Tag Archive | Chủ tịch Hồ Chí Minh

“Nói đi đôi với làm, lý luận gắn với thực tiễn” – tư duy, phong cách, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

Nếu nói nhiều, làm ít, hoặc nói mà không làm, hơn nữa nói một đằng làm một nẻo thì giá trị đạo đức đó bị xem thường, thiếu niềm tin. Suốt cuộc đời mình, Hồ Chí Minh đã giáo dục cho mọi người và chính bản thân Người đã thực hiện điều này một cách nghiêm túc và đẩy đủ nhất.

Trong giáo dục rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên Người nói: Nếu cán bộ, đảng viên tư tưởng và hành động không nhất trí thì khác nào “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, như vậy thì không thể lãnh đạo quần chúng, không thể làm được cách mạng; đối với cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội, Người dạy “quân lệnh như sơn” nghĩa là lệnh cấp trên đã ra thì vô luận thế nào cũng phải thi hành; trong gia đình lời nói, việc làm mẫu mực của cha mẹ có ảnh hưởng giáo dục rất quan trọng đối với các con, của anh chị đối với các em; trong nhà trường là tấm gương của thầy, cô giáo đối với học sinh; trong tổ chức, tập thể đó là tấm gương của những người phụ trách, lãnh đạo cấp trên đối với cấp dưới; trong xã hội đó là tấm gương của người này đối với người khác, v.v… Sinh thời, Người thường phê phán những cán bộ, đảng viên nói một đàng, nhưng làm một nẻo, nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, thậm chí nói suông mà không làm. Người nêu kinh nghiệm trong sử dụng cán bộ: “những người hay khoe khoang công việc, hay a dua, tìm việc nhỏ mà làm, tránh việc lớn, trước mặt thì theo mệnh lệnh, sau lưng thì trái mệnh lệnh, hay công kích, ghen tị với người khác, tự tâng bốc mình, … những người như thế, tuy họ làm được việc, cũng không phải là cán bộ tốt”. Theo Người, lời nói đi đôi với việc làm, học đi đôi với hành là phẩm chất của người cán bộ, đảng viên. Nó thể hiện lòng trung thực, ngay thẳng, thật thà trong công việc. Người cho rằng, một cán bộ, đảng viên tốt, khi được giao việc thì phải làm đến nơi đến chốn, tìm mọi cách khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ; tuyệt đối không được “đánh trống bỏ dùi”, nếu thấy công việc quá sức mình thì phải thỉnh thị báo cáo kịp thời để cấp trên phân công cho người khác. Người rất quý trọng những cán bộ, đảng viên có tinh thần thái độ làm việc tận tâm tận lực, ngay thẳng, nói đi liền với làm, nói ít làm nhiều, cầu thị, không khoe khoang, dấu dốt, không che dấu khuyết điểm, không chọn việc dễ, tránh việc khó, bất kỳ trong hoàn cảnh nào, lòng dạ không thay đổi. Những cán bộ như thế theo Người dù trong công tác họ có kém một chút nhưng cũng là cán bộ tốt cần được khuyến khích sử dụng.

Học tập tư tưởng tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hơn 20 năm đổi mới, với quan điểm lãnh đạo và đường lối đúng đắn, sáng tạo, quyết tâm thực hiện bằng được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, Đảng và Nhà nước đã tạo được bước đột phá về phát triển kinh tế – xã hội, đất nước đang trên đường thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu. Kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, an ninh – quốc phòng đạt được những thành tựu to lớn. Đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện và ngày một nâng cao. Sau khi gia nhập WTO nước ta sẽ có nhiều cơ hội phát triển phồn thịnh; điều đáng ghi nhận là: những năm qua học tập phong cách “nói đi đôi với làm” của Chủ tịch Hồ Chí Minh các cấp lãnh đạo từ Trung ương đến địa phương đã thực sự quan tâm đề cao, nhiều tổ chức cơ sở đảng ở cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp… giữa chủ trương đề ra và biện pháp tổ chức thực hiện có sự thống nhất, quyết tâm cao, phát huy được sáng kiến, quy tụ được lòng tin của cán bộ, đảng viên và quần chúng trong tổ chức thực hiện, góp phần đưa Nghị quyết của Đảng dần đi vào cuộc sống. Đã xuất hiện thêm nhiều giá trị đạo đức mới trong đội ngũ cán bộ, đảng viên như sự năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, quyết tâm vượt khó, quyết chí làm giàu, đoàn kết giúp nhau cùng phát triển, xây dựng nếp sống trong sạch lành mạnh…

Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, bên cạnh những ưu điểm, thì một trong những khuyết điểm, yếu kém mà Đảng ta mạnh dạn chỉ ra là: “Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, khả năng nhận thức, vận dụng, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và cấp ủy cấp trên của nhiều tổ chức cơ sở đảng còn yếu, chưa đủ sức phát hiện, giải quyết những vấn đề phức tạp xảy ra ở cơ sở; có tổ chức cơ sở đảng bị mất sức chiến đấu… cá biệt có tổ chức cơ sở đảng mờ nhạt, có nơi chỉ tồn tại trên danh nghĩa; một số cấp ủy, cán bộ đảng viên còn làm theo, ủng hộ cho những việc làm sai trái, vi phạm pháp luật của người đứng đầu cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp…”. Một thực trạng đáng buồn hiện nay là: một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống; giữa “lời nói không đi đôi với việc làm” gia trưởng, quan liêu, xa dân, lợi dụng chức quyền tham ô, tham nhũng, làm giàu bất chính. Tệ hại hơn còn có những cán bộ, đảng viên có cương vị lãnh đạo hẳn hoi miệng luôn nói lời cao đạo, giáo huấn, mị dân nhưng tư tưởng và việc làm thì cầu danh, trục lợi, chuyên quyền, độc đoán, đứng trên tập thể, trên quần chúng, đầu óc mang nặng tư lợi cá nhân, việc gì có lợi cho mình tìm đủ mọi cách để chiếm đoạt, việc gì không có lợi thì thờ ơ, lãnh đạm; lợi dụng dân chủ để kéo bè, kết cánh, mưu toan đấu đá, thanh lọc lẫn nhau làm rối loạn kỷ cương… đã đem lại không ít những vấn đề làm cho toàn xã hội và chúng tap hải băn khoăn lo lắng.

Hiện nay, toàn Đảng đang quán triệt và tổ chức thực hiện các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, khóa X của Đảng gắn với việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, thiết nghĩ rằng, đối với mỗi tổ chức Đảng khi nghị quyết việc gì phải được bàn bạc thống nhất trong tập thể, cân nhắc thận trọng. Khi đã ra Nghị quyết rồi thì phải kiên quyết thi hành, đảng viên trong chi bộ phải nghiêm túc thực hiện, nếu cố tình làm sai nghị quyết, quy chế, quy định của Đảng phải chịu kỷ luật; mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức ở bất cứ điều kiện hoàn cảnh nào cũng cần phải tích cực lao động, học tập, công tác với tinh thần sáng tạo, có năng xuất, chất lượng, hiệu quả cao; biết quý trọng công sức lao động và tài sản của tập thể, của nhân dân, không xa hoa, lãng phí, không phô trương hình thức; kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, chạy theo danh vọng, địa vị, tiền tài; lạm dụng chức quyền để chiếm đoạt của công, thu vén cho cá nhân, gia đình. Ở bất cứ cương vị lãnh đạo nào khi làm việc gì trước hết phải vì tập thể, vì nhân dân, phải đề cao trách nhiệm không tham lam, vụ lợi, khắc phục thói vô cảm, lãnh đạm, thờ ơ trước khó khăn, bức xúc của nhân dân, hướng mọi suy nghĩ và hành động của mình vào việc lo cho dân, giúp dỡ dân, học hỏi dân, thấu hiểu tâm tư nguyện vọng của nhân dân, đồng thời cũng phải biết làm cho dân hiểu, dân tin, rèn luyện tác phong quần chúng trong sinh hoạt; sống có trước có sau, trong sạch, giản dị, khiêm tốn, chính trực, vượt qua những cám dỗ, ham muốn tầm thường về vật chất cũng như danh vị, chức, quyền… có như vậy cán bộ, đảng viên chúng ta mới thật sự là “công bộc của dân”, xứng đáng với sự tin cậy yêu mến của nhân dân.

Nguyễn Quang Tuyến
Bộ đội Biên phòng Quảng Ninh

bqllang.gov.vn

Vai trò và ý nghĩa lịch sử của tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”

Nhân dịp kỷ niệm 79 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2009), cũng là ngày kỷ niệm 40 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (3/2/1969-3/2/2009), việc phát động học tập nghiên cứu tác phẩm đó để rút ra những bài học cần thiết trong tình hình hiện nay là một hành động dũng cảm, có tính cách mạng. Khẳng định như vậy là trên cơ sở nhận thức đúng đắn về giá trị lý luận và thực tiễn của tác phẩm, để từ đó đi thẳng vào vấn đề, vạch ra những phương sách và biện pháp thích hợp nhằm giải quyết những tồn tại, vướng mắc, cản trở trên con đường đi lên của cách mạng lúc này đây được đặt ra một cách cấp thiết.

Nói về tác phẩm: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, có một đặc tính chung với các tác phẩm khác của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là được viết rất ngắn gọn, súc tích. Chỉ với chưa đầy 700 từ (684 từ) Chủ tịch Hồ Chí Minh đi ngay vào vấn đề, nêu rõ mục đích cụ thể của việc viết tác phẩm. Ngay tên tác phẩm đã cho thấy căn bệnh trầm kha, gốc của mọi tệ hại, đó là “chủ nghĩa cá nhân” và khẳng định phương thuốc cơ bản, lợi hại nhất để diệt trừ căn bệnh là “nâng cao đạo đức cách mạng”.

Mở đầu bài viết là những dòng tổng kết ngắn gọn về truyền thống yêu nước cách mạng của nhân dân ta, mà tiêu biểu là đảng viên cán bộ dưới sự lãnh đạo của Đảng. “Đảng ta lãnh đạo rất sáng suốt, để đưa dân tộc ta tiến lên không ngừng từ thắng lợi này đến thắng lợi khác… Đảng ta đã đào tạo một thế hệ thanh niên cách mạng, gái cũng như trai, rất hăng hái, dũng cảm trong mọi công tác…”. “Đó là những bông hoa tươi thắm của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nhân dân ta và Đảng ta rất tự hào vì có những người con xứng đáng như thế”. Chuyển sang phần 2, bài viết đã đi vào nhận định, đánh giá tình hình, nêu rõ bên cạnh mặt tốt còn một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém vì mang nặng “chủ nghĩa cá nhân”, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo “ mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình… Tóm lại do cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm”. Cuối cùng khẳng định phía Đảng phải làm những gì, mỗi cán bộ, đảng viên phải xác định tư tưởng và hành động ra sao để nâng cao đạo đức cách mạng, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ cách mạng, góp sức nhiều hơn nữa cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước toàn thắng và xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công.

Để nhận thức đầy đủ giá trị lý luận và thực tiễn của tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” điểm đầu tiên cần làm rõ là tại sao Chủ tịch Hồ Chí Minh lại viết tác phẩm và cho công bố tác phẩm này vào năm 1969. Đối chiếu với lịch sử nước ta, năm 1969 mở đầu cho một thời kỳ đấu tranh đầy gay go, gian khổ, đòi hỏi một tinh thần đấu tranh quyết liệt đầy hy sinh gian khổ – một sự hy sinh cao cả, không bờ bến. Trong cuộc đấu tranh “cuối cùng” này mọi tư tưởng riêng tư, quyền lợi ích kỷ của cá nhân đều phải lùi bước.

Sau cuộc Tổng tấn công và nổi dậy năm 1968, mở đầu bằng cuộc tập kích chiến lược Tết Mậu Thân, một đòn bất ngờ góp phần quyết định chiều hướng của cuộc chiến tranh ở Việt Nam, làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, làm chấn động dư luận nước Mỹ và thế giới. Tổng thống Mỹ là Nichxơn đã đưa ra chiến lược quân sự “Ngăn đe thực tế”, một chiến lược toàn cầu mới nhằm khôi phục lại sức mạnh của Mỹ, cố giữ vai trò “sen đầm quốc tế”, vai trò lãnh đạo “thế giới tự do”. “Học thuyết Nicxơn” được thực hiện thí điểm ở Việt Nam, đó là chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” với âm mưu cơ bản là dùng người Việt đánh người Việt với bom đạn, đô la Mỹ, do người Mỹ chỉ huy và vì lợi ích của Mỹ. Với chiến lược “Việt Nam hoá”, Mỹ rút quân khỏi Việt Nam với mục đích tránh những tồn thất lớn hơn đối với quân viễn chinh Mỹ, nhưng vẫn cố tình bám giữ miền Nam Việt Nam.

Trong bối cảnh đó, với âm mưu độc ác của đế quốc Mỹ như vậy, tất nhiên cuộc chiến đấu của dân tộc ta cho Độc lập, thống nhất càng trở nên quyết liệt, gian khổ hơn. Ngay từ trong những năm đầu (1960-1970) của “Việt Nam hoá chiến tranh”, Mỹ đã gây cho ta không ít khó khăn: cơ sở của ta ở nông thôn bị tổn thất, căn cứ cách mạng bị phá hoại, phong trào quần chúng bị giảm sút. Để vượt qua nhưng khó khăn to lớn do đế quốc Mỹ và tay sai gây ra, quân dân ta trên cả hai miền Nam – Bắc nghe theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 15 năm ký Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương (21-7-1954), đã (và phải) nêu cao hơn nữa chủ nghĩa anh hùng cách mạng, không sợ hy sinh, gian khổ, quyết kiên trì đẩy mạnh cuộc kháng chiến, quyết chiến quyết thắng, đánh cho quân Mỹ phải rút hết sạch, đánh cho ngụy quân và ngụy quyền phải sụp đổ hết, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hoà bình thống nhất nước nhà.

Đáp lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, miền Nam tiếp tục giành thêm nhiều thắng lợi trong cuộc chiến đấu chống “Việt Nam hoá chiến tranh” trên tất cả các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao và đã thu được những thắng lợi to lớn, đáng phấn khởi, tự hào. Ngay năm 1969 đã được mở đầu bằng những cuộc phản công chiến lược của quân dân ta, liên tiếp đánh bại 3 cuộc hành quân lớn của Mỹ – ngụy. Bước sang năm 1970 đến năm 1971, quân dân ta trên đà thắng lợi đã phối hợp với quân đội giải phóng Lào và Cămpuchia đánh bại cuộc hành quân của 10 vạn quân Mỹ và quân đội Sài Gòn.

Bài học lịch sử cao quý đó vẫn không ngừng phát huy giá trị và gần như là một quy luật, là cứ mỗi khi cuộc chiến đấu của nhân dân ta sắp bước vào một giai đoạn ác liệt, đạt tới đỉnh điểm thì bài học lịch sử đó vẫn giữ nguyên giá trị ban đầu của nó. Liên hệ đến tình hình hiện tại, rõ ràng là cách mạng Việt Nam đã có nhiều thuận lợi so với các thời kỳ trước. Từ sau đại thắng mùa Xuân (năm 1975), miền Nam đã hoàn toàn giải phóng, lãnh thổ Tổ quốc đã giành lại trọn ven, đất nước bước đầu đi lên chủ nghĩa xã hội, Việt Nam bắt đầu thực hiện đổi mới, rồi bước vào thời kỳ hội nhập. Đó là các điều kiện tốt tạo đà cho Việt Nam phát triển. Tuy nhiên, không phải chỉ có các thuận lợi đưa tới các thành tựu và tiến bộ, mà vẫn có những khó khăn to lớn, những mặt yếu kém và hạn chế nặng nề. Các yếu kém và hạn chế nặng nề đó có nhiều loại, khách quan có, chủ quan có, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” vẫn chỉ đề cập tới loại mang tính chủ quan, là “chủ nghĩa cá nhân” mà Người đánh giá nguy hiểm nhất, là nguyên nhân của mọi sai lầm, sa ngã. Và theo Người để chữa trị tận gốc căn bệnh nguy hiểm đó, chỉ có những phương thuốc hiệu nghiệm – một thần dược – đó là nâng cao đạo đức cách mạng. Thực ra phương thuốc này đã được dùng trong các giai đoạn cách mạng trước. Trước đây, cứ mỗi khi cách mạng có một yêu cầu mới, đòi hỏi một nhận thức đúng đắn và đầy đủ về nhiệm vụ, về ứng xử và hành động thì đều có tổ chức học tập nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho cán bộ và đảng viên. Các lớp chỉnh huấn cho cán bộ, chỉnh huấn cho bộ đội được tổ chức trước kia chính là để nhằm mục đích nâng cao nhận thức, đi tới hành động đúng đắn.

Liên hệ tới hiện nay, rõ ràng là yêu cầu của cách mạng đối với mỗi cán bộ, mỗi đảng viên là rất cao. Cách mạng đòi hỏi ở mỗi cán bộ, mỗi đảng viên phải có lòng trung thành tuyệt đối, phải toàn tâm toàn ý phục vụ cách mạng. Thế mà đối chiếu với thực tế xã hội, thực tế cơ quan, tình hình đội ngũ cán bộ và đảng viên vẫn còn nhiều hiện tượng rất đáng lo ngại. Đó là tệ nạn quan liêu, tham nhũng và tình trạng suy thoái về phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên làm cho bộ máy Đảng và Nhà nước suy yếu, lòng tin của nhân dân đối với Đảng, đối với chế độ bị sói mòn, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước bị thi hành sai lệch, dẫn tới chệch hướng xã hội chủ nghĩa là mảnh đất thuận lợi cho “diễn biến hoà bình”.

Tất cả các hiện tượng trên là nguy cơ lớn đối với sự nghiệp cách mạng. Phân tích mổ sẻ các tệ nạn trên, đi tới tận cùng thì vẫn là “chủ nghĩa cá nhân” được trá hình dưới muôn hình vạn trạng. Cần phải có một tinh thần sắc bén cách mạng, một ý chí cảnh giác thường trực và cao độ – các tính năng này chỉ có khi được đặt trên nền tảng một chủ nghĩa yêu nước chân chính, mới có thể phanh phui, vạch trần.

Nâng cao đạo đức cách mạng, đó là mục tiêu phấn đấu và lý tưởng hướng tới của người cán bộ, người đảng viên. Có sự bồi dưỡng tự nguyện đạo đức cách mạng với sự hỗ trợ của tổ chức, của đoàn thể thì người cán bộ, người đảng viên mới chiến thắng được “chủ nghĩa cá nhân” nguy hại, để có thể vững tiến trên con đường cách mạng gập ghềnh quanh co, lắm thác nhiều ghềnh, nhưng cũng đầy hoa thơm quả ngọt.

Đó là những lời dạy dỗ ân cần và tâm huyết của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trên bước đường đi lên của cách mạng.

GS. Đinh Xuân Lâm
Trường ĐH KH XH & NV

bqllang.gov.vn

“Nâng cao đạo đức cách mạng” – Vấn đề cơ bản, nhất quán trong Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

Là người mở đường xây nền độc lập, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho toàn dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc giáo dục, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng cho mọi người Việt Nam yêu nước, đặc biệt là đội ngũ cán bộ đảng viên của Đảng. Người luôn coi đó là nền tảng gốc rễ của mỗi con người và của toàn xã hội, là cội nguồn thắng lợi của mọi sự nghiệp cách mạng, bảo đảm cho sự phát triển vững bền của quốc gia, dân tộc…

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chỉ rõ rằng: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”; “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”; đạo đức cách mạng không phải là những thứ sẵn có ngay từ khi con người mới sinh ra, cũng “không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”

Vì tầm quan trọng đặc biệt của vấn đề này, ngay từ những ngày đầu chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng, bài học đầu tiên Người dạy trong các lớp huấn luyện, đào tạo đội ngũ cán bộ cho phong trào cách mạng Việt Nam ở Quảng Châu, Trung Quốc, những năm 1925 – 1927, là bài học về Tư cách một người cách mệnh. Trong bài học ấy, Người nêu 23 điều về tư cách của một người cách mệnh chân chính, tập trung vào ba mối quan hệ chính, đó là: đối với mình, đối với người và đối với việc. Từ đó, 23 điều về Tư cách một người cách mệnh đã đặt nền tảng cơ sở cho việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng trong suốt quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam.

Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền. Làm thế nào để cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ là những “công bộc” của dân, là điều Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Một ngày sau khi nước nhà giành được độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu sáu nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trong đó nhiệm vụ thứ tư cần phải giải quyết ngay lúc bấy giờ là thực hiện cần, kiệm, liêm, chính. Người giải thích rõ: “Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện. Nó đã dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hoá dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác. Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”. Để làm được những điều đó, Người đề nghị “mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH”.

Cũng ngay trong những ngày đầu lập nước này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm đã sớm nhận thấy những biểu hiện thoái hóa, biến chất trong một số đảng viên, cán bộ trong bộ máy chính quyền cách mạng. Trong Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà (ngày 17-9-1945), sau khi khẳng định những to thắng lợi to lớn của cách mạng nước ta, Người nói rõ những khó khăn của việc xây dựng chế độ mới và những khuyết điểm của cán bộ địa phương như: lạm dụng hình phạt; kỷ luật không nghiêm; ức hiếp dân, xoáy tiền dân, lấy của dân; lên mặt quan cách mạng, độc hành, độc đoán, “dĩ công dinh tư” (lấy của chung làm của riêng); dùng pháp luật để báo thù tư… Những khuyết điểm đó, nhỏ thì làm cho dân chúng hoang mang, oán đến Chính phủ và Đoàn thể, lớn thì làm cho nền đoàn kết lay động. Vì vậy:

“Chúng ta phải lập tức sửa đổi ngay,
Chúng ta không sợ có khuyết điểm,
Chúng ta chỉ sợ không có quyết tâm sửa đổi…”.

Một tháng sau, trong Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng (ngày 17-10-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Cùng với việc nêu rõ trách nhiệm của của chính quyền các cấp đều là công bộc của dân, việc gì lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì hại cho dân phải hết sức tránh…, Người đã nghiêm khắc phê phán “những lầm lỗi rất nặng nề” trong một số cán bộ, đó là các căn bệnh như trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo… và tỏ thái độ nghiêm khắc: “Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa… Ai đã phạm những lầm lỗi trên này, thì phải hết sức sửa chữa; nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung”.

Với tinh thần cách mạng ấy, dù trong kháng chiến gian khổ hay trong hòa bình xây dựng đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt lên hàng đầu việc giáo dục, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Những lời dạy tâm huyết của Người về vấn đề này được đề cập trong hầu hết các tác phẩm, bài viết, trong các bài nói chuyện, các cuộc gặp gỡ, trong các lớp chỉnh huấn, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên mới… Đặc biệt là, trong bộ ba tác phẩm: “Sửa đổi lối làm việc”, “Đạo đức cách mạng” và “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bàn rất sâu về việc học tập và rèn luyện đạo đức cách mạng, nêu lên những giải pháp phòng chống chủ nghĩa cá nhân và phân tích sâu sắc vai trò gương mẫu của người cán bộ đảng viên. Những tác phẩm chuyên khảo ấy đã trở thành những cuốn sách gối đầu giường, những lời tâm sự, chỉ bảo của Người về đạo đức, trở thành mục tiêu, phương hướng phấn đấu, để mỗi cán bộ, đảng viên rèn luyện, sửa chữa những sai lầm, thiếu sót, khắc phục mọi tồn tại dù nhỏ, để không ngừng nâng cao đạo đức cách mạng, xứng đáng với lòng tin cậy và yêu mến của nhân dân…

Xuân này, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta kỷ niệm 40 Xuân ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Một bài viết, một tác phẩm, vừa là những lời tâm sự, vừa là những lời căn dặn tâm huyết, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Người đối với Đảng, đối với tương lai của dân tộc và cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

Đây là bài viết cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng. Một bài viết đăng báo chưa đầy 700 chữ, nhưng những luận điểm Người đề cập mang tính tổng kết thực tiễn sâu sắc, có ý nghĩa như một tác phẩm, một văn kiện quan trọng về xây dựng Đảng nói riêng, về giáo dục, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng nói chung – điều mà Người luôn quan tâm, trăn trở trong suốt quá trình xây dựng Đảng và lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Với lời lẽ, văn phong quen thuộc, mở đầu bài báo, chuyển lời khen ngợi của nhân dân đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên gương mẫu của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết một cách giản dị nhưng đầy ý nghĩa: “Nhân dân ta thường nói: đảng viên đi trước, làng nước theo sau. Đó là một lời khen chân thành đối với đảng viên và cán bộ chúng ta”.

Tiếp đó, Người tỏ lời khen ngợi cán bộ, đảng viên ta trong suốt 39 năm đã tuyệt đối trung thành với Đảng và khẳng định: “Trong lịch sử đấu tranh của Đảng và trong mọi hoạt động hằng ngày, nhất là trên mặt trận chiến đấu và sản xuất, rất nhiều cán bộ, đảng viên ta tỏ ra anh dũng, gương mẫu, gian khổ đi trước, hưởng thụ đi sau và đã làm nên những thành tích rất vẻ vang… Đó là những bông hoa tươi thắm của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhân dân ta và Đảng ta rất tự hào có những người con xứng đáng như thế”.

Cùng với việc nêu bật những ưu điểm của đại đa số cán bộ đảng viên của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng không giấu giếm việc “còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém. Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích của riêng mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”. Và Người đã thẳng thắn vạch ra cho mọi người thấy những bất cập, những nguy hại hết sức lớn do chủ nghĩa cá nhân gây ra: “Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ.

Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân.

Tóm lại, do cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm”.

Đây không phải lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh nói đến chủ nghĩa cá nhân. Đã rất nhiều lần Người nói với chúng ta về sự nguy hại của chủ nghĩa cá nhân: “Chủ nghĩa cá nhân là như một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm” như: tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ và những bệnh khác như “hữu danh vô thực”, kéo bè kéo cánh, bệnh cận thị không trông xa thấy rộng, bệnh “cá nhân”…; “Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích của riêng mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. “Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”. Nó là mẹ đẻ ra tất cả mọi tính hư nết xấu… Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng”, “Chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù nguy hiểm mà mỗi người chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo đề phòng và kiên quyết tiêu diệt”…

Để “đề phòng và kiên quyết tiêu diệt” chủ nghĩa cá nhân, làm cho tất cả cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng gương mẫu của Đảng, của nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên. Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên. Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật. Phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân. Phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ”… Người coi đó là một cách thiết thực để kỷ niệm ngày thành lập Đảng và cũng là một việc làm cần thiết để giúp tất cả cán bộ, đảng viên đều tiến bộ, góp sức nhiều hơn nữa cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Tác phẩm“Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” vốn chỉ là một bài viết đăng trên báo Nhân Dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp kỷ niệm 39 năm ngày thành lập Đảng (3-2-1969), nhưng theo lời kể của đồng chí Vũ Kỳ (nguyên là thư ký riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh), Người đã chuẩn bị công phu và tích hợp nhiều ý kiến đóng góp. Khi chuẩn bị bài viết này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rõ với những người giúp việc về mục đích, nội dung và nhấn mạnh yêu cầu: “Ngắn gọn, tập trung vào chủ đề “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”. Và đó cũng là tên của bài báo”.

Sau khi sửa lại bài viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho “đánh máy thành nhiều bản và gửi đến từng đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị đề nghị tham gia ý kiến”. Việc làm nhỏ nhưng cẩn trọng và có ý nghĩa sâu sắc này là thói quen làm việc hằng ngày của Người, thường xuyên trao đổi, tranh thủ ý kiến của mỗi cá nhân và tập thể Bộ Chính trị trong mọi công việc, nhằm tạo nên một không khí làm việc cởi mở, đoàn kết, chân thành… Nhưng lần này, theo đồng chí Vũ Kỳ: “Đây hẳn cũng không phải là việc ngẫu nhiên. Dưới hình thức tham gia một bài viết nhân dịp kỷ niệm thành lập Đảng, mỗi đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị sẽ có trong tay một tài liệu mà ngay câu đầu tiên là: “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”. Thiện ý của Bác thật sâu sắc, tế nhị (!)

Không chỉ vậy, trước khi gửi đăng báo, Người còn trao đổi, tham khảo ý kiến của những người giúp việc. Khi những người giúp việc đề nghị cho đảo tên gọi của bài báo từ “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng” thành “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, với lý do “cán bộ đảng viên ta nói chung là tốt, ưu điểm là cơ bản”, Người đã lắng nghe, im lặng suy nghĩ một lúc rồi nêu ý kiến: “Ý kiến của các chú Bác thấy cũng có lý. Nhưng Bác vẫn còn phân vân điều này: Gia đình các chú tiết kiệm mua sắm được bộ bàn ghế, giường tủ mới. Vậy trước khi kê vào phòng, các chú có quét dọn nhà cửa sạch sẽ hay cứ để rác rưởi bẩn thỉu mà khiêng bàn ghế giường tủ vào…”. Mặc dù hỏi vậy nhưng tôn trọng ý kiến đóng góp của những người giúp việc, Người đồng ý cho đảo tên gọi của bài báo và đề nghị “ở trong bài thì dứt khoát phải giữ nguyên ý của Bác: “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”…

Thật kỳ diệu, ngay sau đó, bài báo đã trở thành tài liệu học tập, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng cũng như của mỗi người Việt Nam yêu nước suốt bốn thập kỷ qua. 40 năm sau ngày bài báo ra đời, đọc lại và suy ngẫm, thấy như Người đang nói với chính chúng ta hôm nay.

Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bốn mươi năm qua, trong những năm vừa kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, vừa xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa trước đây cũng như trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, đã có nhiều tấm gương tiêu biểu về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Họ là những con người luôn luôn gương mẫu, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, đi đầu trong chiến đấu, trong lao động sản xuất, và học tập, sống kham khổ, thiếu thốn, gom nhặt “từng hòn than, mẩu sắt, cân ngô”… để cùng góp sức xây dựng cơ đồ Việt Nam. Họ xứng đáng là những người con yêu của Tổ quốc. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có một số không ít cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những cán bộ có chức, có quyền vẫn chưa thấm nhuần và làm theo những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, không chịu tu dưỡng, rèn luyện để nâng cao đạo đức cách mạng mà còn tự cho mình là “quan cách mạng” và trở thành “môn đồ” của chủ nghĩa cá nhân. Mỗi việc làm của họ đều mang nặng “chủ nghĩa cá nhân”, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lòng tin của các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng… và đang trở thành một nguy cơ đối với sự phát triển vững bền của Đảng và dân tộc. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã đánh giá công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng chưa đạt yêu cầu và nêu rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, công chức diễn ra nghiêm trọng”… Nguyên nhân của tình trạng nêu trên là do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó chủ yếu là: Tư duy của Đảng trên một số lĩnh vực chậm đổi mới, chưa nhận thức đầy đủ về những tác động phức tạp và nhiều mặt của cơ chế thị trường, kinh tế nhiều thành phần trong hội nhập để phát triển; Sự chỉ đạo tổ chức thực hiện chưa tốt, đặc biệt là chưa chú ý đúng mức đến vấn đề giáo dục, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức đối với cán bộ, đảng viên; Một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt, mang nặng chủ nghĩa cá nhân, không chịu tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức, lối sống, vừa yếu kém về phẩm chất và năng lực, vừa thiếu tính tiên phong, gương mẫu, vừa không đủ trình độ hoàn thành nhiệm vụ… Trước tình hình đó, Đại hội chủ trương dành nhiều công sức để tạo được sự chuyển biến rõ rệt về xây dựng Đảng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đảng viên của Đảng và các tổ chức cơ sở Đảng, xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, và coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta…

Để thực hiện mục tiêu nêu trên, cùng với nhiều giải pháp đồng bộ, Đại hội yêu cầu: “lấy đạo đức làm gốc, đồng thời bồi dưỡng về kiến thức, trí tuệ, năng lực để làm tròn nhiệm vụ người lãnh đạo, người đi tiên phong trong các lĩnh vực công tác được giao”.

Với tinh thần ấy, tiếp theo Chỉ thị số 23-CT/TƯ của Ban Bí thư Trung ương Đảng, ngày 27-3-2003, về việc “Đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới”, trong đó xác định “việc tổ chức học tập tư tưởng Hồ Chí Minh là một nhiệm vụ mấu chốt của công tác tư tưởng của Đảng, cần được toàn Đảng thực hiện chặt chẽ, có chất lượng, hiệu quả”, ngày 27-11-2006, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị 06-CT/TƯ về tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, nhằm “Làm cho toàn Ðảng, toàn dân nhận thức sâu sắc về những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh sâu rộng trong toàn xã hội, đặc biệt trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, thanh niên, học sinh… nâng cao đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội X của Ðảng”.

Hơn hai năm qua, cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã trở thành phong trào quần chúng rộng lớn, thu hút sự tham gia sôi nổi của đông đảo cán bộ đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong từng việc làm cụ thể. Để cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” thiết thực và hiệu quả, góp phần đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, theo chúng tôi, cần tổ chức thực hiện triệt để, từ Trung ương đến cơ sở, những giải pháp “Nâng cao đạo đức cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” và trong lời căn dặn trước lúc đi xa của Người để “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”, “giữ gìn Đảng ta thật trong sạch… xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Những lời dạy và mỗi việc làm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, về thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư…là lối sống, là đạo đức, là văn hóa và sự mẫu mực của Người trong việc thực hành đạo đức cách mạng mãi mãi là tấm gương sáng ngời để cán bộ, đảng viên và nhân dân ta học tập, noi theo. Với tinh thần đổi mới để phát triển, thực hành tốt những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề này chính là một việc làm thiết thực, thể hiện lòng biết ơn của các thế hệ hôm nay và mai sau đối với Người, đồng thời góp phần làm tăng lòng tin của nhân dân với Đảng, với sự nghiệp cách mạng của dân tộc và góp phần thiết thực vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh – những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn hằng mong muốn và căn dặn khi còn sống./.

TS. Chu Đức Tính
Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Lần đầu gặp Bác

Đại úy Hồ Thị Thu sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, mẹ là cơ sở nuôi giấu nhiều cán bộ huyện và tỉnh Quảng Đà (cũ). Năm 12 tuổi chị đã làm liên lạc du kích xã Xuyên Phú, huyện Duy Xuyên, sau đó trở thành chiến sĩ Quân giải phóng.

Những năm 1965-1966, quê chị ở thôn 3, Dãn Cường, có một đại đội Mỹ đóng chốt. Có lần Mỹ đốt hết nhà, giết 72 người dân vô tội. Căm thù giặc, có đêm chị bí mật vào đồn vác được 5 khẩu AR15 giao cho du kích. Chị còn lợi dụng sơ hở của địch cùng bạn gái bỏ cát vào nòng 13 khẩu súng trước khi báo cho du kích và bộ đội địa phương tập kích thắng lớn. Đầu tháng 12-1967, ở Nỗng Bà Trình, chị phục kích lính Mỹ đi càn, diệt gần hết cả tốp. Nhưng cũng tại trận này chị bị sức ép nặng, bị mảnh đạn vào đầu được tỉnh đội Quảng Nam cho ra Bắc an dưỡng đầu năm 1968.

Tôi tìm đến số nhà 36 đường Nguyễn Tri Phương, phường Chính Giản, thành phố Đà Nẵng để nghe chị kể về kỷ niệm những lần được gặp Bác Hồ. Đã lớn tuổi rồi nhưng chị vẫn giữ được nét đẹp của thời con gái. Chị nhớ lại:

Một buổi chiều tháng 5, chú Phượng ở Ban thống nhất Trung ương thông báo: “Chiều nay các cháu không đi đâu xa, không ăn cơm tối, ở nhà sẵn sàng…”. Tôi và các bạn nhỏ Võ Phổ, Hồ Ngọc Biên (Quảng Nam), Nguyễn Văn Hòa, Ngô Bê (Thừa Thiên), Đoàn Văn Luyện, Ngô Văn Nết (Quảng Ngãi) và Hồ Văn Mên (Thủ Dầu Một) rất hồi hộp. Mới 3 giờ chiều chúng tôi đã rủ nhau tắm rửa, ăn mặc tươm tất, đội mũ tai bèo lên xe cùng chú Phượng.

Chú Phượng phổ biến nhanh gọn: “Hôm nay Bác Hồ muốn gặp các cháu thiếu nhi dũng sĩ miền Nam”. Chỉ cần nghe đến Bác, là cả bọn mừng rơn, hét lên sung sướng. Đang miên man suy nghĩ thì trước mặt đã thấy ngôi nhà sàn của Bác ẩn dưới hàng cây cổ thụ, đẹp như một bức tranh. Cổng mở, chúng tôi thấy Bác Hồ, Bác Tôn ngồi chờ nơi ghế đá. Cả đoàn không ai bảo ai cùng reo lên: “Bác! Bác!…”, rồi chạy vào ôm hôn hai Bác thật lâu. Cùng tiếp khách hôm ấy có Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nhà thơ Tố Hữu và chú Vũ Kỳ. Chú Tố Hữu giới thiệu tên, thành tích từng cháu với Bác. Bác xoa đầu, ôm hôn từng cháu, riêng tôi là con gái được Bác cho ngồi gần cùng Ngô Văn Nết người nhỏ tuổi nhất. Bác hỏi: “Cháu là Thu phải không?” – “Dạ, cháu là Hồ Thị Thu, quê ở Quảng Nam” – “Cháu học lớp mấy rồi?”. Tôi ngập ngừng nói thật: “Thưa Bác nhà cháu nghèo, đông con, cha mất sớm, cháu chưa được đi học”. Tôi ngước nhìn lên thấy Bác rơm rớm nước mắt. Kéo tôi vào lòng, sửa vành mũ tai bèo, Bác nói: “Rồi cháu sẽ được đi học”. Bác mời chúng tôi ăn chiều. Bác ăn rất ít và luôn gắp thức ăn cho từng người trong đoàn. Bác bảo tôi kể chuyện lấy súng Mỹ, dùng mìn tự tạo đánh thắng Mỹ cho Bác nghe, rồi bất chợt Bác hỏi: “Thế còn chuyện cháu phá 13 khẩu súng của Mỹ?”. Tôi không ngờ Bác biết cả chuyện này và tôi kể lại cho Bác nghe. Bác hỏi tiếp: “Đồng bào miền Nam sống chiến đấu thế nào?”. Tôi thưa với Bác: “Bà con quê cháu không sợ hy sinh gian khổ, chỉ sợ một điều”… Bác hỏi dồn: “Điều gì cháu cứ nói”. Tôi mạnh dạn: “Thưa Bác, bà con sợ sau này nước nhà thống nhất không được nhìn thấy Bác”. Bác khóc thực sự, làm cả đoàn xúc động, khóc theo…

Kể đến đây, trên gương mặt chị Thu nước mắt đã giàn giụa. Chị đưa tôi xem hai huy hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”, nhiều ảnh chụp với Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Thiếu tá Nguyễn Ngọc Anh, chồng chị, cũng là chiến sĩ Quân giải phóng, đưa tôi xem hai cuốn sách “Người tốt, việc tốt” của Bác Hồ tặng chị và cuốn “Bác Hồ với miền Nam, miền Nam với Bác Hồ” đã bạc màu. Anh nói: “Đây là kỷ vật, tài sản quý nhất của vợ chồng mình”.

Gần bốn thập kỷ đã qua, chị Thu chỉ day dứt một điều: Dịp ấy, tháng 5-1969 đang điều trị “Phục hồi trí nhớ” ở Viện 108, Bác Hồ có điện thăm hỏi bệnh tật của chị. Thế mà lúc ấy chị không nhớ được gì để trả lời cho Bác yên tâm. Bốn tháng sau, Bác đã ra đi… Sau này được các bác sĩ kể lại chị cứ ân hận và khóc mãi.

Đỗ Như Thuần
(Tạp chí Sự kiện nhân chứng)

bqllang.gov.vn

Nâng niu tất cả chỉ quên mình

Sự gần gũi và rất đời thường trong con người của Bác tạo thành trường phái ngoại giao Hồ Chí Minh. Không từ trên trời rơi xuống, hào quang Hồ Chí Minh phát khởi từ nền móng đạo đức của Người.

Cặp kính lão dày cộp thường trực trên gương mặt phúc hậu, nguyên Chủ tịch Công đoàn Giáo dục Liên khu IV từ năm 1951, nguyên Phó “quan đốc học” Nghệ An rồi Nghệ Tĩnh với dáng vẻ ung dung, thâm uyên dí dỏm của một đồ Nghệ nói với tôi:

– Hưởng à, thầy vừa thể hiện xong bài đầu và bài cuối tập thơ Ngục trung nhật ký của Bác bằng chữ Nho, sẽ dành tặng cho con một bản.

Trong niềm xúc động của người ngoài độ bát tuần, cụ Lữ kể cho tôi nghe chuyện sau ngày giải phóng Điện Biên được Bác Hồ mời dự tiệc chiêu đãi tại Phủ Chủ tịch.

Trước đó, Trung ương Đảng, Chính phủ, Bác Hồ đã rời “thủ đô gió ngàn” trở về Thủ đô Hà Nội, đến ngày 1-1-1955 mới làm lễ ra mắt. Bấy giờ anh Cao Thế Lữ là thành viên Đoàn chiến sĩ thi đua công nghiệp Liên khu IV.

Đoàn gồm có 5 người: Hoàng Hanh, Anh hùng Lao động nông nghiệp; Nguyễn Văn Hòa, Kỹ sư nông nghiệp, Giám đốc nghiên cứu cây trồng Bắc Trung Bộ; anh Cao Viết Bảo ngành quân giới; chị Nguyễn Thị Nhàn công nhân ngành dệt, Cao Thế Lữ, Chủ tịch Công đoàn ngành Giáo dục Liên khu IV. Đoàn còn có mẹ của Anh hùng liệt sĩ Phan Đình Giót. Bà cụ lưng đã còng, vận áo màu trắng, váy thô bố nhuộm nâu ngâm bùn, điển hình của phụ nữ thôn quê xứ Nghệ nghèo khó lam lũ. Đã quá lâu nên cụ Lữ không còn nhớ tên bà.

Đoàn được đón tiếp tại trụ sở của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phía trước ga Hàng Cỏ (hồi đó chưa có khách sạn). Tình cờ người ta bố trí anh Lữ nghỉ chung một phòng với Bác sĩ Đặng Văn Ngữ, Chiến sĩ thi đua ngành công nghiệp Việt Bắc. Hai anh em nằm trên hai chiếc giường một gỗ tạp. Sau 9 năm kháng Pháp, đúng dịp Tết dương lịch đầu tiên lại được về Thủ đô Hà Nội chuẩn bị gặp Bác Hồ, mọi người rất vui. Chẳng thấy ai nói về thành tích của ngành, của bản thân mình, tất cả nóng lòng chờ giây phút được gặp Người.

Khoảng 4 giờ sáng ngày 1-1-1955, tất cả các đoàn đều được báo thức sớm, chừng 5 giờ đã có mặt trên khán đài vườn hoa Ba Đình. Mờ sáng, sương mai còn đọng trên bục xi măng, Bác sĩ Đặng Văn Ngữ và anh Lữ phải dùng báo cũ lót làm chỗ ngồi, nhìn xuống đã thấy hàng vạn người tập trung thành hàng chăm chú hướng lên khán đài. Lát sau Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Chính phủ, Quân đội… tiến ra lễ đài. Anh Lữ không nhớ lúc ấy là mấy giờ nữa, chỉ biết lâng lâng vui sướng khi thấy Người hồng hào khỏe mạnh, phong thái nhanh nhẹn ung dung. Bác đọc diễn văn rất ngắn, đại thể nêu ý nghĩa của việc Đảng, Chính phủ trở về Thủ đô Hà Nội. Bác vừa dứt lời cả biển người dậy tiếng vỗ tay. Ngay sau đó xuất hiện hai chiếc xe mui trần, bánh xe quét sơn trắng từ từ lăn qua lễ đài. Đại tướng Võ Nguyên Giáp tổng chỉ huy cuộc duyệt binh. Anh Lữ tranh thủ trời đã sáng ngắm nhìn tấm thiếp mời dự tiệc của Bác Hồ, do Ban tổ chức đưa đến trước 5 giờ sáng. Thiếp in trên giấy dày tráng nhũ: Kính gửi đồng chí Cao Thế Lữ-Chiến sĩ thi đua công nghiệp Liên khu IV, bên dưới có chữ ký của Bác Hồ. Nội dung là đến dự tiệc tại Phủ Chủ tịch vào lúc 14 giờ chiều ngày 1-1-1955.

Trước 14 giờ, anh Lữ đến cổng Phủ Chủ tịch đã thấy ô tô đậu thành hàng ngoài sân. Bác sĩ Đặng Văn Ngữ bảo, tòa nhà này nguyên là Phủ toàn quyền Đông Dương, Bác Hồ đã từ chối không ở. Bên trong khách đã đến rất đông, tất cả đang nóng lòng chờ Bác. Giữa căn phòng rộng ấy, bàn tiệc được bố trí theo hình chữ T. Một dãy bàn dài không có ghế chạy giữa căn phòng. Dãy bàn phía trong làm thành nét ngang của chữ T đặt 3 chiếc ghế. Lần đầu trong đời anh Lữ được dự tiệc đứng, được vào Phủ Chủ tịch. Bỗng Bác xuất hiện. Bác ngồi ghế giữa, một bên là Đại sứ Trung Quốc, một bên là Đại sứ Liên Xô. Bác nói đại ý, hôm nay ngày vui mừng chiến thắng Điện Biên, mừng Trung ương Đảng, Chính phủ trở về Hà Nội, Bác mời mọi người có mặt cùng nâng cốc. Trong khi tay nâng cốc, mắt mọi người đều chăm chăm hướng về phía Bác. Bác Hồ đứng đó, nói cười, vẫy tay với mọi người. Bác là nhân vật huyền thoại, tạo nên sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc.

Tiệc đứng nên ai muốn đứng chỗ nào thì đứng, ai muốn ăn thì tự lấy. Gọi là tiệc song bày biện chỉ 3 món, mỗi người một cái đùi gà, một miếng chả rán bọc bột và một món nữa anh Lữ không biết là món gì. Anh Lữ lấy thức ăn bỏ vào đĩa đặt vào tay mẹ của Anh hùng liệt sĩ Phan Đình Giót. Cả đời, bà cũng như anh, chưa bao giờ được ăn tiệc đứng nên cứ lóng nga lóng ngóng. Bỗng nghe Bác nói:

– Bây giờ văn nghệ, chú nào xung phong?

Lát sau thấy ông Lê Văn Hiến giơ tay. Bác bảo:

– Chú Hiến!

Ông Hiến cất mấy câu hò Huế, nhưng vì hò không hay nên vừa hò vừa cười, Bác bảo:

– Chú Hiến làm gì đấy?

Nói rồi Bác cầm quả hồng trên bàn tiến đến chỗ ông Hiến:

– Chú Hiến hò không hay nhưng Bác vẫn tặng quả hồng!

Cả hội trường vỗ tay ào ào trước tình cảm gần gũi chan hòa của Bác. Hình ảnh ấy mãi giúp anh Lữ mở rộng tầm quảng bá xã giao suốt chặng đường công tác sau này.

Từ giây phút ấy anh Lữ không chú ý văn nghệ nữa mà tập trung nghĩ ra cớ để được lại gần Bác hơn. Anh Lữ nói nhỏ vào tai mẹ Anh hùng liệt sĩ Phan Đình Giót:

– Bây giờ con đưa mẹ lên gặp Bác Hồ!

– Ừ, mẹ đang rất muốn đến gần để được nhìn rõ Bác, nhưng đông người ra ri, đi mần răng được?

– Con đi trước, mẹ cầm lấy tay. Con đi đến đâu mẹ cứ theo đến đó!

Thế là anh Lữ cầm tay mẹ vừa đi vừa rẽ đám đông:

– Đề nghị các đồng chí nhường lối cho mẹ của đồng chí Phan Đình Giót lên gặp Bác Hồ!

Khi anh đưa mẹ lên tới nơi thì thấy Bác đang nói chuyện với Đại sứ Trung Quốc. Chờ một lát anh Lữ lên tiếng:

– Dạ thưa Bác!

Bác liền ngoảnh lại. Người đặt một tay lên vai anh, tay kia đặt lên vai mẹ của Anh hùng Phan Đình Giót. Lúc ấy anh Lữ cảm thấy như đang bay trên mây:

– Thưa Bác, đây là mẹ của Anh hùng Phan Đình Giót.

Bác trìu mến hỏi:

– Bà dạo này có khỏe không? Bà đi đường từ trong Nghệ ra có mệt không?

Nghe bà cụ trả lời, Người quay sang nói với anh Lữ:

– Bác rất bận không có thời gian săn sóc bà, các chú bố trí nơi ăn chốn nghỉ cho chu đáo, phải có trách nhiệm săn sóc bà từ khi đi cho đến khi về. Chú làm công tác gì?

– Dạ, cháu làm giáo dục ạ!

Bác nói tiếp:

– Phải dạy cho tốt !

Về sau anh em trong đoàn Chiến sĩ thi đua công nghiệp Liên khu IV trầm trồ: “Ông Lữ khôn thật, nghĩ ra cách để được suất “ăn theo” bà mẹ Anh hùng”.

Đêm ấy trở về phòng nghỉ với tâm trạng lâng lâng phút giây được gần Bác, anh Lữ hỏi Bác sĩ Đặng Văn Ngữ:

– Cảm giác của anh thế nào khi được gặp Bác?

Bác sĩ Đặng Văn Ngữ cười:

– Ai mà nói hết được cảm giác khi được gặp Cụ Hồ!

Tết dương lịch đặc biệt ấy đến nay đã xa hơn nửa thế kỷ, vậy mà ngỡ như chuyện mới hôm qua. Hình ảnh Bác với ánh mắt nụ cười, với phong thái ung dung tự tại, rất gần gũi, rất đời thường mãi hóa thạch trong tim cụ già ngoài tuổi bát tuần. Tiễn tôi ra cổng, “đồ Nghệ” Cao Thế Lữ – Chủ nhiệm Câu lạc bộ Hán-Nôm tỉnh Nghệ An tiếp tục mạch suy tưởng: Chính sự quan tâm, yêu thương mọi người đến độ “Nâng niu tất cả, chỉ quên mình” của Bác đã tạo thành trường phái ngoại giao Hồ Chí Minh. Không từ trên trời rơi xuống, hào quang Hồ Chí Minh phát khởi từ đạo đức của Người.

GIAO HƯỞNG
(Tạp chí Nhân chứng sự kiện)

bqllang.gov.vn

“Bác vẫn như đang nói với chúng ta”

Khâu Tý là một quả đồi thuộc xã Điềm Mặc, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên – được gọi là “Phủ Chủ tịch” đầu tiên thời chống Pháp. Thăm Khâu Tý dịp sinh nhật Bác, được nghe lại những điều Bác viết trong cuốn Sửa đổi lối làm việc chính tại căn lán nơi Bác sống, làm việc càng thấy những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị đến hôm nay.

Đến căn lán Bác ở ngày xưa, chúng tôi gặp các cụ Ma Đình Khánh, Ma Đình Hoàng đang quét dọn nơi ở của Bác để chuẩn bị đón một đoàn khách. Các cụ nhớ lại: Hôm ấy trời bắt đầu chuyển sang hè, một đêm có hai anh thanh niên (sau này biết một người là Vũ Kỳ, thư ký riêng của Bác, một người tên là Nhất, bảo vệ của Bác), cầm giấy giới thiệu đề nghị giúp làm một căn lán nhỏ trên đồi cho một người ở, nhưng ngăn làm đôi. Một căn lán to ở sườn đồi cho chừng 9-10 người ở.

Anh Triệu Đình Quân dạo ấy là chủ nhiệm Việt Minh xã huy động chín dân quân, tất cả đều là đảng viên, dưới sự hướng dẫn của anh Kỳ và anh Nhất làm trong khoảng năm ngày thì xong. Cây vầu làm cột, lá cọ lợp mái (hai thứ có sẵn trên đồi). Riêng sàn thì vợ chồng Ma Đình Tịnh, Ma Đình Hèn có một số tấm ván xẻ lát sẵn sàng cho mượn.

Đứng trước căn lán hai buồng đơn sơ, trước cái bếp đắp bằng đất, ba thanh sắt đã bắt đầu hoen gỉ, lòng chúng tôi bồi hồi, xiết bao xúc động, bởi cảm thấy như hình bóng Bác vẫn còn đâu đây.

Chúng tôi nhẹ bước lên chiếc cầu thang ngắn vỏn vẹn ba bậc để lên chiếc lán của Bác. Chiếc lán rộng chừng 10m2, được ngăn làm đôi, một nửa dùng làm buồng ngủ, một nửa để làm việc, tiếp khách. Chiếc giường và chiếc bàn làm việc cũng bằng vầu.

Theo đại tá Kim Sơn (một chiến sĩ giải phóng quân có mặt ở Tân Trào từ Cách mạng Tháng Tám), Khâu Tý là một trong những địa điểm Bác dừng lại lâu nhất trong suốt thời gian tám năm ở ATK Định Hóa: 4 tháng 19 ngày. Có lẽ do nơi đây khá thuận lợi về địa thế. Từ Khâu Tý có đường mòn ra Quảng Nạp đi Phú Minh, sang huyện Đại Từ hoặc ra chợ Chu, ngược ra chợ Đồn (Bắc Kạn) hoặc vượt đèo De, núi Hồng sang Tân Trào.

Mặt khác, ở gần Bác lúc này còn có Tổng bí thư Trường Chinh và văn phòng Trung ương Đảng ở xóm Phụng Hiển. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Văn phòng Bộ Quốc phòng, Tổng chỉ huy ở xóm Khẩu Hấu. Quyền trưởng ban thường trực Quốc hội Tôn Đức Thắng ở xóm Đồng Mua.

Ở gần Khâu Tý còn có chủ nhiệm Tổng bộ Việt Minh Hoàng Quốc Việt và chủ nhiệm báo Cứu Quốc Xuân Thủy ở xóm Roòng Khoa. Đây là hai cơ quan, hai con người Bác hằng yêu quý. Bác vốn là người sáng lập ra Mặt trận Việt Minh và ngày 19-5, ngày thành lập Mặt trận cũng chính là ngày sinh của Người. Con người Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh chính là nhà báo vĩ đại nhất trong lịch sử báo chí VN.

Ở Khâu Tý – Phủ Chủ tịch đầu tiên của “thủ đô gió ngàn” – từng diễn ra những cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng gồm các đồng chí Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể lại trong một lần họp như thế, mọi người đã được nghe bài thơ Cảnh khuya của Bác vừa làm xong.

Đặc biệt, tại căn lán đơn sơ ấy đã ra đời một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của Hồ Chí Minh. Đó là cuốn Sửa đổi lối làm việc. Theo đồng chí Vũ Kỳ, khi giặc Pháp mở cuộc tiến công lên Việt Bắc ngày 7-10-1947 thì Bác cũng vừa đánh máy xong trang cuối cùng của tập sách bằng chiếc máy chữ Hermes Bác mang theo từ hồi ở Tân Trào. Rất nhanh chóng, Sửa đổi lối làm việc trở thành tập sách gối đầu giường của cán bộ, đảng viên, góp phần to lớn vào thành công của công tác xây dựng Đảng.

GSTS ngôn ngữ học Nguyễn Như Ý tâm sự: “Chúng ta có một Hồ Chí Minh thật vĩ đại. Vấn đề là chúng ta phải làm sao xứng đáng với điều đó”. Bao nhiêu năm qua có một câu hỏi lớn cứ vương vấn trong đầu giáo sư: Sao mà từ năm 1947, giữa một khu rừng heo hút, trong căn lán nhỏ đơn sơ giữa lúc giặc Pháp đang đổ quân vây kín mọi ngả rừng, cố tìm bắt sống cho bằng được Hồ Chí Minh mà Người vẫn có thể viết ra những lời vĩ đại như thế?

…Rời Khâu Tý, chúng tôi nhớ mãi câu nói của đồng chí Vũ Kỳ, người từng được sống cạnh Bác Hồ trong suốt thời gian Bác viết tác phẩm Sửa đổi lối làm việc trong căn lán nhỏ giữa “thủ đô gió ngàn”: “Lời Bác viết cách đây hơn nửa thế kỷ mà vẫn như đang nói với chúng ta hôm nay”.

Đại tá Thế Kỷ
(Người giúp việc của ông Vũ Kỳ – thư ký của Bác Hồ)

bqllang.gov.vn

Tấm lòng Bác Hồ đối với chiến sỹ

Đối với chiến sĩ là những người hy sinh nhiều nhất cho dân tộc, Bác Hồ thường dành cho anh em sự chăm lo săn sóc ân tình, chu đáo nhất.

Mùa đông, thương anh em chiến sĩ rét mướt ở rừng núi hay bưng biền, Bác đem tấm áo lụa của mình được đồng bào tặng, bán đấu giá để lấy tiền mua áo ấm gửi cho các chiến sĩ. Bác thường nói: “Chiến sĩ còn đói khổ, tôi ăn ngon sao được”. “Chiến sĩ còn rách rưới, mình mặc thế này cũng là đầy đủ lắm rồi!”.

Mùa hè năm 1967, trời Hà Nội rất nóng. Sức khỏe Bác Hồ đã kém, thần kinh suy nhược, dễ bị toát mồ hôi, ướt đầm, có ngày Bác phải thay mấy lần quần áo, có khi hong tại chỗ, rồi lại thay ngay. Thế nhưng, Bác vẫn không dùng máy điều hòa nhiệt độ. Bác bảo: “Mùi nó hôi lắm, Bác không chịu được!” (Bác không dùng nên nói vậy thôi, chứ máy đã có nút xả thơm).

Thấy trời oi bức quá, Bác nói với đồng chí Vũ Kỳ:

– Nắng nóng thế này, các chú bộ đội trực phòng không trên nóc Hội trường Ba Đình thì chịu sao được? Các chú ấy có đủ nước uống không? Chú thử lên tìm hiểu xem thế nào, về cho Bác biết.

Đồng chí Vũ Kỳ lên, được biết trên đó có một tổ súng máy 14,5 ly; ụ cát sơ sài, nếu địch bắn vào thì chỉ có hy sinh, rất nguy hiểm.

Trời nắng chói, đứng một lúc mà hoa cả mắt. Đồng chí Vũ Kỳ hỏi:

– Các đồng chí có nước ngọt uống không?

– Nước chè thường còn chưa có, lấy đâu ra nước ngọt!

Đồng chí Vũ Kỳ về nói lại với Bác, Bác gọi điện ngay cho đồng chí Văn Tiến Dũng: “Sao các chú không lo đủ nước uống cho các chiến sĩ trực phòng không? Nghe nói ụ súng trên nóc Hội trường Ba Đình rất sơ sài, chú phải lo sửa ngay để đảm bảo an toàn cho chiến sĩ trong chiến đấu?”.

Sau đó Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ đi lấy sổ tiết kiệm của Bác, xem tiền tiết kiệm của Bác còn bao nhiêu.

Tại sao Bác có tiền tiết kiệm? Lương Bác cao nhất nước, nhưng hàng tháng cũng chỉ đủ tiêu. Mọi chi phí cho sinh hoạt của Bác, từ cái chổi lông gà, đều ghi vào lương cả.

Tiền tiết kiệm của Bác là do các báo trả nhuận bút cho Bác. Bác viết báo nhiều, có năm hàng trăm bài. Các báo gửi đến bao nhiêu, văn phòng đều gửi vào sổ tiết kiệm của Bác. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác cũng đã có tiền tiết kiệm. Đến dịp tết Nguyên đán, Bác lại đem chia cho cán bộ các cơ quan chung quanh Bác, mua thịt lợn để đón xuân. Đồng chí Vũ Kỳ xem sổ và báo cáo:

– Thưa Bác, còn lại tất cả hơn 25.000 đồng (lúc đó là một món tiền rất lớn, tương đương với khoảng 60 lạng vàng).

Bác bảo:

– Chú chuyển ngay số tiền đó cho Bộ Tổng tham mưu và nói đó là quà của Bác tặng để mua nước ngọt cho anh em chiến sĩ trực phòng không uống, không phải chỉ cho những chiến sĩ ở Ba Đình, mà cho tất cả các chiến sĩ đang trực chiến trên mâm pháo ở khắp miền Bắc. Nếu số tiền đó không đủ thì yêu cầu địa phương nào có bộ đội phòng không trực chiến góp sức vào cùng lo!

Phạm Phú Bình
(Báo Tuổi trẻ)

bqllang.gov.vn

Tình bạn giữa Chu Ân Lai và Hồ Chí Minh

Đại Công báo”, một tờ báo Trung Quốc có hơn một trăm năm lịch sử, là một trong ba tờ báo Hoa văn có uy tín trên thế giới do Liên hợp quốc bình chọn, số ra ngày 6-4-2011 đã đăng bài “Vài mẩu chuyện về tình bạn giữa Hồ Chí Minh với Chu Ân Lai” của tác giả Lý Gia Trung, nguyên Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam từ tháng 12-1995 đến tháng 7-2000. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc tham khảo.

Hai vị vĩ nhân xưng hô với nhau là anh em

Tháng 11-1956, Thủ tướng Chu Ân Lai sang thăm Việt Nam. Trong lời chào mừng các vị khách quý dự tiệc chiêu đãi cấp nhà nước, với tư cách là Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không đọc bài viết sẵn, mà nói vo một đoạn: “Với tôi, đồng chí Chu Ân Lai là người anh em của tôi. Chúng tôi đã từng cùng nhau đồng cam cộng khổ, cùng nhau làm công tác cách mạng. Anh ấy là người bạn chiến đấu thân mật của tôi trên ba mươi năm qua!”

Tiếp lời, Thủ tướng Chu Ân Lai cũng nói: “Hồ Chủ tịch vừa nhắc đến cá nhân tôi trên ba mươi năm trước đã quen thân anh, đúng thế! Ba mươi tư năm trước, tại Pa-ri, tôi đã quen thân Hồ Chủ tịch. Anh là người dẫn đường của tôi. Khi ấy, anh đã là một người Mác-xít thành thục, mà tôi khi ấy mới vừa tham gia Đảng Cộng sản. Anh ấy là lão đại ca của tôi!”

Lúc ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại đứng lên nói với mọi người có mặt: “Câu nói vừa rồi của đồng chí Chu Ân Lai, các đồng chí nghe biết là được rồi, không nên nói lại với những người khác. Mọi người đều biết, đồng chí Chu Ân Lai là nhà lãnh đạo của một Đảng lớn và một nước lớn dân số nhiều nhất trên thế giới!”.

Vì thế, báo chí Việt Nam không đưa tin viết bài kỹ câu chuyện này. Mãi cho đến ngày 14-5-1960, Nhân dân nhật báo Trung Quốc mới tiết lộ tình tiết này.

Từ năm 1965 về sau, tình hình sức khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh không được tốt. Thủ tướng Chu Ân Lai rất quan tâm đến bệnh tình của Người, trực tiếp lựa chọn những chuyên gia y tế có trình độ cao nhất Trung Quốc thành lập Tổ điều trị, đến Hà Nội chữa bệnh cho Hồ Chủ tịch.

Tháng 5-1969, bệnh tình của Hồ Chủ tịch tương đối ổn định, phía Việt Nam bèn đề nghị các chuyên gia của Tổ điều trị Trung Quốc về nước nghỉ ngơi củng cố một chút, một tháng sau thì trở lại. Trước khi lên đường, các chuyên gia hỏi Hồ Chủ tịch yêu cầu từ Bắc Kinh mang về những gì. Hồ Chủ tịch nói luôn: “Cái gì cũng không cần, chỉ mang về một con vịt quay Bắc Kinh là được rồi!”.

Sau khi về nước, trong khi nghe báo cáo tình hình, Thủ tướng Chu Ân Lai biết Hồ Chủ tịch thích ăn vịt quay, nói ngay: “Một con không được! Phải mang hai con, đồng thời phải là vịt to, sườn mỏng và tưới ma-gi thơm ngọt và đầy đủ gia vị”. Thủ tướng Chu Ân Lai còn suy nghĩ, nhắc nhở: Việt Nam đang mùa hè, Hồ Chủ tịch lại là người cao tuổi, cơ thể yếu, nên giải quyết đông lạnh bảo quản thực phẩm tươi ngon là vấn đề quan trọng hàng đầu.

Thủ tướng Chu Ân Lai gửi vịt quay tặng Hồ Chủ tịch

Vì chuyện này, Thủ tướng Chu Ân Lai mời đồng chí Lý Cường, Bộ trưởng Bộ Ngoại thương đến bàn bạc, song đồng chí Lý Cường cũng không am hiểu những tri thức về mặt đông lạnh. Cuối cùng, thông qua Công ty Xuất nhập khẩu Lương thực thực phẩm, một đơn vị trực thuộc Bộ Ngoại thương, tìm đến Nhà máy Rượu Bắc Kinh, ở đây sản xuất được một loại băng khô có thể làm lạnh, sau khi đưa vịt quay và các gia vị vào thùng lót xốp, chung quanh rắc băng khô lên, có thể khống chế nhiệt độ ở độ âm, bảo đảm chắc chắn vịt quay không thể biến chất. Đến khi ấy, Thủ tướng Chu Ân Lai mới yên tâm.
Hạ tuần tháng 6, chuyên gia trong Tổ điều trị trở lại Hà Nội.

Tháng 5-1960, Thủ tướng Chu Ân Lai thăm Việt Nam. Hồ Chủ tịch và Chu Thủ tướng
vui với các cháu thiếu nhi Việt Nam. Ảnh do Vũ Phong Tạo cung cấp.

Hồ Chủ tịch quyết định đem một con vịt quay tặng Tổ điều trị, còn một con nữa, Người yêu cầu cùng thưởng thức với Đại sứ Trung Quốc Vương Ấu Bình.

Ngày 30-6, Phủ Chủ tịch Việt Nam gọi điện thoại đến Đại sứ quán Trung Quốc, thông báo: Ngày mai là Kỷ niệm 48 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc, Hồ Chủ tịch quyết định mời cơm Đại sứ Vương Ấu Bình tại Phủ Chủ tịch, vào 12 giờ trưa.

Ngày hôm sau, tôi là phiên dịch tháp tùng Đại sứ Vương Ấu Bình đúng giờ đến Phủ Chủ tịch. Đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký của Hồ Chủ tịch dẫn chúng tôi vào phòng ăn. Trước khi Hồ Chủ tịch đi vào phòng ăn, đồng chí Vũ Kỳ kể với chúng tôi câu chuyện: Sau khi nghe Tổ điều trị phản ánh, Thủ tướng Chu Ân Lai đã gửi vịt quay sang.

Sau 30 năm, năm 1999, tôi đã gặp đồng chí Vũ Kỳ, năm ấy đã 78 tuổi. Khi nhắc đến chuyện Thủ tướng Chu Ân Lai gửi vịt quay tặng Hồ Chủ tịch, đồng chí ấy vô cùng xúc động. Đồng chí nói với tôi: Đến nay đồng chí ấy vẫn giữ gìn cẩn thận chiếc lọ sứ đựng ma-gi ngọt hồi ấy, coi như một hiện vật văn hóa quý báu có ý nghĩa lịch sử.

Thủ tướng Chu Ân Lai trực tiếp đến Hà Nội viếng Hồ Chủ tịch

Ngày 2-9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, hưởng thọ 79 tuổi.

Sau khi nghe tin, Thủ tướng Chu Ân Lai vô cùng đau thương.

Ngoài việc gửi điện chia buồn đến Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Trung Quốc cử Phó thủ tướng Lý Tiên Niệm dẫn đầu Đoàn Đại biểu Đảng và Chính phủ Trung Quốc sang dự Lễ tang Hồ Chủ tịch, tổ chức vào ngày 9 tháng 9.

Thủ tướng Chu Ân Lai còn quyết định trước đó vào ngày 4-9, ông và Diệp Kiếm Anh, Vi Quốc Thanh cùng đến Hà Nội, viếng Hồ Chủ tịch.

Các nhà lãnh đạo cao cấp: Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Phó thủ tướng Võ Nguyên Giáp… trực tiếp ra tận sân bay đón tiếp. Thủ tướng Chu Ân Lai rơm rớm nước mắt, nói: “Tôi đến muộn rồi!”.

Trong khi hội đàm với những nhà lãnh đạo Việt Nam, Thủ tướng Chu Ân Lai đều nói rõ các thành viên của Đoàn đại biểu đều là những đồng chí quan hệ mật thiết với Hồ Chủ tịch. Bản thân đồng chí thay mặt cho Mao Chủ tịch đến. Trong thời kỳ chiến tranh kháng Nhật, Diệp Kiếm Anh đã từng cùng Hồ Chủ tịch công tác tại Văn phòng Bát Lộ Quân tại Trùng Khánh. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Vi Quốc Thanh làm Đoàn trưởng Đoàn Cố vấn quân sự Trung Quốc sang Việt Nam công tác.

Thủ tướng Chu Ân Lai nói:

“Hồ Chủ tịch suốt đời phấn đấu, chẳng những lập công bất hủ vì nhân dân Việt Nam, mà còn có cống hiến rất lớn vì giai cấp vô sản quốc tế. Hồ Chủ tịch có quan hệ đặc biệt mật thiết đối với cách mạng Trung Quốc, với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đồng chí mấy lần đến Trung Quốc, tham gia cách mạng Trung Quốc, cùng chung hoạn nạn, kề vai sát cánh chiến đấu với nhân dân Trung Quốc, dày công vun đắp tình cảm sâu đậm với nhân dân Trung Quốc, với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Phẩm chất cộng sản của Hồ Chủ tịch, sự quan tâm đến nhân dân lao động, ý chí cách mạng, tinh thần đấu tranh triệt để với kẻ thù, tác phong công tác gian khổ chất phác của Chủ tịch, trước sau như một, xứng đáng được mọi Đảng viên cộng sản học tập.”

Thủ tướng Chu Ân Lai nhiều lần nói: “Tôi đến muộn rồi, không thể gặp mặt lần cuối cùng với Hồ Chủ tịch!”.

Khi ấy, thi hài của Hồ Chủ tịch đã được giao cho chuyên gia Liên Xô để tiến hành xử lý y học, không cho người không có phận sự tiếp xúc, nên đáng lẽ Đoàn không thể đến với Người.

Nhưng, vì tình hữu nghị chiến đấu sâu đậm của Thủ tướng Chu Ân Lai với Hồ Chủ tịch, trước khi Đoàn đại biểu lên đường về nước, phía Việt Nam đã phá lệ, bố trí cho Thủ tướng Chu Ân Lai và các đại biểu trong Đoàn đến bái biệt Hồ Chủ tịch.

Theo http://www.qdnd.vn
Anh Tú (st)

bqllang.gov.vn

Chuyện về người đầu bếp đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đó là đồng chí Hoàng Văn Lộc, tên thật là Nguyễn Văn Ty, sinh năm 1900, quê tại xã Lương Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, đồng chí Lộc vốn là một Việt kiều ở Xiêm (Thái Lan).

Năm 1928, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh (lúc đó là Nguyễn Ái Quốc) đến Xiêm, đồng chí được chọn đi cùng Bác khắp 16 tỉnh Đông Bắc Xiêm có Việt kiều sinh sống nhằm tuyên truyền cách mạng cho kiều bào yêu nước. Từ Xiêm, Chủ tịch Hồ Chí Minh nghe tin ở trong nước, ba tổ chức cộng sản đã ra đời và đang có sự phân liệt tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau. Trước tình hình đó, tháng 11 năm 1929, Người trở về Hồng Kông để triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức Đảng, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 2-1930). Cũng chính dịp này đồng chí Hoàng Văn Lộc cũng tạm chia tay người vợ trẻ ở Xiêm, để đi theo Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Trung Quốc, tiếp tục con đường hoạt động cách mạng.

Sau đó, hàng loạt sự kiện liên tiếp diễn ra: Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, tạo tiền đề cho phong trào đấu tranh cách mạng phát triển lên một tầm cao mới; nhưng ngày 6-6-1931, Chủ tịch Hồ Chí Minh bị bắt tại Hồng Kông. Trải qua gần 3 năm bị giam giữ và lưu lạc, tháng 6-1934 Người trở về hoạt động ở Liên Xô. Năm 1938, đứng trước thực tế lò lửa chiến tranh Thái Bình Dương đã xuất hiện, không thể yên tâm học tập và hoàn thành luận án nghiên cứu sinh Phó Tiến sĩ sử học, Nguyễn Ái Quốc đề nghị và được Quốc tế Cộng sản điều về hoạt động ở Trung Quốc. Trong khoảng thời gian từ 1938-1940, Người cùng một số đồng chí đã di chuyển qua nhiều địa điểm ở Trung Quốc, một mặt tiếp tục hoạt động và tuyên truyền cách mạng, mặt khác Người cùng các đồng chí không ngừng tìm cách chắp nối liên lạc để tìm đường về nước.

Cuối tháng 5-1940, đồng chí Hoàng Văn Lộc và đồng chí Đặng Văn Cáp tới Côn Minh, Vân Nam, Trung Quốc gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh phái Bùi Thanh Bình và Hoàng Văn Lộc về Hà Khẩu thăm dò đường sá để về nước bằng đường Côn Minh – Lào Cai. Cuối tháng 6-1940, đường giao thông Côn Minh – Lào Cai bị tắc, kế hoạch về nước bằng đường Lào Cai phải hủy bỏ. Đồng chí Hoàng Văn Lộc được gọi trở về Côn Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định chọn đường về nước qua Cao Bằng.

Ngày 28 tháng 1 năm 1941 đoàn cán bộ cùng Bác Hồ vượt qua cột mốc biên giới Việt – Trung số 108 về Cao Bằng. Cùng đến Pác Bó với Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có 5 đồng chí: Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Thế An, Đặng Văn Cáp và Hoàng Văn Lộc – người đã gắn bó với Bác từ những ngày đầu hoạt động đầy khó khăn ở Thái Lan những năm 1928, 1929.

Những ngày hoạt động ở Pác Bó cuộc sống vô cùng gian khổ và thiếu thốn. Đồng chí Lộc được giao nhiệm vụ nấu ăn cho cả cơ quan. Để cải thiện bữa ăn đạm bạc cho Bác và các anh em, đồng chí Lộc không ngại khó khăn gian khổ mò cua, bắt ốc, trồng rau, đơm cá, đặc biệt đồng chí biết rất nhiều các loại rau rừng và cũng rất chịu khó cải tiến món ăn. Trong thời gian hoạt động tại Cao Bằng, đồng chí đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một người đầu bếp đầu tiên của Bác Hồ.

Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng và các cơ quan Trung ương trở về thủ đô Hà Nội. Các đồng chí hoạt động cách mạng từ trước khởi nghĩa nhiều người được giao đảm đương những cương vị xứng đáng. Riêng đồng chí Lộc cùng với một số đồng chí khác được Bác Hồ cử ở lại Việt Bắc tiếp tục xây dựng “hậu phương lưu trú”. Bởi với tầm nhìn chiến lược, trên cơ sở phân tích tương quan lực lượng địch và ta, đặc biệt nhìn rõ dã tâm xâm lược của thực dân Pháp đối với dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên đoán việc Chính phủ sớm muộn sẽ phải trở lại Tân Trào để tiếp tục kháng chiến. Vì vậy, việc không ngừng củng cố và xây dựng hậu phương là một vấn đề tối cần thiết. Người đã tin tưởng giao nhiệm vụ khó khăn này cho đồng chí Hoàng Văn Lộc.

Đúng như Bác dự đoán, ngày 19-12-1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Bác Hồ cùng Trung ương Đảng đi qua các tỉnh Sơn Tây, Phú Thọ, và đến tháng 5-1947, Người trở lại Tân Trào, bắt đầu cuộc trường kỳ kháng chiến. Đồng chí Lộc đang làm việc tại công binh xưởng, được gọi trở về cơ quan Phủ Chủ tịch để làm nhiệm vụ cấp dưỡng, nấu ăn cho Bác. Để biểu thị quyết tâm trong cuộc kháng chiến, cũng là để nhắc nhở các cán bộ chiến sĩ đồng lòng quyết tâm, Bác Hồ đã đặt tên cho các chiến sĩ, cán bộ phục vụ xung quanh Người theo khẩu hiệu: Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi và Đồng, Tâm, Kiên, Quyết, Trung, Dũng, Cần, Kiệm, Liêm… Đồng chí Lộc được mang tên là Đồng. Không phụ lòng tin cậy của Bác, Đồng chí Lộc một lần nữa nỗ lực hết mình, tận tụy hoàn thành nhiệm vụ được Đảng phân công.

Trong hoàn cảnh khó khăn, gian khổ nhưng hào hùng ấy, ngày 3-5-1948, do bị một cơn sốt rét ác tính, đồng chí Lộc qua đời. Anh em ngậm ngùi chôn cất đồng chí trong khu rừng Khuôn Tát, xã Phú Đình, Định Hoá, Thái Nguyên. Sau khi đồng chí qua đời, có một kỷ niệm vô cùng sâu sắc mà tất cả các anh em đều nhớ mãi. Đó là, sáng 19-5-1948, anh em cảnh vệ phục vụ giúp việc Bác Hồ bí mật sửa soạn từ tối hôm trước để tổ chức chúc thọ Bác. Anh em dậy từ đêm, hái một bó hoa rừng, chờ sẵn Bác, khi Người bước từ căn gác nhỏ nhà sàn xuống, anh em chạy lại xếp hàng ngang trước mặt Bác, và cử một đồng chí nhanh nhẹn nói một câu vắn tắt: “Nhân dịp sinh nhật Bác, chúng cháu kính chúc Bác mạnh khỏe, sống lâu”.

Anh em đều rất vui mừng vì đã tổ chức một buổi sinh nhật Bác rất đúng kế hoạch, giản dị mà vui vẻ. Nhưng khi cầm bó hoa rừng anh em vừa trao tặng, Bác rưng rưng nước mắt, Người nói: “Bác cám ơn các chú. Bác nhờ các chú đem bó hoa này đặt lên mộ chú Lộc cho Bác”. Lúc đó anh em ai cũng chảy nước mắt vì nhớ thương một người đồng chí và vì cả tình cảm mà Bác dành cho anh. Sau khi các anh em đem bó hoa rừng ra viếng mộ đồng chí Lộc theo đúng ý Bác, trở về Bác cháu quây quần dưới nhà sàn, Bác kể cho anh em nghe về đồng chí Lộc. Lúc này anh em mới biết người đồng chí nhỏ nhắn, thông minh, nhanh nhẹn, linh hoạt, hay cười, lạc quan không bao giờ nói đến khó khăn gian khổ, một người làm công việc tưởng chừng như nhỏ bé, giản đơn lại có một tiểu sử đáng khâm phục đến như vậy. Anh em càng xúc động hơn khi kết thúc câu chuyện, Bác nói: “Chú Đồng làm nhiệm vụ nấu ăn cho Bác và cho các chú, không phải vì chú ấy không có năng lực, ngược lại chú Đồng rất có khả năng, có thể đảm đương nhiều công việc quan trọng. Nhưng do tổ chức tin tưởng phân công cho chú ấy nấu ăn cho Bác và các chú, nên chú vui vẻ làm và làm việc gì cũng đến nơi đến chốn”. Vậy là lễ mừng sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh năm ấy đã trở thành một buổi Bác dạy anh em giúp việc, cảnh vệ về tấm gương của người cộng sản chân chính, mẫu mực và vô cùng giản dị, gần gũi: Hoàng Văn Lộc (tức Đồng, tức Ty).

Câu chuyện về đồng chí Lộc được đồng chí Vũ Kỳ – nguyên Thư ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trên báo Nhân dân năm 1970. Hơn 10 năm sau (1981), Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh bất ngờ được đón một bà cụ cùng một người cháu từ Quảng Bình ra. Bà cụ xưng tên là Nguyễn Thị Cúc, và nói rằng bà chính là vợ ông Đồng (ông Lộc) – người đã được đồng chí Vũ kỳ viết bài trên báo Nhân dân. Sau khi tìm hiểu các nhân chứng để xác minh, Bảo tàng Hồ Chí Minh khẳng định đây chính là vợ của đồng chí Lộc, người vợ trẻ năm 1929 khi ông Lộc chia tay đi cùng Bác Hồ về Trung Quốc có dặn lại: “Anh đi công việc cho thượng cấp, em ở lại, nếu 3 năm anh không về em cứ đi lấy chồng”. Nhưng không phải chỉ 3 năm mà là hơn 50 năm sau, tức là đến năm 1981, chị Cúc mà hôm nay đã là bà Cúc mới có tin tức và biết về những việc làm của chồng qua bài báo của đồng chí Vũ Kỳ. Rất tiếc khi chia tay hai người chưa có con, nhưng bà Cúc ở vậy và tích cực tham gia các phong trào yêu nước của Việt kiều sinh sống tại Thái Lan.

Bà đã được về nước trong đoàn Việt kiều đầu tiên hồi hương năm 1960. Về đến Việt Nam bà được ban Việt kiều phân công định cư tại Quảng Bình. Trải qua hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, hầu như tài sản của bà không còn gì. Không vốn liếng, không con cái, bà sống một cuộc sống khá chật vật, nhờ vào mở một quán nước bên bến phà.

Năm sau (1982), khi đi công tác qua phà Quảng Bình, tôi đã được theo đồng chí Vũ Kỳ tìm đến thăm bà cụ. Chứng kiến cảnh nghèo khó của bà Cúc, đồng chí Vũ Kỳ rất xúc động. Khi vào đến thành phố Huế, đồng chí Vũ Kỳ đã đề nghị Bí thư Tỉnh Uỷ Bình Trị Thiên khi đó là đồng chí Vũ Thắng đón bà cụ vào nhà dưỡng lão của tỉnh Bình Trị Thiên (ở thành phố Huế) để thuận tiện chăm sóc cụ khi tuổi già sức yếu. Năm 1985, đích thân đồng chí Vũ Kỳ làm văn bản đề nghị Nhà nước truy tặng đồng chí Lộc là liệt sỹ, và giải quyết cho bà Cúc được hưởng chế độ vợ liệt sỹ. Sau đó, trong những buổi nói chuyện với chúng tôi, đồng chí Vũ Kỳ thường hay nhắc: Chúng ta có cuộc sống hôm nay bởi có biết bao những tấm gương hy sinh thầm lặng như đồng chí Lộc, như bà Cúc. Những con người hy sinh hạnh phúc cá nhân của mình vì hạnh phúc chung của toàn dân tộc, mà không một toan tính, không một lần đòi hỏi được đền đáp.

Trọn đời mình, đồng chí Lộc là một cán bộ trung thành, tận tụy, liêm khiết, lạc quan, hoàn thành xuất sắc tất cả các nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao phó, một tấm gương trung thành với Đảng, suốt đời làm việc cho Đảng, không tính toán cá nhân, đòi hỏi địa vị.

Với truyền thống uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa những chiến sĩ cách mạng cống hiến cả cuộc đời mình cho dân tộc. Đặc biệt nhằm ghi nhận đầy đủ những đóng góp của đồng chí Lộc và người bạn đời của ông đối với cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, những người cán bộ viên chức của Bảo tàng Hồ Chí Minh chúng tôi có nguyện vọng tiếp tục thực hiện mong mỏi của bà Cúc mà trước đây bà vẫn chưa kịp hoàn thành: Đề nghị nhà nước truy phong danh hiệu “gia đình có công với nước” và Huân chương cao quý cho đồng chí Hoàng Văn Lộc – người đảng viên cộng sản chân chính, người được Bác Hồ nhận xét bằng những lời giản dị, ngày 19-5-1948: “Trong lúc khó khăn gian khổ làm việc không chút nề hà, đến lúc nước nhà độc lập cũng không mảy may đòi hưởng thụ”./.

Theo TS. Chu Đức Tính – Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tượng đài Bác Hồ trên Quốc đảo Singapore

Singapore là một hòn đảo có hình dạng một viên kim cương, được bao quanh bởi nhiều đảo nhỏ khác. Singapore từng là một làng cá của người Malaysia. Tên Singapore xuất phát từ Singapura trong tiếng Malaysia (hay tiếng Malay), vốn được lấy từ nguồn gốc của chữ Phạn là singa (sư tử) và pura (thành phố). Từ đó, Singapore được biết đến với tên Thành phố Sư Tử. Từ thế kỷ 16 đến đầu thế kỷ 19, Singapore là một phần của Tiểu Vương quốc Johor (một bang của Malaysia. Năm 1819, nằm trong Khu thuộc địa của Anh, hòn đảo này dân cư còn rất thưa thớt, chỉ có một làng chài nhỏ với số dân chưa đầy 1000 người.

Sau khi thuộc quyền sở hữu của Anh, người Anh đã bắt đầu xây dựng Singapore từng bước thành một cảng thương mại lớn ở Đông Nam Á và vào những năm 1830 nó đã trở thành một trong ba cảng thương mại chính ở Đông Nam Á cùng với Manila ở Philipinnes và Batavia (Jarkata ngày nay) ở đảo Java. Tháng 2/1942, Singapore bị quân đội Nhật đã chiếm đóng đổi tên thành Syonanto, nghĩa là Ánh sáng Phương Nam. Tháng 9/1945, khi Nhật đầu hàng Đồng minh, quân đội Anh quay trở lại chiếm đóng hòn đảo này và từ tháng 3/1946, Singapore trở lại thuộc địa của Vương quốc Anh. Trước năm 1950, người Việt Nam còn biết đến Singapore dưới những tên: Chiêu Nam và Hạ Châu.

Singapore trở thành một nước tự chủ vào năm 1959 và ông Lý Quang Diệu trở thành Thủ tướng đầu tiên của Singapore. Cuộc trưng cầu dân ý về việc sát nhập Singapore vào Liên bang Malaysia đã đạt được vào năm 1961 và đưa Singapore trở thành một thành viên Liên bang Malaysia có quyền tự trị vào tháng 9/1963. Cuộc hợp nhất không đạt được nhiều thành công và 2 năm sau đó, ngày 9/8/1965 (sau này đã trở thành ngày Quốc khánh của Singapore), Singapore đã tách khỏi Malaysia và trở thành một quốc gia độc lập với nền dân chủ có chủ quyền lãnh thổ. Ngày 22/12/1965, Singapore đã chính thức trở thành một nước Cộng hòa độc lập.

Trở thành nước độc lập, Singapore phải đối mặt với nhiều khó khăn trong giai đoạn này: Không ổn định về chính trị xã hội, không phát triển về kinh tế, đất đai và tài nguyên thiên nhiên rất ít (tài nguyên thiên nhiên được ghi trong tài liệu giới thiệu về quốc gia này chỉ có thủy sản và cảng nước sâu) … Từ năm 1959 đến năm 1990, Chính phủ Singapore, do Thủ tướng Lý Quang Diệu đứng đầu, đã từng bước kiềm chế thất nghiệp, lạm phát, tăng mức sống và thực hiện một chương trình nhà ở công cộng với quy mô lớn (hơn 90% dân cư Singapore sống trong các khu nhà xây dựng sẵn của Ban Phát triển Nhà ở và gần một nửa dân cư sử dụng phương tiện giao thông công cộng hàng ngày); các cơ sở hạ tầng kinh tế của đất nước được phát triển, mối đe dọa của căng thẳng chủng tộc được loại bỏ và một hệ thống phòng vệ quốc gia được thiết lập; đầu tư nước ngoài và công cuộc công nghiệp hóa do nhà nước chỉ đạo đã tạo nên một nền kinh tế dựa chủ yếu trên xuất khẩu hàng điện tử và gia công… Từ một “làng chài” nghèo khó đầu thế kỷ 20, diện tích chỉ tương đương đảo Phú Quốc (tỉnh Kiên Giang), từ một nước đang phát triển, đến cuối thế kỷ 20, Singapore đã vươn lên thành một nước phát triển. Hiện nay, Singapore là một nước công nghiệp với thu nhập bình quân đầu người khoảng 38.000 USD (năm 2010). Với cơ sở hạ tầng hoàn hảo, những nét văn hoá tương phản đầy hấp dẫn cùng những điểm tham quan thu hút du khách là những yếu tố góp phần đem đến sự thành công cho Singapore và biến quốc gia này trở thành điểm đến hàng đầu cả trong lĩnh vực thương mại lẫn du lịch.

Trên đất nước Singapore tươi đẹp có một địa chỉ mỗi năm thu hút hàng vạn lượt khách tới tham quan: Đó là Bảo tàng Văn minh châu Á, nằm bên bờ sông Singapore. Phần trưng bày về Việt Nam trong Bảo tàng nổi bật với phiên bản trống đồng Đông Sơn, tranh Đông Hồ…Với tình cảm mến yêu Việt Nam và tôn vinh một trong những nhân vật vĩ đại nước ngoài từng đặt chân tới Singapore, nhân kỷ niệm 118 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và 35 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Singapore, Ủy ban Di sản Quốc gia Singapore đã đặt tấm bia tưởng niệm Người trước sân tiền sảnh trong khuôn viên bảo tàng (trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 2 lần tới Singapore. Lần đầu vào tháng 5/1930, lần thứ hai là tháng 1/1933). Từ tháng 9/2007, Ủy ban Di sản quốc gia Singapore và Đại sứ quán Việt Nam tại Singapore, với sự giúp đỡ trực tiếp của Bảo tàng Hồ Chí Minh đã hợp tác chặt chẽ từ việc hình thành ý tưởng đến khâu thiết kế và xây dựng nội dung tạc trên bia tưởng niệm. Bia tưởng niệm với chất liệu đá hoa cương đen, cao 1,8m, rộng 0,75m, dày 0,23m; trên có chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh và tiểu sử tóm tắt của Người. Mặt sau bia tạc bài thơ Giã gạo của Bác. Hình hoa sen tiêu biểu cho làng Sen quê Bác chạm mờ được hiển thị trên cả hai mặt của tấm bia. Tên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được đánh dấu đầy đủ theo tiếng Việt, góp phần tăng thêm tính biểu tượng và tôn nghiêm cho tấm bia. Ngày 20/5/2008, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm và Bộ trưởng Ngoại giao Singapore George Yeo đã cắt băng khánh thành bia tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Không chỉ dừng lại ở bia tưởng niệm, những người bạn yêu mến Việt Nam ở Uỷ ban Di sản Quốc gia Singapore, Đại sứ quán Việt Nam tại Singapore có sự phối hợp của Bảo tàng Hồ Chí Minh đã có ý tưởng đặt tượng bán thân Chủ tịch Hồ Chí Minh bên cạnh bia tưởng niệm. Ý tưởng này đã được các cơ quan chức năng của Việt Nam và Singapore hoàn toàn nhất trí. Phía Bạn đã trân trọng chọn việc dựng tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Bảo tàng Văn minh châu Á khởi đầu cho chương trình tôn vinh “Những người bạn đến bờ biển chúng ta”.

Sáng ngày 28/10/2011, trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Singapore, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến dự lễ khánh thành tượng Bác Hồ tại Bảo tàng Văn minh châu Á. Phát biểu tại lễ khánh thành, Chủ tịch Ủy ban Di sản Quốc gia Singapore khẳng định bức tượng Bác Hồ cũng là niềm tự hào của nhân dân Singapore. Sự kiện này ghi tiếp dấu ấn trong mối quan hệ hợp tác tin cậy, tình cảm hữu nghị giữa Việt Nam và Singapore./.

Theo Nguyễn Thúy Đức
Bảo tàng Hồ Chí Minh
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Nhìn lại cuộc đời Hồ Chủ tịch ngay sau ngày mất

Alden Whiteman đã viết rất thiện cảm với Bác Hồ cũng như cuộc đấu tranh chống đế quốc của dân tộc Việt Nam ngay khi nước Mỹ còn tham chiến. Ảnh: TL

LTS: Trên báo chí phương Tây có một mục gọi là Obituary. Đó là mục dành cho những bài viết về cuộc đời và sự nghiệp của một người nổi tiếng vừa mất. Nhiều cơ quan báo chí đã đặt sẵn bài viết về các nhân vật nổi tiếng ngay khi họ còn sống, và khi họ vừa nằm xuống thì có ngay bài xuất hiện ở mục Obituary.

Bài viết về chủ tịch Hồ Chí Minh dưới đây là thuộc loại bài Obituary như vậy. Nó được đăng trên tờ báo danh tiếng của Mỹ New York Times ngay sau khi Bác Hồ của chúng ta vừa qua đời. Tác giả bài viết là Alden Whitman (1913-1990), một nhà báo Mỹ, viết cho New York Times từ 1951 và nổi tiếng về những bài viết cho mục Obituary.

Chính khách nổi bật

Trong số các chính khách thế kỷ XX, Hồ Chí Minh nổi bật về sự dẻo dai và kiên trì khi ông theo đuổi mục đích giành độc lập cho Việt Nam và về thành công trong việc kết hợp chủ nghĩa dân tộc với chủ nghĩa cộng sản.

Từ trẻ ông đã mong muốn tự do cho Việt Nam đang bị Pháp đô hộ. Ông đã kiên trì qua nhiều năm khi cơ hội đạt mục đích của ông là vô cùng nhỏ nhoi và dường như khó tin. Cuối cùng, ông đã tổ chức nên việc đánh bại Pháp năm 1954 tại trận Điện Biên Phủ lịch sử. Trận đánh đó, khúc ca khải hoàn của chiến lược chiến tranh du kích, diễn ra chín năm sau ngày ông được bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Sau sự phân chia tạm thời nước Việt Nam bằng vĩ tuyến 17 theo hiệp định Geneve năm 1954 và sau khi sự phân chia đó bị chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam được Mỹ hậu thuẫn biến thành thực tế tàn nhẫn, ông Hồ đã lãnh đạo nhân dân miền Bắc chống chọi lại thế lực quân sự hùng mạnh của Mỹ. Trong chiến tranh, Thủ đô Hà Nội của ông Hồ cùng với các thành phố khác thường xuyên bị máy bay Mỹ ném bom.

Đồng thời ông Hồ còn là nguồn cảm hứng cho Mặt trận Dân tộc giải phóng (Việt Cộng) hoạt động ở Nam Việt Nam trong cuộc đấu tranh lâu dài và tốn kém chống lại chế độ Sài Gòn cùng Mỹ và các đồng minh.

Trong cuộc chiến tranh mà Mỹ ngày càng dính sâu vào, đặc biệt từ sau năm 1964, ông Hồ vẫn khéo léo giữ được thế cân bằng trong quan hệ với Liên Xô và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Hai nước này bất đồng về tư tưởng nhưng vẫn là nguồn chính cung cấp lương thực và vũ khí cho Việt Nam. Nhờ những biện pháp ngoại giao khôn khéo của mình, ông vẫn giữ được quan hệ thân thiện với mỗi bên.

Nhã nhặn, tinh tế, thạo đời, lịch thiệp, không thù ghét cá nhân

Đối với 19 triệu người ở bắc vĩ tuyến 17 và hàng triệu người khác ở nam vĩ tuyến, thân hình nhỏ bé, mảnh khảnh giống như chiếc ngà voi của ông Hồ, với khuôn mặt dài khổ hạnh, chòm râu phơ phất, đôi má trũng sâu, và cặp mắt sáng, là của một vị tộc trưởng, là George Washington của dân tộc ông.

Mặc dù tên ông không được gắn cho các quảng trường, dinh thự, nhà máy, sân bay hay tượng đài, nhưng sức hấp dẫn của ông là hiển nhiên, cũng như tình cảm của người dân bình thường dành cho ông.

Bác Hồ luôn đặc biệt quan tâm đến nền giáo dục nước nhà. Ảnh T.L

Ông được người dân quen thuộc gọi là “Bác Hồ”. Trước khi những đòi hỏi của chiến tranh khiến ông phải hạn chế bớt các bổn phận của mình, ông thường tới thăm các làng mạc và thị trấn. Ăn mặc giản dị, ông đặc biệt thích đến các trường học và trò chuyện với trẻ em.

Những người phương Tây biết ông đều tin rằng, dù ông rất khôn ngoan, mưu mẹo trong các vấn đề chính trị rộng lớn, nhưng trong cách nói chuyện của ông đối với dân chúng không hề có cảm giác nào như vậy.

Quả thực, uy tín cá nhân của ông Hồ phổ biến đến mức tất cả mọi người, ngay cả các kẻ thù chính trị của ông, đều thừa nhận là nếu như cuộc tổng tuyển cử theo Hiệp định Geneve được tổ chức thì nước Việt Nam đã được thống nhất dưới sự lãnh đạo của ông.

Thông minh, tháo vát và tận tụy, ông Hồ đã tạo được ấn tượng tốt đẹp nơi nhiều người tiếp xúc với ông. Một người như thế là Harry Ashmore của Trung tâm nghiên cứu các thể chế dân chủ và là cựu chủ bút tờ Arkansas Gazette.

Ông Ashmore và ông William C.Baggs, chủ bút tờ Miami News đã quá cố, là những người Mỹ cuối cùng đã có cuộc trò chuyện dài với ông Hồ khi họ đến thăm Hà Nội đầu năm 1967.

“Ông Hồ là một người nhã nhặn, tinh tế, rất thạo đời, với cung cách lịch thiệp và không hề có sự thù ghét cá nhân”, ông Ashmore nhớ lại trong một cuộc phỏng vấn gần đây. Tại buổi gặp ông Hồ mặc bộ quần áo trắng cổ cao quen thuộc của ông, chân đi đôi dép cao su hở ngón. Ông liên tục hút thuốc, loại thuốc Salems của Mỹ.

“Tôi nghĩ tôi biết nhân dân Mỹ”

Cuộc nói chuyện kéo dài một giờ của họ bắt đầu bằng tiếng Việt có người phiên dịch, ông Ashmore nhớ lại, nhưng sau đó chuyển ngay sang tiếng Anh. Ông Hồ đã khiến Ashmore kinh ngạc trước khả năng thông thạo tiếng Anh của ông. Tiếng Anh là một trong những thứ tiếng ông Hồ nói lưu loát, cùng với các thứ tiếng Trung, Pháp, Đức và Nga.

Có một lúc ông Hồ nhắc lại với Ashmore và Baggs là ông đã từng đến Mỹ. “Tôi nghĩ là tôi biết nhân dân Mỹ”, ông Hồ nói, “và tôi không thể hiểu làm sao họ lại có thể ủng hộ sự dính líu vào cuộc chiến tranh này. Chẳng lẽ tượng Thần Tự do đã bị lộn ngược đầu?”

Đây là câu hỏi tu từ mà ông Hồ cũng đặt ra đối với những người Mỹ khác để nhấn mạnh điều ông nghĩ là mâu thuẫn: Một dân tộc thuộc địa đã làm cách mạng giành được độc lập lại gây chiến để đàn áp nền độc lập của một dân tộc thuộc địa khác.

Ông Hồ hiểu sâu sắc lịch sử nước Mỹ và ông đã tận dụng lợi thế này vào mùa hè năm 1945 khi viết bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Ông nhớ nội dung Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ, chứ không phải thuộc từng câu chữ. Từ phái đoàn quân sự Mỹ khi đó hợp tác với ông, ông đã cố gắng vô vọng kiếm một bản sao của Tuyên ngôn, và khi không có ai kiếm được nó, ông Hồ đã tóm tắt lại những điều ông nhớ được.

Bản Tuyên ngôn của Mỹ mở đầu: “Tất cả mọi người được tạo ra bình đẳng; họ được tạo hóa của họ cấp cho một số quyền không thể chuyển nhượng được; trong số đó có quyền Sống, Tự Do và mưu cầu Hạnh Phúc”. Sau khi giải thích điều đó nghĩa là “tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”, ông Hồ liền liệt kê, theo cách Tuyên ngôn của Mỹ, những nỗi khổ của nhân dân mình và tuyên bố sự độc lập của họ.

“Hãy chờ khi tôi chết đã. Khi đó anh có thể viết gì về tôi tùy ý”

Ngoài những người Mỹ, ông Hồ còn gây được thiện cảm với nhiều người có dịp gặp ông trong nhiều năm. “Một con người hết sức đáng yêu và thân thiện” là lời mô tả của Jawaharlal Nehru, lãnh tụ Ấn Độ. Paul Mus, nhà Đông phương học người Pháp từng có nhiều cuộc trò chuyện thân thiết với ông Hồ những năm 1946 và 1947 nhận thấy ông là “một nhà cách mạng không khoan nhượng về chính trị và không thể mua chuộc được, một kiểu Thánh Just”.

Một sĩ quan hải quân Pháp có dịp quan sát con người Việt Nam mảnh khảnh này trong ba tuần ông là khách đi tàu đã kết luận rằng ông Hồ là “một con người thông minh và quyến rũ, một nhà lý tưởng nồng nàn dốc hết đời mình cho sự nghiệp đã theo đuổi” và là một người “có niềm tin chất phác vào những khẩu hiệu chính trị – xã hội của thời đại chúng ta, và nói chung, vào mọi thứ được in ra”.

Ông Hồ là một người cộng sản hết sức thực tế, làm nhiều hơn nói. Các bài viết bài nói của ông đơn giản, rõ ràng, phần lớn mang nội dung tuyên truyền hoặc luận chiến, khó kết được vào hệ thống của học thuyết Mác-xít.

Giống Mao Trạch Đông, một lãnh tụ cộng sản anh em, ông Hồ có làm thơ, một số bài khá xúc động. Bài “Đêm thu” ông làm khi bị Quốc dân đảng Trung Quốc bắt giam năm 1942-1943 đã được đọc lên qua bản dịch của Aileen Palmer:

Trước cửa lính canh bồng súng đứng
Trên trời trăng lướt giữa làn mây
Rệp bò lổm ngổm như xe cóc
Muỗi lượn nghênh ngang tựa máy bay
Nghìn dặm bâng khuâng hồn nước cũ
Muôn tơ vương vấn mộng sầu nay
Ở tù năm trọn thân vô tội
Hòa lệ thành thơ tả nỗi này.

Việc ông Hồ lên nắm quyền và nổi tiếng thế giới là một câu chuyện không có đầy đủ tài liệu. Ngược lại, những chi tiết của quá trình này lại có một số điểm thiếu chính xác. Điều này dẫn đến chỗ có thời gian người ta ngờ là có hai ông Hồ, một thông tin mà Sở mật thám Pháp coi thường khi họ so sánh các bức ảnh hai thời kỳ trước và sau của ông Hồ.

Một cách giải thích cho sự nhầm lẫn này là ông Hồ dùng hàng chục bí danh trong quá trình hoạt động của mình mà tên gọi Hồ Chí Minh chỉ là một trong số đó. Một lý do khác là ông Hồ không muốn công khai tiểu sử của mình. “Anh biết đấy, tôi là một người già, và một người già như tôi thì thích giữ lại cho mình một vài bí mật nho nhỏ”, ông nói với B. Fall. Và ông nháy mắt nói tiếp: “Hãy chờ khi tôi chết đã. Khi đó anh có thể viết gì về tôi tùy ý”.

Tuy nhiên, ông Fall kể lại, trước khi rời Hà Nội ông đã nhận được một bản tóm tắt cuộc đời ông Hồ không có chữ ký, “rõ ràng đây là làm theo lệnh ông cụ”.

Bất chấp bề ngoài có vẻ muốn tự xóa mình đi, ông Hồ vẫn biết cách thể hiện mình. Ông Fall kể có lần ông đưa cho ông Hồ xem bức ký họa vợ ông vẽ ông Hồ. “Phải, đẹp lắm. Trông nó rất giống tôi”, ông Hồ thốt lên.

Ông lấy bó hoa ở bàn bên cạnh trao cho Fall và nói: “Anh hãy nói với cô ấy là bức vẽ rất đẹp, nhờ anh thay tôi tặng cô ấy bó hoa này và hôn vào hai má cô ấy hộ tôi nhé”.

Vũ khí nguyên tử cũng không thể bắt chúng tôi đầu hàng

Ông Hồ tin tưởng vững chắc vào thắng lợi của cuộc chiến tranh. Năm 1962 khi cuộc chiến còn bó hẹp giữa một bên là quân đội Nam Việt Nam và 11000 cố vấn Mỹ và một bên là quân giải phóng số lượng ít hơn, ông đã nói với một vị khách Pháp: “Chúng tôi đã phải chiến đấu gian khổ tám năm để đánh bại nước Pháp các ông, mà ông biết là nước ông có những quan hệ cũ ở đây. Bây giờ chế độ Nam Việt Nam được trang bị tốt hơn, lại được Mỹ hỗ trợ. Quân Mỹ mạnh hơn Pháp rất nhiều, dù họ hiểu chúng tôi kém hơn. Vì vậy có lẽ phải mất 10 năm để làm việc đó, nhưng nhân dân anh hùng của chúng tôi ở miền Nam cuối cùng sẽ đánh bại chúng”.

Đầu năm 1967 ông vẫn tin tưởng như vậy khi trò chuyện với Ashmore và Baggs. “Chúng tôi đã chiến đấu cho nền độc lập của mình hơn 25 năm”, ông nói với họ, “và tất nhiên chúng tôi yêu quý hòa bình, nhưng chúng tôi sẽ không bao giờ từ bỏ nền độc lập của mình để đổi lấy hòa bình với Mỹ hay bất cứ ai khác”.

Kết thúc cuộc gặp, ông nắm bàn tay phải lại thành quả đấm và nói xúc động: “Các ngài cần phải biết quyết tâm của chúng tôi. Ngay cả vũ khí nguyên tử của các ngài cũng không thể bắt được chúng tôi đầu hàng sau cuộc đấu tranh lâu dài và mãnh liệt vì nền độc lập của đất nước”.

Ông bình thản khi nói về cái chết của mình. Người ta yêu cầu ông bỏ thuốc lá nhưng ông vẫn hút. “Khi các ngài đến tuổi già như tôi thì chẳng phải lo lắng đến tác hại của thuốc lá nữa”, ông nói.

Bài viết của tác giả Alden Whitman, New York Times, 4/9/1969
Ngân Xuyên (dịch)
Theo hoatdongtuthien.org
Phương Thúy (st).

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh tấm gương đạo đức ngời sáng cho mỗi người Việt Nam học tập, noi theo

Hơn một năm rưỡi qua, cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã có nhiều hoạt động phong phú, cụ thể, thiết thực, diễn ra ở khắp các cấp, các ngành, địa phương trong cả nước, thu hút đông đảo cán bộ, đảng viên công chức và các tầng lớp nhân dân tham gia, tạo nên một luồng sinh khí mới trong sinh hoạt Đảng, trong hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân. Nhiều cán bộ, đảng viên, công chức đã có ý thức tự giác trong rèn luyện đạo đức, lối sống, học tập nâng cao trình độ và có tinh thần trách nhiệm cao hơn đối với công việc được giao, tinh thần thái độ phục vụ nhân dân đã có nhiều tiến bộ hơn so với trước.

Lòng tôn kính, quý trọng và biết ơn vô hạn của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Bác Hồ càng được khẳng định, vun đắp, củng cố son sắt hơn thông qua cuộc vận động. Đúng như Ban Chỉ đạo TW Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã đánh giá: “Cuộc vận động này là đúng và “trúng”, đáp ứng tình cảm và lòng mong đợi của đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân”.

Tuy nhiên, kết quả đạt được mới chỉ là bước đầu. Còn nhiều việc phải làm trong một cuộc vận động lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng này. Việc xây dựng một nền tảng đạo đức mới tốt đẹp, sẽ không phải là công việc đơn giản có thể làm xong trong ngày một, ngày hai, mà cần phải có thời gian lâu dài với cách thức, bước đi phù hợp.

Bởi vì như Bác Hồ đã viết: “Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời rơi xuống. Nó do đấu tranh rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển, củng cố”. Đó cũng chính là sự tổng kết cả quá trình đấu tranh, rèn luyện trọn cuộc đời của Người để tạo nên một tư tưởng, đạo đức, nhân cách vĩ đại Hồ Chí Minh.

Mỗi một đức tính tốt, dù nhỏ cũng không phải tự nhiên và dễ dàng có được, mà phải trải qua cả một quá trình hình thành, chắt lọc, rèn luyện lâu dài. Vì đạo đức là cái ở trong tâm của mỗi con người, thuộc về bản chất, chứ không phải chỉ là sự biểu hiện bề ngoài, cũng không phải cứ học thuộc một bài học về đạo đức là chúng ta đã có ngay được điều đó. Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh lại càng đòi hỏi mỗi người phải có sự phấn đấu, rèn luyện bền bỉ, thường xuyên hàng ngày, thậm chí hàng giờ.

Đồng thời phải biến những bài học đó thành thói quen hành động và rèn luyện cho những thói quen ấy ngấm sâu trong “máu thịt” trở thành nhân cách, chỉ có như vậy mới có được đạo đức thật sự, bền vững.

Tất nhiên, từ việc học tập đến việc làm theo cũng không phải là dễ, nếu không có sự tự giác, quyết tâm cao. Và để xây dựng được một nhân cách, đạo đức tốt, trước hết mỗi con người cần phải tự đấu tranh với chính bản thân mình. Vì ở trong mỗi người đều luôn tồn tại hai mặt thiện và ác, nên nếu không có ý chí đấu tranh, rèn luyện bản thân, chỉ cần một lúc buông thả, mất cảnh giác thì những cám dỗ, tác động từ ngoại cảnh, cùng với cái xấu, cái ác, cái sự ham muốn địa vị, vật chất, ham muốn hưởng thụ… bên trong sẽ trỗi dậy, lấn át cái tốt.

Sẽ không thể học được cái mới tiến bộ, nếu không sửa được cái cũ lạc hậu ở bên trong mình. Đặc biệt, trước những tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường và mở cửa hội nhập, nhiều giá trị đạo đức truyền thống đã bị xem nhẹ hoặc mai một; lối sống thực dụng, nặng về vật chất, sính ngoại… đang có chiều hướng gia tăng; sự quan liêu, hách dịch, cửa quyền, thiếu dân chủ của một bộ phận cán bộ lãnh đạo; tệ tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn diễn ra dưới nhiều hình thức, tác động không tốt đến tư tưởng, tình cảm, lòng tin của cán bộ, công chức và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ…. thì đòi hỏi mỗi người cán bộ, đảng viên chúng ta phải phấn đấu, nỗ lực nhiều hơn nữa, vượt qua chính mình và những cám dỗ, tác động tiêu cực đó để từng bước rèn luyện, xây dựng cho mình một đạo đức tốt, góp phần vào thành công của Cuộc vận động.

Chúng ta tin tưởng rằng, với sự quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân; sự phấn đấu, rèn luyện tâm huyết và bền bỉ của mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, nhất định Cuộc vận động sẽ thu được những kết quả tốt đẹp. Tư tưởng, đạo đức, nhân cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ luôn là tấm gương trong sáng để mỗi người Việt Nam chúng ta học tập, noi theo. Hãy tự nhắc mình phải sống và làm việc sao cho xứng đáng với truyền thống anh hùng của dân tộc Việt Nam; xứng đáng công lao, tình cảm mà Bác Hồ kính yêu đã giành cho Tổ quốc, cho dân tộc.

Thành Lợi

bqllang.gov.vn