Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Ngày 5 tháng 1 – Làm việc nước là hy sinh

Thứ hai, 05/01/2009, 03:35 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhNgày 5-1-1925 (ngày này 84 năm trước), từ Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc – lúc đó đang làm phiên dịch cho Bôrôđin, cố vấn của Liên Xô bên cạnh Chính phủ của Tôn Trung Sơn – đã gửi một bức thư cho Quốc tế Cộng sản báo tin rằng: “Quốc dân đảng Đông Dương vừa được thành lập vào ngày 3 tháng này”.

Đây là nhóm chiến sĩ trẻ yêu nước chịu ảnh hưởng của Phan Bội Châu sang Trung Quốc hoạt động. Một số thành viên của tổ chức này được chọn gửi sang học tại Đại học Mátxcơva. Đây chính là hạt nhân để thành lập Thanh niên Cộng sản Đoàn.

16 năm sau, cũng ngày này năm 1941, Nguyễn Ái Quốc lại có mặt ở Tĩnh Tây (Trung Quốc) và đã gặp Hoàng Văn Thụ – người được Thường vụ Đảng Cộng sản Đông Dương cử sang báo cáo công việc chuẩn bị Hội nghị Trung ương 8 – để quyết định những vấn đề trọng đại cho công cuộc giải phóng đất nước.

Và cũng chỉ 5 năm sau, ngày 5-1-1946, nước Việt Nam độc lập đã bước vào ngày hôm trước của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên. Sáng hôm đó, báo chí nhất loạt đăng“Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó viết: “Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình…”.

Chiều hôm đó, tiếp xúc với 20.000 cử tri tại khu Việt Nam Học xá (nay là Đại học Bách khoa), ứng cử viên Hồ Chí Minh tuyên bố: “Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu. Ngày mai không ai ép, không ai mua thì toàn dân sẽ thực hiện cái quyền dân chủ ấy”.

Rời cuộc tiếp xúc, Bác đến thăm chùa Bà Đá và trụ sở Hội Phật giáo Cứu quốc đặt tại chùa Quán Sứ và trịnh trọng tuyên bố: “Nói hy sinh phấn đấu thì dễ, nhưng làm thì khó. Trước Phật đài tôn nghiêm, trước quốc dân đồng bào có mặt tại đây, tôi xin thề hy sinh đem thân phấn đấu để giữ vững nền độc lập cho Tổ quốc. Nếu cần, hy sinh cả tính mạng tôi cũng không từ”.

Ngày 5-1-1958 (ngày này 51 năm trước), “Lời kêu gọi nông dân và cán bộ chống hạn đẩy mạnh sản xuất vụ đông xuân” được đăng trên các báo và trong ngày hôm đó, Bác Hồ về Hưng Yên động viên nhân dân đang chống hạn và tặng bức trướng thêu 4 chữ: “Chống hạn giỏi nhất”.

Cách đây đúng 50 năm, ngày 5-1-1959, Bác đến khánh thành Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, viết lời đề: “Viện Bảo tàng là một trường học tốt về lịch sử cách mạng của dân tộc Việt Nam ta” và tặng bảo tàng một kỷ vật riêng của mình: Chiếc lược làm bằng đồi mồi cất trong một túi vải.

Ngày 5-1-1960, tại buổi lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng (thời đó xác định là ngày 6-1-1930), Bác đã đọc lời khai mạc và kết thúc bằng lời thơ: “Ba mươi năm lịch sử Đảng là cả một pho sử vàng”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 4 tháng 1 – Vũ khí để giải phóng nông dân

Chủ nhật, 04/01/2009, 01:16 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhNgày này 89 năm trước, ngày 4-1-1920, Nguyễn Ái Quốc đi xem một cuộc triển lãm hàng không tại Paris cùng với một người tên là Jean. Nhưng Jean lại chính là một viên mật thám nên trong báo cáo gửi cấp trên, y cho biết: “Ông Quốc đã ở 6 năm tại Mỹ, 4 năm ở bên Anh, ông đã làm bất cứ nghề gì để sống và để học hỏi. Ông đã để ý đặc biệt vấn đề chính trị thuộc địa của người Anh và Mỹ, Tây Ban Nha cùng Italia. Ông nói và viết được tiếng Anh, đọc được tiếng Italia và Tây Ban Nha…”.

Ngày 4-1-1924, tờ “La Vie d’ Ouvrière” (Đời sống công nhân) ở Pháp đăng cùng lúc 2 bài báo của Nguyễn Ái Quốc, lúc này đang ở Liên Xô, viết về “Tình cảnh của người nông dân An Nam” và “Tình cảnh của người nông dân Trung Quốc”.

Khi đề cập tới tình cảnh người nông dân trên Tổ quốc của mình, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “…Là người An Nam họ bị áp bức, là người nông dân họ bị người ta ăn cắp, cướp bóc, tước đoạt, làm phá sản. Chính họ phải làm những công việc nặng nhọc, mọi thứ lao dịch. Chính họ làm ra cho lũ người ăn bám, lũ người lười biếng, lũ người đi khai hóa và những bọn khác hưởng mà chính họ thì lại phải sống cùng khổ trong khi những tên đao phủ của họ sống rất thừa thãi; hễ mất mùa thì họ chết đói…”, “Dưới chiêu bài dân chủ, đế quốc Pháp đã đem vào An Nam tất cả cái chế độ trung cổ đáng nguyền rủa…”.

Còn tình cảnh của người nông dân Trung Quốc cũng chịu hậu quả bởi chế độ quân phiệt, ách bóc lột địa tô của chế độ cũ cộng với sự bóc lột của chế độ tư bản cũng như bộ máy quan liêu. Bài báo kết luận rằng: “Muốn xóa bỏ tất cả các điều đó, các đồng chí Trung Quốc của chúng ta phải tiến hành mạnh mẽ một cuộc vận động khẩn trương để giáo dục quần chúng, làm cho quần chúng thấy thật rõ sức mạnh của mình, quyền lợi của mình, có đủ khả năng thực hiện được khẩu hiệu: “Tất cả ruộng đất về tay nông dân!”.

Có thể nói rằng vấn đề nông dân và giải phóng người nông dân là mối quan tâm hàng đầu của Nguyễn Ái Quốc trong thời gian học tập lý luận tại nước Nga Xô Viết cũng như trong thực tiễn vận động cách mạng sau này.

22 năm sau, ngày 4-1-1946, Bác Hồ viết thư yêu cầu và khích lệ các ứng cử viên ra mắt tiếp xúc với cử tri tại nơi công cộng và gặp một số nhân vật của Bộ Ngoại giao Chính phủ Trung Hoa Dân quốc tại Hà Nội nhằm tranh thủ sự ủng hộ nền độc lập của Việt Nam trong bối cảnh Pháp và Trung Hoa đang mặc cả với nhau về lợi ích ở Đông Dương.

20 năm tiếp sau, ngày 4-1-1966, Báo Nhân Dân đăng bài “Quân Mỹ chết nhăn răng, tướng Mỹ nhăn răng cười”. Bằng cách viết hài hước, căn cứ vào những số liệu và dẫn liệu rất cụ thể, Bác phân tích thế của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam đang xuống vì “chúng thiếu một thứ vũ khí quan trọng nhất là: tinh thần”.

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Ngày này năm ấy: Ngày 3 tháng 1

Thứ bảy, 03/01/2009, 01:26 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhNgày 3-1-1946 (cách đây 63 năm), Bác Hồ chủ trì cuộc họp của Hội đồng Chính phủ bàn những công việc cấp bách và kết luận: “Chính phủ phải đối phó với hai sự khó khăn, trong Nam là họa xâm lăng, còn ở ngoài Bắc là nạn đói. Phải nhờ vào sự ủng hộ của quốc dân, công việc đã có kết quả khả quan”.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “thông đạt” gửi tới các bộ trưởng liên quan đến quy trình bảo quản tài liệu lưu trữ. Đây là một văn kiện lịch sử của ngành lưu trữ nước ta, nó cho thấy tầm nhìn xa của người đứng đầu một quốc gia non trẻ chưa có kinh nghiệm hành chính. Bản thông đạt viết: “Xét rằng một vài công sở đã tự tiện hủy bỏ hay bán các công văn và hồ sơ cũ. Hành động ấy có tính cách phá hoại, vì sự làm mất những tài liệu có giá trị đặc biệt về phương diện kiến thiết quốc gia.

Vậy yêu cầu các ông bộ trưởng ban chỉ thị cho nhân viên các sở phải giữ gìn tất cả các công văn, tài liệu và cấm không được hủy những công văn, tài liệu nếu không có lệnh trên rõ rệt cho phép hủy bỏ… Những viên chức không tuân lệnh này sẽ bị nghiêm trị”.

Chỉ 1 năm sau đó, ngày 3-1-1947, Chính phủ của nước Việt Nam độc lập đã phải di chuyển lên Việt Bắc, Hà Nội chìm trong khói lửa chiến tranh. Vào thời điểm ấy, Marius Moutet là người Bác từng quen biết trong đảng Xã hội Pháp, lúc này là Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại, đang có mặt tại Hà Nội. Hy vọng tranh thủ được ông Moutet, Bác Hồ viết một lá thư trong đó có đoạn:

“Tôi lấy làm vui mừng được biết ngài tới Hà Nội. Xin có lời chào mừng vì ngài vừa là bạn cũ, vừa là đại diện cho nước Pháp mới, là sứ giả của hòa bình. Tôi rất mong và rất sung sướng được hội kiến với ngài lâu một chút để tỏ rõ ý muốn thành thực hòa bình và cộng tác của chúng tôi và chuyển đệ với ngài những đề nghị của chúng tôi về việc lập lại sự giao hảo giữa 2 nước chúng ta”.

Bức thư đã không được hồi âm. Moutet đến Hà Nội giữa cảnh đổ nát và trong vòng vây của giới thực dân mà đầu sỏ là Đô đốc D’ Argenlieu. Ngày 8-1, Moutet về nước mà không tìm ra giải pháp nào.

41 năm sau (năm 1988), nhà sử học Pháp Philippe Devillers đã chứng minh rằng toàn bộ những thông điệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian này đều bị D’ Argenlieu phong tỏa, kể cả một “gói hàng” mà ngày 3-1-1947 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho người chuyển tới phía Pháp để trao tận tay vị bộ trưởng cũng bị viên đô đốc chặn lại. Trong một bức thư gửi tướng De Gaulle, viên đô đốc diều hâu này hí hửng: “Nhờ ơn Chúa, Moutet đã không có một cuộc tiếp xúc cá nhân nào với nhóm ông Hồ Chí Minh. Đó là một điểm thắng lợi đầu tiên”.

Nhưng cái mà D’ Argenlieu cho là thắng lợi đầu tiên ấy thì cũng khởi đầu cho một thảm bại cuối cùng khi quân Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ sau đó 7 năm!

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Ngày này năm ấy: Ngày 2 tháng 1

Thứ sáu, 02/01/2009, 01:29 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí Minh(Ngày này 63 năm trước) vào ngày 2-1-1946, báo “Cứu quốc” cơ quan của Tổng bộ Việt Minh đăng “Lời cảm ơn” của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi hội của một số quan lại được thành lập sau Cách mạng Tháng Tám 1945 nhằm động viên tầng lớp này ủng hộ chính sách của Chính phủ cách mạng. Bằng những lời lẽ chân tình, Bác viết:

“Tôi trân trọng cảm ơn quý hội đã quyên nhà, quyên tiền giúp cho Quỹ Cứu tế, Quỹ Kháng chiến và Quỹ Độc lập.

Có người nói rằng “ Hồ Chí Minh không biết làm gì, chỉ nay cảm ơn người này, mai cảm ơn người khác”. Vâng! Tôi vui lòng nhận lợi phê bình ấy! Hơn nữa, tôi mong rằng ngày nào tôi cũng phải viết nhiều thư cảm ơn, vì như thế chứng minh rằng đồng bào ta đã sốt sắng thực hành cái khẩu hiệu “Ai có tiền giúp tiền, ai có sức giúp sức”. Quốc dân ta đã hiệp lực đồng tâm, đã đoàn kết chặt chẽ thì kháng chiến nhất định thắng lợi, kiến quốc nhất định thành công…”.

Kết thúc bức thư người đứng đầu nhà nước chân thành bày tỏ “Tiếc vì bận quá, tôi không cảm ơn khắp được. Vậy tôi xin các đồng bào tha lỗi cho”.

Vào thời điểm đất nước mới thoát khỏi chế độ thuộc địa và phong kiến, ứng xử của vị nguyên thủ quốc gia thực sự gây ấn tượng mạnh mẽ đối với nhân dân đang chứng kiến những đổi thay của đất nước theo tinh thần dân chủ.

Ngày 2-1-1947 (ngày này 62 năm trước) nhân dịp Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại Marius Moutet, người đã ký kết Tạm ước 14-9-1946 sang Đông Dương, Bác Hồ đã đưa ra những thông điệp của mình qua một cuộc phỏng vấn báo chí, khẳng định: “Việt Nam không chiến tranh chống nước Pháp và dân Pháp vì ta muốn hai dân tộc Việt – Pháp cộng tác thật thà. Nhưng tự do độc lập là quyền Trời cho của mỗi dân tộc… Hễ mỗi dân tộc đứng lên kiên quyết đấu tranh cho tổ quốc họ thì không ai, không lực lượng gì chiến thắng được họ. Dân Việt Nam muốn hòa bình, nhưng vì vận mệnh của Tổ quốc, của giống nòi thì sẽ kháng chiến đến cùng, kháng chiến đến thắng lợi”.

Trước đó một ngày, Bác đã gửi thư đến Chính phủ và nhân dân Pháp: “Tôi kêu gọi nhân dân Pháp để chấm dứt cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn mang lại nền hòa bình và tình hữu ái giữa nước Pháp và nước Việt Nam”. Đó là những bằng chứng khẳng định trách nhiệm của chủ nghĩa thực dân đã đi ngược lại khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam mà Hồ Chí Minh là hiện thân.

Tuy nhiên thực dân Pháp vẫn điên cuồng tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược. Trước tình hình ấy, ngày 2-1-1950 (cách đây 59 năm), Bác Hồ rời Tân Trào đi Trùng Khánh bắt đầu chuyến thăm Trung Quốc và Liên Xô nhằm tìm kiếm sự ủng hộ quốc tế.

Cách mạng Cuba thành công ngày 1-1-1959, ta lập quan hệ ngoại giao với Cuba từ năm 1960. Kể từ đó, vào ngày 2-1 hàng năm cho đến trước khi qua đời, Bác thường đến Đại sứ quán Cuba để bày tỏ tình cảm đoàn kết của nhân dân Việt Nam.

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Ngày này năm ấy: Ngày 1 tháng 1

Thứ năm, 01/01/2009, 02:06 (GMT+7)

Ngày đầu năm 1941, ngày này 68 năm trước, Nguyễn Ái Quốc từ Tĩnh Tây (Trung Quốc) quay lại Cao Bằng để chuẩn bị tập hợp lực lượng và soạn thảo đường lối cứu nước. Tháng 5 năm đó, Tổ chức Mặt trận và Cương lĩnh Việt Minh ra đời. Phấn khởi trước tiền đồ dân tộc, ngày 1-1-1942, Nguyễn Ái Quốc làm bài thơ “Chúc năm mới” đầu tiên đăng trên báo “Việt Nam Độc lập” với những lời cổ vũ đầy hào khí:

Bác Hồ về nước xuân Tân Tỵ

“Tháng ngày thấm thoát chóng như thoi / Năm cũ qua rồi, chúc năm mới / Chúc phe xâm lược sẽ diệt vong / Chúc phe dân chủ sẽ thắng lợi / Chúc đồng bào ta đoàn kết mau !/Chúc Việt Minh càng tấn tới! / Chúc toàn quốc ta trong năm này / Cờ đỏ ngôi sao bay phất phới!/ Năm nay là năm rất vẻ vang/ Cách mệnh thành công khắp thế giới”.

Kể từ năm ấy, hàng năm vào ngày đầu tiên của Dương lịch hay ngày Tết Âm lịch, Bác Hồ đều có lời chúc Tết. Với vị Chủ tịch nước, thơ chúc Tết chỉ là một tình cảm khiêm nhường “Mấy lời thân ái nôm na/ Vừa là kêu gọi, vừa là mừng Xuân”. 

Từ mùa xuân năm Kỷ Tỵ (1942) đến năm Kỷ Dậu (1969), chỉ trừ 3 năm 1955, 1957 và 1958, còn năm nào vị Chủ tịch nước cũng có lời chúc Tết ngay cả khi không có mặt ở trong nước như Tết Dương lịch 1952 Bác đang thăm Nam Ninh (Trung Quốc).

Ngày này 40 năm trước, vào mùa xuân thứ 79 của Bác, thư chúc mừng năm mới xuân Kỷ Dậu đã trở thành lời chúc lần cuối nhưng vẫn hừng hực khí thế cổ vũ con đường đi đến toàn thắng của sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước:

“Năm qua thắng lợi vẻ vang/ Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to / Vì độc lập, vì tự do / Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào / Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào / Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn”.

Có 2 ngày đầu năm Dương lịch để lại dấu ấn trong cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh như 2 sự kiện lịch sử trọng đại. Đó là ngày Tết Dương lịch đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, 1-1-1946 (ngày này 63 năm trước), Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Chính phủ Liên hiệp lâm thời bao gồm nhiều nhân sĩ thuộc nhiều đảng phái, khuynh hướng chính trị biểu thị khối đại đoàn kết dân tộc, đã ra mắt tại Quảng trường Nhà hát Lớn Hà Nội và làm lễ tuyên thệ trước quốc dân đồng bào.

Đó cũng là ngày đầu năm của năm 1954 (cách đây 55 năm), Bộ Chính trị họp để chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược ở vùng Tây Bắc, chỉ định cơ quan lãnh đạo mặt trận. Chính tại cuộc họp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giao nhiệm vụ cho Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp: “Trao cho chú toàn quyền quyết định. Trận này quan trọng, phải đánh cho thắng! Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”. Chỉ không đầy nửa năm sau, ngày 7-5-1954, chiến thắng Điện Biên Phủ đã trở thành sự kiện quyết định kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

DƯƠNG TRUNG QUỐC và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Ngày này năm ấy

Nhân kỷ niệm 123 năm ngày sinh Bác Hồ kính yêu của chúng ta! Vkyno truy cập và đăng tải lại loạt bài từ chuyên mục HỒ CHÍ MINH – NGÀY NÀY NĂM ẤY trên trang SÀI GÒN GIẢI PHÓNG nhằm truyền tải chân thực về hoạt động của Người qua các ngày trong năm.

123th Anniversary of Uncle Ho

LỜI TÒA SOẠN

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Ngày này năm ấy

Thứ tư, 31/12/2008, 11:00 (GMT+7)

(SGGP).- Năm 2009 là năm chúng ta tưởng nhớ đến Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân tròn 40 năm ngày Bác Hồ ra đi (1969 – 2009). Sang năm, năm 2010, cùng với đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội, cả nước sẽ kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại (1890 – 2010). Giữa 2 cái mốc thời gian của lịch sử ấy (1890 – 1969) là 79 mùa xuân, một cuộc đời của một con người sinh ra và sống giữa một bước ngoặt lịch sử to lớn trong bước chuyển tiếp của thời gian giữa 2 thế kỷ (XIX-XX) và 2 thiên niên kỷ.

Hồ Chí Minh với 79 mùa xuân của cuộc đời mình đã để lại một dấu ấn đậm nét không chỉ trong lịch sử dân tộc Việt Nam mà đối với cả lịch sử thế giới. Kế tiếp tên tuổi của những nhà yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hoàng Hoa Thám… ở đầu thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã trở thành hạt nhân và động lực lịch sử của dân tộc Việt Nam không chỉ giành được độc lập từ chủ nghĩa thực dân và phát xít mà còn chấm dứt chế độ quân chủ ngàn năm vào mùa thu năm 1945; đã lần lượt “đánh thắng hai đế quốc to” bằng một cuộc chiến tranh giải phóng kéo dài 3 thập kỷ (1945 – 1975) để khẳng định nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam tiếp bước vào công cuộc đổi mới, xây dựng và hội nhập hôm nay.

Là một nhà hoạt động quốc tế và thông qua chính sự nghiệp của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã để lại một dấu ấn đậm nét trong lịch sử thế giới như sự bình chọn của tờ tạp chí có uy tín là “Time” (Thời đại) vào năm 2000: là 1 trong 25 chính khách và 1 trong 100 nhân vật của thế kỷ XX “đã làm thay đổi bộ mặt hành tinh của chúng ta”.

79 mùa xuân ấy sẽ được phản ánh phần nào trong một sự liên tưởng theo bước đi của thời gian thể hiện trên những tờ lịch của mỗi ngày trong năm. “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Ngày này năm ấy” là một cách tiếp cận để mỗi một ngày trong năm chúng ta nhớ đến hình bóng, nhắc lại hành trang cũng là ôn lại lịch sử cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh với những bài học sâu sắc và có giá trị lâu dài…

Chuyên mục do nhóm cộng tác viên của Báo Sài Gòn Giải Phóng gồm các nhà sử học thuộc Hội Khoa học lịch sử Việt Nam và các cộng sự biên soạn sẽ ra đều đặn vào mỗi ngày như một lời nhắc nhở  hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Mong bạn đọc theo dõi và đóng góp ý kiến cho chuyên mục ngày một tốt hơn.

SÀI GÒN GIẢI PHÓNG
Vkyno (st)

Những liệt sĩ anh hùng trên mảnh đất Trà Vinh

QĐND Online – Những ngày mùa mưa (2012), nhận lời mời của Đại tá Di Thiện Tích, nguyên Quyền Sư đoàn trưởng Sư đoàn 9 (Quân đoàn 4), chúng tôi về thăm quê anh tại xã Tân Hòa, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh. Vùng quê được bao bọc bởi sông nước bao la và những cánh đồng lúa xanh mơn mởn. Cuộc sống nơi đây thật thanh bình êm ả, không ô nhiễm khói bụi đô thành.

Từ UBND xã Tân Hòa, đoàn xe máy do con cháu anh Năm Tích chở chúng tôi dọc theo con đường làng quanh co nhưng đã được bê tông hóa. Vượt qua những cây cầu nhỏ bắc qua kênh rạch đến nhà cậu ruột anh Năm Tích. Đó là căn nhà tình nghĩa của ông Lâm Văn Huệ, cha của hai liệt sĩ. Ông Huệ đã trên 90 tuổi, vóc dáng cao gầy nhưng còn nhanh nhẹn và sáng suốt. Việc đầu tiên chúng tôi xin đốt nhang trên các bàn thờ, cầu xin ông bà và các liệt sĩ phù hộ cho chuyến thăm quê được bình an.

Đại tá Di Thiện Tích (áo xanh) cùng bạn bè và cán bộ xã, huyện

Được tin anh Năm Tích và bạn bè về thăm quê, ngoài tình thâm giao, cán bộ địa phương hết sức kính trọng và tự hào vì quá khứ tham gia cách mạng lập được nhiều kỳ tích của anh Năm Tích cùng những sự đóng góp vô cùng to lớn của anh cho quê hương nghèo hôm nay.

Chủ tịch UBND huyện, anh Nguyễn Minh Trung, lật đật đi xe gắn máy xuống ngay. Trước đó, chủ tịch, bí thư xã cùng bà con lối xóm đã có mặt đông đủ. Trong không khí ấm áp của gia đình, không phân biệt cấp bậc, chức vụ cùng chung ly trà, chén rượu. Câu chuyện quá khứ về những năm tháng chiến đấu ác liệt lại dần dần tái hiện. Tôi đã đi nhiều nơi nhưng chưa nơi nào Đảng với quần chúng, Chính quyền với dân thân thiết, chân thành như ở nơi đây.

Những năm 1930 vùng đất hoang hóa này được người dân tứ xứ đến lập nghiệp, khai hoang phục hóa tạo ra được những mảnh vườn, thửa ruộng. Từ cuộc sống nay đây mai đó dưới ghe, họ đến vùng đất này lập các xóm ấp và lao động miệt mài xây dựng quê hương. Khi đã có dân, có ruộng, có vườn là giặc Pháp nhòm ngó.

Không để mất không thành quả bằng mồ hôi, xương máu của mình, dân nghèo trong vùng một lòng theo Đảng. Ngọn cờ đỏ sao vàng tung bay nơi xa xôi hẻo lánh năm 1945 là niềm tự hào lớn nhất và cũng từ đây toàn dân tham gia kháng chiến chống Pháp trở lại xâm lược, thề quyết tử để bảo vệ xóm làng.

Anh Năm Tích là người được giác ngộ sớm, đảm nhiệm 2 chức vụ Xã đội kiêm công an xã. Tại vùng đệm này giặc Pháp mở nhiều đợt càn quyét nhưng không thể lập được Tề, Ấp, Đồn bốt. 9 năm gian khổ kháng Pháp thành công, theo lệnh trên anh Năm Tích lên đường ra Bắc.

Chính quyền Ngô Đình Diệm, tay sai Đế quốc Mỹ lại dày xéo quê hương, hàng loạt cuộc càn quyét, gom dân và trả thù khốc liệt nhữ người kháng chiến cũ. Trước âm mưu đen tối của Mỹ Ngụy, Đảng vẫn sống trong dân và chỉ huy những cuộc đấu tranh từ chính trị đến vũ trang.

Là địa phương không có đường giao thông trên bộ nên giang thuyền, tàu chiến giặc luồn lách bắn phá vô tội vạ. Với mấy chục nóc nhà và vài trăm con người vẫn kiên quyết bám trụ, một tấc không đi, một ly không rời. Càng đánh giặc, du kích và bộ đội địa phương càng trưởng thành. Lính Ngụy no đòn, giặc Mỹ trực tiếp nhảy vào tham chiến.

Ngoài sông là tàu chiến lớn nhỏ của địch đan xen, máy bay thả bom từ làng mạc đến ven sông. Ban ngày trực thăng thả quân Mỹ càn quyét, ban đêm trực thăng soi đèn suốt dọc bờ sông, kênh rạch bắn đạn như xạ lúa.

Đoàn đến thắp hương tại nghĩa trang liệt sĩ huyện Tiểu Cần

Ác liệt nhất là trận càn của Mỹ vào đầu tháng 10 năm 1966, với lực lượng hùng hậu, nhưng dân quân du kích Tân Hòa vẫn nổ súng ròn rã, thoắt ẩn thoắt hiện. Trực thăng đổ quân liên tục và cũng liên tục chở xác đồng bọn về tỉnh Trà Vinh. Cay cú vì tổn thất quá lớn, chúng đổ thêm nhiều lính Mỹ.

Sau nhiều ngày đêm kiên cường bám thắt lưng địch mà đánh, lực lượng du kích cũng bị thương vong nhiều. Tổ du kích Tân Hòa có 5 đồng chí : Lâm Văn Đặng (sinh năm 1944, đảng viên, du kích xã), Ngô Văn Chín (sinh năm 1937, phó ban binh vận xã), Phan Văn Kiểng (sinh năm 1943, Ấp đội trưởng ấp Chẻm, xã Tân Hòa), Lâm Văn Ven (sinh năm 1945, đảng viên, cán bộ tuyên huấn xã) và Trịnh Văn Oai (sinh năm 1942, du kích xã).

Sau khi quần thảo với địch nhiều ngày đêm, đến ngày 8/10/1966 thì 5 đồng chí tiếp cận căn chòi giữa cánh đồng giáp ranh 2 xã Tân Hòa và An Quảng Hữu để chờ thời cơ đánh địch. Trực thăng Mỹ đổ quân sát nách căn chòi, lính Mỹ hùng hổ tiến vào. Đồng chí Lâm Văn Đặng tung 2 trái lựu đạn tiêu diệt một số tên Mỹ.

Lính Mỹ sau phút hoảng loạn lại tổ chức tiến đánh vào tận bên trong căn chòi và trận đánh sáp lá cà không cân sức đã diễn ra. Vì sức lực gần cạn kiệt do bị thương tích kéo dài trong nhiều ngày nên 4 đồng chí đã bị quỵ ngã và tụi lính Mỹ đã chặt đầu, mổ bụng ngay cả 4 người : Đặng, Chín, Kiểng, Oai.

Trước tình thế không còn gì để mất, đồng chí Lâm Văn Ven tung 2 trái lựu đạn cuối cùng vào đội hình lính Mỹ. Nhiều tên Mỹ bị bắn tung lên trên trời và chết ngay tại chỗ, một số khác bị thương kêu khóc rầm trời. Những tên lính Mỹ còn lại xông vào bắn chết đồng chí Lâm Văn Ven. Những người dân đang làm ruộng núp gần đó, phần lớn là người Khmer, cũng bị lính Mỹ càn quét xả súng bắn chết, chỉ còn vài người may mắn trốn thoát.

Bọn lính Mỹ rút đi mang theo 4 cái đầu của Đặng, Kiểng, Chín, Oai và thả ra sông Cái (sông Hậu). Địa phương tổ chức cho ghe nhỏ ra vớt được đem về và gắn với thi thể của 4 liệt sĩ, sau đó làm lễ chôn cất cả 5 liệt sĩ.

Giờ đây 5 liệt sĩ đã ở trong nghĩa trang huyện Tiểu Cần bên tấm bia “Tổ Quốc ghi công” đứng sừng sững giữa nghĩa trang. Nhưng cha, mẹ, anh chị em và người dân Tân Hòa vẫn chưa thể quên nỗi đau này. Bác Lâm Văn Huệ vừa kể vừa lau nước mắt nhớ thương con. Đây là lần đầu tiên bác bình tâm kể lại và đưa ra một số kỷ vật của các con trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.

Tôi thoáng nhìn thấy mắt đồng chí Chủ tịch huyện đỏ hoe và đồng chí lặng lẽ, tay run run thắp nén nhang trước tấm ảnh vẽ lại của 2 liệt sĩ Lâm Văn Đặng, Lâm Văn Ven.

Câu chuyện của gần 60 năm trước được kể lại trong sự tĩnh mịch của làng quê anh hùng, của người cha anh hùng có hai con là liệt sĩ trong sự cảm phục và biết ơn của thế hệ sau.

Đoàn Hồng Cẩm (Trà Vinh, tháng 11/2012)
qdnd.vn

Chủ động bảo đảm vũ khí cho biệt động Sài Gòn

QĐND – Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, biệt động thành Sài Gòn và các tiểu đoàn chủ lực mũi nhọn được giao tiến công 25 mục tiêu đầu não như: Dinh Độc lập, Tòa Đại sứ Mỹ, Bộ Tổng tham mưu ngụy, Đài phát thanh… Các lực lượng biệt động có nhiệm vụ bất ngờ tập kích chiếm giữ bàn đạp sau đó sẽ có các tiểu đoàn chủ lực mũi nhọn và lực lượng nổi dậy của quần chúng tới hỗ trợ dứt điểm, chiếm lĩnh hoàn toàn mục tiêu.

Do có sự phát triển về nhiệm vụ nên lực lượng chiến đấu của biệt động Sài Gòn cũng tăng nhanh và phương thức tác chiến cũng được điều chỉnh. Theo đó, nhu cầu vũ khí, đạn dược không như trước đây, ngoài mìn, lựu đạn còn là hàng tấn thuốc nổ các loại, súng tiểu liên AK, súng cối, B40… Đặc biệt, để phục vụ các đơn vị tiến công dứt điểm các mục tiêu đầu não, ngoài bảo đảm cho chiến đấu thường xuyên còn phải có lượng vũ khí, đạn dược dự trữ.

Kho vũ khí cất giấu dưới hầm phục vụ biệt động thành phố Sài Gòn trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. (Ảnh tư liệu)

Một trong những thuận lợi rất lớn đối với công tác chuẩn bị vũ khí, đạn dược cho Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là, trên cơ sở dự kiến phương án đón thời cơ chiến lược(1), ngay từ những năm 1964-1965, Khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu Sài Gòn – Gia Định đã thành lập Ban Bảo đảm gồm hai đội A20 và A30 chuyên trách công việc xây hầm và tổ chức vận chuyển, cất giấu vũ khí, đạn dược sẵn sàng bảo đảm cho biệt động và các tiểu đoàn chủ lực mũi nhọn. Đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng nên việc lựa chọn cán bộ, chiến sĩ đưa vào các đội A20, A30 đảm nhiệm việc xây hầm và tổ chức vận chuyển, cất giấu vũ khí, đạn dược được Khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu đặc biệt quan tâm. Đích thân đồng chí Tư lệnh Quân khu duyệt từng người một theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt. Ngoài tiêu chuẩn đều phải là những cán bộ, đảng viên trung kiên đã có quá trình thử thách trong lao tù, đã từng chịu đựng mọi thủ đoạn tra tấn của địch, Bộ tư lệnh Quân khu yêu cầu tất cả đều phải có nghề nghiệp ổn định, đã tạo được “vỏ bọc” vững chắc, sống hợp pháp trong nội đô. Đây là hai tiêu chuẩn đầu tiên và cũng là hai tiêu chuẩn quan trọng nhất để lựa chọn những người tham gia vào các đội A20 và A30. Bên cạnh đó, các đồng chí tham gia vào các đội đều đã từng trực tiếp chiến đấu hoặc tham gia phục vụ chiến đấu và là những cán bộ, chiến sĩ có kinh nghiệm làm công tác vận động quần chúng. Những ai được chọn giao nhiệm vụ tối quan trọng này tạm rút khỏi các hoạt động tác chiến trực tiếp.

Có thể nói công tác xây hầm, vận chuyển, cất giấu vũ khí, đạn dược bảo đảm cho các lực lượng tham gia Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 nói chung và biệt động thành Sài Gòn nói riêng đạt đến trình độ nghệ thuật. Với sự chủ động, tổ chức chặt chẽ, cẩn mật, tiến hành khẩn trương, chuẩn bị chu đáo; nhờ tinh thần tận tụy, sẵn sàng hy sinh của cán bộ, chiến sĩ biệt động nên đến cuối năm 1965, cả hai đội A20 và A30 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tạo được một hệ thống kho hầm bí mật cất chứa vũ khí, đạn dược sát các vị trí chiến lược của địch. Mỗi mục tiêu đều được “dành sẵn” từ 1 đến 3 hầm vũ khí. Số lượng vũ khí mỗi hầm xấp xỉ 1000kg. Đây cũng là một trong những yếu tố góp phần quan trọng làm nên thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

LÊ THÀNH (Theo tài liệu Hội thảo khoa học “Cuộc tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968”)
qdnd.vn

(1) Dự kiến xuất hiện cuối năm 1965, song do đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân chiến đấu vào, nên thời cơ chưa xuất hiện.

Chuẩn bị khẩn trương, bất ngờ công kích địch

QĐND – Chấp hành nghiêm Mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh và quán triệt sâu sắc tư tưởng “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”, ngày 28-4-1975, Quân chủng Phòng không-Không quân đã sử dụng Phi đội máy bay A-37 (gồm 5 chiếc lấy được của địch), tổ chức trận đánh vào Sân bay Tân Sơn Nhất. Trận đánh đúng vào thời điểm quyết định nhất của cuộc chiến tranh, phá hủy 25 máy bay, cắt đứt cầu hàng không di tản của ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn, tạo nên tâm lý hoảng loạn, suy sụp trong nội bộ quân địch, góp phần quan trọng vào thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Thành công của trận đánh đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm có giá trị cả lý luận và thực tiễn về nghệ thuật sử dụng lực lượng không quân trong chiến tranh nói chung, chiến dịch tiến công nói riêng. Đó là nghệ thuật lựa chọn đánh đúng mục tiêu hiểm yếu, đúng thời cơ; tinh thần tích cực chuẩn bị, chủ động, táo bạo, quyết thắng của Quân chủng Phòng không-Không quân và Bộ tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Bộ đội Sư đoàn 10 đánh chiếm Sân bay Tân Sơn Nhất trong Chiến dịch Hồ Chí Minh 4-1975. Ảnh tư liệu.

Để thực hiện thành công trận ném bom vào Sân bay Tân Sơn Nhất bằng chính máy bay thu được của địch, Quân chủng PK-KQ đã xác định quyết tâm chính xác, chọn mục tiêu là khu để máy bay chiến đấu trong Sân bay Tân Sơn Nhất. Đây là mục tiêu diện, dễ phát hiện và dễ đánh trúng, rất “nhạy cảm”; mục tiêu lại nằm gần khu vực tổ chức cầu hàng không di tản của Mỹ, quân đội Sài Gòn. Tiến công, đánh trúng mục tiêu này, ta đã trực tiếp đánh vào sức chiến đấu, vào khả năng và tinh thần chiến đấu của địch. Đánh vào đó không chỉ có tác dụng phá hủy máy bay, sát thương sinh lực, hạn chế, tiến tới cắt đứt khả năng chi viện hỏa lực đường không cho lực lượng phòng thủ trên các cửa ngõ tiến vào Sài Gòn, mà còn cắt đứt cầu hàng không di tản và tạo nên sự hoảng loạn về tổ chức chỉ huy, tinh thần quân địch, thúc đẩy nhanh tốc độ suy sụp, tan rã và tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho phát triển của Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Bằng sự chuẩn bị khẩn trương, tiến công bất ngờ, ta giành được thế chủ động công kích địch ngay từ đầu, làm cho chúng không có khả năng chống đỡ, phản kháng, mặc dù lực lượng bảo vệ, chiến đấu trong Sân bay Tân Sơn Nhất của địch đang còn nhiều. Phi đội Quyết thắng đã lựa chọn đường bay ven theo biển từ Phan Rang đến Hàm Tân, qua sông Nhà Bè để vào đánh Sân bay Tân Sơn Nhất, vừa tránh được lưới lửa phòng không, vừa tạo yếu tố tiến công bất ngờ, đạt hiệu quả cao. Khi máy bay của ta đã bổ nhào cắt bom, đánh phá vào mục tiêu, địch vẫn tưởng là máy bay của chúng, nên không kịp có hành động nào để đối phó.

Sử dụng lực lượng hợp lý, linh hoạt, sáng tạo, táo bạo “lấy vũ khí địch đánh địch” là bước phát triển rất lớn của nghệ thuật sử dụng lực lượng không quân trong chiến dịch. Bài học kinh nghiệm lịch sử của trận ném bom đánh phá Sân bay Tân Sơn Nhất của Phi đội Quyết thắng trong Chiến dịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị; đòi hỏi cần phải được tiếp tục nghiên cứu và vận dụng linh hoạt, sáng tạo cho phù hợp với điều kiện mới của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc hiện đại.

TS HOÀNG VĂN QUÝ
qdnd.vn

Hồi ức Việt Nam của một cựu chính khách Mỹ

QĐND – Nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pa-ri (27-1-1973/27-1-2013), Việt Nam vui mừng được chào đón những người bạn quốc tế đã từng hết lòng ủng hộ cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta, cùng nhau chia vui, ôn lại kỷ niệm về một thời hào hùng. Trong đó, hình ảnh một người đàn ông ngoại quốc lớn tuổi, dáng người cao, gầy, mỗi bước đi luôn phải có người dìu đỡ, đặc biệt gây ấn tượng cho những người từng gặp mặt.

Mối duyên gắn bó với Việt Nam

Nhân cuộc giao lưu “Hiệp định Pa-ri và tấm lòng bè bạn” hồi cuối tháng 1 vừa rồi, cựu Bộ trưởng Tư pháp Mỹ Rem-xi Clác, giờ ở tuổi 86, đã kể cho tôi nghe về “mối duyên” gắn bó của ông với Việt Nam.

Ông Rem-xi Clác (bên phải) và các bạn bè quốc tế tham dự lễ trồng cây ngày 25-1. Ảnh: Mạnh Lâm

Rem-xi Clác (Ramsey Clark) từng làm Bộ trưởng Tư pháp Mỹ từ năm 1967 đến năm 1969 dưới thời Tổng thống Giôn-xơn (L.B. Johnson). Sau khi rời bỏ chính quyền, Rem-xi Clác quyết định tham gia vào phong trào phản chiến, yêu cầu chấm dứt cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Năm 1970, ông đã cùng vợ sang Pa-ri, gặp phái đoàn đàm phán của Việt Nam để tìm hiểu về thực tế Việt Nam. Vì nhiều lý do, đến tháng 8-1972 ông mới có cơ hội sang thăm Việt Nam lần đầu tiên với mục đích tìm hiểu tình hình thực tế của cuộc chiến nhằm kêu gọi sự ủng hộ đối với nhân dân Việt Nam. Mặc dù trước đó chưa từng một lần đặt chân đến Việt Nam, nhưng bản thân ông Rem-xi Clác lại “phải lòng” dải đất hình chữ S qua những cuộc đấu tranh anh dũng, kiên cường chống Pháp, chống Nhật trước đó, để rồi từ đây, ông đã lên tiếng chống lại cuộc chiến tranh do Chính phủ Mỹ phát động. “Người dân Việt Nam đã chịu đau thương, mất mát quá nhiều trong kháng chiến đánh đuổi thực dân Pháp và phát xít Nhật. Cuộc chiến mà chính quyền Mỹ phát động lại gieo rắc thêm nỗi đau cho dân tộc này, tôi không muốn điều đó tiếp tục xảy ra”, ông Rem-xi Clác chia sẻ.

Rem-xi nhớ lại, khi ấy, cảnh tượng đập vào mắt ông là nhà cửa, trường học, bệnh viện đổ nát do bị Mỹ ném bom. Ông cũng có cơ hội ghi lại nhiều hình ảnh rất đỗi giản dị về Việt Nam như đê sông Hồng hay cảnh người dân đang lao động. Để rồi, trở về Mỹ, bài báo và những bức ảnh của ông đã giúp đông đảo người Mỹ hiểu rằng hệ thống đê của Việt Nam không phải là những cơ sở quân sự như chính quyền Mỹ vẫn rêu rao. Bài báo đã thức tỉnh dư luận Mỹ và cuối cùng kế hoạch ném bom đê sông Hồng của quân đội Mỹ buộc phải hủy bỏ.

Trong chuyến đi này, hình ảnh một em bé gái ở một làng chài vẫn mãi in sâu trong trí nhớ của ông. Chuyện là khi được ông hỏi về ước muốn tương lai của mình, em bé ấy đã trả lời một cách mau lẹ, không đắn đo rằng muốn làm bộ đội. Câu nói của em khiến người cựu chính khách ấy phải day dứt. “Tôi tự hỏi chiến tranh đã gây ra những gì cho bọn trẻ? Cô bé không có ước mơ làm bác sĩ, giáo viên, kỹ sư như bao bạn bè cùng tuổi khác, bởi chúng còn phải bảo vệ quê hương”, Rem-xi nhớ lại.

Bức tranh ẩn ý của Thủ tướng Phạm Văn Đồng

Có lẽ một dấu ấn khó phai nữa đối với ông Rem-xi Clác trong chuyến đi tháng 8 năm ấy chính là món quà do Thủ tướng Phạm Văn Đồng trao tặng. Món quà được ông xem như báu vật ấy là một bức tranh sơn mài, với hình ảnh cây xanh trên nền màu đỏ mà theo ông, mang đầy dụng ý nhân văn của Thủ tướng. “Cuộc chiến tranh của chính quyền Mỹ đã tàn phá nghiêm trọng cả con người lẫn cỏ cây vùng đất này, thế nhưng từng cây xanh non, từng thế hệ người dân Việt Nam vẫn tiếp tục hồi sinh mãnh liệt trên “vũng máu màu đỏ”, kiên cường chiến đấu vì nền độc lập, tự do”, ông cắt nghĩa hàm ý ẩn chứa bên trong bức tranh.

Việc được Thủ tướng Phạm Văn Đồng đón tiếp và tặng tranh đã xua tan nỗi lo trước đó trong ông. Trước khi đến Việt Nam, ông vẫn mang trong mình một nỗi băn khoăn liệu rằng chính quyền Mỹ đang gây tội ác tày trời như thế ở Việt Nam thì chính phủ và nhân dân nơi đây có chào đón sự hiện diện của ông hay không? “Người Việt Nam đấu tranh vì công lý và họ luôn chào đón những ai đứng về lẽ phải. Tôi cảm phục và hết sức vui mừng vì điều đó”, ông kể với đôi mắt ngấn lệ.

Giờ đây khi đã ở vào cái tuổi xưa nay hiếm, sức khỏe không còn được tốt như xưa, thế nhưng người cựu chính khách ấy vẫn không quản ngại đường xa nửa vòng trái đất, quay trở lại Việt Nam để cùng nhớ lại thắng lợi 40 năm về trước của nhân dân Việt Nam. Ông tích cực tham gia nhiều hoạt động kỷ niệm, trong đó có lễ trồng cây ở Công viên Hòa Bình, Hà Nội. Có vẻ như hàm ý trong bức tranh sơn mài ấy vẫn luôn thường trực trong trí nhớ của ông. Vì vậy mà tại buổi lễ này, đích thân ông đã bổ từng nhát cuốc, xới đất vun trồng một cây xanh. Với ông, cây xanh không chỉ là biểu tượng của sự sống, phát triển và hòa bình. “Hàng triệu cây xanh đã bị tàn phá trong chiến tranh Việt Nam. Tôi trồng một cây xanh hôm nay là vì muốn mọi người nhớ đến sự tàn khốc của chiến tranh, từ đó hãy cùng nhau chung sống hòa bình”, ông Rem-xi Clác nói. Một hành động nhỏ nhưng lại chất chứa một ý nghĩa nhân văn sâu sắc và lớn lao.

LÂM TOÀN
qdnd.vn

“Nước Việt Nam là đại gia đình của tôi”

Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột vậy.

– Trong một bức thư chia buồn gửi tới Bác sĩ Vũ Đình Tụng, một tín đồ theo Đạo Thiên Chúa khi đó đang là Chủ tịch Hội Chữ thập Đỏ Việt Nam, Bác đã nói: “Nước Việt Nam là đại gia đình của tôi”.

Ngày 11/1/1946, từ Thái Bình Bác đi thăm tỉnh Nam Định. 7 giờ sáng, đông đảo nhân dân đã tề tựu trước Uỷ ban Hành chính thành phố nghe vị Chủ tịch nước nói chuyện với đồng bào về những nhiệm vụ kháng chiến, cứu đói.

Sau đó Bác đến thăm và chia quà cho trẻ em ở Trại mồ côi Nam Định. Tại đây, Bác cảm động nói với bà Phước: “Tôi ghé qua đây thăm bà và các cháu. Tôi thay mặt các cháu không cha, không mẹ đó cảm ơn bà đã trông nom chúng như một người mẹ. Chúng tội tình gì mà tội nghiệp quá”.

Tình cảm của một người Cha trong gia đình đời thường, một năm sau đó (1/1947) được Bác thể hiện như một lời tâm tình trong bức điện gửi Bác sĩ Vũ Đình Tụng, một tín đồ theo Đạo Thiên Chúa khi đó đang là Chủ tịch Hội Chữ thập Đỏ Việt Nam. Đó cũng là một bức điện chia buồn khi Bác được tin người con trai của Bác sĩ Tụng vừa hy sinh trong cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược Pháp. Thư viết :

“Thưa Ngài, Tôi được báo cáo rằng, con giai ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc. Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột vậy.

Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để gìn giữ đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi; vật chất họ mất nhưng tinh thần họ vẫn luôn luôn sống với non sông Việt Nam.

Họ là con thảo của Đức Chúa, họ đã thực hiện cái khẩu hiệu: Thượng đế và Tổ quốc… Ngài đã đem món quà quý báu nhất là con của mình, sẵn sàng hiến cho Tổ quốc. Từ đây chắc Ngài sẽ ra sức giúp việc kháng chiến để bảo vệ nước nhà thì linh hồn cháu ở trên trời cũng bằng lòng và sung sướng…”

X&N
Vkyno (st)

“Vực thẳm thuộc địa”

“Vực thẳm thuộc địa” là tên của một bài báo ký tên Nguyễn Ái Quốc đăng trên tờ “L’ Humanité” số ra ngày 9/1/1923

– “Vực thẳm thuộc địa” là tên của một bài báo ký tên Nguyễn Ái Quốc đăng trên tờ “L’ Humanité” số ra ngày 9/1/1923.  Tờ báo là cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp và tác giả của bài báo nói trên chính là một trong những người tham gia sáng lập tổ chức chính trị này.

Bài báo tố cáo giới thực dân và trực tiếp là Bộ trưởng Thuộc địa Albert Saraut, người đã từng làm Toàn quyền Đông Dương nhiều năm, một mặt khai thác thuộc địa và bóc lột dân bản xứ một cách thậm tệ để làm giàu không phải chỉ cho nước Pháp mà cho chính bọn chúng.

Trong khi đó, chúng lại yêu cầu chính quốc phải đầu tư nhiều tỷ đồng cho các thuộc địa. Như vậy thực chất là chúng bòn rút chính nhân dân Pháp để phục vụ vào những việc làm lãng phí, xa xỉ, nuôi bộ máy quan liêu và ăn bám.

Quảng cáo cho hội chợ quốc tế và thuộc điạ Bordeaux 1937Quảng cáo cho hội chợ quốc tế và thuộc địa Bordeaux 1937

Tác giả đưa ra nhiều dẫn chứng với những con số thuyết phục trong đó có cuộc Triển lãm Thuộc địa vô cùng tốn kém đang diễn ra ở nước Pháp. Bài báo kết luận: “Đó là số tiền hàng triệu và thậm chí hàng tỷ mà nếu người ta biết cách tìm thì có lẽ người ta sẽ kiếm ra được một cách dễ dàng. Nhưng ngài Bộ trưởng lại cứ muốn gõ vào dân bản xứ”.

Đây là bài báo khai bút cho năm 1923 là năm cuối cùng Nguyễn Ái Quốc ở Pháp. Tháng 6 năm đó với tư cách là đảng viên thuộc địa của Đảng cộng sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã lên đường sang Liên Xô học tập. Nhưng ngay thời gian đã sống ở nước Nga, những bài báo của Nguyễn Ái Quốc vẫn thường xuyên xuất hiện trên các ờ báo cánh tả xuất bản ở Pháp, tổng cộng trong năm 1923 đã có trên dưới 30 bài báo được đăng.

Đây cũng chính là những chất liệu để sau này, Nguyễn Ái Quốc cho ra đời tác phẩm “Bản án chế độ thực ân Pháp” (Le Procès de la coloníation Francaise) nổi tiếng (xuất bản ở Pháp vào năm 1925, và được tái bản tại Việt Nam 1946).

X&N
Vkyno (st)