Tag Archive | Chính trị – Xã hội

“Người đi tìm hình của Nước”

Nguoi di tim hinh cua nuoca

Tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin, nơi người thanh niên Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp khi rời Tổ quốc đi tìm đường cứu nước (6/1911). Ảnh internet

Chắc hẳn trong mỗi chúng ta đều đã một lần được nghe, được đọc, được suy ngẫm và rưng rưng xúc động về bài thơ “Người đi tìm hình của Nuớc” của nhà thơ Chế Lan Viên. Có thể nói, mỗi vần thơ cất lên như chứa đựng bao nỗi niềm của tình cảm, sự tự hào, hãnh diện, kính trọng và biết ơn công lao trời bể của nhà thơ nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hành trình suốt cuộc đời phấn đấu vì một lý tưởng cao đẹp, từ ngày ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911) trở thành nhà hoạt động cách mạng kiên cường và bền bỉ cho đến hơi thở cuối cùng (2/9/1969) đưa đất nước và dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Đất nước đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi
Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác
Khi bờ bãi dần lui làng xóm khuất
Bốn phía nhìn không một bóng hàng tre

Nguoi di tim hinh cua nc 2

Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp tháng 12/1920Ảnh internet

Mỗi lần đọc những dòng thơ trên, trước mắt ta như thấy giây phút thiêng liêng: Đó là hình ảnh của một chàng trai yêu nước tên Ba, tuổi mười tám đôi mươi đã quyết tâm ra đi tìm con đường cứu nước vào ngày 5-6-1911 trên con tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin tại bến cảng Sài Gòn (thành  phố Hồ Chí Minh). Trong chuyến hành trình đầu tiên đó, Bác đã đến Sing-ga-po, Cô-lôm-bô, Po Xa-ít, rồi Đa-răng Mác-xây và ngày 15 tháng 7, Bác đến Lơ Ha-vrơ, cảng chính của miền Bắc nước Pháp.

Với niềm xúc động chân thành, nhà thơ Chế Lan Viên đã cảm nhận sâu sắc nỗi lòng của Người trong những ngày tháng lênh đênh trên đại dương bao la, xa lạ. Bác đã quyết chí ra đi tìm ánh sáng cho dân tộc giữa mùa bão tố tháng sáu với một trái tim vĩ đại mang trọn tình yêu quê hương đất nước. Từ buổi trưa đó, Bác bước vào cuộc đời của một người lao động cực khổ để ra đi và để rồi:

Đêm xa Nước đầu tiên, ai nỡ ngủ
Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương
Trời từ đây chẳng xanh màu xứ sở
Xa Nước rồi, càng hiểu Nước đau thương

Vần thơ thật sâu lắng, giàu cảm xúc như hồi tưởng lại tâm sự của Bác Hồ trong “đêm xa Nước đầu tiên”, tưởng chừng như có thể thấy mỗi đau mất nước ngày đêm giày vò Người; hình ảnh của Người trằn trọc không ngủ trong những đêm dài lênh đênh nơi xứ lạ. Người ra đi thầm lặng, đơn độc trên con tàu vượt đại dương nhưng trong lòng vẫn luôn khắc khoải, canh cánh, day dứt một nỗi niềm mang tên “tình đất nước”, “vận mệnh dân tộc”. Xúc cảm của người xa xứ pha lẫn nỗi đau thương da diết vì mất Nước thật nghẹn ngào khi đồng bào còn chìm đắm trong bùn đen nô lệ, cam chịu sự thống trị của thực dân, đế quốc. Tàu càng đi xa, tiếng sóng càng trở nên xa lạ, nỗi đau như tăng dần lên “xa Nước rồi, càng hiểu Nước đau thương”.

Từ ngày 5 tháng 6 năm 1911 ấy, Người đã trải qua bao gian nan, cực khổ của các nghề “bồi” ở dưới tàu, “bồi” ở khách sạn, làm nghề rửa ảnh, vẽ sơn mài, làm nghề cào tuyết cho một trường học để sống, để đi, để hiểu và hoạt động cách mạng. Trong chuyến hành trình tìm đường cứu nước, Người đã đi khắp thế giới với nhiều khó khăn, vất vả, hiểm nguy nhưng ý chí, quyết tâm và lòng tin của Người về con đường giải phóng dân tộc luôn trước sau như một, chưa một phút giây thôi nghĩ về vận mệnh của đất nước, đời sống của đồng bào. Ý thơ đã cho ta thấy được tình yêu Tổ quốc luôn luôn cháy bỏng đến thiết tha trong tâm trí của Người:

Đời bồi tàu lênh đênh theo sóng bể
Người đi hỏi khắp bóng cờ châu Mỹ, châu Phi
Những đất tự do, những trời nô lệ
Những con đường cách mạng đang tìm đi
Đêm mơ Nước, ngày thấy hình của Nước
Cây cỏ trong chiêm bao xanh sắc biếc quê nhà
Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc
Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa

Sống giữa trời Âu phủ đầy tuyết trắng giá lạnh “một viên gạch hồng, Bác chống lại cả một mùa băng giá”, châu Mỹ, châu Phi xa xôi và nhiều lạ lẫm nhưng trong thẳm sâu tâm hồn Bác hình ảnh quê hương hiện lên với màu xanh của cỏ cây tươi tốt như màu xanh của hi vọng, mong ước về màu xanh của hòa bình dân tộc, sự yên bình, ấm no, tự do, hạnh phúc của đồng bào. Đọc câu thơ, ta bắt gặp một sự đối lập về hình ảnh, điều đó đã càng làm rõ hơn sự tinh tế đầy sâu lắng trong tâm hồn của Hồ Chủ tịch, đó là sự trăn trở, day dứt khôn nguôi đối với vận mệnh của đất nước. “Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc/Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa”. Trái tim giàu lòng yêu nước của Người như đang run lên, như đang nức nở, trong từng bữa ăn, giấc ngủ – Người cùng đau nỗi đau của dân tộc.

Xa Tổ quốc nhưng trái tim của Người luôn đập cùng nhịp đập trái tim của hàng triệu đồng bào. Đó là sức mạnh to lớn nhất giúp Người vượt qua mọi trùng dương, khó khăn để tiếp bước, tìm thấy ánh sáng chân lý soi rọi con đường đi đang đầy bùn đen tăm tối cho cả dân tộc. Khi đọc được Luận cương của Lê-nin, ngồi trong căn nhà số 9 ngõ Compoint, quận 17, ngoại ô Paris, Người đã bật khóc – khóc trong niềm hạnh phúc, khóc trong hi vọng về một ngày mai tươi sáng sẽ đến với dân tộc.

Luận cương đến với Bác Hồ. Và Người đã khóc
Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin.
Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách gấp
Tưởng bên ngoài, đất nước đợi mong tin

Niềm hạnh phúc như vỡ òa khi Người tiếp nhận Luận cương Lê-nin. Người tiếp nhận chân lý cách mạng ấy bằng tất cả trái tim, sự nhiệt huyết và khối óc của mình. Người tập trung lật giở từng trang sách và dường như cả đất trời cùng nín thở chờ đợi giây phút thiêng liêng, trọng đại này. Giây phút ló rạng ánh sáng của con đường giải phóng dân tộc, thời khắc lịch sử của một dân tộc đang trong cảnh lầm than, nô lệ hi vọng về ngày mai tươi sáng. Chân lý cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin đã soi sáng tâm hồn Người, đất trời và vạn vật xung quanh như bừng tỉnh, cùng hòa chung niềm hạnh phúc vô bờ:

Bác reo lên một mình như nói cùng dân tộc
“Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!”
Hình của Đảng lồng trong hình của Nước
Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười

Những câu thơ chứa đựng niềm hân hoan trào dâng đầy xúc động. Niềm vui náo nức của cả dân tộc trong giờ phút trọng đại hòa chung cùng tiếng reo mừng sung sướng của Người “Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!”. Con đường đi của cả dân tộc sẽ còn vô vàn những khó khăn, hi sinh, gian khổ nhưng hình ảnh của Đảng lồng trong hình đất nước đã khẳng định niềm tin vô cùng sâu sắc và mãnh liệt đối với Đảng quang vinh, đối với linh hồn của dân tộc. “Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười” – câu thơ giàu hình ảnh ấy đã làm người đọc xúc động xen lẫn vui mừng khi Người đã tìm ra con đường cứu nước, cứu dân. Và hơn cả là niềm hạnh phúc khi gặp những phác họa đầy tươi sáng về tương lai mới của đất nước:

Bác thấy:
Dân ta bưng bát cơm mồ hôi nước mắt
Ruộng theo trâu về lại với người cày
Mỏ thiếc, hầm than, rừng vàng, bể bạc
Không còn người bỏ xác bên đường ray

Giặc Nước đuổi xong rồi. Trời xanh thành tiếng hát
Điện theo trăng vào phòng ngủ công nhân
Những kẻ quê mùa đã thành trí thức
Tăm tối cần lao nay hóa những anh hùng

Nước Việt Nam nghìn năm Đinh Lý Trần Lê
Thành nước Việt nhân dân trong mát suối
Mái rạ nghìn năm hồng thay sắc ngói
Những đời thường cũng có bóng hoa che

Từ ngày 5 tháng 6 năm 1911, Bác rời xa Tổ quốc, quyết chí ra đi tìm đường cứu nước và Người đã tìm ra con đường giải phóng dân tộc. Sau bao năm bôn ba, nay Người trở về với quê hương, trở về với đồng bào. Mang trên vai sứ mệnh cao cả cùng với chân lý sáng ngời của chủ nghĩa Mác-Lênin, Người đã cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quyết chí đồng lòng, trải qua nhiều chiến đấu, hi sinh, gian khổ đưa cả dân tộc thoát khỏi đêm dài nô lệ:

Luận cương của Lê-nin theo người về quê Việt
Biên giới còn xa. Nhưng Bác thấy đã đến rồi
Kìa, bóng Bác hôn lên hòn đất
Lắng nghe trong màu hồng, hình Đất nước phôi thai

Ngày Bác ra đi chỉ có hai bàn tay với chí lớn tìm ra con đường cứu nước. Mùa Xuân của 30 năm sau (tháng 2 năm 1941), vượt qua biết bao khó khăn, trở ngại tưởng chừng không thể vượt qua nổi, mong ước được trở về Nước cùng đồng bào đấu tranh của Bác Hồ đã trở thành hiện thực. Bước chân đầu tiên về đất Mẹ, là giây phút thiêng liêng khó diễn đạt bằng lời, Người như lặng đi bên cột mốc 108 biên giới Việt – Trung, mặt hướng về Tổ quốc, ngắm nhìn núi rừng trùng điệp Cao Bằng – mảnh đất địa đầu của Tổ quốc, rồi Người cúi xuống cầm nắm đất Tổ quốc lên hôn mà đôi mắt rưng rưng, tiếng lòng như thẳm sâu lắng đọng, cảm nhận sự sống của “hình Đất nước” đang phôi thai trong lòng mình, hình ảnh của một đất nước Việt Nam mới tươi sáng:

Kìa, bóng Bác hôn lên hòn đất
Lắng nghe trong màu hồng, hình Đất nước phôi thai

Những vần thơ xúc động nhưng giản dị đã cho ta cảm nhận thấy phong cách gần gũi, vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt hành trình 30 năm tìm đường cứu Nước. Có thể nói “Người đi tìm hình của Nước” đã diễn đạt lòng yêu nước vô cùng sâu nặng của Bác Hồ, đồng thời để lại cho các thế hệ Việt Nam một trong những bài thơ hay nhất, thành công nhất viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đã 102 năm trôi qua kể từ ngày người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu Nước với một quyết tâm cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”nhưng ý nghĩa lịch sử sâu sắc của sự kiện ngày 5/6/1911 vẫn luôn sáng mãi trong tâm thức của hàng triệu trái tim Việt Nam và bạn bè quốc tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh với trái tim yêu Nước nồng nàn đã đánh đổi tuổi trẻ, thanh xuân của mình để giành lấy mùa Xuân cho dân tộc, Người đã mở rộng cánh cửa để cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận của cách mạng thế giới, để cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam là một bộ phận đấu tranh của nhân loại tiến bộ vì hòa bình và những giá trị nhân đạo./.

Huyền Trang
bqllang.gov.vn

Đóng góp của các chuyên gia y tế Nga đối với Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đã 44 năm trôi qua kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại qua đời, thi hài của Người luôn được giữ gìn, bảo vệ an toàn tuyệt đối. Thành công đó là nhờ sự quan tâm đặc biệt, sự lãnh đạo chỉ đạo sâu sát, thường xuyên, liên tục của Đảng, Nhà nước và Quân đội; sự phấn đấu, nỗ lực không ngừng của cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng. Và hơn thế là nhờ sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa, vô tư trong sáng của Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô (nay là Cộng hòa Liên bang Nga), trực tiếp là các chuyên gia y tế Nga.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là người đặt nền móng và không ngừng xây đắp mối quan hệ hữu nghị Việt – Xô, một mối tình “anh em ruột thịt trong đại gia đình cộng sản quốc tế”. Bác luôn coi Liên Xô là người bạn lớn và người bạn chiến đấu gần gũi nhất của nước Việt Nam, là chỗ dựa vững chắc của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do. Cho đến cuối đời, Người vẫn trước sau như một nhấn mạnh: Nhân dân Việt Nam không bao giờ quên rằng những thắng lợi của mình không thể tách rời sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô.

Đảng, Nhà nước, nhân dân Liên Xô cũng luôn dành cho Hồ Chủ tịch những tình cảm trân trọng nhất. Trong thư chia buồn sau ngày Bác mất, Đảng Cộng sản Liên Xô khẳng định: “Những người cộng sản Liên Xô, cũng như toàn thể nhân dân Liên Xô đánh giá cao sự cống hiến không biết mệt mỏi của đồng chí Chủ tịch Hồ Chí Minh cho sự phát triển tình hữu nghị anh em giữa Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Cộng sản Liên Xô, giữa nhân dân Liên Xô và nhân dân Việt Nam. Nhân dân Liên Xô sẽ đời đời gìn giữ kỷ niệm trong sáng về Người, như là một nhà Mácxít Lêninnít kiên định, một người bạn thủy chung của Đảng và đất nước Liên Xô”(1). Những tình cảm quý báu ấy là nền tảng cơ bản để Bạn nhiệt tình giúp đỡ ta thực hiện nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Bác.

Cuối tháng 5 năm 1967, sau Lễ mừng thọ nhân Ngày sinh lần thứ 77 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị đã có phiên họp bất thường bàn về việc bảo vệ sức khỏe của Bác. Tại phiên họp này, Bộ Chính trị quyết định sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần sẽ giữ gìn thi hài và xây dựng Lăng của Người để bày tỏ lòng kính yêu vô hạn với Người và quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta mãi mãi đi theo con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn.

Nội dung và yêu cầu chung của khoa học giữ gìn lâu dài thi hài là:

– Phải giữ được những nét đặc trưng của thi hài Bác như khi Người còn sống.

– Phải giữ thi hài được lâu dài.

– Phải bảo đảm được yêu cầu có thể để đông đảo người tới viếng thăm trong điều kiện môi trường bình thường.

Cho đến thời điểm này, khoa học giữ gìn thi hài với nội dung và yêu cầu như trên thì trên thế giới chỉ mới có Liên Xô làm được. Vì vậy, Đảng và Chính phủ ta đã đề nghị Liên Xô giúp đỡ từ công tác đào tạo cán bộ đến việc giữ gìn thi hài Bác và xây dựng Lăng của Người. Với lòng kính trọng sâu sắc, đánh giá cao vị trí, vai trò to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc, Đảng và Chính phủ Liên Xô hoàn toàn nhất trí giúp đỡ không điều kiện việc giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây dựng Lăng của Người. Liên Xô đồng ý nhận đào tạo và cử các chuyên gia y tế hàng đầu, giỏi nhất trực tiếp hướng dẫn, giảng dạy cho ba bác sĩ của Việt Nam sang học tập, nghiên cứu về khoa học giữ gìn thi hài.

Cuối tháng 8/1969, khi sức khỏe của Bác có dấu hiệu giảm sút nhanh chóng, một mặt chúng ta tích cực tìm mọi biện pháp để chữa bệnh cho Bác, mặt khác cũng khẩn trương làm công tác chuẩn bị đề phòng khi có việc lớn xảy ra. Nhận được điện thông báo của Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta, Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đã cử ngay Đoàn chuyên gia y tế sang Việt Nam.

Và cái ngày không ai mong đợi ấy đã đến. Lịch sử mãi mãi ghi nhớ sáng ngày 2/9/1969, ngày mà Chủ tịch Hồ Chí Minh – người con anh hùng và vĩ đại của dân tộc Việt Nam từ giã Đảng ta, nhân dân ta, quân đội ta và bầu bạn ta trên khắp thế giới. Thi hài Bác được nhanh chóng đưa về 75A an toàn. Sau gần 3 giờ liên tục, các chuyên gia Liên Xô và Việt Nam đã hoàn thành công việc giữ gìn bước đầu thi hài Bác phục vụ tang lễ.

Trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, đế quốc Mỹ leo thang ném bom tàn phá miền Bắc và thiên tai lũ lụt, thi hài Bác phải 6 lần di chuyển vượt đường xa, vượt sông suối, ở rừng núi, gặp muôn vàn khó khăn, nhưng bên Bác luôn có những chuyên gia y tế Liên Xô tâm huyết, đồng cam, cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi cùng cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ của ta chăm sóc giữ gìn tuyệt đối an toàn thi hài Người.

Kết quả sau 20 năm (1969-1989) giữ gìn thi hài Bác được Hội đồng Khoa học y tế giữa Việt Nam và Liên Xô kiểm tra vào tháng 9/1989 kết luận: “Trạng thái thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh rất tốt. Không thấy thay đổi nào so với những số liệu của biên bản Hội đồng kiểm tra năm 1975. Những nét đặc trưng của Người lúc sinh thời được giữ gìn nguyên vẹn. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được thường xuyên tiến hành kiểm tra chế độ nhiệt, ẩm, bảo đảm giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như thường xuyên kiểm tra trạng thái vệ sinh y tế quan tài kính và các phòng làm thuốc. Các số liệu mà Hội đồng nhận được chứng tỏ chế độ nhiệt, ẩm và trạng thái vệ sinh y tế phù hợp với yêu cầu quy định”(2).

Tháng 8/1991, Liên Xô tan rã, trong một thời gian ngắn có sự gián đoạn tưởng chừng như mất hẳn sự giúp đỡ từ phía Bạn. Ngày 28/12/1992, bản thỏa thuận làm việc trực tiếp giữa Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung tâm Nghiên cứu Y sinh Mát-xcơ-va được ký kết, quan hệ hợp tác giữa ta và Bạn đã có bước ngoặt quan trọng, bắt đầu bước sang một thời kỳ mới.

Trong vòng 30 năm (từ 1969-2009), tổng số chuyên gia y tế Liên Xô đã sang giúp Việt Nam có 82 người, trong đó có 13 Viện sĩ, 7 Giáo sư, 11 tiến sĩ khoa học, 20 tiến sĩ, số còn lại là bác sĩ chuyên ngành.(3) Người sang nhiều nhất là 24 lần.

Trong thời gian ở Việt Nam, dù hoàn cảnh, điều kiện công tác có nhiều khó khăn, song các chuyên gia y tế Liên Xô đã làm việc bằng tất cả tấm lòng kính trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tinh thần trách nhiệm cao nhất, luôn coi đây là nhiệm vụ quốc tế cao cả và thiêng liêng. Làm việc bằng sự vô tư, chí tình, chí nghĩa, không một chút đòi hỏi, sống giản dị, có phần đạm bạc. Một trong những minh chứng cho sự giúp đỡ vô tư, trong sáng của Liên Xô là không tính toán thiệt hơn trong vấn đề phụ cấp. Ngay từ những ngày đầu sang Việt Nam, ngoài việc chúng ta bố trí ăn và nhà nghỉ, thì mỗi tháng được hưởng phụ cấp 100 đồng (một trăm đồng), tương đương với lương của đồng chí Đại úy không có thâm niên. Và điểm đặc biệt là mức phụ cấp ấy do Liên Xô tự đề xuất, chứ không phải do thỏa thuận của hai bên. Kể cả đến năm 1994, khi chuyển sang cơ chế hợp tác trực tiếp, lúc đó phía Liên Xô rất khó khăn nhưng với tinh thần trọng tình nghĩa, các chuyên gia y tế đã đề nghị mức lương rất hữu nghị. Tấm lòng của các nhà khoa học Nga đối với Bác Hồ, với đất nước và con người Việt Nam khiến cho chúng ta rất cảm phục và biết ơn.

Khó khăn bộn bề khi sống và làm việc ở đất khách quê người đã không làm giảm được sự nhiệt huyết, tận tâm của các chuyên gia y tế. Các chuyên gia không những không phàn nàn gì mà trong ký ức của họ luôn lưu giữ những hình ảnh đẹp về đất nước và con người Việt Nam. Đồng chí I. A Khô-rô-sốp, một trong những người đã tham gia vào nhiệm vụ giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ những đầu tiên nhớ lại: “Chúng tôi luôn biết ơn các đồng chí Việt Nam đã quan tâm đến đời sống hàng ngày của chúng tôi trong suốt thời gian làm việc bên nhau. Các bạn Việt Nam rất hiểu là chúng tôi sống xa quê hương, gia đình, người thân khá lâu, trong điều kiện khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt đối với chúng tôi và trong điều kiện thời chiến, nên các bạn đã hết sức cố gắng, để cuộc sống hàng ngày của chúng tôi có được tiện nghi hơn. … Tất nhiên những người đã tạo điều kiện cho chúng tôi làm việc và chăm lo cuộc sống thường ngày còn rất nhiều, tôi không thể nào kể hết. Đó là những đồng chí lái xe, nấu ăn và nhiều người nữa mà mỗi lần nhắc tới đều với tình cảm ấm nồng… Chúng tôi đã có được mối quan hệ công tác gắn bó anh em với các đồng chí bác sĩ Việt Nam.” (4)

chuyen-gia-nga-bLễ ký văn bản hợp tác phối hợp pha chế dung dịch đặc biệt giữa Ban Quản lý Lăng và Trung tâm nghiên cứu y sinh Mát-xcơ-va (Mát-xcơ-va ngày 04/6/2003)

Trong hơn 20 năm hợp tác trực tiếp với Trung tâm nghiên cứu y sinh Mát-xcơ-va, hai bên đã đạt được nhiều kết quả tốt đẹp: Bảo đảm quá trình làm thuốc trong giữ gìn thi hài Bác Hồ; biên soạn quy trình làm thuốc lớn trong tu bổ định kỳ hằng năm; thường xuyên bảo đảm môi trường trong các phòng làm thuốc đạt tiêu chuẩn quy định. Từ năm 2003, Nga bàn giao công nghệ pha chế dung dịch đặc biệt và năm 2004, dung dịch đặc biệt được pha chế thành công tại Việt Nam giúp ta không còn gặp khó khăn trong quá trình vận chuyển. Phía Nga tiếp tục giúp ta trong việc thành lập các Tổ tư vấn chuyên môn sâu, cử chuyên gia sang trực tiếp giảng dạy tại Việt Nam và nhận chuyên gia Việt Nam sang Nga học tập khoa học công nghệ và kỹ thuật bảo quản thi hài.

Trong nghiên cứu khoa học, hai bên cùng tiến hành hàng chục đề tài khoa học, sáng kiến kỹ thuật phục vụ công tác giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh; nhiều đề tài đi sâu vào tối ưu hóa các điều kiện giữ gìn thi hài Bác Hồ. Phía Nga cũng đã bàn giao cho ta hơn 500 trang tài liệu khoa học được tiến hành trong quá trình tham gia giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hình ảnh tận tụy của GS, TS. Kô-zen-sép, người đã 14 lần sang Việt Nam; TS. Gô-lu-bép, 13 lần sang Việt Nam; GS, TS. Đốc-tơ-rốp, 10 lần sang Việt Nam; TS. Va-xi-lép-ski, 14 lần sang Việt Nam… đã để lại những tình cảm hết sức tốt đẹp trong lòng các đồng chí, đồng nghiệp Việt Nam.

Phát biểu tại Hội nghị tổng kết 20 năm hợp tác trực tiếp giữa Trung tâm Nghiên cứu Y sinh Mát-xcơ-va và Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh (1992-2012), GS, Viện sĩ Mát-vê-chúc I-go Va-si-li-ê-vích, Phó Giám đốc Trung tâm Công nghệ Y sinh Mát-xcơ-va khẳng định: “Điều tự hào nhất trong kết quả hợp tác giữa hai bên là sau 43 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần, người dân Việt Nam và du khách quốc tế vẫn được chiêm ngưỡng thi hài của Người trong trạng thái tốt nhất. Đó cũng là điều khiến chúng tôi hài lòng nhất.”

chuyen-gia-nga-cChuyên gia y tế Liên bang Nga cùng cán bộ, bác sĩ Việt Nam tiến hành pha chế dung dịch đặc biệt lần đầu tiên tại Việt Nam tháng 3/2004

Để hiểu rõ hơn vai trò, trách nhiệm và công lao của các chuyên gia y tế Nga, tôi xin giới thiệu một số gương tiêu biểu. Trước hết phải nhắc tới GS, Viện sĩ Iu.M. Lô-pu-khin, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Y khoa Mát-xcơ-va. Ông là một trong 5 chuyên gia sang Hà Nội vào ngày 28/8/1969 và có tất cả 6 lần sang Việt Nam. Để có được kết quả “những nét đặc trưng lúc sinh thời của Bác vẫn được giữ gìn nguyên vẹn” phải kể đến những đóng góp to lớn về trí tuệ với đôi bàn tay vàng của nhà phẫu thuật tạo hình nổi tiếng Lô-pu-khin. Chính ông đã trực tiếp chỉnh hình thi hài Bác tại khu căn cứ K9.

Năm 2009, khi nghe tin mình được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng Huân chương Hữu nghị, ông rất xúc động. Nói về việc gìn giữ thi hài Bác, Viện sĩ Lô-pu-khin khẳng định: “… thi hài Bác được giữ gìn rất tốt. Không một thi hài nào đã bảo quản trước đây, trong đó cả V.I. Lê-nin, G.M. Đi-mi-tơ-rốp… được giữ gìn trong trạng thái lý tưởng như vậy”.(5)Ông từng tâm sự rất chân tình: “Từ khi được biết Chủ tịch Hồ Chí Minh và trực tiếp chăm sóc thi hài của Người, tôi nhận thấy ở Người có điều gì đó rất đặc biệt. Năm 1969, từ Việt Nam về, tôi lập bàn thờ Bác trong nhà. Với tôi, Hồ Chí Minh là một tấm gương để tôi tôn thờ suốt đời”.

Người thứ hai là GS. I-u-ri A-lếch-xây-ê-vích Rô-ma-cốp, nguyên Phó Giám đốc Viện nghiên cứu khoa học Lăng Lê-nin, một chuyên gia hàng đầu của Liên Xô cũng như trên thế giới về lĩnh vực ướp bảo quản lâu dài thi thể phục vụ thăm viếng. Ông là chuyên gia y tế sang Việt Nam nhiều lần nhất (24 lần).

Ngày 18/12/1968, Iu.A. Rô-ma-cốp là nhà khoa học đầu tiên của Liên Xô đến Việt Nam để kiểm tra, đánh giá công tác chuẩn bị giữ gìn thi hài Bác Hồ. Trong thời gian này, ông đã tham gia Lễ kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam để trực tiếp quan sát dung nhan Bác Hồ. Nhờ vậy, sau này ông và Tổ chỉnh hình đã giúp ta giữ gìn nguyên vẹn những nét đặc trưng lúc sinh thời của Bác. Ông trực tiếp tham gia giữ gìn thi hài Bác với ý thức trách nhiệm cao và với kiến thức chuyên ngành uyên bác. Sau khi Liên Xô tan rã, ông đã cùng với lãnh đạo của Trung tâm và phía Việt Nam tích cực tìm ra phương thức hợp tác mới. Theo các chuyên gia Liên Xô, ông là người đã chủ động đề xuất việc tăng cường đào tạo cán bộ y tế Việt Nam về lĩnh vực ướp bảo quản thi thể và tiến hành các đề tài hợp tác nghiên cứu theo từng giai đoạn một cách rất bài bản. Thông qua những hình thức hợp tác đó để tiến tới những mục tiêu cơ bản và năm 2003 hai bên đã chính thức ký Biên bản bàn giao tỉ lệ hóa chất dung dịch và nhất trí pha chế dung dịch đặc biệt tại Việt Nam vào quý I năm 2004. Đây là một trong những thành tựu quan trọng có sự đóng góp to lớn của GS. Rô-ma-cốp.

Những người đã từng tiếp xúc, làm việc với GS. Rô-ma-cốp đều nhận thấy ở ông “một nhân cách lớn, một nhà khoa học trầm tính, ít nói, nhưng đã nói là làm, làm đến nơi đến chốn, không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà phải chứng minh bằng các thực nghiệm có số liệu cụ thể. Ông thường nhắc các đồng nghiệp Liên Xô cũng như các bác sĩ Việt Nam cần phải rất thận trọng, tỷ mỷ, các kết luận chỉ được phép dựa vào những số liệu, thực nghiệm chính xác.”(6)

Với những cống hiến cho sự nghiệp giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà nước Việt Nam đã tặng ông 2 Huân chương Lao động hạng Nhất và hạng Nhì.

Người thứ ba là GS, Viện sĩ Xéc-gây Xéc-gây-ê-vích Đê-bốp, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Lăng Lê-nin, một trong những chuyên gia y tế đầu tiên của Liên Xô giúp Việt Nam giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông đã 23 lần sang Việt Nam. Ngay từ năm 1967, dưới sự chỉ đạo của Viện sĩ Đê-bốp lúc này đang giữ chức Viện trưởng Viện Nghiên cứu Lăng Lê-nin, Đoàn cán bộ của ta sang học tập về khoa học giữ gìn thi hài đã được đón tiếp chu đáo, thân tình, được tạo mọi điều kiện tốt nhất để hoàn thành khóa học đặc biệt này. Đây là sự ưu ái đặc biệt của Đảng và Chính phủ Liên Xô, bởi Viện chưa từng đào tạo bất cứ người nước ngoài nào. Ngày 28/8/1969, Viện sĩ Đê-bốp làm Trưởng đoàn của Đoàn cán bộ y tế Liên Xô đến Việt Nam để chuẩn bị cho công tác đặc biệt sau khi Hồ Chủ tịch qua đời.

Thiếu tướng Trần Kinh Chi, nguyên Tư lệnh, kiêm Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng xúc động nhớ lại thời điểm sau khi Bác mất: “Các đồng chí trong Tổ y tế đặc biệt của Việt Nam đã từng là những nhà chuyên môn giỏi, đã học tập, thực hành công tác gìn giữ thi hài trong hai năm, có thể đảm đương nhiệm vụ. Nhưng xuất phát từ tinh thần trách nhiệm cao, với tấm lòng yêu kính Bác nên G.S Viện sĩ Iu.M. Lô-pu-khin, Viện sĩ X.X. Đê-bốp và G.S Mi-khai-lốp đã trực tiếp làm công tác y tế giữ gìn thi hài Bác cùng với sự phụ giúp của hai bác sĩ là Nguyễn Gia Quyền và Lê Điều – thành viên của Tổ y tế đặc biệt Việt Nam…Các chuyên gia y tế Liên Xô đã làm công việc đó với một tấm lòng yêu thương, trân trọng lãnh tụ, với tinh thần khoa học rất cao và một tài năng tuyệt vời”(7).

Nhớ lại khoảnh khắc lúc 3h sáng ngày mồng 6/9, Ban Tổ chức Lễ tang cùng với các chuyên gia tiến hành tổng kiểm tra các mặt chuẩn bị cho ngày viếng đầu tiên. Khi nâng chiếc nắp hòm kính lên, đặt máy đo kiểm nhiệt độ, độ ẩm, thấy kết quả hiện trên mặt máy báo hiệu mọi sự đều hết sức ổn định. Viện sĩ Đê-bốp không kìm được xúc động đã quay lại ôm chầm lấy đồng chí Trần Bá Đặng và đồng chí Nguyễn Gia Quyền, lặp đi lặp lại mãi một câu nói: “Khơ-ra-sô, khơ-ra-sô” (tốt, tốt), “Ô-trin Khơ-ra-sô (rất tốt) (8). Giữa không khí trang nghiêm ấy, bỗng một tiếng khóc nức nở, òa lên vang khắp Hội trường. Đó là tiếng khóc không thể kìm nén được của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Vừa khóc, Thủ tướng vừa bắt tay cảm ơn các đồng chí chuyên gia Liên Xô. Lời cảm ơn chân thành và những giọt nước mắt liên tiếp lăn trên má của đồng chí Phạm Văn Đồng khiến các đồng chí chuyên gia cũng không cầm được nước mắt.

Năm 1975, Viện sĩ Đê-bốp là một trong ba chuyên gia Liên Xô tiêu biểu nhất đã được Chính phủ ta tặng danh hiệu Anh hùng Lao động Việt Nam để tỏ lòng biết ơn Ðảng, Chính phủ và nhân dân Liên Xô đã góp sức giữ gìn thi hài Bác và xây dựng Công trình Lăng.

Ngày 28/12/1992, trên cương vị là Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Y sinh Mát-xcơ-va, GS, Viện sĩ X.X. Đê-bốp đã ký vào Bản thỏa thuận làm việc trực tiếp giữa Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung tâm Nghiên cứu Y sinh Mát-xcơ-va. Đây là một sự kiện quan trọng có tính chất bước ngoặt, đánh dấu sự mở đầu của một thời kỳ mới trong quan hệ hợp tác giữa ta và Nga.

Trên đây chỉ là ba trong số rất nhiều chuyên gia y tế Liên Xô đã kề vai sát cánh, không quản ngại gian khổ giúp Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác. Tất thảy họ đều là những người đồng nghiệp, đồng chí, những người bạn, người anh em thân tình đặc biệt của chúng ta. Trong số các chuyên gia y tế Liên xô, nay người còn, người đã mất, nhiều người đã tuổi cao, sức khỏe giảm sút, nhưng tiếp nối truyền thống, các bạn Nga vẫn đang sát cánh cùng chúng ta trong nhiệm vụ bảo vệ và giữ gìn thi hài Bác. Nhằm động viên các nhà khoa học, cũng là thể hiện sự biết ơn, tình nghĩa thủy chung gắn bó của Việt Nam với nhân dân và đất nước Nga, ngày 22/4/2009, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký quyết định tặng thưởng huân, huy chương các loại cho 34 chuyên gia Liên bang Nga đã có công lao trong việc giữ gìn lâu dài và tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sự giúp đỡ của nước Bạn là vô giá, trường tồn mãi với thời gian, được các thế hệ Việt Nam đời đời ghi nhớ, trân trọng. Và tấm chân tình của chúng ta cũng đã được các Bạn Nga ghi nhận. Viện sĩ I.M. Lô-pu-khin từng khẳng định: “Khi đề cập đến đất nước chúng ta (Liên bang Nga), đến sự giúp đỡ của các nhà bác học, các kỹ sư, các chuyên gia quân sự… trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, người Việt Nam luôn nhớ đến câu nói mà Chủ tịch Hồ Chí Minh thường hay nhắc nhở: “Uống nước nhớ nguồn”.(9)

Qua hơn 40 giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, hơn 20 năm chính thức thiết lập quan hệ trực tiếp, Ban Quản lý Lăng và Trung tâm nghiên cứu Y sinh Mát-xcơ-va mà trực tiếp là các chuyên gia làm việc tại Việt Nam đã không ngừng củng cố tinh thần hữu nghị, đoàn kết hợp tác, cùng thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng: Giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhân dân Việt Nam luôn trân trọng, biết ơn sự giúp đỡ quý báu của Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô trước đây và Liên bang Nga sau này, đặc biệt là những đóng góp của các chuyên gia y tế. Với lòng tôn kính Chủ tịch Hồ Chí Minh và bằng tài năng của những chuyên gia y tế hàng đầu, tầm cỡ quốc tế đã giúp đỡ chúng ta chí tình, chí nghĩa phục vụ nhiệm vụ giữ thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, góp phần phát huy ý nghĩa chính trị, lịch sử, văn hoá của Công trình Lăng – nơi hội tụ niềm tin, tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam cũng như tình hữu nghị đặc biệt hai nước Việt Nam – Liên bang Nga./.

Thu Hiền
bqllang.gov.vn

(1). E. Cô-bê-lép, Đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1985, tr.379.
(5, 7, 9). Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bên Lăng Bác Hồ, tập 1, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2007, tr.34, 28, 35.
(2, 8). Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Lịch sử bộ đội bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (1975-2003), Nxb. Quân đội nhân dân, 2003, tr.176, 41.
(3, 4, 6). Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bên Lăng Bác Hồ, tập 2, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2009, tr.49, 32, 61.

Học phong cách ngoại giao con người của Bác

“Chủ tịch Hồ Chí Minh là người dạy ngành ngoại giao Việt Nam ngay từ đầu. Theo đúng nghĩa đen. Thí dụ có lần Bác đến nói chuyện với ngành ngoại giao, từ chuyện ăn, Bác dạy phải ăn như thế nào. Bác dạy rất đơn giản thôi. Các chú tốt nhất là ăn sau, chứ đừng ăn trước, để xem người ta ăn như thế nào, để mình theo, các chú đừng ‘xông lên’ ăn trước”.

phong-cach-ngoai-giao-a
Ông Vũ Khoan (thứ 2 bên phải) trong một lần làm phiên dịch cho
Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trên đây những lời tâm sự của ông Vũ Khoan, một nhà ngoại giao kỳ cựu khi ông nói về người thầy vĩ đại của ngành ngoại giao Việt Nam, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam – Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Là người công tác trong ngành ngoại giao hơn bốn mươi năm, đã từng tham gia rất nhiều sự kiện ngoại giao lớn của đất nước, đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng của ngành ngoại giao, được trực tiếp dịch cho Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần, ông Vũ Khoan đã thấm nhuần và suốt đời học tập phong cách ngoại giao của Bác.

phong-cach-ngoai-giao-b
Bác Hồ và các cháu thiếu nhi An-ba-ni, năm 1957

Tâm sự với nhóm phóng viên Báo Quân đội nhân dân trong một chiều giữa tháng Năm, khi chỉ còn vài ngày nữa là tới Ngày sinh nhật Bác, ông nói: Chuyện ăn, chuyện học ngoại ngữ, chuyện lễ tân…trong ngoại giao, chỉ là những chuyện nhỏ. Còn những chuyện lớn Bác dạy thì vĩ đại lắm. Cái mà chúng tôi học được ở Bác chính là phong cách ngoại giao con người.

“Ngoại giao của Việt Nam có nghi lễ, lễ tân khác với các nước khác, rất dân dã, bình dị.Còn một số nước khá cứng nhắc, nghiêm chỉnh quá. “Dân dã” của mình là ở đâu ra. Chính từ phong cách ngoại giao giản dị mà uyên thâm của Bác. Ứng xử ngoại giao theo cách Bác dạy là ứng xử ngoại giao con người”.

Ông Khoan cho biết, nhiều vị khách quốc tế, sau khi gặp Người bao giờ cũng giữ lại ấn tượng sâu sắc bởi vốn hiểu biết uyên bác, tài trí thông minh, sự giản dị, lạc quan cùng sự tự tin kết hợp với phong cách lịch thiệp, nho nhã.

phong-cach-ngoai-giao-c
Bác Hồ thân mật trò chuyện cùng các cháu thiếu nhi Tiệp Khắc và Việt Nam

Nói tới ngoại giao con người trong phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh, ông Vũ Khoan kể: Ngày xưa, tôi đi phục vụ các đoàn ở Liên Xô, Đông Âu. Thường bạn qua một số nước rồi mới sang mình, tất cả các đoàn đều nói rằng: Sang Việt Nam rất sướng. Tôi hỏi: Tại sao các đồng chí lại thoải mái như thế? Họ trả lời: Là vì các đồng chí ứng xử với chúng tôi là con người chứ không phải chính khách. Chứ sang một số nước, họ đối với chúng tôi như chính khách, thành ra không thoải mái, rất gò bó. Về sau thành cán bộ lãnh đạo, tôi đi tôi mới cảm nhận thấy được. Khi tôi tới một số nước, hai bàn tay của tôi không dùng vào việc gì cả, mở cửa cũng có người mở sẵn. Ra khỏi khách sạn, vào ô tô…đều có người mở sẵn. Luôn luôn có người đi kèm. Ở Việt Nam thì khác. Các nhà ngoại giao luôn thoải mái. Ví dụ sinh động nhất là việc Thủ tướng Australia khi sang dự hội nghị APEC tại Việt Nam, có thể chạy bộ quanh Hồ Gươm vào sáng sớm.

“Học tác phong của Bác, khi tôi là cán bộ của Bộ Ngoại giao, tôi luôn chỉ đạo, tất cả các hoạt động ngoại giao phải bảo đảm tính con người. Đừng gò bó. Người ta muốn chạy bộ để cho người ta chạy”, ông Vũ Khoan chia sẻ.

phong-cach-ngoai-giao-d
Bác Hồ với các cháu thiếu nhi Tát-gi-ki-xtan, ngày 27-7-1959

Kể lại một kỷ niệm khác, ông Vũ Khoan cho biết: Khi còn công tác, tôi được chứng kiến, để đảm bảo an ninh cho một Hội nghị, có nước đã đưa dân của cả một khu phố lớn đi “sơ tán” hết. Chính phủ cho tiền để dân đi nghỉ cả tuần. Cả một khu phố lớn, trên quãng đường chúng tôi đi từ khách sạn tới khu Hội nghị không có bóng người dân. Chỉ có các quan chức, lễ tân và nhân viên an ninh.

Rút kinh nghiệm chuyện này, khi Việt Nam chuẩn bị tổ chức Hội nghị APEC, Ban tổ chức Hội nghị cũng bàn chuyện có hay không để dân nghỉ. Tôi đưa ra ý kiến, ta không nên cho dân nghỉ. Vì ở ta có hai nhân tố. Một là Hội nghị này không phải tổ chức trên dân. Đây là Hội nghị của cả nước, các đại biểu cũng cảm thấy thân thiện hơn với điều kiện thực tế của Việt Nam.

“Có điều đặc biệt ở dân mình, tâm lý bình thường có khi chen lấn nhau, nhưng khi có khách quốc tế thì rất trật tự và nhường nhịn. Đây là điều rất hay”, ông Khoan nói.

Tiếp tục câu chuyện ngoại giao con người theo phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh, ông Vũ Khoan cho biết thêm: Sự giản dị của Bác, ai cũng có thể thấy rõ. Mỗi khi có khách quốc tế, các Nguyên thủ quốc gia tới thăm Việt Nam, Bác thường đưa ra nhà sàn, coi như những người bạn thân thiết. Nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới đã được Bác tiếp ở Nhà sàn.

phong-cach-ngoai-giao-e
Các cháu thiếu nhi Pháp tặng hoa Bác. Ảnh TL

Khi Bác ra nước ngoài, quà của Bác thường là hoa quả trong vườn ở Phủ Chủ tịch. Không có nước nào làm như thế. Ở trong nước, khi các Đoàn ngoại giao và khách quốc tế tại Hà Nội đến Phủ Chủ tịch chúc Tết Bác, thường cuối bữa tiệc, Bác chia quà cho mọi người, theo đúng phong tục Việt Nam, gửi quà cho người ở nhà. Mọi người hết sức xúc động và cảm phục sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Còn rất nhiều mẩu chuyện về phong cách ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng một điều có thể khẳng định: Ngoại giao Hồ Chí Minh, ngoại giao con người chính là sự kết hợp có chọn lọc giữa chủ nghĩa yêu nước, văn hóa dân tộc và truyền thống ngoại giao Việt Nam, mang lại bản sắc riêng cho nền ngoại giao Việt Nam.

“Những chuyện về ngoại giao con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì nhiều. Ngoại giao con người theo phong cách Hồ Chí Minh là vậy đó. Tư tưởng đó, phong cách đó thấm nhuần vào các thế hệ ngoại giao Việt Nam. Tổ chức đón tiếp khách quốc tế phải luôn để bạn thoải mái, không bị gò bó. Làm cho người ta thoải mái thì vẫn tốt hơn”, ông Vũ Khoan chia sẻ.

phong-cach-ngoai-giao-f
Chủ tịch Hồ Chí Minh với bạn bè quốc tế. Ảnh TL

Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói: Sự ứng xử linh hoạt của Hồ Chí Minh trong giao tiếp ngoại giao đã trở thành những câu chuyện huyền thoại.

Ngoại giao con người theo phong cách Hồ Chí Minh chính là hiểu người khác, chia sẻ với người khác để họ hiểu mình. Văn hóa Việt Nam hiện hữu trong nền ngoại giao Việt Nam đó là tính hòa hiếu và nhân nghĩa, là bản chất hòa bình và khoan dung, là sự ứng xử tinh tế, linh hoạt và mềm dẻo nhưng kiên định theo nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, tất cả vì lợi ích của dân tộc.

Nguyễn Hòa
Theo Báo Quân đội nhân dân

Thanh Huyền (st)

Diễn viên đóng Tôn Ngộ Không luôn lưu giữ di ảnh Bác Hồ

Lục Tiểu Linh Đồng vẫn giữ những hình ảnh của Bác Hồ như một “bảo bối”.

Nghệ sỹ nổi tiếng với vai Tôn Ngộ Không – Lục Tiểu Linh Đồng cho biết ông luôn lưu giữ những hình ảnh của vị lãnh tụ Việt Nam – Hồ Chí Minh. Những hình ảnh của Bác Hồ khi còn sinh thời được ông đóng khung và ghi chú cẩn thận. Có những tấm ảnh chỉ được cắt từ báo chí, bị ố màu nhưng ông vẫn luôn trân trọng.

Nói về Bác Hồ, Lục Tiểu Linh Đồng nói: “Đó là vị lãnh tụ đáng tôn vinh. Sau trăm năm hậu chiến, thời gian thay đổi và cuộc sống con người thay đổi, nhưng người sáng lập, vị lãnh tụ của Việt Nam – Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn sống mãi trong lòng dân chúng. Tôi từng có bài viết trên trang cá nhân với tên Mãi mãi Bác Hồ. Tôi luôn cảm phục và thần tượng con người vĩ đại đó”.

dien-vien-dong-ton-ngo-khong-luon-luu-giu-di-anh-bac-ho a1
Lục Tiểu Linh Đồng từng sang Việt Nam và đến thăm Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

dien-vien-dong-ton-ngo-khong-luon-luu-giu-di-anh-bac-ho a3
Bài viết trên trang cá nhân của Lục Tiểu Linh Đồng
vào năm 2011 có tên Mãi mãi Bác Hồ

dien-vien-dong-ton-ngo-khong-luon-luu-giu-di-anh-bac-ho a4

Những hình ảnh của Bác Hồ được Lục Tiểu Linh Đồng lưu giữ

Theo tintuc.trongngay.net
Kim Yến (st)

Hình ảnh Bác Hồ trong tim nhà quay phim dân tộc Thái

Hình ảnh Bác Hồ mãi khắc ghi trong tim của nhà quay phim Điêu Chính Dụng.

Ông Dụng sinh ra trong một gia đình dân tộc Thái có truyền thống cách mạng ở huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La. Hai người anh của ông đều là liệt sỹ, hy sinh thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.

Năm 1953, ông tham gia cách mạng, công tác tại Ty Tuyên truyền tỉnh Lai Châu, phục vụ trong Chiến dịch Ðiện Biên Phủ, sau đó được chuyển về công tác tại Sở Văn hóa khu Tây Băc.

Năm 1961, người thanh niên dân tộc Thái (27 tuổi) Điêu Chính Dụng được  cấp trên cử đi học quay phim tại Xưởng phim Thời sự tài liệu trung ương. Ông Dụng được đào tạo vừa học, vừa làm trực tiếp tại Xưởng phim.

hinh anh Bac Ho trong tim nha quay phim dan toc Thai
Bác Hồ tham gia Tết trồng cây tại Bất Bạt (Sơn Đà, Ba Vì, Hà Tây) năm 1969

Năm 1964 học xong, ông được kết nạp Ðảng và giữ lại Xưởng phim làm việc. Từ đó ông thường xuyên được phân công quay phim tư liệu về các hoạt động tại Phủ Chủ tịch và Bác Hồ.

Những hình ảnh, thước phim ông quay đã góp phần vào kho tư liệu quý giá về Đảng, Nhà nước và Bác Hồ. Bao nhiêu kỷ niệm của những năm tháng được phục vụ Bác Hồ vẫn còn in đậm trong trái tim ông.

Năm 1968, giữa lúc cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước đang diễn ra ác liệt, Đoàn đại biểu Thanh niên dũng sĩ miền Nam ra miền Bắc được vào thăm Bác.

Ông Điêu Chính Dụng cùng ông Ma Cường phóng viên người dân tộc Tày được cử quay tư liệu. Đây là một trong những kỷ niệm sâu sắc nhất trong đời quay phim của ông.

Ông Dụng bồi hồi nhớ lại: Ngày 1/12/1968, Đoàn đại biểu Thanh niên dũng sĩ miền Nam ra báo cáo thành tích với Bác và các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Bác ôm hôn các cháu, tôi thì đứng đấy quay lấy những hình ảnh thật là xúc động.

Khi đang quay, Bác quay sang tôi hỏi: Chú ở Xưởng phim nào?

Tôi trả lời: Dạ cháu ở Xưởng phim Tài liệu ạ.

Bác lại bảo: Bác có mấy ý thế này nhé: Thứ nhất, nghệ thuật quay phim, chụp ảnh của các cháu không đơn thuần là để giải trí mà còn làm công tác tuyên truyền giáo dục cho nhân dân ở trong nước. Thứ hai, đất nước ta đang chiến tranh, phải ghi lấy những hình ảnh tội ác của đế quốc Mỹ để tố cáo trước nhân dân thế giới…

Tết Kỷ Dậu năm 1969, sau khi quay cảnh đón giao thừa tại Phủ Chủ tịch, sáng mùng 1 Tết, ông Dụng được lệnh quay phim tư liệu Bác trồng cây tại xã Bất Bạt, tỉnh Hà Tây.

Hôm đó Bác đã ân cần hỏi thăm mọi người, hỏi thăm sức khỏe và công việc của các phóng viên. Chính khoảnh khắc ấy, ông và đồng nghiệp thấy gần gũi bên Bác như cha với con, thân mật ấm áp vô cùng.

Tình cảm và lời căn dặn của Bác luôn dẫn đường cho ông, trở thành tâm niệm nghề nghiệp và cuộc sống của ông trong bước đường công tác sau này. Với lòng nhiệt tình, khát khao cống hiến, trong những năm 70 của thế kỷ XX, ông được cấp trên cử sang Lào làm chuyên gia hướng dẫn quay phim.

Dù trong hoàn cảnh khó khăn đến mấy, nhớ lời Bác dạy, ông luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ của người chiến sỹ quay phim cách mạng. Với những thành tích đạt được trong công tác, năm 1970 ông và một đồng nghiệp được Xưởng phim cử làm đại diện Đoàn Việt Nam tham dự Liên hoan phim thế giới lần thứ 13 tại Berlin (Đức).

Giờ đây đã gần 80 tuổi, nhưng khát vọng cống hiến và tình yêu lao động nghệ thuật trong ông vẫn còn cháy bỏng.

45 năm đã trôi qua nhưng hình ảnh Bác Hồ kính yêu giản dị, hiền hậu với nụ cười trìu mến, luôn quan tâm thăm hỏi mọi người vẫn còn mãi khắc sâu trong trái tim ông. Chính từ tấm gương đạo đức của Bác đã giúp ông từ một thanh niên dân tộc Thái trở thành người cán bộ tốt và quyết tâm theo Đảng đến cùng.

Phát huy truyền thống cha ông, các con của ông nay đều đã trưởng thành và có gia đình riêng. Người làm công tác tài chính, người làm công an, làm công tác văn hóa, cán bộ di dân tái định cư huyện, với ông như thế là đã mãn nguyện.

Trở về với cuộc sống thường nhật, trong ngôi nhà sàn tái định cư thủy điện Sơn La khang trang đầy ắp những kỷ niệm về Bác và cuộc đời quay phim của mình, ông càng tự hào hơn và sẽ vẫn luôn học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh để có cuộc sống mẫu mực, cho con cái noi theo./.

Theo http://vov.vn
Huyền Trang (st)

Tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt

Trung Tướng Nguyễn Văn Thanh (Chính Ủy Quân Chủng Phòng Không – Không Quân)
Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam ra đời từ các phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân, được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức xây dựng, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, nhằm bảo vệ lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, vì độc lập dân tộc và CNXH bằng bạo lực vũ trang.

Thời gian qua, lợi dụng quá trình đóng góp ý kiến vào bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, nhiều cá nhân, tổ chức, đối tượng thù địch trong và ngoài nước đã đưa ra những ý kiến, quan điểm sai trái, thậm chí đi ngược lại với lợi ích của quốc gia, dân tộc như: Góp ý đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi bỏ Điều 4 của bản Dự thảo Hiến pháp 1992, đòi Việt Nam thực hiện chế độ đa nguyên, đa đảng; đòi tam quyền phân lập; đòi tư hữu hóa đất đai, các nguồn tài nguyên thiên nhiên; họ đòi “phi chính trị hóa” các lực lượng vũ trang nhân dân,… trong đó luận điệu “phi chính trị hóa” quân đội được chúng xác định là một nội dung trọng tâm để chống phá Đảng Cộng sản và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Những người ủng hộ quan điểm này còn cho rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ có kinh nghiệm lãnh đạo đất nước trong chiến tranh, không có kinh nghiệm và năng lực lãnh đạo xây dựng, phát triển đất nước trong thời bình; họ cho rằng: Đảng đã “hoàn thành sứ mệnh cao cả”, nay nên trao lại quyền lãnh đạo đất nước cho “lực lượng dân chủ cấp tiến”.

Thực hiện nội dung cơ bản này, các thế lực thù địch dùng nhiều ngón đòn và các chiêu bài khác nhau, với nhiều giọng điệu khác nhau, khi thì đứng hẳn về phía đối lập ra sức và trực diện chống phá, khi thì như là “người trong cuộc” thể hiện “thiện chí khách quan” tham gia góp ý vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp, họ cố gắng lôi kéo, tìm kiếm, “khuyên nhủ” mọi người nên thế này, thế khác.

Sự thật, từ những năm 90 của thế kỷ XX, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động luôn thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, đây là một thủ đoạn trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, nhằm tước bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, làm cho quân đội “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mất phương hướng, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, xa rời bản chất giai cấp công nhân, dẫn đến suy yếu về chính trị, tiến tới làm cho quân đội bị vô hiệu hóa.

Mục tiêu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch không có gì khác là muốn làm cho quân đội ta dần dần biến chất, từ quân đội của nhân dân, mang bản chất của giai cấp công nhân, trở thành một đội quân phản bội lại lợi ích của Đảng, của nhân dân, bảo vệ cho lợi ích của các tầng lớp, giai cấp tư sản.

Để thực hiện mục tiêu “phi chính trị hóa” quân đội, chúng tập trung phủ nhận học thuyết Mác-Lênin về giai cấp và đấu tranh giai cấp, xuyên tạc tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng về quân sự, quốc phòng, an ninh, về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Chúng rêu rao: “Quân đội phải là một lực lượng trung lập”; “Quân đội phải đứng ngoài chính trị”. Tuy nhiên, thực tiễn khẳng định: Không có một quân đội nào “đứng ngoài chính trị”, là “trung lập”.

Cả lý luận và thực tiễn cho chúng ta thấy những bài học rất sâu sắc về vấn đề này. Đối với nước ta hiện nay, các thế lực thù địch tiếp tục vận dụng “bài học kinh nghiệm” đó. Phải chăng là thủ đoạn thực hiện tinh vi hơn, hình thức đa dạng và khó lường hơn, tính chất nguy hiểm hơn, với ảo tưởng sẽ có được một kết quả tương tự. Âm mưu thật thâm độc! Chỉ có điều Việt Nam hoàn toàn khác, mà họ đang cố tìm cách xâm nhập.

Mặc dù vậy, họ không dễ dàng từ bỏ âm mưu; trái lại, bằng mọi thủ đoạn, họ đã và đang thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta, “phi chính trị hóa” quân đội. Nhưng họ có đạt được mục tiêu đó không, nhân tố quyết định không thuộc về những kẻ phản bội đất nước mà do ta.

Quân đội ta là quân đội cách mạng, quân đội của dân, do dân và vì nhân dân, gắn bó “máu thịt” với Đảng, với nhân dân. Mối quan hệ đó được tôi luyện bằng máu và nước mắt qua mấy chục năm chống kẻ thù xâm lược trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc.

Vì thế, bất cứ thế lực nào, dù mạnh và hiểm độc đến đâu cũng không thể chia rẽ được quân đội với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đó là điều tất yếu, đã, đang và sẽ tiếp tục được khẳng định.

Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam ra đời từ các phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân, được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức xây dựng, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, nhằm bảo vệ lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, vì độc lập dân tộc và CNXH bằng bạo lực vũ trang.

Quân đội ta không có mục tiêu chiến đấu nào khác là độc lập dân tộc và CNXH để đem lại tự do, bình đẳng và hạnh phúc cho nhân dân lao động. Đó cũng là mục tiêu chính trị cao cả của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Quân đội ta không chỉ mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân mà còn mang đầy đủ tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Bản chất của QĐND Việt Nam thể hiện rõ nét ở sự thống nhất về tính đảng, tính giai cấp, tính nhân dân và tính dân tộc, được biểu hiện sinh động ở lý tưởng chiến đấu, cơ sở chính trị-xã hội, cơ chế lãnh đạo, chỉ huy và chức năng, nhiệm vụ của quân đội.

Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong quân đội. Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch.

Thực hiện vấn đề này, trước hết phải luôn giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với QĐND Việt Nam; tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 51 của Bộ Chính trị (khóa IX) về hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy, gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong QĐND Việt Nam.

Đồng thời, quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 BCH Trung ương (khóa XI) về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; không ngừng chăm lo xây dựng các tổ chức đảng các cấp trong quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực, suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; những biểu hiện lệch lạc về chính trị trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; tiếp tục quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện tốt cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Qua đó, xây dựng tổ chức đảng các cấp trong quân đội thật sự trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, lãnh đạo đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống.

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội thời kỳ hội nhập quốc tế, trước hết cần tập trung cụ thể hóa và tổ chức thực hiện nghiêm túc cơ chế, hệ thống chế định và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang nói chung, của QĐND Việt Nam nói riêng. Cần nhận thức sâu sắc hơn về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của quân đội trong thời kỳ mới; kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, đòi đa nguyên, đa đảng, coi việc xây dựng quân đội chỉ để dùng trong chiến tranh và lo đối phó với chiến tranh.

Tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN đòi hỏi phải sử dụng hợp lý và phát huy tối ưu vai trò của quân đội trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, trong xử trí các tình huống; ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cán bộ, đảng viên. Thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị của quân đội, sẵn sàng đối phó thắng lợi với mọi tình huống phức tạp có thể xảy ra, bảo đảm cho đất nước luôn chủ động về chiến lược.

Thực hiện điều này cần có những quy định thật rõ ràng, cụ thể về trách nhiệm và thẩm quyền của BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Quân ủy Trung ương, của Tổng Bí thư đồng thời là Bí thư Quân ủy Trung ương, của Chủ tịch nước đồng thời là Thống lĩnh các lực lượng vũ trang đối với các vấn đề tổ chức và hoạt động của các lực lượng vũ trang nhân dân.

Đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội, tiếp tục tăng cường và giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội là vấn đề chiến lược có tính kế thừa những bài học kinh nghiệm trong đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Trong quá trình lãnh đạo, Đảng cần tích cực tổng kết thực tiễn kết hợp với nghiên cứu lý luận để nhận thức ngày càng sâu sắc hơn vai trò lãnh đạo của Đảng, không ngừng bổ sung, hoàn thiện và nâng cao hiệu lực cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, xã hội nói chung và QĐND Việt Nam nói riêng trong thời kỳ mới

N.V.T.
cand.com.vn

Điều đầu tiên trong 6 điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân là xuất phát điểm, phạm trù gốc

PGS.TS Trần Minh Trưởng – Viện Trưởng Viện Hồ Chí Minh, Học Viện CT – HCQG Hồ Chí Minh
Trong 6 điều Bác Hồ dạy CAND, không phải ngẫu nhiên, điều đầu tiên Bác Hồ căn dặn các chiến sĩ Công an: “Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính”, đó là yêu cầu đối với chính mình, là xuất phát điểm, là phạm trù gốc, là cơ sở để thực hiện tốt các nhiệm vụ khác.

Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ vĩ đại của Đảng ta và của dân tộc ta, người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang. Sinh thời Người nói: “Công an và Quân đội là hai cánh tay của nhân dân, của Đảng, của Chính phủ, của vô sản chuyên chính”. Chính vì vậy, ngay từ khi nước nhà mới giành được chính quyền, Người đã quan tâm đến việc thành lập, giáo dục, rèn luyện và luôn dõi theo từng bước trưởng thành của lực lượng Công an cách mạng.

Lựa chọn những cán bộ trung thành với sự nghiệp của Đảng, có năng lực và nhiệt huyết cách mạng nhất để đào tạo thành lực lượng Công an tinh nhuệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở mỗi cán bộ, chiến sĩ (CBCS) Công an phải ý thức đầy đủ vị trí và trách nhiệm của mình trước nhân dân, trước Đảng và Chính phủ. Người chỉ rõ: “Đối với nhân dân, đối với Đảng, với cách mạng XHCN, trách nhiệm của Công an rất lớn, rất nặng nề”, và: “Nhiệm vụ công an thì nhiều, nhưng nói tóm tắt là bảo vệ sự nghiệp XHCN”.

Để hoàn thành được nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh đến việc rèn luyện đạo đức của người CAND. Theo Người, tư cách đạo đức là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho lực lượng CAND hoàn thành nhiệm vụ trước Đảng, đáp ứng được lòng tin cậy của nhân dân.

Vì lẽ đó, trong mọi hoàn cảnh, lúc đến thăm các đơn vị Công an cũng như khi viết thư, gửi điện thăm hỏi CBCS Công an, Bác Hồ luôn động viên, nhắc nhở cán bộ Công an phải thường xuyên rèn luyện tư cách, phẩm chất của người Công an cách mạng. Trong đó, tiêu biểu nhất là bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng chí Hoàng Mai – Giám đốc Sở Công an Khu XII, ngày 11/3/1948, nêu rõ 6 lời dạy của Người.

Lời dạy của Người đã trở thành cẩm nang chỉ dẫn cho tất cả CBCS lực lượng CAND đi đến mọi thắng lợi trong suốt chặng đường cách mạng đã qua và sẽ còn soi sáng, chỉ đường cho lực lượng Công an trưởng thành, phát triển trong giai đoạn cách mạng mới.

Bác Hồ đến thăm cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân Hà Nội nhân dịp Tết Quý Mão (1963). (Ảnh: Tư liệu).

Trong 6 điều Bác Hồ dạy CAND, không phải ngẫu nhiên, điều đầu tiên Bác Hồ căn dặn các chiến sĩ Công an: “Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính”, đó là yêu cầu đối với chính mình, là xuất phát điểm, là phạm trù gốc, là cơ sở để thực hiện tốt các nhiệm vụ khác.

Người cán bộ Công an khi đã hội tụ đủ phẩm chất: Cần, kiệm, liêm, chính, sẽ luôn nêu cao đức tính tôn trọng, giữ gìn tài sản và của cải của nhân dân. Đặc biệt là: “Không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung sướng, không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá. Chỉ có một thứ ham là: ham học, ham làm, ham tiến bộ”.

Người cán bộ Công an khi thật sự thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ: Cần, kiệm, liêm, chính sẽ đặt việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà. Đã phụ trách việc gì thì quyết làm cho được, cho đến nơi, đến chốn, không sợ khó khăn, nguy hiểm, việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh: “Vì nước quên thân, vì dân phục vụ”.

Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: “Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính. Mình không chính mà muốn người khác chính là vô lý”. Do đó Người luôn đề cao phương pháp giáo dục bằng việc nêu gương, Người nói, đối với các dân tộc phương Đông giàu tình cảm, một tấm gương tốt còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền.

Để trở thành tấm gương, đối với lực lượng Công an, công cụ sắc bén của Đảng và Nhà nước, lực lượng trọng yếu trong việc thực thi nhiệm vụ bảo vệ chính quyền và sự bình yên của nhân dân, do đó mỗi CBCS Công an trước hết phải có cái tâm trong sáng, đó chính là đạo đức cách mạng. Đối với cá nhân mỗi chiến sĩ Công an, phải biết được bản thân mình, chỗ mạnh chỗ yếu của mình để không ngừng học tập, rèn luyện: “Phải luôn luôn thi đua nhau trong công tác từ trên xuống dưới, mọi người phải cố gắng nghiên cứu, học tập. Ta chớ giấu dốt, chớ xấu hổ học hỏi lẫn nhau, học hỏi người ngoài”. Kiên trì học tập, thường xuyên học tập, học mọi lúc, mọi nơi, nắm vững chuyên môn, nghiệp vụ, chính là gốc của việc nâng cao trí tuệ, là cơ sở để có thể chiến thắng kẻ thù, dù chúng có âm mưu xảo quyệt đến đâu.

Mỗi cán bộ Công an phải biết tự rèn luyện mình, nhằm nâng cao phẩm chất đạo đức của người cán bộ cách mạng, kiên quyết quét sạch tư tưởng cá nhân chủ nghĩa. Kiên quyết đấu tranh gạt bỏ những tính toán vụ lợi, tư tưởng chia rẽ, bè phái, ích kỉ, nhỏ nhen ra khỏi đời sống sinh hoạt hằng ngày.

Lực lượng Công an phải nâng cao tinh thần kỷ luật, nghiêm túc đấu tranh bằng biện pháp phê bình và tự phê bình một cách thẳng thắn, xây dựng và trách nhiệm; coi tự phê bình và phê bình là phương thuốc hữu hiệu nhất để trị căn bệnh nguy hiểm nhất mà sinh thời Hồ Chí Minh gọi là “giặc nội xâm” tức là chủ nghĩa cá nhân, kẻ thù giấu mặt có ở trong tất cả chúng ta. Đồng thời thường xuyên lắng nghe, tiếp thu ý kiến của nhân dân, thực hành dân chủ ở mọi lúc, mọi nơi.

Tóm lại, điều đầu tiên Hồ Chí Minh dạy lực lượng Công an cách mạng là phải nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, kiên quyết loại trừ thứ “giặc nội xâm” có ở trong mỗi con người, tích cực học hỏi để trở thành người cán bộ vừa có đức, vừa có tài.

Bởi vì như Người nói: “Muôn việc thành? công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý nhất định”. Cho nên: Cần, kiệm, liêm, chính là những tiêu chí, phẩm chất đạo đức đầu tiên và quan trọng nhất mà mỗi người cán bộ Công an phải có, làm được điều đầu tiên này, làm cơ sở để thực hiện tốt 5 điều sau đó.

Tất nhiên, khi dạy lực lượng CAND điều đầu tiên: “Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính”, tức là “ít lòng ham muốn vật chất”, không phải Bác Hồ không biết đến những cám dỗ vật chất đời thường và những tác động mọi mặt của đời sống xã hội đến tâm lý, tình cảm của người chiến sĩ. Nhưng người cán bộ cách mạng nói chung và chiến sĩ Công an nói riêng, phải khác người bình thường ở chỗ, ngoài những ham muốn vật chất nhất thời, họ có trọng trách theo đuổi và thực hiện mục tiêu cách mạng cao cả.

Trong bức thư gửi luật sư Vũ Trọng Khánh – Giám đốc Tư pháp Liên khu X, Bác Hồ đã viết: “Ai chẳng muốn no cơm ấm áo. Nhưng sinh hoạt vật chất hết đời người là hết, còn tiếng tăm xấu hay tốt còn truyền đến ngàn đời sau”.

Tháng 9/1945, trên đường từ Việt Bắc trở về Hà Nội, Bác Hồ ghé thăm CBCS một đơn vị quân đội đang dự lớp học “Tám chính sách, mười điều kỷ luật”, chuẩn bị vào tiếp quản Thủ đô. Người nhắc nhở các chiến sĩ yêu quý của mình phải vững phẩm chất của người chiến sĩ cách mạng, cảnh giác trước những cám dỗ vật chất nơi đô thị. Người chỉ rõ hai thứ giặc thời bình: tham ăn ngon, thích các hàng xa xỉ. Lương không đủ, lấy ở đâu? Một là ăn cắp, hai là bị mua chuộc! Bom đạn không ngã mà lại ngã vì đồng tiền, gái đẹp. Muốn chiến thắng, theo Người, phải dùng 4 viên thuốc đặc trị: Cần, kiệm, liêm, chính.

Cần, kiệm, liêm, chính và tận tụy với công việc luôn là phẩm chất hàng đầu của mỗi cán bộ chiến sỹ Công an. (Trong ảnh: Công an quận Hoàn Kiếm – Hà Nội hướng dẫn một tiệm vàng lắp thiết bị cảnh báo an ninh) (Ảnh: Duy Hiển).

65 năm đã trôi qua, kể từ ngày Bác Hồ gửi thư cho lực lượng CAND và 6 điều Người căn dặn CBCS Công an, những lời dạy đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc.

Trong bối cảnh tình hình hiện nay, các thế lực thù địch, chống đối vẫn luôn rình rập, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, tuyên truyền xuyên tạc, chống phá đường lối lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN, gây mất ANTT, phương hại đến chủ quyền quốc gia và đời sống bình yên của nhân dân.

Mặt khác, những vấn đề tiêu cực nảy sinh từ mặt trái của cơ chế thị trường, buộc CBCS CAND đang ngày đêm phải đối mặt với sự thật khắc nghiệt của nó. Kẻ địch với đủ các loại tội phạm mới, tham ô, tham nhũng, đục khoét ngân sách nhà nước, làm phai nhạt niềm tin của nhân dân.

Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển như vũ bão của các ngành khoa học, công nghệ, những loại tội phạm mới cũng hình thành. Hơn bao giờ hết, người cán bộ Công an phải chịu đựng những thử thách ghê gớm bởi sự cám dỗ, mua chuộc vật chất, cài bẫy lôi kéo cán bộ vào vòng sa đọa, tội lỗi, đòi hỏi người CAND chẳng những phải có đạo đức trong sáng: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, mà còn phải có trình độ chuyên môn cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới.

Học tập, quán triệt 6 lời dạy của Bác, lực lượng CAND, mỗi CBCS Công an phải ra sức rèn luyện đạo đức, liên hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào dân để xây dựng thế trận lòng người, đoàn kết với đồng chí, đồng đội, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn để có thể chiến thắng bất cứ kẻ thù nào, nhất là những cám dỗ vật chất, những “viên đạn bọc đường” của chủ nghĩa cá nhân.

Ghi nhớ và thực hiện đúng 6 điều Bác dạy, lực lượng CAND sẽ tiếp tục phát huy những thành tích đã đạt được để tiến lên giành những thắng lợi mới, xứng đáng với niềm tin của Đảng và nhân dân

T.M.T.
cand.com.vn

Bác của chúng ta thật giản dị

123th Anniversary of Uncle Ho

Mỗi năm, tháng Năm về lòng mỗi người dân Việt Nam ta lại bâng khuâng nhớ về ngày 19/5 kỷ niệm Ngày sinh Bác Hồ kính yêu. Sinh thời, cứ đến dịp 19/5, Bác thường dặn các địa phương, cơ quan là không nên tổ chức chúc thọ linh đình, vì Bác lo ngại tốn thời gian, tiền bạc của nhân dân trong lúc đời sống nhân dân còn khó khăn. Đúng ngày 19/5, Bác thường đi công tác để tránh những nghi lễ tốn kém vì ngày sinh của Người. Bác giao cho những người phục vụ, bảo vệ tổ chức đánh bắt cá tại ao cá mà Người vẫn hàng ngày chăm sóc để biếu các cụ già, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và cho anh em cơ quan phục vụ Bác để cải thiện bữa ăn.

Vào những dịp đó, Bác thường viết thư, gửi điện cảm ơn đồng bào, đồng chí, các cơ quan, đoàn thể trong nước và bầu bạn quốc tế đã dành cho Người những tình cảm thân thiết nhân kỷ niệm ngày sinh của mình. Năm 1959, nhân dịp kỷ niệm Ngày sinh 19/5 và kỷ niệm 5 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Bác Hồ đã lên thăm đồng bào các dân tộc Tây Bắc. Nói chuyện với đồng bào và cán bộ dự mít tinh ở Châu Thuận, Bác khen ngợi tinh thần đoàn kết kháng chiến cũng như tinh thần đoàn kết sản xuất của tất cả đồng bào, bộ đội, cán bộ Tây Bắc. Bác có thơ chúc và trao tặng lá cờ thêu 6 chữ vàng “Đoàn kết – Thi đua – Thắng lợi”. Bác nhắc nhở bà con dân tộc phải bảo vệ rừng vì rừng là vàng, là bạc, là máy móc cả. Bác đến thăm nông trường Mộc Châu, Bác tặng nông trường mấy câu: Luôn luôn cố gắng/Khắc phục khó khăn/Tiến lên thật hăng/Làm tròn nhiệm vụ”.

Dịp tháng 5/1963, ông Nguyễn Sinh Quế, Bí thư Đảng ủy xã Kim Liên, huyện Đàn (Nghệ An) có dịp ra Hà Nội đến mừng thọ Bác nhân dịp 19/5. Trước khi ông Quế ra về, Bác hỏi thăm về những xã, làng Mậu Tài, Hoàng Trù, Nguyệt Quả rồi Bác trao cho ông Quế và những người cùng đi một gói hạt phượng và Bác dặn “Các chú về chia cho mỗi nơi một ít và nhớ là phải trồng cây nào sống cây ấy”. Ngày nay, về Kim Liên, các trường học, trạm xá, các con đường có những cây phượng tháng 5 về đỏ rực một màu xen lẫn với những cây xà cừ lá xanh mượt mà.

Ngày 19/5/1965, Bác Hồ thọ 75 tuổi, đúng 18h, Trung ương “đột kích” vào chúc thọ Bác. Mọi người đông đủ, một bó hoa tươi trang trọng giữa bàn. Bác đứng dậy vui vẻ hỏi: “Bác muốn biết ai đứng ra chúc thọ hôm nay”? Đồng chí Lê Duẩn tủm tỉm cười, đồng chí Phạm Văn Đồng liếc mắt nhìn sang đồng chí Trường Chinh. Đồng chí Trường Chinh đứng dậy hướng về phía Bác:

– Thưa Bác, nhân dịp kỷ niệm 75 năm Ngày sinh của Bác, thay mặt Trung ương, Quốc hội, Chính phủ, mặt trận và nhân dân cả nước kính chúc Bác mạnh khỏe, sống lâu.

Bác đứng lên xúc động: “Bác cám ơn các chú nhưng trong lúc toàn dân đang kháng chiến gian khổ, mọi công việc hết sức khẩn trương mà lại tổ chức chúc thọ một cá nhân như thế này là không nên”.

Bánh kẹo được bày ra, Bác mời mọi người đến dự, mừng thọ Bác tuổi 75, lễ mừng thọ vị Chủ tịch nước đã diễn ra trong bầu không khí ấm cúng, giản dị như thế đó.

Nhân dịp kỷ niệm 75 năm Ngày sinh của Người, bà Luy Stơroong – một nữ nhà văn nước Mỹ được vinh dự gặp Bác đã có những lời ca ngợi Bác của chúng ta: “Bác Hồ – hai tiếng mà người dân Việt Nam thường gọi, đó là một vị lãnh tụ giản dị nhất thế giới. Đó là nhà hiền triết đôn hậu hiểu rộng, biết sâu như thánh nhân. Đó là một người thừa trí tuệ che chở hết thảy cho mọi người khi gặp việc bất trắc xảy ra. Đó là người khi hỏi ai thì rất thân mật, cởi mở nhưng khi trả lời ai thì rất mau lẹ và bất ngờ”.

Kỷ niệm Ngày sinh của Bác chúng ta lại càng nhớ Bác, nguyện học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác, cuộc đời Bác mà như nhà thơ Tố Hữu đã ca ngợi:

“… Mong manh áo vải hồn muôn trượng
Hơn tượng đồng soi những lối mòn…”.

Văn Song
Theo Báo Hòa Bình

Tâm Trang(st)

Chuyện kể về bức tượng Bác Hồ bằng đồng đầu tiên

Hơn một năm sau ngày Bác mất, nhà điêu khắc Lê Qùy đã nảy ra ý tưởng đúc tượng Bác Hồ bằng đồng. Chỉ sau hai tháng miệt mài, các nghệ nhân làng Chè Đông đã cho ra đời tác phẩm.

Làng Chè Đông, xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa là ngôi làng nổi tiếng với nghề đúc đồng từ thời Lý. Vì thế ngay khi ý tưởng của nhà điêu khắc Lê Qùy được khởi xướng, huyện đã chọn làng Chè Đông là nơi thực hiện sứ mệnh vinh dự là đúc tượng lãnh tụ kính yêu của dân tộc.

buc-tuong-dong-a
Cụ Nguyễn Văn Mơi, một trong những người tham gia đúc tượng
Bác Hồ bằng đồng đầu tiên.

Chúng tôi trở về làng Chè Đông để ghi lại câu chuyện về sự ra đời của pho tượng Bác Hồ đúc bằng đồng ngày 6/6/1970, dưới bàn tay và công sức của nhân dân nơi đây. Những người tham gia đúc tượng Bác Hồ ngày ấy chỉ còn lại vài cụ. Các cụ giờ đây cũng đã ngoài 80 tuổi cả rồi, thế nhưng khi kể về những ngày tháng làm tượng Bác, cụ Nguyễn Văn Mơi (86 tuổi) vẫn nhớ như in như mới chỉ diễn ra hôm qua. Thời bấy giờ cụ Mơi đang giữ chức vụ Phó Chủ tịch xã, cụ cũng chính là người vinh dự cùng tham gia đúc tượng Bác.

Theo lời cụ Mơi kể thì nhân dân coi việc đúc tượng Bác là niềm tự hào, vinh hạnh lớn đối với họ nên ngay từ khi phát động việc quyên góp đồng để đúc tượng Bác Hồ, bà con đã ùn ùn kéo tới, người chiếc mâm, người cái nồi, bát…chẳng mấy chốc lượng đồng không những đủ mà còn dư rất nhiều.

Sau khi đã kêu gọi đủ số đồng, cán bộ, đảng viên trong xã đã họp lại và mời đồng chí Đặng Ích Bích và Lê Văn Duân chủ trì đảm nhiệm trọng trách chính cùng với hơn 20 nghệ nhân khác nữa sẽ tham gia đúc tượng Bác. Khó khăn nhất là chưa có nơi nào đúc tượng Bác để có phiên bản nghiên cứu, cuối cùng nhà điêu khắc Lê Qùy được phân công chịu trách nhiệm việc phác họa hình ảnh Bác Hồ.

buc-tuong-dong-b
Bức tượng Bác nặng 3,7 tạ, cao 1,3m.

Việc phác họa hình ảnh Bác được hoàn thành thì mọi người bắt tay vào việc lên khuôn đúc. Khâu này đòi hỏi kỹ thuật khá cao, phải chọn được thứ đất làm sao cho phù hợp, mất nhiều thời gian và công sức. Xong khuôn đúc là bắt đầu cho việc đổ đồng để đúc. Các nghệ nhân vào các vị trí được phân công của mình, 8 lò đúc, mỗi lò 3 nghệ nhân: 2 nghệ nhân thổi còn 1 nghệ nhân đổ đồng. Các lò bắt đầu nổi lửa cùng lúc, hơn 1 tiếng đồng hồ đồng bắt đầu chảy ra, các nghệ nhân gạt xỉ nổi lên bề mặt sau đó được sự phân công của thợ cả, đồng được rót vào liên hoàn cho đến khi đầy khuôn.

Các nghệ nhân miệt mài làm ròng rã cả ngày lẫn đêm dồn tất cả tình cảm và tâm huyết của mình vào bức tượng chân dung Bác mà quên hết mọi mệt mỏi, khó nhọc. Hơn 2 tháng, kiệt tác về bức tượng Bác đã được hoàn thành trong sự mong đợi của nhân dân.

Bức tượng Bác Hồ thành công trong niềm hạnh phúc của các nghệ nhân và sự vui sướng hân hoan vô bờ của người dân trong xã.

Cùng là người tham gia trong việc đúc nên bức tượng Bác, cụ Mơi hết sức xúc động khi nghĩ về giây phút hạnh phúc đó, cụ cho biết: “Cả Tổ Nghệ nhân lúc đó khoảng hơn hai chục người với 8 lò nấu đồng, tôi phụ trách lò số 6. Cái khó thời bấy giờ là tất cả mọi thứ đều làm bằng thủ công, lò thổi bằng bể chứ không như bây giờ dùng quạt máy vì thế phải cố gắng làm sao để đồng không bị khê, phải lọc đồng bằng tro cho đồng được tinh khiết. Các động tác phải nhịp nhàng ăn khớp, khi đổ đồng phải đổ liên tục. Chỉ cần làm sai một vài quy trình và động tác thì bức tượng sẽ bị thất bại, không những thế có thể gây cháy bỏng vì thế tất cả mọi người ai cũng cố gắng tập trung để hoàn thành bức tượng Bác một cách hoàn hảo nhất”.

“Những ngày làm tượng Bác lúc nào người dân cũng tập trung rất đông để giúp sức, buổi tối thì mọi người quây quần lại chuyện trò và cổ vũ đội nghệ nhân làm việc nên không khí những ngày đó trong làng lúc nào cũng như vui hội. Ai nấy đều rất phấn khởi mong chờ ngày được nhìn thấy bức tượng Bác Hồ được làm nên bằng tâm huyết, công sức, bàn tay của nhân dân làng Chè Đông. Ngay cả bản thân chúng tôi những người trực tiếp tham gia đúc tượng Bác cũng rất háo hức chờ đợi cái giây phút hoàn thiện thành quả của mình. Chính vì thế mà chẳng ai bảo ai đều cố gắng hết mình, làm cẩn thận và hoàn chỉnh từng chi tiết”, cụ Mơi cho biết thêm.

buc-tuong-dong-c
 Bức tượng Bác Hồ thể hiện tấm lòng tôn kính của nhân dân
đối với vị cha già kính yêu của dân tộc.

Những năm đó, huyện Thiệu Hóa chưa được hình thành mà 15 xã bên này gọi là Thiệu Yên thì thuộc huyện Yên Định còn nửa kia gọi là Đông Thiệu thuộc huyện Đông Sơn. Vì thế sau khi bức tượng được hoàn thành đã được đưa lên huyện Yên Định trưng bày suốt hơn 20 năm; cho đến năm 1997 thành lập huyện Thiệu Hóa, lãnh đạo ở đây mới lên Yên Định xin được nhận lại bức tượng Bác Hồ, thành quả của nhân dân Thiệu Trung.

Vào năm 1998, nhân dân xã Thiệu Trung đã xin mang tượng Bác về làm mẫu đúc một bức tượng giống hệt bức tượng cũ đặt ở hội trường xã đánh dấu một sự kiện lịch sử để con cháu trên mảnh đất này đời đời không quên trên quê hương Thiệu Trung, bức tượng Bác Hồ bằng đồng được ra đời lần đầu tiên.

Ông Lê Duy Sơn, Trưởng Phòng Văn hóa huyện Thiệu Hóa cho biết: “Bức tượng đồng Bác Hồ được các nghệ nhân của xã Thiệu Trung đúc năm 1970 có chiều cao 1,3m, nặng 3,7 tạ đồng. Hiện nay đang được lưu giữ và trưng bày tại Nhà Truyền thống của huyện. Đây được coi tấm lòng thành kính của nhân dân đối với vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam”.

Nguyễn Thùy – Duy Tuyên
Theo dantri.com.vn

Tâm Trang (st)

Một lá thơ bằng tiếng Pháp của Bác Hồ

la-thu-tieng-phap-bTiễn Bác Hồ đi Pháp, hè 1946

Cuộc chiến tranh Việt – Pháp bùng nổ, sau khi Chính phủ Hồ Chí Minh đã làm tất cả những gì có thể làm nhằm cứu vãn hòa bình. Nhưng người Pháp không muốn dễ dàng từ bỏ Đông Dương.

-*-

Ta gặp lại tướng Raul Salan, Tổng Chỉ huy các lực lượng viễn chinh Pháp tại Việt Nam – người đã nói chuyện rất nhiều lần với Chủ tịch Hồ Chí Minh, từng tháp tùng Bác Hồ đi Pháp năm 1946. Cuộc chiến Việt – Pháp bùng nổ và số mệnh buộc họ lại là đối thủ của nhau.

Một bức thư bằng tiếng Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đề ngày 10.6.1947 viết cho tướng Salan:

“Tướng quân thân mến!

Tôi vừa nhận được tin ông trở lại đất nước tôi. Năm ngoái (đối với tôi, tưởng chừng như mới chỉ hôm qua mà cũng như là đã nhiều thế kỷ), chúng ta đã cùng đi với nhau trên chặng đường dài. Chúng ta đã nói chuyện nhiều với nhau. Về rất nhiều vấn đề, về các nhân vật, các sự kiện, chúng ta đều thống nhất ý kiến. Nói tóm lại một câu, chúng ta là những người bạn rất thân.

Những tình huống ngoài sự mong muốn của chúng ta đã làm chúng ta trở thành những địch thủ của nhau. Thật rất đáng tiếc!

Tôi biết ông khá rõ để tin rằng, nếu ông đã có mặt ở đây và có những quyền hành cần thiết, những sự việc đau lòng đã có thể tránh được.

Tôi biết ông khá rõ để tin rằng, trong thâm tâm ông không đồng tình với cuộc chiến tranh huynh đệ này, chẳng giải quyết được cái gì cả mà chỉ tổn hại đến tình thân thiện và chậm lại sự hợp tác có tính chất xây dựng giữa hai nước chúng ta.

Nhưng thôi! Đối với tôi, bổn phận thiêng liêng của người yêu nước ra lệnh cho tôi phải chiến đấu vì Tổ quốc và vì đồng bào của mình. Đối với ông, chức trách quân nhân ra lệnh cho ông làm điều mà trái tim ông phản đối.

Vì chúng ta đã bắt buộc phải đánh nhau, vậy thì hãy là những hiệp sỹ cao thượng và những địch thủ đứng đắn, trong khi chờ đợi lại trở thành bạn của nhau. Chúng ta đã từng là bạn. Về mặt cá nhân, chúng ta vẫn còn là bạn. Ông có muốn thế không?

Nhân danh tình yêu nhân loại và nhân danh tình bạn giữa cá nhân chúng ta, tôi đề nghị ông hãy nghiêm cấm quân đội Pháp, không được giết hại thường dân, cưỡng hiếp phụ nữ, thiêu cháy những xóm làng không có gì tự vệ, hủy diệt các nhà thờ, đền chùa như đã làm cho mãi tới nay.

Tôi đảm bảo với ông, các quân nhân và dân sự người Pháp trong tay chúng tôi đều được đối xử rất tử tế. Tôi mong, người của chúng tôi cũng được các ông đối xử tương tự.

Ông Đại úy Các-chi-ê tốt bụng còn đi theo ông không?

Nhờ ông chuyển lời chào của tôi tới bà Xa- lăng và những cái hôn âu yếm của tôi tới hai cháu trai lớn và cháu bé mới sinh của ông bà.

Mong tướng quân hãy tin vào những tình cảm đặc biệt nhất của tôi”.

Một bức thư “địch vận” cực kỳ khéo léo, được viết bằng lời văn Pháp rất uyên bác, thể hiện phong cách và tình cảm của Hồ Chí Minh. Tướng Xa-lăng cho biết: “Sau khi đọc xong, một hoài niệm tràn ngập trong tôi”…

Theo trươngtansang.net
Kim Yến (st)

Bác Hồ một tình yêu bao la (Tiếp theo và hết)

Bài 2: Người sống mãi cùng đất nước

Sau khi Bác mất (2-9-1969), thể theo nguyện vọng của đồng bào và chiến sĩ cả nước, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng ta đã quyết định giữ gìn lâu dài thi hài Hồ Chủ tịch để cho ngày thống nhất đồng bào và chiến sĩ miền Nam, cùng các thế hệ con cháu của cả nước mai sau được nhìn thấy Bác. Mấy chục năm qua, lớp lớp cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nỗ lực vượt qua muôn vàn khó khăn, phức tạp nhưng hết sức thiêng liêng, cao cả để đêm ngày gìn giữ và bảo vệ thi hài Bác, nhất là ở những thời điểm mà tình hình quốc tế có nhiều nhạy cảm.

Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một đơn vị đặc biệt, làm một nhiệm vụ chính trị đặc biệt, chịu trách nhiệm chính trị lớn lao trước Đảng, Nhà nước, quân đội và đồng bào, chiến sĩ cả nước, người Việt Nam ở nước ngoài cùng bầu bạn quốc tế, giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bên cạnh những cố gắng và sự hy sinh thầm lặng của cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ làm nhiệm vụ “đặc biệt” ấy, là sự quan tâm thường xuyên của Bộ Chính trị, Nhà nước, Chính phủ và Quân ủy Trung ương – Bộ Quốc phòng. Việc giữ gìn thi hài Bác hơn 40 năm qua cũng như việc góp phần xây dựng Công trình Lăng Bác, chúng ta không thể không nhắc tới và biết ơn sự giúp đỡ trực tiếp, to lớn và quý báu của Đảng, Chính phủ và nhân dân Liên Xô trước đây cũng như Chính phủ Liên bang Nga ngày nay. Các giáo sư, tiến sĩ, viện sĩ, chuyên gia của bạn đã đồng hành với chúng ta ngay từ những giờ phút đầu tiên, sau khi trái tim Bác vừa ngừng đập đến những năm tháng đất nước còn chiến tranh và cho đến hôm nay. Các chuyên gia Nga coi đó vừa là tình cảm, trách nhiệm nhưng cũng là sự tôn kính, quý mến của họ đối với vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, người bạn lớn của nhân dân Xô-viết trước đây và ngày nay là Liên bang Nga.

Bac Ho 1 tinh yeu bao la 2.1Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương,Trưởng ban Ban Quản lý Lăng kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đang kiểm tra đội danh dự  – Ảnh: Minh Trường.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương, Trưởng ban Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Việc giữ gìn và bảo vệ thi hài Bác chúng ta làm rất tốt. Đến nay, thi hài của Người vẫn giữ được những nét đặc trưng như lúc sinh thời”. Trước năm 1992, công việc giữ gìn thi hài Bác do chuyên gia của bạn đảm nhiệm nhiều phần việc. Từ năm 1992, do những thay đổi ở nước Nga, chúng ta đã hợp tác trực tiếp với Trung tâm Nghiên cứu Y sinh Mát-xcơ-va, mời bạn sang giảng dạy và hướng dẫn kinh nghiệm về chuyên ngành bảo quản thi hài; phía Việt Nam yêu cầu hợp tác vấn đề gì, bạn đều đáp ứng công việc ấy. Sau nhiều năm được sự giúp đỡ của bạn, cán bộ, nhân viên Viện 69 đã nỗ lực học hỏi, sáng tạo, nhanh chóng nắm bắt được công nghệ, vừa làm chuyên môn, vừa nghiên cứu khoa học phục vụ giữ gìn thi hài. Đến nay, Viện 69 đã tự đảm nhiệm hoàn toàn các công việc, từ làm thuốc thường xuyên đến làm thuốc lớn trong tu bổ định kỳ. Ngoài ra, Viện 69 đã hoàn toàn làm chủ được công nghệ pha chế dung dịch. Từ năm 1992 đến năm 2003, chúng ta mua dung dịch của bạn và vận chuyển từ Mát-xcơ-va về Việt Nam. Sau năm 2003, khi Viện 69 đã hoàn toàn nắm được quy trình pha chế, phía bạn đã đồng ý chuyển giao quy trình công nghệ cho Việt Nam đảm nhiệm, mở ra những thuận lợi mới cho công tác bảo quản, gìn giữ. Nhiều năm qua, Viện 69 đã dày công bồi dưỡng đào tạo một đội ngũ cán bộ chuyên ngành khá dồi dào, 5 tiến sĩ và 5 thạc sĩ chuyên ngành được đào tạo ở Nga và đào tạo cơ bản trong nước. Viện có 2 Thầy thuốc Nhân dân, 4 Thầy thuốc Ưu tú, còn lại đa số là bác sĩ, kỹ sư, cử nhân ở độ tuổi dưới 30 nhưng có chuyên môn khá vững. Đội ngũ kỹ thuật Viên của viện nhiều người là kỹ thuật viên cao cấp có tay nghề cao. Hằng năm, Viện thực hiện nhiều đề tài khoa học cấp Bộ và cấp Nhà nước về giữ gìn lâu dài thi hài Bác. Chúng tôi đã gặp một trong những cán bộ khoa học còn khá trẻ của viện, đó là Trung tá Phạm Văn Vương, Đội trưởng Đội y tế đặc biệt – Đơn vị trực tiếp làm thuốc giữ gìn thi hài Bác. Năm 1989, chàng trai quê Lý Nhân (Hà Nam) nhập ngũ vào Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và là chiến sĩ của Viện 69. Trong 3 năm làm nghĩa vụ quân sự, Vương đã không ngừng phấn đấu rèn luyện, được lãnh đạo viện cử đi học Trung cấp quân y. Khi ra trường Vương được trở về “mái nhà xưa” của mình và chàng trai xứ đồng chiêm trũng đã không phụ lòng của mọi người trong Viện. Anh phấn đấu vươn lên, tự học tiếng Nga, tiếng Anh và học tại chức Trường Đại học Bách khoa. Năm năm liền anh là Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở, năm 2007 là Chiến sĩ thi đua cấp toàn quân, năm 2010 anh được tặng danh hiệu Thầy thuốc Ưu tú. Giờ đây, người Đội trưởng ấy đang phụ trách những phần việc kỹ thuật phức tạp của đơn vị . Vương tâm sự: “Tôi luôn tự hào là người chiến sĩ của Bộ tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Viện 69. Niềm tự hào này không chỉ của cá nhân tôi mà là cả của gia đình và quê hương nữa! Được sống gần Bác, tôi thấy mình quá nhỏ bé nên càng phải ra sức phấn đấu, học tập, rèn luyện theo lời Người dạy”. Trong công việc, Vương luôn có nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật, phục vụ trực tiếp cho nghiên cứu đề tài cấp Nhà nước năm 2003 của Viện 69.

Bac Ho 1 tinh yeu bao la 2.2Chiến sĩ tiêu binh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh: Trọng Hải.

Nhằm đáp ứng tốt nhất cho việc đồng bào và chiến sĩ cả nước, người Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè quốc tế về viếng Bác, chúng tôi được biết, sau khi Nhà Quốc hội hoàn thành, Quảng trường Ba Đình sẽ được mở rộng về phía Nam để không gian Quảng trường trước Lăng được rộng rãi hơn và sẽ được chỉnh trang lại. Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phối hợp với thành phố Hà Nội tổ chức một số tuyến phố đi bộ xung quanh Lăng (giai đoạn 1). Trên các tuyến phố đi bộ sẽ tổ chức các hoạt động văn hóa, nghệ thuật đường phố, phục vụ đồng bào, khách quốc tế về Lăng viếng Bác hoặc tham quan Cụm Di tích lịch sử-văn hóa Ba Đình. Nhất là về mùa hè, những đêm trăng trong gió mát, người dân Thủ đô thường về đây để ngắm Lăng, tận hưởng bầu không khí trong lành, yên tĩnh trên Quảng trường và xem những ca đổi gác của các chiến sĩ tiêu binh. Thành phố Hà Nội cũng sẽ hỗ trợ kinh phí để lát hè, lắp dựng hàng rào an ninh tuyến phố đi bộ. Trên Khu Di tích Đá Chông, Ba Vì (còn gọi là K9), Ban Quản lý Lăng cũng dự kiến mở cửa tự do cho nhân dân và khách quốc tế vào thăm quan trong dịp kỷ niệm 124 năm Ngày sinh của Người (19-5-2014). Hiện nay, một số công trình đang tích cực thi công nhằm phục vụ tốt nhất cho đồng bào, chiến sĩ cả nước và bè bạn quốc tế khi về nơi đây. Sắp tới, một hệ thống “Mái che đường viếng” di động vừa hiện đại, vừa đẹp đẽ sẽ được thay thế các mái che hiện nay. Đây là món quà mà Đảng bộ và nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh dâng tặng. “Mái che đường viếng” sẽ được kéo dài từ khu tập kết vào viếng Người đến cửa Lăng và từ sau khi ra khỏi Lăng về nhà sàn của Bác.

Gần 40 năm kể từ ngày Lăng Bác mở cửa đón đồng bào và chiến sĩ, người Việt Nam ở nước ngoài và bè bạn quốc tế vào viếng Bác, là từng ấy năm cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ, các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tỏ rõ lòng tôn kính và đời đời nhớ ơn Người – Vị Lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân ta. Cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ trong đơn vị hết sức tự hào được Đảng, Nhà nước, quân đội và đồng bào cả nước tin cậy giao cho nhiệm vụ thiêng liêng cao cả ấy. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, những người lính ở đây cũng luôn thể hiện lòng trung thành vô hạn với Tổ quốc và nhân dân; giữ gìn tuyệt đối an toàn lâu dài thi hài Bác và Công trình Lăng của Người. Lòng trung thành và tình yêu kính trọng Bác luôn là động lực giúp cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ, các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh khắc phục mọi khó khăn, vươn lên làm chủ khoa học công nghệ để phục vụ việc bảo vệ và giữ gìn thi hài Bác.

Năm tháng sẽ trôi qua, Quảng trường Ba Đình vẫn luôn lộng gió và đầy ắp nắng vàng, những dòng người từ mọi miền Tổ quốc cũng như nhiều bạn bè từ khắp năm châu liên tục về viếng Người. Mỗi lần về với Bác, mỗi người đều nhận thấy gương mặt Bác vẫn hồng hào, Người như đang nằm nghỉ thanh thản sau mỗi ngày làm việc. Các thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau luôn cảm nhận trong trái tim mình: Người vẫn sống mãi cùng non sông đất nước.

Hà Nội, tháng 5 năm 2013

———–

Theo LÊ QUÝ HOÀNG
Báo Quân đội nhân dân
Huyền Trang (st)

Bác Hồ, một tình yêu bao la (Bài 1)

Bài 1: Dòng người đi trong thương nhớ

Nhìn dòng người nối dài tưởng như vô tận lặng lẽ nhích dần từng bước để vào Lăng viếng Bác, bất giác trong tôi nhớ tới bài thơ “Viếng Lăng Bác” của Viễn Phương: “… Ngày ngày mặt trời đi qua trên Lăng/ Thấy một mặt trời trong Lăng rất đỏ/ Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ/ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân…”.

Nơi cả nước hướng về

Một ngày, tôi hòa cùng dòng người vào Lăng viếng Bác. Dẫu đã bao lần vào viếng Người nhưng lần nào tôi cũng thấy trong lòng bồi hồi, xúc động. Nghe tiếng xào xạc của những khóm tre bên Lăng, tiếng rì rào nhè nhẹ của những chùm hoa dâm bụt đung đưa bên lối vào nhà sàn, tôi thấy như đâu đây dáng hình của làng quê Việt Nam với tiếng ru hời luôn ở bên cạnh Người. Trong dòng người về viếng Bác, tôi bắt gặp những cụ già, em bé, các cựu chiến binh, thương binh, bệnh binh và người Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt là bè bạn quốc tế từ các châu lục đến rất đông. Trong số họ, có những người đã vào Lăng viếng Bác một đôi lần, thậm chí rất nhiều lần, nhưng cũng có những người chỉ mới đến lần đầu. Song, tất cả đều có một điểm chung là ai cũng thành kính và xúc động. Nhiều người khi nhẹ bước qua nơi Bác nằm nghỉ, cứ muốn dừng chân lại ngắm thật lâu, mắt ai cũng đỏ hoe. Với người Việt Nam thì muốn ngắm thật kỹ vị lãnh tụ của dân tộc. Người nằm đó, gương mặt hồng hào như vừa trải qua một ngày làm việc, giờ đang yên giấc ngủ. Người vẫn mặc bộ ka-ki quen thuộc. Với bè bạn quốc tế, ai cũng muốn được ngắm nhìn kỹ vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa lớn của Việt Nam và cao hơn cả, đó là người bạn gần gũi của tất cả các dân tộc đang đấu tranh vì độc lập tự do, hòa bình cho nhân loại mà tên tuổi của Người đã lan tỏa khắp năm châu.

Trong những cuốn sổ ghi cảm tưởng ở Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được lưu giữ, nhiều cuốn đã ngả màu theo năm tháng, có những cuốn còn thơm mùi mực vừa mới ghi. Những người phục vụ ở đây kể rằng, có những người từ miền Nam lần đầu ra viếng Bác, khi viết những dòng cảm tưởng, vừa viết, mắt vừa rưng rưng lệ, họ sụt sùi mãi mới viết xong. Có những cựu chiến binh cứ cắn bút ngồi mãi, tay run run chỉ viết được đôi dòng rồi nức nở khóc không viết được nữa vì sự xúc động trào dâng; có bà má ở Nam Bộ không biết chữ, nhờ con cháu viết giùm, má bảo, được ra thấy Người là má toại nguyện về với tổ tiên rồi…

Bac Ho 1 tinh yeu bao la 1.1Khách quốc tế và các cựu chiến binh vào Lăng viếng Bác. Ảnh: Minh Trường.

Ông Võ Minh Bình, một cựu tù của Hội tù yêu nước thành phố Đà Nẵng viết: “Chúng con xin thắp nén hương lòng thành kính dâng lên Bác kính yêu. Chúng con nguyện sống xứng đáng và làm theo lời Người dạy, ra sức cống hiến sức mình góp phần xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh để thỏa lòng Người trước lúc đi xa…”.

Từ thành phố Hồ Chí Minh, anh Lê Thanh Xuân ở huyện Củ Chi, tâm sự: “Được về viếng Bác, chúng con thật là sung sướng. Bác ơi! Những đứa con từ ngục tù, từ chiến trận trở về đây, nhiều người ngã xuống nhưng chưa từng gặp Bác, thậm chí có người chưa được ngắm nhìn ảnh của Bác. Chúng con xin hứa với Bác nguyện suốt đời làm theo lời Người dạy, tiếp tục đem công sức, trí tuệ của mình phục vụ đất nước, đi theo con đường mà Bác đã vạch ra cho dân tộc…”. Ông Võ Như Hùng, một Việt kiều ở Pháp về viếng Bác, cho biết: “Phong cách hòa đồng, giản dị; những câu chuyện Bác đi thăm bà con trong thời gian Người ở Pháp… vẫn được bà con kiều bào thường xuyên kể lại với nhau trong các cuộc gặp mặt, đến nỗi bọn trẻ chúng tôi ngày đó, đứa nào cũng thuộc lòng nội dung câu chuyện”.

Gần bốn mươi năm trôi qua, kể từ ngày Lăng Bác chính thức mở cửa cho đồng bào, chiến sĩ cả nước và bạn bè quốc tế vào viếng Người, đến tháng 4-2013 đã đón tiếp hơn 40 triệu lượt người, trong đó có hơn 5 triệu lượt khách quốc tế; phục vụ chu đáo hơn 400 buổi Lễ viếng cấp Nhà nước và các Đoàn Nguyên thủ quốc gia; gần 1000 buổi sinh hoạt chính trị – văn hóa trước Lăng Bác; phục vụ hơn 38 nghìn đoàn đặt vòng hoa; 3,9 nghìn lượt xe đẩy; nhận chuyển trả hơn 1,2 triệu lượt máy các loại. Nhiều đơn vị bộ đội trước ngày lên đường làm nhiệm vụ, nhiều buổi lễ tuyên thệ của những đoàn viên, thanh niên; nhiều doanh nghiệp, đơn vị, cơ quan, trường học, địa phương trong cả nước đã hội tụ về đây, báo cáo với Bác về những việc đã làm được và nhận thiếu sót với Người những việc còn chưa thấu đáo của mình. Nhiều đôi trai gái trước ngày tổ chức lễ kết hôn, đã đến trước Lăng Người bày tỏ lòng biết ơn và xin hứa sẽ làm tốt trách nhiệm, bổn phận của họ đối với gia đình và xã hội. Hàng trăm đoàn quốc tế đến thăm Việt Nam, trước khi làm việc với Đảng và Nhà nước ta đã bồi hồi, xúc động và thành kính đến đặt vòng hoa trước Lăng viếng Người.

Giữ yên giấc ngủ của Người

Hai mươi giờ ngày 18-7-1975, thi hài Bác từ K9 được đón về Lăng của Người tại Thủ đô Hà Nội sau 6 năm kể từ ngày Bác đi xa. Đồng bào, chiến sĩ Thủ đô nói riêng và cả nước nói chung nhớ mãi ngày 29-8-1975, lễ khánh thành Lăng Bác đã được tổ chức trọng thể tại Hội trường Ba Đình, Hà Nội. Hôm ấy, hai chiến sĩ tiêu binh là Nông Văn Thành và Nguyễn Văn Ri được vinh dự đảm nhiệm ca đứng gác đầu tiên trước Lăng Bác.

Đại tá Nguyễn Hoàng Diệu, Chính ủy Đoàn 275 cho biết: “Hiện nay, anh em đứng trực trong thời gian viếng Bác là 30 phút, ngoài giờ viếng là 60 phút. Nói thì vậy, để đứng được 60 phút thì họ phải luyện tập đứng gấp 3 lần số thời gian ấy. Lúc đầu là tập đứng 30 phút, sau nâng dần lên 60 phút, rồi 90 phút, 120 phút và cuối cùng là 180 phút”. Chiến sĩ Nguyễn Văn Chính, quê ở Nghi Lộc, Nghệ An “khoe” với chúng tôi: “Hằng ngày, chúng tôi luyện tập đứng giữa nắng hè oi bức, cái nóng trên trời không bằng cái nóng hừng hực bốc lên từ sân bê tông, mồ hôi cứ túa ra thấm đẫm cả áo quần, những giọt mồ hôi nhỏ xuống đầy mặt, nhưng chúng tôi vẫn đứng nghiêm trang và không hề cử động”.

Chúng tôi được “thực mục sở thị” các chiến sĩ cảnh vệ Đoàn 275 đang luyện tập, ở đây họ được uốn nắn từng chi tiết nhỏ nhất không cho phép sai sót. Binh nhì Nguyễn Vĩnh Nghĩ, quê ở Đà Sơn (Đô Lương, Nghệ An) trải lòng: “Được làm người chiến sĩ gác cho Bác yên nghỉ, chúng tôi thấy thật vinh dự và tự hào. Vì vậy, chúng tôi cần phải gắng tập luyện để xứng với vinh dự đó”. Còn chiến sĩ Đinh Trung Hải, quê xã Ngọc Lập (Yên Lập, Phú Thọ) thổ lộ: “Nghe tin tôi nhập ngũ về Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, bố mẹ tôi vui lắm, cả thôn xóm cũng tự hào. Mọi người luôn động viên tôi phải hoàn thành thật tốt nhiệm vụ. Tôi ước ao có một ngày nào đó, tôi sẽ đón bố mẹ về Thủ đô và trực tiếp đưa bố mẹ vào Lăng viếng Bác”.

Bac Ho 1 tinh yeu bao la 1.2Một ca đổi gác của các chiến sĩ tiêu binh Đoàn 275. Ảnh: Minh Trường.

Bên cạnh nhiệm vụ canh gác, những người lính cảnh vệ còn nêu gương sáng về phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, đó là Hạ sĩ Phạm Công Hoan trong lúc đang làm nhiệm vụ ở khu vực phía Nam đường Hùng Vương, thấy một phụ nữ bị tên cướp giật chiếc túi. Tên cướp chạy về phía đường Hùng Vương, Hoan liền đuổi theo quật ngã, lấy lại chiếc túi trả về người đã mất và bàn giao tên cướp cho công an khu vực xử lý. Còn Hạ sĩ Lê Chí Công, vào dịp cả nước kỷ niệm 990 năm Thăng Long – Hà Nội, anh đã nhặt được túi xách của một du khách người Ô-xtrây-li-a, trong đó có hơn 3.500USD cùng nhiều giấy tờ quan trọng, Công liền báo cáo đơn vị và số tài sản trên đã được trả lại cho người đánh mất trong sự khâm phục của du khách. Khi Công vừa hết nghĩa vụ quân sự, một ngân hàng ở Hà Nội biết tin đã tuyển dụng Công vào làm việc.

Ngày ngày, hàng vạn người đổ về Lăng viếng Bác, ngày bình thường ít nhất cũng phải hơn một vạn, ngày nghỉ hoặc ngày lễ lên tới gần 2 vạn. Có ngày, lượng người về viếng Bác nối dài từ cửa vườn Bách Thảo (đường Hoàng Hoa Thám) sang phố Ngọc Hà đến cửa khu nhà đón tiếp. Đặc biệt như ngày 2-9-2012, số người về viếng Bác lên tới 33.957 lượt người. Trong dịp 30-4 và 1-5 vừa qua, đã có hơn 74.000 lượt người vào viếng Bác, trong đó có 10.705 lượt khách nước ngoài. Đặc biệt, riêng ngày 30-4 đã có 23.893 lượt người vào Lăng viếng Bác, thăm nơi ở và làm việc của Người. Những ngày này, cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ, các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc khá căng thẳng, nhưng mọi người đều hoàn thành xuất sắc công việc, không mảy may sơ suất.

Bên cạnh việc phục vụ cho nghi lễ chào cờ và bảo vệ, giữ gìn thi hài Bác, còn có Đoàn 195 – Đơn vị chuyên bảo đảm vận hành hệ thống thiết bị kỹ thuật Công trình Lăng, bảo đảm các thông số môi trường trực tiếp phục vụ nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác và lễ viếng Người. Đại tá Dương Hoàng Toán, Chính ủy Đoàn 195 cho biết: “Cán bộ, chiến sĩ trong đoàn luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự cường làm chủ công nghệ tiên tiến, điều khiển và vận hành tốt thiết bị, phục vụ cho công việc bảo quản, giữ gìn lâu dài thi hài Bác”.

Kể từ ngày 19-5-2001, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức Lễ chào cờ quốc gia trước cửa Lăng Bác. Mùa hè từ 6 giờ và mùa đông là 6 giờ 30 phút; lễ hạ cờ vào lúc 21 giờ hằng ngày. Ngày nào cũng vậy, bất kể thời tiết thế nào, các chiến sĩ cảnh vệ vẫn quân phục trang nghiêm làm lễ chào cờ. Nhân dân đến tham gia rất đông, anh Lý Xuân Hựu ở quận Ba Đình tâm sự: Nhà tôi cách đây khá xa, nhưng sáng nào tôi cũng ra Quảng trường dự lễ chào cờ và tập thể dục. Thú thật, không riêng gì tôi mà mọi người đều có tâm trạng chung, ai cũng thấy lòng mình lâng lâng, rạo rực khi nhìn lá cờ đỏ sao vàng tung bay trong gió với lời hát Quốc ca hùng tráng.

Hơn 40 năm giữ gìn thi hài Bác và gần 40 năm bảo vệ, quản lý vận hành Công trình Lăng của Người, cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ, các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tự hào được làm nhiệm vụ chính trị đặc biệt mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

———–

Theo LÊ QUÝ HOÀNG
Báo Quân đội nhân dân
Huyền Trang (st)