Tag Archive | Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chuyện về chiếc gậy song của Bác Hồ

Từ lâu hình ảnh Bác Hồ giản dị với bộ quần áo nâu gụ hay bộ quần áo kaki, đôi dép lốp cao su, mũ cát cùng chiếc gậy song đã trở nên quen thuộc với bao thế hệ người Việt Nam. Chiếc gậy chống đã là người bạn của Bác từ những ngày Người trở về nước năm 1941, sau 30 năm bôn ba ở nước ngoài. Trong điều kiện hoạt động ở vùng rừng núi, chiếc gậy giúp Bác đi lại thuận tiện hơn. Năm 1942, Người sang Trung quốc và bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam, chúng cũng thu luôn cả chiếc gậy. Nhớ người bạn đường thân thiết Người đã viết những vần thơ:

Suốt đời ngay thẳng lại kiên cường
Dìu dắt nhau đi mấy tuyết sương
Giận kẻ gian kia gây cách biệt
Hai ta dằng dặc nỗi buồn thương.

(Nhật ký trong tù – Lính ngục đánh cắp mất chiếc gậy của ta)

Chiếc gậy đã đồng hành cùng Bác trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, cùng Người lúc trèo đèo, lội suối, lúc“chống gậy lên non xem trận địa”, có lúc chiếc gậy lại trở thành dây phơi quần áo di động. Nhà thơ Thanh Tịnh đã viết những dòng thơ xúc động về hình ảnh dung dị của vị lãnh tụ dân tộc ở Việt Bắc:

Nhớ một tối giữa rừng Việt Bắc
Được xuống đò theo Bác sang sông
Đó là Bác mà sao biết trước
Tưởng Cụ già miền ngược ven sông
Dao rừng cài gọn bên hông
Gậy song cắp nách, túi vòng qua vai.

(Thanh Tịnh – Trăm năm nhớ một chuyến đò, NXBQĐND, Hà Nội, 1980)

Sau này khi Người về Hà Nội, chiếc gậy song vẫn là người bạn thân thiết của Người, đặc biệt trong những ngày cuối khi sức khỏe đã giảm sút chiếc gậy càng cần thiết hơn trong cuộc sống thường ngày, cùng Người tập luyện chống lại bệnh tật.

Hiện tại ở Chủ đề VII của Bảo tàng Hồ Chí Minh, phần trưng bày về những ngày cuối đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đang trưng bày một số đồ dùng của Người trong đó có chiếc gậy song. Đây là chiếc gậy song Bác sử dụng từ cuối năm 1966 cho đến khi Người qua đời. Gậy được làm bằng một đoạn cây song gồm 5 dóng, dài 92 cm, đường kính là 2cm, có màu vàng óng pha nâu. Một đầu uốn cong làm chỗ tay cầm. Đầu cong của gậy được bọc kim loại mạ trắng, trên có chữ in “Hà Nội – Việt Nam”. Đầu chống xuống đất có gắn khâu cao su đen để khi chống xuống đất được êm. Chiếc gậy này do Hợp tác xã thủ công sản xuất hàng mây tre xuất khẩu xã Châu Khê, huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh), làm ngày 23-7-1966. Nguyên liệu để làm gậy được mua từ tỉnh Bắc Thái.

Ai cũng hiểu tác dụng của chiếc gậy đối với Bác trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày. Nhưng có lẽ còn ít người được biết đến tác dụng khác của cây gậy song của Bác Hồ như câu chuyện kể của bà Nguyễn Thị Định – nguyên là Phó Chủ tịch tỉnh Thái Bình từ năm 1963 đến năm 1980, người vinh dự được đón và đi cùng Bác trong những lần Bác về thăm Thái Bình:

Tỉnh Thái Bình đã ba lần được đón Bác về thăm. Lần đầu tiên Bác về Thái Bình là ngày 26-10-1958. Sau khi gặp gỡ với Ủy ban Hành chính tỉnh và Tỉnh ủy, Người đã tới dự Đại hội sản xuất đông – xuân, nói chuyện với hơn 4 vạn đại biểu nhân dân từ cấp xã của tỉnh. Lần thứ hai là ngày 26-3-1962. Người về thăm hai xã thuộc huyện Tiền Hải. Đó là xã Nam Cường – xã mới lấn biển và xã Đồng Lâm – xã có truyền thống cách mạng, nơi từ năm 1930 dưới sự lãnh đạo của Đảng đã có phong trào biểu tình chống Pháp đàn áp phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh và đấu tranh đòi giảm sưu thuế, chia công điền. Lần thứ ba Người về Thái Bình đúng vào dịp năm mới 1967. Ở thờii điểm chuyển giao năm cũ sang năm mới Người đã có buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh và Tỉnh ủy. Sáng ngày 1-1-1967, Người về thăm xã Hiệp Hòa, huyện Vũ Thư, sau đó nói chuyện với cán bộ và đại diện những Hợp tác xã tiên tiến của tỉnh. Người nhắc nhở những vấn đề mà nhân dân và các cán bộ phải thực hiện để phát huy truyền thống của tỉnh luôn có thành tích tốt trong sản xuất và chiến đấu. Nhưng có một điều khiến Bác không vui, đó là hiện tượng đánh chửi vợ, coi thường phụ nữ. Người phân tích: Chúng ta làm cách mạng là để tranh lấy quyền bình đẳng, trai gái đều ngang quyền nhau. Phụ nữ là một phần nửa xã hội. Nếu phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hội cũng chưa được giải phóng, vì vậy phải kính trọng phụ nữ. Người phê phán hiện tượng đánh chửi vợ. Người khẳng định đó là một điều đáng xấu hổ, là phạm pháp và cực kỳ dã man. Người yêu cầu “Chi bộ đảng phải giáo dục đảng viên và nhân dân về quyền bình đẳng giữa vợ chồng. Đoàn thể phụ nữ và thanh niên phải bảo ban nhau cách cư xử hòa thuận trong gia đình” và mong rằng từ nay về sau sẽ không còn thói xấu đánh chửi vợ nữa.

Sau lần đó, tháng 5-1969, đoàn đại biểu Đảng bộ và nhân dân tỉnh Thái Bình lên Hà Nội báo cáo Bác về tình hình địa phương. Lúc này sức khỏe của Bác đã yếu đi nhiều. Tuy nhiên, trong buổi làm việc với đoàn, một trong những vấn đề Bác rất quan tâm, đó là về quyền bình đẳng của phụ nữ ở Thái Bình. Bà Định báo cáo với Bác là vấn đề này đã được cải thiện, nhưng vẫn còn hiện tượng đánh chửi vợ. Nghe vậy, với vẻ không vui, Bác cầm chiếc gậy song bên cạnh đưa cho bà Định và nói “Bác cho cô chiếc gậy này để trị đứa nào đánh vợ!” Câu nói của Bác vừa mang tính hài hước vừa mang đậm tính triết lý sâu xa. Cả cuộc đời Bác đã hy sinh cho độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân trong đó có hạnh phúc của những người phụ nữ. Hơn ai hết Bác là người thấu hiểu nỗi khổ cực của phụ nữ. Trong xã hội cũ họ phải chịu nhiều cực khổ, ngoài nỗi khổ của thân phận một người dân mất nước, họ còn phải gánh chịu nỗi khổ của tư tưởng trọng nam khinh nữ. Nhưng khi đất nước đã giành được độc lập, nhiều người phụ nữ vẫn phải chịu thiệt thòi, vẫn bị đối xử tệ bạc do ảnh hưởng của quan niệm trong chế độ cũ. Bác cũng là người sớm nhìn nhận và đánh giá cao vai trò của phụ nữ trong xã hội như Người đã nói: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”. Phụ nữ Thái Bình chính là những người làm nên hình ảnh “Chị Hai năm tấn” nổi tiếng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ nhưng vẫn phải chịu nhiều thiệt thòi. Câu nói của Bác hàm ý phê phán nhưng cũng là trọng trách Bác giao cho người lãnh đạo Thái Bình trong cuộc đấu tranh để mang lại công bằng cho phụ nữ. Tuy rằng sau cuộc gặp đó, một phần do Bác yếu vẫn cần dùng chiếc gậy hàng ngày, phần vì theo gợi ý của ông Vũ Kỳ, Thư ký riêng của Bác, nên bà Định không có điều kiện để mang chiếc gậy song của Bác về Thái Bình để đánh đòn những kẻ ưa dùng vũ lực với vợ ở Thái Bình. Nhưng Bác đã cho một thứ vũ khí tinh thần để phụ nữ Thái Bình nói riêng và phụ nữ Việt Nam nói chung đấu tranh tự giải phóng mình.

Sau này, Bảo tàng Thái Bình đã xin được làm lại cây gậy song của Bác để trưng bày tại Bảo tàng tỉnh như một minh chứng cho sự quan tâm sâu sắc của Bác đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ Việt Nam nói chung và phụ nữ tỉnh Thái Bình nói riêng, đồng thời cũng là lời nhắc nhở đối với cán bộ và nhân dân tỉnh Thái Bình phải luôn luôn quan tâm đến quyền lợi của phụ nữ.

Ở bên Bác, chiếc gậy song – tưởng như vô tri vô giác cũng mang tính chiến đấu và thấm đẫm lòng yêu thương, bác ái của Người./.

Theo Nguyễn Thị Hằng
Baotanghochiminh.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về người cao tuổi Việt Nam

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến người cao tuổi. Trong suốt cuộc đời phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng của mình, dù bận nhiều việc nhưng Người vẫn luôn dành cho người cao tuổi Việt Nam những tình cảm ân cần và sự quan tâm sâu sắc. Những quan điểm nhất quán, có tính hệ thống của Người về vị trí xã hội, vai trò, trách nhiệm của người cao tuổi đối với Tổ quốc luôn đi trước thời đại. Đặc biệt, những tình cảm dành cho người cao tuổi biểu hiện rất đậm nét bản sắc văn hóa Việt Nam – văn hóa Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định vai trò, vị thế của người cao tuổi trong xã hội ta. Người luôn coi người cao tuổi là lực lượng quan trọng góp phần tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong “Lời hiệu triệu đoàn kết tất cả các bậc phụ lão” (6-1941), Bác viết: “Dẫu rằng tóc đã bạc, mắt đã hoa, tay run, chân mỏi, nhưng một lời nói của phụ lão có ảnh hưởng đến hưng bang, một hành động của phụ lão có ảnh hưởng đến giết giặc. Rút guốc mộc để ném vào đầu bọn bạo ngược, vung gậy trúc để đánh vào đầu bọn hung ác. Đối với gia đình, đối với Tổ quốc, phụ lão đã có trọng trách là bậc tôn trưởng, đối với làng xóm, đối với bà con, phụ lão có sự tín nhiệm lớn lao. Phụ lão hô, nhân dân hưởng ứng; phụ lão làm, nhân dân làm theo. Hô điều nên hô, làm việc nên làm. Người có của xuất của, người có sức dốc sức, góp gió thành bão, tụ hơi thành mây. Đồng bào cả nước đang ngẩng cao đầu mà trông chờ các bậc phụ lão”.

Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, người cao tuổi Việt Nam không chỉ là người lao động cần cù, sáng tạo trong xây dựng gia đình, quê hương, đất nước mà còn là những người dám quên mình chiến đấu hi sinh cho độc lập, tự do của dân tộc. Họ là những nhân chứng của lịch sử và rất nhiều người đã góp phần trực tiếp làm nên lịch sử. Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam, người cao tuổi đã đem bầu nhiệt huyết đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng, là lớp người từng đứng trong đạo quân hùng mạnh làm nên chiến thắng vĩ đại của hai cuộc kháng chiến thần thánh giải phóng dân tộc, giành lại chính quyền về tay nhân dân, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước CHXHCN Việt Nam). Họ cũng là lớp người đi đầu trên con đường đổi mới, góp phần quyết định tạo ra những thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực của đất nước. Già – trẻ cùng gắng sức vì một mục đích chung, đó là lời nhắn gửi của Người trong bài thơ “Tặng cụ Đinh Chương Dương: “Quan san muôn dặm gặp nhau đây/ Mục đích chung là đuổi Nhật, Tây/ Dân bị hai tròng vào một cổ/ Ta liều trăm đắng với ngàn cay/ Già dù sức yếu mang mang nhẹ/ Trẻ cố ra công gánh gánh đầy/ Non nước của ta ta lấy lại/ Nghìn thu sự nghiệp nổi từ đây”.

Hồ Chí Minh khẳng định: Trách nhiệm của người cao tuổi là phải yêu quý, dìu dắt, bồi dưỡng lớp trẻ. Người từng căn dặn: “Các đồng chí già là rất quý, là tấm gương bền bỉ đấu tranh, dìu dắt, bồi dưỡng, đào tạo thêm đồng chí trẻ. Đồng chí già phải giúp đồng chí trẻ tiến bộ. Như thế đòi hỏi đồng chí già phải có thái độ độ lượng, dìu dắt đồng chí trẻ. Đó cũng là một tiêu chuẩn đạo đức cộng sản chủ nghĩa”. Không những thế, Người còn cho rằng, người cao tuổi phải tự mình học tập thường xuyên, phải nâng cao dân trí bởi “Công việc ngày càng nhiều, càng mới nên đảng viên già phải cố gắng mà học”, để “chẳng những làm kiểu mẫu, siêng năng cho con cháu mà còn tỏ rõ ý chí hùng mạnh của dân tộc Việt Nam”. Người cao tuổi Việt Nam sống, cống hiến theo tư tưởng Hồ Chí Minh, suy cho cùng chính là sự nêu gương sáng cho con cháu về lòng yêu nước, về đạo đức cách mạng.

Hồ Chí Minh còn phê phán quan niệm “Lão lai tài tận, lão giả an chi” (tuổi già thì tài hết, tuổi già nên ở yên). Người chủ trương “vận động tất cả lực lượng của mỗi người dân, không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân”, trong đó người cao tuổi có vai trò đặc biệt quan trọng. Trong kháng chiến chống Pháp, Người đã có những vần thơ mộc mạc, nôm na mà đầy hào khí “Tặng các cụ lão du kích Cao Bằng” bởi có thành tích góp phần đánh chặn bước tiến của giặc. “Người cũng nêu rõ: “Các cấp đảng bộ, mặt trận ở các địa phương ra sức giúp các cụ phụ lão tổ chức, củng cố và phát triển các đội Bạch đầu quân. Đó cũng là một lực lượng khá to trong công cuộc chống Mỹ cứu nước”. Người là tấm gương tuổi già mà “không chịu ngồi không”, “càng già càng quắc thước, càng già càng anh hùng”. Người luôn là tấm gương sáng về “tuổi cao chí khí càng cao”, suốt cuộc đời vì dân, vì nước, vì sự nghiệp cách mạng quên cả tuổi già, quên cả bản thân. Một con người mà “dù phải từ biệt thế giới này” vẫn không có điều gì phải hối hận, “chỉ tiếc là không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”…

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một tấm gương về ứng xử đối với người cao tuổi. Dù là Chủ tịch nước, nhưng trong thư chúc thọ cụ Phùng Lục ở Ứng Hòa, Hà Tây (trước đây), Người đã viết: “Cháu xin thay mặt Chính phủ cảm ơn cụ, trân trọng chúc cụ sống lâu và luôn luôn mạnh khỏe để kêu gọi các con cháu ra sức tham gia công việc kháng chiến và cứu quốc. Cháu lại kính gửi cụ lời chào thân ái và quyết thắng”. Một vị Chủ tịch nước viết thư cho một công dân bình thường nhưng có tuổi thọ cao mà xưng hô như vậy quả là nét đặc trưng của văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh. Nét đặc trưng của văn hóa ứng xử ấy còn thể hiện rất rõ trong những câu chuyện nhỏ mà đầy thú vị: Khi được tin chiến thắng dồn dập từ Việt Bắc Thu – Đông 1947, Người đã viết một bài thơ tặng cụ Bùi Bằng Đoàn, một bậc nhân sĩ trí thức yêu nước, người đứng đầu Quốc hội nước ta hồi đó những vần thơ bằng chữ Hán rất mực trang trọng mà vẫn đầm ấm nghĩa tình. Có lẽ không ai lại không xúc động trước một lối ứng xử tuyệt vời của Bác với một cụ già cao tuổi từ vùng bị giặc chiếm đóng lặn lội lên Việt Bắc để được gặp và thăm Bác. Cụ già ấy được biết tên ngay trong nhan đề bài thơ của Người: “Tặng cụ Võ Liêm Sơn”… Có thể nói, đó cũng chính là biểu tượng sáng ngời về truyền thống “kính già” của dân tộc – một đạo lý đẹp đẽ mang tính nhân văn cao cả từ xưa đến nay.

Hiện nay, gần 10 triệu người cao tuổi trong cả nước ta đã và đang ra sức thực hiện tốt Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” bằng những phong trào thi đua thiết thực “Tuổi cao – gương sáng”. Đó cũng chính là một trong nhiều hình thức để phát huy những giá trị văn hóa, tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần thực hiện tốt lời căn dặn của Người: “Tuổi cao chí khí càng cao”.

______________

Tài liệu tham khảo:
1. Danh nhân Hồ Chí Minh, NXB Lao động, H.2000.
2. Thông tin Tư liệu TTXVN, số 65.

Theo xaydungdang.org.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Theo chân Bác đến Đền Hùng

Chiều hôm trước, đồng chí Song Hào – Chính uỷ Đại đoàn 308 (Đại đoàn Quân Tiên phong) báo cho tôi chuẩn bị xe, xăng để đi đường dài.

6 giờ sáng ngày 18-9-1954, đoàn xe rời thị xã Thái Nguyên đi Đại Từ, leo qua đèo Khế. Gần đến Sơn Dương đoàn xe từ từ đứng lại, đồng chí thường trực hướng dẫn xe vào bãi đỗ.

Một điều làm chúng tôi hết sức ngỡ ngàng là Bác Hồ và một số đồng chí đã có mặt ở đây – một cánh rừng thưa với mấy nếp nhà tranh tre. Bác ra tận nơi đỗ xe gặp đồng chí Song Hào và đồng chí Vương Thừa Vũ – Đại đoàn trưởng.

Bác đội mũ cát trắng, mặc bộ quần áo nâu sẫm, cổ quàng khăn, đi dép cao su. Bác hơi gầy nhưng nét mặt hồng hào, bước đi rắn chắc.

Bác quay sang chúng tôi. Anh em lái xe, thư ký, công vụ đều đứng dậy chào Bác.

Bác đến gần tôi ân cần:

– Chú là lái xe, chạy cho tốt và an toàn.

Chúng tôi đồng thanh: Vâng ạ!

Đoàn xe tiếp tục lên đường, đưa Bác lên thăm Tỉnh uỷ Tuyên Quang rồi quay về hướng Việt Trì tỉnh Phú Thọ, đến Đền Hùng khoảng 2 giờ chiều, Bác cùng đoàn cán bộ đi lên cổng chính khu Đền Hùng.

Xế chiều, Bác cùng mấy đồng chí và một cụ già địa phương lên núi Nghĩa Lĩnh, Bác ngắm nhìn ngã ba sông Bạch Hạc (nơi hợp lưu sông Lô, sông Đà, sông Thao). Sau bao nhiêu năm bôn ba thế giới tìm đường cứu nước, bây giờ Bác mới có dịp về với cội nguồn.

Sáng hôm sau, Bác đến thăm Đền Tổ, Đền Thượng, Đền Hạ, Bác chăm chú đọc các hoành phi câu đối.

Khoảng 9 giờ sáng ngày 19 – 9 – 1954, Bác trở về Đền Giếng gặp cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 308 sắp làm nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô Hà Nội.

Bác hỏi:

– Các chú có mệt không, đã ăn uống gì chưa?

Rồi Bác nói về công lao các vua Hùng dựng nước và giữ nước, về tầm quan trọng của Thủ đô, Bác nhắc nhở bộ đội phải kính trọng dân, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, kỷ luật quân đội cách mạng. Bác căn dặn bộ đội phải thường xuyên học tập, rèn luyện, giữ nghiêm kỷ luật. Bác nói: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” – một câu nói đã trở thành bất hủ, in đậm trong trái tim khối óc mọi thế hệ Việt Nam.

Bộ đội vỗ tay ran, tất cả đứng dậy hứa với Bác quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ. Buổi nói chuyện của Bác không dài, chỉ khoảng nửa giờ. Mặc dù thời gian ngắn nhưng những tư tưởng lớn, tình cảm sâu nặng của Bác đã thấm sâu vào tâm trí mỗi người.

Hơn nửa thế kỷ đã qua, lời Bác ân cần “chú là lái xe, chạy cho tốt và an toàn” đã theo tôi suốt cuộc đời. Và chuyến đi theo Bác về Đền Hùng năm ấy là kỷ niệm sâu sắc nhất đời tôi.

Đinh Văn Dung

bqllang.gov.vn

Bác Hồ với sự nghiệp trồng người

Bác Hồ luôn đặc biệt quan tâm đến sự nghiệp trồng người - Ảnh tư liệu

Nền giáo dục Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám dưới chế độ Dân chủ Cộng hòa đã phát triển dưới ánh sáng của một mục tiêu cao cả như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra:

“Trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân dân, nhằm mục đích đào tạo những công dân và cán bộ tốt, những người chủ tương lai tốt của nước nhà”.

Mục tiêu ấy bao hàm ý nghĩa: Cần xây dựng tư tưởng: Dạy và học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân (không phải học để làm quan hay làm giàu cho cá nhân). Thầy giáo và học trò, tùy hoàn cảnh và khả năng, cần tham gia những công tác xã hội, ích nước lợi dân.

Trong thư gửi giáo viên, học sinh, cán bộ thanh niên và nhi đồng ngày 31/10/1955, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Bác đề ra nhiệm vụ cho ngành giáo dục: “Mỗi một cấp giáo dục cần nhận rõ nhiệm vụ của mình trong lúc này:

Đại học thì cần kết hợp lý luận khoa học với thực hành, ra sức học tập lý luận và khoa học tiên tiến của các nước bạn, kết hợp với thực tiễn của nước ta, để thiết thực giúp ích cho công cuộc xây dựng nước nhà.

Trung học thì cần đảm bảo cho học trò những tri thức phổ thông chắc chắn, thiết thực, thích hợp với nhu cầu và tiền đồ xây dựng nước nhà, bỏ những phần nào không cần thiết cho đời sống thực tế.

Tiểu học thì cần giáo dục các cháu thiếu nhi yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, trọng của công. Cách dạy phải nhẹ nhàng và vui vẻ, chớ gò ép thiếu nhi vào khuôn khổ của người lớn. Phải đặc biệt chú ý giữ gìn sức khỏe cho các cháu.

Tôi cũng mong các gia đình hãy liên lạc chặt chẽ với nhà trường, giúp nhà trường giáo dục và khuyến khích con em chăm chỉ học tập, sinh hoạt lành mạnh và hăng hái giúp ích nhân dân”.

Đến với Đại hội Sinh viên Việt Nam lần thứ hai ngày 7/5/1958, Bác nói: Đối với thanh niên trí thức như các cháu ở đây thì cần đặt lại câu hỏi: Học để làm gì? Học để phục vụ ai? Đó là hai câu hỏi cần phải trả lời dứt khoát, thì mới có phương hướng để sửa chữa khuyết điểm của mình”.

Bác dạy học sinh, sinh viên phải có 6 cái yêu:

Yêu Tổ quốc: Yêu như thế nào? Yêu là phải làm sao cho Tổ quốc ta giàu, mạnh. Muốn cho Tổ quốc giàu mạnh thì phải ra sức lao động (chân tay và trí óc), ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm.

Yêu nhân dân: Mình phải hiểu rõ sinh hoạt của nhân dân, biết nhân dân còn cực khổ như thế nào, chia sẻ những lo lắng, vui buồn, những việc làm nặng nhọc với nhân dân.

Yêu chủ nghĩa xã hội: Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mình mới mỗi ngày một no ấm thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm.

Yêu lao động: Muốn thật thà yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu chủ nghĩa xã hội, thì phải yêu lao động, vì không có lao động thì chỉ là nói suông.

Yêu khoa học và kỹ thuật, bởi vì tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải có khoa học và kỹ thuật.

Bác nêu rõ: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.

“Thời đại chúng ta là thời đại của khoa học phát triển rất mạnh, thời đại anh hùng, mỗi người lao động tốt đều có thể trở nên anh hùng (không phải là anh hùng cá nhân). Vậy mong các cháu cũng làm người thanh niên anh hùng trong thời đại anh hùng”.

Cũng năm 1958, ngày 13/9, mở đầu một năm học mới, Bác đã nhấn mạnh về nhiệm vụ các nhà trường: “Vì lợi ích 10 năm thì phải trồng cây. Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người. Chúng ta phải đào tạo ra những công dân tốt và cán bộ tốt cho nước nhà. Nhân dân, Đảng, Chính phủ giao các nhiệm vụ đào tạo thế hệ tương lại cho các cô, các chú. Đó là một trách nhiệm nặng nề nhưng rất vẻ vang”.

Đáp lòng mong mỏi của Bác, giai đoạn ấy chúng ta đã có những bậc thầy mẫu mực về trí tuệ và đạo đức được vinh danh và kính trọng ở các trường trong và ngoài nước, như Giáo sư Hoàng Tụy, Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn, Giáo sư Nguyễn Thúc Hào, Giáo sư Đỗ Tất Lợi, Giáo sư Nguyễn Tài Thu và nhiều giáo sư khác, đến nay vẫn là những tấm gương sáng cho các thế hệ thày giáo trẻ noi theo.

Đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo, Bác không chỉ quan tâm đến những vấn đề lớn như mục đích, mục tiêu, phương châm, tính chất của giáo dục, mà còn để ý đến cả những vấn đề phương pháp cụ thể.

Trong bài nói tại Hội nghị Tổng kết phong trào thi đua Dạy tốt, Học tốt của ngành Giáo dục phổ thông và sư phạm tháng 8/1963, Bác căn dặn: Về học tập và giảng dạy, phải thực hiện tốt phương châm giáo dục kết hợp với lao động sản xuất. Về lao động, cần chú ý tổ chức cho thích hợp với lứa tuổi và sức khỏe của học sinh.

Về giảng dạy, tránh lối dạy nhồi sọ. Chương trình dạy học hiện nay còn có chỗ quá nhiều, quá nặng. Về học tập, tránh lối học như vẹt. Ngoài ra, cần chú ý tránh nói tiếng nước ngoài quá nhiều, những tiếng ta có thì không nên dùng tiếng nước ngoài. Bài dạy phải chuẩn bị cho tốt và cần chọn lọc những bài thích hợp với tuổi của học sinh. Trường học phải liên hệ chặt chẽ với gia đình, với xã hội.

Với một nền giáo dục có định hướng cách mạng, có mục tiêu được xác định rõ ràng, được tổ chức hợp lý theo những nguyên tắc khoa học tiên tiến và thích hợp với điều kiện và hoàn cảnh nước ta, nền giáo dục Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám được xây dựng trên những phương châm dân tộc- khoa học- đại chúng, đã từ bỏ được những tật xấu của lối giáo dục ngu dân chỉ phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị, xây dựng được một nền giáo dục nhân dân.

Nền giáo dục theo ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh sau Cách mạng Tháng Tám để lại cho chúng ta nhiều bài học lớn.

Thứ nhất, giáo dục cũng như mọi công cuộc khác, cần phải xác định rõ mục đích, mục tiêu. Riêng giáo dục phổ thông cần để cao mục tiêu giáo dục làm người: người công dân tốt, người lao động tốt, người cán bộ tốt, có ý thức giác ngộ chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa xã hội nhân văn, có tinh thần dân tộc, sẵn sàng tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ hai, việc xây dựng mô hình nhà trường các cấp, việc thiết kế chương trình, viết sách giáo khoa, ấn định nội dung, phương pháp dạy và học phải đáp ứng được mục đích, mục tiêu chung đã định. Từ bỏ lối dạy tham lam nhồi sọ, lý thuyết suông, khắc phục lối học vẹt, học không kết hợp với hành, học chỉ để đạt những tiêu chí thi cử hình thức.

Thứ ba, muốn phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển đất nước cũng như sự phát triển mỗi con người, thì bất cứ nền giáo dục nào cũng phải bám sát thời đại và những hoàn cảnh, điều kiện, nhu cầu riêng của đất nước để phát triển cho đúng hướng và có hiệu quả.

Thứ tư, trong tình hình hiện nay của thế giới và nước nhà, thì một cuộc cải cách giáo dục ở Việt Nam đang là một yêu cầu cấp thiết.

Trong thư nhân dịp khai giảng năm học mới 2011 – 2012, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã rất có lý khi đề ra nhiệm vụ cho ngành giáo dục cần “đổi mới căn bản và toàn diện”.

Ngày 2/9/2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khi dự lễ khai giảng năm học mới tại Trường Quốc học Huế yêu cầu phát triển giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá và hội nhập quốc tế; tập trung đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng giáo dục…

Thứ năm, các trường sư phạm, nhất là sư phạm đại học chính là “máy cái” để khởi động sự nghiệp cải cách.

Hiện nay, mỗi năm, ngành sư phạm cho ra lò hàng ngàn giáo sinh. Tuy nhiên, đội ngũ này vẫn còn nhiều hạn chế trước đòi hỏi ngày càng mạnh mẽ của sự phát triển đất nước.

Theo chương trình “Phát triển ngành sư phạm và các trường sư phạm từ năm 2011-2020”, Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra mục tiêu đến năm 2015, 100% giảng viên trường đại học sư phạm đạt trình độ thạc sỹ trở lên, trong đó ít nhất 25% đạt trình độ tiến sỹ và phấn đấu năm 2020, ít nhất 50% giảng viên các trường đại học sư phạm đạt trình độ tiến sỹ.

Để đáp ứng mục tiêu này, cần sự nỗ lực rất lớn của ngành giáo dục, sự hỗ trợ, chung sức của toàn xã hội, của các bộ, ngành để có thể thực hiện được nhanh chóng công cuộc “đổi mới căn bản và toàn diện” giáo dục.

Theo chinhphu.vn
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Hồ Chủ tịch trong mắt người Nga

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đoàn đại biểu Viện Công tố Liên Xô do Viện trưởng P.A.Rudenko dẫn đầu. Người thứ hai bên phải Bác là tác giả E.P.Glazunov.

Những hồi ức của các nhà ngoại giao, chuyên gia, tướng lĩnh, sĩ quan Liên Xô từng gặp gỡ, làm việc với Bác, đã được in trong cuốn “Người Nga nói về Hồ Chí Minh” xuất bản tại Nga năm 2010.

Những cuộc gặp ở Hà Nội

Ông Evgeny Glazunov có hơn 50 năm gắn bó với Việt Nam. Ông từng công tác ở Đại sứ quán Liên Xô tại Hà Nội, rồi phụ trách Khu vực Đông Dương trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xôvà sau đó nhiều năm liền làm Chủ tịch Hội Hữu nghị Nga-Việt. Hiện ông là Chủ tịch danh dự của Hội Hữu nghị Nga-Việt. Dưới đây là hồi ức của ông về Bác.

Chủ tịch chưa muốn đi ngủ

Tôi được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên vào một ngày Tháng Tám năm 1962 – năm đầu tiên tôi đến Việt Nam, trong một cuộc gặp gỡ quốc tế với các chuyên gia nước ngoài làm việc ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhân kỷ niệm 17 năm Cách mạng Tháng Tám và Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam. Đại diện các đoàn chuyên gia nước ngoài phát biểu chào mừng, khi kết thúc, một số người nói vài câu bằng tiếng Việt và được cả hội trường vỗ tay nhiệt liệt.

Một chuyên gia Xô Viết khi kết thúc bài phát biểu đã quyết định “tỏa sáng” khả năng ngoại ngữ của mình bằng lời chúc Hồ Chí Minh bằng tiếng Việt, nhưng lại phát âm sai thanh điệu (là điều rất quan trọng trong ngôn ngữ Việt). Những người nước ngoài không biết tiếng nhưng đoán rằng nhà hùng biện kia đã muốn nói gì đó nên vỗ tay, còn hầu hết người Việt có mặt ở hội trường thì cười.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng dậy, hướng về phía vị chuyên gia còn đứng trên diễn đàn kia và vui vẻ nói bằng tiếng Nga: “Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chưa muốn ngủ đâu!”. Nhiều người nước ngoài ngồi trong hội trường biết tiếng Nga đã cười to vui vẻ, vỗ tay nồng nhiệt. Vị chuyên gia của chúng ta, do không biết tiếng, phát âm không đúng câu chúc đã học thuộc sẵn nên lẽ ra nói “muôn năm” lại thành “muốn nằm”, nên đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh dí dỏm bình luận.

Vậy là lần đầu tiên tự tôi đã khẳng định được điều mà trước đây tôi đọc được hay nghe được từ các bạn Việt Nam: Hồ Chí Minh thật sự là một con người dễ mến, có sức lôi cuốn, thích vui đùa dí dỏm, giản dị trong giao tiếp với mọi người, đồng thời cũng rất tôn trọng người đối thoại.
Cần nghe lời Chủ tịch

Vào năm 1962 hay 1963 (tôi không thể nhớ rõ, vì trong sổ tay chỉ ghi ngày 2 tháng 9 mà không ghi năm!) tại vườn Phủ Chủ tịch đã tổ chức cuộc tiếp khách Nhà nước nhân Ngày Quốc lễ của Việt Nam.

Hồ Chí Minh mời khách ngồi vào bàn. Người nói với họ bằng tiếng Việt, tiếng Nga, tiếng Anh và tiếng Pháp, ngay lập tức tạo nên bầu không khí hữu nghị và thoải mái.

Sau lời chúc chính thức, các vị lãnh đạo của Việt Nam theo truyền thống cầm ly trên tay đi mời khách và trao đổi những câu chuyện nhỏ với khách.

Chúng tôi – các nhân viên của Sứ quán đứng ở cuối dãy bàn. Trong buổi tối mát mẻ, bữa tiệc diễn ra vui vẻ và gần đến hồi kết thúc. Những chiếc ly rỗng của chúng tôi để trên bàn. Chúng tôi đang đợi tín hiệu kết thúc buổi tiệc thì bất chợt thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng nhóm các trợ lý đi tới gần.

Chúng tôi nói thực lòng là hơi lúng túng, nhưng cũng cầm lấy ly để chúc. Chủ tịch Hồ Chí Minh cầm cốc to rượu vang tiến tới gần chúng tôi chúc sức khỏe, hỏi thăm về công việc và nâng cốc vì thắng lợi Cách mạng Tháng Tám, vì tình hữu nghị Việt-Xô. Tôi bị rơi vào tình trạng khó xử vì li của tôi đã rỗng không. Thấy vậy, Chủ tịch nói đùa là lớp trẻ bao giờ cũng nóng vội, rồi san cho tôi một ít rượu vang từ cốc mình. Tôi từ chối. Chủ tịch hỏi tôi:

– Anh làm gì ở Sứ quán?

– Là nhân viên ạ, – tôi trả lời.

– Còn tôi, – Người nói – là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thế thì cần phải nghe lời Chủ tịch (lưu ý rằng toàn bộ lời thoại đều bằng tiếng Nga).

Tôi hơi ngượng, nâng ly trong tiếng cười của những người tháp tùng Chủ tịch và các đồng nghiệp mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh rót cho chúng tôi một ít rượu vang trong cốc của mình và chúng tôi cùng nâng cốc.

Ngày hôm sau, câu chuyện này đã lan trong Sứ quán và Đại sứ của chúng tôi mấy ngày sau vẫn trêu đùa tôi. Còn Hồ Chí Minh cũng vậy, trong những cuộc gặp gỡ sau này, khi tôi cùng Đại sứ tới tiếp kiến Người, thỉnh thoảng Người vẫn trêu vui tôi về chuyện đó.

Cuộc sát hạch đặc biệt

Lần đó, cuộc gặp làm việc giữa Đại sứ Liên Xô và Chủ tịch Hồ Chí Minh không diễn ra ở Phủ Chủ tịch – nơi thường tổ chức các cuộc tiếp chính thức các vị khách cao cấp nước ngoài, mà tại ngôi nhà nhỏ trong vườn – nơi trước đây là chỗ ở của người giữ vườn và nay là nơi ở của Chủ tịch.

Khi cuộc đàm luận chính đã kết thúc, sau bữa ăn trưa đã diễn ra cuộc trò chuyện thân mật. Hai bên cùng trao đổi nhận xét về tình hình ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và miền Nam Việt Nam – nơi lúc đó đang nóng bỏng những vụ bê bối chính trị lớn kéo theo sự lật đổ Ngô Đình Diệm…

Trong một phút ngắt giọng hiếm hoi, khi mọi người ngồi quanh bàn bắt đầu dùng bữa, Hồ Chí Minh quay về phía tôi và hỏi bằng tiếng Việt là tôi đã học tiếng Việt ở đâu.

Tôi như cái máy bắt đầu dịch cho Đại sứ Xuren Tovmasian câu hỏi đó. Nhưng Chủ tịch ngăn tôi lại và nói rằng, Người dành câu hỏi đó cho tôi và sau đó chính Người sẽ tự phiên dịch cuộc đối thoại này cho Đại sứ.

Tôi trả lời rằng tôi đã học tiếng Việt ở Học viện Quan hệ quốc tế Moskva thuộc Bộ Ngoại giao Liên Xô. Chủ tịch hỏi câu tiếp theo. Tôi trả lời rồi cảm thấy lo lắng vì thấy Đại sứ không hiểu gì, ngạc nhiên nhìn tôi và Chủ tịch, còn các đồng chí Việt thì vui cười khi nghe chúng tôi nóichuyện. Hồ Chí Minh còn hỏi tôi những gì đó nữa, tôi trả lời Người và thầm nghĩ rằng chắc Đại sứ hôm nay sẽ xạc cho tôi một trận ra trò vì cuộc đối thoại này với vị đứng đầu Nhà nước.

Chủ tịch còn vui đùa hỏi tôi mấy câu nữa, sau đó quay sang nói với Đại sứ bằng tiếng Nga:

– Đồng chí Đại sứ đừng giận nhé, tôi chỉ muốn làm một cuộc sát hạch nhỏ với người phiên dịch của đồng chí.

– Ra vậy! – Xuren Tovmasian trả lời với sự nhẹ nhõm, sảng khoái. Vậy theo đồng chí thì tiếng Việt của anh ta thế nào ạ?

– Không tồi, không tồi. Nhưng tôi chưa thể cho anh ta điểm năm được đâu. Còn ít đọc sách báo Việt Nam. Cách phát âm trong ngôn ngữ của chúng tôi rất quan trọng mà người Châu Âu khó bắt chước theo được. Nhưng người phiên dịch thì phải tự trau dồi và hoàn thiện. – Hồ Chí Minh quay sang phía tôi và kết luận.

Trên đường về nhà, ngồi trong xe, Đại sứ nói với tôi những nhận xét của mình để tôi biết – như người ta thường nói là để phòng bệnh, nhưng cũng ngạc nhiên nhận thấy là với các phiên dịch Xô Viết khác, Hồ Chí Minh đã không sát hạch như vậy. Chắc là hôm nay tâm trạng của Người rất phấn chấn. Rồi Đại sứ kết luận: Vậy là cuộc hội đàm hôm nay đã thành công. Chúng ta sẽ viết như vậy gửi về Moskva.

Ông E.P.Glazunov giới thiệu một số cuốn sách tiếng Nga viết về Bác Hồ - Ảnh: Mekong.net.

Kẹo cho trẻ em

Tôi từng nói nhiều lần rằng, Hồ Chí Minh rất yêu trẻ em. Người cũng có tình cảm như vậy với con em của các cán bộ Đại sứ quán Liên Xô.

Về điều này, tôi nhớ lại một buổi tiệc mà Đại sứ quán tổ chức vào đầu tháng 11 năm 1964 nhân kỷ niệm 47 năm Cách mạng Tháng Mười. Buổi tiệc diễn ra tại Câu lạc bộ quốc tế.

Sau những nghi lễ chính thức, các vị chủ – khách tự do lui tới nâng cốc chúc tụng nhau. Hồ Chí Minh chọn đúng thời điểm không ai nhìn theo mình, nhẹ nhàng kéo tay tôi cùng đi ra ngoài vườn cạnh đó.

Tại đây, dưới ánh sáng mờ và không khí mát mẻ, trên bãi cỏ xanh, các cháu bé con của nhân viên Đại sứ quán Liên Xô chơi đùa vui vẻ. Đứng giữa đám trẻ, Hồ Chí Minh lấy từ túi áo ra những chiếc kẹo đã được chuẩn bị sẵn và tặng cho các cháu, trò chuyện với chúng bằng tiếng Nga, thỉnh thoảng hỏi lại tôi bằng tiếng Việt.

Một phút sau xuất hiện các nhân viên bảo vệ chạy tới than phiền rằng lại một lần nữa đã “thả lỏng” Chủ tịch. Chủ tịch Hồ Chí Minh cười rất hài lòng: “Thế nào, lại cằn nhằn rồi, thôi, ta đi, ta đi nhé”. Người tạm biệt đám trẻ rồi quay lại phòng tiếp khách.

Cũng đã xảy ra việc tương tự khi Hồ Chí Minh tới Đại sứ quán dự bữa tiệc chào mừng 20 năm chiến thắng của Liên Xô trong cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại chống phát xít Đức xâm lược do Đại sứ Serbakov tổ chức. Tới Đại sứ quán, sau khi trò chuyện ngắn với Đại sứ, Hồ Chí Minh hỏi tôi về kẹo. Kẹo đã được chuẩn bị sẵn.

Sau phần chính thức của buổi tiếp trọng thể, Chủ tịch vẫy tôi cùng đi với Người theo cửa phụ ra sân sau của sứ quán. Ở đây có một bể cá đẹp, cá vàng đang tung tăng bơi lội. Trẻ em con các nhân viên, cán bộ sứ quán chơi đùa xung quanh (trong đó có con gái tôi lúc này học ở trường của sứ quán và đến giờ thỉnh thoảng nó vẫn nhắc tới cuộc gặp gỡ này).

Cười vui vẻ, Hồ Chí Minh mở cả hai túi áo đầy kẹo của mình mời bọn trẻ ăn kẹo, nói chuyện với chúng về việc học hành và những mối quan tâm của chúng. Tôi thỉnh thoảng cũng tham gia vào cuộc đối thoại thân mật này, giúp Chủ tịch dùng những từ tiếng Nga thích hợp với ngôn ngữ trẻ em.

EvgenyGlazunov
Nguyễn Hữu Dy dịch từ nguyên bản tiếng Nga
Theo Tiền phong
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh và võ thuật (phần 2)

Bác Hồ đánh bóng chuyền ở Việt Bắc. Ảnh: Internet

(DVT.vn) – Tập quyền giúp Bác ngủ ngon nhưng ban đầu các cơ bị đau như dần! Ngay trong những ngày đầu sau cách mạng, Bác đã tập võ mỗi ngày hai lần.

Chúng tôi tìm một phòng, mở cửa sổ, bật đèn và bắt đầu tập. Bác học các động tác rất nhanh và biểu diễn hoàn hảo. Tôi hướng dẫn Bác một mạch hết 52 động tác. Sau đó tôi đề nghị Bác đi ngủ vì sợ Bác mệt.

Sáng hôm sau, tôi dậy sớm để tập dùng tay đánh vào một gốc cây cổ thụ. Trên đường ra sân, tôi thấy Bác đang biểu diễn rất thuần thục các động tác mà tôi đã hướng dẫn Bác đêm trước. Người Bác đẫm mồ hôi. Thấy tôi, Bác đùa: “Gớm, quyền của chú làm Bác đêm qua ngủ một giấc thật đã cả mắt. Nhưng các cơ bắp thì đau như dần! Cơ thì đau nhưng hai đầu gối của Bác bị bệnh khớp mọi hôm đau thế, giờ lại giảm. Từ nay, chú nhớ tối và sáng, hai bác cháu phải tập quyền thường xuyên. Bác sẽ tập quyền thật thạo để rồi chú còn dạy cho Bác vài miếng võ nữa chứ!”.

Bác Hồ rèn luyện sức khỏe hàng ngày

Sau đó, dù làm việc ở đâu, tại Bắc Bộ phủ hay những nơi bí mật khác ở Hà Nội, hai bác cháu vẫn luôn tập luyện hai lần một ngày. Một hôm, khi tôi xuống tấn tập đánh thẳng ra phía trước bằng cả hai tay, Thấy tôi đổ nhiều mồ hôi và cơ đùi căng ra, Bác nói:

– Chú có thể đánh như thế trong bao lâu?

– Tôi nói với Bác rằng tôi thường xuyên tập bài này, nên tôi có thể đánh hàng giờ liền.

Bác mỉm cười, nói:

– Ước gì Bác còn ở tuổi chú, tập môn này có khi bệnh đau khớp gối của Bác cũng phải thua.

Trong giờ giải trí ở phía dưới nhà sàn.

Sau đó, chúng tôi tới đền Ngọc Sơn cùng dự lễ hái lộc cầu may. Đêm đó, Bác ngủ lại tại số 8 phố Thủy Tạ (nay là phố Lê Thái Tổ), chứ không về Bắc Bộ phủ. Mặc dù đi ngủ muộn, sáng hôm sau, Bác vẫn dậy đúng 5 giờ và gọi:

– Chú Kháng! Dậy đi, Bác cháu mình khai xuân bài quyền cho ấm!

– Chúng tôi thực hiện các động tác hai lần. Sau đó Bác tập điều hòa hơi thở trong khi tôi xuống tấn, tập đấm.

Bác hỏi tôi:

– Chú xuống tấn, Bác xô chú thật mạnh, liệu có đổ không?
– Tôi nói với Bác rằng xô ngã tôi hơi khó. Bác xô mạnh tôi ba lần từ phía sau và từ hai bên sườn, nhưng tôi đều không ngã.

Bác khen tôi và nói:

– Chú nhớ phải tập cho tất cả anh em trong tổ, nhưng nhớ tập thường xuyên. Văn ôn võ luyện thì mới tốt. Cả tổ của chú đều khỏe, đều giỏi võ, thì còn gì bằng./.

Theo Hoàng Hữu Kháng (dvt.vn)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh và võ thuật (phần 1)

Bác Hồ tập võ. (Ảnh: Internet).

(DVT.vn) – Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi là tên tám cán bộ giúp việc Bác Hồ. Ông Hoàng Hữu Kháng nằm trong số đó. Sau đây là lời kể của ông.

Khoảng cuối tháng Tám năm 1945, tôi được lệnh rời căn cứ kháng chiến Việt Bắc về Hà Nội để nhận nhiệm vụ mới. Tôi vô cùng phấn khởi khi biết mình sẽ trở thành một chiến sỹ cảnh vệ của Bác Hồ.

Trước khi tôi lên đường, anh Nguyễn Lương Bằng, người sau này trở thành Phó Chủ tịch nước Việt Nam, gặp tôi và nói, đại ý: Cậu rất giỏi võ. Mình được biết, tay không vũ khí, thế mà cậu vẫn có thể cứu đồng chí Bí thư Huyện ủy Tiền Hải thoát khỏi mật thám Pháp ở tỉnh Thái Bình. Bọn chúa ngục ở Nhà tù Sơn La đều biết mình cậu hạ gục năm tên lính có vũ khí và giải thoát cho sáu đồng chí bị giam giữ.

Bây giờ Bác đã về Hà Nội. Tình hình ở đó tuy yên ắng, nhưng rất nhiều hoạt động chống Chính phủ vẫn đang âm ỷ phát triển. Thực dân Pháp đang cố tình khiêu khích ta có hành động quân sự. Bác đã chỉ thị cho lực lượng vũ trang của ta hết sức kiềm chế. Nếu chỉ một phát súng từ phía ta bắn ra là có thể khiến thực dân Pháp tấn công ngay. Bác phải đi lại nhiều trong thành phố và cần phải bảo đảm an toàn cho Bác. Bởi thế Ban Chấp hành Trung ương Đảng điều cậu làm cảnh vệ cho Bác.

Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc.

Sau đó, anh Nguyễn Lương Bằng trao cho tôi một khẩu súng lục còn mới và mấy chục viên đạn. Tôi rất phấn khởi với khẩu súng mới và những viên đạn đồng sáng loáng. Thế nhưng anh Nguyễn Lương Bằng lại nói thêm: “Mình hy vọng cậu sẽ hoàn thành nhiệm vụ mà không phải dùng đến khẩu súng này.”

Tôi đã được gặp Bác khi còn ở Việt Bắc. Bác sống rất giản dị. Ở Hà Nội, Người vẫn duy trì nếp sống giản dị này. Người làm việc suốt ngày đêm. Tôi phụ trách một tổ cảnh vệ sáu người, trong đó có anh Vũ Kỳ, Thư ký của Bác

Đối với chúng tôi thì chuyện đánh nhau đương nhiên là một phần công việc. Mỗi chiến sỹ cảnh vệ được giao một khẩu súng lục, nhưng vì đều đã sử dụng vũ khí rất thành thạo, nên chúng tôi chú trọng học võ và học cách phát hiện những hành động khả nghi quanh Bác khi Người đi đây đi đó.

Hàng ngày (có lúc vào ban đêm), sau khi chúng tôi giao cho một thành viên trong tổ làm công việc bảo vệ Bác, số còn lại tìm một căn phòng trống trong Bắc Bộ Phủ, đóng cửa lại tập võ. Chúng tôi luôn khởi động bằng những động tác võ theo quy định. Sau đó, chúng tôi tập đứng tấn, phòng thủ và tấn công các vị trí, rồi những động tác cơ bản như đấm, đỡ gạt và đá.

Bác Hồ rèn luyện thân thể hàng ngày

Một hôm, Bác đến thăm trong khi tôi đang dạy bài quyền có tên “bát bộ”. Tôi nói với Bác rằng bài quyền bao hàm tất cả những động tác và tư thế cơ bản trong võ thuật. Lúc đó gần đến bữa tối nên tôi nghĩ rằng Bác chỉ xem thôi. Nhưng Người lại cởi áo, tháo dép, rồi đứng vào hàng và cùng tập với nhóm. Tôi hết sức ngạc nhiên không nói được gì khi thấy Bác bảo: “Chú Kháng huấn luyện cả cho Bác nữa, nhưng nhớ là Bác chỉ tập ngoài giờ thôi đấy nhé.” Chúng tôi tập thêm một vài động tác với Bác, rồi nghỉ ăn tối.

Khoảng ba, bốn ngày sau, khi tôi đang canh gác ngôi nhà Bác ở thì Người đến chỗ tôi và bảo:

– Tối nay chú gác à?

– Vâng, thưa Bác. Tôi đáp.

Bác gấp tờ báo đang đọc dở và bảo:

– Thế thì Bác và chú đi tập võ. Chú khóa cửa phòng Bác lại thế là xong.

Theo Hoàng Hữu Kháng (dvt.vn)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

“Giá trị của tự do, của độc lập”

Ngày 17-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi chống đói. 55 năm sau, 150 vị đứng đầu Nhà nước, Chính phủ và các quan chức của Liên Hợp quốc đã ra tuyên bố thiên niên kỷ và quyết định lấy ngày 17-10 hằng năm, ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi chống đói làm “Ngày thế giới chống đói nghèo”.

Cách mạng Tháng Tám thành công, Chính phủ lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu được thành lập. Việc đầu tiên, Bác lo chống đói. Ngày 17-10-1945, Người ra lời kêu gọi toàn dân cùng Chính phủ tập trung chống giặc đói. Người nói: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm là ba thứ giặc đều phải chống, nhưng người đặt giặc đói lên hàng đầu vì lý do: “Ngày nay chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, nhưng nước ta được độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc thì độc lập đó chẳng có ý nghĩa gì”.

Phát biểu tại phiên họp đầu tiên của Uỷ ban nghiên cứu kiến quốc ngày 10-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa lại nhấn mạnh bổn phận Nhà nước đối với việc chăm lo cuộc sống của dân: “Chúng ta giành được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ, chúng ta phải thực hiện ngay: Làm cho dân có ăn; Làm cho dân có mặc; Làm cho dân có chỗ ở; Làm cho dân được học hành”.

Tư tưởng và tình cảm của Bác đã thổi bùng lên truyền thống quý báu ngàn đời của dân tộc ta, thương yêu đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”… Truyền thống đó đã trở thành đạo lý làm người, phẩm chất của nền văn hoá nhân văn, nếp sống cao đẹp của mỗi người Việt Nam yêu nước, thương nòi.

Hơn 60 năm tuân theo lời kêu gọi của Bác Hồ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào “Xoá đói giảm nghèo” đã trở thành mục tiêu phấn đấu của Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân. Một sự nghiệp cao cả, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Trong chương trình “Xoá đói giảm nghèo”, Đảng, Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, ban hành nhiều chính sách, chỉ đạo các bộ, ngành lập ra các chương trình dự án xoá đói, giảm nghèo cho các vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, chương trình dạy nghề, giải quyết việc làm, nhằm tạo mọi điều kiện và môi trường thuận lợi khuyến khích mọi người, mọi thành phần kinh tế phát huy cao độ nguồn lực và tài năng sáng tạo, ra sức phát triển sản xuất, kinh doanh, làm giàu hợp pháp, giảm nhanh các hộ nghèo, phấn đấu vươn lên: dân giàu, nước mạnh.

Cùng với việc động viên phát triển sản xuất, Đảng và Nhà nước khuyến khích toàn dân, các tổ chức xã hội, các đoàn thể mở các cuộc vận động, các chương trình dự án, xoá đói giảm nghèo. Nông dân có phong trào thi đua “Sản xuất, kinh doanh giỏi”, Mặt trận Tổ quốc Việt nam có “Ngày vì người nghèo” hoạt động “Nối vòng tay lớn” gây quỹ xoá nhà dột nát. Phong trào đã mở rộng cả Trung ương và cơ sở, tất cả các bộ, ngành và của toàn dân. Đảng và Nhà nước khuyến khích toàn dân thực hiện tốt các chính sách đền ơn đáp nghĩa đối với những người có công với nước, tham gia các hoạt động công ích, hoạt động từ thiện, gắn tăng trưởng kinh tế với chính sách xã hội.

Cuộc vận động “Vì người nghèo” do Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt nam phát động đã thu hút toàn bộ hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, với hàng triệu cán bộ, đảng viên, nhân dân tham gia, đem lại kết quả to lớn cả về vật chất lẫn tinh thần và đạo lý. Hàng vạn ngôi nhà tình thương đã mọc lên. Nhiều tỉnh đã xoá xong nhà dột nát. Cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước, sự phấn đấu vươn lên của các hộ nghèo, xã nghèo, sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế, chúng ta đã vượt trước thời hạn mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc đề ra giảm một nửa tỉ lệ đói nghèo và phổ cập tiểu học, được hội nghị thượng đỉnh tháng 9-2005 của Liên hợp quốc đánh giá cao.

Một tờ báo nước ngoài đã viết: “Sau hai thập niên cải cách kinh tế, Việt Nam đang trên con đường hoàn thành ước muốn độc lập và thịnh vượng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Trần Công Huyền

bqllang.gov.vn

Người đảng viên xứng đáng với danh hiệu Bộ đội cụ Hồ

(ĐCSVN) – Trung thực, thẳng thắn và khiêm nhường, đó là những đức tính vốn có trong anh. Sinh ra và lớn lên ở thị xã biên giới nghèo, trong một gia đình công chức bình thường nhưng rất hiếu học. Cả 5 anh, chị em đều là cán bộ, công chức nhà nước. Gia đình anh dư điều kiện để thành lập một chi bộ đảng. Đó là Nguyễn Văn Minh, ủy viên Ban Thường vụ Thị ủy, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Thị xã Hà Giang.

Ấn tượng sâu sắc nhất trong tôi về anh, đó là đợt cùng anh đi tham gia cùng đoàn Đại biểu ứng cử viên Quốc hội khóa XII tiếp xúc, gặp gỡ cử tri tháng 4 năm 2007. Với chất giọng ấm ấp, truyền cảm, anh là người trực tiếp làm công tác tổ chức cho các buổi tiếp xúc, gặp gỡ cử tri, thông qua phong cách và phương pháp điều hành hội nghị, mọi người đều tấm tắc khen. Và cũng trong đợt thi đua chào mừng cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII vừa qua, anh vinh dự được nhận Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh.

Năm 1974, anh xung phong lên đường tòng quân ra tiền tuyến theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc trong đơn vị pháo binh Lữ đoàn 145, Quân khu I. Đơn vị anh đã trực tiếp tiến công vào dinh lũy tổng thống ngụy – Sài Gòn, cùng cả nước giải phóng miền Nam thân yêu, đó là niềm vinh dự đã thôi thúc anh mãi mãi gìn giữ và phát huy phẩm chất cao đẹp – Bộ đội cụ Hồ. Anh được Bộ Quốc phòng tặng Băng khen và Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng 3.

Tròn mười năm quân ngũ, anh chuyển ngành năm 1984 với quân hàm trung úy, trợ lý tham mưu Trung đoàn 4, Sư đoàn 396, Quân khu Thủ đô. Mặc dù đóng quân ngay trên mảnh đất trung tâm kinh tế – chính trị – xã hội của cả nước, song anh vẫn khát khao và mong mỏi được về xây dựng quê hương nơi mảnh đất địa đầu cực Bắc.

Suốt 9 năm trên cương vị cán bộ rồi trưởng phòng tổ chức Lao động thương binh xã hội thị xã, anh luôn trăn trở và quyết tâm thực hiện tốt các chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, giải quyết và thực hiện có hiệu quả đối với công tác thương binh, liệt sỹ, người có công… được đông đảo nhân dân ủng hộ và yêu mến. Để không ngừng phấn đấu vươn lên và không tụt hậu về tri thức so với bạn bè, anh đã theo học và tốt nghiệp Đại học Luật tại chức tại tỉnh và Cao cấp chính trị. Với uy tín và năng lực của mình, anh được cử tri thị xã Hà Giang bầu làm đại biểu Hội đồng nhân dân tròn hai khóa. Từ năm 2000 đến nay, anh đều tham gia Ban chấp hành rồi ủy viên Ban Thường vụ Thị ủy.

Anh tâm sự: “Mình cũng là người lính chiến trường, may mắn hơn bao người khác là được trở về lành lặn, đó là hạnh phúc không có gì so sánh nổi. Mình phải có trách nhiệm quan tâm, tạo điều kiện, hướng dẫn các đối tượng chính sách hoàn tất thủ tục để khỏi thiệt thòi…”. Nhiều trường hợp mất hết giấy tờ, anh đã giúp đỡ, hướng dẫn một cách tận tình, chu đáo họ xin các xác nhận theo đúng quy định của pháp luật. Anh vinh dự được nhận kỷ niệm chương vì sự nghiệp Tổ chức Nhà nước của Bộ Nội vụ trao tặng.

Từ tháng 10 năm 2003 đến nay, anh được bổ nhiệm giữ cương vị Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc thị xã. Đến tháng 1 năm 2005, anh còn đảm nhiệm thêm cương vị Trưởng ban Ban Dân vận Thị ủy. Mặc dù công việc bận rộn, song, anh luôn biết sắp xếp một cách khoa học và biết phát huy trí tuệ của tập thể nên mọi nhiệm vụ đều suôn sẻ và hoàn thành nhiệm vụ được giao. Nhiều năm liền là chiến sỹ thi đua cấp cơ sở, cấp tỉnh; năm 2006 vừa qua, anh vinh dự được nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.

Trong cuộc sống gia đình, anh thực sự là tấm gương sáng cho các con noi theo, hai cháu khỏe mạnh, đều là con ngoan, trò giỏi, cháu ngoan Bác Hồ. Gia đình anh hằng năm đều được tổ dân phố bình bầu là gia đình văn hóa.

Anh là người cán bộ mẫn cán, hết lòng vì nhiệm vụ, anh thật sự xứng đáng là người lãnh đạo cơ quan tập hợp khối đoàn kết nhân dân các dân tộc thị xã Hà Giang trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững ổn định chính trị nơi biên cương của Tổ quốc.

Hải Hà

bqllang.gov.vn

Bác nhắc nhở “nội vụ” của bộ đội

Ngày 3-2-1963, nhân dịp Tết Nguyên đán, Bác Hồ đến thăm Đại đội 129, Trung đoàn 260 Bộ đội Phòng không, đóng quân tại Tiên Hội, Đông Anh, Hà Nội.

Mọi người đang lúi húi xây dựng vườn hoa thì Bác đến. Anh em vây xung quanh Bác. Người nhìn các chiến sĩ và âu yếm hỏi:

– Tết mỗi chú được bao nhiêu bánh chưng ?

– Thưa bác, được hai chiếc ạ ! – Mọi người trả lời.

Bác nhìn quanh rồi chỉ vào những cây phi lao mới trồng cạnh vườn hoa nhỏ:

– Cây này có cho quả không ?

– Thưa Bác, không ạ !

– Thế trồng nhãn có cho quả không ?

– Thưa Bác, có ạ !

– Thế thì trồng nhãn tốt hơn ! – Bác vừa cười vừa phân tích – Phi lao nên trồng ngoài hàng rào. Còn xà cừ trồng ngoài cổng doanh trại. Trồng cây nào các chú phải chăm sóc cho được cây ấy.

Sau đó, Bác đi xem nơi ăn, chốn ở của đơn vị. Khen nhà bếp sạch, nhưng Người phê bình nhà ngủ chưa gọn và nhắc nhở:

– Dù là chủ nhật, dù là ngày Tết, thì “nội vụ” cũng phải gọn gàng.

Mọi người cùng “vâng ạ !”, nhận lỗi và nhìn nhau, nguyện sẽ thực hiện nghiêm túc trật tự nội vụ như Bác vừa nhắc nhở.

Không chỉ với bộ đội, mà đến bất cứ đâu, Bác đều quan tâm đến cuộc sống thường nhật của mọi người. Bác gần gũi, thân tình như người thân trong nhà, như đồng đội trong cùng đơn vị, như đồng nghiệp trong cùng cơ quan.

Nguyễn Thanh

bqllang.gov.vn

Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng

Ngày 4-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định về thực trạng nhân sự hành chính của chính quyền Nhà nước lúc đó như sau: “Về cán bộ hành chính ta phải thú nhận là thiếu rất nhiều, người đi tiền tuyến, người chiến đấu thì có, người ngồi bàn giấy làm việc thì rất hiếm”. Người cho rằng: “Vô luận việc gì đều do người làm ra”. Từ quan niệm này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi tới kết luận: “Có cán bộ tốt việc gì cũng xong. Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý. Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”.

Hiện nay, thực trạng nhân sự hành chính vẫn còn nhiều bất cập. Tại phiên thảo luận về tình hình kinh tế – xã hội của Quốc hội khóa XII vừa qua, nhiều đại biểu Quốc hội đã tỏ ra bức xúc với những vướng mắc trong việc bổ nhiệm, đề bạt hay thuyên chuyển cán bộ. Một đại biểu cho biết: “Thực tế để bổ nhiệm được một cán bộ vào vị trí lãnh đạo phải qua nhiều bước, nhiều cấp xem xét, nhưng con voi vẫn lọt qua lỗ kim, cũng chính vì thế nên việc thuyên chuyển kỷ luật, cách chức một cán bộ công chức vô cùng khó khăn, phức tạp, mặc dù sai phạm và trì trệ của họ đã quá rõ ràng. Có nhiều trường hợp cấp trên đã chỉ đạo bằng văn bản, nhất là trong lĩnh vực giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân nhưng cấp dưới không thực hiện để công dân phải khiếu kiện vượt cấp, thử hỏi tại sao trên nói dưới không nghe, nhưng vẫn không bị xử lý?”.

Cũng tại phiên thảo luận, một số đại biểu cùng chung ý kiến cho rằng, một bộ máy hành chính mạnh là khi người đứng đầu có đủ mọi quyền hành để xử lý kỷ luật cấp dưới của mình. Như vậy thì người làm được việc sẽ nhanh chóng được cất nhắc đề bạt và những người sai phạm mới kịp thời bị thay thế. Quốc hội cần xem xét bổ sung sửa đổi các luật có liên quan đến bộ máy Nhà nước. Trong đó thể chế hoá thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu các cấp được quyền giới thiệu, cất nhắc, bổ nhiệm và xử lý cán bộ dưới quyền kèm theo đó là một hệ thống giám sát chặt chẽ có hiệu quả của Quốc hội và Hội đồng nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói rằng, muốn dùng cán bộ đúng, người cán bộ lãnh đạo cần có “5 phải”: “Phải có độ lượng vĩ đại thì mới có thể đối với cán bộ một cách chí công vô tư, không có thành kiến, khiến cho cán bộ không bị bỏ rơi; Phải có tinh thần rộng rãi mới có thể gần gũi với người mình không ưa; Phải có tính chịu khó dạy bảo mới có thể nâng đỡ những đồng chí còn kém, giúp họ tiến bộ; Phải sáng suốt mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây mà cách xa cán bộ tốt; Phải có thái độ vui vẻ thân mật, các đồng chí mới vui lòng gần gũi mình”.

Bác từng dạy, muốn có cán bộ tốt thì phải có chế độ đãi ngộ, quan tâm xứng đáng. Thế nhưng, hiện nay lại có không ít ý kiến bức xúc trước những bất cập về chế độ, chính sách đối với cán bộ cơ sở, về kinh phí, phương tiện và điều kiện làm việc. Tại phiên thảo luật về tình hình kinh tế-xã hội của Quốc hội ngày 29-10, một đại biểu đã nói: “Hiện không ít cán bộ không chuyên trách ở cơ sở giữ nhiều vị trí quan trọng nhưng chỉ được hưởng chế độ phụ cấp ở mức rất thấp, không đủ nuôi sống bản thân. Chế độ chính sách như vậy không động viên khuyến khích được cán bộ công tác ở cơ sở. Anh chị em tâm tư, thắc mắc, gây khó khăn cho việc điều hành bố trí cán bộ, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hiệu quả hoàn thành công việc, nhiệm vụ ở cơ sở”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn cán bộ tốt thì cơ quan phải quản lý “phải nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu”. Đồng thời, phải thường xuyên huấn luyện cán bộ để nâng cao trình độ giác ngộ, phương pháp tư tưởng, phẩm chất đạo đức và năng lực làm việc cho cán bộ, làm cho cán bộ ngành nào thành thục về chuyên môn của ngành ấy; làm sao cho bất cứ cán bộ nào cũng đều phải “vững về chính trị, giỏi về chuyên môn”. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi “cán bộ là gốc của mọi việc. Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”.

Linh An

bqllang.gov.vn

Bác Hồ trong ký ức của giới văn nghệ sĩ

Thông thường, người ta biết đến nhà văn hoá Hồ Chí Minh, một quan điểm văn hoá mác – xít chân chính, một bản sắc văn hoá Việt Nam đầy tính sáng tạo trong mối liên hệ với thực tiễn lịch sử, ở sáng tác thơ văn của Người. Nhưng những gì có mối liên hệ với văn hoá trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người đã làm chúng ta phải ngạc nhiên và thán phục bởi cái bình diện vừa rộng lớn vừa sâu sắc của nó.

Bên cạnh những sáng tác thơ văn, chính luận, Người đã từng vẽ tranh, chụp ảnh, viết kịch, phê bình phim… Đối với âm nhạc – một loại hình nghệ thuật đặc thù tưởng như rất trừu tượng, chúng ta cũng tìm thấy những nét riêng có liên quan tới hoạt động cách mạng và quan điểm văn hoá của Người.

Trong các tiểu sử, hồi ký, truyện ký, chuyên luận về Chủ tịch Hồ Chí Minh chúng ta thấy sự hiện diện của âm nhạc như một nguồn nuôi dưỡng tinh thần và tình cảm dân tộc, một thành tố tạo nên diện mạo nhà văn hoá, một vũ khí và phương tiện đấu tranh cách mạng, một đối tượng được cảm thụ và đánh giá trên quan điểm thẩm mỹ.

Âm nhạc dân tộc đã đi vào tâm hồn và tình cảm của Bác ngay từ thời thơ ấu. Dù sau này phải rời quê theo cha vào kinh đô Huế từ thời niên thiếu, đi dạy học ở Phan Thiết, làm nghề khuân vác ở bến cảng nhà Rồng, rồi xuất dương tìm đường cứu nước suốt gần nửa thế kỷ đến khi trở thành lãnh tụ của dân tộc Bác vẫn nhớ đinh ninh những làn điệu, những câu hát dân gian ở quê nhà. Chính vì vậy, sau này khi gặp gỡ các nghệ sĩ đến thăm và biểu diễn Bác thường nói: “Lúc còn nhỏ Bác nghe nhiều cụ ở Nghệ An hát ví phường vải và các điệu dân ca Nghệ Tĩnh rất hay“. Có một lần đoàn văn công quân khu IV đến thăm và biểu diễn cho Bác xem, một diễn viên hát điệu ví đò đưa với câu mở đầu “Ai biết nước sông Lam răng là trong là đục...” Bác cười và nói: “Ở Nghệ An người ta gọi là nác chứ không phải là nước”. Một diễn viên khác hát điệu hò khoan, nhưng sau mỗi câu lại không có người hát xen kẽ. Bác liền bảo: “Các cháu không hò khoan theo à?”. (Sách Bác Hồ với văn nghệ sĩ).

Ta thấy rõ Bác không chỉ nhớ từng chi tiết lời ca, nhớ các làn điệu mà cả  kết cấu của những làn điệu dân ca quen thuộc. Xin lưu ý rằng câu chuyện trên diễn ra vào năm 1969, năm Bác 79 tuổi, mùa xuân cuối cùng trong cuộc đời của Bác, trước khi Bác đi xa.

Nhà cách mạng lão thành Lê Văn Hiến kể: “… Ở chiến khu trong các hội nghị, các cuộc họp của Hội đồng Chính phủ, Bác Hồ thường thích nghe tôi hát tuồng…. Có lần trong một hội nghị rất đông, tôi hát lời của “Công chúaTrại 3” tự đấu tranh với bản thân để theo chồng (là Địch Thanh)… Hát đến đó tôi ngừng lại cho như thế là đủ. Bỗng Bác bảo tôi tiếp thêm:

“Hữu tình mà hoá vô tình
Bơ vơ thê thiếp, lênh đênh nỗi chàng

Sao Bác có thể nhớ lời của nhân vật rành đến thế? Bác động viên tôi hát tiếp. Thấy hào hứng của Bác đối với nghệ thuật tuồng truyền sang mọi người. Nhiều lần cả những khi tiếp khách quý, tôi thấy Bác thường cho mời các đoàn tuồng, chèo đến biểu diễn.

Vốn cổ truyền quý báu của dân tộc, dù ở miền nào, địa phương nào đều được Bác trân trọng và cảm thụ với niềm xúc động sâu sắc. Bác tìm thấy ở di sản văn hoá tinh thần ấy một ngọn nguồn, một nền tảng để xây dựng văn hoá mới của đất nước, bên cạnh việc hấp thụ tinh hoa của loài người.

Nhưng quan điểm của Người trong công cuộc bảo tồn và phát huy vốn nghệ thuật dân tộc là phải biết gạn đục khơi trong, “tránh phục cổ một cách máy móc” (Thư gửi Hội nghị cán bộ văn hoá ngày 28/2/1957). Như vậy, việc giữ gìn và bảo tồn vốn âm nhạc cổ truyền phải gắn với việc phát huy, phát triển. Phát triển nhưng không làm sai lạc, mất đi cái tinh tuý cái bản sắc của nó : “Chớ có gieo vừng ra ngô”.

Sự cảm thụ tinh tế, sâu sắc của Bác đối với âm nhạc dân tộc, quan điểm của Bác trong việc giữ gìn, phát huy những tinh hoa âm nhạc dân tộc, không tách rời sự chăm sóc ân cần của người đối với văn nghệ sĩ, trong đó có những nghệ sĩ hoạt động ở lĩnh vực âm nhạc cổ truyền dân tộc. Có biết bao câu chuyện cảm động về mối quan hệ này.

Nghệ sĩ tuồng Nguyễn Nho Tuý đã không ngờ cái nghề diễn tuồng trước đây bị xem là “xướng ca vô loài” lại được Bác Hồ và các đồng chí Trung ương ngồi xem trân trọng đến thế…. “Bác còn bước lên sân khấu bắt tay anh chị em tôi, lại ân cần dặn dò: “Nghệ thuật của ông cha ta hay lắm, tốt lắm! Cố mà giữ gìn“.

Qua các đoạn hồi ký của nghệ sĩ Thương Huyền chúng ta được biết chị là một trong những nhà hoạt động nghệ thuật may mắn và vinh dự được sự chăm sóc và chỉ bảo ân cần của Bác ngay từ những ngày đầu thành lập chính quyền cách mạng “Ngay từ lúc còn là một cô gái 20 tuổi, hát trong những cuộc hội họp của quần chúng sau những ngày Cách mạng Tháng Tám, tôi đã được gặp Bác. Nghe tôi hát, Bác động viên: “Cháu hát tốt lắm, nhưng phải cố gắng, tập thêm nhiều bài mới để phục vụ chiến sĩ, đồng bào và phải chú ý thuộc nhiều dân ca” Thời kỳ tôi ở đoàn ca múa trung ương. Có lần Bác đến thăm chúng tôi biểu diễn vở chèo “Chị Tấm anh Điền”. Diễn xong, Bác cho gọi cô Tấm (do tôi đóng) đến thưởng cho một đĩa kẹo rồi nói: “Hôm nay cháu hát khá hơn các lần trước nhưng vẫn phải cố gắng nhiều hơn”.

Bác Hồ thăm hỏi các văn nghệ sĩ tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ III. Ảnh: cand.com

Đối với nghệ sĩ, Bác không chỉ động viên khen ngợi, nhắc nhở phải phấn đấu tiến bộ không ngừng trong nghề nghiệp, mà con có những nhận xét chi tiết về chuyên môn để giúp nghệ sĩ khắc phục những nhược điểm nhằm đem lại hiệu quả  nghệ thuật cao hơn, phục vụ công chúng tốt hơn, Thương Huyền giữ mãi một kỷ niệm đáng ghi nhớ: “Tết năm đó, chúng tôi ăn Tết với trung ương ở ATK (an toàn khu). Riêng tôi thỉnh thoảng được Bác dặn: “Cháu hát hay, nhưng luôn nhớ là phải cố gắng hát thật rõ lời và chậm thôi để người ta hiểu được hết nội dung ý nghĩa của bài hát“. Một lần khác, vào những năm chống Mỹ, chị được mời đến Phủ Chủ tịch để xem phim. Trước khi chiếu phim Bác hỏi những người cùng xem trong cơ quan có thích nghe Thương Huyền hát không, mọi người đồng thanh hưởng ứng. Bác liền nói: “Cô Huyền hát đi, hát ru con Nam bộ, hát quan họ Bắc Ninh tuỳ ý, nhưng nhớ là hát phải thong thả và rõ lời”.

Sự quan tâm chăm sóc của Bác đối với đội ngũ nghệ sĩ, hơn thế nữa, đối với từng người cụ thể, không chỉ là mối quan hệ giữa một lãnh tụ đối với nghệ sĩ mà trước hết là tình thương của người cha, người bác  đối với con cháu. Đó là cái cốt lõi nhân bản đậm bản sắc dân tộc trong đạo đức của Người.

Đối với người nghệ sĩ Bác còn dành sự quan tâm đến đời sống thường ngày và quan hệ xã hội gia đình của họ. Nghệ sĩ  Ái Liên, người đã hoạt động trong ngành nghệ thuật cải lương từ trước cách mạng, đã kể lại những mẩu chuyện cảm động trong lần chị và gia đình được đến thăm và biểu diễn cho Bác nghe. Có lần Bác hỏi: “Cô được mấy cháu rồi? Cháu nhỏ, cô đi biểu diễn vất vả lắm không?” Gặp chị lần khác Bác lại hỏi: “Các cháu khỏe cả chứCô đi biểu diễn thế có khi nào mời bà cụ giúp việc đi xem không?”.

Bác khuyên các nghệ sĩ phải trau dồi, học hỏi vốn âm nhạc dân tộc không chỉ là làn điệu bài bản, các hình thức, phong cách… mà ở cả trong các nghệ nhân, ở những lớp người đi trước. Họ cũng là vốn quý của nghệ thuật dân tộc.

Nghệ sĩ sáo Đinh Thìn  kể lại:  Có một lần sau khi thổi sáo cho Bác nghe, nghe xong Bác gật gù và hỏi anh thổi sáo đã lâu chưa và học ai. Đinh Thìn thưa với Bác về cụ Ly, một nghệ nhân giỏi sáo dạy anh, nay đã gần 70 tuổi. Bác hỏi thân thế và hoạt động của người nghệ nhân và nói:

Thế là tốt, cháu đã gặp thầy rồi đó”.

Bác rất yêu thích âm nhạc dân tộc và quen thuộc nhiều làn điệu dân ca. Chưa có nguồn tự liệu nào cho biết thời trẻ Bác đã tập chơi loại nhạc cụ gì. Vậy mà những năm cuối đời, một lần sau khi nghe nghệ sĩ biểu diễn tiết mục sáo trúc, Bác hỏi:

– Chiếc sáo này cháu tự làm lấy hay mua?
– Dạ thưa Bác cháu tự làm.
– Tự làm như thế là giỏi… trong kháng chiến chiến chống Pháp, Bác thấy các chú bộ đội làm sáo nhanh lắm. Đi hành quân, đi tập đều mang theo thổi rất vui.

Nói rồi Bác cầm ống sáo hỏi cách thổi, bấm ngón, lấy hơi và nghệ sĩ đã kể lại cái phút lạ lùng ấy: “Bác để sáo lên miệng thổi. Không khí trong phòng bấy giờ như ngưng đọng lại, mọi người nín thở chờ đợi tiếng sáo của Bác, Bác lấy hơi, nhẹ thổi, hơi chạy vào trong ống sáo, thoát ra các ngón tay của Bác gợi thành một làn điệu dân ca. Bác thổi vừa dứt thì tiếng vỗ tay trong phòng rộn lên, vừa ngạc nhiên vừa sung sướng”.

Câu chuyện trên đây tưởng như một huyền thoại, nhưng có lẽ không phải huyền thoại. Bởi lẽ hồn nhạc dân tộc từ lâu đã thấm sâu vào trái tim và tình cảm của Người – Một cuộc đời vĩ đại mà 79 mùa xuân xuất hiện trên hành tinh này đã để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân toàn Đảng và bạn bầu quốc tế.

vietnamnet.vn