Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Thứ tư, tháng tư, ngày 30… (kỳ cuối)

Được tự do về với gia đình

TT – Đoàn xe chở tổng thống Dương Văn Minh và thủ tướng Vũ Văn Mẫu chạy theo đường Thống Nhất, quẹo trái qua đường Nguyễn Bỉnh Khiêm để đến Đài phát thanh. Dù khá mệt mỏi và căng thẳng trước những gì vừa diễn ra, tướng Minh vẫn ôn tồn chỉ đường cho lái xe Đào Ngọc Vân.

Sau khi được thông báo trả tự do, tướng Dương Văn Minh (phải) đã có cuộc gặp gỡ thân mật với tướng Trần Văn Trà – chủ tịch Ủy ban quân quản Sài Gòn – Gia Định – Ảnh: Lâm Tấn Tài

Khoảnh khắc kỳ lạ nhất ở Đài phát thanh

Trụ sở Đài phát thanh lúc đó khá vắng lặng, dù đã được quân giải phóng và anh em sinh viên tiếp quản. Nhân viên đã “biến” hết sau khi hay tin quân giải phóng đã chiếm được dinh Độc Lập.

Việc đầu tiên là phải tìm cho được những người có thể vận hành được đài phát. Anh em sinh viên tìm được anh Trần Văn Bảng, nhân viên kỹ thuật phát sóng trú ngụ ở gần đó. Còn nhà báo Kỳ Nhân lại tức tốc lái chiếc UTE của Hãng tin AP chở hai anh bộ đội về làng báo chí Thủ Đức để mời hai anh Trọng Liêm và Tự Lập đến đài.

Sau khi lời tuyên bố đầu hàng đã được chỉ huy quân giải phóng soạn thảo, ông Dương Văn Minh lúc đó phải đọc và ghi âm hai lần vào máy của nhà báo Borries Gallasch (còn máy cassette hiệu Hitachi của anh em quân giải phóng bị rối băng liên tục, không xài được). Lần đầu, ông Minh có lẽ hơi bị xúc động nên đọc không tự nhiên và bị vấp, đồng thời khi bật máy nghe lại băng thì giọng ông Minh… nhão nhoẹt vì máy yếu pin. Anh em sinh viên có mặt lúc đó phải chạy ra ngoài, tìm đâu đó được mấy cục pin mới.

Tiếng nói của ông Minh phát trên đài nghe nhẹ và chậm rãi. Còn lời chấp nhận đầu hàng của viên trung tá chính ủy người Đà Nẵng Bùi Văn Tùng lại vang lên khá dõng dạc và mạnh mẽ. Mà cũng lạ, vào lúc ấy rất nhiều giọng Đà Nẵng xuất hiện trên sóng phát thanh: trung tá Bùi Văn Tùng, nhà báo Kỳ Nhân, sinh viên Nguyễn Hữu Thái….

Nhà báo Kỳ Nhân “kêu gọi anh em ký giả hãy bình tĩnh, hãy tập trung ở số 15 Lê Lợi để cùng trao đổi và làm việc (lúc này tự nhiên có tiếng súng nổ vang dội vào Đài phát thanh, anh Kỳ Nhân dù chưa biết chuyện gì cũng “ứng khẩu” luôn)… Đó là tiếng súng bắn mừng của quân giải phóng. Chúng ta đã thấy hòa bình trên đất nước của chúng ta”.

Còn sinh viên Nguyễn Hữu Thái lại trở thành người dẫn chương trình bất đắc dĩ. Anh liên tục thông báo, liên tục trấn an đồng bào và kêu gọi anh em công chức, nhân viên các cơ quan hãy trở lại nhiệm sở để giúp cho sinh hoạt ở Sài Gòn trở lại bình thường.

Tất cả đều “nói vo” thẳng vào máy phát nên nhiều khi ý tứ nghe rất ngộ, thí dụ: “Đây là tiếng nói của các Ủy ban cách mạng Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định. Chúng tôi yêu cầu tất cả đồng bào, anh chị em công nhân, nhất là anh chị em nhân viên các nhà đèn, các nhà nước (chắc ý nói công ty cấp nước) và tất cả SVHS tụ họp để mà có những cuộc điều động của Ủy ban nhân dân cách mạng…”.

Xen lẫn với những lời kêu gọi, tuyên bố là tiếng vỗ tay, tiếng người nói chuyện bàn tán qua lại. Thậm chí ngay sau khi chính ủy Bùi Văn Tùng tuyên bố rất hùng hồn thì bỗng phát ra một đoạn cải lương inh ỏi…

Đặc biệt, người dân Sài Gòn lần đầu tiên nghe đến tên gọi Thành phố Hồ Chí Minh từ buổi phát thanh “tự phát” này. Nguyễn Hữu Thái lúc đó nói: “Chúng tôi là giáo sư Huỳnh Văn Tòng và cựu chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn Nguyễn Hữu Thái. Đời sống bình thường đã trở lại Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố mà Bác Hồ đã mong đợi, nay đã được giải phóng…”.

Không ai phân công, không ai duyệt nội dung, không ai chỉ đạo định hướng gì, nhưng quả tình những lời kêu gọi, thông báo “tự biên tự diễn” đầy rạo rực và chân tình đó đã có tác dụng rất lớn đối với đồng bào trong giờ phút căng thẳng. Cần phải hiểu là trong thời khắc “đổi đời” lịch sử đó, sự âu lo tràn ngập nhiều gia đình, nhất là những gia đình có người thân tham gia bộ máy chính quyền hoặc quân đội VN cộng hòa. Sài Gòn trước đó đã lan truyền tin đồn về một cuộc “tắm máu” và những biện pháp bạo lực của Việt cộng.

Trung tá Bùi Văn Tùng, đại úy Phạm Xuân Thệ và các sĩ quan trung đoàn 66 cùng có mặt trong lúc lời tuyên bố đầu hàng được soạn thảo cho tổng thống Dương Văn Minh đọc.

Việc soạn thảo này, 30 năm trước không có gì “khúc mắc”, nhưng giờ đây lại trở nên phức tạp khi ai cũng khẳng định mình là tác giả soạn thảo lời đầu hàng đó.

Trên báo A, hội thảo B đồng chí này kể mình đã đích thân soạn thảo văn bản ấy như thế nào. Trên báo C, đài truyền hình D đồng chí kia lại khẳng định một sự thật ngược lại.

(Tuổi Trẻ xin phép không đi sâu vào chi tiết còn gây tranh cãi này, vì suy cho cùng nó thật nhỏ bé so với cái lớn lao của thời khắc lịch sử ấy.

Tuy nhiên, cũng cần nói thêm: bản thảo 30 năm trước có chữ viết của chính ủy Bùi Văn Tùng vừa được phóng viên Tuổi Trẻ tìm thấy tại Nhà bảo tàng Quân đoàn 2, cách Hà Nội 80km – BT)

“Các anh được tự do…”

14g. Đoàn xe đưa ông Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu từ Đài phát thanh trở về dinh Độc Lập. Họ được đưa vào một gian phòng lớn gần tiền sảnh, có bộ đội vũ trang đứng gác thường trực bên ngoài. Đó cũng là nơi các thành viên nội các, dân biểu, nghị sĩ… có mặt ở dinh Độc Lập sáng 30-4 phải sống 48 giờ mà không được liên lạc gì với bên ngoài.

15g45. Những tiếng nổ lớn bắt đầu từ phía công viên Tao Đàn, phía sau dinh Độc Lập, tiếp theo là những tiếng súng đủ loại. Vài giây sau, đạn cối rơi xuống nổ liên tiếp giữa sân dinh, đúng lúc tướng Nguyễn Hữu An, tư lệnh Quân đoàn 2 quân giải phóng đang đi bách bộ cùng một sĩ quan tác chiến tên Duyến. Duyến bị mảnh đạn cối găm vào mắt. Tư lệnh Nguyễn Hữu An không bị sao. Lực lượng bộ đội bảo vệ dinh báo động: “Quân địch phản công!”.

Ông Dương Văn Minh và gần 20 người khác được đưa từ gian phòng nói trên xuống một căn hầm bên dưới hội trường lớn. Gần 60 phút trôi qua. Mọi người bắt đầu bị ngợp. Dân biểu Nguyễn Văn Binh lần dò ra cửa, đề nghị anh bộ đội cho ra ngoài lấy nước. Ông lượm một cái nón sắt cũ, hứng nước ở vòi nước máy rồi mang vào căn hầm. Cái nón sắt được chuyền từ người này sang người khác. Mọi người cứ bưng nón sắt mà uống. Ông Minh cũng vậy.

Rồi tiếng súng tự nhiên im bặt. Hóa ra là “quân ta đánh quân mình”: một đơn vị quân giải phóng từ hướng nam về không có ám hiệu đúng, thế là…

Mọi người được đưa trở về căn phòng cũ và trải qua hai ngày đêm đáng nhớ ở đó. Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh cũng bị “giam lỏng” như thế. Ông không có hành động và thái độ nào để chứng tỏ “ta đây là người của cách mạng”. Sự quản thúc chỉ được chấm dứt vào chiều tối 2-5.

Ông Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Văn Binh… được trả tự do. Quyết định trả tự do của Ủy ban quân quản được thông báo tại buổi lễ trang trọng và thân mật tại hội trường dinh Độc Lập tối 2-5-1975. Tại buổi lễ này, phó chủ tịch Ủy ban quân quản Sài Gòn – Gia Định Cao Đăng Chiếm đã phát biểu với một chất giọng miền Nam trầm ấm:

“…Nhân dân Việt Nam chúng ta đã trải qua cuộc đấu tranh anh dũng và khốc liệt, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, đánh bại chính sách Việt Nam hóa chiến tranh để giành thắng lợi vĩ đại và vô cùng to lớn từ xưa đến nay.

Thi hành chính sách của Chính phủ cách mạng lâm thời, Chính phủ mong rằng trong tình hình mới chúng ta hãy cùng nhau nỗ lực xây dựng lại Tổ quốc của chúng ta, làm cho nhân dân chúng ta giàu mạnh, Tổ quốc của chúng ta hùng cường. Do đó, chúng tôi mong rằng mỗi người VN chúng ta đều tùy theo khả năng của mình, góp công sức vào việc xây dựng Tổ quốc của chúng ta.

Bữa nay, thi hành lệnh của cấp trên, các anh được tự do về với gia đình. Chúng tôi sẽ tổ chức đưa các anh về đến nơi đến chốn…”. (Trích băng ghi âm)

Tiến sĩ Nguyễn Nhã và các đồng nghiệp ở Đài Tiếng nói nhân dân TP.HCM đã cung cấp băng ghi âm nội dung phát sóng ngày 30-4 và 2-5-1975 để chúng tôi thực hiện bài báo này.

Xin chân thành cảm ơn tiến sĩ và các bạn đồng nghiệp.

Đáp lại, ông Dương Văn Minh nói ngắn gọn thế này:

“ …Ngày hôm nay, đại diện cho các anh có mặt tại đây, tôi nhiệt liệt hoan nghênh sự thành công của Chính phủ cách mạng trong công cuộc vãn hồi hòa bình cho đất nước. Với kỷ nguyên mới này, tôi mong rằng tất cả anh em có mặt tại đây, cũng như các tầng lớp đồng bào, sẽ có dịp đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng đất nước.

Riêng cá nhân tôi, hôm nay tôi rất hân hoan khi được 60 tuổi, trở thành một công dân của một nước Việt Nam độc lập”. (Trích băng ghi âm)

Mọi người được về với gia đình ngay sau buổi lễ đó. Chiếc xe Ford màu xanh dương đậm đưa ông Minh ra khỏi dinh Độc Lập lúc 22 giờ. Khi xe chuyển bánh, vị tổng thống 48 giờ nói:

– Thôi, giã từ quá khứ chết chóc. Vĩnh viễn hòa nhập vào đời sống hòa bình.

Năm 1975 và giờ Sài Gòn, giờ Hà Nội

Đây là tờ lịch ngày 30-4-1975 với bút tích của đại tướng Văn Tiến Dũng, nguyên tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh (ảnh do chị Phương Minh ở KS Tân Sơn Nhất cung cấp)

Trong khi tìm kiếm tư liệu và thực hiện những cuộc phỏng vấn cho loạt bài này, chúng tôi khá đau đầu về chuyện giờ giấc.

Chẳng hạn chuyện Bùi Quang Thận cắm cờ trên nóc dinh Độc Lập được xác định là vào lúc 11g30 ngày 30-4. Tuy nhiên, những nhân chứng ở dinh Độc Lập khẳng định không thể như thế vì lúc đó xe tăng chưa vào dinh (?).

Và hàng loạt thời điểm lịch sử trong lúc đó đều được các nhân chứng nêu ra hoàn toàn chênh nhau đến cả tiếng. Thậm chí cho đến nay, trong các tư liệu sách báo, hồi ký trong và ngoài nước viết về 30-4 cũng tiếp tục… lộn xộn về giờ giấc.

Tại sao vậy?

Câu trả lời là: khi đất nước bị chia cắt thì giờ giấc hai miền cũng không thống nhất.

Ông Trịnh Tiến Điều, trưởng Ban lịch nhà nước, cho biết cụ thể như sau:

Ngày 1-9-1945, Chính phủ lâm thời nước VN Dân chủ cộng hòa tuyên bố lấy múi giờ 7 làm giờ chính thức (sắc lệnh số 01/SL của Bộ Nội vụ). Từ đó, miền Bắc và miền Trung lấy múi giờ 7. Sau đó, theo quyết định số 121/QĐ-CP ngày 8-8-1967 thì giờ pháp định của VN Dân chủ cộng hòa là múi giờ 7 quốc tế, kể từ 0 giờ ngày 1-1-1968.

Trong khi đó, năm 1959, chính quyền Sài Gòn ra sắc lệnh số 362-TTP ngày 30-12-1959 qui định bắt đầu từ ngày 1-1-1960 giờ chính thức và pháp định của miền Nam VN nhanh hơn 60 phút đối với múi 7.

Sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam, đến ngày 13-6-1975 Chính phủ cách mạng lâm thời mới ra quyết định chính thức trở lại múi giờ 7, giờ Sài Gòn được vặn chậm lại một giờ.

Đến ngày 14-10-2002, Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN VN ra quyết định số 134/2002/QĐ-TTg “lấy múi giờ thứ 7 theo hệ thống múi giờ quốc tế làm giờ chính thức của VN”.

Như vậy, trước năm 1975 ở VN sử dụng hai múi giờ khác nhau ở hai miền Nam, Bắc. Miền Bắc theo múi giờ thứ 7, miền Nam theo múi giờ thứ 8 (nhanh hơn 60 phút) cho đến ngày 13-6-1975 mới thống nhất trở lại theo múi 7 cho đến ngày nay.

B.T. – L.Đ.

BÙI THANH
tuoitre.vn

Tin, bài liên quan:

– Kỳ 2: Giờ kết thúc
– Kỳ 1: Những tiếng súng cuối cùng

Thứ tư, tháng tư, ngày 30… (kỳ 2)

Giờ kết thúc

TT – Lúc xe tăng húc đổ cổng dinh Độc Lập và Bùi Quang Thận cầm cờ xông vào, không có một nhà báo VN nào có mặt ở đó để ghi lại khoảnh khắc lịch sử ấy. Và đối diện với những chiếc xe tăng vừa chạy vừa khạc đạn là một số ít phóng viên nước ngoài. Trong số đó có Franøoise Demulder.

Ảnh: Francoise Demulder

Tấm ảnh “có một không hai” (được treo trang trọng trong các nhà bảo tàng lịch sử và in bìa nhiều quyển sách ở VN nhưng ít khi thấy đề tên tác giả) đã được chụp bởi người nữ phóng viên dũng cảm người Pháp này.

Dũng cảm ư? Có thể nói như vậy. Lúc đó họ đâu biết trước chuyện gì sẽ xảy ra. Có một phóng viên truyền hình đứng gần Franøoise Demulder đúng khoảnh khắc ấy, nhưng anh ta cũng không dám ghi hình. Anh đặt máy xuống đất và chỉ ngồi im quan sát cảnh tượng xe tăng húc đổ cổng và tiến vào dinh (ảnh). Đó là một tình huống chiến tranh nguy hiểm: làm sao những người lính tăng từ xa có thể phân biệt được đâu là camera đâu là… súng chống tăng.

Nhưng những người lính tăng lúc đó hoàn toàn không có thái độ thù địch gì đối với các phóng viên nước ngoài. Ai làm việc nấy.

Khi chiếc tăng 390 đỗ xịch trước dinh, chính trị viên đại đội Vũ Đăng Toàn xách AK nhảy xuống, chờ Bùi Quang Thận đang cầm cờ tiến vào. Cả hai chạy lên thềm dinh trong tư thế sẵn sàng chiến đấu và với một tinh thần “cảnh giác cao độ”. Bùi Quang Thận hơi lo khi thấy bên trong lố nhố nhiều người mặc quân phục.

Và có lẽ do “cảnh giác cao độ” quá nên anh lao thẳng vào cửa kính, ngã bật ra phía sau nhưng tay vẫn cầm chắc lá cờ. Chắc đây là lần đầu tiên chàng trai miền biển Thái Bình này mới “tiếp xúc” với loại kính trong suốt như thế. Lúc này, từ trong dinh, một người bận đồ dân sự chạy ra, thân thiện mời hai anh lính tăng giải phóng vào.

Bùi Quang Thận thoáng chút bối rối trước tình huống này: không biết phải “xử lý” thế nào với tổng thống và mấy ông nội các Sài Gòn, bởi nhiệm vụ của những người lính tăng như anh là chiếm dinh và cắm cờ. Cuối cùng, Bùi Quang Thận đề nghị Vũ Đăng Toàn ở lại “canh chừng” các thành viên nội các và chờ cấp chỉ huy đến, còn mình phải thực hiện cho được nhiệm vụ cắm cờ trên nóc dinh Độc Lập.

Người được lệnh hướng dẫn Bùi Quang Thận đi thang máy lên nóc dinh cắm cờ là đại tá Chiêm, chỉ huy trưởng lực lượng phòng vệ phủ tổng thống. Cùng đi theo hỗ trợ Bùi Quang Thận cắm cờ còn có hai người nữa: sinh viên Nguyễn Hữu Thái (cựu chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn) và tiến sĩ báo chí Huỳnh Văn Tòng.

Tiến sĩ Huỳnh Văn Tòng và sinh viên Nguyễn Hữu Thái cùng nhà báo Cung Văn đến dinh Độc Lập sau khi nghe ông Dương Văn Minh tuyên bố ngừng bắn trên đài phát thanh. Họ đến để đón quân giải phóng và hi vọng góp phần nhỏ của mình cho một kết cục hòa bình và êm thắm nhất.

“Đêm 29-4 chúng tôi không ngủ được – tiến sĩ Tòng nhớ lại – Sài Gòn lan truyền tin đồn Việt cộng đã chuẩn bị hàng vạn quả đạn pháo và sẽ “rót” vào thành phố này sáng mai. Sài Gòn sẽ đổ nát và dân chúng sẽ khốn khổ, nếu không có một giải pháp thích hợp nào. Sáng sớm 30-4, anh em chúng tôi đã bàn nhau làm được nhiều việc. Và chúng tôi kéo nhau đến dinh Độc Lập. Tôi không phải là “thành phần thứ ba”.

Tôi ngả hẳn về phía cách mạng và mong muốn Sài Gòn được giải phóng nhanh chóng”.

Tấm ảnh lịch sử của Francoise Demulder: xe 390 húc văng hai cánh cổng chính, còn xe 843 bị kẹt lại ở cổng phụ. Bùi Quang Thận nhảy xuống xe, cầm cờ chạy bộ vào (mũi tên)

Những tấm ảnh của Francoise Demulder chỉ được đăng một lần trên một tờ báo Pháp, rồi sau đó “nằm im” trong văn phòng của chị.

Gần 20 năm sau, có một người VN phát hiện ra những tấm ảnh lịch sử ấy và đưa chúng về VN. Đó là anh Phạm Công Dũng (trung tâm báo chí nước ngoài, Bộ Ngoại giao).

“Năm 1994, tôi được Bộ Ngoại giao cử sang thực tập ở Pháp. Một lần, tôi ghé văn phòng của Francoise Demulder chơi. Ở đó có treo những bức ảnh để đời của chị. Tôi sửng sốt khi nhìn thấy những bức ảnh về ngày 30-4 ở dinh Độc Lập.

Đặc biệt, tôi phát hiện chiếc xe tăng húc đổ cổng dinh không phải là chiếc 843 như sách báo VN từng viết. Francoise cũng ngạc nhiên về điều này. Và năm 1995, Francoise trở lại VN, cùng tôi bước vào cuộc hành trình tìm lại những người lính tăng xe 390”.

Những tấm ảnh của Franøoise, sau khi được công bố ở VN, đã góp phần làm sáng tỏ một chi tiết lịch sử. Và những người lính tăng 390 đã được biết đến và được quan tâm nhiều hơn.

Nhưng Francoise Demulder không thể sang VN dự kỷ niệm ngày 30-4 năm nay. Chị bệnh rất nặng, không đi lại được và đang nằm trong một bệnh viện quân đội ở Paris.

…Đại tá Chiêm dẫn ba người đến trước thang máy (phải đi thang máy vì cầu thang chính không còn sử dụng được, do bị phi công Nguyễn Thành Trung ném bom làm sập ngày 8-4). Đến trước thang máy, Bùi Quang Thận thấy… lạ quá nên nhất quyết không vào. “Lúc đó tôi thấy thang máy giống như… cái hòm – Bùi Quang Thận nhớ lại – Vào đó nó nhốt mình luôn, biết bao giờ mới ra được!”.

Sau khi nghe đại tá Chiêm giải thích, Bùi Quang Thận mới chịu vào nhưng lại cảnh giác yêu cầu ông đại tá vào trước… Cuối cùng thì Bùi Quang Thận, Huỳnh Văn Tòng, Nguyễn Hữu Thái cũng lên được nóc dinh.

“Chúng tôi còn trèo thêm một cầu thang gỗ mới ra được chân cột cờ – kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái kể – Để treo lá cờ giải phóng lên, phải hạ lá cờ vàng ba sọc xuống. Nhưng lá cờ ba sọc quá lớn, lại được cột chắc chắn nên phải mất khá lâu chúng tôi mới hạ xuống được”. Bùi Quang Thận kéo lá cờ giải phóng xanh đỏ sao vàng lên, sau khi viết và ký tên vào lá cờ: “11g30 ngày 30-4. Thận”.

Và thật kỳ lạ, trong khoảnh khắc lịch sử ấy, trên nóc dinh Độc Lập có ba chàng trai của ba miền đất nước: Bùi Quang Thận (Thái Bình, miền Bắc), Nguyễn Hữu Thái (Đà Nẵng, miền Trung) và Huỳnh Văn Tòng (Tây Ninh, miền Nam). “Dường như tất cả chúng tôi đều không cầm được nước mắt – KTS Nguyễn Hữu Thái nhớ lại – Sài Gòn đã được giải phóng, hòa bình được lập lại và đất nước từ nay thống nhất làm một, không gì có thể chia cắt được nữa” …

…Bùi Quang Thận lúc đầu định ném lá cờ ba sọc xuống sân, nhưng nghĩ tới nghĩ lui sao đó, xếp lá cờ lại và đem xuống cất vào chiếc xe tăng 843 của mình. Cũng nhờ vậy mà sau này Bùi Quang Thận mới đưa ra được “bằng chứng”, khi cấp trên cho người đi xác minh: ai mới là người cắm cờ trên nóc dinh Độc Lập? Lá cờ cất trong xe tăng của Bùi Quang Thận có một vết rách trùng khớp với phần còn sót lại trên cột cờ!

Thật ra, cùng lúc lá cờ ba sọc được hạ xuống trên nóc dinh thì các chiến sĩ bộ binh trung đoàn bộ binh 66 và biệt động đặc công trung đoàn 116 cũng đã phất những lá cờ giải phóng từ bancông tầng hai. Lá cờ xanh đỏ sao vàng lớn nhất được phất lên lúc đó là của một người dân ở miệt Thị Nghè. Ông cầm lá cờ lao ra từ Thảo cầm viên, rồi leo lên chiếc xe Jeep của đại úy Phạm Xuân Thệ vào dinh, ít phút sau khi xe tăng 390 húc đổ cổng sắt.

Và trung đoàn phó trung đoàn bộ binh 66 Phạm Xuân Thệ cũng là viên chỉ huy đầu tiên “làm việc” với tổng thống Dương Văn Minh và những người bên trong dinh. Giống như Bùi Quang Thận trong khoảnh khắc đầu tiên, đại úy Phạm Xuân Thệ cũng hơi ngỡ ngàng và chưa biết phải làm gì. “Tôi chỉ được giao nhiệm vụ chiếm dinh Độc Lập. Việc của tôi là kiểm soát tòa nhà và cho anh em lên cắm cờ. Làm việc gì và làm như thế nào với tổng thống và nội các này đây?”.

Tổng thống Dương Văn Minh thông báo đã tuyên bố ngừng bắn và đang chuẩn bị tiến hành bàn giao chính quyền cho Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Nhưng trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ không chấp nhận chuyện bàn giao mà tuyên bố: phải đầu hàng!

Và trung úy Phùng Bá Đam cùng các sĩ quan bộ binh đã bàn với Phạm Xuân Thệ là cho tuyên bố đầu hàng ngay tại dinh. Nhưng đường dây từ dinh Độc Lập ra đài phát thanh không hoạt động được nữa do nhân viên đài lúc ấy đã “biến” hết. Phải ra đài phát thanh!

Ngay lúc đó, trung tá chính ủy lữ đoàn xe tăng 203 Bùi Văn Tùng xuất hiện. Các sĩ quan biệt động đặc công đưa ông vào gặp tổng thống Dương Văn Minh. Trung tá Bùi Văn Tùng cũng bác bỏ lời đề nghị bàn giao chính quyền và tuyên bố giải pháp duy nhất là phải đầu hàng.

Thật ra thì những gì xảy ra trong 40 phút đó rất căng thẳng và đầy kịch tính. Nhưng Tuổi Trẻ xin không nêu lại vì xét thấy không cần thiết nữa.

Khoảng 12 giờ trưa 30-4, đại úy Phạm Xuân Thệ đưa tổng thống Dương Văn Minh, thủ tướng Vũ Văn Mẫu lên xe Jeep để đến đài phát thanh. Chiếc xe thứ hai chở trung tá Bùi Văn Tùng cùng hai nhà báo Borries Gallasch và Hà Huy Đỉnh. Đặc biệt, chạy trước hai chiếc xe nói trên là một chiếc UTE của Hãng tin AP (Mỹ), nhưng lại cắm cờ giải phóng và chở hai sĩ quan bộ binh. Người cầm lái là nhà báo Kỳ Nhân.

Trước đó không lâu, trưởng văn phòng AP George Esper yêu cầu Kỳ Nhân bỏ lá cờ giải phóng xuống vì đây là xe của hãng tin Mỹ. Nhưng nhà báo này không tháo bỏ và xách xe đi chở… Việt cộng, “bởi vì tôi là người VN và tôi hiểu mình phải làm gì trong lúc này….”.

BÙI THANH
tuoitre.vn

Thứ tư, tháng tư, ngày 30… (Kỳ 1)

Những tiếng súng cuối cùng

Tờ lịch ngày 30-4-1975 do bà Nguyễn Thị Tính cất giữ (ảnh chụp lại tại Bảo tàng TP.HCM) – Ảnh: Thanh Đạm

TT – Tháng 4-1975. Những người dân Sài Gòn dường như dừng lại lâu hơn trước tờ lịch mới: thứ tư ngày 30 (nhằm ngày 19-3 năm Ất Mão). Nhiều người trong số họ biết rằng lịch sử sẽ đọng lại ở ngày này, trước khi sang trang mới.

…Tiếng động cơ trực thăng ì ầm suốt đêm qua đã im tiếng. Đại sứ Martin và những tay súng thủy quân lục chiến người Mỹ cuối cùng đã rời khỏi đất nước này vào lúc tinh mơ. Không phải ra đi, mà là tháo chạy tán loạn.

Cả Sài Gòn lúc ấy dường như đang chờ đợi. Một cái gì đó khác lạ, mới mẻ và lớn lao đang đến…

Xe tăng đang đến.

Những chiếc xe tăng T54 và T59 thuộc lữ đoàn 203 cắm cờ xanh đỏ sao vàng ầm ầm từ hướng Biên Hòa lao về mục tiêu cuối cùng: dinh Độc Lập.

Lúc đó là khoảng 9g30.

Bất ngờ, đoàn xe tăng bị chặn lại tại cầu Sài Gòn bởi hỏa lực của tám chiếc M48 và M113. Cùng lúc, những chiếc tàu chiến của hải quân Sài Gòn đang neo đậu ở Tân Cảng cũng bắt đầu nã đạn như mưa vào đoàn tăng giải phóng. Hai chiếc T54 đi đầu bị bắn cháy, hai chiếc khác bị hỏng và lao xuống vệ đường. Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1 xe tăng Ngô Quang Nhỡ và nhiều chiến sĩ khác hi sinh tại chỗ.

Vào lúc này, trên radio, tổng thống Dương Văn Minh đã đơn phương tuyên bố ngừng bắn và chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh “yêu cầu binh sĩ chấp hành lệnh của tổng thống”. Nhưng bất chấp lệnh đó, tiếng súng kháng cự vẫn nổ và cuộc giao tranh vẫn diễn ra ác liệt ngay cửa ngõ Sài Gòn.

Không để ổ kháng cự ở cầu Sài Gòn cầm chân quân giải phóng quá lâu, Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 đã ra lệnh cho lực lượng pháo binh, cao xạ và bộ binh sư đoàn 304 tham chiến. Tiếng súng chỉ ngưng khi hai chiếc M48 của quân VNCH nổ tung ngay trên cầu. Hai chiếc tàu chiến bị bắn cháy, những chiếc khác chạy thẳng ra phía biển sau khi trút những loạt đạn cuối cùng.

Những chiếc tăng T54 và T59 vọt qua cầu (xe T54 do Liên Xô sản xuất, còn T59 do Trung Quốc sản xuất theo công nghệ Liên Xô). Trên những chiếc tăng lúc này còn có những chiến sĩ thuộc trung đoàn đặc công biệt động 116 và trung đoàn bộ binh 66. Đặc biệt, có một phóng viên ảnh của Hãng tin Mỹ UPI – đó là Hoàng Văn Cường.

…Hoàng Văn Cường kể: “Tôi được văn phòng UPI Sài Gòn yêu cầu ra ngoại ô để có được những hình ảnh nóng nhất trước giờ G. Đến ngã ba Vũng Tàu thì bất ngờ gặp xe tăng của “mấy ổng” ầm ầm lao tới. Tôi hoảng quá, vội lột bỏ áo giáp chống đạn, để lộ ra chiếc áo trắng và lỉnh kỉnh đủ thứ máy ảnh cho “mấy ổng” thấy, rồi giơ hai tay lên vẫy chào. Một chiếc tăng dừng lại.

Tôi nghe “mấy ổng” xì xào: “Phóng viên! Phóng viên!…”, rồi bất ngờ cho tôi lên xe luôn. “Mấy ổng” hỏi tôi đủ thứ, nhưng tôi chỉ trả lời bằng… tiếng Nhật”. “Tại sao anh lại giả bộ là một phóng viên Nhật?”. “Bởi vì lúc ấy tôi đang làm cho một hãng tin Mỹ. Thật tình tôi không biết Việt cộng sẽ đối xử với tôi ra sao. Tôi sợ “mấy ổng”… bắn!”.

Những chiếc xe tăng đầu tiên đã tiến đến ngã tư Hàng Xanh. Sài Gòn đã ở trước mặt! Nhưng đường nào vào dinh Độc Lập đây? Những người lính tăng tự hỏi. Trước giờ xuất quân, họ được hướng dẫn: quẹo trái, đi tiếp bảy ngã tư rồi quẹo trái tiếp… Nhưng hướng dẫn là một chuyện, còn thực tế đường phố xa lạ và chằng chịt trước mặt lại là chuyện khác. Cả lực lượng đột kích thọc sâu này chỉ có một bản đồ Sài Gòn – Gia Định. Và đó lại là tấm bản đồ du lịch mà một người bà con ở Đà Nẵng tặng cho trung tá chính ủy lữ đoàn xe tăng 203 Bùi Văn Tùng (ông Tùng quê ở Đà Nẵng).

“Đến ngã tư Hàng Xanh, quẹo trái!”. Những chiếc tăng đầu tiên quẹo trái theo lệnh, rồi ầm ầm lao thẳng về phía Thị Nghè. Đi đầu là chiếc tăng T59 số hiệu 387, đi thứ hai cũng là một chiếc T59 số hiệu 390. Xe T54 số hiệu 843 của đại đội trưởng Bùi Quang Thận đi thứ ba… Theo sau những chiếc tăng dẫn đầu là chiếc Jeep (xe chiến lợi phẩm lấy từ Đà Nẵng) chở đại úy Phạm Xuân Thệ, trung đoàn phó trung đoàn bộ binh 66 (hiện nay là trung tướng tư lệnh Quân khu I).

Sau cuộc chạm súng cuối cùng diễn ra tại khu vực cầu Thị Nghè, người dân đã tràn ra đường đón chào quân giải phóng. Trên cầu vẫn còn công sự và xe tăng M41 của quân VNCH – Ảnh tư liệu TTXVN

Phố xá vắng tanh, không một bóng người. Tất cả những ngôi nhà đều đóng cửa. Vì sao vậy? Những người lính tăng căng thẳng. Rồi câu trả lời xuất hiện ngay lập tức: một ổ kháng cự mọc ngay trên cầu Thị Nghè, với cả xe tăng M41 và M113. Cuộc chạm súng cuối cùng đã diễn ra ngay trong nội thành Sài Gòn. Ổ kháng cự trên cầu bị “dập tắt” không lâu sau đó.

Nhưng bên này, chiếc tăng dẫn đầu 387 đã trúng đạn. Một chiến sĩ công binh ngồi trên xe hi sinh. Riêng trưởng xe 387 là trung đội trưởng Lê Tiến Hùng bị thương một cách hi hữu. Anh ngồi trong xe tăng, chỉ ló đầu ra ngoài quan sát thôi, nhưng không hiểu sao lại bị thương rất nặng ngay “chỗ ấy”. Đồng đội khiêng anh xuống xe, gõ cửa nhà một gia đình người Hoa để nhờ giúp đỡ cứu chữa (anh Hùng sau đó được cứu sống, về quê lấy vợ rất vui vẻ và đã có hai con).

Sau khi chiếc 387 bị bắn hỏng phải nằm lại, chính trị viên đại đội Vũ Đăng Toàn cho xe 390 vượt qua cầu Thị Nghè và trở thành chiếc tăng dẫn đầu lực lượng đột kích thọc sâu. Theo sau là chiếc 843 của đại đội trưởng Bùi Quang Thận. Nhưng tại sao chiếc xe đi sau lại húc vào cổng dinh Độc Lập trước?

“Chúng tôi đi lạc vì không biết đường – Vũ Đăng Toàn kể – Xe 390 của chúng tôi cứ thẳng tiến theo đường Hồng Thập Tự (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai) và không biết chính xác phải quẹo trái ở ngã tư nào để đến dinh”. Khi xe 390 vượt qua luôn ngã tư Công Lý – Hồng Thập Tự, đến cổng Trường Lê Quý Đôn thì nhận được tín hiệu của Bùi Quang Thận từ phía sau: phải quay lại!

Thật ra thì đại đội trưởng Bùi Quang Thận cũng chẳng biết đường, dù dinh Độc Lập ở ngay bên cạnh rồi. Anh cho xe 843 dừng lại. Đang bối rối giữa phố phường vắng lặng thì bỗng xuất hiện một cô gái đi xe máy. Bùi Quang Thận ra lệnh cho cô gái dừng lại. Dù thất kinh hồn vía trước lính tăng Việt cộng, cô gái cuối cùng cũng hướng dẫn xe 843 quẹo qua đường Pasteur, rồi theo đường Thống Nhất thẳng đến dinh.

“Dinh Độc Lập đây rồi!”. Những người lính tăng trên chiếc 843 bỗng hồi hộp và căng thẳng hơn bao giờ hết. Và do căng thẳng, trưởng xe Bùi Quang Thận đã đi đến một quyết định bất ngờ: bắn đại bác vào dinh Độc Lập!

“Khi xe tăng 843 còn cách dinh hơn 50m, tôi ra lệnh cho pháo thủ nạp đạn pháo và bắn thẳng. Đạn không nổ! Tôi ra lệnh nạp đạn bắn lần thứ hai. Lần này không bắn điện nữa mà chuyển sang bắn cơ. Đạn vẫn không nổ! Thật kỳ lạ. Khi pháo thủ cho biết trong xe chỉ còn một viên đạn pháo cuối cùng, tôi quyết định không bắn nữa, mà cho xe lao lên húc thẳng vào cổng dinh”.

– Tại sao lúc đó anh lại cho đại bác bắn thẳng vào dinh?

– Tôi bắn để uy hiếp đối phương. Lúc đó nhìn qua nhìn lại chỉ mới có xe của tôi đối diện với dinh thôi. Tôi nghĩ đây là ổ kháng cự cuối cùng và họ sẽ kháng cự dữ dội. Anh thấy ngay ở cầu Sài Gòn, cầu Thị Nghè chúng tôi đã bị bắn như thế nào rồi…

– Anh có biết lúc đó trong dinh có ông Dương Văn Minh và các thành viên nội các Sài Gòn?

– Không. Lúc đó chúng tôi không hề biết. Chúng tôi không nghĩ họ đang ở đó, vì quân giải phóng đang tấn công thì nội các ở đó làm gì? Nếu chẳng may đạn pháo nổ trong dinh làm bị thương thành viên nội các nào đó thì chúng tôi cũng không có lỗi gì. Bởi vì chúng tôi là những người lính…

Loạt bài này được thực hiện dựa theo nội dung những cuộc phỏng vấn vào tháng 4-2005 giữa phóng viên Tuổi Trẻ với nhiều nhân chứng và nhân vật có liên quan: trung tướng Phạm Xuân Thệ, thiếu tướng Thiều Chí Đinh, đại tá Bùi Văn Tùng, đại tá Bùi Quang Thận, PGĐ phân xưởng sơn Kovik Vũ Đăng Toàn, đại tá Phùng Bá Đam, ông Phạm Công Dũng (Bộ Ngoại giao), ông Nguyễn Hữu Hạnh, KTS Nguyễn Hữu Thái, tiến sĩ Huỳnh Văn Tòng, nhà báo Kỳ Nhân…

Xe 843 xả hết tốc lực húc vào cổng phụ bên trái. Nhưng xe lại húc thẳng vào trụ cổng khá vững chắc nên cổng không đổ. Bùi Quang Thận cho xe lùi lại tiếp tục húc, nhưng lại va vào trụ cổng…

Ngay lúc đó, xe 390 xuất hiện từ phía đường Công Lý, quẹo phải lao thẳng vào cổng chính và ủi văng hai cánh cửa sắt. Xe 390 tiếp tục tiến thẳng vào dinh. Súng đại liên trên xe bắn liên tục. Cùng lúc đó, Bùi Quang Thận giật phăng cần ăngten có gắn cờ giải phóng, nhảy khỏi xe 843, chạy bộ vào dinh.

Trước khi đi, Bùi Quang Thận nói: “Nếu không thấy mình trở ra thì các cậu hãy bắn nốt viên đạn pháo còn lại. Và hãy báo cáo chỉ huy là đại đội trưởng đã vào dinh”. Anh cầm lá cờ xanh đỏ sao vàng nhuốm màu lửa đạn và bụi đường lao vào dinh mà không hề biết chuyện gì đang chờ đợi mình.

Lúc này, trên đường Thống Nhất, một cảnh tượng chưa từng có: xe tăng, xe bọc thép, xe Molotova chở bộ binh ầm ầm nối đuôi nhau hướng về dinh Độc Lập. Súng nổ vang trời. Tiếng súng chỉ thiên mừng chiến thắng của quân giải phóng xen lẫn với những tiếng súng kháng cự cuối cùng của những tay súng biệt kích dù 81 từ phía trụ sở Bộ Ngoại giao (nay là Sở Ngoại vụ TP.HCM).

Chiến sĩ tiểu đoàn 7 bộ binh Tô Văn Thành đang ngồi trên thành xe tăng bị bắn rớt xuống đường. Đó là người lính cuối cùng hi sinh, ngay trước dinh Độc Lập.

BÙI THANH
tuoitre.vn

Lan tỏa niềm tin tự hào chiến thắng

QĐND – Những ngày này, rất nhiều tốp học sinh – sinh viên và cả một số cựu chiến binh (CCB) ngực đeo đầy huân, huy chương đứng trò chuyện với những du khách quốc tế ở trong và ngoài Dinh Thống Nhất (TP Hồ Chí Minh). Các vị khách tỏ vẻ rất thích thú, thán phục và hào hứng chụp ảnh chung với mọi người để làm kỷ niệm. Hỏi ra mới biết là các bạn trẻ và các CCB đang giới thiệu cho khách nước ngoài về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta. Đặc biệt là Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, với đỉnh cao là chiến thắng của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Xe tăng quân giải phóng húc đổ cổng dinh Độc Lập. Ảnh tư liệu/internet.

Việc làm của các bạn trẻ và các CCB thật ý nghĩa và mang đậm tinh thần tự tôn, tự hào dân tộc. Họ thực sự trở thành các sứ giả hòa bình, là cầu nối để bạn bè quốc tế hiểu Việt Nam, ngưỡng mộ và yêu mến Việt Nam hơn. Có thể nói, đi trên đường phố của TP Hồ Chí Minh trong dịp kỷ niệm 38 năm Ngày giải phóng miền Nam – Thống nhất đất nước, ai cũng có thể cảm nhận được niềm vui, niềm tự hào sâu sắc không chỉ của người dân Việt Nam, mà còn lan tỏa đến bạn bè quốc tế. Chả thế mà ông Wi-li-am Ghết-tơ, một du khách đến từ nước Mỹ sau khi nghe CCB Nguyễn Minh Nho, quê ở huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên, nguyên là chiến sĩ của Sư đoàn 9, Quân đoàn 4 đã tham gia giải phóng Sài Gòn Xuân 1975 kể về chiến thắng 30-4 qua lời dịch của một sinh viên đã thốt lên: “Việt Nam là một nước nhỏ, người ít, kinh tế nghèo, nhưng khi đoàn kết lại đã làm lên những chiến thắng vô cùng vĩ đại. Thật là kỳ diệu. Đi đến đâu trên trái đất này, tôi sẽ giới thiệu điều kỳ diệu ấy cho mọi người biết”.

Điều kỳ diệu của dân tộc Việt Nam không chỉ có trong quá khứ, mà sau 38 năm khi đất nước ta được thống nhất, non sông gấm vóc thu về một mối, nhân dân Việt Nam đã nỗ lực không ngừng để hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng đất nước ngày càng phát triển, đạt được nhiều thành tựu to lớn về kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh, được thế giới ghi nhận và khâm phục.

Dịp này, những người con nước Việt, dù đang sinh sống ở quê hương hay ở nước ngoài tự hào, thành kính tưởng nhớ đến các anh hùng liệt sĩ, các thương binh, bệnh binh đã hy sinh xương máu, hay một phần xương máu cho độc lập, tự do của Tổ quốc, tri ân những người đã góp phần làm lên chiến thắng. Đây cũng là dịp tốt để chúng ta giới thiệu với bạn bè quốc tế về chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Hy vọng sẽ có nhiều sứ giả hòa bình, nhiều cầu nối thân thiện như các bạn học sinh – sinh viên và các CCB ở TP Hồ Chí Minh, góp phần quảng bá hình ảnh tươi đẹp của đất nước và truyền thống vẻ vang của dân tộc với thế giới.

LÊ PHI HÙNG
qdnd.vn

Hùng ca đời đời vang vọng

Bài 1: Chiến trường vẫy gọi

LTS: Thắng lợi vĩ đại của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước là chiến công hiển hách của dân tộc ta trong thế kỷ XX. Đó chính là sự khẳng định bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần Việt Nam qua ba mươi năm đấu tranh gian khổ. Ba mươi năm đó đã có mấy thế hệ người ViệtNam “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” (thơ Tố Hữu). Cổ vũ cho khí thế hào hùng ra trận, không thể không kể tới hàng nghìn nghệ sĩ-chiến sĩ đã hiên ngang, oanh liệt tiến ra sa trường. Những nghệ sĩ-chiến sĩ đã viết nên bản hùng ca đời đời vang vọng.

Bài 1: Chiến trường vẫy gọi

Khi những người nghệ sĩ ra trận, họ đã mang cả mùa xuân đến chiến trường khốc liệt. Nghệ sĩ cổ vũ bộ đội, bộ đội thành nghệ sĩ. Trong cuộc đấu tranh 30 năm của dân tộc ta đã có biết bao nghệ sĩ trưởng thành trên chiến trường, bao nghệ sĩ trở thành bộ đội…

“Lính chiến” Tây Nguyên vẫn thường nhắc câu chuyện về hai vợ chồng nhạc sĩ Doãn Nho đi chiến trường. Nhiều cựu chiến binh gặp hai vợ chồng nghệ sĩ vẫn dí dỏm trêu: Quả bom là quả bom to/Nó chui, nó rúc Doãn Nho mất hồn…. Tôi đến nhà thăm vợ chồng nghệ sĩ Doãn Nho-Nguyệt Ánh. Nhạc sĩ Doãn Nho đang đi thu âm trên Đài Tiếng nói Việt Nam. Tiếp tôi chỉ có nghệ sĩ Nguyệt Ánh. Bà trẻ hơn nhiều so với tuổi 72, ánh mắt vẫn tinh tường hồn hậu. Bà vui vẻ hỏi: “Nhà báo lại đến vì cái chuyện “Quả bom to” phải không? Lính xưa họ tếu lắm. Chuyện nó như thế này…”.

Văn công trước cửa Dinh Độc Lập 30-4-1975. Ảnh tư liệu

Năm 1967, hai vợ chồng nghệ sĩ Nguyệt Ánh đang công tác tại Đoàn văn công Quân đội thì được lệnh lên đường đi B3. Lúc đó, chuyện nghệ sĩ ra chiến trường phục vụ là chuyện bình thường, nhưng vào chiến trường B3 (Mặt trận Tây Nguyên) lại kéo dài trong một năm thì lại là chuyện khác. Lo âu xen lẫn háo hức. Đoàn công tác có 13 người, trong đó có nữ. Nhạc sĩ Doãn Nho đi tiền trạm cùng một đoàn xe vận tải vũ khí. Đoàn xe này bị B52 rải thảm, bộ đội hi sinh rất nhiều. Trong số đó cũng có một chiến sĩ lái xe tên là Nho, nên khi báo về mọi người nhầm tưởng Doãn Nho đã hi sinh. Tình thực trước đó, nhạc sĩ “bị” một người bạn là sĩ quan cao cấp giữ chân ở binh trạm để tâm sự, nên may mắn thoát chết.

Nghe tin nhạc sĩ Doãn Nho – tác giả của ca khúc Tiến bước dưới quân kỳ đã hi sinh, anh em bộ đội thương lắm. Một đồn mười, mười đồn trăm, rồi cả Mặt trận Tây Nguyên đều biết. Tin đồn bay về với đoàn công tác. Lãnh đạo đoàn quyết định giữ kín thông tin để bà Nguyệt Ánh tiếp tục công tác.

Bà Ánh kể: “Mỗi lần tôi hát bài Nguyễn Viết Xuân, trong đó có câu: Nghe tin chúng giết anh rồi… tim sục sôi… Tất cả mọi người lúc đó đều đã nghe tin đồn anh Nho hi sinh. Họ đều khóc thương tôi. Tôi càng hồn nhiên diễn cảm, mọi người lại càng khóc”.

Thế rồi một hôm, khi 3 chị em trong đoàn tắm dưới suối, chợt nghe cậu “anh nuôi” hét gọi: “Chị Nguyệt, chị Tân ơi, anh Nho về rồi!”. Bà Ánh còn ngạc nhiên hỏi: “Anh Nho về thì làm sao?”. Hai chị ôm chầm lấy vai bà mà khóc: “Bọn tao giấu mày tin đồn anh Nho hi sinh cả tháng nay rồi!”. Lúc đó bà Ánh mới tá hỏa, òa lên, quên cả y phục chạy ra tìm chồng. Chuyện đó lại được đồn, lại thành thơ bút tre. Lính Tây Nguyên ai cũng biết.

“Văn công đi mặt trận có được ưu ái gì không?”-Tôi hỏi. Bà Ánh đáp: “Ưu ái nhiều chứ. Trừ khẩu phần thức ăn, quân trang (nặng khoảng 20kg) thì không phải vác thêm gì nữa. Đôi lúc đến trạm giao liên còn được ngủ lán. Thế là quý rồi, đã hơn bộ đội “thật” rất nhiều rồi”.

Vợ chồng nghệ sĩ Doãn Nho tuổi Thất thập. Ảnh: Đông Hà

Cảm động nhất là những lần gặp đồng hương trên mặt trận. Bà Ánh gặp một “cậu em” hàng xóm, hai chị em ríu rít trao đổi thư từ. Bà bùi ngùi nói: “Cậu ấy tên là Thái, nhà ở 32 Yết Kiêu, trẻ hơn tôi mấy tuổi. Trước khi đi tôi chỉ kịp giúi cho cậu ấy túi đường. Sau đó ít lâu đã nghe tin cậu ấy hi sinh tại mặt trận phía Nam”.

Những năm kháng chiến nghệ sĩ cả nước có một phong trào ra trận. Trong số đó có nhiều người không công tác trong quân đội. Họ ra mặt trận như một nhu cầu tự thân, góp sức phục vụ kháng chiến. Nhiều đoàn nghệ sĩ với chiếc xe đạp, túi bánh mì khô, một tờ giấy giới thiệu lên đường ra vùng “cán chảo”, “túi bom”. Văn nghệ sĩ ra trận đã trở thành nguồn động viên bộ đội, và chính họ đã có nhiều tác phẩm để đời: Nguyễn Trọng Oánh, Nguyễn Thi, Nguyên Ngọc, Huy Thục, Thu Bồn, Hữu Mai, Vương Trọng, Nguyễn Đức Mậu… và còn nhiều tên tuổi lớn nữa… Sau mỗi chuyến đi là sự ra đời của hàng loạt những tác phẩm ca ngợi bộ đội, cổ vũ kháng chiến. Chính có những cuộc ra đi đó mà giờ đây trong nhạc Việt có một dòng nhạc được gọi là “nhạc đỏ”.

Trường hợp các nghệ sĩ trưởng thành trên mặt trận không phải hiếm gặp. Họa sĩ Trần Lê An là chiến sĩ Thành cổ. Ông có năng khiếu mỹ thuật nên được tham gia lớp đào tạo mỹ thuật cấp tốc do cán bộ trung đoàn tổ chức. Hiện ông còn giữ được rất nhiều tranh ký họa về những trận phòng ngự Cửa Tùng, Cửa Việt, Quảng Trị…

Nhiều cuộc triển lãm tranh ký họa chiến trường được tổ chức gần đây của các họa sĩ Huỳnh Phương Đông, Phạm Ngọc Liệu, Giang Khích, Lê Thiếu Nhơn, Đinh Rú, Lê Duy Ứng… đã khắc họa được hào khí của một thời gian khổ nhưng rất oai hùng.

Hào khí sa trường cuốn đi nhiều nghệ sĩ. Bom đạn cũng cướp đi nhiều tài năng: Tô Ngọc Vân, Hoàng Việt, Chu Cẩm Phong, Dương Thị Xuân Quý, Nguyễn Văn Giá…

Xin cảm ơn người nghệ sĩ đã đồng hành cùng bước chân thần tốc của đoàn quân Nam tiến. Họ xứng đáng với danh xưng “Nghệ sĩ-chiến sĩ”!

Bài 2: Những tượng đài kỳ vĩ

Xin cảm ơn những người nghệ sĩ đã cho chúng tôi, những thanh niên sinh ra và lớn lên trong hòa bình được cảm nhận những giây phút hào hùng cả nước ra trận, cả nước nhìn về một hướng.

Tôi như bị ám ảnh bởi những câu thơ Chân trời/ Vực thẳm/ Ba lô sấp mặt/ Gió lặng hành quân/ Xơ tước cánh rừng/ Dốc người dựng ngược” (Trường ca Ngày đang mở sáng-Trần Anh Thái). Quả tình, tôi đã bắt gặp khung cảnh đó trong những câu chuyện mà đêm đêm cha tôi – nghệ sĩ Lê Duy Ứng vẫn rì rầm kể về một thời chiến trận. Cảm nhận thật của ông về chiến tranh là đói, rét, mệt lả, sợ hãi, đêm tối mịt mùng, cái chết cận kề… Giữa đêm tôi giật mình đạp chân. Cha hỏi, tôi đáp rằng mơ bước hụt một nấc thang mây.

Nụ cười Thành cổ. Ảnh: Đoàn Công Tính

Rồi cha tôi kể, ông đã vượt Trường Sơn bằng hình ảnh của những ánh sáng lung linh trong bài Đêm trên Cha Lo của nhạc sĩ Phạm Tuyên. Sau chiến trận, cha tôi đã là thương binh, ánh sáng trong mắt đã mất. Một lần cha tôi được gặp nhạc sĩ Phạm Tuyên. Ông kể với nhạc sĩ: “Ngoài những chớp lửa của đạn pháo trong mắt tôi vẫn còn ánh sáng lung linh trong đêm Cha Lo”. Nhạc sĩ xúc động tặng cha tôi tập sách in nhạc, trong đó có bài Đêm trên Cha Lo.

Tôi nhiều lần được nghe nhạc sĩ Phạm Tuyên kể về hoàn cảnh sáng tác bài Đêm trên Cha Lo. Tôi biết ông đã viết bài hát đó bằng tình cảm rất thật. Chỉ có những người dám đội bom, vượt dốc, băng qua đêm đen giá buốt giữa mịt mùng núi rừng Trường Sơn mới cảm nhận được hơi ấm từ một đốm lửa nhỏ, mới thấy rạng rỡ lung linh ánh sao đêm, ánh sáng từ nụ cười của những em bé Vân Kiều. Tôi bỗng thấy Cha Lo thật gần gũi.

Tôi gặp anh hùng Lê Mã Lương, hỏi vui: “Nhiều người vẫn bảo vì chú mà họ lên đường ra trận đấy”. Anh hùng cười giản dị: “Vẫn có người trách yêu như vậy. Họ nói vì mình mà họ gắn với cuộc đời binh nghiệp. Có người lên cấp tướng, có người thì trở thành thương binh. Nhưng họ đều công nhận rằng đã làm đúng”. Cũng không ít người đã ngã xuống, không một tấm hình, không một dòng địa chỉ!

Hình tượng nghệ thuật lấy cảm hứng từ anh hùng Lê Mã Lương đã được các môn nghệ thuật như sân khấu, hội họa, văn chương, điện ảnh khai thác rất nhiều trong thời chiến. Câu nói bất hủ: “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù” thời ấy đã thôi thúc hàng vạn thanh niên xếp bút nghiên lên đường ra trận. Mới đây thôi, ngài đại sứ Hy Lạp Ha-di-mi-cha-lít khi được nhận món quà là bức tranh cổ động có hình ảnh anh hùng Lê Mã Lương đã bày tỏ sự xúc động đặc biệt khi được gặp nguyên mẫu trong tranh. Ông nói đây là cuộc hội ngộ thật mà ngỡ trong mơ.

Họa sĩ Dương Ánh là người đã vẽ bức tranh cổ động có hình ảnh anh hùng Lê Mã Lương. Hai người gặp nhau lần đầu tiên vào tháng 2 năm 1971. Lần đó anh hùng Lê Mã Lương cùng đoàn anh hùng dũng sĩ miền Nam ra báo cáo tại Hà Nội. Ông kể: “Lúc đến Tạp chí Văn nghệ Quân độitôi rất hồi hộp. Rồi từ hồi hộp chuyển qua xúc động vì có các nhà văn, nhà thơ, nhà báo, họa sĩ nổi tiếng đã ngồi chờ sẵn. Ngày còn đi học mình chỉ biết các nhà văn, nhà thơ qua các bài học trên trong sách. Đâu biết rằng sẽ có ngày được ngồi gần họ đến vậy”. Trong lúc Lê Mã Lương kể lại chuyện chiến trường cho các nhà văn, nhà thơ… thì họa sĩ Dương Ánh đã ký họa rất nhiều.

Bẵng đi sau đó chừng hai tháng, anh hùng Lê Mã Lương lần đầu tiên được thấy hình ảnh của mình trên bức tranh cổ động “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù” trong một hoàn cảnh rất bất ngờ. Đó là lần máy bay Mỹ ném bom kho xăng Đức Giang, khi khói bom tan hết, nhìn sang bên đường vẫn thấy bức tranh đứng vững mà không bị hơi bom hất đổ, ông lặng người đi xúc động, lòng muốn về ngay đơn vị để được chiến đấu với quân thù.

Đại tá, nhà báo Nguyễn Sĩ Bình kể: “Năm 1971, Đoàn TNCS có phong trào học tập những tấm gương như Lê Mã Lương, Lê Thị Hồng Gấm… Chính họ đã cuốn chúng tôi ra mặt trận. Trên chiến trường, hình ảnh họ giúp chúng tôi có thêm nghị lực, giữ niềm tin chiến thắng”.

Tôi đã gặp những cựu chiến binh Thành cổ, và cả những con người chiến thắng trong ngày 30-4-1975, họ đã lạc quan tin tưởng ngày chiến thắng và rồi niềm tin đó đã thành hiện thực.

Tôi lại nhớ đến những nhân vật trữ tình trong văn học giai đoạn kháng chiến chống Mỹ đã được học trong trường phổ thông, như: Núp (Đất nước đứng lên – Nguyên Ngọc), Nguyệt (Mảnh trăng cuối rừng – Nguyễn Minh Châu), T’nú (Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành)… Họ là hiện thân cho một lối sống đầy trách nhiệm với đất nước. Họ có chung một niềm tin giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Tâm hồn họ trong lành, yêu ghét rõ ràng, thủy chung son sắt. Tôi và bao thế hệ thanh niên sinh ra và lớn lên trong hòa bình được hòa mình trong lý tưởng sống cao đẹp.

Cảm ơn những nghệ sĩ – chiến sĩ đã lao động nghệ thuật hết mình, đã cho nền văn học nghệ thuật Việt Nam một giai đoạn văn chương chói ngời, hình ảnh cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ trở thành lý tưởng, là đích đến cho lớp lớp thanh niên, đó cũng là những tượng đài nghệ thuật kỳ vĩ của dân tộc ta trong thế kỷ hai mươi, muôn đời không khuất lấp.

LÊ ĐÔNG HÀ
qdnd.vn

Tháng Tư, niềm trăn trở về nhịp cầu dân tộc

Sau 38 năm chiến tranh kết thúc, cảnh đao binh mịt mù lửa khói giữa thế lực ngoại bang với hai miền Nam – Bắc lùi xa, có rất nhiều người con dòng máu Việt mang giấc mơ năm thứ 38 này là năm cuối cùng sau cuộc chiến không còn ngờ vực, không còn hận thù, mọi nỗi đau đều được chôn chặt trong tâm khảm giữa những người Việt Nam cùng dòng máu Lạc Hồng.

Đã là năm thứ 38, có rất nhiều những hậu quả chiến tranh để lại trên mảnh đất thân yêu đã được toàn dân tộc nỗ lực vượt qua bao khó khăn để xây dựng một Việt Nam mới của hòa bình và phồn thịnh. Nhưng vẫn còn có một nỗi suy tư day dứt mà chúng ta chưa toại nguyện. Vấn đề đó ngày đêm vẫn giày vò những người Việt Nam yêu nước chân chính đang sống ở hải ngoại: Hoà hợp – hoà giải lòng người.

Sau cái ngày rời đất Mẹ ra đi, biết bao nỗi cực nhọc phải vượt qua trên đất khách quê người, chăm chỉ, nhẫn nại – đức tính mà Mẹ Việt đã truyền lại cho chúng con mỗi khi đương đầu với sóng gió. Ôi! Mẹ Việt Nam ơi, hãy ôm tất cả chúng con vào lòng, dù mẹ nghèo nhưng mẹ có trái tim nhân hậu bao la. Có bao giờ Mẹ ruồng bỏ những đứa con mà Mẹ dứt ruột đẻ ra, chỉ có chúng con có những lúc chối từ tình thương của mẹ.

Các thế hệ, từ những người đã từng trực tiếp hay gián tiếp tham gia các cuộc chiến giành độc lập của dân tộc, đến những người chưa từng trải qua chiến tranh đều đang cùng nhau đánh giá, phân tích để tôn vinh sự hy sinh cống hiến to lớn của các thế hệ trước trong cuộc chiến tranh vệ quốc, rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm ngăn chặn chiến tranh đe dọa cuộc sống hòa bình.

Dân tộc Việt Nam đoàn kết một lòng, xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, khắc phục những hậu quả nặng nề của chiến tranh. Vậy mà tiếc thay! Còn một số người không những vẫn hằn học hoặc cay cú với quá khứ, tiếp tục bằng mọi cách chống phá, bôi nhọ, xúc phạm sự hy sinh to lớn của dân tộc, tiếp tục chia rẽ, ngăn cản tiến trình phát triển của đất nước.

Họ núp dưới con bài “tự do, dân chủ, nhân quyền, tôn giáo” để đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập gây chia rẽ dân tộc, cản trở tiến trình hoà giải hoà hợp dân tộc mà đó là tính nhân văn của cha ông từ ngàn xưa để lại.

Xe tăng Quân giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975. Ảnh: tư liệu.

Một số nhóm chống Cộng cực đoan ở hải ngoại thường tổ chức “ngày quốc hận” để hoài niệm một chế độ ở miền Nam Việt Nam đã đi vào quá khứ, hoài niệm thời kỳ đất nước bị chia cắt, tìm cách bôi nhọ những gì tốt đẹp đang diễn ra ở Việt Nam. Hành động như vậy, họ đã tự hạ thấp chính họ, hạ thấp dân tộc Việt Nam và coi thường mối quan hệ ngoại giao tốt đẹp của nhân dân Việt Nam với các nước trên thế giới. Đặc biệt là mối quan hệ với cựu thù là nước Mỹ, khi mà Việt Nam và Mỹ đã công nhận nhau, có quan hệ chính thức với nhau và mối quan hệ hợp tác Việt – Mỹ đang ngày càng phát triển, sự phát triển mà có nhiều người nói rằng “không ngờ ” nhanh và tốt đẹp đến như vậy.

Năm thứ 38 sau cuộc chiến, những đau thương mất mát, những vết thương còn chưa lành hết, những hậu quả do chiến tranh gây ra, có một số người họ đưa ra những đánh giá, nhận xét thiếu khách quan, thậm chí đầy tính kích động và xuyên tạc. Họ thẳng thừng tuyên bố: “ngày 30/4 là ngày toàn thắng của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng là ngày thua của toàn dân tộc”.

Không thể nói lạc điệu như thế! Qua đó chúng ta nhận thấy rằng nỗi thù hận chưa tan nguôi, các tác giả các bài viết thường sử dụng những hiểu biết cũ rích, lạc hậu và lặp đi lặp lại những điều đã nói lâu nay. Họ đã bỏ qua thực tế những gì đang diễn ra trong nước, cố tình nói xấu bôi nhọ để lôi kéo những người chống đối. Tuy nhiên, trong thời đại thông tin được phổ cập và phát triển như vũ bão, khó có thể lừa được tất cả mọi người.

Chỉ có trở về dân tộc, đó chính là sự trở về với nhau với thời gian không còn nhiều của những con người Việt Nam bị xé ra từng mảnh bởi cuộc chiến tranh tàn khốc đã qua. Đã là năm thứ 38, chúng ta đã có đủ thời gian và trí tuệ để suy ngẫm về nỗi đau chia cắt lòng người. Và đối với tất cả những ai yêu dân tộc này bằng máu chảy trong trái tim mình đều nhận ra nỗi đau chia cắt nhiều lúc đến phi lý ấy.

Trong khoảng thời gian từ sau ngày 30/4/1975 đến nay ở hải ngoại, nhiều nỗi đau đã nguôi ngoai, nhiều vết thương đã lành lặn, nhiều nghi ngờ đã biến mất, nhiều sự thù hận đã chìm sâu, có biết bao người Việt Nam xa xứ đã trở về và cất tiếng nói về dân tộc mình, một dân tộc với truyền thống của tình thương yêu vô bờ bến, một dân tộc trong mọi hoạn nạn không rời bỏ nhau, một dân tộc đầy lòng vị tha, đầy lòng nhân từ bác ái ngay cả với kẻ thù của mình… Họ đã trở về trong vòng tay mẹ.

Có biết bao người Mỹ đã từng xuống đường biểu tình phản đối chiến tranh, đòi chính phủ phải cho con em họ ra khỏi cuộc chiến tranh phi nghĩa. Cuộc chiến tranh kết thúc vào ngày 30/4/1975 để có một nước Việt Nam như ngày hôm nay, máu của dân tộc Việt thấm đẫm từng thước đất. Cái giá phải trả quá lớn. Vậy mà những người chống đối vẫn coi Ngày Chiến thắng đó là “ngày quốc hận”. Phải chăng, như thế chính họ đã tự loại mình ra khỏi cộng đồng dân tộc Việt Nam, tự mình đứng ngoài sự trỗi dậy của dân tộc.

Sau chiến tranh, có rất nhiều lính Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam đã và đang trở lại chiến trường xưa sám hối về những tội ác mà họ gây ra, để lòng họ được thanh thản. Lòng vị tha của con người Việt Nam, lịch sử, văn hóa đặc sắc của dân tộc Việt Nam đang thu hút ngày càng nhiều người nước ngoài đến với Việt Nam, trong đó có các cựu binh Mỹ.

Có sai lầm hay không khi có những người Mỹ và nhiều nước khác tự nguyện đến với Việt Nam, coi Việt Nam hôm nay là một phần để gắn bó cuộc đời? Có sai lầm hay không khi những người nước ngoài xin được nhập quốc tịch Việt Nam hoặc nguyện ước được an táng tro cốt của mình sau khi qua đời vì kính trọng và yêu mến Việt Nam? Và có sai lầm hay không khi những tập đoàn, công ty của nước ngoài tự nguyện đến Việt Nam đầu tư, kinh doanh, làm bạn với Việt Nam? Chắc chắn là không!

Tất cả những người Việt Nam yêu đất nước, yêu dân tộc mình phải thấy đó là một điều hổ thẹn. Tại sao đã qua 38 năm mà chúng ta vẫn còn lại trong lòng mình những điều phi lý ấy. Những trai thanh nữ tú người Việt Nam sinh năm 1975 lớn lên đồng hành cùng dân tộc sống và học tập trong thời bình. Thế hệ những người đó sẽ trở thành những người ông và bà trong vài năm nữa thôi. Vậy mà cho đến lúc này, chúng ta vẫn còn đứng một phía nhìn nhau như những kẻ xa lạ và như không thể đến bên nhau. Lịch sử sẽ ghi lại nỗi đau buồn ấy của chúng ta, những người Việt ở Mỹ. Và đến một ngày nào đó trong tương lai, những thế hệ tiếp theo sẽ đặt câu hỏi về một giai đoạn lịch sử của chúng ta.

Và lúc này, sau 38 năm chiến tranh kết thúc, có rất nhiều người mang giấc mơ năm thứ 38 này là năm cuối cùng sau cuộc chiến, không còn hận thù giữa những người Việt Nam cùng dòng máu tổ tiên. Giấc mơ ấy thật giản dị và đủ lý do để trở thành hiện thực. Nhưng nếu chúng ta không vì đất nước, không vì dân tộc mình thì có thể chúng ta đi cả một nghìn năm nữa cũng không bao giờ chạm tay vào được.

Cả hai bên phải có thiện ý, trung thực để hoá giải sự ngờ vực và lòng thù hận, nếu chỉ một bên thôi thì hỏi đến bao giờ?

Hãy trở về cùng nhau và làm cho dân tộc này không phải hổ thẹn với con cháu sau này. Mỗi người Việt Nam yêu nước chân chính hãy cất tiếng về ước mơ lớn đó của dân tộc mình và hãy tìm ra một con đường nhân văn nhất để dân tộc ta tới được ước mơ đó. Đây không phải là một lời kêu gọi, đây chỉ là nỗi giày vò nhiều đau đớn và ngập tràn niềm tin của khát vọng của tất cả những người Việt Nam.

Để kết thúc bài này tôi mượn ý câu nói của nhà ngoại giao kỳ cựu Việt Nam Võ Văn Sung: “Nếu ai đó trong chúng ta dù từng đứng từ phía nào mà vẫn nuôi lòng thù hận, cản trở hòa hợp dân tộc thì sẽ dần trở nên lạc lõng và thật sự có tội với tương lai của chính con cháu mình”.

Viết tại Houston TX, Hoa Kỳ 4/2013

Amari TX- Việt kiều Mỹ
cand.com.vn

Trần Mai Hạnh và ký ức tháng 4

(VOV) – Mỗi khi nhớ về những giờ phút lịch sử trưa 30/4/1975 ở Dinh Độc lập tôi lại nghĩ về đêm 29/4, đêm cuối cùng của chiến tranh.

Buổi thời sự đặc biệt trưa 1/5/1975, Đài TNVN đọc trang trọng bài tường thuật đầu tiên của báo chí Việt Nam về giờ phút lịch sử giải phóng Sài Gòn trưa 30/4/1975 với đầu đề “Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng” của đặc phái viên Việt Nam Thông tấn xã Trần Mai Hạnh từ Sài Gòn điện ra, bài báo đồng thời được đăng trên Báo Nhân dân với đầu đề “Tiến vào Phủ tổng thống Ngụy”.

Như một cơ duyên, 21 năm sau (1996) nhà báo Trần Mai Hạnh trở thành Tổng Giám đốc Đài TNVN. Sáu năm may mắn làm việc dưới quyền ông, gặp lại ông giữa những ngày tháng Tư trong cuộc trò chuyện cởi mở, chân tình tôi đã hỏi ông nhiều điều mà dư luận quan tâm.

Tổng Giám đốc TTXVN Đào Tùng (giữa) cùng hai nhà báo Trần Mai Hạnh (phải) và Văn Bảo tại cửa rừng Tây Ninh sáng sớm 29/4/1975.

Hơn một thập kỷ, kể từ “tai họa” nghề nghiệp kinh hoàng với bao hệ lụy phải gánh chịu, đây là lần đầu tiên ông tiếp xúc và trả lời phỏng vấn của một nhà báo. Được sự đồng ý của ông, nhân dịp kỷ niệm 38 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2013) xin chuyển đến bạn đọc cuộc trò chuyện này…

** Đầu tiên xin hỏi, giờ phút lịch sử giải phóng Sài Gòn trưa 30/4/1975 may mắn được chứng kiến và bài báo được viết ngay tại Sài Gòn vào thời khắc lịch sử ấy giữ vị trí thế nào trong đời sống tâm hồn ông?

– Đã 38 năm. Bao sự kiện diễn ra, bao biến cố đã đến với mỗi cuộc đời trong quãng thời gian không ngắn ấy. Riêng với tôi, không chỉ có những giây phút vinh quang và thời khắc huy hoàng được chứng kiến, mà còn có cả những “tai họa”, những bi thảm tột cùng phải gánh chịu. Trong những thời điểm khắc nghiệt của số phận khi vướng vòng lao lý, chính thời khắc huy hoàng trưa 30/4/1975 được chứng kiến và bài tường thuật đầu tiên của tôi về phút giây lịch sử tại Dinh Độc Lập đã giúp tôi bình tâm lại, giúp tôi đứng vững với niềm tin không gì lay chuyển về lý tưởng cao đẹp của người cộng sản mà mình đã theo đuổi để tiếp tục sống có ý nghĩa trong cuộc đời này.

** Hình ảnh đậm nét nhất trong tâm trí ông khi hồi ức về thời khắc lịch sử huy hoàng 30/4/1975 là gì?

– Mỗi khi nhớ về những giờ phút lịch sử trưa 30/4/1975 ở Dinh Độc lập mà tôi may mắn có mặt, không hiểu sao, bao giờ hình ảnh đầu tiên hiện lên trong ký ức tôi cũng là khung cảnh đêm 29/4, đêm cuối cùng của chiến tranh.

Khi tôi cột xong chiếc võng dù ở bãi trú quân dã chiến trên đường từ Tây Ninh về, ngay trước cửa ngõ Sài Gòn thì đã gần 12 giờ đêm. Tôi và anh Văn Bảo, phóng viên nhiếp ảnh của Việt Nam Thông tấn xã bị bỏ lại quá xa vì xe máy thủng lốp, không tìm đâu ra chỗ vá săm.

Cả nghìn cây số dọc đường chiến tranh, bom rơi đạn nổ, bao hiểm nguy rình rập, bao tình huống tưởng không thể khắc phục rồi cũng vượt qua. Chúng tôi đã từng chạy bộ đẩy xe cả chục cây số dưới trời trưa nắng như đổ lửa để giúp lái xe vượt qua những trảng cát ngút ngàn. Chúng tôi đã từng vào làng mượn thuyền của dân buộc ghép lại thành chiếc phà tự tạo có một không hai, cho ô tô bò lên rồi bơi đẩy cả thuyền và xe chòng chành vượt sông khi cầu bị địch phá hủy.

Chúng tôi từng hút chết giữa đêm trên “đường số 7 kinh hoàng” ngổn ngang xác địch rút chạy từ Tây Nguyên về đồng bằng, khi quả bom sót lại bên đường phát nổ, khói bụi trùm phủ tất cả.

Chúng tôi đã có những giờ phút cực kỳ hoành tráng khi các chiến sĩ pháo binh bất ngờ đón bằng xe bộ đàm đi trước, xe tiểu đội bảo vệ súng đạn đầy mình đi ngay phía trước và phía sau hai chiếc U-oát của chúng tôi. Các chiến sĩ đã đón nhầm anh Đào Tùng, Tổng Giám đốc Thông tấn xã vì cứ ngờ anh là Trung tướng Doãn Tuế, Tư lệnh pháo binh của mình…

Đêm cuối cùng của chiến tranh, tôi đã ở ngay cửa ngõ Sài Gòn. Mặt đất ầm vang tiếng rền của đủ loại vũ khí. Tiếng súng liên thanh rộ lên phía Trảng Bàng, Tây Ninh. Tiếng trọng pháo gầm, chớp lửa rực sáng bầu trời hướng đông nam trước mặt. Nơi đấy là Sài Gòn. Chúng tôi được lệnh sáng mai sẽ bám theo các binh đoàn chủ lực tiến thẳng vào Sài Gòn trong trận đánh cuối cùng. Ai trong số hàng trăm phóng viên các cơ quan thông tấn báo chí may mắn có mặt đầu tiên để bấm máy và viết bài tường thuật về Sài Gòn trong những phút giây lịch sử? Tôi thao thức, xúc động và hy vọng…

Như vậy, ông may mắn được tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử từ đầu với tư cách là đặc phái viên của Việt Nam Thông tấn xã?

Tôi đi trong đoàn công tác đặc biệt của Việt Nam Thông tấn xã được thành lập ngay sau chiến thắng Buôn Mê Thuột do đích thân Tổng Giám đốc Đào Tùng dẫn đầu. Đoàn rời Hà Nội sáng ngày 2/4/1975, sau các mũi phóng viên đã xuất phát trước đó một tuần, trên 2 chiếc xe U-oát của Liên Xô mới tinh, màu nòng súng. Trước giờ xe nổ máy, ông Đỗ Phượng, Phó Tổng Giám đốc Việt Nam Thông tấn xã, người trực tiếp tuyển chọn, ký quyết định cử tôi đi trong đoàn anh Đào Tùng, xiết chặt tay tôi dặn dò: “Mai Hạnh cố gắng dọc đường viết thật nhiều tin, bài gửi về. Nhưng cố gắng viết được bài tường thuật đầu tiên về giờ phút lịch sử trọng đại của dân tộc, mà tôi tin rằng sẽ không còn xa nữa”.

Bài tường thuật đầu tiên ông viết, “ra đời” như thế nào?

5 giờ sáng ngày 30/4, lệnh lên đường, bằng mọi cách vượt lên bám sát các lữ đoàn xe tăng tiến thẳng vào Dinh Độc Lập. Xe máy tăng ga, đồng hồ báo tới 50km/giờ. Văn Bảo đèo tôi vượt lên dòng thác người và xe cộ nườm nượp trên đường…

Khoảng 11 giờ 45 phút trưa 30/4, tôi tới được Dinh Độc Lập. Sự kiện lịch sử vừa diễn ra. Cờ chiến thắng vừa được cắm trên nóc Dinh Độc Lập. Trần Mai Hưởng em ruột tôi, Vũ Tạo, Ngọc Đản, Hoàng Thiểm, Đinh Quang Thành… đi theo Sư đoàn 304 và Lữ đoàn xe tăng 203 của Quân đoàn 2 đã có mặt trước chúng tôi ít phút, các anh đã kịp ghi lại nhiều hình ảnh về những phút giây lịch sử, trong đó có bức ảnh “xe tăng Quân Giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập 30/4/1975” Trần Mai Hưởng chụp, được sử dụng rộng rãi như một trong những biểu tượng của ngày chiến thắng. Tôi tìm hiểu ngay các dữ kiện không thể thiếu của bài tường thuật: Mấy giờ chiếc xe tăng đầu tiên húc tung cánh cửa chính Dinh Độc Lập? Mấy giờ cờ chiến thắng được cắm trên nóc Dinh Độc Lập? Chiến sĩ cắm cờ tên là gì? Tổng thống Ngụy quyền Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng như thế nào, ta tuyên bố chiến thắng như thế nào?… rồi lao lên ngay tầng 2. Toàn bộ nội các của chính quyền Sài Gòn vừa tuyên bố đầu hàng còn ngồi ở đó. Tôi lập tức hỏi và ghi lại cuộc đối thoại lịch sử giữa Tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh và cán bộ chỉ huy Quân Giải phóng đánh chiếm Dinh Độc Lập (sau này tôi được biết đó là đại úy Phạm Xuân Thệ, Trung đoàn phó Trung đoàn 66 của Quân đoàn 2 cùng với Lữ đoàn xe tăng 203 của quân đoàn được lệnh đột kích, thọc sâu đánh chiếm Dinh Độc Lập)… Sau khi viết xong bài tường thuật, tôi loay hoay không biết chuyển về Hà Nội bằng cách nào, cứ loanh quanh ở Viết tấn xã nóng chờ xe chở điện đài và các điện báo viên của Thông tấn xã Giải phóng. Mãi chiều tối các anh mới tới. Sau khi các điện báo viên tìm chỗ đặt  máy, căng ăng-ten bắt được liên lạc, tôi liền đưa bài tường thuật để các đồng chí điện về, không phải điện về Hà Nội mà là điện về trụ sở Thông tấn xã Giải phóng trên rừng Tây Ninh.

Sau này tôi được biết, tối đó anh Phạm Vỵ, cán Phòng thư ký Bộ biên tập cùng đi trong đoàn đã trực canh điện đài, xé từng đoạn bài tường thuật của tôi đang được điện về để anh Đào Tùng duyệt lại trước khi điện báo viên dung điện đài công suất lớn điện tiếp về Hà Nội. Vì điện báo viên phải đánh móoc từng chữ, chữ “a”, chữ “b”, chữ “c”… nên rất mất thì giờ. Bài tường thuật được đăng trên bản tin Đấu tranh thống nhất của Việt Nam Thông tấn xã phát báo ngay trong đêm 30/4 cũng với đầu đề “Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng”, nhưng do quá khuya nên Báo Nhân dân ra sáng 1/5 không đăng kịp. Báo Nhân dân ngày 2/5/1975 đã đăng toàn văn bài tường thuật này nhưng đặt lại đầu đề là “Tiến vào Phủ Tổng thống ngụy”.

Ông ký tên thế nào dưới bài tường thuật?

Như những tin, bài viết cho Việt Nam Thông tấn xã, theo quy định, tôi chỉ ghi hai chữ: “Mai Hạnh” ở cuối bài. Nhưng khi trực tiếp duyệt lại, trước khi điện chuyển tiếp về Hà Nội, Tổng Giám đốc Đào Tùng đã ghi rõ ngay dưới tít bài báo: Bài của Trần Mai Hạnh, phóng viên Việt Nam Thông tấn xã tại Sài Gòn. Vì vậy, bài đọc trên Đài TNVN cũng như đăng trên Báo Nhân dân đều ghi tên tác giả đầy đủ như vậy.

Sau khi điện báo viên chuyển bài tường thuật, ông làm gì?

Tối 30/4/1975, sau khi điện được bài tường thuật về Hà Nội, trên chiếc com-măng-ca cắm cờ giải phóng tôi đi khắp Sài Gòn. Tôi cứ trên ô tô đi hết đường này tới khu khác, say sưa ngắm Sài Gòn trong đêm đầu tiên nguyên vẹn trở về. Khi về tới trụ sở Việt tấn xã thì đã quá nửa đêm. Sáng sớm 1/5, việc đầu tiên tôi làm và kết quả thật nhanh chóng. Đó là “Giấy công tác đặc biệt” của Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn – Gia Định cấp, cho phép tôi với tư cách phóng viên được phép hoạt động nghiệp vụ trên toàn thành phố và yêu cầu các đơn vị và chính quyền các cấp giúp đỡ tôi hoàn thành nhiệm vụ. “Giấy công tác đặc biệt” ghi cả số khẩu sung ngắn K54 mà tôi được cấp từ Hà Nội. Đó có lẽ là chiếc “thẻ nhà báo” đầu tiên được chính quyền cách mạng (Ủy ban Quân Quản thành phố Sài Gòn – Gia Định) cấp tại Sài Gòn trong buổi bình minh của lịch sử thành phố.

Trong lúc tôi xin “Giấy công tác đặc biệt”, thì theo chỉ thị của anh Đào Tùng, anh Văn Bảo đã kiếm được địa điểm làm trụ sở cho Phân viện Việt Nam Thông tấn xã tại Sài Gòn. Anh cắm cờ Mặt trận vào cổng ngôi nhà đó và kiếm miếng bìa treo lên với dòng chữ viết tay của anh: “Cơ quan Việt Nam Thông tấn xã tại Sài Gòn”. Nhờ biết lái ô tô, anh Văn Bảo đánh mấy chiếc ô tô cực xịn vứt bỏ quanh khu vực Dinh Độc Lập, trong đó có chiếc xe Zep mới tinh, màu trắng chuyên làm nhiệm vụ hộ tống “Tổng thống” ngụy về ngôi biệt thự mà anh vừa kiếm được và nhanh chóng “tuyên bố chủ quyền”. Cũng tại đây, ngày 1/5, tôi đã gửi một bức điện về căn cứ Thông tấn xã Giải phóng trên rừng Tây Ninh báo cáo công việc với anh Đào Tùng.

Mới 32 tuổi ông đã chứng kiến và viết bài tường thuật đầu tiên về giờ phút lịch sử trưa 30/4/1975 ở Dinh Độc Lập, ngay sáng hôm sau đã nghĩ tới việc xin “Giấy công tác đặc biệt” của Ủy ban Quân quản, rồi kiếm trụ sở và ngay chiều 1/5/1975 đã điện đi từ Sài Gòn bức điện cũng rất đặc biệt. Ông có còn lưu và có thể cho biết nội dung bức điện đó?

Bức điện này, anh Phạm Vỵ, cán bộ Phòng thư ký Bộ biên tập Việt Nam Thông tấn xã cùng đi trong đoàn được “Điện anh Hai Đào Tùng. Báo cáo anh đã tìm được trụ sở ở 126 Phan Đình Phùng và xin được 3 xe ôtô. Đề nghị anh cho anh Phạm Vỵ (thư ký) và các anh Vĩnh, Sửu (lái xe) xuống ngay, sớm giờ nào hay giờ ấy. Cánh Lâm Hồng Long, Hứa Kiểm… về ở cả đây nên sinh hoạt, kinh phí có nhiều khó khăn. Đề nghị anh cho chỉ thị gấp. Nếu anh không xuống được trong 1,2 ngày tới thì xin anh có thư trao đổi với anh Năm Xuân. Sài Gòn 1/5/1975. Mai Hạnh”.

Ông biết bài tường thuật của mình được báo, đài sử dụng thời điểm nào, và trong bối cảnh nào?

Trưa 1/5/1975, tôi và Văn Bảo với chiếc đài bán dẫn mang theo, đang trên ô tô giữa đường phố Sài Gòn sôi động, nườm nượp dòng người của ngày hội lớn thì nghe được buổi thời sự đặc biệt của Đài TNVN. Sau bản tin đặc biệt của Thông tấn xã Giải phóng: “từ sáng 1/5/1975, toàn bộ miền Nam nước ta đã hoàn toàn giải phóng”, Đài đã đọc trang trọng bài tường thuật “Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng” của tôi. Âm thanh radio được mở hết cỡ, bài tường thuật vang lên giữa biển người và cờ hoa chào đón của Sài Gòn giữa trưa nắng đẹp chan hòa của ngày Quốc tế Lao động 1/5 đầu tiên đất nước thống nhất.

Sau giải phóng, ông ở lại Sài Gòn bao lâu?

Chỉ hơn một tháng, ngày 6/6/1975, tôi đã tạm biệt Sài Gòn về Hà Nội.

Thời điểm ấy mọi người háo hức tìm cách vào Sài Gòn, chuyển hẳn gia đình vào đó sinh sống, sao ông lại vội vã ra Hà Nội?

Phân xã Việt Nam Thông tấn xã tại Sài Gòn được thành lập ngay sau ngày giải phóng. Anh Phạm Vỵ cùng đi trong đoàn anh Đào Tùng với tôi được cử làm Trưởng phân xã. Tôi và Trần Mai Hưởng, em ruột, cùng là phóng viên Việt Nam Thông tấn xã, cùng tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, cùng có mặt tại Dinh Độc Lập trưa 30/4/1975 nên Bộ biên tập quyết định Mai Hưởng khi đó mới 24 tuổi, chưa lập gia đình, ở lại làm phóng viên Phân xã Việt Nam Thông tấn xã tại Sài Gòn, còn tôi ra nhận nhiệm vụ mới ở Tổng xã Hà Nội.

Ông trở ra Hà Nội bằng đường không hay đường bộ? Chuyến đi có gì đáng nhớ?

Không, tôi trở ra bằng đường biển, trên tàu Đồng Nai, và đó là chuyến tàu biển đầu tiên chạy từ cảng Sài Gòn ra cảng Hải Phòng. Sở dĩ ra đường biển vì khi đó anh Đào Tùng muốn chở chiếc xe Zeep màu trắng, mới tinh của phủ “Tổng thống” ngụy mà anh Văn Bảo thu được về Hà Nội vừa để phục vụ cơ quan vừa lưu lại một kỷ vật đáng nhớ của chiến dịch lịch sử này. Mọi thủ tục an ninh và hải quan tại Thương cảng Sài Gòn đã hoàn tất, nhưng trong văn bản cuối cùng xác nhận những thiết bị, phương tiện tôi được phép mang theo do Phó Chánh Văn phòng Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn – Gia Định Phạm Kim Thảo ký ngày 30/5/1975, chiếc xe Zeep bị gạch khỏi danh mục. Những giấy tờ liên quan ngày ấy, hiện tôi vẫn lưu giữ. Trong bản kê khai hải quan đồ dùng cá nhân của tôi ngày ấy ghi rõ và chi tiết đến mức: “1 đài bán dẫn HITACHI, 1 máy ghi âm SONY, 1 máy chữ xách tay ROYAL, 2 áo trẻ con, 4 quần lót phụ nữ…”. Hồ sơ, tài liệu thu thập được trong chiến dịch, trong đó có cả nghìn lá thư để đầy một ba lô.

Ông có thể nói thêm về chiếc máy chữ và tài liệu thu thập được trong chiến dịch?

Đó là chiếc máy chữ xách tay xinh xắn còn mới nguyên, hiệu ROYAL của Mỹ tại Văn phòng Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn tôi đã dùng để đánh tin, bài những ngày ấy, kể cả việc giúp Tổng Giám đốc Đào Tùng khởi thảo Diễn văn khai mạc và bế mạc của Thượng tướng Trần Văn Trà, Chủ tịch Ủy ban Quân quán thành phố Sài Gòn – Gia Định đọc tại Lễ mít tinh và diễu binh lịch sử mừng chiến thắng ngày 15/5/1975 tại Sài Gòn. Ngày ấy, máy chữ xách tay cực hiếm và là mơ ước của những người làm báo, viết văn. Giấy chứng nhận của Bộ biên tập Việt Nam Thông tấn xã cho phép tôi mang ra Hà Nội và sử dụng chiếc máy ROYAL, số máy NC 8053843 tôi còn giữ, nhưng chiếc máy chữ hiện không còn. Nguyên do năm 1981, do hàng xóm bất cẩn làm can xăng hơn 20 lít bốc cháy, hỏa hoạn thiêu rụi nhà tôi, đồ đạc cháy sạch, trong đó có cả bản thảo tôi viết tay bài tường thuật đầu tiên hoàn thành lúc 14 giờ chiều 30/4/1975 và hơn 1000 lá thư của binh lính Sài Gòn và nhiều gia đình trong các thành thị miền Nam viết ngay trong những ngày đó mà suốt chặng đường chiến dịch bám sát các binh đoàn chủ lực từ Huế vào tận Sài Gòn tôi đã sục sạo, thu thập được. Họa vô đơn chí, đúng lúc ấy vợ chồng tôi mất cắp cả hai chiếc xe đạp, tôi đành bán chiếc máy chữ ROYAl kỷ vật của mình mà chỉ đủ tiền mua chiếc xe đạp Thống Nhất.

Tài liệu thu thập, chỉ riêng những bức thư tên thật, người thật phản ảnh cả nghìn số phận, tâm trạng thật của con người trước một biến cố trọng đại của lịch sử, nếu không bị thiêu cháy thì tập hợp, chọn lọc và biên tập đã được một cuốn tiểu thuyết giá trị. Một số tác phẩm văn học của tôi đã xuất bản: “Tình yêu và án tử hình” (NXB Thanh niên), “Sụp đổ và tự thú”, “Ngày tận thế” (NXB QĐND). Cuốn tiểu thuyết tư liệu lịch sử “Những ngày cuối cùng của Việt Nam cộng hòa” tôi đã cơ bản hoàn thành, năm 2000, được báo Văn nghệ đăng nhiều kỳ và Đài TNVN đọc dài kỳ trên chương trình đọc truyện đêm khuya. Lẽ ra cuốn sách được xuất bản từ năm 2002, nhưng không may ở thời điểm đó, tôi bị vướng vào vòng lao lý, chương cuối cùng chưa xong, chưa kịp nộp nhà xuất bản theo hợp đồng, đành gác lại.

Hai anh em ruột cùng là phóng viên Việt Nam Thông tấn xã tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, ông từng đảm nhiệm chức vụ Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Hội Nhà báo Việt Nam, Tổng Giám đốc Đài TNVN, Trần Mai Hưởng em ruột ông trước khi nghỉ hưu là Tổng Giám đốc TTXVN – hãng thông tấn chiến lược của Nhà nước. Nghề báo mang lại cho ông và gia đình nhiều vinh quang?

Nhiều vinh quang nhưng cũng không ít cay đắng. Sau “tai họa” năm 2002, trong những cuộc gặp mặt, giao lưu với các phóng viên từng tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, ngoài lời kể của anh Văn Bảo về chuyến đi của hai anh em tôi, không ai nhắc đến số phận của bài tường thuật đầu tiên về những giờ phút trọng đại vào trưa 30/4/1975 ở Dinh Độc Lập nữa. Nhân tình, thế thái và xã hội đã nhiều đổi thay. Có những thời điểm, con người không chỉ cần phải im lặng mà còn cần phải biết cách im lặng thế nào, và có những điều phải im lặng đến suốt đời.

Gần đây, trong bài viết của mình, một Tổng Biên tập công khai bày tỏ sự trân trọng và ngưỡng mộ về tài năng viết báo cũng như làm báo của ông và nói từ lâu nung nấu ý định viết về ông. Nhưng chưa thấy bài báo đó?

Tôi rất cảm động cảm ơn đồng chí Tổng Biên tập đó, nhưng nghĩ rằng cần phải biết chờ đợi thêm nữa.

Như vậy, đây là lần đầu tiên ông trả lời phỏng vấn báo chí?

Đúng vậy, mười năm qua tôi lặng lẽ sống, làm việc với chức phận và tâm thế của một cán bộ hưu trí.

Ông vẫn viết báo, viết văn?

Sau tai họa 2002, tôi viết báo với bút danh Trần Nhật Thi. Nhiều bài được dư luận quan tâm: “Day dứt chuyện Nông trường Sông Hậu” (Lao Động); “Nụ cười, nước mắt nông dân”, “Cảm động một dòng chảy thong tin”, “Hãy xử sự vì lợi ích xã hội” và nhiều bài khác trên Báo Tiếng nói Việt Nam, nay là Báo VOV… Tên “Trần Mai Hạnh” ký dưới các bài báo và sáng tác văn học được tôi dùng lại từ 2010.

Trải nhiều sóng gió thăm trầm, điều ông chiêm nghiệm là gì?

Cái còn lại mãi mãi là sự tử tế và tình người. Giữa những ngày Tháng Tư, lại ngồi trò chuyện với anh về thời khắc huy hoàng 38 năm trước, tôi không khỏi bùi ngùi. Anh Đào Tùng, thủ trưởng kính mến của tôi, anh Văn Bảo, anh Lâm Hồng Phong, anh Lam Thanh và nhiều phóng viên Việt Nam Thông tấn xã từng cùng tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 nay không còn nữa. Con gái đầu lòng mới 2 tuổi khi tiễn tôi đi chiến dịch ngày ấy, giờ đã là một nữ nhà báo trưởng thành được Chủ tịch nước gửi Thư khen và được vinh danh “Công dân Thủ đô ưu tú” nhân Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Vợ tôi khi ấy là một nữ sinh văn khoa Hà Nội mới ra trường, nay đã là cô giáo về hưu, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Thời gian trôi chảy, tàn phai, không ai níu kéo mãi được. Những sự kiện lịch sử chỉ diễn ra một lần, cũng như đời mỗi con người chỉ sống có một lần. Nhưng để hiểu hết chân giá trị của lịch sử, để hiểu đúng một con người lại cần có thời gian, nhiều khi không thể chỉ đánh giá một lần. Lịch sử và cuộc sống luôn là một dòng chảy liên tục, bất tận. Trong cuộc sống hiện tại ngày hôm nay có nền tảng và những giá trị tinh thần vô giá của quá khứ, đồng thời nó cũng chứa đựng mầm mống và sức sống mãnh liệt của tương lai…

Ông có thể nói đôi lời về “tai họa” đã qua, cũng như về Báo Tiếng nói Việt Nam năm nay tròn 15 tuổi mà ông là người sáng lập?

Xin anh vui lòng để câu chuyện này tới một dịp thích hợp khác.

TTXVN gắn bó với đời làm báo của ông. Kỷ niệm nào sâu nặng nhất, thưa ông?

30 năm gắn bó, kể từ ngày rời mái trường Đại học Tổng hợp văn, TTXVN với tôi có quá nhiều kỷ niệm. Trong Lời cuối cuốn tiểu thuyết lịch sử “Những ngày cuối cùng của Việt Nam cộng hòa” đã hoàn thành đăng Báo Nhà báo & Công luận tháng 4/2011, tôi đã bày tỏ tới cố Tổng Giám đốc TTXVN Đào Tùng và nguyên Tổng Giám đốc TTXVN Đỗ Phượng – thủ trưởng kính mến trực tiếp, vừa là người anh vừa là người thầy trong nghề báo của tôi, lòng biết ơn sâu sắc nhất. Tháng 7/2011, khi tìm lại được Giấy giới thiệu sinh hoạt Đảng và Giấy giới thiệu công tác của tôi do đích thân đồng chí Hồ Hữu Phước, Bí thư Đặc khu ủy Quảng Nam – Đà Nẵng ký ngày 7/12/1969 gửi Bộ Biên tập Việt Nam Thông tấn xã được lưu giữ và bảo quản vĩnh viễn tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia III, tôi đã chạy thẳng tới báo cáo ông Đỗ Phượng và ông Đinh Trọng Quyền, Bí thư Chi bộ Đảng Tổ phóng viên Việt Nam Thông tấn xã tại chiến trường Quảng Đà thời ấy. Ông Quyền là người giới thiệu và đọc quyết định kết nạp tôi vào Đảng. Ông Đỗ Phượng, ông Đinh Trọng Quyền đã ôm tôi rất chặt, những giọt nước mắt tôi tưởng mình không bao giờ khóc được nữa đã lặng lẽ rơi.

Ông có thể nói kỹ hơn về câu chuyện đáng quan tâm này?

Trong bài “Máu và nước mắt còn đây” đăng trên Báo Văn nghệ tháng 9/2012, được Đài TNVN phát lại và Báo Nhà báo & Công luận giới thiệu trong mục “Bài báo được dư luận quan tâm”, tôi đã viết về câu chuyện này. Tôi nghĩ, nói như vậy là đủ.

Ông là sinh viên Đại học Tổng hợp văn, với gần 50 năm làm báo nhiều sóng gió thăng trầm, đọc nhiều, trải nghiệm nhiều, xin hỏi ông: Danh ngôn nào của các nhà tư tưởng – văn hóa ông tâm đắc nhất?

Tôi nghĩ, sự thật là tài sản quý giá nhất. José Hérnandez, nhà thơ lớn của Achentina nói rằng: “Ngay cả một sợi tóc gầy guộc cũng để lại bóng dâm của mình trên mặt đất”. Điều đó hàm ý sâu xa rằng, sự thật dù có bé nhỏ, mảnh mai như một sợi tóc, cũng không dễ xóa bỏ.

Xin cảm ơn ông đã mở lòng trọng cuộc trò chuyện thân tình này./.

Đoàn Quang/Báo TNVN
vov.vn

Thắng lợi của một dân tộc yêu chuộng hòa bình

Chiến thắng lịch sử 30/4:

Những ngày này, cả nước đang sống trong không khí hào hùng của chiến thắng lịch sử 30/4. Chung cảm xúc đó, VIỆN TRƯỞNG (VT) VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM VŨ QUANG ĐẠO chia sẻ: chiến thắng lịch sử 30/4 đã lùi xa 38 năm. Và khi có khi có “độ lùi” về thời gian thì sẽ có sự nhìn nhận bình tĩnh hơn, khách quan hơn. Có những sự kiện lịch sử, thời gian sẽ “phủ bụi”, nhưng cũng có những sự kiện càng có “độ lùi” thời gian thì càng “sáng” lên. 30/4 là một trong những sự kiện như vậy…

– Ba mươi tám năm đã trôi qua – đây là khoảng thời gian đủ dài để có thể khẳng định được những giá trị, ý nghĩa to lớn của chiến thắng 30/4, thưa Viện trưởng?

– VT Vũ Quang Đạo: Chiến thắng 30/4 đã đánh dấu sự thất bại của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trong việc xâm lược miền Nam Việt Nam. Sự kiện này cũng đồng nghĩa với việc dân tộc ta đã giành thắng lợi trọn vẹn trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc kéo dài tới 30 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chính Minh. Chiến thắng đó đã được ghi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng, một Đống Đa của thế kỷ XX, một mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới của thế kỷ XX. Đối với quân đội Việt Nam, đây là thắng lợi đỉnh cao của nghệ thuật quân sự, đỉnh cao của sức mạnh quân sự Việt Nam, của nhân dân Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Bởi vì, chỉ có chiến tranh nhân dân Việt Nam mới huy động được sức mạnh to lớn đến như vậy. Đó cũng là thắng lợi của một dân tộc yêu chuộng hòa bình, yêu chuộng tự do, với tinh thần không có gì quý hơn độc lập, tự do trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc và đặc biệt là trong thời đại Hồ Chí Minh.

Khát vọng hòa bình, độc lập tự do đã trở thành sức mạnh để dân tộc ta chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, trong đó có đế quốc Mỹ hùng mạnh. Điều đó khẳng định rằng, với ý chí, nghị lực ấy, thắng lợi này là tất yếu chứ không phải ngẫu nhiên. Ở đây, có yếu tố khách quan mang tính thời đại, nhưng tính khách quan, thời đại ấy chỉ được phát huy tác dụng khi có sức mạnh nội lực. Và ở Việt Nam, nhờ có sức mạnh nội lực ấy đã quy tụ được các lực lượng yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên toàn thế giới ủng hộ. Nhờ đó, dân tộc ta có đủ sức mạnh để chiến thắng đế quốc Mỹ, hoàn thành việc giải phóng hoàn toàn đất nước khỏi ách ngoại xâm, đưa đất nước sang kỷ nguyên mới là thống nhất, hòa bình, đi lên chủ nghĩa xã hội.

Đứng trên bình diện quốc tế, chiến thắng này có ý nghĩa hết sức trọng đại. Bởi Mỹ là đế quốc hùng mạnh nhất thế kỷ XX. Cho đến ngày nay Mỹ vẫn là nước đầy sức mạnh, đặc biệt là sức mạnh quân sự và trong lịch sử của nước Mỹ, về cơ bản họ chưa bao giờ thua. Nhưng đến Việt Nam, Mỹ đã phải chấp nhận thất bại. Và nếu tính trong lịch sử, Việt Nam có quyền tự hào với thế giới là dân tộc Việt Nam đã rất nhiều lần trụ vững trước các cường quốc, những kẻ xâm lược hùng mạnh, từ phương Bắc đến phương Tây. Cho nên, với chiến thắng 30/4, sự thất bại của đế quốc Mỹ không phải chỉ là thất bại về mặt quân sự thuần túy. Chính cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert S. McNamara, người được coi là một trong những “kiến trúc sư” cuộc chiến tranh Việt Nam sau này khi nghiên cứu lại đã tự nhận rằng người Mỹ đã không hiểu lịch sử, văn hóa, con người Việt Nam, cho nên đã có những quyết định hết sức sai lầm.

Thắng lợi của Việt Nam còn là thắng lợi của các lực lượng yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Những người yêu chuộng hòa bình trên thế giới và ngay tại nước Mỹ đã xuống đường phản đối chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. Như cách nói của người Mỹ thì chiến tranh Việt Nam đã xảy ra trên nước Mỹ, và Mỹ đã thua ngay trên đất mình. Có được chiến thắng 30/4, cũng cần phải ghi nhận sự ủng hộ hết sức to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa, mà tiêu biểu là Liên Xô, Trung Quốc và một số nước anh em khác. Nếu không có sự ủng hộ cả về tinh thần và vật chất to lớn ấy thì thắng lợi có thể giành được nhưng sẽ có sự hy sinh nhiều hơn.

Chiến thắng 30/4 tiếp tục khẳng định ý chí và sức mạnh bảo vệ độc lập dân tộc của người Việt Nam và như Lý Thường Kiệt đã từng khẳng định bên bờ sông Như Nguyệt trước kia: Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư/ Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/ Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư – nếu như kẻ nào xâm lược Việt Nam thì chắc chắn sẽ chuốc lấy thất bại. Đó là bài học lịch sử, ý nghĩa lớn nhất của sự kiện 30/4.

Ảnh: Tư liệu

– VT Vũ Quang Đạo: Đây là vấn đề của lịch sử. Một sự kiện lịch sử diễn ra thì không phải là công lao của riêng một cá nhân nào. Lịch sử là của nhân dân, nếu là lịch sử chiến tranh nhân dân thì đó là lịch sử của những người dân cầm vũ khí, lịch sử của những người giác ngộ trách nhiệm của mình đối với dân tộc. Trong quá trình đó, không phải một người có thể làm nên lịch sử, mà có rất nhiều người cùng tham gia một sự kiện. Tất nhiên, để đánh giá và ghi nhận đúng là một điều hết sức khó khăn. Thực tế cho thấy không ai có đủ khả năng để viết trung thực lịch sử ngay như nó vừa diễn ra. Chính vì vậy, khi sự kiện đã diễn ra rồi thì làm sao để ghi chép, phản ánh trung thực là trách nhiệm của những người nghiên cứu lịch sử nói riêng và nhân dân ta nói chung.

Không phải bao giờ chúng ta cũng có thể ghi nhận được tất cả mọi việc. Có những trường hợp hy sinh được biết đến, nhưng cũng nhiều trường hợp hy sinh hết sức thầm lặng, ngay tên trên bia mộ cũng không xác định được, nói gì đến vinh danh trước toàn thể dân tộc và thế giới. Do vậy, thời gian tới, cần tiếp tục làm rõ những vấn đề của lịch sử, để không có giọt máu nào đổ xuống mà không được ghi nhận, không có một công lao nào, dù là nhỏ nhất được phép lãng quên. Đó là yêu cầu khách quan của lịch sử. Nhưng để có thể làm được điều này cần có thời gian, phải có những điều kiện cần, điều kiện đủ. Cần có sự nhìn nhận một cách bình tâm, để xử lý và có cái nhìn đúng nhất về lịch sử.

– Có ý kiến cho rằng, hiện thế hệ trẻ ngày nay do không có ký ức chiến tranh, cũng không trải qua những ngày tháng khốc liệt của cuộc chiến nên ít cảm nhận được ý nghĩa to lớn của chiến thắng 30/4. Quan điểm của Viện trưởng về vấn đề này như thế nào?

– VT Vũ Quang Đạo: Thường về mặt tâm lý xã hội, người ta cho rằng, phải trải nghiệm qua thực tiễn thì mới có được sự trải nghiệm của chính mình và có như vậy thì mới có cảm nhận sâu sắc hơn. Điều này hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, muốn có được cảm nhận sâu sắc về chiến tranh mà phải gây chiến, đòi hỏi lớp thanh niên hiện nay phải trải qua chiến tranh là không nên và chúng ta cũng không bao giờ muốn bước vào chiến tranh một lần nữa. Quân sự, quốc phòng hiện nay với mục đích giữ gìn hòa bình lâu dài cho Tổ quốc, tạo nền tảng để xây dựng chũ nghĩa xã hội, xây dựng đất nước giàu mạnh, chứ không nhằm gây chiến tranh. Đó là tính nhân văn của lịch sử quân sự nước ta.

Để có được ý thức, có được cảm nhận chiến tranh có rất nhiều con đường, một trong những con đường đó là thông qua phục dựng, nghiên cứu, phổ biến lịch sử; đồng thời, bản thân thanh niên cũng phải có ý thức, trách nhiệm đối với lịch sử thông qua học tập, tìm tòi, nghiên cứu để có cái nhìn đúng hơn về lịch sử nói chung và lịch sử chiến tranh nói riêng.

Mặt khác, đây cũng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó có cả những cơ quan truyền thông. Bởi nếu không có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục về lịch sử thì dần dần vấn đề lịch sử sẽ trở thành xa lạ đối với thanh niên. Mà bất cứ ai, dù làm bất cứ việc gì, dù muốn hay không muốn thì đến lúc nào đó cũng đều buộc phải nhìn lại lịch sử. Vì vậy, những vấn đề của lịch sử trở thành nền tảng rất cơ bản của nhân cách một con người tạo nên bản sắc của dân tộc. Nếu ai đó coi thường lịch sử thì người đó sẽ không có tương lai. Do vậy, lớp thanh niên hiện nay hãy dành sự chú ý cần thiết, tùy theo công việc mà xem lại kiến thức lịch sử, để có cảm nhận đúng và sâu sắc hơn về những sự kiện lịch sử hào hùng của dân tộc và coi đó là hàng trang của chính mình khi bước vào cuộc sống.

– Và như vậy, đến thời điểm hiện nay, chiến thắng 30/4 vẫn chứa đựng nhiều giá trị quý báu, thưa Viện trưởng?

– VT Vũ Quang Đạo: Ý nghĩa của sự kiện 30/4 đối với đất nước ta hiện nay là nguồn cỗ vũ động viên cho đất nước, con người Việt Nam vững bước, tự tin trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tinh thần yêu nước đã làm nên chiến thắng và các thế hệ đi trước đã làm tròn sứ mệnh lịch sử đối với dân tộc, với đất nước. Vì vậy, thế hệ trẻ hiện nay, hãy bằng suy nghĩ và hành động cụ thể để chứng minh mình là người yêu nước, biến lòng yêu nước đó trở thành nhiệt huyết trong công việc, trong học tập và trong cuộc sống hàng ngày.

– Xin cám ơn Viện trưởng!

Hoa Lê thực hiện
daibieunhandan.vn

Giải phóng Trường Sa bằng cách đánh mới, táo bạo

Đã 86 tuổi, nhưng tướng Mai Năng còn nhớ rất rõ những trận chiến oai hùng góp phần giải phóng dân tộc. (Ảnh: Trung Hiền/Vietnam+)

Nhận nhiệm vụ giải phóng Trường Sa, các chiến sĩ đặc công nước của Đoàn 126 (Quân chủng Hải quân Việt Nam)-dưới sự chỉ huy của Thượng tá Mai Năng áp dụng một chiến thuật đánh hoàn toàn mới, song đã giành được thắng lợi vang dội.

Điều này lại một lần nữa minh chứng, những chiến sĩ “đầu trần, chân đất” bộ đội cụ Hồ có thể làm nên những kỳ tích trong chiến đấu, giành lại máu thịt của quê hương bằng mưu trí can trường, thích nghi với mọi hoàn cảnh khó khăn nhất.

Rẽ sóng diệt giặc

Ở độ tuổi ngoại bát thập, song Thiếu tướng Mai Năng (Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân, nguyên Tư lệnh Binh chủng Đặc công) còn rất tinh tường. Kể về những trận chiến gian khó giành lại từng tấc đất quê hương với lớp trẻ, vị tướng già như trẻ lại, sôi nổi tới lạ kỳ.

Ông bảo rằng, vào những ngày cuối tháng 3, đầu tháng 4 năm 1975, với những đòn tấn công của của quân giải phóng, hệ thống phòng ngự của địch ở miền Nam dần bị phá vỡ. Đây cũng chính là thời khắc Quân chủng Hải quân nhận lệnh từ Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Nhanh chóng tổ chức lực lượng, giải phóng các quần đảo do quân Ngụy Sài Gòn chiếm giữ trên quần đảo Trường Sa. Và, Đoàn 126 (đặc công) là đơn vị được lựa chọn thực hiện nhiệm vụ.

Những trận đánh làm nên lịch sử của đặc công VN

Theo lời tướng Mai Năng, đây là nhiệm vụ rất khó khăn tuy nhiên lại rất vinh dự bởi vùng biển này mang ý nghĩa to lớn cả về kinh tế lẫn quân sự. Cái khó ở đây là bộ đội đặc công đánh dưới nước của ta từ trước đến giờ đánh tầu, cầu, cảng và kho tàng của Hải quân đối phương chứ không phải đánh căn cứ, cứ điểm, đồn bốt.

Thêm vào đó, đặc công nước tuy của Hải quân nhưng lại không phải là người đi trên biển nên ít người chịu được sóng gió lớn. Đặc biệt, cách đánh của đặc công phải mắt thấy, tai nghe, chân đến, tay sờ thì mới chắc thắng. Thế nhưng, với quần đảo Trường Sa, đặc công của ta không sờ được, chưa đến được và cũng chưa thấy được. Câu hỏi đặt ra khi ấy là: Chưa trinh sát mà lại đánh, thì sẽ đánh cách nào?

Khó khăn là thế, nhưng lực lượng đặc công Hải quân lại rất vui sướng vì sẽ được tham gia vào trận đánh cuối cùng, vào chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử nên ai cũng hào hứng.

“Chúng tôi bàn với nhau: Xa mấy cũng đi, khó mấy cũng đến, đã đến là đánh và quyết thắng ngay từ trận đầu, hoàn thành nhiệm vụ Đại tướng Tổng Tư lệnh giao,” Thiếu tướng Mai Năng nhớ lại.

Hành quân vào Đà Nẵng vào cuối tháng 3, tới ngày 10/4/1975, hơn 200 chiến sĩ của Đoàn 126 do Thượng tá Mai Năng xuống 3 chiếc tàu không số, giả dạng làm tàu đánh cá xuất phát đi tới khu vực quần đảo Trường Sa. Tới ngày 13, ba chiếc tàu này đã tới khu vực đảo Song Tử Tây chuẩn bị quyết đấu trận đầu tiên. Tại đây, các chiến sĩ được chia làm 7 đội, nhắm mục tiêu 6 đảo và 1 đội cơ động sẵn sàng tiếp ứng.

Cán bộ, chiến sĩ Đoàn 126, Quân chủng Hải Quân nghe vị tướng già kể chuyện giải phóng Trường Sa.
(Ảnh: Trung Hiền/Vietnam+)

Quyết chiến ở Song Tử Tây

Trước tình hình không trinh sát rõ trên đảo, Thượng tá Mai Năng chỉ huy các chiến sĩ phải tiến hành trinh sát vũ trang, có nghĩa là đi đến đâu đánh đến đó.

Nói về trận chiến giao tranh với giặc ở Song Tử Tây, Trung tá Đào Mạnh Hồng (Phó Ban kinh tế, Hội Cựu chiến binh Hải Phòng) cho phóng viên Vietnam+ hay, khi ấy ông phụ trách một mũi quân tiến công vào đảo.

Đêm 13, rạng sáng ngày 14/4, Trung tá Mai Năng giao nhiệm vụ cho phân đội của ông Hồng gồm 20 chiến sĩ xuống biển bằng xuồng cao su, vượt khoảng 5 hải lý đến Song Tử Tây. Cách đảo khoảng 2 hải lý, các chiến sĩ phải bỏ phao, bơi vào bờ. Tới khoảng 3 giờ 30 phút, các lực lượng đã áp sát mục tiêu trên đảo. Gần 4 giờ 30, trời mờ sáng đã giúp đặc công nhìn rõ mục tiêu (trên đảo có 3 lô cốt).

Đúng 4 giờ 30, những phát đạn đầu tiên đã nổ, những chiến sĩ “Bắc Việt” đầu tiên đặt chân lên mảnh đất thiêng liêng giữa trùng khơi của Tổ quốc bắt đầu trận đánh.

Theo lời ông Hồng, với đa phần các chiến sĩ, đây là trận đánh đầu tiên trong cuộc đời binh nghiệp. Trận chiến đấu với 39 tên lính Ngụy diễn ra hết sức quyết liệt và giằng co khi địch không còn đường lui. Cho dù bị các “kình ngư” bất thình lình tấn công, song húng quyết tâm “hất” các chiến sĩ đặc công trở lại biển.

Thế nhưng, với lòng quả cảm, chiến thuật tác chiến hợp lý, lực lượng đặc công đã dành chiến thắng, tiêu diệt 6 và bắt sống 33 tên địch (trong đó có 1 Thiếu úy, 1 Chuẩn úy). Ngoài ra, ta thu được 2 khẩu đại liên 50, 1 khẩu DKZ, 2 khẩu cối 61, 2 khẩu trung liên và nhiều súng bộ binh các loại.

Trong trận đánh này, lực lượng đặc công bị tổn thất 2 đồng chí (1 hy sinh tại chỗ, 1 đưa vào đất liền thì hy sinh). Đây cũng là trận đánh duy nhất trong đợt giải phóng Trường Sa tháng 4/1975 quân đội ta bị thiệt hại về quân số.

Sau khi giải phóng Song Tử Tây, lực lượng đặc công lập tức triển khai nhiệm vụ phòng thủ, chuyển thương binh, hàng binh về Đà Nẵng và nhanh chóng rút kinh nghiệm để đánh tiếp các đảo còn lại.

“Tới ngày 28/4, 6 đảo thuộc quần đảo Trường Sa đã hoàn toàn được giải phóng. Chúng tôi phòng thủ đến khoảng giữa tháng 5 thì một Trung đoàn thuộc Sư đoàn 2 (Quân khu 5) ra tiếp quản và đặc công lại về Sài Gòn làm nhiệm vụ mới,” Tướng Mai Năng nói.

Ông cũng kể rằng, trong thời khắc chiến thắng 30/4, không thể diễn tả được niềm vui của các chiến sĩ đặc công trên đảo. Bởi, sau nhiều xương máu của toàn quân, toàn dân đổ xuống, đất nước ta sẽ bước sang trang sử mới vẻ vang./.

Bài 3: Người chiến sĩ phất cờ chiến thắng tại dinh Độc lập

Trung Hiền (Vietnam+)
vietnamplus.vn

Nghệ thuật của cựu chiến binh

Tại Mỹ có một bảo tàng nghệ thuật dành riêng để triển lãm và nghiên cứu tác phẩm của các cựu chiến binh từng tham chiến tại Việt Nam và gần đây là Iraq.

Thẻ ghi tên của hơn 58.000 quân nhân bị chết trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam

Sau khi đã thăm Bảo tàng Nghệ thuật đương đại (MCA) và Viện Nghệ thuật Chicago, đi thẳng về hướng Nam, bạn sẽ nhìn thấy một trong những bộ sưu tập hấp dẫn nhất nhưng lại ít được biết đến nhất tại Chicago. Đó là Bảo tàng Nghệ thuật cựu chiến binh Quốc gia, trước đây là Bảo tàng Nghệ thuật cựu chiến binh Việt Nam – bảo tàng nghệ thuật duy nhất ở Mỹ dành riêng để triển lãm tác phẩm của các cựu chiến binh từng tham gia chiến trường Việt Nam và gần đây là Iraq. Ban đầu, đây là một triển lãm lưu động, nhưng khi Thị trưởng Chicago Richard M. Daley xem triển lãm, ông đã bị sức mạnh của nghệ thuật chinh phục và quyết định thành phố sẽ dành đất để xây dựng bảo tàng cho những hiện vật giá trị đó. Tháng 8.1996, Bảo tàng Nghệ thuật cựu chiến binh Việt Nam chính thức khai trương. Bảo tàng không chỉ trưng bày tác phẩm đơn thuần mà đi kèm nó là câu chuyện của những quân nhân từng tham chiến tại Việt Nam. Mỗi tác phẩm là một câu chuyện và chẳng có cách nào giải thích được sức mạnh mà chúng chuyển tải.

Một số hiện vật tại Bảo tàng

 * Nếu bạn trả lời CÓ cho cả 3 câu hỏi dưới đây, có vẻ lợi ích quốc gia của chúng ta là tham chiến:

1) Bạn sẵn sàng ra khỏi nhà và từ bỏ tất cả những gì đang có, gần gũi và thân thiết, trong một thời gian không xác định?

2) Bạn sẵn sàng dấn thân vào hiểm nguy?

3) Bạn sẵn sàng cướp đi mạng sống của người khác?

Nếu bạn trả lời KHÔNG cho một trong 3 câu hỏi trên, nó không có nghĩa là vấn đề không quan trọng, mà rằng bạn có thể tìm ra cách khác để giải quyết, chứ không phải chiến tranh.

Cựu chiến binh Rick Davis

Bước vào phòng trưng bày chính, bạn sẽ bắt gặp bức tượng điêu khắc bằng kim loại thanh nhã, mô phỏng hình ảnh một người lính chuẩn bị “bước ra khiêu vũ với thần chết”, miêu tả sinh động khái niệm lãng mạn về chiến tranh. Bên cạnh đó là bức tượng cao hơn 0,3m được đúc khuôn dùng một phần của xe ba bánh. Trên tầng 2 là thẻ ghi tên của hơn 58.000 quân nhân (cả nam và nữ) đã thiệt mạng trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Lên tầng 3, người xem có thể xem các bức ảnh và sắp đặt về cuộc chiến tranh ở Iraq.

Bảo tàng thường tổ chức nhiều hoạt động sôi nổi nhờ sự đóng góp của rất nhiều nghệ sỹ cựu chiến binh, sẵn sàng cho mượn hiện vật để triển lãm và bản thân họ cũng lưu giữ nhiều hiện vật giá trị, như bức tượng điêu khắc làm từ những chiếc vòng tay của tù binh của phi công John Borling – đồng đội của Thượng nghị sỹ John McCain, hay chiếc cốc ông dùng lúc bị giam ở Hilton, Hà Nội. Nhiều hiện vật có thể tách ra đứng một mình. Tuy nhiên, trong tổng thể bối cảnh của bảo tàng, chúng có sức hút đặc biệt, khiến người xem không thể cưỡng lại.

Trên đường ra, bạn hãy dừng lại bên bàn phía trước, đề nghị cho xem cuốn sách bìa cứng nói về bảo tàng, Vietnam: Reflexes and Reflections, phát hành năm 1996, năm bảo tàng khai trương. Cuốn sách sẽ đem đến một cái nhìn rộng mở và đầy màu sắc về một bộ sưu tập lớn hơn, cũng như phản ánh về các nghệ sỹ, rất có giá trị về mặt nghiên cứu.

Nhiệm vụ của Bảo tàng Nghệ thuật cựu chiến binh Quốc gia là giúp mọi người hiểu hơn về ảnh hưởng của chiến tranh thông qua các bộ sưu tập, bảo quản và trưng bày các tác phẩm nghệ thuật của các cựu chiến binh từng tham gia những cuộc xung đột của quân đội Mỹ. Với những di sản nghệ thuật và quân sự, bảo tàng giúp công dân và các cựu chiến binh kết nối với nhau, với nhiều trải nghiệm thú vị và ý nghĩa. Gần 2.500 tác phẩm nghệ thuật, từ hội họa đến điêu khắc, ký họa, ảnh, thơ, nhạc… của hơn 250 nghệ sỹ – chiến sỹ, bảo tàng đem đến cho khách tham quan đủ mọi lứa tuổi và màu da cái nhìn về chiến tranh từ chính những người trong cuộc. Hơn thế, bảo tàng cũng là một kênh để các cựu chiến binh thể hiện những trải nghiệm chiến đấu của mình thông qua nghệ thuật.

* Những bức ảnh chụp cận cảnh hoa lá, không rõ được chụp tại Việt Nam thời chiến tranh hay khi Brenda Looper Jansons trở lại đất nước này. Brenda Looper Jansons là y tá tại Bệnh viện Di tản thứ 36 ở Vũng Tàu. Bà kể: “Đến Việt Nam, tôi dùng một chiếc máy ảnh Canon để ghi lại thế giới của tôi cho các con tôi. Tôi muốn chúng nhìn kỹ hơn những món quà đẹp đẽ xung quanh mà thiên nhiên ban tặng. Trong tự nhiên có đủ vẻ đẹp để xoa dịu những ký ức đau thương và theo thời gian sẽ hàn gắn tất cả”.

* Jean Watson, phục vụ trong quân đội Mỹ năm 1966 – 1967, trong Bệnh viện Di tản thứ 85 tại Quy Nhơn. Bà vẽ những bức tranh đầy ám ảnh về rồng. Trong một triển lãm tại bảo tàng, 12 bức tranh của bà được trưng bày là 12 con rồng mạnh mẽ, được vẽ với màu sắc, sự dữ dội và cảm xúc khác nhau. Tấm bảng treo trên tường giải thích: “Theo truyền thuyết, rồng là thủy tổ của người Việt”. Thông qua lao động nghệ thuật của Jean Watson, miêu tả những con rồng đầy tính cách, bà đã “gây dựng hòa bình với con của rồng”.

Khang Duy
daibieunhandan.vn