cán bộ, bộ đội, thanh niên, cựu chiến binh và hầu hết ở các địa phương miền Bắc (chiếm tỷ lệ hơn 70% khách tham quan). Kể từ năm 1995 đến tháng 6 năm 2007, đã đón tiếp được hơn 400.000 lượt người đến tham quan, học tập tại Khu di tích.

Đặc biệt, do tính chất đặc thù của Khu di tích , hàng năm Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vinh dự được đón tiếp các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành, các đoàn thể ở Trung ương và địa phương đến tham quan Khu di tích. Vào những dịp họp Quốc hội, hội nghị Trung ương Đảng, Đại hội Đảng toàn quốc, nhiều đồng chí uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đại biểu Quốc hội đã đến thăm Khu di tích.

Ngày 07 tháng 01 năm 1998, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm Khu di tích, trồng cây lưu niệm và ghi sổ cảm tưởng:

“Hôm nay, ngày 7 tháng 01 năm 1998, lên thăm lại Khu di tích K9, cũng thường gọi là khu Đá Chông, nhìn lên bức tượng khá giống Bác, ngồi lại tại cái bàn trước đây Bác đã họp cùng các anh trong Bộ Chính trị, càng nhớ Bác vô cùng, cảm thấy như ngày nào lên đây làm việc với Bác.

Rõ ràng là Bác sống mãi với non sông,đất nước, với các thế hệ; Bác vẫn lãnh đạo quân và dân ta, dưới ngọn cờ của Bác và của Đảng, thắng lợi tới đỉnh cao mới, thực hiện lý tưởng, cũng là mong muốn tốt bậc của Bác, đưa đất nước ta đến độc lập và thống nhất, tiến lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.

Ngày xuân, càng nhớ Bác kính yêu”.
TB: Nhìn Sông Đà, càng nhớ Bác.
Nơi đây thật là sơn thuỷ hữu tình.

Ngày 16 tháng 5 năm 2001, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh đến thăm Khu di tích, dự lễ gắn biển nơi giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và trồng cây lưu niệm. Tổng Bí thư đã ghi sổ cảm tưởng:

“Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 111 Ngày sinh của Bác Hồ muôn vàn kính yêu, tôi vô cùng xúc động được đến thăm Khu di tích Đá Chông, một trong những nơi Bác Hồ đã làm việc và yên nghỉ, xin được thắp nén hương thơm tưởng niệm Bác.

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta nguyện mãi mãi đi theo con đường mà Đảng, Bác Hồ đã lựa chọn, đoàn kết một lòng, quyết tâm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh, đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, vững bước vào thế kỷ XXI thoả lòng mong ước của Người.

Tôi cảm ơn toàn thể cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Công binh, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã và đang làm hết sức mình xây dựng, gìn giữ, tôn tạo di sản vô cùng quý giá này cho hôm nay và mãi mãi mai sau”.

Ngoài hình thức tham quan, nghe giới thiệu về Khu di tích là chủ yếu, những năm gần đây, một số hình thức khác cũng được tiến hành và có hiệu quả tốt như: Sinh hoạt chính trị; lễ báo công với Bác; kết hợp tham quan học tập, giao lưu văn nghệ, thể thao… Tất cả những hình thức hoạt động đó đã tạo ra sự hấp dẫn, phong phú của Khu di tích.

2. Quy trình tổ chức hoạt động

Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và quản lý Khu căn cứ dự phòng kết hợp với tổ chức tham quan, học tập, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng đã thống nhất quy trình tổ chức hoạt động giáo dục, tuyên truyền tại Khu di tích Đá Chông như sau:

– Tất cả các đối tượng khách vào Khu di tích phải được sự đồng ý bằng văn bản của Thủ trưởng Bộ Tư lệnh. Cơ quan Văn phòng giúp Bộ Tư lệnh đăng ký và cấp giấy vào Khu di tích cho các tập thể, cá nhân sau khi đã được Bộ Tư lệnh phê duyệt. Đoàn 285 có nhiệm vụ tổ chức đón tiếp, hướng dẫn các đoàn vào tham quan học tập.

– Các đoàn khách của tỉnh Hà Tây, Thành phố Sơn Tây, huyện Ba Vì, các xã và các cơ quan liền kề với đơn vị, Bộ Tư lệnh uỷ quyền cho Thủ trưởng Đoàn 285 đón tiếp, hàng ngày tổng hợp tình hình đón tiếp báo cáo Bộ Tư lệnh (qua Trực chiến Bộ Tư lệnh).

– Để tránh phiền hà cho các đoàn đi tập thể có nguyện vọng vào tham quan Khu di tích nhưng chưa được Bộ Tư lệnh cấp giấy vào tham quan, khi đến cổng Khu di tích, Bộ Tư lệnh uỷ quyền Thủ trưởng Đoàn 285 kiểm tra, nếu đủ điều kiện (đi tập thể, có người phụ trách, hoặc có giấy giới thiệu của cơ quan, đơn vị vào tham quan) thì tổ chức cho các đoàn vào Khu di tích.

Tóm lại, mặc dù yêu cầu bảo vệ tuyệt đối an toàn Khu dự phòng cho công trình Lăng, nhưng để tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ và nhân dân vào tham quan Khu di tích. Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng đã có những quy định phù hợp, vừa thuận tiện cho nhân dân, vừa chấp hành tốt quy định bảo vệ (hiện nay chưa cho phép người nước ngoài vào tham quan Khu di tích).

– Về các tuyến tham quan: Để phát huy tác dụng công tác đón tiếp tuyên truyền tại Khu di tích Đá Chông, đơn vị đã hình thành phân tuyến, các điểm tham quan hợp lý theo vòng khép kín. Khách đến tham quan thông thường bắt đầu tập kết từ bãi để xe ô tô lên thẳng nhà sàn, sau đó tham quan khu vực Đá Chông, vòng phía sau nhà sàn tham quan khu vực nhà xe (tham quan xe Zin, xe Páp và xe cứu thương dùng để di chuyển thi hài Bác trong chiến tranh), sau đó tiếp tục tham quan khu vực các hiện vật trưng bày tại ngôi nhà ngang; tiếp đó tham quan nhà kính (nơi giữ gìn thi hài Bác) rồi theo đường xuống khu vực hồ nước trở ra. Tham quan theo tuyến trình tự các điểm như vậy vừa phù hợp với yêu cầu của khách cũng như trình độ, nhu cầu của từng đối tượng, bảo đảm tính khoa học, lôgíc tiết kiệm được thời gian, tiện cho quá trình phục vụ nhưng lại vừa đảm bảo trật tự.

bqllang.gov.vn

Khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông – Phần thứ hai: C

Thực trạng công tác bảo tồn, tôn tạo và tổ chức hoạt động giáo dục, tuyên truyền khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông (tiếp theo)

oOo

III. NHỮNG HẠN CHẾ, NGUYÊN NHÂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

1. Những mặt hạn chế

Những kết quả nổi bậy như đã nêu ở trên là cơ bản, nhưng thực trạng công tác bảo tồn, tôn tạo hiện vật của di tích và hoạt động giáo dục, tuyên truyền phát huy ý nghĩa chính trị, lịch sử – văn hoá của Khu di tích trong thời gian qua còn một số hạn chế sau đây:

Công tác sưu tầm tư liệu, bảo tồn, tôn tạo hiện vật của di tích chưa được chú trọng quan tâm thường xuyên

Hệ thống tư liệu, hiện vật của di tích trải qua 50 năm, là những tài liệu có giá trị to lớn về chính trị, lịch sử và văn hoá. Song thực trạng công tác sưu tầm, bổ sung tư liệu, bảo quản giữ gìn hiện vật ở Khu di tích Đá Công trong thời gian qua còn nhiều bất cập, cụ thể là:

+ Công tác đánh giá, quy hoạch hệ thống tư liệu, hiện vật di tích với tư cách là ngành khoa học bảo tồn, bảo tàng chưa được đặt ra. Thực chất mới thực hiện việc quản lý, kiểm kê, kiểm nghiệm hàng năm.

+ Việc lập hồ sơ, lý lịch các hiện vật của Khu di tích tuy đã có nhưng còn thiếu và chưa đồng bộ.

+ Công tác sư tầm, bổ sung tư liệu, hiện vật liên quan đến Khu di tích, nhất là thời kỳ Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí Trung ương sống, làm việc tại Khu di tích còn hạn chế.

+ Công tác bảo tồn, tôn tạo di tích chưa phát huy được nghiên cứu tổng thể và chưa có quy hoạch được cấp trên có thẩm quyền quyết định.

– Công tác giáo dục, tuyên truyền phát huy ý nghĩa chính trị, lịch sử – văn hoá của Khu di tích chưa tương xứng với vị trí, ý nghiã của một di tích đặc biệt.

Công tác đón tiếp, tuyên truyền, phục vụ cán bộ và nhân dân đến thăm quan học tập và tổ chức sinh hoạt chính trị tại Khu di tích được tiến hành hơn 10 năm trở lại đây, do đó nhiều nội dung còn thiếu, cần được bổ sung, hoàn thiện, như:

+ Trước hết là những quy định, quy chế bảo đảm cho công tác đón tiếp, tuyên truyền, vừa không ảnh hưởng tới nhiệm vụ chính trị, vừa phục vụ nhân dân tận tình chu đáo; đồng thời đấu tranh phê phán đối với hoạt động me tín, di đoan, lợi dụng Khu di tích về Bác để tuyên truyền xuyên tạc.

+ Công tác tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng về ý nghĩa của Khu di tích chưa được nhiều. Hầu hết cán bộ và nhân dân đến tham quan Khu di tích đều thông qua giới thiệu của những người đã từng đến tham quan (điều tra xã hội học có 71% số người biết đến Khu di tích do bạn bề, người thân giới thiệu; chỉ có 10% biết đến Khu di tích qua sách, báo).

+ Nội dung giới thiệu về Khu di tích tuy đã được bổ sung, chỉnh lý, nhưng cần tiếp tục được hoàn thiện, nhất là những tư liệu lịch sử quý. Mặt khác, đội ngũ cán bộ, nhân viên đón tiếp, tuyên truyền hướng dẫn chưa chuyên nghiệp, do đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả công tác đón tiếp, tuyên truyền. Khi giới thiệu, hướng dẫn, chưa tạo được sự hấp dẫn, tạo cảm xúc lắng đọng cho người nghe.

+ Quy trình tham quan có điểm chưa thật hợp lý (trong khi có đoàn đang dâng hương tưởng niệm Bác ở tầng 1, nhưng trên tầng 2 của ngôi nhà 2 tầng vẫn tổ chức tham quan, giới thiệu cho khách), các dịch vụ văn hoá phẩm tuyên truyền, giới thiệu về Khu di tích còn ít.

+ Một số hiện vật quý liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí Trung ương và những hiện vật trong thời gian gìn giữ thi hài Bác tại Khu di tích chưa được giới thiệu, trưng bày.

– Công tác phối hợp hiệp đồng giữa các cơ quan, đơn vị trong thực hiện nhiệm vụ giáo dục, tuyên truyền phát huy ý nghĩa chính trị, lịch sử – văn hoá của Khu di tích còn hạn chế.

Bộ Tư lệnh đã giao cho Đảng uỷ, Thủ trưởng Đoàn 285 chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ đón tiếp tuyên truyền tại Khu di tích. Đây là một trong những nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, Đoàn 285 cần có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, trực tiếp của Đảng uỷ và Thủ trưởng Bộ Tư lệnh. Đặc biệt là sự phối hợp, hiệp đồng và chỉ đạo của các cơ quan chức năng trong Bộ Tư lệnh. Tuy vậy, thời gian qua, công tác phối hợp hiệp đồng để thực hiện nhiệm vụ giáo dục, tuyên truyền phát huy ý nghĩa của Khu di tích có lúc, có nơi, có thời điểm chưa chặt chẽ. Trong đó có một số nội dung cần được nghiên cứu, bổ sung, cụ thể:

+ Đăng ký các đoàn đến tham quan học tập tại Khu di tích.

+ Nắm yêu cầu, nội dung, hình thức và nhu cầu cụ thể của các đoàn khi vào di tích.

+ Sự phối, kết hợp giữa các cơ quan của Bộ Tư lệnh trong chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá nội dung, hiệu quả công tác giáo dục, tuyên truyền của Đoàn 285.

2. Nguyên nhân hạn chế

– Nguyên nhân khách quan

+ Di tích Đá Chông là một căn cứ của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương, sau này được sử dụng là nơi giữ gìn thi hài Bác do đó được bảo vệ tuyệt đối an toàn và bí mật. Vì vậy, tài liệu liên quan đến quá trình hình thành Khu di tích và tư liệu về hoạt động của Bác và các đồng chí Trung ương không được ghi chép, lưu giữ. Mặt khác, các nhân chứng lịch sử đều tuổi cao, sức yếu, nhiều đồng chí đã mất. Do đó việc xác minh, sưu tầm tài liệu, hiện vật rất khó khăn.

+ Di tích nằm trong vùng khí hậu, thời tiết thuận lợi cho sự xâm hại của nấm, mốc, côn trùng. Môi trường, khí hậu thường xuyên tác động ảnh hưởng đến chất lượng, kiến trúc, thẩm mỹ các hiện vật. Vì vậy việc bảo quản, giữ gìn các hiện vật gặp nhiều khó khăn.

+ Chủ trương đón tiếp cán bộ và nhân dân đến tham quan khu vực mới được triển khai. Nhiều mặt công tác tổ chức, đón tiếp và các hoạt động giáo dục, tuyên truyền chưa được bổ sung đáp ứng được nguyện vọng và tình cảm của cán bộ và nhân dân đến với Khu di tích.

– Nguyên nhân chủ quan

+ Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ Đảng và cán bộ chỉ huy các cấp đối với công tác giáo dục, tuyên truyền phát huy ý nghĩa chính trị, lịch sử – văn hoá của Khu di tích có mặt còn hạn chế.

Nhiệm vụ đón tiếp các đoàn đến tham quan, học tập tại Khu di tích đã được tiến hành đã hơn 10 năm, nhưng đến nay chưa được sơ kết, tổng kết, rút ra những bài học kinh nghiệm để tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác trong quá trình tổ chức thực hiện. Mặt khác, sự quan tâm đầu tư con người, phương tiện phục vụ nhiệm vụ đón tiếp, tuyên truyền chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ.

Việc đầu tư quy hoạch tổng thể Khu di tích, phân vùng phạm vi khu vực di tích và phạm vi yêu cầu nhiệm vụ chính trị của đơn vị chưa được quan tâm đúng mức.

+ Năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, nhân viên, chiến sĩ làm nhiệm vụ đón tiếp, tuyên truyền tại Khu di tích chưa đáp ứng với vị trí, ý nghĩa và tầm quan trọng của Khu di tích.

Tổ chức biên chế chưa lựa chọn được đội ngũ cán bộ, nhân viên phù hợp với nhiệm vụ đón tiếp, tuyên truyền; nhất là đội ngũ hướng dẫn viên. Những năm gần đây đã tuyển chọn một số nhân viên nữ tại địa phương (ở các xã liền kề) vào làm nhiệm vụ trong đơn vị, nhưng chưa được đào tạo nghiệp vụ chuyên môn, nên trình độ, năng lực chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.

Việc bồi dưỡng nâng cao trình độ cho anh chị em làm công tác đón tiếp, tuyên truyền còn ít về thời gian và nghèo nàn về nội dung. Tổ chức tham quan, rút kinh nghiệm hoạt động của các di tích khác trong phạm vi tỉnh Hà Tây và cả nước còn ít, chưa có hiệu quả thiết thực.

+ Duy trì và thực hiện các quy chế, quy định chưa chặt chẽ, nghiêm túc. Chưa chủ động tích cực phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng, với các địa phương trong công tác tuyên truyền, quảng bá về Khu di tích.

Để thực hiện tốt công tác đón tiếp, tuyên truyền tại Khu di tích, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng đã có những quy định, quy trình tổ chức đón tiếp, phục vụ nhân dân. Tuy nhiên trong những năm qua, có thời điểm việc duy trì chưa được chặt chẽ, có lúc lại buông lỏng. Những việc làm đó đã tác động đến suy nghĩ, tình cảm của nhân dân khi đến tham quan Khu di tích. Một số đoàn sau khi tham quan xong đã viết thư kiến nghị hoặc phản ánh tình hình về công tác phục vụ, đón tiếp của cán bộ, nhân viên, chiến sĩ làm nhiệm vụ trong đơn vị.

Trong công tác quảng bá, tuyên truyền về hoạt động Khu di tích chưa thể hiện sự tích cực, chủ động. Nội dung, hình thức tuyên truyền qua sách báo, văn hoá phẩm còn nghèo nàn. Trong suy nghĩ còn lấn cấn, chưa phân biệt rạch ròi tuyên truyền về Khu di tích và yêu cầu nhiệm vụ chính trị, bảo vệ và giữ gìn tuyệt đối an toàn căn cứ dự phòng của công trình Lăng. Chính vì vậy công tác tuyên truyền về Khu di tích còn hạn chế, hiệu quả không cao.

3. Bài học kinh nghiệm

Quá trình trực tiếp quản lý, bảo vệ, giữ gìn, tôn tạo và tổ chức đón tiếp, tuyên truyền về Khu di tích từ những năm 1975 và nhất là giai đoạn 1995 đến nay, có thể rút ra một số kinh nghiệm sau đây:

Một là, thường xuyên bám sát sự chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ; trực tiếp là Đảng uỷ Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng đối với nhiệm vụ bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng Khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông.

Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ trong việc giữ gìn, quản lý, bảo vệ Khu di tích là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đối với nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Tuỳ từng điều kiện, thời gian cụ thể, Trung ương Đảng, Chính phủ có sự chỉ đạo triển khai các hoạt động tại Khu di tích cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng.

Khi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thực hiện công cuộc đổi mới thắng lợi; nhu cầu tình cảm, giáo dục truyền thống được quan tâm, đồng chí Đỗ Mười, Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng Khoá VIII đã trực tiếp chỉ đạo đơn vị tổ chức đón tiếp cán bộ và nhân dân vào thăm quan Khu di tích. Đơn vị đã báo cáo Đảng uỷ Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị. Sau khi có ý kiến chỉ đạo thống nhất từ trên xuống, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng đã ban hành các quy định, quy chế tổ chức phục vụ nhân dân đến tham quan, tưởng niệm Bác tại Khu di tích một cách an toàn, thuận tiện.

Quá trình tổ chức cho các đoàn đến tham quan, tưởng niệm Bác và tổ chức các sinh hoạt chính trị tại Khu di tích đã xuất hiện tư tưởng của một bộ phận cán bộ các ban, ngành và địa phương muốn đưa Khu di tích trở thành một địa điểm du lịch, kinh doanh đơn thuần như các danh lam thắng cảnh khác. Nắm bắt được tư tưởng trên đây, đơn vị đã báo cáo Đảng uỷ Quân sự Trung ương và Chính phủ, trực tiếp là Thủ tướng Phan Văn Khải đã chỉ đạo Bộ Quốc phòng tiếp tục quản lý, giữ gìn, bảo vệ Khu di tích Đá Chông.

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, bài học bám sát sự chỉ đạo của Đảng, trực tiếp là Đảng uỷ Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng luôn luôn có giá trị đối với các thế hệ cán bộ, công nhân viên và chiến sĩ trong đơn vị.

Hai là, nhạy bén phát hiện tình hình, chủ động tham mưu đề xuất kịp thời với Đảng, Chính phủ, Đảng uỷ Quân sự Trung ương và Bộ Quốc Phòng trong việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng của Khu di tích.

Phát huy tác dụng của Khu di tích với nhiệm vụ quản lý, duy tu, bảo dưỡng hệ thống thiết bị, công trình phục vụ là nhiệm vụ chính trị thường xuyên của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng, trực tiếp là Đoàn 285. Tổ chức đón tiếp các đoàn cán bộ và nhân dân tới tham quan, tưởng niệm Bác và sinh hoạt chính trị, giáo dục truyền thống bảo đảm chu đáo, thuận tiện. Song công tác bảo vệ an ninh phải tuyệt đối an toàn. Không được gây phiền hà cho nhân dân.

Bằng những quy định, hướng dẫn cụ thể của đơn vị và nhất là thái độ tận tình, chu đáo của cán bộ, nhân viên và chiến sĩ đối với nhân dân đã để lại ấn tượng tốt đẹp cho mọi người khi về thăm Khu di tích. Hình ảnh bộ đội Cụ Hồ nói chung và hình ảnh người cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ tại Lăng Bác và Khu di tích của Người tiếp tục được toả sáng, tạo được niềm tin và sự yêu mến, kính trọng của nhân dân.

Để đảm bảo bí mật và tuyệt đối an toàn cho công trình, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng đã tham mưu, đề xuất với trên về quy trình tổ chức cho nhân dân vào tham quan Khu di tích.

Mặt khác, quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ, để phát huy thế mạnh về vị trí của Khu di tích, Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng đã báo cáo Nhà nước và Bộ Quốc phòng quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất phục vụ yêu cầu nhiệm vụ chính trị. Những công trình, thiết bị kỹ thuật dự phòng; doanh trại, công trình phục vụ nhiệm vụ huấn luyện chiến sĩ mới, đón tiếp khách và đặc biệt là hệ thống cứu hoả, phòng chống cháy rừng đã được quan tâm và đầu tư xây dựng cơ bản, hiệu quả cao.

Để phát huy thế mạnh về đất đai, đơn vị đã chủ động lập kế hoạch triển khai tăng gia, chăn nuôi, trồng trọt. Những khu rừng mới trồng, vườn cây, vườn rau xanh tốt; đàn bò, đàn lợn và hồ cá… vừa tôn thêm cảnh quan, môi trường quanh Khu di tích, vừa là những sản phẩm trực tiếp đưa vào phục vụ nâng cao đời sống cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ Đoàn 285 và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng.

Với ý nghĩa sâu sắc đó, bài học chủ động tham mưu, đề xuất với trên để thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao, luôn luôn là kinh nghiệm thực tiễn bổ ích cho toàn đơn vị.

Ba là, đoàn kết chặt chẽ với Đảng bộ, chính quyền, nhân dân địa phương và các cơ quan, đơn vị đứng chân trên địa bàn. Tranh thủ sự phối hợp, giúp đỡ của các cán bộ, ban, ngành ở Trung ương và địa phương trong việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng của Khu di tích.

Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây, trực tiếp là các xã Minh Quang, Ba Trại, Thuần Mỹ huyện Ba Vì và các xã Đồng Luận huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ và các cơ quan, đơn vị đứng chân trong địa bàn đã có công lao to lớn cùng với đơn vị bảo vệ, giữ gìn tuyệt đối an toàn Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông. Vì vậy, Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng luôn luôn đặt lên hàng đầu việc xây dựng và duy trì bền vững sự đoàn kết chặt chẽ giữ đơn vị và Đảng bộ, chính quyền, nhân dân địa phương.

Từ năm 1992, huyện Ba Vì và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng đã ban hành quy định phối hợp bảo vệ tuyệt đối an toàn Khu di tích. Hàng năm, nhân dịp kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam – Ngày hội Quốc phòng toàn dân, Bộ Tư lệnh và huyện uỷ, uỷ ban nhân dân huyện Ba Vì, các xã liền kề thường xuyên tổ chức hội nghị đoàn kết quân dân nhằm củng cố, duy trì mối quan hệ gắn bó giữa đơn vị và địa phương nơi đóng quân.

Đối với các bộ, ngành ở Trung ương, ngoài sự chỉ đạo thường xuyên của Đảng uỷ Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng, đơn vị luôn nhận được sự quan tâm về vật chất và tinh thần để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Doanh trại, nơi ở, cơ sở hạ tầng và phương tiện làm việc của đơn vị được cải thiện hơn so với trước. Nhiều tỉnh, thành trong cả nước đã tổ chức các đoàn đến tham quan, trồng cây và tặng vật kỷ niệm phục vụ cho công tác đón tiếp, tuyên truyền tại Khu di tích. Những tình cảm của nhân dân cả nước thực sự là nguồn động viên to lớn đối với cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ trong đơn vị.

Đây cũng là bài học trong công tác phối hợp, hiệp đồng có giá trị thực tiễn đối với lãnh đạo, chỉ huy các cấp của đơn vị.

bqllang.gov.vn

Khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông – Phần thứ ba: A

Giải pháp chủ yếu nhằm bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng khu di tích lịch sử chủ tịch hồ chí minh tại đá chông

oOo

I. TÌNH HÌNH VÀ TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN CỦA KHU DI TÍCH

1. Những thuận lợi cơ bản trong quá trình bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng của Khu di tích

“Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta và nhân dân thế giới. Người đã trải qua một cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ” . Việc bảo tồn, tôn tạo các di tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh để giáo dục truyền thống cho các thế hệ luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm và bạn bè quốc tế ủng hộ.

Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn quan tâm giữ gìn, bảo quản các Khu di tích về Chủ tịch Hồ Chí Minh để giáo dục truyền thống cách mạng cho các tầng lớp nhân dân

Di tích được đánh giá như là tài sản văn hoá của quốc gia, tồn tại mãi mãi theo quá trình phát triển của dân tộc. Vì vậy bảo tồn di tích là một nhu cầu tất yếu. “Một nước mất hết di tích thì không còn có ý nghĩa”; “Giữ di tích để sử dụng chúng trong việc giáo dục tư tưởng, động viên quần chúng thi đua yêu nước, nghiên cứu khoa học, xây dựng nền văn hoá mới”; “Phải coi các di tích lịch sử là tài sản quý của quốc gia. Có những chủ trương và biện pháp có hiệu lực bảo tồn lâu dài các di tích lịch sử và giá trị văn hoá để giáo dục nhân dân về lòng yêu nước và tự hào dân tộc, về truyền thống lịch sử văn hoá, tạo điều kiện cho nhiều thế hệ có thể thưởng thức tiếp thu, nghiên cứu các giá trị văn hoá cổ truyền, tiếp tục sáng tạo ra những giá trị văn hoá mới thể hiện tầm cao của thời đại và chiều sâu của truyền thống vừa dân tộc, vừa hiện đại”.

Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, với tấm lòng thành kính và biết ơn vô hạn, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã tôn tạo, xây dựng nhiều công trình về Người, như: Lăng Bác, các Bảo tàng, Khu di tích và phòng trưng bày Hồ Chí Minh. Theo thống kê của Bảo tàng Hồ Chí Minh, hiện nay có khoảng 663 khu di tích và địa điểm di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh thuộc nhiều tỉnh thành, từ Pắc Bó – Cao Bằng, Sơn Dương – Tuyên Quang, Định Hoá – Thái Nguyên, Hà Nội, Kim Liên – Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Dục Thanh – Phan Thiết, Bến Nhà Rồng – Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra còn hàng ngàn công trình của nhân dân trong cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài đã và đang được xây dựng để tưởng niệm Bác. Những bảo tàng, khu di tích, công trình tưởng niệm Bác sẽ là nơi để tổ chức giáo dục truyền thống: “Làm cho toàn Đảng, toàn dân nhận thức sâu sắc về những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh sâu rộng trong toàn xã hội, đặc biệt trong cán bộ, đảng viên, công chức, đoàn viên, thanh niên, học sinh… nâng cao đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư; đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng”, góp phần xây dựng nền tảng tư tưởng, đạo đức cách mạng, tạo động lực phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước trong giai đoạn mới.

Thực tế tại Lăng Bác, Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, Bảo tàng Hồ Chí Minh và Khu di tích Đá Chông cho thấy số lượng nhân dân trong nước và khách quốc tế đến viếng Người và tổ chức sinh hoạt chính trị, văn hoá ngày càng tăng cao. Thống kê số lượng nhân dân và khách quốc tế đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tham quan khu vực những năm gần đây, năm sau cao hơn năm trước (năm 2000 số lượng hơn 1,8 triệu lượt người, năm 2006 gần 2 triệu lượt người). Sau hơn 32 năm tổ chức lễ viếng, đã có hơn 34 triệu lượt người vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vào dịp kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5) và ngày mất của Người (2/9) hàng năm, số lượng khách đến viếng Bác mỗi buổi rất đông, có buổi lên tới hơn 3,1 vạn người vào Lăng viếng Bác.

– Chủ tịch Hồ Chí Minh là danh nhân văn hoá thế giới, do đó đwocj bầu bạn quốc tế quan tâm và tạo mọi điều kiện cho việc sưu tầm, giữ gìn các hiện vật gắn bó với quá trình hoạt động cách mạng của Người trên toàn thế giới

Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá Liên hợp quốc (UNESCO) đã ra Nghị quyết: “Ghi nhận rằng năm 1990 sẽ được đánh dấu bằng lễ kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị Anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam và là một nhà văn hoá lớn”.

Những nước trước đây Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sống, làm việc và hoạt động đã công bố những tư liệu rất có giá trị để nghiên cứu, sưu tầm về cuộc đời hoạt động của Người. Tại Pháp, Chính phủ đã dặt tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Quảng trường của thành phố Môngtơri. Tại Trung Quốc đặt tượng bia lưu niệm những nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm và vẫn tôn trọng giữ gìn khu lưu niệm nơi ra đời Tổ chức Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội (Quảng Châu – Trung Quốc). Ở Nga, Cu Ba và rất nhiều nước trên thế giới đã đặt tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh nơi trung tâm thủ đô. Đặc biệt tại Thái Lan: “Với mong muốn phát triển quan hệ hai nước, ngưỡng mộ Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chính phủ Thái Lan đã phê duyệt Dự án làng hữu nghị Việt – Thái tại Bản Mạy, nơi Người từng sống và khơi dậy lòng yêu nước của cộng đồng người Thái gốc Việt xưa”.

Với những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho phong trào cách mạng thế giới, ngày càng có nhiều tổ chức, cá nhân nghiên cứu, tìm hiểu về Người: “Dáng dấp của con người đang ngồi trước mặt tôi đây, Nguyễn Ái Quốc cũng đang toả ra một cái gì vừa lịch thiệp và tế nhị… Nguyễn Ái Quốc đã toả ra một thứ văn hoá, không phải văn hoá Âu châu mà có lẽ là một nền văn hoá tương lai”. Tư tưởng, sự nghiệp và đạo đức Hồ Chí Minh luôn là đề tài nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới và là nhu cầu tìm hiểu của khách quốc tế khi đến Việt Nam tham quan du lịch. Tống kê tại Lăng Bác, Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch và Bảo tàng Hồ Chí Minh cho thấy lượng khách nước ngoài đến viếng, tham quan ngày một tăng cao. Kể từ ngày mở cửa đón khách, đã có hơn 4 triệu lượt khách quốc tế của hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới vào Lăng viếng Bác. Đặc biệt nguyên thủ các nước trên thế giới, đảng cánh tả ở các nước châu Mỹ La Tinh… sang thăm Việt Nam hầu hết đều đến viếng Bác. Đó là cơ sở, là nguồn cổ vũ động viên chúng ta xây dựng và phát huy ý nghĩa các khu di tích về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

– Đảng bộ, chính quyền, nhân dân huyện Ba Vì, Hà Tây luôn quan tâm đầu tư phát triển các di tích gắn với các khu du lịch ở địa phương

Những năm gần đây, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương quan tâm nhiều đến việc đầu tư xây dựng các khu di tích lịch sử. Trong Nghị quyết số 16-NQ/TV ngày 23 tháng 10 năm 2006 của Tỉnh uỷ Hà Tây về lãnh đạo đẩy mạnh công tác văn hoá thể thao của tỉnh đến năm 2010 và những năm tiếp theo khẳng định: “Rà soát , bổ sung hoàn chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển văn hoá thể thao đến năm 2020. Trước mắt, tập trung hoàn chỉnh quy hoạch các di tích trọng điểm của tỉnh gắn với phát triển kinh tế du lịch; quy hoạch hệ thống dịch vụ văn hoá trên địa bàn toàn tỉnh, triển khai thực hiện dự án bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị các di tích của Hà Tây đến năm 2020”. Trên cơ sở đó, Kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá- xã hội nhiệm kỳ 2006- 2010 của Đảng bộ tỉnh Hà Tây đã xác định nhiệm vụ phát triển kinh tế, vùng trọng điểm Ba Vì, Sơn Tây và chú trọng phát triển du lịch gắn liền với tăng trưởng kinh tế và giữ vững tinh hình an ninh chính trị, xã hội của địa phương.

Đặc biệt, đối với Khu di tích Đá Chông, Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Hà Tây, Huyện ủy, UBND huyện Ba Vì, các xã, các thôn liền kề và đồng bào các dân tộc quanh Khu di tích luôn xác định việc phối hợp với đơn vị để giữ gìn, bảo vệ tuyệt đối an toàn Khu di tích là tình cảm, trách nhiệm của địa phương; xây dựng và thực hiện nghiêm quy chế bảo vệ, quy định phòng chống cháy rừng, xây dựng hàng rào bảo vệ bao quanh khu vực Đá Chông.

– Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định giữ gìn, bảo vệ, phát huy ý nghĩa chính trị, văn hóa và lịch sử Khu di tích Đá Chông là nhiệm vụ chính trị trọng tâm luôn được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ

Thường vụ Đảng uỷ Đoàn 969 và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, toàn diện các mặt công tác bảo vệ an ninh, phòng chống cháy rừng, đón tiếp tuyên truyền tại Khu di tích Đá Chông. Trên cơ sở Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Đoàn 969 lần thứ VII đã xác định: “Tiếp tục hoàn thiện quy định đón tiếp khách, quy trình tham quan, tưởng niệm Bác, nội dung giới thiệu Khu di tích và những tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại K84. Cải tạo phòng trưng bày những hiện vật quý về cuộc đời hoạt động của Bác và hiện vật liên quan đến nhiệm vụ giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác trong giai đoạn chiến tranh (1969- 1975)” . Đơn vị sẽ tập trung đầu tư bảo tồn, tôn tạo, xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ công tác đón tiếp, tuyên truyền; xây dựng các công trình phục vụ huấn luyện, rèn luyện bộ đội, phòng chống cháy rừng và tăng gia sản xuất.

– Quá trình bảo tồn, tôn tạo và phát huy ý nghĩa chính trị, văn hóa và lịch sử của Khu di tích luôn nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước. Nhất là cơ quan chuyên ngành và các cán bộ, chiến sĩ đã có thời gian gắn bó với Khu di tích

Các cơ quan chuyên ngành: Bảo tàng Hồ Chí Minh; Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch; Bệnh viện Trung ương Quân đội 108… đã quan tâm, giúp đỡ đơn vị sưu tầm, cung cấp tư liệu, hình ảnh, xây dựng Hồ sơ khoa học về Khu di tích; phối hợp với đơn vị tổ chức hội thảo thống nhất các sự kiện, hiện vật liên quan đến Khu di tích; hướng dẫn đơn vị bố trí, sắp xếp, trưng bày các hiện vật trong Khu di tích khoa học, thuận lợi cho công tác bảo quản, khai thác.

Các cơ quan của tỉnh Hà Tây, huyện Ba Vì, các đơn vị đứng chân trên địa bàn và nhiều tổ chức, cá nhân sẽ đóng góp về tinh thần, vật chất phục vụ quá trình tôn tạo, bảo quản, phát triển Khu di tích.

Đặc biệt, những cán bộ, chiến sĩ tham gia xây dựng, bảo vệ Khu di tích từ những ngày đầu luôn lưu giữ những hình ảnh đẹp nhất về Khu di tích; nhiệt tình, trách nhiệm cung cấp, giúp đỡ đơn vị sưu tầm, làm rõ các sự kiện, hiện vật gắn liền với Khu di tích trong các thời kỳ Bác sống và làm việc, cũng như sau này giữ gìn thi hài Bác trong những năm chiến tranh.

2. Một số khó khăn tác động, ảnh hưởng tới quá trình giữ gìn, bảo quản, tôn tạo Khu di tích Đá Chông

– Công tác sưu tầm đầy đủ các sự kiện, hiện vật gốc phục vụ nhiệm vụ bảo tồn, tôn tạo Khu di tích gặp nhiều khó khăn

Một số nhân chứng, sự kiện, hiện vật gắn liền với những năm tháng Bác Hồ và Trung ương Đảng làm việc, tiếp khách tại đây chưa được làm rõ, gặp khó khăn rất lớn cho việc lập Hồ sơ khoa học về Khu di tích.

Từ năm 1975 trở về trước, đây là khu căn cứ tuyệt mật. Chỉ một số ít người của các cơ quan trực tiếp: Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Sơn Tây và Đoàn Tân Trào- Công an nhân dân vũ trang được biết. Còn lại, ngay cả chính quyền và nhân dân địa phương cũng không được rõ về nhiệm vụ của Khu di tích, nên mọi công việc, sự kiện diễn ra ở khu vực này không được tuyên truyền, việc lưu giữ, ghi chép rất hạn chế, chủ yếu do kể chuyện lại.

Hiện vật ở đây phần lớn không rõ xuất xứ, một số tài liệu lưu giữ ở Văn phòng Trung ương, Ban Tài chính Quản trị Trung ương, Phủ Chủ tịch… nhưng cũng chưa thật chính xác về số lượng, chủng loại, thời gian, hồ sơ lưu trữ không có. Các công trình: Nhà 2 tầng, nhà kính, nhà phục vụ bản thiết kế ban đầu, hồ sơ hoàn công chưa sưu tầm được.

– Công tác bảo vệ tuyệt đối an toàn, chống sự xâm hại đến Khu di tích trong điều kiện thực tế có những khó khăn phức tạp

Khu di tích Đá Chông diện tích rộng, địa hình phức tạp, có núi, hồ, rừng, giáp sông, đường giao thông, bến sông nằm trong khu vực bảo vệ, gây trở ngại trong việc quản lý, bảo vệ tuyệt đối an toàn Khu di tích. Vào mùa mưa có thể xảy ra lũ hoặc ngập do nước sông Đà dâng cao; mùa khô hanh, việc phòng chống cháy rừng gặp rất nhiều khó khăn.

Nhận thức về vị trí, ý nghĩa của di tích và ý thức trách nhiệm bảo vệ của một bộ phận nhân dân trong khu vực còn hạn chế. Phong trào quần chúng đấu tranh, ngăn chặn các trường hợp vi phạm quy chế bảo vệ Khu di tích chưa sâu rộng. Một số trường hợp xâm hại: phá hàng rào, chăn thả gia súc, săn bắn chim…, làm ảnh hưởng đến yêu cầu bảo vệ tuyệt đối an toàn Khu di tích.

– Tổ chức lực lượng và cơ sở vật chất phục vụ nhiệm vụ tại Khu di tích còn gặp những khó khăn

Khu di tích ở xa trung tâm Bộ Tư lệnh, một số cán bộ, công nhân viên do điều kiện khó khăn về hậu phương gia đình, bản thân chưa thật sự yên tâm, tâm huyết với nhiệm vụ được giao.

Đơn vị chưa có lực lượng chuyên trách, chưa có kinh nghiệm trong công tác bảo tồn, tôn tạo các hiện vật của Khu di tích. Tổ chức lực lượng, trình độ, năng lực của cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ, đón tiếp tuyên truyền có mặt còn hạn chế cả về kiến thức chuyên ngành và kinh nghiệm truyền đạt, giới thiệu, tuyên truyền phục vụ khách tham quan.

Trang thiết bị phục vụ công tác bảo vệ, phòng chống cháy rừng, đón tiếp, tuyên truyền phục vụ sinh hoạt chính trị, bảo quản hiện vật, chăm sóc cây trồng, rừng cây đang trong quá trình bổ sung, hoàn thiện, chưa đồng bộ.

Yêu cầu công tác đón tiếp, tuyên truyền phải sâu rộng, toàn diện, để nhân dân cả nước, trực tiếp là nhân dân địa phương nhận thức sâu sắc về ý nghĩa lịch sử – văn hoá của Khu di tích.

– Sự chống phá của kẻ thù và các hiện tượng lợi dụng mê tín dị đoan tác động, ảnh hưởng đến quá trình bảo tồn, tôn tạo Khu di tích Đá Chông

Các thế lực thù địch đang tăng cường các hoạt động chống phá tư tưởng Hồ Chí Minh: phủ nhận, xuyên tạc, bôi nhọ, hạ thấp tư tưởng, sự nghiệp – đạo đức Hồ Chí Minh; tách tư tưởng Hồ Chí Minh với đường lối, chính sách của Đảng. Ra sức tuyên truyền xuyên tạc việc giữ gìn thi hài Bác, bảo quản, tôn tạo các công trình của Người là việc làm tốn kém, không thực hiện Di chúc của Người, thực chất là hạ bệ lãnh tụ Hồ Chí Minh; làm phai nhạt niềm tin của nhân dân ta đối với Đảng, với Bác Hồ kính yêu.

Trước đây, khu Đá Chông đã được nhân dân địa phương tuyên truyền là nơi linh thiêng, sau này là nơi yên nghỉ của Bác trong những năm chiến tranh, nên dễ bị một số đối tượng lợi dụng mê tín dị đoan, thần thánh hoá, tuyên truyền xuyên tạc giá trị lịch sử – văn hoá của Khu di tích.

3. Triển vọng phát triển của Khu di tích Đá Chông

– Khu di tích Đá Chông là một di tích lịch sử – văn hoá.

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị, đơn vị sẽ xây dựng các công trình phục vụ, huấn luyện, rèn luyện bộ đội; như xây dựng khu nhà ở, hội trường, sân bãi, thao trường phục vụ huấn luyện, rèn luyện bộ đội; phục vụ nhiệm vụ phòng chống cháy rừng: Như hệ thống phòng chống cháy, bể chứa nước, trạm quan sát, phát hiện cháy rừng; phục vụ nhiệm vụ trồng, chăm sóc rừng và tăng gia sản xuất: Cây trồng, khu vực chăn nuôi, hồ thả cá.

Đặc biệt, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng, địa phương lên thăm Khu di tích sẽ trồng cây lưu niệm. Nhiều tổ chức, cá nhân có nguyện vọng đóng góp các hiện vật, cây quý tôn tạo cảnh quan, môi trường Khu di tích thêm phong phú.

Một số đơn vị như Bộ Tư lệnh Công binh, Cục Bưu điện Trung ương… trước đây tham gia thiết kế, thi công công trình phục vụ Bác Hồ, phục vụ Trung ương sẽ tôn tạo, xây dựng các công trình trước đây để giáo dục truyền thống.

– Nhiệm vụ của Khu di tích ngày càng phát triển với yêu cầu cao

Trong những năm tới, nhiệm vụ của Khu di tích sẽ tiếp tục phát triển với yêu cầu ngày càng cao: Bảo đảm tuyệt đối an toàn Khu di tích; bảo quản, giữ gìn, tôn tạo các hiện vật tại Khu di tích; đón tiếp, tuyên truyền, phát huy ý nghĩa chính trị, lịch sử – văn hoá của Khu di tích; phục vụ nhiệm vụ huấn luyện, rèn luyện bộ đội, tăng gia sản xuất cho đơn vị.

Để góp phần thực hiện thắng lợi Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Thường vụ Đảng ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định: “Chủ động tham mưu, đề xuất với các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Bộ Quốc phòng tổ chức các hoạt động đón tiếp, tuyên truyền, phát huy cao nhất ý nghĩa chính trị, văn hoá của công trình Lăng Bác và Khu di tích Đá Chông, góp phần cùng với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thực hiện thắng lợi Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”

– Hình thức đón tiếp, tuyên truyền được mở rộng và số lượng cán bộ, nhân dân đến tham quan Khu di tích ngày càng đông

Thời gian qua, các đoàn cán bộ, nhân dân đến tham quan Khu di tích đã có một số hoạt động như: Tưởng niệm Bác, tham quan Khu di tích, trồng cây lưu niệm, đó là những hình thức phổ biến. Tiến tới do nhu cầu sinh hoạt chính trị văn hóa, các hình thức kết nạp Đảng, kết nạp Đoàn, Lễ báo công, tuyên dương công trạng, kết hợp với các nhà nghiên cứu, sưu tầm về Bác, về Đá Chông, về nơi địa linh nhân kiệt sẽ đến tìm hiểu.

Theo khảo sát, hiện nay số lượng khách chủ yếu là nhân dân địa phương và một số cơ quan, đơn vị ở khu vực Hà Nội. Sắp tới phải tăng cường công tác tuyên truyền để nhân dân, các cơ quan, đơn vị trong cả nước sẽ đến tham quan Khu di tích ngày càng nhiều. Có thể mỗi buổi tới hàng ngàn người, hàng năm lên tới hàng chục vạn người. Đặt ra yêu cầu tổ chức lực lượng đón tiếp tuyên truyền và cơ sở hạ tầng phục vụ khách phải phát triển nhanh.

bqllang.gov.vn