Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Cán bộ, chiến sĩ Bộ Tư lệnh Cảnh vệ, Bộ Công an báo công dâng Bác

Hòa chung trong không khí thi đua phấn khởi của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân chào mừng kỷ niệm 38 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, 127 năm Ngày Quốc tế lao động và 113 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hướng tới kỷ niệm 65 năm Công an Nhân dân thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy, 65 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra sắc lệnh thi đua ái quốc và tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Công an nhân dân học tập 6 điều Bác dạy” gắn với Cuộc vận động “Công an nhân dân chấp hành nghiêm điều lệnh; xây dựng nếp sống văn hóa vì nhân dân phục vụ”, sáng ngày 18/4/2013, hơn 200 cán bộ, chiến sĩ tiêu biểu của lực lượng Cảnh vệ Công an nhân dân đã vinh dự tổ chức lễ báo công dâng Bác, kính dâng lên Bác những thành tích, chiến công xuất sắc của lực lượng Cảnh vệ giai đoạn từ  năm 2008 đến năm 2013.

Bộ tư lệnh cảnh vệ báo công1
Cán bộ, chiến sĩ Bộ Tư lệnh Cảnh vệ, Bộ Công an trong phút chào cờ trang nghiêm trước Quảng trường      Ba Đình

Thấm nhuần lời dạy của Bác, phát huy truyền thống của đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ đổi mới, cán bộ, chiến sĩ lực lượng Cảnh vệ Công an nhân dân không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao bản lĩnh, trình độ chính trị, pháp luật, nghiệp vụ, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Kết quả nổi bật đó là: Từ năm 2008 đến nay, lực lượng Cảnh vệ đã bảo vệ an toàn 10.079 cuộc, lượt hoạt động của các đối tượng cảnh vệ đi công tác trong nước, nước ngoài; 462 hội nghị, mít tinh quan trọng của Đảng, Nhà nước và quốc tế diễn ra tại Việt Nam; hướng dẫn và đảm bảo an ninh an toàn cho 8.944.967 lượt đồng bào và khách quốc tế vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặc biệt là những lễ hội có quy mô lớn với sự tham gia của nhiều nguyên thủ quốc gia trên thế giới như: Năm ASEAN tại Việt Nam, Đại lễ nghìn năm Thăng Long – Hà Nội.

Cùng với việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, tổ chức của lực lượng Cảnh vệ cũng từng bước trưởng thành, trình độ cán bộ, chiến sĩ đã qua đại học và trung học chiếm tỷ lệ trên 70%; nhiều sáng kiến khoa học, vũ khí, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ hiện đại được áp dụng vào trong công tác, chiến đấu, đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ ngày càng được nâng cao.

Qua 5 năm thực hiện phong trào thi đua “Công an nhân dân học tập 6 điều Bác Hồ dạy”, lực lượng Cảnh vệ đã vinh dự được Chính phủ tặng Cờ thi đua xuất sắc; 2 lần được tặng Cờ thi đua của Bộ Công an; Đảng bộ nhiều năm liền đạt trong sạch vững mạnh, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ đổi mới; 01 tập thể và 02 cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Mỹ; được Nhà nước tặng thưởng, 01 Huân chương Hồ Chí Minh, 01 Huân chương Độc lập hạng Nhì và nhiều huân chương, bằng khen các loại khác.

Bộ tư lệnh cảnh vệ báo công2
 Đồng chí Vũ Xuân Sinh trao thưởng cho các  cá nhân có thành tích xuất sắc

Tại buổi lễ báo công dâng Bác, đồng chí Vũ Xuân Sinh, Ủy viên Đảng ủy Công an TƯ, Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đã trao thưởng cho 23 cá nhân có thành tích xuất sắc trong thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy giai đoạn từ 2008 – 2013.

Trước anh linh của Người, cán bộ cảnh sát lực lượng Cảnh vệ đã hứa sẽ ra sức thi đua học tập và công tác tốt để xây dựng lực lượng Cảnh vệ cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và hiện đại; tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ  quốc và nhân dân; sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì sự nghiệp bảo vệ Đảng, bảo vệ lãnh tụ, bảo vệ an ninh Tổ quốc, có bản lĩnh chính trị vững vàng, yêu ngành, yêu nghề, có lối sống trong sáng, lành mạnh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, xứng đáng với 6 điều Bác Hồ dạy đối với lực lượng Công an nhân dân./.

Nguyễn Năng Tiến
bqllang.gov.vn

Học và làm theo lời Bác từ những việc cụ thể

(ĐCSVN) – Thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo gương tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, thời gian qua, Ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bắc Kạn đã tích cực thực hiện các phong trào thi đua cụ thể bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng, tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức của các cán bộ, giáo viên cũng như học sinh trên địa bàn.

Để triển khai có hiệu quả việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác, ngành Giáo dục và Đào tạo Bắc Kạn đã chỉ đạo 100% các đơn vị trường học thực hiện nghiêm túc việc lồng ghép nội dung giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong một số môn học chính khóa theo quy định và tài liệu hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Ngoài các giờ học chính khóa, các em học sinh còn được tham gia vào các buổi sinh hoạt ngoại khóa nói chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh (Ảnh: Tường Vy)

Đối với Giáo dục mầm non, 100 các cơ sở giáo dục chủ động xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện việc lồng ghép nội dung giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh vào chuyên đề giáo dục lễ giáo, giáo dục thẩm mỹ và nhận thức cho trẻ em vào các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ em phù hợp với từng độ tuổi nhằm hình thành nhân cách ban đầu cho trẻ. Đối với giáo dục cấp Tiểu học, các cơ sở thực hiện bằng hình thức lồng ghép vào các môn học Đạo đức, Tiếng Việt, Lịch sử. Cấp THCS, THPT lồng ghép vào giảng dạy ở các môn Ngữ văn, Lịch sử, Giáo dục công dân, Âm nhạc, Mỹ thuật và hoạt động ngoài giờ lên lớp…

Để xây dựng một nền tảng giáo dục vững chắc, bên cạnh việc nâng cao chất lượng dạy và học tại các trường học, thời gian qua, ngành Giáo dục Bắc Kạn cũng thường xuyên chú trọng công tác duy trì phổ cập giáo dục, xóa mù chữ, xây dựng xã hội học tập – những nhiệm vụ góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của địa phương.

Đặc biệt, từ việc nghiên cứu, học tập tư tưởng, tấm gương của Bác, đội ngũ nhà giáo đã nhận thức sâu sắc những nội dung cơ bản và ý nghĩa về tấm gương đạo đức tự học của Người. Ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, đạo đức nghề nghiệp trong đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục có sự chuyển biến mạnh mẽ. Tập thể cán bộ, giáo viên của từng đơn vị thường xuyên tự học để nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, sáng tạo trong các hoạt động giáo dục, góp phần đổi mới sự nghiệp giáo dục – đào tạo trong giai đoạn hiện nay.

Với việc triển khai, thực hiện Chỉ thị 03 bằng nhiều hình thức phong phú, ngành giáo dục Bắc Kạn đã đạt được nhiều thành tích đáng ghi nhận. Năm học 2010 – 2011, tỷ lệ học sinh được công nhận hoàn thành chương trình tiểu học đạt 99,82%; tỷ lệ học sinh xét tốt nghiệp THCS đạt 98,47%; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT đạt 93,67%. Năm 2011, tổng số học sinh trúng tuyển vào các trường Đại học, Cao đẳng là 1.670 em, đạt 35,82%. Chỉ tính riêng trong học kỳ I năm học 2012 – 2013, toàn tỉnh đã có 54% học sinh xếp loại học lực Khá, Giỏi cấp Tiểu học, cấp THCS 30%, cấp THPT đạt 15%. Số lượng học sinh tham gia và đoạt giải tại các kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh, khu vực và quốc gia tăng so với những năm học trước…/.

Tường Vy
dangcongsan.vn

Đoàn đại biểu người khuyết tật, trẻ mồ côi và người bảo trợ tiêu biểu toàn quốc vào Lăng viếng Bác

Nhân dịp kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Hội Bảo trợ Người tàn tật và trẻ mồ côi, sáng ngày 13/4/2013, Đoàn đại biểu dự Hội nghị biểu dương người khuyết tật, trẻ mồ côi, người bảo trợ tiêu biểu toàn quốc lần thứ IV gồm 350 đại biểu đã đến đặt vòng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là  những tấm gương tiên tiến, xuất sắc, đại diện cho người khuyết tật, trẻ mồ côi, người bảo trợ đến từ mọi miền đất nước. Mặc dù số lượng người khuyết tật phải dùng đến xe lăn rất lớn ( gần 60 trường hợp), nhưng với tinh thần phục vụ đồng bào tận tình, chu đáo nhất, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng đã bố trí đủ số lượng cán bộ, chiến sĩ để phục vụ Đoàn, cố gắng tất cả mọi người đều được vào Lăng viếng Bác.

Người khuyết tật viếng Bác2Đoàn đại biểu vào Lăng viếng Bác

Cảm động trước tinh thần phục vụ của cán bộ, chiến sĩ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng, chị Nguyễn Thị Phương bị liệt hai chân, tốt nghiệp khoa văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, giáo viên Ngữ văn tại trường THPT Bắc Mê, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang đã chia sẻ: “Đây thực sự là một giấc mơ đối với tôi. Đã nhiều lần tôi mong muốn được đến viếng Bác Hồ, nhưng nghĩ đến hoàn cảnh của bản thân đi lại khó khăn, rồi làm thế nào để lên bậc cầu thang vào viếng Bác mà tôi không dám đi, hôm nay được các đồng chí khiêng vào tận phòng đặt linh cữu Bác, tôi vô cùng xúc động. Cảm ơn sự giúp đỡ hết sức tận tình, chu đáo của các đồng chí.”

Hội nghị biểu dương do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp với Hội Bảo trợ Người tàn tật và Trẻ mồ côi Việt Nam tổ chức 3 năm/lần nhằm ghi nhận, tôn vinh những tấm gương vượt khó, những tấm lòng vì cộng đồng, cổ vũ, động viên, khích lệ những con người không lùi bước trước số phận, những người sống cống hiến và sẻ chia.

Các đại biểu tham dự Đại hội là đại diện người bảo trợ – những tấm lòng trong cộng đồng luôn dành sự quan tâm cả về vật chất, tinh thần cho người khuyết tật, trẻ mồ côi; những người khuyết tật không những nỗ lực vươn lên trước mọi khó khăn của cuộc sống; những điển hình tiên tiến của trẻ em thiệt thòi Việt Nam, dù trong hoàn cảnh ngặt nghèo, thiếu vắng tình thương, sự nuôi dưỡng của cha mẹ nhưng vẫn luôn học giỏi, xứng đáng với sự quan tâm, chăm lo của Nhà nước và xã hội. Đó là các tấm gương: Sư cô Ngộ Mai, chùa Phật Minh (Bến Tre) đã cưu mang, nuôi dưỡng 70 trẻ mồ côi; chị Đào Thị Hiền – Giám đốc Trung tâm Dạy nghề tư thục Long Thành (Hòa Bình) đã nhận nuôi dưỡng, đào tạo nghề cho 700 người khuyết tật trong 10 năm qua; anh Nguyễn Phương Nam bị liệt chân trái, tốt nghiệp Đại học Y dược Cần Thơ, hiện là bác sĩ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Phước; chị Nguyễn Thị Phương liệt hai chân, tốt nghiệp khoa văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, giáo viên Ngữ văn tại trường THPT Bắc Mê, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang; em Đặng Diệu Ái (Hậu Giang) bị bố mẹ bỏ rơi, ở với ông bà ngoại, hiện đang học lớp 6; em Nguyễn Thị Thúy Hiền mồ côi cha mẹ do tai nạn giao thông, vừa đi học, vừa đi làm, hiện là Sinh viên năm thứ nhất Trường Đại học Công nghệ Đồng Nai… Những tấm gương điển hình tiên tiến của các đại biểu dự Hội nghị là nguồn cổ vũ và động viên to lớn đối với hàng nghìn, hàng vạn người khuyết tật, trẻ mồ côi ở các thôn, xóm, ấp, bản, làng, các cộng đồng dân cư trong cả nước có thêm khát vọng, ý chí không ngừng phấn đấu vươn lên.

Việc bảo vệ, chăm sóc, giúp đỡ người khuyết tật, trẻ mồ côi trong những năm qua đã đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên, do hậu quả nặng nề của nhiều năm chiến tranh, của bom mìn, chất độc da cam, do thiên tai, bão lũ… nên nhu cầu cần được chăm sóc, giúp đỡ của người khuyết tật, trẻ mồ côi ở nước ta còn rất lớn.

Người khuyết tật viếng Bác1Người khuyết tật được các chiễn sĩ giúp để vào Lăng viếng Bác

Kinh tế đất nước những năm qua đã có bước phát triển, song vẫn còn nhiều khó khăn. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta vẫn giành tình cảm và sự chăm sóc, hỗ trợ tận tình, chu đáo đối với người khuyết tật, trẻ mồ côi. Đây là đạo lý truyền thống của dân tộc ta, bản chất tốt đẹp của chế độ ta, là mong muốn của Bác Hồ, là sự nghiệp cao cả đòi hỏi tình cảm, trách nhiệm, sự chung sức chung lòng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Gặp lại “Nụ cười chiến thắng”

(GD&TĐ) – Nụ cười và câu nói nổi tiếng của chị: “Liệu chính quyền các ông còn tồn tại bao lâu mà kết án tôi 20 năm khổ sai” trước bản án ngày 2/8/1968, đã thành biểu tượng cho khí phách anh hùng của thế hệ thanh niên Việt Nam. 45 năm đã qua kể từ sự kiện lịch sử đó. Mặc dù rất bận rộn, nhưng chị và chồng – Luật sư Trần Quốc Thuận (nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội) vẫn dành một buổi tối trải lòng với chúng tôi, những người lính.

Câu chuyện bắt đầu từ ký ức về những ngày đầu theo cách mạng: Võ Thị Thắng  sinh ra và lớn lên từ Rạch Rích, xã Tân Bửu, huyện Bến Lức, tỉnh Long An trong một gia đình mà ba má và 9 anh chị em đều tham gia, gắn bó với cách mạng. Từ lúc 9 tuổi, chị tham gia đưa thư, mang cơm cho cán bộ trong hầm bí mật, được ba má chị che chở nuôi giấu trong nhà. Từ tình yêu thương các bác, các cô, các chú, chị có tình cảm với cách mạng và trở thành một đảng viên kiên trung. Năm 13 tuổi, chị thi đậu vào trường công lập Gia Long Sài Gòn (nay là trường Nguyễn Thị Minh Khai); 16 tuổi là thành viên Mặt trận dân tộc giải phóng huyện Bến Lức – Long An và khi 17 tuổi, được tổ chức điều về Sài Gòn hoạt động trong phong trào thanh niên – sinh viên – học sinh.

Sau Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân 1968 của quân và dân ta ở miền Nam, địch tập trung lực lượng điên cuồng phản kích. Tại Sài Gòn, chỉ tính riêng trong hai năm 1968 -1969, chúng tiến hành hơn 7.000 cuộc hành quân cảnh sát, càn quét phá vỡ nhiều cơ sở, bắt bớ nhiều đảng viên và cán bộ cách mạng. Các căn cứ như Rạch Bần, Phú Định, Rạch Ông, Rạch Cát… bị địch đánh phá chà đi xát lại nhiều lần. Đời sống của người dân điêu đứng, việc đi lại, làm ăn gặp nhiều khó khăn, trắc trở.

Bức ảnh “Nụ cười chiến thắng” của Võ Thị Thắng

Trên địa bàn Quận 6, địch tăng cường các đồn bót và các chốt chặn, lập các trạm gác trên cầu, ở các bến sông và chợ búa, tập trung quân liên tục lùng quét, phá vỡ nhiều cơ sở cách mạng. Trong khu vực cư xá Phú Lâm A – Hòa Đồng Tôn Giáo có tên liên gia trưởng khét tiếng gian ác, từng gây nhiều nợ máu với cách mạng. Tên này rất gian ngoan, xảo quyệt, do đó việc tiếp cận khó khăn. Nhằm phá thế kìm kẹp của kẻ thù, nữ đảng viên Võ Thị Thắng được giao nhiệm vụ trừng trị tên ác ôn này. Dưới sự chỉ đạo của Biệt động Quận 6, trực tiếp là anh Tám Thọ, anh Ba Phong, đêm 27/7/1968, Võ Thị Thắng bí mật tìm cách đột nhập vào nhà riêng tên ác ôn. Trong bóng tối lờ mờ, chị gọi tên xác định đối tượng trừng trị và bóp cò nhưng khẩu K54 bị kẹt đạn. Nhân đó, tên địch vùng chạy thoát thân. Thấy động, bọn lính bảo vệ vòng ngoài ùa vào bắt chị cùng đồng chí làm nhiệm vụ hỗ trợ. Mặc dù bị địch tra tấn rất dã man nhưng chị vẫn giữ trọn khí tiết người chiến sĩ cách mạng. Không có chứng cứ, bọn địch phải trả tự do cho bà con và đồng đội chị.

Nhằm đối phó với phong trào diệt ác, phá kìm của cách mạng ở “Thủ đô” Sài Gòn, Mỹ – ngụy vội vàng đưa Võ Thị Thắng ra xử tại tòa án quân sự vùng 3 chiến thuật. Tại phiên tòa, trước thái độ bình thản, hiên ngang của Võ Thị Thắng, tên ủy viên chính phủ của chính quyền Sài Gòn, với giọng tức tối kết tội:

“ … Võ Thị Thắng, cựu nữ sinh Gia Long, có thể nói là duyên dáng – với gương mặt thùy mị dịu dàng, nhưng không ngờ hành động của cô ta lại hoàn toàn trái ngược với gương mặt đó, nhất là thái độ vô lễ của cô ta khi đứng trước tòa án… Đề nghị chiểu theo Luật 10/59 tòa xử mức án tối đa”.

Khi nghe tuyên đọc bản án 20 năm khổ sai, người con gái Long An hiên ngang nở nụ cười và nói: “Liệu chính quyền các ông còn tồn tại bao lâu mà kết án tôi 20 năm khổ sai”. Khí phách và nụ cười bình thản của Võ Thị Thắng trước tòa án quân sự địch đã khiến kẻ thù phải run sợ, nhưng lại là niềm tự hào của người dân Sài Gòn – Gia Định.

Trong những năm tháng bị tù đày, chị cùng tập thể nữ tù chính trị bị địch đàn áp, đánh đập, giam cầm, đối xử hết sức dã man, 2 lần bị đày ra Côn Đảo, giam vào chuồng cọp. Nhưng với niềm tin vào thắng lợi của cách mạng và sức mạnh của tình cảm đồng chí, đồng đội, các chị đã giữ vững ý chí chiến đấu. Chị xúc động nhớ lại khi bị đày ra Côn Đảo, lúc bước đến cầu tàu bị đánh tới tấp nhưng các đồng chí, đồng đội đã đưa cả tấm thân đỡ cho nhau. Trong những ngày ở chuồng cọp, cái chết có thể đến bất cứ lúc nào, có lần địch xé lẻ phân tán để dễ bề đàn áp, truy bức trong đêm lạnh giá, gió hú, sóng gầm, nhưng các chị vẫn kiên định một lòng tin vào chiến thắng, và mọi người đều móc tay vào nhau xiết chặt đội ngũ.

Từ khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, với bản lĩnh đã được tôi luyện trong đấu tranh, chị hăng hái công tác và vững vàng trong cơ chế thị trường. Trong những năm 1996 – 2007, chị được giao trách nhiệm đứng đầu ngành du lịch – một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, nhạy cảm. Cùng với cấp ủy, chỉ huy Tổng cục, chị vừa điều hành, lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động và chăm lo xây dựng nội bộ; vừa hoàn thành xây dựng quy hoạch, kế hoạch, chiến lược ngành, xây dựng quy định, quy chế, góp phần xây dựng Pháp lệnh Du lịch rồi Luật Du lịch… Chị đã cùng tập thể, chèo chống khá thành công để giữ vững và đưa ngành du lịch từng bước sánh vai với các nước trong khu vực và thế giới, xứng đáng là ngành “kinh tế mũi nhọn” của đất nước, góp phần quảng bá hình ảnh Việt Nam ra bạn bè quốc tế.

Hơn 40 năm hoạt động cách mạng, chị đã nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt các trọng trách Phó Chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch, Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa IX, X) và đại biểu Quốc hội (khóa IX, X, XI). Từ khi về nghỉ hưu, chị cùng chồng tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, xã hội và dành thời gian chăm lo tổ ấm gia đình, tạo điều kiện cho con cháu học tập, công tác.

Chia tay anh chị, nhưng giọng nói nhỏ nhẹ, bình dị, mộc mạc, bức ảnh trên tường với nụ cười chiến thắng, cùng những câu chuyện về tình đồng chí, đồng đội của chị càng làm tôn thêm vẻ đẹp không lẫn vào ai khác của người phụ nữ bất khuất Võ Thị Thắng một thời nổi tiếng và bình dị giữa đời thường hôm nay.

Nguyễn Minh Ngọc – Phạm Xuân Trường
gdtd.vn

Chiến thắng của tinh thần yêu nước và trí tuệ Việt Nam

(GD&TĐ) – Từ những ngày đầu tháng tư, nhân dân cả nước nói chung, Tây Nam bộ nói riêng, đã sống lại không khí hào hùng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân cách đây 38 năm, lần lượt giải phóng các tỉnh Tây Nguyên, ven biển miền Trung và hải đảo, miền Đông Nam bộ, Sài Gòn – Gia Định và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.

Chiến thắng 30/4 là kết quả của cả chặng đường dài chiến đấu gian khổ, hy sinh của mọi người dân Việt yêu nước, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mỗi mùa xuân đến, hơn 83 triệu người dân đất nước con Lạc cháu Hồng không thể nào quên Đại thắng mùa Xuân năm 1975. Đó không chỉ là sự hoài niệm về một thời đầy hy sinh, gian khổ nhưng cũng lẫy lừng chiến công vang dội của lớp lớp cha anh đi trước, mà còn để chiêm nghiệm sâu hơn cội nguồn sức mạnh của dân tộc.

Đại thắng mùa Xuân 1975 cách đây đã 38 năm, nhưng ý nghĩa của nó vẫn còn tỏa khắp, nhất là mỗi độ xuân về trên đất nước Việt Nam. Với đại thắng hào hùng và oanh liệt mùa Xuân 1975 đã ghi những trang vàng chói lọi vào lịch sử dân tộc Việt Nam, thật đáng tự hào.

Cuộc Tổng tiến công thần tốc mùa xuân năm 1975 như một điều kỳ diệu, niềm tự hào và nguồn cảm hứng lớn lao, bất tận của các thế hệ người Việt Nam. Không có gì lạ bởi đó là trang sử đặc sắc, hiếm có trong lịch sử chiến tranh của Việt Nam và thế giới.

Với khí thế hào hùng của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử và thời cơ “một ngày bằng 20 năm”, chỉ trong 55 ngày đêm, với sức mạnh áp đảo cả về quân sự và chính trị, quân và dân ta đã toàn thắng bằng ba chiến dịch then chốt: Chiến dịch Tây Nguyên; Chiến dịch giải phóng Huế – Đà Nẵng và Chiến dịch Hồ Chí Minh. Với khí thế “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân và dân ta đã nhanh chóng dẫn đến sự kiện 30/4/1975. Hơn một triệu ngụy quân và cả bộ máy ngụy quyền Sài Gòn bị xóa sổ, đất nước đi đến thống nhất.

Sự kiện này là ý chí, nguyện vọng và niềm tin tất thắng của dân tộc, đồng thời cũng là chân lý của thời đại. Ý chí và niềm tin toàn thắng của cả dân tộc Việt Nam không chỉ bày tỏ sâu sắc trong “Lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước” của Bác Hồ vào tháng 7/1966: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa… song nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày thắng lợi nhân dân ta sẽ xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Tiếp đó, Người đã nhấn mạnh “Vì độc lập, vì tự do/ Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào/ Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào/ Bắc Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!” (thơ Xuân năm 1969) và được thể hiện bằng những trận chiến lẫy lừng, dũng mãnh của quân dân ta.

Chiến thắng vĩ đại ngày 30/4/1975 đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước lâu dài, đầy gian khổ hy sinh, nhưng rất anh dũng, kiên cường của quân dân ta, là thắng lợi mang ý nghĩa dân tộc và ý nghĩa thời đại sâu sắc, là kết quả sự nỗ lực vượt bậc, chiến đấu hy sinh, nêu cao tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Đại thắng mùa Xuân 1975 là bản anh hùng ca tuyệt đẹp của chủ nghĩa yêu nước, là một “biểu tượng Việt Nam” sáng ngời của thế kỷ XX. Cả dân tộc vang khúc khải hoàn “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”.

Ngày toàn thắng 30/4/1975 đi vào lịch sử như một kết thúc chiến lược vô song. Trải qua cuộc trường chinh 30 năm với ba mốc son chói lọi: Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám, chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ và Đại thắng mùa Xuân 1975 toàn thắng, cả nước ta đã hoàn thành vẻ vang sự nghiệp cứu nước. Từ đó đã hun đúc thêm niềm tin và sức mạnh cho phong trào giải phóng dân tộc, cho các lực lượng hòa bình và tiến bộ trên thế giới.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta mãi mãi gắn liền với tên tuổi Chủ tịch Hồ Chí Minh – ngọn cờ tất thắng và linh hồn của sự nghiệp kháng chiến giành độc lập dân tộc, đồng thời chính là thành quả của khối đoàn kết nhất trí giữa ý Đảng, lòng dân và sự thống nhất ý chí, thống nhất hành động, phấn đấu cho mục đích cứu nước cao cả trong toàn Đảng, toàn dân ta.

Đại thắng mùa Xuân 1975 là sự kiện quan trọng, đánh dấu một mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc và có ý nghĩa quốc tế vô cùng to lớn. Với Đại thắng này, là bài ca hùng tráng nhất của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, là kết tinh truyền thống yêu nước của dân tộc, là bản lĩnh và trí tuệ của người Việt Nam, một đất nước không khuất phục trước kẻ thù, một dân tộc được hun đúc từ truyền thống yêu nước, yêu chuộng hòa bình, đã được phát huy trong từng chiến dịch, từng giai đoạn lịch sử với phương châm “lấy nhân nghĩa để thắng hung tàn, lấy trí nhân để thay cường bạo”, tạo nên “thế trận lòng dân” và “chiến tranh nhân dân” vững chắc, đánh bại mọi thứ bom đạn, vũ khí tối tân, chất độc hóa học và âm mưu xảo quyệt của chủ nghĩa đế quốc, trở thành biểu tượng cao đẹp, sáng ngời của tinh thần yêu nước Việt Nam, đưa âm hưởng của nó mãi mãi ngân vang trong mọi thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau.

38 năm qua, tận hưởng những thành quả rực rỡ từ ngày đất nước Việt Nam độc lập, thống nhất đến nay, đặc biệt là gần 30 năm đổi mới, chúng ta càng thấm thía hơn giá trị của chiến thắng 30/4. Để có được những hoa thơm, trái ngọt nhân dân ta đã phải đổ biết bao mồ hôi, xương máu. Từ những mảnh vụn chiến tranh, dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, tiếp tục đạt được những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới. Lòng yêu nước, bản lĩnh, ý chí tự lực, tự cường, trí tuệ sáng tạo và các giá trị văn hóa Việt Nam luôn được bồi đắp và tỏa sáng, tạo thành sức mạnh của dân tộc, vượt qua mọi khó khăn thách thức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, gắn với Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị theo chuyên đề năm 2013 “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương; nêu cao trách nhiệm gương mẫu của cán bộ, đảng viên nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”, xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Năm tháng sẽ trôi qua, song thắng lợi vẻ vang của nhân dân ta trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là bản anh hùng ca mãi mãi âm vang theo dòng chảy lịch sử, nuôi dưỡng tâm hồn, tinh thần yêu nước và trí tuệ của con người Việt Nam, bồi đắp và làm phong phú thêm sức mạnh chính trị và tinh thần của dân tộc, quyết tâm đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

Nguyễn Thanh Hoàng
gdtd.vn

___________________________

(1): Richard Nixơn – 1999: chiến thắng mà không cần chiến tranh, Nxb. Simon and Schuster.
(2): Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, H.2000, tập 12, tr.108.

Đại biểu Công đoàn Dầu khí Việt Nam báo công dâng Bác

Trong không khí cả nước thi đua chào mừng Đại hội Công đoàn các cấp, tiến tới Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ XI, ngày 17/4/2013, 250 đại biểu Công đoàn về dự Đại hội đại biểu Công đoàn Dầu khí Việt Nam đã tụ hội về Quảng trường Ba Đình lịch sử để tưởng nhớ và báo công với Bác Hồ kính yêu về những thành tích mà Công đoàn Dầu khí đã đạt được trong thời gian qua. Đây là dịp để cán bộ, đoàn viên công đoàn thể hiện sự quyết tâm kiên định đi theo con đường cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã chọn.

tap doan dau khi 1Giây phút báo công trang trọng  trên Quảng trường Ba Đình

Hòa bình mới giành được năm 1954, biết bao công việc bận rộn và khó khăn của Nhà nước Việt Nam non trẻ, nhưng tầm nhìn xa, trông rộng năm 1958, Bác đã thăm quan thành phố Bacu Khu công nghiệp dầu khí Nước Cộng hòa Azecbaizan. Tại đây Người nói với Lãnh đạo và nhân dân thành phố Bacu là: “Sau khi Việt Nam chúng tôi thắng lợi, nhân dân Azecbaizan nói chung và thành phố Bacu nói riêng phải giúp đỡ Việt Nam khai thác và chế biến dầu khí, xây dựng những khu công nghiệp mạnh và giàu đẹp như thành phố Bacu của các đồng chí”.

Thấm thoát đã 55 năm, thực hiện lời dạy của Bác, ngành Dầu khí Việt Nam đã trưởng thành và lớn mạnh không ngừng, vừa phát huy nội lực của đội ngũ cán bộ, công nhân viên, người lao động bằng khối óc, lao động sáng tạo và hết mình, vừa tiến hành hợp tác quốc tế đạt hiệu quả, tiếp thu được khoa học công nghệ tiên tiến của thế giới, vừa bảo đảm an ninh dầu khí, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và lợi ích của Tổ quốc. Chính vì vậy, trong những năm gần đây, ngành Dầu khí đã và đang có doanh thu rất lớn, chiếm khoảng 23% GDP của cả nước và đóng góp 30% tổng thu ngân sách nhà nước. Trong những thành tích đó có phần đóng góp tích cực của 250 đại biểu đang có mặt tại đây, là những đại biểu không chỉ ngày đêm lao động với tinh thần trách nhiệm cao, lao động giỏi, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm, mà còn là những người hết lòng, hết sức, đem nhiệt tình và trí tuệ xây dựng tổ chức công đoàn các cấp ngày càng vững mạnh, là chỗ dựa tin cậy cho 63 nghìn cán bộ, công nhân và người lao động trong ngành Dầu khí.

tap doan dau khi 2Đoàn đại biểu kính dâng vòng hoa và vào Lăng viếng Bác

Trong không khí trang trọng của buổi lễ, cán bộ, đoàn viên công đoàn Ngành Dầu khí đã bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với công ơn trời biển của Bác đối với đất nước và những lời dạy của Bác đối với tổ chức Công đoàn.

Thay mặt cho cán bộ, đoàn viên công đoàn ngành Dầu khí, đồng chí Hà Duy Dĩnh – Chủ tịch Công đoàn Ngành Dầu khí đã hứa trước anh linh của Người, sẽ nguyện suốt đời phấn đấu làm theo tấm gương của Bác, không ngừng học tập, lao động sáng tạo, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư bằng những việc làm thiết thực hàng ngày, luôn kiên cường tiến lên phía trước.

tap doan dau khi 3Công đoàn Dầu khí tổ chức chương trình văn nghệ ca ngợi về Bác trên Quảng trường Ba Đình

Kết thúc lễ báo công dâng Bác, Đoàn đại biểu công đoàn ngành Dầu khí đã tổ chức biểu diễn chương trình văn nghệ ca ngợi về Bác và kính cẩn đặt vòng hoa vào Lăng viếng Người.

Trần Tiên Long
bqllang.gov.vn

Công an Thái Nguyên báo công dâng Bác

Hướng đến kỷ niệm 65 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc và 65 năm Ngày Công an nhân dân học tập thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy, lực lượng Công an nhân dân nói chung, lực lượng công an tỉnh Thái Nguyên nói riêng đang thi đua sôi nổi, lập nhiều chiến công xuất sắc. Hòa chung khí thế đó, sáng 04/4/2013, tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, 150 đại biểu Công an tỉnh Thái Nguyên đã tụ hội về bên Lăng Bác để tưởng nhớ và kính dâng lên người những thành tích, chiến công đã đạt được trong 65 năm thi đua thực hiện Di huấn của Người. Thay mặt Đoàn, đồng chí Đại tá Vũ Hùng – Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc Công an tỉnh đã đọc bài báo công dâng Bác.

CA Thái Nguyên dâng Bác1
Đoàn Công an tỉnh Thái Nguyên báo công tại Quảng trường Ba Đình

Trải qua 65 năm chiến đấu và xây dựng, lực lượng Công an Thái Nguyên đó từng bước trưởng thành và không ngừng lớn mạnh, có đội ngũ cán bộ thực sự vững vàng về chính trị, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng quang vinh và tận hiếu với nhân dân; có trình độ nghiệp vụ, pháp luật và khoa học kỹ thuật.

Chặng đường lịch sử mấy thập kỷ qua, lực lượng Công an Thái Nguyên đó lập nên những chiến công to lớn, rất đáng tự hào. Ghi nhận những đóng góp quan trọng đó, đơn vị đã được Đảng và Nhà tặng thưởng 01 Huân chương Hồ Chí Minh; 04 đơn vị và 03 cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; hàng trăm Huân, Huy chương các loại, các hạng, cùng nhiều Cờ thưởng của Bộ Công an và của Ủy ban nhân dân tỉnh… Đây là những phần thưởng cao quý, là niềm vinh dự tự hào, nguồn động viên to lớn đối với cán bộ công an toàn tỉnh.

Dưới ngọn cờ bách chiến bách thắng của Đảng Cộng sản Việt Nam, vinh dự tự hào về truyền thống vẻ vang của lực lượng Công an nhân dân, hơn lúc nào hết mỗi đơn vị, mỗi cán bộ cảnh sát công an Thái Nguyên đang bằng những hành động thực tế trên từng vị trí công tác, luôn tự nhủ lòng, thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện theo 6 điều Bác Hồ dạy, phát huy truyền thống quê hương, tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ chí Minh, Cuộc vận động” “CAND chấp hành nghiêm điều lệnh, xây dựng nếp sống văn hóa vì nhân dân phục vụ”… nêu cao hơn ý thức trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Noi gương các anh hùng liệt sĩ, các thế hệ cha anh, không quản hy sinh gian khổ; tận tụy trong công tác, mưu trí, sáng tạo và dũng cảm trong chiến đấu; phát huy sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân; đoàn kết, hiệp đồng giữa các lực lượng và với các ngành, các cấp quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng giao phó; viết tiếp những trang sử vẻ vang bằng những chiến công mới; tạo môi trường ổn định, thuận lợi để Thái Nguyên nói riêng, đất nước ta nói chung thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới; nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên con đường hội nhập và phát triển.

Trước anh linh của Người, cán bộ chiến sỹ Công an tỉnh Thái Nguyên đã hứa: Dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù phải gian khổ hy sinh hay đứng trước những khó khăn thử thách đến mấy vẫn một lòng sắt son, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạngtận trung với Đảng, với Chính phủ, tận hiếu với dân, coi đây là lý tưởng và mục tiêu đấu tranh cao nhất; thường xuyên rèn luyện theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tăng cường đoàn kết, kiên quyết khắc phục những thiếu sót khuyết điểm, vượt lên mọi khó khăn thách thức, xây dựng lực lượng Công an chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại; xứng đáng là lực lượng nòng cốt, xung kích trên mặt trận bảo vệ an ninh chính trị, đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn trật tự an toàn xã hội; góp phần đắc lực phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương và đất nước.

CA Thái Nguyên dâng Bác2
Kết thúc buổi báo công, Đoàn Công an Thái Nguyên
 đã dâng vòng hoa  và vào Lăng viếng Bác

Kết thúc buổi Lễ, cán bộ, chiến sỹ Công an tỉnh Thái Nguyên đã đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Bác với lòng biết ơn vô hạn, quyết tâm thực hiện nghiêm túc 6 điều dạy của Người, xây dựng lực lượng Công an tỉnh Thái Nguyên trong sạch vững mạnh, xứng đáng với niềm tin yêu của quần chúng nhân dân./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Lễ báo công dâng Bác của Đại hội đại biểu Hội Nông dân thành phố Hà Nội lần thứ VIII

Nhân dịp kỷ niệm 123 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, 38 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, 65 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc và chào mừng Đại hội đại biểu Hội Nông dân thành phố Hà Nội lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2013-2018, chiều ngày 15/4/2013, 350 đại biểu dự Đại hội đại biểu Hội Nông dân thành phố Hà Nội lần thứ VIII đã vinh dự tổ chức lễ báo công dâng Bác, báo cáo với Bác những thành tích xuất sắc của tổ chức Hội và giai cấp nông dân Hà Nội trong những năm qua.

Lễ báo công dâng Bác1
Buổi lễ báo công diễn ra trang nghiêm trên Quảng trường Ba Đình

Trong thư gửi Hội nghị cán bộ nông dân toàn quốc (họp từ 28/11 – 7/12/1949), Bác viết:  Nông vận phải là:

– Tổ chức nông dân phải chặt chẽ.

          – Đoàn kết nông dân thật khăng khít.

          – Huấn luyện nông dân thật giác ngộ.

          – Lãnh đạo nông dân hăng hái đấu tranh cho lợi ích của nông dân, của Tổ quốc.

Người còn nhấn mạnh: “Vận động nông dân là phải vận động thế nào cho toàn thể nông dân đông, nghĩa là: Làm cho nông dân hiểu rõ quyền lợi của dân tộc và của giai cấp mình. Muốn thế thì cán bộ làm công tác vận động nông dân phải tránh bệnh chủ quan, bệnh hình thức, bệnh giấy tờ, cán bộ tỉnh phải đến tận các huyện, các xã, các thôn, cán bộ phải chân đi, mắt thấy, tai nghe, miệng nói, tay làm, óc nghĩ để thiết thực điều tra giúp đỡ, kiểm soát rút kinh nghiệm giúp đỡ nông dân và học hỏi dân”.

Thấm nhuần những lời dạy của Người, trong những năm qua, toàn thể cán bộ, hội viên Hội Nông dân thành phố Hà Nội đã không ngừng ra sức thi đua, đoàn kết, phấn đấu trưởng thành, vượt qua nhiều khó khăn thử thách như thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh trên người và gia súc. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam; sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Thành uỷ Hà Nội; sự giúp đỡ, tạo điều kiện có hiệu quả của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân;  sự phối hợp chặt chẽ của Mặt trận Tổ quốc, các đơn vị, doanh nghiệp… công tác Hội và phong trào nông dân Hà Nội trong những năm qua đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế – xã hội của Thủ đô. Công tác xây dựng tổ chức Hội đổi mới; các phong trào thi đua cụ thể, thiết thực, hiệu quả, thực sự giữ vai trò nòng cốt trong các phong trào ở nông thôn; đội ngũ cán bộ Hội đoàn kết, từng bước trưởng thành đáp ứng được yêu cầu; vai trò, vị thế, uy tín của Hội được khẳng định và nâng cao trong xã hội, đồng thời góp phần quan trọng vào sự ổn định chính trị, an ninh quốc phòng, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển Thủ đô giàu đẹp, văn minh, hiện đại. Những lời căn dặn của Bác với cán bộ, hội viên Hội Nông dân là nguồn động viên, định hướng trên con đường xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong công cuộc xây dựng nông thôn mới của Thủ đô Hà Nội.

Lễ báo công dâng Bác2
Kết thúc buổi lễ, Hội đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh  kính yêu

Trước anh linh của Người, cán bộ, hội viên Hội Nông dân Hà Nội xin hứa: Sẽ ra sức thi đua, tập trung xây dựng tổ chức Hội vững mạnh toàn diện; nâng cao hiệu quả, chất lượng các phong trào thi đua, các cuộc vận động; chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nông dân; tích cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền; chủ động tham gia xây dựng nông thôn mới góp phần đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển Thủ đô giàu đẹp, văn minh, hiện đại, giữ vững phẩm chất chính trị vững vàng của người cán bộ Hội, hết lòng, hết sức với nông dân./.

Vân Phương
bqllang.gov.vn

Sức lan tỏa từ giá trị của các công trình tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở trong nước

Hội thảo với chủ đề “Bảo tồn và phát huy giá trị các công trình tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở trong nước” do Bảo tàng Hồ Chí Minh phối hợp với Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch (VHTT&DL) tỉnh Nghệ An tổ chức từ ngày 8-9/4/2013 tại thành phố Vinh. Tham gia Hội thảo có gần 200 đại biểu đến từ Bảo tàng của các tỉnh, các Khu Di tích lịch sử, Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cả nước.

hoi-thao-khoa-hoc1
Tiến sỹ Chu Đức Tính, Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh phát biểu
tại Hội thảo khoa học

 Sinh ra và lớn lên từ quê hương Nam Đàn, Nghệ An, Nguyễn Tất Thành-Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đã sớm có chí đánh đuổi thực dân, phong kiến. Tuổi thơ của Người gắn bó với những hoạt động yêu nước của cha anh và lớp lớp sỹ phu, công nhân lao động khắp các tỉnh miền Trung, miền Nam trước khi ra đi tìm đường cứu nước.

Năm 1941, Người về Pắc Bó – Cao Bằng trực tiếp lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục cùng Trung ương Đảng lãnh đạo sự nghiệp giữ vững chính quyền cách mạng, tiến hành hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, thống nhất đất nước. Dấu ấn hoạt động của Người, cùng với những lần đi kiểm tra, làm việc trải dài, rộng khắp ở nhiều tỉnh, thành, địa phương trong cả nước. Sau khi Người qua đời, với lòng thành kính và biết ơn Hồ Chủ tịch, Đảng và Nhà nước ta đã quyết định giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây dựng Lăng của Người, xây Bảo tàng Hồ Chí Minh tại Hà Nội và hệ thống các bảo tàng, các di tích lịch sử lưu niệm về Người trong cả nước để lưu giữ, bảo quản, tôn tạo và phát huy giá trị của những tài liệu, hiện vật, hình ảnh về Người.

Bên cạnh những công trình lớn ấy, với lòng kính yêu, biết ơn, tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã sáng tạo ra nhiều hình thức tưởng niệm phong phú, đa dạng như: Tượng, Tượng đài, Nhà bia, Đền thờ, Quảng trường, Thờ phối trong các đền, chùa, lấy tên của Bác đặt cho thành phố, trường học….. Gần nửa thế kỷ qua, những công trình tưởng niệm và mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện tình cảm thiêng liêng mà còn là niềm tự hào, động lực mạnh mẽ thúc đẩy nhân dân ta tích cực thực hiện lời dạy của Người là xây dựng một nước Việt Nam: Hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh.

Theo thống kê của cơ quan chức năng, hiện nay trên cả nước có gần 400 công trình tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã và đang phát huy tác dụng, đóng góp không nhỏ cho sự nghiệp giáo dục, tuyên truyền về thân thế, cuộc đời, sự nghiệp hoạt động cách mạng và tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong không khí sôi nổi của cuộc Hội thảo, các đại biểu đã trao đổi và phát biểu những ý kiến hết sức sâu sắc và kinh nghiệm về quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị các công trình tưởng niệm Bác Hồ. Ông Nguyễn Bá Hòe, Giám đốc Khu Di tích Kim Liên cho biết:“Khu Di tích Kim Liên là nơi lưu giữ những tài liệu, hiện vật vô giá về Chủ tịch Hồ Chí Minh và gia đình của Người.Thông qua những tư liệu, hiện vật, người xem sẽ hiểu được hoàn cảnh sống của gia đình Bác Hồ, đó là lòng yêu nước thiết tha, chí căm thù giặc, tấm lòng bao dung, đức hy sinh cao cả… Những năm qua, Khu Di tích thường xuyên mở cửa đón khách tham quan tất cả các ngày trong năm, kể cả ngày lễ, ngày chủ nhật, có khi ngoài giờ hành chính.

Ngoài ra Khu Di tích còn còn tích cực đổi mới, sáng tạo trong các hoạt động tuyên truyền của mình như: Báo cáo chuyên đề về Bác Hồ, tổ chức triển lãm, tọa đàm khoa học… Đội ngũ cán bộ, hướng dẫn viên của Khu Di tích với niềm vinh dự, tự hào là những người con quê hương Bác Hồ, bằng tinh thần trách nhiệm, tinh thần thái độ phục vụ hòa nhã, văn minh, lịch sự đã đón tiếp và hướng dẫn tận tình chu đáo đồng bào và khách quốc tế tới thăm Khu Di tích  đồng thời để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp trong lòng du khách”.

Theo con số thống kê của Khu Di tích, đến nay đã có trên 30 triệu lượt khách tới tham quan, bình quân hàng năm đón từ 1,6 đến 2 triệu lượt người. Năm có số lượng khách tham quan lớn nhất là năm 1990 – kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Khu Di tích đã đón 4,3 triệu lượt khách.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Hoa Xinh, Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, các thiết chế, công trình tưởng niệm Bác Hồ ở thành phố Hồ Chí Minh đã phát huy giá trị, ý nghĩa chính trị là giáo dục, tuyên truyền về thân thế, cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân của thành phố. Hiện nay trên thành phố Hồ Chí Minh chỉ có hai cụm công trình tưởng niệm Bác Hồ, đó là: Tượng đài Bác Hồ với thiếu nhi và Tượng Nguyễn Tất Thành tại Bến cảng Sài Gòn nhưng đây là những công trình có ý nghĩa đặc biệt đối với nhân dân thành phố. Tất cả các sinh hoạt chính trị, các buổi đặt hoa, dâng hương, báo công đều được tổ chức trang trọng ở nơi đây, và các cụm công trình này thực sự là nơi hội tụ tình cảm, niềm tin của nhân dân đối với Bác Hồ kính yêu.

hoi-thao-khoa-hoc2
Quang cảnh buổi Hội thảo khoa học

Đến từ tỉnh cực nam Trung bộ, đại biểu của Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Bình Thuận trong tham luận của mình đã đề cập đến tính hiệu quả trong các hoạt động tuyên truyền giáo dục tại Khu Di tích Dục Thanh – Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Bình Thuận, một công trình tưởng niệm của nhân dân Bình Thuận đối với Bác Hồ kính yêu và là một trong những điểm du lịch hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước.

Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Bình Thuận được khởi công xây dựng năm 1986, thể theo ý chí, nguyện vọng và lòng kính yêu sâu sắc của nhân dân Bình Thuận đối với Bác. Những năm qua, một trong những hoạt động thu hút khách đến với bảo tàng là hoạt động tưởng niệm, hoạt động này từ lâu đã trở thành một nghi lễ không thể thiếu đối với các đoàn khách mỗi khi đến với Dục Thanh. Tại gian trang trọng của bảo tàng, hàng ngàn buổi lễ tưởng niệm, dâng hoa, dâng hương, báo công… được tổ chức, tạo ấn tượng tốt đẹp trong lòng du khách.

Trong giây phút thiêng liêng đứng trước chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, tất cả như được trở về với cội nguồn dân tộc, luôn cảm thấy thanh thản lạ thường. Ánh mắt bao dung, đôn hậu và tấm gương đạo đức sáng ngời của Bác đã tiếp thêm sức mạnh to lớn, để mỗi cá nhân tự hứa với lòng mình sẽ thực hiện tốt hơn những lời Bác dạy. Tất cả mọi người, từ các cụ già đến các cháu nhỏ khi đến với Bảo tàng đều có những ấn tượng sâu sắc, thông qua những dòng lưu niệm được ghi lại: “… Tôi đã được xem Bảo tàng về Bác ở nhiều nơi, nhưng Bảo tàng Bác Hồ ở Bình Thuận rất đẹp, nội dung cô đọng, rõ ràng, có tác dụng giáo dục rất mạnh nên đã gây nhiều cảm xúc trong tôi, đặc biệt là gian tưởng niệm Bác Hồ” (Cụ Nguyễn Hữu Quý – Câu lạc bộ Hội người cao tuổi Thủ đô Hà Nội, ngày 08/5/2010), “Hôm nay được dẫn đoàn học sinh Trường THCS và THPT Phạm Ngũ Lão  Quận Gò Vấp  Tp Hồ Chí Minh đến dâng hương tưởng niệm Bác tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, chi nhánh Bình Thuận và vinh dự tổ chức lế kết nạp Đoàn cho thanh niên của trường, tôi cảm thấy thật vinh dự và hạnh phúc. Đây sẽ mãi là nơi giáo dục truyền thống được giới trẻ tôn kính và tưởng nhớ”, (Nguyễn Thị Thanh Thảo – giáo viên Văn A, ngày 21/3/2013).

Lúc sinh thời, do hoàn cảnh đất nước còn trong chiến tranh, Bác Hồ chưa có dịp vào thăm Tây Nguyên, nhưng đồng bào Tây Nguyên luôn kính yêu và biết ơn vô hạn đối với Người và ngược lại, Bác cũng dành vô vàn tình yêu thương đối với đồng bào Tây Nguyên.

Tới tham dự Hội thảo, trong tham luận của mình, đại biểu Huỳnh Văn Kính – Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Gia Lai và Kon Tum cho chúng tôi biết một thông tin quý giá về một hiện vật đặc biệt hiện đang được lưu giữ trong bảo tàng: Đó là bức tượng Bác Hồ được đúc bằng đồng cao 12,5cm. Về sự ra đời của Bức tượng này, theo lời kể của một số lão thành cách mạng, vào giữa những năm 60 của thế kỷ trước, một người dân tộc Jrai ở xã Ia Lang, huyện Đức Cơ đã bí mật đúc thủ công một bức tượng Bác Hồ bằng đồng  tặng cho chi bộ xã. Bức tượng chỉ cao 12,5cm nhưng luôn được đặt trang trọng trong lễ kết nạp đảng viên mới và được truyền từ chi bộ này đến chi bộ khác. Sau đó, tượng Bác được truyền tay đến những chiến sĩ cộng sản. Họ truyền tay nhau, người ngã xuống truyền cho đồng đội với lời căn dặn: “Các đồng chí dù có phải hy sinh cũng quyết giữ lấy tượng Bác để làm cách mạng”. Cứ thế bức tượng luôn được giữ cẩn thận qua bao trận càn quét của địch. Bức tượng Bác được xem là chứng nhân của lịch sử, hiện nay đang được lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Gia Lai và Kon Tum.

Lòng dân Tây Nguyên với Bác đặc biệt còn khắc ghi qua câu chuyện góp gỗ xây Lăng Bác ở Hà Nội. Những cây gỗ quý giá hàng trăm năm tuổi ở rừng nguyên sinh Kon Hà Nừng đã hòa quyện vào tình cảm, trái tim của đồng bào Tây Nguyên để xây dựng Công trình Lăng Bác. Sức mạnh nào, nếu không phải là tình yêu, lòng kính trọng liệu có thể thực hiện công việc khó khăn đến thế khi phải vượt đường xa, suối sâu, bom đạn của chiến tranh để đưa gỗ ra tới Thủ đô. Hiện nay, ở Gia Lai có 3 công trình tưởng niệm Bác Hồ, đó là: Bảo tàng Hồ Chí  Minh – Chi nhánh Gia Lai và Kon Tum, Tượng đài “Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên” tại Quảng trường Đại Đoàn Kết và địa điểm đón thư Bác Hồ gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Pleiku năm 1946. Trong đó, Công trình Tượng đài “Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên” được khánh thành ngày 09/12/2012 thực sự là niềm tự hào của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, một công trình lịch sử – văn hóa, có giá trị to lớn. Như tâm sự của ông Huỳnh Minh Kính: Điều quan trọng nhất với công trình này là niềm mơ ước bấy lâu của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nay đã trở thành hiện thực. Có Bác về bên cạnh, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên tin tưởng chắc chắn rằng, “trời Tây Nguyên thêm xanh” hơn.

Đã hơn 40 năm ngày Bác Hồ đi xa, nhưng tấm lòng của mỗi người dân đất Việt đều hướng về Người với tình cảm đặc biệt. Ngày nối ngày, trên Quảng trường Ba Đình nơi Bác Hồ đang yên nghỉ hay tại các Di tích, Công trình tưởng niệm về Người trên khắp cả nước, hàng vạn lượt nhân dân và khách quốc tế thành kính đến với Người bằng tình cảm sâu nặng. Đã từ lâu rối, mọi người dân Việt Nam đến với Bác như một nhu cầu tinh thần, một phong tục tập quán, một đời sống văn hóa tâm linh. Một nén nhang thơm, một phút tưởng niệm trước tượng đài, phòng thờ của Người chính là tâm nguyện, là niềm tin mãnh liệt của người dân Việt Nam đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Có thể khẳng định rằng, trong nhiều năm qua hoạt động của các Di tích và các Công trình tưởng niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cả nước đã phát huy giá trị, đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp giáo dục và phát huy truyền thống cách mạng của Đảng và nhân dân, động viên các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hiện nay, trong phong trào học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, các Di tích, Công trình tưởng niệm về Người sẽ tiếp tục là điểm đến hấp dẫn và là nơi hội tụ tình cảm, niềm tin của nhân dân; để mỗi người đến với Bác tự thấy lòng mình bình yên, thanh thản, biết sợ hãi khi làm điều xấu, thấy hạnh phúc khi làm điều tốt lành. Mỗi người sống tốt lành cả xã hội sẽ tốt lành, đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc./.

Trần Duy Hưng
bqllang.gov.vn

Máu và hoa

KÝ ỨC 30-4:

(GD&TĐ) – Cuộc chiến tranh kết thúc, đất nước sạch bóng thù, non sông liền một dải, dân tộc Việt Nam lại chung lòng xây dựng cuộc sống mới. 38 năm sau đất nước đã có những bước chuyển quan trọng, với nhiều thành tựu trong xây dựng hòa bình. Nhưng ký ức về cuộc chiến tranh thần thánh thì vẫn mãi mãi đi cùng mỗi người Việt Nam… 

Ngày mới trên chiến khu xưa

Năm 1951, Trung ương Cục miền Nam ra đời, thay cho Xứ ủy Nam bộ có từ năm 1946. Trong những năm tháng chiến tranh, Trung ương Đảng đã xác định vai trò to lớn của T.Ư Cục miền Nam, nên đã tập trung ở đây rất nhiều lãnh đạo tài giỏi, cả trên mặt trận chính trị, quân sự lẫn ngoại giao. T.Ư Cục miền Nam thực sự là “bộ não” của cách mạng miền Nam, dưới sự chỉ đạo thống nhất của Ban Chấp hành T.Ư. Các cá nhân từng công tác tại T.Ư Cục miền Nam đều có những đóng góp to lớn, sau khi hòa bình lập lại đều nắm những cương vị chủ chốt của Đảng, Chính phủ.

Cầu Hiền Lương (Vĩnh Linh, Quảng Trị)

T.Ư Cục miền Nam từng có nhiều giai đoạn đứng chân trên đất Tây Ninh. Nhất là ở vùng Tân Biên, nơi có những khu rừng già âm u và cũng giáp biên giới Campuchia (qua vùng Xa Mát). Tây Ninh từng bị địch chà đi xát lại, sau hòa bình kinh tế gặp nhiều khó khăn.

Tuy nhiên, ai đến Tây Ninh vào thời điểm này đều ngỡ ngàng trước sự vươn lên hết sức mạnh mẽ. Suốt những chặng đường dài vài chục cây số bám theo đường lớn, là những cánh rừng cao su bạt ngàn. Cao su Tây Ninh diện tích lớn nhất nước và cũng đem lại giá trị kinh tế cao nhất nước ở loại cây công nghiệp này. Giáp Campuchia, Tây Ninh có nhiều cửa khẩu. Xa Mát đã có quyết định đầu tư cho đến năm 2020 sẽ trở thành cửa khẩu quốc tế quan trọng. Còn hiện thời, Mộc Bài là cửa khẩu quốc tế đường bộ lớn nhất phía Nam trên tuyến biên giới đất liền Việt Nam – Campuchia. Khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài gồm: Khu thương mại công nghiệp (phi thuế quan), Khu quản lý hành chính, Khu quản lý và kiểm soát cửa khẩu quốc tế, Khu đô thị và dân cư, Khu du lịch – dịch vụ, Khu vực phát triển nông – lâm nghiệp với tổng diện tích 21.284 ha bao gồm các xã Long Thuận, Tiên Thuận, Lợi Thuận, An Thạnh thuộc huyện Bến Cầu và các xã Phước Lưu, Bình Thạnh, Phước Chỉ thuộc huyện Trảng Bàng. Đặc biệt, nằm trên đường xuyên Á tại đây có 3 cửa khẩu, gồm Cửa khẩu quốc tế Mộc Bài và hai cửa khẩu phụ Phước Chỉ, Long Thuận, phục vụ cho các hoạt động giao lưu kinh tế giữa Việt Nam với Campuchia và các nước trong khối ASEAN. Mộc Bài chỉ cách TP Hồ Chí Minh 70 km và thủ đô Phnom Penh của Campuchia 170 km. Vì thế, nếu trong chiến tranh nơi đây là căn cứ địa cách mạng, thì nay đã trở thành giao điểm quan trọng giữa hệ thống đường quốc tế và đường quốc gia ở phía Nam đất nước.

Du khách nước ngoài thăm địa đạo Củ Chi (TPHCM)

Máu và hoa

Gần 40 năm. Cỏ cây đã phủ xanh những vùng đất lở loét đạn bom nhưng hôm nay đi đâu trên dải đất này người ta cũng lại nhớ về những năm tháng vô cùng ác liệt. Này đây địa đạo Vịnh Mốc, nơi người dân “Lũy thép Vĩnh Linh” tự vùi mình trong lòng đất để bám trụ nơi bom đạn khốc liệt, cái chết có thể đến với mỗi con người bất cứ lúc nào.

Này đây cây cầu Hiền Lương lịch sử, là nơi “nước sông chia đôi sơn hà” với vĩ tuyến 17 như một nhát chém xẻ chia đất nước. “Bên kia cầu Hiền Lương, chiều nay ra đứng trông về, mắt đượm tình quê…” Bên này sông là ta, bên kia sông là địch, và cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước cũng là để đến một ngày “Anh đứng chờ em giữa cầu Hiền Lương”.

Này đây Làng Vây, nơi xe tăng bộ đội cụ Hồ lần đầu tiên xung trận trên chiến trường miền Nam.

Này đây một thị xã Quảng Trị đổ nát, chỉ duy nhất còn lại một ngôi nhà hai tầng sau những trận chiến ác liệt năm 1972.

Ngày 30/4 là dịp để chúng ta nhìn lại cuộc chiến, suy ngẫm về những gì được mất để từ đó thêm quyết tâm, thêm năng lượng đóng góp cho sự phát triển của đất nước, không phụ máu xương của những người đã khuất.

Này đây Khe Sanh, này đây Đường Chín…, biết bao con người đã ngã xuống vì nền độc lập dân tộc, trước khi từ giã cõi đời vẫn mong đến ngày nước nhà thống nhất.

Quảng Trị, “bãi chiến trường xưa nay đã thành thương trường”. Điều đó đúng với Khu kinh tế – thương mại Lao Bảo. Cửa khẩu Lao Bảo (huyện Hướng Hóa, Quảng Trị, đối diện với cửa khẩu Den Savanh của Lào), là nút quan trọng trên Hành lang kinh tế Đông – Tây.  Năm 2008, Chính phủ tiếp tục phê duyệt quy hoạch chung các khu kinh tế cửa khẩu tại Việt Nam đến năm 2020. Theo đó, Khu kinh tế – Thương mại đặc biệt Lao Bảo là một trong 9 khu kinh tế cửa khẩu được quan tâm xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng, quy chế, biện pháp và chính sách.

Như vậy là Lao Bảo – Khe Sanh nói riêng và Quảng Trị đất lửa nói chung không chỉ là vùng đất máu lửa mà là vùng đất đến nay đã nở hoa. Hoa nở trên điêu tàn của cuộc chiến. Hoa nở trong cuộc sống bình dị của mỗi người dân Quảng Trị, từng chịu đựng biết bao hy sinh mất mát. Quảng Trị, mảnh đất máu và hoa đang vươn mình, vững bước đi tới tương lai.

Chiến thắng 30/4/1975 đi vào lịch sử dân tộc như  một trang vàng chói lọi. Cả dân tộc đã làm cuộc trường kỳ kháng chiến ròng rã 21 năm trời, với biết bao xương máu để giành cho được độc lập dân tộc, thống nhất nước nhà. Trong những ngày cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ leo thang, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Dù có phải đốt cháy dãy Trường Sơn thì chúng ta cũng quyết giành bằng được độc lập dân tộc”. Quyết tâm của Người, ý chí của Người cũng là quyết tâm, ý chí của tất cả những người Việt Nam yêu nước.

Chiến Thắng
gdtd.vn

Đột phá Buôn Ma Thuột, trận mở màn then chốt

(GD&TĐ) – Trong cuộc Tổng tiến công chiến lược  mùa xuân năm 1975, quân ta đã đánh vào nơi hiểm yếu nhất của địch, theo hướng từ Đông sang Tây, mà không theo hướng từ Bắc xuống Nam, đã mở ra thế chia cắt làm đôi thế trận phòng ngự chiến lược toàn miền Nam của quân ngụy Sài Gòn, cô lập số quân còn lại của chúng ở phía Bắc Quân khu II và uy hiếp lực lượng của chúng ở Quân khu III. Và, thị xã Buôn Ma Thuột ở Nam Tây Nguyên đã được xác định. Tại sao vậy?

1. Vì Buôn Ma Thuột, tỉnh lỵ tỉnh Đắk Lắk, là một thị xã lớn, có diện tích khoảng 25 km2, nơi đặt căn cứ của Sư đoàn 23 ngụy nhưng lại nằm sâu trong vùng hậu phương địch, không trực tiếp đối mặt với trận tuyến của ta, nên địch không đề phòng mà số quân đồn  trú ở đây cũng không nhiều. Hơn nữa, đột phá Buôn Ma Thuột, nơi địch sơ hở, nơi hiểm yếu của khâu yếu nhất trong hệ thống phòng ngự của địch, một vị trí chiến lược rất cơ động, nên từ đấy, ta sẽ tạo đà nhanh chóng phát triển lực lượng ra các hướng chủ yếu khác, nhất là tiến thẳng xuống đồng bằng Nam Trung Bộ và có thể đi xa hơn, tới miền Đông Nam Bộ. Nhìn lên bản đồ, chúng ta thấy Buôn Ma Thuột giữ một khoảng cách khá đều với Bắc Tây Nguyên, đồng bằng Nam Trung Bộ và miền Đông Nam Bộ – Sài Gòn. Đó là một vị trí trung tâm của chiến trường, vượt ra ngoài phạm vi Tây Nguyên, hướng tới toàn cục. Một đầu mối giao thông, nằm giữa những con đường rất tốt và rất thuận tiện. Từ trận đánh Buôn Ma Thuột, sức chấn động mạnh mẽ sẽ đến ngay cơ quan Tổng hành dinh quân ngụy.

Cho đến đầu năm 1974, thế bố trí của quân ngụy Sài Gòn là yếu ở giữa và mạnh hai đầu. Do đó, hướng đột phá chiến lược của cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa xuân 1975, dĩ nhiên phải là Tây Nguyên. Nhưng vấn đề cụ thể đặt ra là Bắc hay Nam Tây Nguyên?

Đến trước Hiệp định Paris, tháng 1/1973, các chiến dịch Tây Nguyên thường được tổ chức ở phía Bắc. Sáu, bảy đợt hoạt động quân sự có tính chất chiến dịch đều diễn ra ở đây.

Những đàn voi vận chuyển vũ khí và lương thực phục vụ chiến dịch trên đường 14 (Tây Nguyên)  Ảnh: TL

2. Trên thực tế, cũng đã có một chiến dịch cho Nam Tây Nguyên – chiến dịch Bu Prăng – Đức Lập – vào thời kỳ khó khăn – năm 1969 – nhưng đã không thực hiện được vì không đủ khả năng bảo đảm công tác hậu cần.

Từ năm 1973, tuy khả năng bảo đảm hậu cần chiến dịch đã tốt hơn rất nhiều thì trái lại, việc bảo đảm vận chuyển chiến lược Bắc – Nam đi qua khu vực này, lại càng phức tạp hơn khiến cho việc thực hiện một chiến dịch tiến công ở Nam Tây Nguyên lại càng trở nên cấp thiết. Vì hành lang vận chuyển Bắc – Nam, cho đến thời kỳ này, khi đi qua phía Bắc Đức Lập (Nam Tây Nguyên) – nơi có địa hình độc đạo, rất hiểm nghèo mà địch chiếm giữ – chúng ta vẫn phải đi chệch một chút sang vùng đất phía Đông Campuchia, trước khi vào đến Nam Bộ. Lực lượng Khơme đỏ đã lợi dụng điều này, nhất là trên đoạn đường tiếp giáp với Nam Bộ, đã nhiều lần tung binh lính ra ngăn chặn xe vận tải của ta, giết người, cướp hàng, đồng thời luôn luôn đưa ra yêu sách đòi ta rút bỏ con đường. Xuất phát từ những nguyên nhân ấy, các cơ quan chiến lược đã nhìn thấy vấn đề, trước hết là cần phải có ngay một chiến dịch tiến công ở Nam Tây Nguyên, nhằm nắn con đường vận tải chiến lược trở lại đất Việt Nam.

Thật ra, Bộ Tư lệnh Tây Nguyên cũng đã tính đến một chiến dịch như thế vào cuối năm 1973. Nhưng muốn thế, phải có đủ lực lượng, thậm chí còn phải có nhiều lực lượng. Còn muốn giải phóng ngay Buôn Ma Thuột, thì cần phải có ngay hai sư đoàn. Khả năng này nếu có được, không những sẽ bảo đảm vững chắc cho sự thông suốt của hành lang Bắc – Nam, là mục đích của chiến dịch lúc ấy mà còn tạo được địa bàn chiến lược rất cơ động, hướng tới các ngả. Nếu được như thế, chiến dịch rõ ràng sẽ mang một mục đích và ý nghĩa khác hẳn. Tuy thế, vấn đề ở đây, cố nhiên vẫn là lực lượng. Ở Tây Nguyên lúc bấy giờ chỉ có hai sư đoàn, đang phải ôm lấy mặt trận chính là hướng Bắc Pleiku, Kon Tum và một số trung đoàn độc lập, hoạt động ở hướng khác. Vậy cơ sở đâu để hạ quyết tâm? Chính là chiến lược, khi những người vạch kế hoạch ở cơ quan Tổng hành dinh, đã nắm được lực lượng trong tay. Những dự kiến về một chiến dịch ở Nam Tây Nguyên của các nhà chỉ huy quân sự cũng chính là bắt nguồn từ sự gợi ý và chỉ đạo của chiến lược. Mục đích của chiến dịch bao giờ cũng gắn chặt và chịu sự chi phối sát sao từ mục đích của chiến lược. Còn lại là vấn đề thời cơ. Nghĩa là khi nào thì có thể thực hiện được? Đó là thời cơ tăng thêm cho Tây Nguyên 2 sư đoàn – sư đoàn 968 và sư đoàn 316. Việc làm này sau khi được thực hiện đã xem như là “cái nút” của cuộc chiến. Lực lượng ở Tây Nguyên bỗng chốc trở thành một tập đoàn chiến lược mạnh, với 1 Quân đoàn, gồm 4 sư đoàn và một số trung đoàn độc lập, cùng pháo mặt đất, pháo cao xạ, xe tăng, xe thiết giáp, công binh, vận tải… được tăng cường, dày dạn chiến đấu, có phối hợp với sư đoàn 3 Sao Vàng và ba thứ quân của Quân khu V, cùng hành động vào thời điểm lịch sử mà mọi người đều đã biết, khi các điều kiện khác cũng đã chín muồi cho việc hạ quyết tâm.

Trên thực tế, từ kết quả của những hoạt động quân sự ở Bắc Tây Nguyên, về phía ta, đến tháng 10/1974, vùng giải phóng Tây Nguyên đã được mở rộng và nối liền, thành một vùng căn cứ tương đối hoàn chỉnh, từ Bắc Kon Tum đến Nam Gia Lai. Đặc biệt, sau hai năm 1973 và 1974, hành lang chiến lược từ miền Bắc, đã có thể vào đến tận chiến trường Nam Bộ, theo đó là đường ống dẫn xăng dầu, lực lượng, binh khí – kỹ thuật… đã được đưa vào.

Tuy vậy, cho đến đầu tháng 12/1974, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, cũng như quan thầy Mỹ, vẫn không nắm được và đánh giá đúng thế mới và lực mới của đối phương.

Chúng cho rằng, đầu năm 1975, hướng tiến công chính của ta sẽ nhằm vào Quân khu III, chủ yếu là Tây Ninh. Thời gian ta tiến công có thể là trước hoặc sau Tết, và cho đến tháng 6/1975 là cùng, tức là phải dừng lại trước mùa mưa. Với nhận định ấy, các tướng lĩnh quân ngụy được lệnh phải ra đòn trước để phá kế hoạch của ta. Các quân khu, tiểu khu bị đốc thúc phải mở chiến dịch “bình định cấp tốc” trong ba tháng, kể từ ngày 1/1/1975 để “ngăn chặn chiến dịch Đông – Xuân của Việt Cộng”. Và chúng vẫn giữ nguyên thế bố trí chiến lược “mạnh hai đầu” mà không tăng thêm lực lượng ở giữa cho Quân khu II và Tây Nguyên.

3. Thế nhưng, vào thời điểm đầu năm 1975, hướng đột phá chiến lược của ta, tuy vẫn là Tây Nguyên nhưng không thể là phía Bắc. Bởi lẽ, vùng đất này luôn luôn là nơi đối đầu, nơi tập trung lực lượng mạnh của ta và của địch. Hãy lấy Kon Tum, Pleiku làm thí dụ.

Nếu tiến công vào Kon Tum thì không thể phát triển được thế chiến thắng. Năm 1972, ta đã đánh Kon Tum nhưng không thu được kết quả. Vì căn cứ này gần miền Bắc hơn nên địch đề phòng rất kỹ và cũng ở gần Pleiku hơn nên dễ được Pleiku phản kích chiếm lại hoặc tăng cường lực lượng để Kon Tum có đủ khả năng chống đỡ. Còn ở Pleiku, địch rất mạnh. Đây là căn cứ đầu não của Quân khu II, nơi khống chế đường 19 mạch máu (mà theo quan niệm của quân nguỵ “làm chủ đường 19 là làm chủ Tây Nguyên”). Vì vậy, khi biết tin ta đánh Tây Nguyên, chúng một mực tin rằng ta sẽ đánh vào phía bắc mà cụ thể là Kon Tum, Pleiku.

Chúng cũng lập luận nếu ta đánh vào phía Nam Tây Nguyên thì cũng chỉ là đánh vào những thị xã, thị trấn nhỏ, không đáng kể, như Gia Nghĩa, Đức Lập, nhằm mục đích thông thường. Chúng không quan niệm được rằng, về mặt địa – quân sự, Nam Tây Nguyên là một địa bàn có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc đánh tiêu diệt lớn, nhất là vùng chung quanh Buôn Ma Thuột. Nhưng cho đến cuối năm 1974 – đầu năm 1975, trên thực tế, việc bảo đảm hậu cần hiện vẫn còn là khâu yếu, chưa khắc phục được. Chính cái nguyên nhân ấy khiến cho các chiến dịch không thể tiến hành được ở Nam Tây Nguyên.

Cho nên, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu vẫn đinh ninh rằng việc ta tiến công vào Nam Tây Nguyên trong chiến cục mùa xuân 1975 là điều khó có thể xảy ra. Từ suy nghĩ đó, địch cho rằng, ta không đủ sức đánh vào Buôn Ma Thuột vì không thể bảo đảm nổi vật chất hậu cần và đưa lực lượng vào nên chúng ít phòng bị. Bởi thế, Buôn Ma Thuột là trận đánh then chốt quyết định, một đòn đánh hiểm, đánh vào nơi xung yếu mà lại là nơi sơ hở nhất và hết sức bất ngờ đối với quân ngụy.

Dương Xuân Đống (Nhà nghiên cứu văn hóa quân sự)
gdtd.vn

Trọn đời đồng đội tìm nhau

Trong một trận đánh không cân sức giữa 20 chiến sĩ ta và gần 200 lính Mỹ ở điểm cao 300 Đất (Quảng Trị), Trung đội trưởng Đào Văn Phê tổ chức lui quân thì thấy thiếu trinh sát Trần Văn Hải. Mặc cho pháo cầy, đạn xé, Đào Văn Phê quay lại trận địa tìm Trần Văn Hải. Lúc ấy, Hải bị thương đã được anh tìm thấy và chuyển về tuyến sau an toàn. Hòa bình lập lại, gần 35 năm Trần Văn Hải đi tìm người đã cứu mình mà không có thông tin gì ngoài cái tên: Đào Văn Phê.

Vượt đạn bom tìm cứu đồng đội

Đầu năm 1969, Tiểu đoàn K3-Tam Đảo chúng tôi tác chiến trên Mặt trận Quảng Trị. Chúng tôi triển khai lực lượng bám đánh địch ở khu vực điểm cao 300 Đất, 300 Đá Làng Tre, Đồi Hành, Đồi Hòm, 544 và 1008. Khoảng 16 giờ  ngày 19-3-1969, địch cho rất nhiều máy bay loại N19, VO10 quần đảo rồi bất ngờ phóng liền ba quả pháo khói xuống cao điểm 300 Đất. Lập tức từng tốp, từng tốp phản lực F4H lao xuống đánh bom dữ dội. Pháo của địch ở các căn cứ quanh đó cũng bắn dồn dập vào đây.

Trung đội 3, Đại đội 11 do Trung đội trưởng Đào Văn Phê đang ém quân gần đó nhận định: Địch đánh phá dọn bãi dữ dội thế này rất có thể bọn Mỹ sẽ đổ quân. Sau khi xin ý kiến và được sự đồng ý của Đại đội trưởng Đỗ Văn Mến, Trung đội 3 do trinh sát tiểu đoàn Trần Văn Hải dẫn đường, bí mật cơ động lực lượng áp sát cao điểm 300 Đất. Đúng như dự đoán, sau gần 30 phút đánh phá, khoảng một đại đội Mỹ được hơn 10 lần chiếc trực thăng H34 chở ồ ạt đổ quân xuống điểm cao 300 Đất. Quân Mỹ vừa tiếp đất, Trung đội trưởng Đào Văn Phê lệnh cho cả trung đội nổ súng. Hàng loạt lựu đạn, thủ pháo tới tấp ném vào đội hình địch. Bị đánh bất ngờ, đội hình địch rối loạn. Trận đánh diễn ra mau lẹ, nhiều tên địch bị tiêu diệt ngay tại trận địa. Do chênh lệch về lực lượng, Trung đội 3 lúc đó chỉ có 20 đồng chí kể cả trinh sát, trong khi quân Mỹ khoảng 200 tên, nên sau khi nổ súng tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, Trung đội trưởng Đào Văn Phê lệnh cho trung đội rời khỏi trận địa nhằm bảo toàn lực lượng.

Cựu chiến binh Trần Văn Hải và Đại tá Đào Văn Phê (bên phải) trong ngày gặp lại.

Về đến vị trí tập kết, điểm lại quân số, Đào Văn Phê phát hiện còn thiếu đồng chí trinh sát tiểu đoàn Trần Văn Hải. Lúc này, sau khi bị đánh bất ngờ, bọn Mỹ bắt đầu gọi pháo, máy bay đánh phá ác liệt xung quanh khu vực điểm cao 300 Đất. Bom, pháo của địch đánh ngay cả vào hậu cứ của Trung đội 3. Khói lửa ngút trời. Lau sậy cháy ngùn ngụt. Không một chút do dự, Trung đội trưởng Đào Văn Phê lập tức quay trở lại điểm cao 300 Đất dưới làn mưa bom, bão đạn của địch để tìm Trần Văn Hải. Sau một hồi tìm kiếm, Đào Văn Phê gặp Trần Văn Hải đang nằm bất tỉnh dưới một hố pháo, máu lênh láng mặt đất. Biết Hải bị thương vào lưng, anh Phê bình tĩnh lấy băng cá nhân băng tạm vết thương để cầm máu, rồi đưa Hải lên lưng mình băng qua bom đạn về cứ. Sau đó, Trần Văn Hải được chuyển tiếp qua các viện quân y điều trị, ra Bắc và về phục viên với tỷ lệ thương tật 4/4.

Gần 35 năm đi tìm ân nhân

Thời gian trôi đi, Trần Văn Hải về quê lấy vợ, sinh con, nhưng anh không thể quên trận đánh ngày 19-3-1969 ở điểm cao 300 Đất và Đào Văn Phê – người đồng đội đã băng qua lửa đạn cứu sống mình. Dù hoàn cảnh còn nhiều khó khăn, nhưng hàng năm cứ sau Tết Nguyên đán, anh Hải lại cơm đùm, cơm nắm đi tìm đồng đội, ân nhân dù việc này giống như mò kim đáy biển. Chỉ biết mỗi tên người cứu mình, anh Hải dò la được tin tức gì về Đào Văn Phê là lại khăn gói lên đường. Giáp Tết năm 2004, một người bạn cũ cho biết: hình như Đào Văn Phê quê ở Hải Hưng (?). Thế là ăn tết xong, Hải thuê xe ôm tiếp tục hành trình đi tìm ân nhân.

Trần Văn Hải quyết định đi tỉnh Hưng Yên trước. Một ngày rong ruổi khắp các nẻo đường lớn, nhỏ trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, đến đâu, gặp ai anh cũng hỏi nhưng chẳng có manh mối gì. Thấm mệt sau một ngày “hành quân”, anh cùng người xe ôm đồng hành rẽ vào một quán ăn bên đường. Trong lúc trò chuyện, Trần Văn Hải vắn tắt kể cho bác chủ quán nghe chuyện đi tìm ân nhân. Nghe đến tên Trần Văn Phê, bác chủ quán cầm lấy tay anh Hải hỏi dồn dập: “Có phải Đào Văn Phê, trước khi nhập ngũ là công nhân mỏ than Khánh Hòa không?”. Trần Văn Hải nghe bác chủ quán nói mà mừng đến rơi lệ. “Ông Phê là chú tôi đấy! Hai bác đi qua xóm chú Phê hơn 10 cây rồi! Nhưng giờ chú tôi và các cháu đang ở trên Hà Nội. Hiện chú mang quân hàm đại tá. Tôi có địa chỉ của chú ấy đây”.

Thế là sau gần 35 năm, Trần Văn Hải mới tìm được địa chỉ của người đồng đội, ân nhân đã cứu sống mình trong trận đánh ở điểm cao 300 Đất. Sau đó ít ngày là cuộc gặp gỡ đầy cảm động tại gia đình Đại tá, cựu chiến binh Đào Văn Phê, nguyên Trưởng phòng Cán bộ, nguyên Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu khoa học Tổng cục 2 (Bộ Quốc phòng), ở số nhà 24 phố Tây Sơn, phường Yết Kiêu, quận Hà Đông. Gặp nhau trong niềm vui trào nước mắt, Trần Văn Hải lấy trong ba lô của mình ra tặng bạn một cân bột sắn dây của nhà trồng được và hai chiến lợi phẩm thu của Mỹ mà anh cất giữ bấy lâu: bộ lập là và bộ cạo râu cánh cụp cánh xòe.

Trần Văn Hải sinh năm 1947, quê ở xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, Hà Nam, nhập ngũ tháng 12-1967. Đào Văn Phê sinh năm 1948, quê ở xã Hùng An, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, nhập ngũ tháng 10- 1967.

Bài và ảnh: Nguyễn Văn Hợi
qdnd.vn