Tag Archive | Chính trị – Xã hội

“Lời Bác nay đã thành chiến thắng huy hoàng”

Đối với mỗi người Việt Nam, có 2 bài hát ai cũng thuộc lòng; là bài “Tiến quân ca” của Văn Cao và bài “Như có Bác trong ngày vui đại thắng” của Phạm Tuyên.

“Như có Bác trong ngày vui đại thắng” có được hiệu quả lớn bởi đã đạt được 2 điều. Thứ nhất: Nói đúng được tình cảm của toàn thể dân tộc. Trong giờ phút sung sướng, hạnh phúc đến tột đỉnh của người Việt Nam trong thời khắc miền Nam hoàn toàn được giải phóng, đất nước thống nhất, ai cũng bồi hồi nhớ thương Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vậy nên, tác giả mới đặt tên bài hát của mình là “Như có Bác trong ngày vui đại thắng”.

loibac1Hình ảnh ngày giải phóng miền Nam 30/4/1975.

Mở đầu bài hát, Phạm Tuyên đã rất thông minh khi viết: “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng. Lời Bác nay đã thành chiến thắng huy hoàng…”. Bác đã khẳng định, kháng chiến nhất định thắng lợi, Nam Bắc sẽ về chung một nhà. Cuộc chiến đấu dẫu có phải kéo dài 10 năm, 20 năm hay lâu hơn nữa, Hà Nội, Hải Phòng và nhiều thành phố có thể bị tàn phá nhưng sau này chúng ta sẽ xây dựng non sông ta, đất nước ta to đẹp hơn, đàng hoàng hơn. Đúng như vậy, ngày 30/4/1975 đã chứng minh lời Người tiên đoán.

Điều thứ 2: Muốn bài hát có sức lan tỏa rộng rãi trong mọi đối tượng công chúng thì phải dễ hát. Bài hát có giai điệu không cầu kỳ, rắc rối, âm vực được khống chế trong quãng không rộng. Khúc thức mạch lạc, ngắn gọn, âm hình tiết tấu đơn giản. Sự bố trí các ô nhịp, phách mạnh, phách nhẹ phù hợp với việc lấy hơi tự nhiên của người hát.

loibac2Nhạc sĩ Phạm Tuyên

Bài hát được viết ở thể hai đoạn đơn, mỗi đoạn gồm 4 câu nhạc rất cân đối, vuông vức. Đoạn B gồm 4 câu nhạc nhưng chỉ nhắc lại một lời “Việt Nam! Hồ Chí Minh!”. 5 tiếng này đã vang lên chẳng những trong tâm khảm người Việt Nam mà còn nhận được sự chia sẻ, đồng cảm của nhiều bạn bè trên thế giới. Nói đến đất nước hình chữ S ở bán đảo Đông Dương, khu vực Đông Nam Á, người ta nhớ ngay đến: Đó là Việt Nam – Hồ Chí Minh.

Về sự ra đời của bài hát, Phạm Tuyên cho biết, đó là những ngày gần cuối tháng 4 năm 1975, trên khắp các mặt trận từ Huế – Thừa Thiên đến Nam Trung bộ, rồi Tây Nguyên, quân dân ta đang chiến thắng thần tốc. Hàng loạt tỉnh, thành được giải phóng. Khi chúng ta đã tiến vào sát cửa ngõ Sài Gòn, Phạm Tuyên khi ấy là Trưởng ban Ban Biên tập Âm nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam  nhận chỉ thị của Bộ Biên tập là cần sáng tác rồi dàn dựng gấp một bài hát để kịp phát sóng ngay sau khi công bố chiến thắng giải phóng hoàn toàn miền Nam. Phạm Tuyên nhanh chóng hoàn thành bài hát chỉ trong một giờ đồng hồ.

Ca khúc nhanh chóng được thông qua. Bài hát được phát sóng ở thời điểm Đài Tiếng nói Việt Nam  vừa truyền đi tuyên bố miền Nam được hoàn toàn giải phóng đã có một hiệu quả rất đặc biệt, nằm ngoài sự hình dung của mọi người. Ai cũng nức lòng trước tin chiến thắng kèm theo là bài hát được vang lên. Không ít người đã không cầm được nước mắt vì quá vui sướng, hạnh phúc. Và không cần phải học, chỉ nghe qua Đài Tiếng nói Việt Nam mà hàng triệu người dân đã thuộc và hát được/.

Theo VOV.vn
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Âm hưởng mùa Xuân đại thắng trong thơ

Trên con đường dài dựng nước và giữ nước của dân tộc, năm 1975 là một mốc son chói lọi. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã toàn thắng khi lá cờ giải phóng tung bay phấp phới trên Dinh Độc Lập ở Sài Gòn vào trưa 30 tháng 4 năm ấy. Những ai đã trải qua tháng ngày ấy bây giờ nhớ lại vẫn không khỏi bồi hồi xúc động. Hình như âm hưởng mùa Xuân đại thắng vẫn còn đâu đây.

loibac1Nhân dân Sài Gòn dự mít tinh mừng miền Nam hoàn toàn giải phóng. Ảnh: Tư liệu

Vâng, vẫn còn đó, tấm bản đồ Việt Nam đỏ thắm những mũi tấn công vũ bão và những vùng đất giải phóng thay đổi từng ngày, từng giờ. Vẫn còn đó, tin thắng trận dồn dập từ miền Nam bay về. Vẫn còn đó, niềm vui vỡ òa, nụ cười rạng rỡ và giọt nước mắt lóng lánh trên gương mặt bao người.

Vâng, vẫn còn đây những vần thơ dạt dào âm hưởng toàn thắng cuốn theo bước chân anh giải phóng quân và hòa trong nắng gió phương Nam. Những bài thơ cuồn cuộn hào khí thần tốc, rạo rực niềm vui chiến thắng còn để lại cho con cháu hôm nay những hình dung hoành tráng về mùa Xuân đại thắng 1975.

Bỗng nghe vần Thắng vút lên cao, Bác Hồ viết câu đó trước ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng mấy năm, nhưng dẫu khi Người đã lên đường nhẹ bước tiên rồi thì thơ ấy vẫn là lời báo tiệp vọng vang trên khắp mọi miền đất nước và bốn biển, năm châu. Niềm tin chiến thắng từ Hồ Chí Minh đã lan tỏa và thấm sâu vào nhân dân như một sức mạnh to lớn mà không đạn bom tàn bạo nào có thể đè bẹp được: Năm qua thắng lợi vẻ vang/ Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to/ Vì độc lập, vì tự do/ Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào/ Tiến lên! Chiến sỹ đồng bào/ Bắc Nam sum họp Xuân nào vui hơn (Hồ Chí Minh – Thơ chúc Tết 1969).

Với niềm tin tất thắng son sắt ấy, trong trận đánh cuối cùng, quân và dân ta đã làm nên một cơn lốc hùng vĩ. Khí thế ào ạt đó đã tràn cả vào thơ Phạm Tiến Duật: Khi lên xe ta chưa quen nhau/ Lúc xuống xe ta đã thành bè bạn/ Ta tựa lưng vào bốn năm tấn đạn/ Chúng ta đi đường dài / Mấy trăm xe và mấy trăm người/ Nhằm mặt trận tiến vào như cơn lốc/ Những trái tim xếp theo hàng dọc/ Suốt đường dài hồi hộp biết bao nhiêu. (Chim Lạc bay).

Trên dãy Trường Sơn trùng điệp, những người con gái, con trai đẹp như hoa hồng cứng hơn sắt thép (Thơ Nam Hà) đã hẹn gặp nhau trong ngày vui đất nước: Đoàn quân vẫn đi vội vã/ Bụi Trường Sơn nhòa trời lửa/ Chào em, em gái tiền phương/ Hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn (Nguyễn Đình Thi – Lá đỏ). Một vẻ đẹp vừa hùng tráng, vừa lãng mạn mà sau này đã được âm nhạc chắp cánh bay lên thành ca khúc kháng chiến trữ tình không ít người yêu thích.

Vốn là một người lính thiết giáp, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa tài hoa, vừa nhạy cảm đã dựng thành công chân dung người chiến sĩ trong chiến dịch mang tên Bác với một chiều sâu tâm hồn rất trung thực và cảm động:

Chiến dịch này ăn cơm không phải độn/ Mừng thì mừng mà thương mẹ bao nhiêu/ Ngày mai chúng ta đánh trận cuối cùng/ Đêm còn lạnh ở ngoài ta đấy bạn/ Ngoài ta độ nay đang giáp hạt/ Cây rơm gầy xay giã cũng thưa đi/ Ngày mai chúng ta đánh trận cuối cùng/ Một nửa nhân dân ngày mai ta nhận mặt/ Nhân dân trở về từ bên kia mặt trăng/ Lại vằng vặc những bến bờ thương nhớ (Đường tới thành phố).

Trước ngày 30 tháng 4 lịch sử là những cuộc chuyển quân rậm rịch, là một đêm đợi chờ hồi hộp: Anh đang ở bên này thành phố/ Cách một mệnh lệnh/ Cách một trận đánh/ Cách một cây cầu/ Cách một đêm nay/…/ Thành phố càng gần/ Càng không dám nghĩ nhiều đến mẹ/ Phải cố quên mẹ ngồi đứng không yên/ Dù chỉ có anh và ngọn cỏ lúc này (Đường tới thành phố).

Bao nhiêu người lính như thế đã không được trở về với mẹ, họ chấp nhận hy sinh để cho Sài Gòn òa vỡ ra trong niềm vui giải phóng: Năm cánh quân từ năm hướng trở về / Thành phố đầy áo trận/ Ở cuối đường một vành lá vút qua/ Chỉ chờ thế là người xô như sóng… Và, trong cái nhìn cận cảnh hình ảnh anh bộ đội phong trần trận mạc xiết bao: Tháp pháo để trần lăm chăm vết đạn/ Dằng dặc đường về/ Mòn xích sắt vẫn quay nồng mùi đất/ Mặt đường hăng mùi cỏ ngoại ô / Đồng chí trưởng xe mình quấn đầy băng trắng/ Anh giơ tay cả thành phố động lòng/ Xạ thủ trung liên/ Quần áo màu rừng ngả sang màu đất / Đôi dép râu dẫn trước đội hình/ Hoa nhiều quá nhưng anh không kịp nhận… (Đường tới thành phố).

Hình ảnh anh bộ đội giải phóng trong ngày Sài Gòn giải phóng được khắc họa khá nhiều trong thơ ca thời ấy. Nguyễn Thành Vân trong bài thơ Ngôi sao trên đầu, khẩu súng trên vai đã rưng rưng ghi lại: Tôi bị vây tròn vòng ngoài vòng trong/ Tôi bị hỏi dồn, phía sau phía trước/ Cô bác nhìn tôi từ đầu đến chân/ Tôi phải trả lời bằng tay bằng mắt.

Hoàn toàn không có cảnh Sài Gòn bị dìm trong biển máu bởi lòng thù hận của cộng sản như sự xuyên tạc của kẻ thù. Một Sài Gòn giải phóng, một Sài Gòn hòa bình đã trở về với Tổ quốc thân yêu. Ước mơ Việt Nam thống nhất đã trở thành hiện thực với Mùa xuân đại thắng 1975. Chỉ có những kẻ xâm lược và bán nước mới không trông mong ngày chiến thắng này, còn ai mang trong mình dòng máu Việt Nam được tô thắm bởi những Vua Hùng, Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Lý Công Uẩn, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Nguyễn Hữu Cảnh, Hồ Chí Minh… đều coi ngày 30 tháng 4 là mốc son lịch sử chói lọi của dân tộc. Chính những người từng ở bên kia chiến tuyến nay cũng phải thừa nhận ý nghĩa lịch sử vĩ đại của ngày toàn thắng này. Không phải ngẫu nhiên mà nhà thơ Tố Hữu đã hân hoan viết: Đường tiến quân ào ào chiến thắng/ Phía trước chờ anh, người mẹ mong con/ Pháo hãy gầm lên, đỏ nòng bắn thẳng/ Rộn rực xe tăng chồm tới Sài Gòn/ Ôi, buổi trưa nay, tuyệt trần nắng đẹp/ Bác Hồ ơi! Toàn thắng về ta/ Chúng con đến, xanh ngời ánh thép/ Thành phố tên Người lộng lẫy cờ hoa (Tố Hữu – Toàn thắng về ta).

Cũng chính vì thế mà nhà thơ Xuân Sách khi dạo bước trên đường phố Sài Gòn đã lâng lâng cảm nhận: Đường phố xôn xao đỏ rợp cờ/ Người đi vừa thật lại vừa mơ/ Nửa đời cầm súng đi đánh giặc /Nay bỗng hồn nhiên như trẻ thơ (Trên đường phố).

Ngày 30 tháng 4 và Sài Gòn giải phóng đã trở thành bản giao hưởng Chiến thắng sau những tháng năm chiến đấu bất khuất kiên cường và bi thương khổ đau của dân tộc. Bao nhiêu máu, bao nhiêu mồ hôi đã đổ xuống đầm đìa trên con đường giải phóng đất nước. Cái giá của độc lập tự do, hòa bình thống nhất đất nước vô cùng to lớn. Có phải vì thế mà khi được thưởng thức một đêm giao hưởng giữa Sài Gòn, nhà thơ Anh Ngọc đã xao xuyến với những liên tưởng rất đẹp: Cát bụi đường xa khẩu súng ngọn cờ/ Ngửa bàn tay gặp bàn tay nhạc trưởng/ Mở tấm lòng gặp tấm lòng giao hưởng/ Bổng trầm cung bậc tìm nhau/ Sài Gòn trong ta là trái chín vẹn nguyên/ Chiến thắng đặt vào lòng hai đứa/ Một nửa anh và em một nửa (Sài Gòn đêm giao hưởng).

Khẩu súng ngọn cờ đã trở thành linh vật tượng trưng cho một giai đoạn lịch sử bi tráng đã qua của dân tộc. Những bông sen đã mọc lên từ mảnh đất Việt Nam thấm máu trở thành thông điệp giao hòa thân thiện của chúng ta. Sự tốt đẹp ấy đã được bắt đầu, được tính từ ngày 30 tháng 4 lịch sử mà âm hưởng hào hùng của nó còn vang vọng trong những vần thơ sinh ra cùng cái thời mãi mãi không bao giờ quên ấy.

Theo http://bienphong.com.vn

Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Gặp những người cắm cờ giải phóng ngày 30-4 (Tiếp theo kỳ trước)

Vào lúc 9h30 ngày 30-4-1975, một lá cờ giải phóng nửa đỏ nửa xanh với ngôi sao vàng năm cánh đã tung bay hiên ngang trên đỉnh cao tháp nước sân bay Tân Sơn Nhất. Đó là một trong những lá cờ giải phóng đầu tiên được kéo lên trên bầu trời Sài Gòn còn rền vang tiếng súng trong giờ phút hấp hối của chế độ Việt Nam Cộng hòa.

Gặp những người cắm cờ giải phóng ngày 30-4
Chiến sỹ Phạm Văn Lãi và Nguyễn Văn Cẩn cắm cờ trên đỉnh tháp nước sân bay Tân Sơn Nhất vào ngày 30-4-1975.Ảnh: Việt Dương sưu tầm

Một lần, tôi hỏi Đại tá Đinh Quốc Kỳ, nguyên cán bộ bảo vệ chính trị nội bộ Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (Đoàn B): Trong tấm ảnh ghi lại giờ phút lịch sử ấy có hai người cắm cờ, họ là ai? Đại tá cho biết, đó là Phạm Văn Lãi và Nguyễn Văn Cẩn. Hai người chiến sỹ giải phóng đã cắm lá cờ ấy nay còn sống, một người ở Hà Nội, người kia ở Bà Rịa – Vũng Tàu. Trong những ngày tháng tư lịch sử này, chúng tôi đã tìm gặp để nghe họ kể về những giây phút thiêng liêng hào hùng 38 năm trước.

Con ngõ 191 đường Lạc Long Quân (phường Xuân La, quận Tây Hồ) dài hun hút, hai bên nhà cửa, hàng quán san sát. Cuối con ngõ hẹp mở ra một khoảng không gian rộng, con đường chạy vòng quanh vườn hoa nhỏ. Chủ nhân căn hộ liền kề A20 khu tập thể Bộ Giáo dục – Đào tạo là người đàn ông gày gò, hoạt bát, nhanh nhẹn. Hôm trước, qua điện thoại, ông dặn: “Anh đến sớm, kẻo thứ hai tôi phải đi viện”. Chứng thoát vị đĩa đệm hành hạ ông đã mấy năm, nay trở trời thêm phát tác. Ngày chủ nhật, tôi đến thăm, ông sai con ra vườn hoa chờ khách. Ông là Phạm Văn Lãi, cầm tinh con Rồng, sinh tháng 5 năm Nhâm Thìn 1952. Người tuổi Thìn thường giỏi giang, thông minh, hoạt bát, kiên trì theo đuổi mục đích, lý tưởng. Mới về hưu chưa đầy năm, ông Phó Vụ trưởng Vụ Hành chính Văn phòng Chính phủ còn nhiều việc phải làm, nhiều mối quan hệ, ân tình phải trả, trong đó những quan hệ đồng đội thời 823 ngày đêm cắm giữa sào huyệt quân thù tại tiền đồn Trại Davis năm xưa bao giờ cũng chiếm nhiều thời gian của ông.

Quê ông ở xã Tự Tân, huyện Vũ Thư, Thái Bình. Tôi trầm trồ: “Dân Thái Bình nhà ông chuyên đi cắm cờ, từ ông Tạ Quốc Luật ở Điện Biên Phủ thời đánh Pháp đến Bùi Quang Thận cắm cờ trên nóc Dinh Độc Lập lúc 11h30 ngày 30-4-1975, đánh dấu sự cáo chung của chế độ ngụy Sài Gòn. Còn chuyện ông cắm cờ trên tháp nước cao chót vót trong sân bay Tân Sơn Nhất sáng sớm ngày 30-4 thì thế nào?”.

Qua giọng kể hồ hởi của ông, đối chiếu với ký ức những nhân chứng lịch sử trong thời điểm ấy, tôi hình dung được giây phút hào hùng khi ông cùng người bạn chiến đấu cắm lá cờ giải phóng trên đầu thù.

Đêm 28, rạng sáng 29-4-1975, pháo tầm xa 130 ly của ta nã đạn vào sân bay Tân Sơn Nhất, chặt đứt cầu hàng không, con đường di tản cuối cùng của ngụy quân ngụy quyền Sài Gòn. Đạn pháo rơi cả vào sân Trại Davis, nơi Đoàn đại biểu Quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (Đoàn B) đóng quân ngay sát đường băng trong lòng địch. Hai đồng chí, Đại úy Nông Văn Hưởng (tức Kiên), cán bộ an ninh và Trung sỹ Nguyễn Văn Hòa, cảnh vệ gác cổng trại hy sinh, bốn đồng chí bị thương. Trước đó, khi chiến sự nổ ra, cán bộ, chiến sỹ ta tại Trại Davis đã xin cấp trên cho trụ lại trong lòng địch, sẵn sàng chiến đấu, tham gia giải phóng Sài Gòn. Ngày 20-4, ta bắt đầu đào hào chiến đấu, giữ bí mật không cho địch biết, ngay cả các bạn Ba Lan và Hungary trong Ủy ban Kiểm soát và Giám sát quốc tế cũng không biết. Ngày 26-4, Chiến dịch Hồ Chí Minh mở màn, năm cánh đại quân rầm rập tiến vào hang ổ cuối cùng của địch, hệ thống hầm hào chiến đấu trong đơn vị đã thông suốt. Anh em được trang bị cả súng AK và hơn 20 quả đạn chống tăng, do trực thăng ngụy “chuyển hộ” vào từ trước trong những “túi thư ngoại giao” theo chuyến bay liên lạc.

Thượng sỹ Phạm Văn Lãi khi ấy 23 tuổi, chiến sỹ Đội Chiếu phim, Ban Chính trị Đoàn B, nhớ lại:

– Ngày Thứ Bảy 26-4, không khí chuẩn bị chiến đấu trong trại khẩn trương, nhưng bộ đội ta vẫn bình tĩnh chờ lệnh. Hôm ấy, Đội Chiếu phim phục vụ anh em bộ phim “Giải phóng Châu Âu” của Điện ảnh Liên Xô, chiếu cả 5 tập liên tục. Đêm 28 rạng ngày 29, pháo ta nã đạn vào sân bay Tân Sơn Nhất, đạn pháo rơi cả vào bãi chiếu phim. Khoảng 8h00 ngày 30-4, Thiếu tướng Trưởng đoàn Hoàng Anh Tuấn lệnh cho Trung tá Mười Sương, Trưởng ban Chính trị gọi tôi lên giao nhiệm vụ vào kho lấy lá cờ to nhất mang cho vệ binh cắm lên tháp nước.

Phạm Văn Lãi vào kho, tìm được lá cờ to nhất, bề rộng lá cờ bằng 4 khổ vải. Cứ theo tỷ lệ, có thể thấy lá cờ phải rộng hàng chục mét vuông. Phấn khởi vì được thủ trưởng tin cậy, với nhiệt tình cách mạng của tuổi trẻ, Lãi quyết định trực tiếp treo cờ. Anh ôm lá cờ vào người, chạy băng qua sân Trại đến tháp nước. Dọc đường, anh gọi cảnh vệ Nguyễn Văn Cẩn đi theo. Một đồng chí trong Ban Nghiên cứu dưới hào hỏi vọng lên: “Ai giao cho cậu treo cờ?”, Lãi trả lời: “Đây là lệnh của thủ trưởng Phái đoàn và đã được Đảng ủy Đoàn quyết định”. Lãi và Cẩn vừa chạy vừa quan sát, các anh nhặt được một đoạn ống nước làm cán cờ và hai sợi dây thép. Đến chân tháp nước, Lãi chui vào lồng bảo vệ trèo lên trước, Cẩn đeo súng ngắn K-54 theo sau. Lên đến đỉnh, Lãi buộc phía trên, Cẩn buộc phía dưới. Kiểm tra mối buộc xong, thấy chắc chắn rồi, Phạm Văn Lãi buông tay, lá cờ no gió mở ra “phật” một tiếng, cuồn cuộn tung bay trên điểm cao của thành phố Sài Gòn.

Tôi hỏi Phạm Văn Lãi:

– Lúc đứng trên đỉnh tháp buộc cờ, anh có nghĩ mình có thể nguy hiểm đến tính mạng không? Đứng trên cao, phía dưới còn địch, phơi mình như thế, anh có lo không?

Rất hồn nhiên, ông trả lời ngay:

– Ừ, cũng lạ, lúc ấy tôi chỉ lo buộc cờ sao cho chắc, chẳng nghĩ gì đến chuyện mình có thể trúng đạn, hy sinh cả anh ạ.

Lá cờ giải phóng no gió tung bay trên đỉnh cao trong sân bay Tân Sơn Nhất, từ xa hàng cây số đã nhìn thấy, vừa là vật chuẩn cho pháo binh ta tính toán phần tử bắn chính xác, làm chuẩn cho bộ đội tiến công, khích lệ bộ đội ta dũng mãnh xông lên. Quân địch ở Bộ Tổng Tham mưu ngụy tại cổng Phi Long cách đó gần 1 cây số, lính Sư đoàn dù, đơn vị tăng – thiết giáp ngụy đóng gần Trại Davis và tàn quân đang tháo chạy nhìn thấy lá cờ giải phóng, càng thêm hoảng loạn, tan rã.

Ngay chiều 30-4, Ủy ban Quân quản Sài Gòn được thành lập do Trung tướng Trần Văn Trà làm Chủ tịch. Nhiều cán bộ, chiến sỹ Trại Davis được điều về Ủy ban Quân quản. Phạm Văn Lãi cùng Ban Chính trị vào Dinh Độc Lập, được bố trí ở tầng 2. Sáng 1-5, anh được thủ trưởng giao nhiệm vụ trèo lên cột cờ Dinh Độc Lập, thay lá cờ anh Bùi Quang Thận cắm lúc 11h30 hôm trước. Lá cờ anh Thận cắm bị mắc dây, không mở ra được, cũng không hạ dây kéo xuống được. Cột cờ cao, trơn nhẵn, Lãi nhanh trí lấy dây dù buộc vào hai chân như kiểu bà con Nam bộ leo dừa, trèo lên gỡ dây rối, thay lá cờ mới to hơn, rộng hơn.

Sau ngày 30-4, Phái đoàn quân sự chấm dứt hoạt động, anh em mỗi người về một đơn vị mới theo chức năng, nhiệm vụ của mình, lo tiếp quản thành phố, trấn áp tàn quân địch, tổ chức tiếp nhận sỹ quan, binh lính ngụy ra trình diện, tham gia ổn định cuộc sống cho nhân dân và bảo đảm hoạt động bình thường của thành phố. Phạm Văn Lãi và Nguyễn Văn Cẩn cũng bặt tin nhau. Lãi tiếp tục ở Ủy ban Quân quản, phục vụ các cuộc mít tinh, hội nghị hiệp thương thống nhất hai miền. Tháng 6-1975, anh được kết nạp vào Đảng và đến năm 1979, được điều về Văn phòng Chính phủ, được gần gũi, phục vụ Thủ tướng Phạm Văn Đồng, các Phó Thủ tướng Võ Nguyên Giáp, Lê Thanh Nghị.

Tháng 4 này, ông Phạm Văn Lãi đã về nghỉ hưu theo chế độ được 10 tháng sống vui vầy bên vợ con. Vợ ông, bà Vũ Thị Tuất là Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Công đoàn Tổng Công ty Rau quả, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Hai con ông, một trai, một gái đều công tác ở Văn phòng Chính phủ và đều trân trọng lịch sử hào hùng mà bố và những người đồng đội đã góp phần làm nên. Đến tháng 4-2012, ông Lãi mới liên lạc được với Nguyễn Văn Cẩn sau 37 năm bặt tin.

Nguyễn Năng Lực
Theo http://hanoimoi.com.vn
Thu Hiền (st)
bqllang.gov.vn

Tin liên quan:
Gặp những người cắm cờ giải phóng ngày 30-4

Cuộc gặp lịch sử giữa Hồ Chí Minh với V.I. Lê-nin

cuoc gap go lich su giua HCM va Lenin

Cuộc gặp lịch sử giữa V.I.Lê-nin với Nguyễn Ái Quốc ở “Sơ thảo những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa”… Những năm tháng sau đó Nguyễn Ái Quốc ước ao được gặp V.I. Lê-nin – Lãnh tụ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, người đã lập ra nhà nước đầu tiên với những bước đi đầu tiên để không có người bóc lột người, mọi người đều bình đẳng, ấm no… Nhờ có học thuyết của V.I. Lê-nin, người cộng sản Nguyễn Ái Quốc đã nhìn thấy con đường rõ rệt để giải phóng các dân tộc thuộc địa, trong đó có dân tộc Việt Nam.

Cuối năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đã đến Mát-xcơ-va nhưng V.I. Lê-nin đang ốm nặng. N.C. Crúp-xcai-a-người bạn đời thân thiết của V.I. Lê-nin tiếp người cộng sản phương Đông trẻ tuổi này. Nguyễn Ái Quốc trở thành học viên Trường Đại học Phương Đông tại Mát-xcơ-va với các hoạt động trong phong trào Cộng sản quốc tế.

Một nỗi đau lớn đến với Nguyễn Ái Quốc và nhân dân lao động, ngày 22-1-1924 V.I. Lê-nin từ trần. Lá cờ rủ băng tang đen trên toà nhà của Xô-viết Mát-xcơ-va…

Ngày 27-1-1924, Báo Sự Thật Liên Xô đăng bài của Nguyễn Ái Quốc “Lênin và các dân tộc thuộc địa” nói lên niềm khao khát tự do, độc lập của các dân tộc thuộc địa khắp năm châu được ánh sáng học thuyết Lênin vạch đường, chỉ lối. Tại Đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ V, trong tham luận về vấn đề dân tộc và thuộc địa tháng 7-1924, Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh cần tập trung  sức lực để thực hiện những di huấn của V.I. Lê-nin về vấn đề thuộc địa cũng như những vấn đề khác.

31 năm sau khi V.I. Lênin qua đời, Bảo tàng Phòng làm việc và nơi ở của V.I. Lê-nin chính thức mở cửa. Người nước ngoài đầu tiên đến thăm Bảo tàng là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà – Hồ Chí Minh – Nguyễn Ái Quốc của những năm tháng sống và học tập, làm việc ở Liên Xô trước đây. Trên trang đầu của cuốn Sổ ghi cảm tưởng của Bảo tàng, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:

“Lênin, người thày vĩ đại của cách mạng mạng vô sản. Cũng là một vị đạo đức rất cao, dạy chúng ta phải thực hiện cần kiệm, liêm, chính.

Tinh thần Lê-nin muôn đời bất diệt”.                                                    

                                                                                          13-6-1955

                                                                                         Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh – Người học trò xuất sắc của V.I. Lê-nin – Theo quyết định của UNESCO năm 1990 – Thế giới đã kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Người – Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn. V.I. Lê-nin và Hồ Chí Minh đều là những lãnh tụ vĩ đại, những nhà văn hoá lớn của nhân loại.

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Buổi phát thanh lịch sử tại Sài Gòn trưa 30/4/1975

Do tình thế khẩn cấp, chàng sinh viên Nguyễn Hữu Thái đã trở thành phát thanh viên “bất đắc dĩ” trong thời khắc lịch sử – tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Trong đám đông kéo đến đài phát thanh trưa 30/4 có cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

phat-thanh-trua1KTS Nguyễn Hữu Thái – nhân chứng lịch sử ngày 30/4/1975. Ảnh: Tiến Dũng.

Sinh ra trong gia đình có 10 người con, lại là cả nên Nguyễn Hữu Thái được bố mẹ đầu tư cho ăn học, với mong muốn con mình sẽ thành tài. Năm 1958, sau khi đỗ tú tài ở trường Thiên Hựu (Huế), cậu học trò Nguyễn Hữu Thái vào Sài Gòn học ngành Kiến trúc và là người trẻ nhất của khóa học này.

Từ khi trở thành sinh viên, Hữu Thái hăng hái kêu gọi bạn bè xuống đường biểu tình, đòi tự do, dân chủ và năm 1963-1964 được bầu làm Chủ tịch Tổng hội sinh viên Sài Gòn. Do nhiệt tình đấu tranh nên năm 1964, chàng sinh viên 24 tuổi bị bỏ tù, và từ đó đến năm 1974, Thái luôn nằm trong “danh sách đen” của chế độ Việt Nam Cộng hòa. Ba lần ra ngục vào tù đã lấy đi của Thái 4 năm tuổi trẻ, thời gian được chia đều cho nhà tù và nhà trường.

Nhờ những lần ngồi tù, được tranh luận với cán bộ “Việt cộng”, chàng sinh viên kiến trúc mới thấm thía thêm rằng, không chỉ có sinh viên, trí thức chống lại chế độ Sài Gòn mà khắp cả nước còn có cuộc đấu tranh của những người cộng sản. Và cũng từ đây, Nguyễn Hữu Thái càng quyết tâm theo cách mạng, dù từng nhận được lời đề nghị của một quan chức Mỹ rằng sẽ tạo điều kiện sang Mỹ học rồi về Việt Nam làm quan chức.

“Năm 1971, Chính quyền Việt Nam Cộng hòa tổ chức bầu cử Quốc hội và Tổng thống.Người của Mặt trận Dân tộc Giải phóng đề nghị tôi ra tranh cử với lập trường hòa bình trung lập, chuẩn bị cho ‘Thành phần thứ ba’ như trong Hiệp định Paris. Tôi được sự ủng hộ của tướng Dương Văn Minh, người sẽ ra tranh cử Tổng thống. Nhưng do bị nghi ngờ là người của quân giải phóng nên tôi đã thất cử. Tướng Minh vào giờ chót cũng rút lui khỏi cuộc tranh cử Tổng thống”, ông kể.

Một năm sau, Nguyễn Hữu Thái lại bị chính quyền Sài Gòn bắt giam trước ngày ký kết Hiệp định Paris về hòa bình Việt Nam, do bị tố cáo thuộc “Thành phần thứ ba” thân Cộng. Khi người đàn ông 34 tuổi được ra tù năm 1974, tình hình đã biến chuyển nhanh theo hướng chấm dứt chiến tranh…

phat-thanh-trua2
Ông Dương Văn Minh và ông Nguyễn Hữu Thái

Nhân chứng sống ngoài 70 tuổi này vẫn nhớ như in thời khắc lịch sử của 36 năm về trước. “Sáng tinh mơ ngày 30/4, từ cơ sở chuẩn bị nổi dậy của sinh viên ở ĐH Vạn Hạnh (gần chợ Trương Minh Giảng), tôi bàn với người thân cận của Thượng tọa Trí Quang rồi chạy vội lên chùa Ấn Quang (đường Sư Vạn Hạnh) gặp vị lãnh đạo Phật giáo có ảnh hưởng lớn tới nhóm Dương Văn Minh nhờ tác động gấp nhằm chấm dứt ngay cuộc chiến, tránh đổ máu và tàn phá Sài Gòn”, ông kể.

Khoảng 9h, khi ông Thái quay về trường thì nghe tướng Dương Văn Minh tuyên bố trên đài phát thanh Sài Gòn, với nội dung kêu gọi các binh lính Việt Nam Cộng hòa hãy bình tĩnh, không nổ súng, ở đâu ở đó, để ông gặp Chính phủ Cách mạng thảo luận lễ bàn giao chính quyền trong trật tự, tránh đổ máu.

Biết tin này, một nhóm sinh viên cầm vũ khí lên xe ca đến áp sát, chuẩn bị xâm nhập vào đài phát thanh. Còn ông Thái cùng nhà báo Nguyễn Vạn Hồng và giáo sư Huỳnh Văn Tòng (giảng dạy báo chí) vào dinh Độc Lập thuyết phục những người quen biết trong chính quyền Dương Văn Minh bàn giao chính quyền cho phía Mặt trận Dân tộc Giải phóng.

Trong khi đó, ở bên ngoài, những chiếc xe tăng đầu tiên đang tiến về dinh Độc Lập. Xe tăng 390 chạy đầu tiên, xe tăng 843 chạy đến dinh đã húc thẳng vào cổng phụ bên trái, cổng không sập. Thấy vậy, lái xe tăng 390 liền húc sập cổng chính, và Bùi Quang Thận nhảy từ trên xe 843 xuống, giật lá cờ giải phóng gắn trên cần ăng ten xe tăng rồi tiến vào thềm dinh.

phat-thanh-trua 3Xe tăng 390 húc đổ cổng chính để tiến vào Dinh Độc Lập trưa 30/4/1975. Ảnh tư liệu.

Do ông Thái và giáo sư Tòng đeo băng xanh đỏ của lực lượng quần chúng nổi dậy, nên khi ông đề nghị dẫn đường thì ông Thận liền đi theo. Đến nóc, cả 3 người phải leo thêm chiếc thang gỗ mới đến được chân cột cờ. Lá cờ giải phóng được kéo lên trong tiếng reo hò lẫn tiếng súng chỉ thiên chào mừng vang trời.

“Thật ngẫu nhiên, vào thời điểm lịch sử ấy trên nóc dinh Độc Lập có 3 chàng trai của 3 miền đất nước: anh bộ đội Thận từ đồng bằng sông Hồng, giáo sư Tòng quê Tây Ninh và tôi gốc ở một thành phố miền Trung. Anh em xúc động không cầm được nước mắt, vừa sung sướng vừa hãnh diện”, ông Thái nhớ lại khoảnh khắc chấm dứt những năm thống trị của thực dân đế quốc.

Có mặt tại dinh Độc Lập, Chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203 Bùi Văn Tùng đã nghĩ ngay đến việc phải buộc chính phủ của Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng sớm để đỡ đổ máu. Vì vậy, Tổng thống Dương Văn Minh, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu, Chính ủy Bùi Văn Tùng, Nguyễn Hữu Thái, Huỳnh Văn Tòng, nhà báo Tây Đức Borries Gallasch… cùng lên xe tiến về phía đài phát thanh.

Tại đài, trong khi các sinh viên đi tìm nhân viên kỹ thuật cho đài phát sóng thì một cán bộ quân giải phóng cũng soạn vội lời đầu hàng của Dương Văn Minh. Do không có thiết bị thu âm nên nhà báo Đức đã cho mượn đài để thu lời đầu hàng của tướng Minh và lời chấp nhận đầu hàng của Chính ủy Bùi Tùng. Pin đài yếu nên các sinh viên lại phải chạy đôn đáo đi tìm pin thay thế.

“Việc thu băng lời tướng Minh phải thử đi thử lại mấy lần mới xong. Còn lời phát biểu của Thủ tướng Mẫu thì được nói trực tiếp. Khi Đài Phát thanh Sài Gòn phát đi lời đầu hàng của tướng Dương Văn Minh, đồng hồ lúc này là 13h20 (Hà Nội là 12h20 phút)”, nhân chứng Nguyễn Hữu Thái tiếp tục câu chuyện.

phat-thanh-trua4
Tướng Dương Văn Minh (mặc áo đen, đeo kính) chuẩn bị tuyên bố đầu hàng tại Đài Phát thanh Sài Gòn trưa ngày 30/4/1975. Nhà báo Đức ngồi cạnh ông Minh, còn ông Thái đứng thứ hai (cầm tập giấy). Ảnh do phóng viên ảnh hãng thông tấn AP thực hiện.

Do tình thế khẩn cấp nên Nguyễn Hữu Thái đã trở thành phát thanh viên “bất đắc dĩ” của buổi phát thanh trực tiếp đầu tiên trong ngày lịch sử trọng đại: “…Đời sống bình thường đã trở lại Sài Gòn – TP HCM, thành phố mà Bác Hồ đã mong đợi, nay được giải phóng… Xin giới thiệu lời kêu gọi của ông Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu của chính quyền Sài Gòn về vấn đề đầu hàng ở thành phố này…”.

Tiếp đó, đến lượt Tổng thống Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng: “Tôi, đại tướng Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn, kêu gọi quân lực Việt Nam Cộng hòa hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn, từ trung ương đến địa phương trao lại cho Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam”.

Sau lời kêu gọi của Thủ tướng Vũ Văn Mẫn, Chính ủy Bùi Văn Tùng tuyên bố chấp nhận đầu hàng: “Chúng tôi đại diện lực lượng quân Giải phóng miền Nam Việt Nam long trọng tuyên bố thành phố Sài Gòn đã được giải phóng hoàn toàn, chấp nhận sự đầu hàng không điều kiện của ông Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn”.

Trong đám đông kéo đến đài phát thanh vào buổi trưa 30/4 có cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Được mời phát biểu trực tiếp trên sóng, nhạc sĩ xúc động: “Hôm nay là ngày mơ ước của tất cả chúng ta… Ngày mà chúng ta giải phóng hoàn toàn đất nước… Những điều mơ ước của các bạn bấy lâu là độc lập, tự do, và thống nhất thì hôm nay chúng ta đã đạt được…”.

Hân hoan trong niềm vui giải phóng nên dù không mang theo đàn guitar, Trịnh Công Sơn vẫn cất vang lời bài ‘Nối vòng tay lớn’. Và đây cũng chính là bài hát đầu tiên được phát lên sóng của Đài Phát thanh Sài Gòn ngày 30/4.

“Chiều 30/4/1975, phần lớn người dân Sài Gòn đều túa ra đường để được tận hưởng bầu không khí hân hoan, phấn khởi của ngày thành phố được giải phóng. Những người nghe tin tức qua Đài Phát thanh Sài Gòn cảm thấy xúc động dâng trào khi nghe Trịnh Công Sơn hát ‘Nối vòng tay lớn’ trong giờ phút lịch sử của dân tộc”, 36 năm sau ngày lịch sử này, ông Nguyễn Hữu Thái vẫn xúc động khi kể lại.

Vào đại học năm 1958 nhưng phải đến năm 1976, một năm sau ngày giải phóng, ông mới có thể trở lại trường làm đồ án tốt nghiệp và trở thành kiến trúc sư. Sau nhiều năm công tác tại thành đoàn TP HCM, năm 1980 ông làm việc tại Viện Quy hoạch kiến trúc thành phố… Năm 1990 ông xuất cảnh sang Canada theo diện đoàn tụ gia đình và 5 năm sau lại trở về Việt Nam sinh sống, công tác.

Tiến Dũng
Theo Vnexpress
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Gặp những người cắm cờ giải phóng ngày 30-4

Xã Phước Tỉnh, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là một bán đảo nhỏ có hình dáng như chiếc lưỡi cày cắm xuống Vịnh Cửa Lấp. Bờ vịnh bên kia, cách hơn 1km là thành phố Vũng Tàu. Căn nhà bê tông kề bên nhà thờ Giáo xứ Phước Tỉnh rộng chừng 60m2 là nơi gia đình ông Nguyễn Văn Cẩn sinh sống, nhưng ông đi vắng. Gần một tháng nay, ông lo sơn sửa hai con tàu đánh cá nên suốt ngày ở ngoài bến, cách nhà vài trăm mét. Hai con tàu đánh cá lừng lững nằm trên ụ, đã phủ sơn xong, chờ đến giờ hạ thủy.

Lão ngư phủ Nguyễn Văn Cẩn cao gần mét tám, vóc dáng vạm vỡ, nước da bánh mật. Nghe tôi hỏi chuyện “cắm cờ”, ông cười sảng khoái: “Trời, gần bốn chục năm rồi, anh là người lâu lắm mới hỏi tôi chuyện cắm cờ đó”.

1Ông Nguyễn Văn Cẩn với bộn bề công việc mưu sinh.

– Bao năm qua, anh không liên hệ với anh em đồng đội Trại Davis à?

– Dạ không, bận lu bu anh ơi. Tôi đi biển cả tháng, về dăm ba hôm lại ra khơi. Tháng tư năm ngoái, tình cờ coi ti vi thấy phát hình lễ phong Anh hùng cho hai đoàn mình ở Trại Davis, thấy có anh Lãi, tôi mừng quá chạy vội sang Đài Truyền hình Bà Rịa – Vũng Tàu nhờ liên hệ, xin được số của anh Lãi rồi anh em liên lạc với nhau, mừng quá trời.

Đầu tháng 6-2012, Ban liên lạc Trại Davis mời ông Cẩn về Bộ Tư lệnh Quân khu 7 cùng dự lễ mừng công, kỷ niệm 37 năm ngày toàn thắng. Ông được Quân khu may tặng bộ quân phục đại lễ. Anh em đồng đội, ông Lãi, ông Kỳ, ông Hiệu, ông Thắng… ai cũng trách: “Tưởng mày chết đâu rồi, sao không tìm về sớm?”. Gặp nhau, ai nấy mừng mừng tủi tủi.

Nguyễn Văn Cẩn, tuổi Mùi, sinh năm 1955, là con thứ bảy trong 10 người con của cụ Nguyễn Văn Lai và Đặng Thị Kính. Theo cách nói Nam bộ thì ông là thứ tám, Tám Cẩn. Năm 1942, người giáo dân 22 tuổi, Nguyễn Văn Lai rời làng quê ở Hải Hậu, Nam Định vào làm phu Đồn điền Cao su Phú Riềng. Năm 1948, cụ Lai đưa gia đình sang Kompong Cham, Campuchia, vẫn làm phu cao su. Hai cụ đặt tên 10 người con, 5 trai, 5 gái lần lượt là Tin, Cậy, Vững, Vàng, Chắc, Chắn, Cẩn, Thận, Đôn, Hạnh. Năm 1970, Lon Nol, Sirik Matak làm đảo chính lật đổ chính quyền Shihanouk, thi hành chính sách khủng bố, tàn sát Việt kiều ở Campuchia, Nguyễn Văn Cẩn lúc ấy mới 15 tuổi đã theo 6 anh chị em khác vào Quân Giải phóng. Ông nói: “Lúc ấy chỉ có đi giải phóng mới sống được”. Trong 10 chị em, chỉ có Tin, Đôn, Hạnh ở nhà với ba mẹ. Năm 1973, cả gia đình từ Kompong Thom chuyển về sinh sống ở xã Phước Tỉnh. Các anh Vàng, Chắc, Thận đã hy sinh, được công nhận là liệt sỹ. Năm 1994, cụ Đặng Thị Kính được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.

Tám Cẩn được phiên vào Đoàn Công binh 25, Bộ Tư lệnh Miền. Đầu năm 1973, Bộ Tư lệnh tổ chức giải bóng chuyền toàn quân Giải phóng tại “Thủ đô” Lộc Ninh. Tám Cẩn trẻ tuổi, thể hình cao lớn, là tay đập xuất sắc của đội Công binh đã “lọt vào tầm ngắm” của cấp trên. Giải kết thúc, Cẩn được Bộ Tư lệnh Miền chọn giao nhiệm vụ làm vệ binh Phái đoàn ta tại Ban Liên hợp quân sự, đi máy bay trực thăng của ngụy từ Lộc Ninh vào Trại Davis trong sân bay Tân Sơn Nhất.

Ông nhớ lại: “Sáng 30-4, đang làm nhiệm vụ, thấy anh Lãi đến Đội Vệ binh tìm người đi theo cắm cờ, tôi xung phong liền vì hằng ngày anh em hay chơi bóng chuyền, bóng rổ với nhau, tôi quý ảnh lắm. Lúc đó tôi chỉ đeo một khẩu súng ngắn K-54. Hai anh em chạy băng qua sân Trại. Đến tháp nước, anh Lãi vừa trèo lên trước vừa quay xuống bảo tôi: Cứ lên đi, không việc gì đâu. Tôi theo anh trèo lên, giúp anh buộc cờ. Anh Lãi đứng trên đỉnh tháp, tôi đứng phía dưới, phần nào được che khuất hơn anh”. Tôi hỏi Tám Cẩn, vẫn câu đã hỏi ông Lãi: “Đứng trên cao thế, lá cờ bay rõ mồn một, anh có lo mình bị địch nó bắn trúng không?”. Ông Tám cười sảng khoái: “Dạ, cũng có lo. Dưới chân mình, lính ngụy chạy rần rần, quần áo lính, giày trận nó vứt đầy đường băng, súng ống chĩa cả lên trời. Nhưng mà mạng tôi lớn anh à. Khí thế cách mạng lớn quá, thằng ngụy nào cũng may ô quần xà lỏn cắm đầu chạy, không dám ngẩng lên. Tôi cứ nghĩ hôm đó nếu không đi với anh Lãi, chắc tôi tiêu rồi. Anh Lãi bình tĩnh lắm, gan cùng mình nên tôi cũng vững tâm. Trong đơn vị, tôi ít tuổi nhất nên được các anh thương, coi như em út”.

Nghe Tám Cẩn nói, tôi nhớ chuyện Đại tá Đinh Quốc Kỳ kể: Đêm 29-4, pháo ta dội lửa xuống sân bay Tân Sơn Nhất, xe tăng ta đã vào ven Sài Gòn, lính ngụy hoang mang tột độ. Một viên trung tá thuộc sư đoàn dù ngụy đóng gần Trại Davis chạy sang xin gặp sỹ quan ta, hỏi: “Bây giờ chúng tôi phải làm gì?”. Sỹ quan ta trả lời: “Bây giờ các anh về nhà, chờ Quân Giải phóng vào thì ra trình diện, nộp vũ khí”. Viên trung tá lính dù ngụy cung cúc ra về.

Khi đứng trên đỉnh tháp nước bên lá cờ giải phóng đang phần phật tung bay, cả Phạm Văn Lãi và Nguyễn Văn Cẩn đều không biết rằng, đúng giờ phút ấy, 9h30 ngày 30-4-1975, Đại tướng Dương Văn Minh, Tổng thống ngụy quyền lên Đài Phát thanh Sài Gòn tuyên bố “sẵn sàng chuyển giao chính quyền cho đại diện của cách mạng”, ra lệnh cho quân đội Sài Gòn ở nguyên tại chỗ. 11h30, Đại đội trưởng Bùi Quang Thận cắm lá cờ giải phóng trên nóc Dinh Độc Lập. 12h trưa, bộ đội ta đưa Dương Văn Minh đến Đài Phát thanh Sài Gòn đọc lời tuyên bố đầu hàng Quân Giải phóng vô điều kiện.

Năm 1976, ông Cẩn phục viên, về Phước Tỉnh với gia đình. Ông bảo những năm đầu cực lắm, đi làm mướn độ thân riết, ai thuê gì làm nấy. May nhờ có sức vóc nên dần dà đỡ khổ. Chăm chỉ làm lụng, không cam chịu cảnh nghèo, kiên trì nuôi chí, ông tích cóp được số vốn, chuyển qua nghề biển. Quãng năm 1993, ông đóng con tàu đánh cá công suất 150CV, bốn năm sau đóng tiếp con tàu thứ hai cũng 150CV, tiền đóng tàu tính ra cả trăm lượng vàng. Mấy chục năm, hai con tàu cần mẫn ra khơi, mang theo lá cờ Tổ quốc đến các vùng biển xa, giúp ông cải thiện kinh tế gia đình, tạo việc làm cho các bạn nghề. Năm 1979, Tám Cẩn cưới vợ là bà Đinh Thị Kim Nhung, kém ông 3 tuổi. Ông tếu táo: “Tôi đi biển suốt, cả tháng chỉ ở nhà ba, bốn ngày nên lúc nào cũng thấy vợ như mới”. Hai vợ chồng có với nhau bốn mặt con nhưng chỉ còn ba đứa, một trai hai gái ở lại trên đời với cha mẹ. Cậu con trai và hai chàng rể không ai theo cha đi biển, mưu sinh cách khác, ông phải thuê người làm.

Năm 2012 là năm đáng nhớ trong đời Tám Cẩn, ông tìm lại được anh Lãi và đồng đội Trại Davis năm xưa. Cùng năm, ông khởi công đóng hai con tàu lớn, mỗi tàu công suất 500CV. Tiền vốn đóng hai con tàu hơn 6 tỷ đồng ông không phải vay ngân hàng. Ông bảo: “Hạn mức ngân hàng cho vay không nhiều, thủ tục lại không đơn giản, thôi mình ráng lo lấy, vậy cũng xong anh à”. Lễ hạ thủy hai con tàu tổ chức đúng 11h30 ngày 7-4. Không như người ta đập champagne, Tám Cẩn đập chai rượu đế Gò Công vào thành tàu lấy may.

Cả hai người chiến sỹ đã cắm lá cờ giải phóng trên đỉnh cao giữa sân bay Tân Sơn Nhất của địch sáng sớm ngày giải phóng Sài Gòn 38 năm trước đều chẳng bận tâm đến chuyện được hay không được khen thưởng cho chiến công ấy. Chiến công là của chung tập thể. Sau khi tìm được Tám Cẩn, Ban Liên lạc Trại Davis đã đề nghị Bộ Ngoại giao cấp cho ông tấm Kỷ niệm chương Thi hành Hiệp định Paris, là hình thức tặng cho tất cả cán bộ, chiến sỹ đã công tác tại hai phái đoàn đại biểu quân sự thời kỳ Trại Davis. Ngày 2-6-2012, Đại tá Đinh Quốc Kỳ mang tấm Kỷ niệm chương trao cho Tám Cẩn tại lễ mừng công tại thành phố Hồ Chí Minh.

Chuyện hai ông Phạm Văn Lãi, Nguyễn Văn Cẩn cắm lá cờ giải phóng sáng sớm ngày toàn thắng 38 năm trước, chuyện các ông tìm lại đồng đội và nghĩa tình giữa những người đã một thời sát cánh bên nhau, kiên cường, mưu trí, dũng cảm trong bom đạn giữa hang ổ quân thù là minh chứng cho nhân cách anh Bộ đội Cụ Hồ. Năm tháng qua đi, dù còn bao khó khăn với đời thường, nhưng tình người mãi mãi trong trẻo như xưa và luôn sáng tựa trăng rằm.

Nguyễn Năng Lực
Theo http://hanoimoi.com.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức Hội nghị rút kinh nghiệm thực hiện Quy chế giáo dục chính trị giai đoạn 2006-2013

Sáng ngày 31/5/2013, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổ chức Hội nghị rút kinh nghiệm thực hiện Quy chế giáo dục chính trị giai đoạn 2006-2013. Tới dự, chủ trì hội nghị có đồng chí Đại tá Phạm Văn Lập, Bí thư Đảng ủy Đoàn 969, Chính ủy Bộ Tư lệnh; các đồng chí trong Thường vụ Đảng ủy Đoàn 969, Thủ trưởng Bộ Tư lệnh, cán bộ Phòng Tuyên truyền cổ động, Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị; bí thư đảng bộ, chi bộ cơ sở, trưởng ban (trợ lý chính trị các cơ quan đơn vị.

hoi-nghi-so-ket
Đồng chí Đại tá Phạm Văn Lập, Bí thư Đảng ủy Đoàn 969, Chính ủy Bộ Tư lệnh
Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị

Tại Hội nghị các ý kiến đều thống nhất đánh giá: Trong những năm qua, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, cơ quan chính trị các cấp đã quán triệt, thực hiện nghiêm Quy chế giáo dục chính trị tại đơn vị; triển khai toàn diện các nội dung giáo dục chính trị cho các đối tượng; tích cực cải tiến hình thức, phương pháp giáo dục chính trị phù hợp với đặc thù của đơn vị làm nhiệm vụ chính trị đặc biệt, đạt chất lượng, hiệu quả. Công tác giáo dục chính trị đã trực tiếp giữ vững định hướng tư tưởng của Đảng trong đơn vị, xây dựng Đảng bộ TSVM, xây dựng đơn vị VMTD, góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát huy ý nghĩa chính trị, văn hóa của Công trình Lăng trong giai đoạn mới. Bên cạnh đó, Hội nghị cũng đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân và kinh nghiệm trong quá trình triển khai thực hiện Quy chế giáo dục chính trị, đồng thời xác định chủ trương, biện pháp để tiếp tục thực hiện có hiệu quả Quy chế trong những năm tiếp theo.

Cũng trong ngày 31/5/2013, Thường vụ Đảng ủy Đoàn 969 đã tổ chức Hội nghị thông báo nhanh kết quả Hội nghị Trung ương 7 (khóa XI) và nghiên cứu quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 765-NQ/QUTW, ngày 20/12/2012 về “Nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2013-2020 và những năm tiếp theo”, Nghị quyết 769-NQ/QUTW, ngày 21/12/2012 về “Xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội giai đoạn 2013-2020 và những năm tiếp theo” của Quân ủy Trung ương cho 167 đồng chí là cán bộ trung, cao cấp, cấp ủy viên và cán bộ chính trị trong toàn Đảng bộ./.

Nguyễn Văn Vượng
bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ cơ sở

Nhận thức rõ bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa, ngay từ những ngày đầu chính quyền nhân dân mới được thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Quyền lực của Nhà nước là của nhân dân, Nhà nước là của dân, do dân, vì dân. Trong tổ chức bộ máy Nhà nước có thang, bậc, quyền hạn khác nhau nhưng đều là một công cụ thể hiện quyền lực nhân dân. Cán bộ từ trên xuống dưới làm đầy tớ cho nhân dân, phải xứng đáng là người công bộc trung thành của nhân dân. Người đặc biệt chú ý tới việc thực hiện quyền lực của nhân dân ở cơ sở.

TTHCM ve dan chu co soChủ tịch Hồ Chí Minh tát nước chống hạn với bà con nông dân ở cánh đồng Quai Chảo,xã Đại Thanh, huyện Thường Tín, Hà Đông (12-1-1958)

Từ quan niệm “mọi lực lượng đều ở nơi dân”, nhìn thấy và tin tưởng ở sức mạnh của nhân dân, nên Người yêu cầu phải “vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho”. Để nhân dân có điều kiện tham gia trực tiếp vào việc thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước với tư cách là người chủ thực sự, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu cán bộ, đảng viên phải luôn luôn: Vì nhân dân, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Người luôn ý thức rằng: Dân là quý nhất, là quan trọng hơn hết. Dân là gốc của nước. Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Trong cuốn Đường Kách mệnh (1927), Người đã khẳng định: Kách mệnh là việc chung của dân chúng chứ không phải việc một hai người. Đó là tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất phát từ cơ sở nhận thức khoa học: Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân. Vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề đoàn kết tập hợp được đông đảo nhân dân. Đảng dù vĩ đại đến mấy cũng chỉ là một bộ phận của nhân dân, một bộ phận tiên phong, tiên tiến nhất.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ rằng: Dân chủ là vì dân, tất cả vì lợi ích của nhân dân. Người nói: “Ngoài lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, Đảng ta không có lợi ích nào khác. Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm. Việc gì có hại cho dân ta hết sức tránh”. Đó cũng chính là mục đích của Người: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc, và hạnh phúc của nhân dân”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Dân chủ là tư tưởng cơ bản xuyên suốt quá trình cách mạng. Cái cốt lõi trong tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh là lấy dân làm gốc. Bản chất dân chủ là quyền làm người. Người nói: “Lãnh đạo một nước mà để cho nước mình lạc hậu, bị thiệt thòi trong hưởng hạnh phúc con người cũng là mất dân chủ. Nhân dân có quyền lợi làm chủ thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân. Người đánh giá rất cao về dân chủ: Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân. Thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc chúng ta: Nước lấy dân làm gốc, dân lấy cuộc sống làm đầu, chế độ ta là chế độ của dân, do dân. Dân theo Đảng đứng lên đánh đuổi kẻ thù giành lấy chính quyền mà có được. Các cấp chính quyền và đoàn thể từ trung ương đến địa phương, cơ sở là do nhân dân bầu cử ra. Do vậy, mỗi cán bộ phải vì dân, hết lòng phục vụ mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Theo Người, phương thức cơ bản của dân chủ cơ sở là “dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra”.

Trên cơ sở nhận thức sâu sắc dân là chủ và phương pháp làm việc là phương pháp dân chủ chứ không phải là những thủ thuật chính trị, Người đã đưa ra một quy định làm việc khoa học như sau: Trước hết phải làm cho dân biết, phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi người dân hiểu rõ rằng: việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được. Hiểu rõ tâm tư nguyện vọng của quần chúng nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm khơi dậy sức mạnh của nhân dân bằng cách giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích và trách nhiệm, quyền hạn và bổn phận. Lợi ích của mỗi người dân được bảo đảm ngày càng đầy đủ hơn và nhờ vào vị thế của họ đã giành được trong quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ, hy sinh, mất mát để giành lấy độc lập, tự do, để trở thành người chủ và làm chủ xã hội. Thấy rõ được vai trò, vị trí của nông dân, nông nghiệp, nông thôn đối với sự phát triển của nền dân chủ trong một nước nông nghiệp lạc hậu như ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Bao giờ nông thôn, nông dân thực sự nắm chính quyền, nông dân được giải phóng thì mới dân chủ thực sự”. Sau những diễn biến phức tạp của xã hội nông thôn Việt Nam xuất hiện những điểm nóng ở nông thôn như năm 1998, 1999, 2011, 2012, chúng ta càng thấy ý nghĩa lớn lao trong chỉ dẫn đó của Người.

Theo Người, khi dân đã được biết, được hiểu thì phải tạo điều kiện cho dân được bàn bạc thực sự, bàn tất cả mọi vấn đề và mọi người đều được tham gia bàn bạc. Cần hiểu rõ nguyện vọng của dân. Họ muốn được tôn trọng, được bày tỏ ý kiến. Sau khi dân được biết, được hiểu, được bàn bạc và được xây dựng kế hoạch của địa phương mình, cơ sở mình, họ sẽ dùng chính sức lao động của họ vào những việc làm, hành vi, nhiệm vụ cụ thể một cách tự giác… Lúc này nhiệm vụ của lãnh đạo là “động viên và tổ chức cho toàn dân ta thi hành, phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân”, phải biết “đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân” có như vậy mới động viên được đông đảo nhân dân tích cực tham gia và thực hiện mọi kế hoạch của địa phương cơ sở.

“Khi thi hành xong phải cùng với nhân dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng”. Đây là công đoạn cuối cùng của quy trình tiến hành thực hiện dân chủ của mỗi tổ chức, đơn vị, địa phương, cơ sở. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng việc kiểm tra, rút kinh nghiệm là vô cùng quan trọng và cần thiết giúp chúng ta thực hiện tốt những nhiệm vụ khác. Dân kiểm tra cán bộ, cán bộ kiểm tra dân, dân và cán bộ cùng kiểm tra mọi hoạt động và lề lối làm việc sao cho dân chủ , cấp trên phải thường xuyên kiểm tra cấp dưới, cấp dưới phải phê bình cấp trên, nhất là phê bình từ dưới lên. Kiểm tra chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện một cách nghiêm túc, được đánh giá một cách khách quan, được tiến hành bằng những giải pháp khéo léo, tinh tế mà Người gọi là “phải kín đáo”. Thanh tra chỉ có hiệu lực nếu được tiến hành một cách đột xuất và bất ngờ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm kiểu mẫu cho phương pháp kiểm tra, thanh tra khoa học và có hiệu quả ấy. Đồng thời Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng thường xuyên kêu gọi nhân dân giám sát công việc của Chính phủ từ Trung ương.

Dân chủ cơ sở cũng là một trong những tư tưởng cơ bản xuyên suốt trong tư tưởng dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng dân chủ của Người luôn xoay quanh cái cốt lõi: Dân là gốc. Dân là gốc thì dân phải là chủ và dân phải làm chủ. Nhân dân có quyền lợi làm chủ thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân. Người đánh giá rất cao về dân chủ: Dân chủ là thứ quý báu nhất của nhân dân. Thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn. Điều đáng mừng là, hiện nay, chúng ta đang thực hiện dân chủ ở cơ sở, thông qua việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đã và đang thực hiện tốt hơn chức năng và nhiệm vụ của mình theo đúng đường lối của Đảng và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh với nhiều nội dung và hình thức phong phú, đạt được những kết quả tốt./.

Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Người chuyển thể Di chúc Bác Hồ thành thơ

“Trằn trọc ngày đêm viết một mình/Chuyển lời Di chúc Hồ Chí Minh/Thành thơ dễ đọc và dễ hiểu/Học tập làm theo tốt cho mình”. Ðây là những vần thơ mở đầu tập thơ Di chúc Bác Hồ con tạc thành thơ của ông Trương Văn Mão (trong ảnh), 75 tuổi ở xã Tây Lương, huyện Tiền Hải (Thái Bình).

lam-tho-ve-bac
Ông Trương Văn Mão

Trong chuyến công tác ở huyện miền biển Tiền Hải, tình cờ chúng tôi được nghe một câu chuyện rất cảm động, ý nghĩa về một ông lão đã chuyển thể toàn bộ Di chúc của Bác Hồ thành ba thể loại thơ: Lục bát, bát ngôn và tự do.

Ðồng chí cán bộ Tuyên giáo huyện Tiền Hải hồ hởi đưa tôi đi tìm gặp người có khả năng đặc biệt này. Con đường từ trung tâm huyện vào nhà ông Mão được rải nhựa, đổ bê- tông sáng bóng dài khoảng hơn 3 km. Nhà ông nằm ở cuối thôn. Khi chúng tôi đến, ông Mão đang cặm cụi chăm sóc, cắt tỉa vườn cây cảnh. Cây cảnh của ông có đủ loại với nhiều kiểu dáng. Ở giữa vườn cây là một chiếc chòi lá để ngồi uống nước, cảm giác rất thú vị. Năm nay, ông Mão đã bước sang tuổi 75, sức khỏe tốt và minh mẫn. Ông nói, mình già rồi, có người đến chơi như hôm nay nên cảm thấy rất phấn khởi. Sau tuần trà nước, người đặc biệt kể cho tôi nghe về mối lương duyên này. Trước đây, ông công tác ở Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Tiền Hải. Năm 1993, về hưu, có nhiều thời gian hơn nên ông thường xuyên trồng, chăm sóc cây cảnh, làm thơ, đọc tư liệu về người lãnh tụ kính yêu của dân tộc.

Làm thơ từ hồi còn nhỏ, ngày trước, thơ của ông chủ yếu viết về đề tài thiên nhiên, quê hương, đất nước. Thời gian còn công tác ở ngân hàng, ông đã nung nấu ý định viết thơ về Bác Hồ, về Ðảng, nhưng do thiếu tư liệu và nhiều lý do khác nữa nên đến bây giờ mới thực hiện được. Năm 2007, thấy báo chí tuyên truyền đậm nét về việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, thế là ông tìm đọc sách, báo, tư liệu về Bác Hồ.

Năm 2010, ròng rã 20 ngày liên tục ông đã viết xong tập trường ca Bảy mươi chín mùaXuân của Bác Hồ với 240 câu thơ. Ở tập thơ này, ông trình bày thành ba chương: Chương một làBối cảnh lịch sử gia đình Bác, chương hai là Tư tưởng và đạo đức của Người, chương ba là Lời ước nguyện. Ðọc những vần thơ ông viết ở tập trường ca thật tình cảm, da diết. Ở chương một, có đoạn ông viết: “Quê hương xứ Nghệ miền Trung/Ðịa linh nhân kiệt đã sinh ra Người/Ngay từ khi thủa thiếu thời/Bác phải sống giữa cuộc đời tối tăm”… Với chương ba Lời nguyện ước, ông viết “Xa Bác bốn chục năm trời/Làm sao viết hết cuộc đời Bác đây/Tôi chưa gặp Bác một ngày/Nhưng hình bóng Bác dâng đầy trong tim”.

Nối tiếp mạch nguồn cảm hứng từ tập thơ đầu tiên về Bác, ba tháng mùa Xuân 2012, ông Mão đã hoàn thành xong tập thơ “Di chúc Bác Hồ con tạc thành thơ”. Có thể thấy rằng, ở tập thơ này, ông Mão nặng lòng về Bác, về Ðảng hơn bao giờ hết. Ông nói, nếu không hoàn thành được tập thơ “Di chúc Bác Hồ con tạc thành thơ” thì bản thân luôn thấy mình như nợ Bác, nợ Ðảng và nhân dân cả nước rất nhiều. Ở tập thơ thứ hai này được tác giả trình bày thành ba chương với 750 câu di chúc, ngôn ngữ thể hiện rất tài tình, súc tích. Chương một, những lời tâm huyết với Bác Hồ, thuộc thể thơ lục bát. Chương hai, Di chúc của Bác Hồ, thể thơ bát ngôn. Chương ba, tấm gương đạo đức Bác Hồ, thể thơ tự do.

Ông Mão chia sẻ, sau khi hoàn thành hai tập thơ về Bác, được sự giúp đỡ tận tình của chính quyền địa phương, nhất là sự đóng góp, ghi nhận của GS, TS Hoàng Chí Bảo, chuyên gia cao cấp – Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, chỉ trong thời gian ngắn, bản trường ca Bảy mươi chín mùa Xuân của Bác Hồ đã chính thức ra mắt bạn đọc gần xa, được nhân dân đón đọc sôi nổi. Ông Mão dự định, thời gian tới sẽ tiếp tục ra mắt bạn đọc tập thơ “Di chúc Bác Hồ con tạc thành thơ”.

Trước tình cảm đặc biệt chân thành mà ông Mão dành cho Ðảng, Bác Hồ, GS, TS Hoàng Chí Bảo cho biết, người viết bản trường ca đã thể hiện sự hiểu biết sâu sắc của mình về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng và đạo đức cao quý của Bác Hồ. Không những thế, bản trường ca còn là tiếng nói từ đáy lòng tác giả, giản dị mà sâu lắng, toát lên tình cảm yêu thương, kính trọng và ngưỡng mộ đối với Bác Hồ. Tập thơ còn thể hiện mong muốn thiết tha được học tập và làm theo lời Bác, không chỉ tác giả mà cả chúng ta. Vì lẽ đó, những điều tâm huyết của tác giả thể hiện qua bản trường ca này chắc chắn sẽ nhận được nhiều tình cảm của anh em, bạn bè, đồng chí… gần xa ở mọi miền Tổ quốc.

Long Thành
Theo http://www.nhandan.com.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngăn ngừa, khắc phục những thói hư tật xấu của cán bộ, đảng viên

Sau đợt tập trung tiến hành tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, toàn Đảng và từng cán bộ, đảng viên đang từng bước tự khắc phục những bất cập, yếu kém, thói hư tật xấu để xứng đáng là người chiến sĩ tiên phong trong công cuộc đổi mới đất nước. Để tạo thêm niềm tin, vững tâm tiến lên “chiến thắng mọi tính xấu trong mình ta” (1) theo lời kêu gọi của Bác Hồ, chúng ta hãy cùng nhau ôn lại những lời dạy chí tình, sâu sắc của Người đối với cán bộ, đảng viên trong các giai đoạn phát triển của cách mạng.

Bác Hồ kính yêu là lãnh tụ lỗi lạc của toàn dân tộc, là người sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo Đảng, nhà nước ta, lãnh đạo công cuộc giữ nước và dựng nước. Người đặc biệt quan tâm vấn đề xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, những người đem đường lối của Đảng đến quần chúng và tập hợp, tổ chức quần chúng tiến hành cách mạng. Theo Người, “cán bộ là cái gốc của mọi công việc” (2) “công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém. Vì vậy Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta” (3).

Suốt cuộc đời Người, mặc dù phải quán xuyến trăm công ngàn việc cách mạng, Bác vẫn luôn là “người làm vườn” cần mẫn, ra sức chăm chút “vun trồng những cây cối quý báu” của Đảng, Nhà nước và của nhân dân ta. Một trong những bài giảng quan trọng của Người truyền đạt lớp cán bộ đầu tiên năm 1927 tại hải ngoại là phải thường xuyên trau dồi “tư cách một người cách mệnh” (4). Bản thân từng người phải rèn luyện ra sao; đối với đồng nghiệp, đồng chí, đối với nhà nhân dân, đối với công việc phải như thế nào?…

Ngay sau khi đọc “Tuyên ngôn độc lập” khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được nửa tháng, ngày 17-9-1945, trong Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà (Nghệ An), Bác căn dặn: “Cán bộ ta nhiều người cúc cung tận tụy, hết lòng trung thành với nhiệm vụ, với chính phủ, với quốc dân. Nhưng cũng có nhiều người hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành, độc đoán, hoặc là vì công vinh tư. Thậm chí dùng phép công để báo thù tư, làm cho dân oán đến Chính phủ và đoàn thể. Những khuyết điểm trên, nhỏ thì làm cho dân chúng hoang mang, lớn thì làm cho nền đoàn kết lay động. Chúng ta phải lập tức sửa đổi ngay…” (5). Giáo dục cách làm người, làm cán bộ và phê bình, phê phán những thói hư tật xấu trong đội ngũ cán bộ, đảng viên là những việc làm thường xuyên thắm tình đồng chí, đòi hỏi phải tiến hành bền bỉ, liên tục. Gần 2 tháng sau khi thành lập chính quyền nhân dân trong cả nước, ngày 17-10-1945, trong Thư gửi ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, Bác nêu 6 căn bệnh của cán bộ, công chức thời bấy giờ. Đó là ‘trái phép”, do tư thù tư oán mà bắt bớ trái phép, tịch thu bừa bãi; “cậy thế”, cho mình là người của ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao được vậy; “hủ hóa”, muốn ăn ngon mặc đẹp, chi tiêu ngày càng xa xỉ, lấy của công dùng vào việc tư; “tư túng”, kéo bè kéo cánh, không tài năng gì cũng đưa vào chức này chức nọ; “chia rẽ”, bênh vực lớp này chống lại lớp kia; “kiêu ngạo”, lúc nào cũng lên mặt “quan cách mạng”, coi khinh quần chúng. Người phê phán gay gắt những “lầm lỗi rất nặng nề nói trên”, đồng thời chỉ rõ: “chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa” (6). Sự nghiệp cách mạng phát triển, công việc ngày càng nhiều, cán bộ đảng viên tăng thêm. Do thiếu tư tưởng, rèn luyện, không ít người đã vi phạm khuyết điểm và những khuyết điểm đó mang nặng dấu ấn của “quan cai trị”, “người cầm quyền” dưới thời kỳ thống trị của thực dân, phong kiến.

Sau ngày toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta (12-1946), trong vòng một, hai tháng, chính quyền non trẻ của chúng ta buộc phải rời thành phố chuyển về nông thôn và miền núi để điều hành công cuộc chiến đấu thần thánh của nhân dân ta chống kẻ xâm lược và bè lũ tay sai, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, ngày 1-3-1947, trong Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ, Bác đã nêu tám khuyết điểm “phải kiên quyết tẩy sạch” (7). Đó là: “Địa phương chủ nghĩa”, chỉ biết đến lợi ích của địa phương mình, bộ phận mình; “Óc bè phái”, nghe người, dùng người hẩu với mình; “óc quân phiệt quan liêu”, hống hách, như một “ông vua con” ở nơi mình phụ trách; “óc hẹp hòi”, không biết dùng chỗ hay của người khác và giúp họ chữa chỗ dở; “ham chuộng hình thức”, thích hình thức bề ngoài, phô trương cho oai; “làm việc lối bàn giấy”, thích làm việc kiểu giấy tờ, chỉ tay năm ngón, ít đi vào quần chúng, bám sát thực tiễn; “vô kỷ luật, kỷ luật không nghiêm”, việc dễ thì làm, khó thì bỏ, bỏ địa phương khi chiến tranh lan đến; “ích kỷ, hủ hóa”, thích ăn ngon mặc đẹp, xa hoa, chỉ lo danh lợi của bản thân mình…

Những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp và bè lũ tay sai, công việc thật bộn bề, khó khăn gian khổ chồng chất không sao kể xiết. Bác cùng Bộ Chính trị tập trung mọi công sức vào công tác đối nội, đối ngoại của một chính quyền non trẻ đang còn thiếu thốn mọi bề. Cùng với việc xây dựng bộ máy kháng chiến, kiến quốc từ trên xuống dưới, Người đã dành nhiều thời gian cho việc xây dựng, rèn luyện, uốn nắn những lầm lỗi, lệch lạc của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đúc kết kinh nghiệm hoạt động của bộ máy chính quyền từ sau ngày giành được độc lập, nhất là trong gần một năm điều hành công cuộc kháng chiến, kiến quốc, tháng 10-1947, Bác cho ra đời tập sách “Sửa đổi lối làm việc”, một cẩm nang gối đầu giường của đông đảo của cán bộ, đảng viên. Bác nghiêm khắc đòi hỏi từng tổ chức, từng người: “Ngay từ bây giờ, các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa và giúp đồng chí mình sửa chữa. Phải như thế Đảng mới nhanh chóng phát triển, công việc mới chóng thành công” (8). Nội dung tập sách là những lời chỉ dẫn cụ thể cán bộ đảng viên về phương pháp lãnh đạo và tác phong công tác của người chiến sĩ cách mạng. Bác đã nêu lên khá nhiều khuyết điểm của không ít cán bộ, đảng viên và chỉ dẫn cách thức chữa từng căn bệnh cụ thể. Những khuyết điểm đó,  theo Người, có thể xếp vào ba loại: “Khuyết điểm về tư tưởng, tức là bệnh chủ quan. Khuyết điểm về sự quan hệ trong Đảng và ngoài Đảng, tức là bệnh hẹp hòi. Khuyết điểm về cách nói và cách viết, tức là ba hoa (9). Ba “chứng bệnh nguy hiểm” này nếu không chữa ngay để nó lây ra, thì có hại vô cùng.

Trong sách này, Bác đã nêu lên hàng loạt chứng bệnh tệ hại khác và mỗi chứng bệnh là một kẻ địch. Kẻ địch bên trong của mỗi người cán bộ, đảng viên. Người phân tích sâu sắc: “Mỗi kẻ địch bên trong là một bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong ta đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra” (10). Những chứng bệnh này là bước phát triển tất nhiên của những chứng bệnh cũ. Đó là: “Bệnh nể nang”, làm ngơ trước sai lầm của người quen biết, họ hàng, thân thích; “bệnh tham lam”, tự tư tự lợi, đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích dân tộc, “bệnh lười biếng”, tự cho mình là cái gì cũng biết, việc gì cũng giỏi, lười suy nghĩ, lười học tập, dành lấy việc dễ, đẩy việc khó cho người; “bệnh kiêu ngạo”, tự cao tự đại, ham địa vị, danh vọng, hay lên mặt, thích được tâng bốc; “bệnh hiếu danh”, tự cho mình là anh hùng, quan trọng, không chịu làm những công tác thiết thực; “thiếu kỷ luật”, đặt mình lên trên tổ chức, thích sao làm vậy; “óc hẹp hòi”, khinh người, không cân nhắc người tốt, sợ người ta hơn mình; “óc lãnh tụ”, làm được một vài việc thì cho mình đáng là lãnh đạo, lãnh tụ ở địa phương, đơn vị; “bệnh hữu danh vô thực”, làm việc không thiết thực, làm cho có chuyện, làm ít nói nhiều; “kéo bè kéo cánh”, từ bè phái dẫn đến chia rẽ, hợp với mình thì dở cũng cho là hay, che đậy cho nhau; “bệnh cận thị”, không nhìn xa thấy rộng; “bệnh tị nạnh”, cái gì cũng muốn “bình đẳng”, cào bằng như nhau; “xu nịnh, a dua”, bốc thơm cấp trên và những người có quyền thế, theo gió bẻ buồm…những chứng bệnh trên bắt nguồn từ “bệnh cá nhân”, mọi suy nghĩ việc làm đều xuất phát từ lợi ích cá nhân và đặt lợi ích cá nhân lên trên hết, trước hết. Tất cả đều vì cá nhân, vì gia đình mình, vì phe nhóm mình. Bác khẳng định: Mắc những căn bệnh đó là do “kém tính đảng”, mắc một trong những bệnh đó “là hỏng việc”. Người căn dặn “chúng ta phải ráo riết dùng phê bình và tự phê bình để giúp nhau chữa cho hết những bệnh ấy” (11). Từ đây, Bác đã nói đến chỉ đích danh và phê phán  gay gắt “bệnh cá nhân”- chủ nghĩa cá nhân trong con người cán bộ, đảng viên.

“Báo cáo Chính trị” do Bác trình bày tại Đại hội lần thứ II của Đảng (2-1951) một lần nữa nhấn mạnh “những khuyết điểm khá phổ thông và nghiêm trọng” lúc ấy là “những bệnh chủ quan, quan liêu, mệnh lệnh, hẹp hòi và bệnh công thần” (12). Sau đó, ngày 2-9-1951, trong bài báo “Cần tẩy sạch bệnh quan liêu mệnh lệnh”, Bác chỉ rõ: Bệnh quan liêu mệnh lệnh là do xa nhân dân, khinh nhân dân, không tin cậy nhân dân, không hiểu biết nhân dân, không yêu thương nhân dân, sợ nhân dân… và Người căn dặn: “Bệnh quan liêu mệnh lệnh chỉ đưa đến một kết quả là hỏng việc. Vì vậy chúng ta phải mau mau chữa bệnh nguy hiểm ấy” (13).

Từ năm 1952, Bác Hồ đã lưu ý và kêu gọi cán bộ, đảng viên, nhân dân phải thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu. Người nói: “Tham ô là kẻ cướp. Lãng phí tuy không lấy của công đút túi, song kết quả cũng rất có hại cho nhân dân, cho Chính phủ. Có khi tai hại hơn nạn tham ô. Mà có nạn tham ô và lãng phí là vì bệnh quan liêu. Muốn trừ nạn tham ô, lãng phí thì trước mắt phải tẩy sạch bệnh quan liêu” (14).

Miền Bắc (từ Quảng Bình trở ra) được hoàn toàn giải phóng sau chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu năm 1954. Từ đó, nhân dân miền Bắc bước vào giai đoạn khôi phục kinh tế, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tiến dần vào giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà. Đất nước chuyển từ chiến tranh sang hòa bình, đi sâu vào lĩnh vực xây dựng, phát triển kinh tế xã hội, văn hóa, xây dựng cuộc sống mới. Sống và hoạt động một thời gian dài trong cơ chế quan liêu bao cấp và xin cho, số đông cán bộ đảng viên hoạt động năng động có hiệu quả. Song không ít người đã sớm quên đi những ngày sống cực khổ, khó khăn, chia ngọt sẻ bùi bên nhau trong thời kỳ kháng chiến. Họ nhiễm nặng “bệnh cá nhân”- chủ nghĩa cá nhân, bắt đầu suy tính nhiều hơn và trước hết cho lợi ích cá nhân, gia đình và lợi ích phe nhóm. Ở họ, chủ nghĩa cá nhân nảy sinh và chiếm vị trí chi phối trong suy nghĩ cũng như việc làm hằng ngày, mà trước kia Bác thường gọi là “bệnh cá nhân”.

Từ thời điểm này, cùng với việc phê phán chủ nghĩa cá nhân, Bác luôn đề cao đạo đức cách mạng và chỉ rõ người cách mạng phải kiên quyết loại trừ chủ nghĩa cá nhân ra khỏi đầu óc mình. Bác phân tích rõ nguồn gốc và những tác hại của chủ nghĩa cá nhân: “vết tích xấu xa nhất và nguy hiểm nhất của xã hội cũ là chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân trái ngược với đạo đức cách mạng…, là một thứ rất gian xảo, xảo quyệt; nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc”, nó “là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó” (15). Đúng như vậy, người có đầu óc cá nhân chủ nghĩa thường ít hoặc không nghĩ đến lợi ích chung của cách mạng, của nhân và và cộng đồng chung quanh họ, mà thường lo cho lợi ích riêng của cá nhân cũng như của phe nhóm mình, đặt nó lên trên lợi ích chung của đất nước, của tập thể. Họ là những người tham danh, hám lợi, thích địa vị, hay so bì, tị nạnh. Có chút thành tích thì tự cao, tự đại, kiêu ngạo, công thần, gây lủng củng chia rẽ nội bộ. Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra chủ nghĩa tự do, quan liêu mệnh lệnh, tham ô lãng phí, lười biếng…; đẻ ra biết bao thói hư tật xấu và hằng trăm hàng ngàn căn bệnh nguy hiểm. Người mang nặng chủ nghĩa cá nhân thì việc gì cũng chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân, của phe nhóm trước hết. Họ ngại gian khổ, khó khăn, chỉ nghĩ đến hưởng thụ, ăn chơi sa đọa, biến chất. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cao tự đại coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán chuyên quyền, xa rời quần chúng, xa rời thực tế, không có tinh thần học hỏi cố gắng vươn lên. Họ thường tạo thành phe nhóm, gây mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, gây tổn hại lợi ích cách mạng…

Bác Hồ đã khẳng định: “Cái gì trái với đạo đức cách mạng đều là chủ nghĩa cá nhân. Muốn thành người cách mạng, thành người cộng sản chân chính thì phải chống chủ nghĩa cá nhân” (16). Người chỉ rõ: “Do cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm” và đòi hỏi mỗi cán bộ đảng viên phải “phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật. Phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thực sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt nhiệm vụ” (17).

Bác kính yêu của chúng ta đi xa đã 44 năm nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm, chỉ dẫn của Người về xây dựng, rèn luyện, bồi dưỡng, quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên đã và đang chiếu sáng cho từng bước đi của mỗi người. Bác luôn tỏ rõ lòng nhân từ độ lượng đối với mọi người, nhưng cũng rất nghiêm khắc với những lầm lỗi, vi phạm khuyết điểm, làm tổn hại đến thanh danh của Đảng. Làm theo lời chỉ bảo ân cần, chí tình của Bác, phát huy những kết quả bước đầu của đợt tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, mỗi người chúng ta hãy luôn nghiêm khắc với bản thân mình và thường xuyên nhắc nhở nhau khắc phục những vi phạm, thiếu sót đã được làm sáng tỏ, đấu tranh kiên quyết với những vi phạm, xử lý kỷ luật nghiêm minh đối với những người cố tình đi ngược lại kỷ luật đảng, pháp luật nhà nước và kỷ cương xã hội. Đó cũng là điều Bác Hồ mong muốn ở mỗi người, đã từng chỉ bảo chúng ta trong một cuộc đời lãnh đạo cách mạng của Bác. Những lời căn dặn của Người hãy còn nguyên giá trị thực tiễn trong cuộc đấu tranh khắc phục những biểu hiện tiêu cực, mặt trái của kinh tế thị trường phản ánh trong suy nghĩ, hành động của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.

———–

(1),(2),(3),(7),(8),(9),(10),(11) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG – Sự thật, H.2002, tập 5, tr. 660, 269, 273, 71, 233, 233, 238-239, 267.

(4) Sđd, tập 2, tr. 260. (5), (6) Sđd, tập 4, tr. 21, 57. (12),(13),(14) Sđd, tập 6, tr. 167, 293, 489. (15), (16) Sđd, tập 9, tr. 283, 292, 448. (17) Sđd, tập 12, tr. 439.

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Cô giáo ba lần vinh dự được gặp Bác Hồ

Nghe tiếng Đông Ngạc đã lâu, hôm nay tôi mới có dịp về thăm. Đông Ngạc với nét giản dị, cổ kính, những cánh cổng theo kiến trúc cổ mà tuổi thọ có lẽ hơn cả một đời người và những con đường lát gạch thẳng tắp, những bờ tường có hoa leo chạy dài san sát… Đông Ngạc có được vẻ đẹp như thế là do sự lãnh đạo của các cấp ủy, chính quyền phát huy truyền thống quê hương và công sức của rất nhiều người có tấm lòng thơm thảo, có trách nhiệm với xóm làng, trong đó không thể không nhắc đến cô Hiệu trưởng đã nghỉ hưu Nguyễn Kim Oanh, người 3 lần vinh dự được gặp Bác Hồ.

ba-lan-gap-bac1
Cô Nguyễn Kim Oanh khi đã về hưu, sống cùng gia đình nhỏ

Nhà cô Oanh ở xóm 2 thôn Đông Ngạc, khách đến thăm sẽ có nhiều thú vị với khuôn viên của gia đình, từ cánh cổng được xây năm 1935 đến ngôi nhà cổ mà theo lời gia chủ được dựng lên từ đời vua Minh Mạng, nhẩm ra cũng ngót 190 năm. Nơi khoảng sân nhỏ, những chậu cảnh với nhiều loại cây được xếp đặt ngay ngắn, đẹp mắt, phía trên có những giò lan xinh xắn đang trổ hoa. Cô Oanh hẳn yêu hoa lắm, dường như ở đâu cũng thấy hoa, từ vườn cho đến phòng khách trong nhà làm cho không gian càng thêm ấm cúng, thanh tao.

Cô Kim Oanh sinh năm 1938 tại xã Phùng Chí Kiên, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Khi còn nhỏ, cô theo gia đình lên Thái Nguyên sinh sống. Những năm tháng trước cách mạng, tuy tuổi còn nhỏ nhưng cô đã sớm được hòa mình trong khí thế cách mạng sục sôi ở Thủ đô kháng chiến. Ngay trong gia đình, cụ thân sinh cô tham gia Ban Mặt trận Việt Minh tỉnh Thái Nguyên. Năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, người anh cả trong gia đình cô tham gia Thanh niên cứu quốc, trở về Mỹ Hào cùng nhân dân phá kho thóc, anh hai tham gia bộ đội.

16 tuổi, cô bé Kim Oanh gia nhập Đội Thiếu nhi Tháng Tám, tiền thân của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh ngày nay. Năm 1955, cô về học ở Hà Nội. Chính nơi đây, cô đã  3 lần gặp Bác Hồ đầy cảm động, đó là những bước ngoặt đã làm thay đổi cuộc đời cô mà đến nay, những hình ảnh, phút giây ấy vẫn vẹn nguyên như mới hôm qua.

Ba lần gặp Bác

Lần đầu cô gặp Bác trong dịp sinh nhật của Người, ngày 19-5-1956. Cô theo đoàn học sinh Thủ đô đến Phủ Chủ tịch chúc thọ Bác. Cô kể: “Được nghe nhiều, hôm ấy mới có dịp gặp Người. Vừa nhìn thấy Bác, tất cả reo vang tên Người và chạy ùa lại. Tôi nhường các em nhỏ chạy trước. Người giản dị, ân cần phát kẹo và hỏi chuyện các cháu như một người ông hiền từ. Suốt ngày hôm ấy, tôi cứ lâng lâng một niềm vui sướng, hạnh phúc không nói nên lời”.

Lần thứ hai cô được gặp Bác vào tháng 7-1956, khi Người đến thăm Trường phổ thông cấp III Hà Nội, nơi con em cán bộ kháng chiến theo học. Thời điểm đó, học sinh đang được hướng nghiệp, Bác vừa đến, tất cả học trò đều chạy ùa ra đón. Trong lần gặp này, Người nói về vai trò của các thầy cô, về ý nghĩa của sự nghiệp trồng người trong quá trình kiến thiết nước nhà, xây dựng CNXH. Cô Oanh kể lại, khi ấy cô đang có mơ ước trở thành công nhân ngành dệt, nhưng lời Bác nói đã gieo vào lòng cô những suy nghĩ về trách nhiệm bản thân, nhen lên ngọn lửa nhiệt huyết của tuổi trẻ, thôi thúc cô không ngừng học tập, rèn luyện để cống hiến sức mình cho sự nghiệp chung. Sau đó, cô đã chuyển sang ngành sư phạm, phấn đấu trở thành một nhà giáo giỏi, truyền đạt kiến thức và vun đắp ước mơ cho các thế hệ học trò. Đây chính là một bước ngoặt lớn, một quyết định đã làm thay đổi cuộc đời cô.

Lần thứ ba gặp Bác là tháng 10-1957, khi cô đang học Trường Trung cấp Sư phạm Trung ương, nay là Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Khi đến, Người đi thăm nhà ăn, khu sinh hoạt trước khi vào hội trường. Người trò chuyện cùng giảng viên, sinh viên, nhấn mạnh lý tưởng của thanh niên và trách nhiệm với Tổ quốc, nhân dân. Lời Bác giản dị, dễ hiểu, gửi gắm trong đó  tình yêu thương, sự kỳ vọng của Người đối với thế hệ trẻ, đặc biệt là những thầy giáo, cô giáo tương lai, bởi đây chính là đội ngũ sẽ đào tạo ra một lớp trí thức mới, phục vụ cho sự nghiệp kiến thiết nước nhà. Nếu như trong lần gặp thứ hai, lời Bác đã giúp cô lựa chọn nghề nghiệp thì lần gặp gỡ thứ ba này đã giúp cô vững tin hơn vào con đường mình đang đi.

Nhiệt huyết với sự nghiệp trồng người

Năm 1959, sau khi tốt nghiệp, cô xung phong đi Lạng Sơn nhưng cấp trên phân công về Hưng Yên dạy ở Trường cấp II Ân Thi. Phụ trách lớp 5, cô Oanh trở thành nữ giáo viên đầu tiên của trường. Năm 1960 về huyện Yên Mỹ làm Tổng phụ trách Đội Thiếu niên, thấm nhuần lời dạy của Bác, cô đã tổ chức nhiều hoạt động sôi nổi, có ý nghĩa thiết thực như “gánh cỏ xanh”, “đấu tranh thống nhất”, cắm trại… Với những nỗ lực và cống hiến không mệt mỏi, năm 1964, mặc dù tuổi còn rất trẻ, cô đã được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng Trường Tân Lập (Yên Mỹ). Ở đây, cô Oanh đã phát huy sức trẻ, đề ra nhiều kế hoạch, ý tưởng xây dựng trường, đào tạo đội ngũ giáo viên, đưa các hoạt động giảng dạy, học tập vào nề nếp. Từ năm 1964 đến năm 1969, Trường liên tục là lá cờ đầu trong ngành giáo dục của tỉnh Hưng Yên. Tháng 6-1968, cô vinh dự được kết nạp vào Đảng.

Năm 1969, cô chuyển công tác về Hà Nội, làm Hiệu phó Trường cấp II Dịch Vọng (Cầu Giấy) đến năm 1972. Tuy chỉ vẻn vẹn 3 năm nhưng cô Oanh đã phát huy được năng lực và kinh nghiệm quản lý, có những đóng góp không nhỏ vào thành tích chung của trường. Tháng 8-1972, cô được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng Trường cấp II Đông Ngạc (Từ Liêm). Trong 16 năm chèo lái, cô Oanh đã khéo léo tập hợp được một đội ngũ giáo viên giỏi về chuyên môn, nhiệt tình trong giảng dạy, tỷ lệ học sinh thi đỗ vào cấp III cao, xây dựng nhà trường kiểu mẫu, hoạt động nền nếp, liên tục giữ vững danh hiệu trường tiên tiến của Ngành Giáo dục Thủ đô. Với lòng yêu nghề và tâm huyết của một nhà giáo, cô thường xuyên quan tâm, gần gũi, yêu thương, tận tình chỉ bảo các em học sinh, kịp thời động viên khuyến khích các em có những cố gắng, tiến bộ trong rèn luyện. Để nâng cao trình độ chuyên môn và chất lượng giảng dạy của Trường, cô thường xuyên tìm tòi, ứng dụng những phương pháp giảng dạy, phương pháp quản lý mới, đảm bảo khoa học, hợp lý, nhờ đó hiệu quả công việc được nâng lên rõ rệt.

Là Hiệu trưởng, đồng thời là Bí thư Chi bộ, cô luôn coi trọng vai trò lãnh đạo của cấp uỷ, quan tâm xây dựng khối đoàn kết giữa chi ủy và ban giám hiệu, chú trọng phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của đảng viên. Chi bộ đảng nhà trường nhiều năm liền giữ vững danh hiệu trong sạch, vững mạnh. Với những đóng góp, cô Oanh đã 6 lần nhận danh hiệu Chiến sĩ thi đua và Bằng khen của Sở Giáo dục – Đào tạo Hà Nội.

Tuổi hưu, tinh thần chưa hưu

Năm 1988, sau 16 năm trên cương vị Hiệu trưởng, cô Oanh về nghỉ hưu tại xóm 2, thôn Đông Ngạc. Với tâm huyết của một nhà giáo mẫu mực, một đảng viên gương mẫu, một công dân có trách nhiệm với quê hương, cô nhiệt tình tham gia nhiều hoạt động ở khu dân cư, góp sức mình làm quê hương Đông Ngạc giàu đẹp. Nhận thấy môi trường đang bị ô nhiễm, mất vệ sinh, cô cùng trưởng thôn họp dân, lập ra Ban vệ sinh xóm, thống nhất một số quy ước, phân chia các tổ ở ba khu vực. Từ đó, mỗi tuần một buổi, nhân dân trong thôn Đông Ngạc cùng nhau tham gia vệ sinh đường làng, ngõ xóm. Tuy môi trường đã sạch sẽ nhưng nhận thấy con đường của thôn đã xuống cấp, cô nảy ra ý tưởng bê tông hóa lề đường. Nghĩ là làm, cô lại bàn với trưởng thôn, sau đó cùng các cán bộ trong thôn vận động bà con góp tiền làm bê tông lề đường, riêng đoạn ngõ nhà mình, cô cùng gia đình gương mẫu làm trước. Tuy vậy không phải gia đình nào cũng hưởng ứng ngay, có những ngõ phải họp, vận động 3 lần mới xong. Bằng sự kiên trì giải thích, thuyết phục của cô và cán bộ thôn, lần lượt các ngõ thôn Đông Ngạc đều được bê tông hóa.

Năm 2009, xóm 2 Đông Ngạc khuyết xóm trưởng trong thời gian dài, nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh nhưng không có người giải quyết. Trước tình hình đó, cô Oanh đã xung phong làm trưởng xóm trong 2 năm. Việc đầu tiên cô thực hiện là xã hội hóa việc làm cổng làng nhằm khôi phục nét cổ kính của Đông Ngạc, chào mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Từ tháng 4-2009 đến 7-2010, cô đã tổ chức họp dân thông qua mẫu cổng, bàn phương thức đóng góp, thảo thư ngỏ, tổ chức ngày hội quyên góp tiền xây cổng, kết quả đã xây dựng được cổng làng đúng dịp chào mừng 1000 năm Thủ đô.

Phát huy vai trò người đảng viên, cô Oanh luôn thẳng thắn đóng góp ý kiến trong các buổi sinh hoạt đảng, nhiều ý kiến của cô đã giúp chi bộ đề ra được những nghị quyết đúng đắn, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của thôn Đông Ngạc. Trong quan hệ với các cán bộ, đảng viên và nhân dân, cô chan hòa, gần gũi, sẵn sàng giúp đỡ, chia sẻ những khó khăn. Nói như đồng chí Văn Thúy Hoa, Bí thư Đảng ủy xã Đông Ngạc: “Cô Kim Oanh từ khi còn là Hiệu trưởng đến lúc về hưu luôn phát huy tốt vai trò người đảng viên, gương mẫu trong công việc, giản dị, gần gũi trong đời thường, hòa mình vào cuộc sống của bà con xóm làng. Đảng bộ xã Đông Ngạc rất cần những đảng viên như thế”.

Ở tuổi 75 nhưng cô vẫn tâm huyết với các hoạt động xây dựng quê hương giàu đẹp. 3 người con của cô đều thành đạt với gia đình yên ấm. 75 tuổi với 3 lần được gặp Bác Hồ, luôn học tập và làm theo Bác, được gắn bó và cống hiến cho sự nghiệp trồng người, giờ sống những tháng ngày tuổi già thanh thản. Một cuộc đời rất ý nghĩa và tự hào!

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Người quay cảnh nội các Dương Văn Minh rời Dinh Độc Lập

Sáng sớm 1/5/1975, đoàn quay phim của đạo diễn Phạm Việt Tùng có mặt tại Dinh Độc Lập. Nội các Dương Văn Minh sau khi tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, vẫn đang trú tại đây.

May mắn lớn nhất với người làm báo là được chứng kiến những thời khắc lịch sử của đất nước. Đạo diễn Phạm Việt Tùng là một người như thế. Tròn 35 năm trước, theo bước tiến thần tốc của Đoàn quân giải phóng, đạo diễn Phạm Việt Tùng có mặt tại Sài Gòn, kịp thời ghi lại những đoàn xe tăng hành tiến, cảnh nội các Dương Văn Minh tại Dinh Độc lập và hình ảnh hân hoan mừng chiến thắng của đồng chí, đồng bào thành phố Sài Gòn – Gia Định.

Tôi đến thăm Đạo diễn Phạm Việt Tùng giữa lúc ông đang chuẩn bị cho chuyến đi vào thành phố Hồ Chí Minh tham dự Lễ kỷ niệm 35 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Từng là người quay phim tài liệu, ông cẩn thận lưu giữ được khá nhiều tư liệu, hình ảnh vô giá…

Vừa bật cho tôi xem những thước phim tư liệu quý hiếm thường được phát trên tivi vào những dịp kỷ niệm ngày hội thống nhất non sông, ông vừa “thuyết minh” thời điểm quay, ý tưởng cảnh phim. Đó là những hình ảnh về ngày 30/4 lịch sử đã ghi sâu trong kí ức của bao người Việt Nam, nhưng rất ít người biết tác giả là ai. Đây, hình ảnh những đoàn xe tăng thần tốc, bánh xích nghiến lên lá cờ của chế độ Sài Gòn và những đồ quân trang vứt ngổn ngang trên đường phố; đây, hình ảnh nội các Dương Văn Minh được quay rõ nét bằng phim màu; đây, hình ảnh người dân thành phố Sài Gòn đổ ra đường vây quanh  các chiến xa của quân giải phóng và nói chuyện với những người lính bộ đội Cụ Hồ, trên quân phục vẫn lem bụi đường hành quân.

quay-canh-noi-cac1
Đạo diễn Phạm Việt Tùng (người mặc com lê, ôm hoa) cùng một số thành viên trên chiếc xe tăng 390 đã húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập.

Đạo diễn Phạm Việt Tùng hồi tưởng lại những ngày đáng nhớ nhất trong cuộc đời đạo diễn, quay phim tư liệu của ông: Trước lúc Chiến dịch Hồ Chí Minh mở màn, chúng tôi được lệnh khẩn trương vào Nam. Ai nấy đều háo hức lên đường để chứng kiến và ghi lại những khoảnh khắc lịch sử.

Đoàn của tôi gồm 7 người, do anh Huỳnh Văn Tiểng dẫn đầu. Chúng tôi được trang bị 2 máy quay và khoảng 1.500m phim hầu hết là đen trắng, phim màu rất ít. Anh Lê Trang Liêm giữ một máy, chỉ quay phim đen trắng; còn tôi giữ chiếc kia dùng để quay phim màu. Ngày ấy, phim màu là thứ rất quý hiếm với chúng tôi. Số phim màu này chúng tôi có được là do nữ diễn viên Mỹ Jane Fonda trao tặng trong chuyến thăm của bà tới Việt Nam đầu những năm 1970.

Trên đường hành tiến, hai nhà quay phim đã thực hiện theo phương châm “quay cuốn chiếu”, nhưng phải tính toán tiết kiệm từng centimet phim, để vào tới Sài Gòn mới là nơi tác nghiệp chính.

Tại Sài Gòn, các nhà quay phim không khỏi choáng ngợp trước một thành phố hiện đại nhưng khá vắng lặng. Trên đường phố ngổn ngang những quân trang, vũ khí của đám tàn quân, có cả những lá cờ ba sọc lăn lóc.

“Tôi chợt nhớ trong những bộ phim tư liệu về chiến tranh vệ quốc của Liên Xô, có cảnh thu gom rồi ném những lá cờ của các sư đoàn phát xít xuống đường phố; đó cũng là một biểu tượng chiến thắng. Tôi kiên nhẫn chờ đợi và đã quay được (bằng phim màu) hình ảnh bánh xe tăng nghiến lên lá cờ của chế độ Sài Gòn vừa sụp đổ tan tành. Rồi phải quay được những cảnh người dân tràn ra đường mừng chiến thắng, quay cảnh sinh viên giữ gìn trật tự trị an những ngày đầu giải phóng. Họ là những người rất yêu nước, đã góp phần không nhỏ vào ngày toàn thắng” – Đạo diễn Phạm Việt Tùng nhớ lại.

Sáng sớm 1/5/1975, đoàn quay phim của đạo diễn Phạm Việt Tùng có mặt tại Dinh Độc lập. Nội các Dương Văn Minh sau khi tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, vẫn đang trú tại đây. Đạo diễn Phạm Việt Tùng kể lại việc trả tự do cho họ: Tối 2/5/1975, Ủy ban quân quản TP Sài Gòn đã tổ chức việc trao trả tự do cho ông Dương Văn Minh. Tôi chọn được một vị trí thuận lợi ở góc phòng, đứng lên một chiếc ghế để hướng máy quay từ trên cao xuống.

Tại buổi trao trả, sau khi ông Trần Văn Trà, Chủ tịch Ủy ban quân quản thành phố phát biểu khẳng định một trang sử mới của đất nước Việt Nam đã bắt đầu, ông Dương Văn Minh xúc động nói: Ngày hôm nay, đại diện cho anh em có mặt tại đây, tôi nhiệt liệt hoan nghênh thành công của Chính phủ cách mạng trong công cuộc vãn hồi hòa bình cho đất nước. Với kỷ nguyên mới này, tôi mong rằng tất cả anh em có mặt tại đây, cũng như các tầng lớp đồng bào, sẽ có dịp đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng đất nước… Riêng cá nhân tôi, hôm nay tôi rất hân hoan khi được 60 tuổi, trở thành một công dân của nước Việt Nam độc lập. Tiếp đó, ông Dương Văn Minh và các thành viên trong nội các cuối cùng của chế độ Sài Gòn tươi cười và bình thản bước ra khỏi phòng khánh tiết, trở về đời thường của công dân một nước Việt Nam thống nhất…

Về chiếc máy quay phim đã theo mình đi khắp dặm dài của đất nước, đạo diễn Phạm Việt Tùng cho biết: “Đây là chiếc máy quay phim của Thụy Sĩ khá hiện đại thời ấy, hiệu Paillad Bollex. Chiếc máy đã giúp tôi ghi lại những hình ảnh lịch sử, nó là vật bất ly thân, là người bạn tâm giao, thân thiết. Cách đây 3 năm, tôi đã tặng Bảo tàng Cách mạng chiếc máy này”.

Theo VTC News
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn