Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Hiệp định Paris và đòn tấn công ngoại giao quyết định

(VOV) -Việc Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đưa ra 2 dự thảo vào chiều 8/10/1972 nằm ngoài dự đoán của đoàn Mỹ.

Ông Phạm Văn Chương, thành viên đoàn đàm phán tại Paris, nguyên Phó Trưởng ban Đối ngoại Trung ương, Chủ tịch Ủy ban Việt Nam đoàn kết và hợp tác Á-Phi-Mỹ Latinh, Phó Chủ tịch Quỹ Hòa bình và Phát triển Việt Nam nhấn mạnh: 30 năm chúng ta phải kháng chiến chống hai đế quốc xâm lược và đều kết thúc bằng hai Hiệp định kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình, đó là Hiệp định Geneve (1954) và Hiệp định Paris (1973). So với Hiệp định Geneve, có thể nói, những gì đạt được trong Hiệp định Paris đã đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của đấu tranh ngoại giao của Việt Nam.

Bản dự thảo gây bất ngờ với đoàn Mỹ

Các tài liệu lịch sử ghi lại: Chiều 8/10/1972, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đưa ra dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” và dự thảo “Thảo thuận về quyền tự quyết của nhân dân miền Nam”. Dự thảo Hiệp định này nằm ngoài dự đoán của đoàn Mỹ.

Cố vấn Lê Đức Thọ và trợ lý Tổng thống Mỹ Henry Kissinger đóng vai trò quan trọng trong các cuộc đàm phán về Hiệp định Paris.

Sức mạnh tấn công của bản dự thảo Hiệp định này là ở chỗ tạm gác nhiều vấn đề chính trị nội bộ miền Nam, tạm gác yêu cầu xóa bỏ chính quyền Sài Gòn và gạt Thiệu, tạm gác bàn về bầu cử, hiến pháp… mà tập trung giải quyết các vấn đề chính trị và quân sự liên quan đến Mỹ như vấn đề Mỹ tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, ngừng bắn, Mỹ rút quân, trao trả tù binh hai bên, Mỹ chịu trách nhiệm hàn gắn vết thương chiến tranh.

Chiều 9/10/1972, phía Mỹ cũng đưa ra một dự thảo hiệp định trong đó chấp nhận nhiều điều khoản và vấn đề đoàn Việt Nam đã nêu.

Việc đưa dự thảo Hiệp định là một bước có ý nghĩa đột phá trong đàm phán, làm lập trường của hai bên gần nhau và chuyển từ đàm phán theo khung giải pháp (9 điểm, 10 điểm) sang đàm phán thẳng các điều khoản của Hiệp định, buộc Mỹ không thể lẩn tránh, kéo dài quá trình thương lượng. Ta và Mỹ giải quyết toàn bộ không cần nghị định thư, không cần đưa ra diễn đàn 4 bên, tạo khả năng nhanh chóng đạt thỏa thuận.

Tuy nhiên, cuộc tranh luận, đàm phán vẫn diễn ra gay gắt và kéo dài trong suốt ba ngày. Đến ngày 11/10/1972, hai bên căn bản đạt thỏa thuận về các điều khoản của Hiệp định. Hai vấn đề cuối cùng là vấn đề trao trả tù binh và vấn đề thay thế vũ khí được giải quyết thông qua trao đổi công hàm giữa người đứng đầu hai Chính phủ. Đến ngày 20/10/1972, hai bên đạt thỏa thuận cuối cùng, dự định ký Hiệp định ngày 31/10/1972. Với văn bản Hiệp định hai bên đã thỏa thuận, Việt Nam đã đạt được các mục tiêu đề ra đó là Mỹ chấm dứt chiến tranh và rút hết quân khỏi miền Nam Việt Nam.

Dập tắt ý đồ kéo dài đàm phán

Sáng 26/10/1972, tại phiên họp thứ 164, Bộ trưởng Xuân Thủy đã thông báo việc Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công bố nội dung dự thảo Hiệp định đã được hai bên thỏa thuận và dự định ký vào ngày 31/10/1972, nhưng phía Mỹ không giữ lời hứa, viện những lý do không chính đáng để liên tiếp thay đổi những điều thuộc nội dung Hiệp định và thời gian đã thỏa thuận.

Việc công bố dự thảo Hiệp định là một đòn tấn công lớn và được dư luận rộng rãi đồng tình. Trách nhiệm không ký được Hiệp định theo thỏa thuận hoàn toàn thuộc về phía Mỹ; Thiệu bị cô lập và bị lên án. Liên Xô, Trung Quốc và nhiều nước ủng hộ tuyên bố trên. Nhiều người trong chính giới Mỹ cũng đòi Nixon ký hiệp định đã thỏa thuận.

Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Xuân Thủy, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình đón Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nguyễn Duy Trinh đến Paris để ký hiệp định hòa bình, sân bay Bourget ngày 25 tháng Giêng 1973.

Hai bên họp từ ngày 20 đến 25/11/1972, Mỹ đã đòi sửa tới 69 điểm trong văn bản đã thỏa thuận ngày 20/10/1972 trong đó tập trung vào việc: đòi miền Bắc cùng rút quân; biến miền Nam thành một quốc gia; giành thế hợp pháp cho Sài Gòn, phủ nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời; giảm nhẹ cam kết của Mỹ. Các đề nghị sửa đổi này đã bị phía ta phê phán gay gắt.

Trong phiên họp ngày 24/11/1972, Kissinger xin được đọc bức điện của Tổng thống Nixon gửi với những lời lẽ đe dọa ngừng đàm phán, tiếp tục các hoạt động quân sự nếu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không sẵn sàng chấp nhận yêu cầu của Mỹ.

Cố vấn Lê Đức Thọ đã nói thẳng với Kissinger là đe dọa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chẳng có tác dụng gì, thiện chí của Việt Nam tiến tới hòa bình cũng phải có mức độ nhất định, nhân nhượng quá chỉ còn là đầu hàng trá hình… Ta kiên quyết đấu tranh, Mỹ phải lùi một bước là: rút lại những điều ám chỉ quân miền Bắc, nhận có tên Chính phủ Cách mạng lâm thời trong Hiệp định.

Chiến thắng quyết định trên 2 mặt trận

Chiến thắng oanh liệt “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12/1972 của quân dân Việt Nam quyết định thành công khi hai đoàn đàm phán bước vào vòng đàm phán cuối cùng tại Paris.

Do không đạt được đòi hỏi của mình, Mỹ ngừng đàm phán và mở cuộc tiến công 12 ngày đêm bằng máy bay B52 vào Hà Nội và miền Bắc. Tuy nhiên, chiến thắng oanh liệt “Điện Biên phủ trên không” đã buộc Mỹ trở lại bàn đàm phán.

Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình (giữa) ký Hiệp định Paris năm 1973

Ông Phạm Văn Chương, thành viên đoàn đàm phán tại Paris, nguyên Phó Trưởng ban Đối ngoại Trung ương, Chủ tịch Ủy ban Việt Nam đoàn kết và hợp tác Á-Phi-Mỹ Latinh, Phó Chủ tịch Quỹ Hòa bình và Phát triển Việt Nam cho rằng: “Có một mối liên quan hữu cơ giữa những gì diễn ra trên bàn đàm phán và trên chiến trường. Đầu năm 1969 bắt đầu họp 4 bên rồi, nhưng đến tháng 1/1973 Hiệp định mới được ký. Để có kết quả đó là cả một năm 1972 với 81 ngày đêm thành cổ Quảng Trị bị cày nát, với 12 ngày đêm khói lửa ở Hà Nội, nơi mà ý chí quật cường của quân và dân ta không thể bị đánh bại”.

Và kết quả là ngày 27/1/1973, bốn Ngoại trưởng bốn bên dự Hội nghị Paris đã chính thức ký Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam cùng các Nghị định thư liên quan./.

Ngọc Thành/VOVonline
vov.vn

Ngôi nhà hòa bình tại Gif-sur -Yvette tại Pháp

Ngày 22/11/1972, nhân dịp kỷ niệm 40 năm, ngày diễn ra các cuộc đàm phán bí mật chuẩn bị cho việc ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại Hòa bình ở Việt Nam, phóng viên TTXVN tại Pháp đã đến thăm ngôi nhà mang tên“Maison du Gros Tilleul”, nơi đã diễn ra những cuộc đàm phán bí mật này giữa ông Lê Đức Thọ và ông Henry Kissinger. Đó là ngôi nhà số 106, nằm tại Avenue du Général Leclerc của thị trấn Gif-sur-Yvette, cách Paris hơn 30 km về phía tây nam.

Sân trước Ngôi nhà hòa bình.

Đến thăm ngôi nhà đúng vào ngày này cách đây 40 năm, nơi diễn ra sự kiện lịch sử trên đây, chúng tôi thấy kiến trúc phía trước và bề ngoài của ngôi nhà không gần như không thay đổi, so với những tấm ảnh tư liệu chúng tôi đã được xem. Chỉ khác trước cổng nó được gắn tấm biển mang dòng chữ : “Trong ngôi nhà này, ngày 22/11/1972 đã diễn ra những cuộc đàm phán bí mật về hòa bình ở Việt Nam giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ” (Dans cette maison s’ouvrent le 22 Novembre 1972 les pourparlers de paix au Vietnam entre Henry Kissinger et Lê Duc Tho). Tấm biển màu trắng giản dị khuất sau những chiếc lá của đám cây leo nên không mấy thu hút được sự chú ý của khách qua đường hay người dân địa phương, nhưng nó mang một ý nghĩa lịch sử quan trọng, nó gắn liền với một thời kỳ lịch sử của cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam trước đây, với sự ủng hộ mạnh mẽ nhân dân Pháp.

Trò chuyện với phóng viên TTXVN tại Pháp, nhà nhiếp ảnh Bernard Minier, chủ nhà hiện nay cho biết, với tấm biển nhỏ này ngôi nhà đã được công nhận là một trong rất nhiều các di tích lịch sử ở Pháp, vì thế trong khuôn khổ các tour du lịch quanh thị trấn Gif-sur-Yvettet thỉnh thoảng khách du lịch cũng được đưa đến ghé thăm nơi đây. Phía trong của ngôi nhà cũng được sửa lại nhiều tuy nhiên những kiến trúc cơ bản của các phòng vẫn được giữ nguyên, như nơi trước đây là phòng ăn trưa của các đoàn đàm phán nay được chuyển thành khách và phòng họp chính của các bên đã trở thành studio chụp ảnh của ông Bernard Minier.

Bằng sự chân tình và cởi mở, ông Bernard Minier kể lại lịch sử của ngôi nhà. ông cho biết thêm, Maison du Gros Tilleul từng là nơi ở nhà của họa sĩ Pháp Fernand Leger, đảng viên PCF, được giao quản lý căn nhà này từ năm 1955. Sau khi họa sỹ qua đời, Đảng Cộng sản Pháp đã tạo điều kiện cho Việt Nam sử dụng nơi này (từ tháng 10.1972) để tổ chức các cuộc gặp bí mật với phía Mỹ. Theo ông, nơi đây được chọn làm địa điểm diễn ra các cuộc họp bí mật của phái đoàn Việt Nam và phía Mỹ, vì nó khá kín đáo, xa thủ đô Paris, tiện đường giao thông đi lại, nhất là gần sân bay Orly.

Là người chứng kiến sự kiện lịch sử này, khi đó ông còn là cậu thanh niên mới 17 tuổi. Ông đã từng tham gia cuộc biểu tình rộng lớn tại Paris, xuống đường đấu tranh ủng hộ cuộc chiến tranh vì hòa bình của nhân nhân Việt Nam. Ông nói: “Đây thực sự trở thành ngày hội mà ông không thể quên”.

Khi phát hiện ngôi nhà, dù không thể thấy được những gì diễn ra bên trong, nhưng ông biết rằng nơi đó diễn ra sự kiện quan trọng, với sự bảo vệ chặt chẽ của hàng rào cảnh sát. Nhiều nhiều phóng viên muốn ghi lại hình ảnh cuộc gặp gỡ giữa Lê Đức Thọ và H.Kisinger, đã phải trèo lên mái nhà của người hàng xóm phía sau, được bao quanh bởi hàng cây thông mới trồng. Đó là nhà của hai nhà hai khoa học Việt kiều Trần Thanh Vân – Lê Kim Ngọc, những người sáng lập hội Aide à l’Enfance du Vietnam (AEVN- Hội bảo trợ trẻ em Việt Nam tại Pháp) đã từng được biết đến ở Paris từ cuối năm 1970 qua hoạt động bán thiếp giáng sinh quanh các nhà thờ để gây quỹ ủng hộ Việt Nam.

Hôm nay, 40 năm sau, hàng cây tùng này đã vươn rất cao, đủ để chắn ngang tầm nhìn giữa hai nhà, vẫn trong buổi gặp gỡ với Bernard Minier, ông cho biết cho dù trong ngôi nhà không còn để lại lưu vật nào của thời kỳ đó, và ngôi nhà có những thay đổi, nhưng ông vẫn còn thấy tất cả như còn hiện hữu rõ nét trong trí nhớ của ông.

Mặt khác, trong cuộc trò chuyện với nhà khoa học Việt kiều Trần Thanh Vân, tại ngôi nhà của chính ông ở phía sau Maison du Gros Tilleul, ông Vân cho biết dù không biết gì nhiều về cuộc đàm phán bí mật giữa phái đoàn Việt Nam và Mỹ, nhưng gia đình ông vẫn tạo điều kiện thuận lợi để các phóng viên có thể ghi được những hình ảnh lịch sử quý giá khi đó. Đồng thời ông cho biết thêm vào điểm đó nhiều báo chí Pháp như la Croix, le Figaro, … đã có bài ghi lại sự kiện này và sự trùng hợp đặc biệt với việc ông đang bàn bạc vào năm 1972, với tổ chức AEVN để xây dựng làng trẻ mồ côi Việt Nam SOS ở Đà Lạt vào năm 1974 cùng nhiều công trình khác nữa mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Bài và ảnh: Lê Hà – Nguyễn Tuyên (P/v TTXVN tại Pháp)
baotintuc.vn

Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi ngoại giao

Ngày 25/1, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Hà Nội, đã diễn ra trọng thể Lễ kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27/1/1973-27/1/2013).

Lễ kỷ niệm do Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Bộ Ngoại giao tổ chức.

Đây là sự kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của nhân dân ta và nền ngoại giao Việt Nam.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước qua các thời kỳ, các vị khách quốc tế, các thành viên phái đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, các cán bộ, chiến sỹ đã tham gia phục vụ Hội nghị Paris đã đến dự.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đọc diễn văn tại Lễ kỷ niệm. Ảnh: Nguyễn Khang – TTXVN.

Tại buổi lễ, các đại biểu đã cùng ôn lại những kỷ niệm về cuộc chiến đấu trường kỳ, gian khổ của quân, dân ta trên chiến trường và cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris nhằm mục tiêu buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Cách đây 40 năm, ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, kết thúc thắng lợi cuộc đấu tranh ngoại giao dài nhất, khó khăn nhất trong lịch sử ngoại giao nước ta ở thế kỷ 20; đánh dấu thắng lợi lịch sử của nhân dân ta sau hơn 19 năm đấu tranh kiên cường, bất khuất trên các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao chống Mỹ xâm lược. Hiệp định đã mở ra một cục diện mới với thế mạnh áp đảo của Việt Nam trên chiến trường, tạo tiền đề vững chắc cho quân và dân ta tiến lên “đánh cho ngụy nhào” với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta, mặt trận ngoại giao tại Hội nghị Paris đã phối hợp nhịp nhàng với các mặt trận chính trị, quân sự; phát huy thắng lợi trên các chiến trường, giữ vững thế chủ động trong đàm phán, liên tục tiến công. Song song với đấu tranh trên bàn đàm phán, các hoạt động tranh thủ dư luận quốc tế tại Hội nghị Paris làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ chính nghĩa sáng ngời của cuộc chiến tranh giải phóng và thiện chí hòa bình của nhân dân Việt Nam; vạch trần những thủ đoạn, mưu đồ đen tối, tính chất phi nghĩa, tàn bạo của cuộc chiến tranh xâm lược của địch, đã góp phần quan trọng tạo nên Phong trào nhân dân thế giới rộng lớn chống Mỹ, ủng hộ Việt Nam – một Phong trào mang tính lịch sử và thời đại, tiêu biểu cho lương tri của loài người, đã tác động rất lớn tới dư luận tiến bộ Mỹ, thúc đẩy sự lớn mạnh của phong trào phản chiến ngay trong lòng nước Mỹ.

Phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao nước ta thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, là mốc son trong trang sử vàng của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. Thắng lợi này mang đậm dấu ấn và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh; có sự đóng góp từ những nỗ lực hết mình của các cán bộ, chiến sỹ trên mặt trận ngoại giao thời kỳ chống Mỹ, cứu nước mà trực tiếp là cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris, cuộc đấu trí thể hiện bản lĩnh kiên cường, thông minh, sáng tạo của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam với một nền ngoại giao nhà nghề, sừng sỏ.

Chủ tịch nước bày tỏ, kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ghi lòng tạc dạ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, người đã đặt nền móng cho nền ngoại giao cách mạng Việt Nam; ghi nhớ công lao của biết bao đồng bào, đồng chí, chiến sỹ đã anh dũng chiến đấu, hy sinh để làm nên những chiến công chói lọi; ghi nhận và đánh giá cao sự đóng góp của các thành viên: Đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa do đồng chí Xuân Thủy làm Trưởng đoàn và Đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do đồng chí Nguyễn Thị Bình làm Trưởng đoàn, đặc biệt là vai trò và những cống hiến to lớn của đồng chí cố vấn Lê Đức Thọ; biết ơn chân thành các nước xã hội chủ nghĩa anh em, bạn bè quốc tế, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ, đã ủng hộ, cổ vũ cho cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân ta vì độc lập, tự do, hòa bình và công lý.

Chủ tịch nước khẳng định, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris để lại nhiều bài học sâu sắc, có ý nghĩa lớn trong tình hình hiện nay.Trước hết là bài học về sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta mở ra mặt trận ngoại giao, phát huy thế mạnh của ngoại giao, phối hợp với các mặt trận chính trị, quân sự; lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, thống nhất các mặt trận, “vừa đánh, vừa đàm”, tạo ra sức mạnh tổng hợp, giành toàn thắng. Thứ hai là bài học về kiên định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, vì lợi ích quốc gia dân tộc; vận dụng đúng đắn phương châm ngoại giao Hồ Chí Minh “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, tạo thời cơ, kéo địch vào đàm phán, chủ động tấn công ngoại giao và kết thúc đàm phán khi điều kiện chín muồi; xử lý hài hòa quan hệ với các nước lớn, đồng thời tranh thủ được sự ủng hộ quốc tế rộng rãi đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta để làm nên thắng lợi của Hội nghị Paris. Thứ ba là bài học về tầm quan trọng của thực lực.

Bác Hồ dạy: “Thực lực là cái chiêng, ngoại giao là cái tiếng. Cái chiêng có to, tiếng mới lớn”. Thắng lợi của Hội nghị Paris bắt nguồn từ những thắng lợi trên chiến trường, từ sự lớn mạnh không ngừng về thế và lực của ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đó là sức mạnh của chính nghĩa, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế; sức mạnh từ sự kết hợp tài tình giữa các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao; giữa đánh và đàm, giữa chiến trường và bàn đàm phán. Thứ tư là bài học về đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế. Để vượt qua những thách thức lớn, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là phương cách cực kỳ quan trọng, bảo đảm thắng lợi.

Cuộc chiến đấu vì độc lập dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân ta thắng lợi vì đã phát huy được sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, sự ủng hộ và giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, thực hiện đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Thứ năm là bài học về xây dựng lực lượng. Từ Hội nghị Geneva năm 1954 đến Hội nghị Paris, đội ngũ cán bộ ngoại giao đã trưởng thành vượt bậc, được chuẩn bị và trang bị kỹ cả về kiến thức đối ngoại và nghệ thuật đàm phán. Cùng với sự chỉ đạo sát sao, Đảng và Nhà nước ta đã chọn lựa, tin tưởng giao trách nhiệm cho những cán bộ đối ngoại bản lĩnh nhất, xuất sắc nhất tham gia hai đoàn đàm phán, góp phần rất quan trọng làm nên thắng lợi của Hội nghị Paris.

Chủ tịch nước nhấn mạnh, các bài học của Hội nghị Paris là hành trang quý giá để đất nước vững bước tiến vào giai đoạn hội nhập quốc tế, đưa quan hệ hữu nghị và hợp tác với tất cả các đối tác đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững, củng cố, nâng cao thế và lực của đất nước. Phát huy truyền thống tốt đẹp của ngoại giao Việt Nam và những bài học quý giá của Hội nghị Paris, công tác đối ngoại cần quát triệt, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ Đại hội XI của Đảng đã đề ra, trong đó cần tập trung tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại;

Kiên định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ; là bạn là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác đối ngoại phục vụ sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước; xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại tuyệt đối trung thành, suốt đời phấn đấu vì lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ngang tầm với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Chủ tịch nước nêu rõ, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn tin tưởng và kỳ vọng rằng, phát huy tinh thần Hội nghị Paris, công tác đối ngoại nhất định sẽ tiếp tục đạt được nhiều thành tựu to lớn hơn nữa; ghi tiếp các mốc son mới trong sự nghiệp xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tại buổi lễ, Chủ tịch nước đã trao tặng Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho hai đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vì những thành tích xuất sắc trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước.

Tại buổi lễ, Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, nguyên trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã phát biểu nhấn mạnh thắng lợi của Việt Nam tại cuộc đàm phán Paris là minh chứng tập trung nhất về sự đúng đắn, tài tình của đường lối sách lược của nền ngoại giao Việt Nam dưới sự lãnh đạo tài tỉnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nguyên Phó Chủ tịch nước nhấn mạnh, nếu không có Tết Mậu Thân 1968, không có cuộc giải phóng tỉnh Quảng Trị và 81 ngày đêm chiến đấu ác liệt xung quanh Thành cổ Quảng trị, không có trận Điện Biên Phủ trên không, không có Miền Bắc- Hậu phương lớn hỗ trợ cho tiền tuyến lớn phía Nam thì không có Hội nghị Paris về Việt Nam, không thể có Đại thắng mùa Xuân năm 1975. Bên cạnh đó, không thể không kể đến hàng triệu, hàng triệu người trên thế giới ở châu Âu, châu Á- Phi- Mỹ la tinh, châu Đại dương, phong trào phản chiến ở Mỹ bằng nhiều hình thức đã góp phần vào thắng lợi của nhân dân Việt Nam.

Đại diện các đoàn khách quốc tế dự buổi lễ, bà Helene Luc, Thượng nghị sĩ danh dự Thượng viện Pháp, Chủ tịch Hội hữu nghị Pháp- Việt nhấn mạnh, Hiêp định Paris cũng là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, những người đã đồng hành ủng hộ, giúp đỡ nhân dân Việt Nam trong suốt cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ. Hiệp định Paris đã củng cố niềm tin của nhân dân yêu chuộng hòa bình và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa; đi vào lịch sử của cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì độc lập, tự do, vì hòa bình và công lý. Sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế trong đó có nhân dân tiến bộ Pháp là một phần của lịch sử kháng chiến chống xâm lược của nhân dân Việt Nam, tiếp tục đồng hành với nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bí thư Đoàn Thanh niên Bộ Ngoại giao Lê Việt Phương thay mặt tuổi trẻ cả nước khẳng định, ý nghĩa lịch sử và các bài học quý báu từ quá trình đàm phán và kí kết Hiệp định Paris là hành trang vô cùng quý giá theo suốt thế hệ thanh niên trên con đường phụng sự Tổ quốc, bày tỏ lòng biết ơn chân thành với cống hiến, công lao to lớn của thế hệ đi trước; nhấn mạnh sẵn sàng nhận nhiệm vụ, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

TTXVN/ Tin tức
baotintuc.vn

Những tấm lòng Việt kiều với Hiệp định Paris

Họ là những nhân tố không thể thiếu góp phần tạo nên thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập Dân tộc và là sự cổ vũ lớn cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới vì tự do và hòa bình.

Triển lãm ảnh về hoạt động của các đoàn đàm phán.

Tại cuộc míttinh kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris (27/1/1973-27/1/2013) về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam diễn ra ngày 24/1 tại trụ sở Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp, nhiều cô bác Việt kiều và bạn bè Pháp yêu mến Việt Nam tham dự mít tinh đã chia sẻ với phóng viên TTXVN những tình cảm đoàn kết, hữu nghị và kỷ niệm gắn bó với nhân dân Việt Nam.

Nhân dịp này, ông Pierre Laurent, bí thư toàn quốc Đảng cộng sản Pháp (PCF), đã bảy tỏ sự biết ơn và sự cám ơn đối với những đảng viên có nhiều đóng góp trong cuộc đấu tranh chống thực dân, những người bạn Pháp luôn bên cạnh nhân dân Việt Nam như Henri Martin, Raymond Dien, Madeleine Rifaud, Charles Fourniau, Raymon Aubarac…

Ông nói không chỉ rất tự hào về điều đó, mà càng tự hào hơn khi các cuộc đàm phán diễn ra tại Paris và các văn kiện lịch sử đã được ký tại tại đây, tạo tiền đề cho Việt Nam kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và thống nhất đất nước.

Đánh giá về sự giúp đỡ và ủng hộ của thành viên PCF, nhân dân tiến bộ vì hòa bình trên toàn thế giới cũng như của cộng đồng người Việt Nam tại Pháp, Đại sứ Dương Chí Dũng khẳng định hỗ trợ của họ cho các đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đoàn đại biểu Chính phủ cách mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam là “những tình cảm tốt đẹp, sự giúp đỡ quý báu”- là “chất kết dính” để bà con tiếp tục tăng cường đoàn kết, gắn bó hơn nữa, giúp đỡ lẫn nhau để xây dựng cộng đồng ngày càng phát triển thịnh vượng.

Nhìn lại 40 năm qua, ông Jean Joel Lemarchand, phó Thị trưởng thứ nhất Choisy-Le-Roi, cho biết ông không thể quên những tình cảm gắn bó ông với Việt Nam khi đó ông là thư ký đặc biệt của nghị sỹ, Thị trưởng thành phố Choisy-Le-Roi, ông Fernand Dupuy, lúc bấy giờ. Những cuộc tiếp đón và làm việc của khi Thị trưởng thành phố Fernand Dupuy với đoàn đại biểu Miền Bắc – Việt Nam đến lưu trú Trường của PCF, nơi ông cũng từng học trong vòng 4 tháng, luôn “trở về đầy ắp trong ông”.

Khi đó, ông là một sinh viên triết học, ông nhớ như in những cuộc biểu tình lớn ủng hộ cuộc chiến tranh chính nghĩa vì hòa bình của nhân dân Việt Nam diễn ra tại Choisy-Le-Roi và Paris, khi ông tham gia và hô lớn tên của bà Bình, hô vang khẩu hiệu “Việt Nam sẽ chiến thắng”. Theo ông, đây là “ngôi trường của hòa bình, tình hữu nghị và sự thân quen”, nó thể hiện tình cảm của thành phố Choisy-Le-Roi đối với bạn bè Việt Nam.

Cũng như ông Jean Joel Lemarchand, bà Raymond Dien, tuy đang phải ngồi xe đẩy nhưng rất sôi nổi và hào hứng khi được hỏi về những tình cảm của mình dành cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam. Ngoài việc tham gia các cuộc biểu phản đối cuộc chiến tranh ở Việt Nam, bà là người nằm ngang đường ray ngăn cản các đoàn tàu chở vũ khí đạn dược sang Việt Nam và đã bị cảnh sát bắt giam. Ngày nay, bà vẫn tiếp tục chia xẻ, ủng hộ nạn nhân và giúp đỡ những đứa trẻ tàn tật bẩm sinh do tác hại của chất độc da cam, những khó khăn của gia đình họ.

Bà Raymond Dien.

Bà Nicole Trampoglieri, chủ tịch Hội hữu nghị Pháp-Việt tại Choisy-le-Roi cho biết, cách đây 40 năm, khi mới 18 tuổi bà đã tham gia biểu tình ủng hộ Việt Nam. Sau đó, khi là sinh viên bà vẫn biểu tình để ủng hộ, bảo vệ Việt Nam, bảo vệ hòa bình và quan hệ hữu nghị giữa hai nước.

Thật cảm động khi bà kể lại, bà không thể nào quên đó khi cô con gái đầu lòng ra đời đúng vào tháng 1/1972 và bà lấy tên “Lan” (tên Việt Nam) đặt cho con, dạy những từ “Hô Chí Minh …chiến thắng”….! (Ho Chi Minh Vaincra) khi con bắt đầu bi bô tập nói.

Bà chia sẻ : “tôi thực sự cảm động vì cuộc kháng chiến vì hòa bình của các bạn”. Theo bà, Việt nam đối với bà đó là “Việt Nam của thế hệ trẻ” – “Việt Nam của sự giác ngộ về chính trị”. Với bà đây thật sự là một tình cảm mãnh liệt và bà luôn “giơ cao ngọn cờ tình hữu nghị Pháp-Việt”.
Bác Lâm Bá Châu – người tham gia lãnh đạo phong trào Việt kiều tại Pháp thời đó.

Trao đổi với phóng viên TTXVN tại Pháp, bác Lâm Bá Châu, người tham gia lãnh đạo phong trào Việt Kiều thực hiện các nhiệm vụ của đoàn giao cách đây 40 năm cho biết thế hệ của bác ai cũng nhớ kỷ niệm sâu sắc nhất là khi các bạn sinh viên quốc tế hết lòng ủng hộ Việt Nam, đặc biệt là sinh viên Mỹ.

Ngoài việc tham gia các cuộc biểu tình của sinh viên ủng hộ chính phủ cách mạng lâm thời Miền Nam, các bạn sinh viên Mỹ không bao giờ ủng hộ cho phái đoàn Mỹ hay chính quyền Sài Gòn. Những sinh viên Mỹ, Pháp hay sinh viên quốc tế khác họ đều phản đối chiến tranh, ủng hộ Việt Nam.
Bác Đào Thị Hoàng Anh, 76 tuổi, cho biết, hồi đó bà được giao việc lo hậu cần, trang trí nhà, tham gia may hơn trăm chiếc màn gió (rideau) cho đoàn đại biểu Việt Nam và lo chỉnh trang trang phục cho bà Nguyễn Thị Bình, bà Dung… ở Verrière-le-Buisson khi đến tham gia đàm phán.

Trước khi đi dự hội nghị, ông Xuân Thủy nói rằng: “Cô Hoàng Anh cố gắng lo trang phục thật đẹp cho các chị, vì sẽ có hàng triệu cặp mắt chăm chú dõi cho nên phải mặc cho phù hợp”.
Bà Hoàng Anh cho biết từ những việc nhỏ nhất, nếu có thể, bà đều sẵn sàng và cố gắng giúp cho đoàn đàm phán.
Làm sao có thể kể hết sự ủng hộ và giúp đỡ của bà con cộng đồng người Việt tại Pháp khi đó. Có những sự ủng hộ công khai, có những sự giúp đỡ thầm lặng, có những điều chỉ có thể cảm nhận, nhưng tất cả đều là những đóng góp vô giá tạo thành quả hôm nay.

Nhóm Phóng viên TTXVN tại Pháp
baotintuc.vn

40 năm ngày ký Hiệp định Paris: Những câu chuyện ít kể

Trong khoảng thời gian gần 5 năm đàm phán Hiệp định Paris, ít ai biết đến những người lính bảo vệ cho đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trên chặng đường hoạt động và đấu tranh tại Pháp. Cũng ít ai hiểu rằng vì sao và bằng cách nào Paris lại được lựa chọn là địa điểm diễn ra cuộc đàm phán… Những ký ức ấy vẫn đậm sâu trong tâm trí những “người trong cuộc”, những nhân chứng lịch sử của một sự kiện ngoại giao lớn.

* Gặp người bảo vệ đoàn đàm phán

Dù 40 năm đã đi qua, nhưng hình ảnh các đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam vẫn in đậm trong tâm tưởng của ông Lê Việt Hưng (Lê Việt Bắc), nguyên Đại tá, nguyên trưởng phòng Bộ Tư lệnh cảnh vệ, nguyên thành viên đội bảo vệ đoàn đám phán.

Cuối tháng 4/1968, là một trong năm đồng chí được Cục cảnh vệ (nay Bộ Tư lệnh cảnh vệ Bộ Công an) giao nhiệm vụ bảo vệ đoàn đàm phán Hiệp định Paris (với 5 bí danh: Bắc, Trung, Nam, Thống, Nhất), ông được mang bí danh Lê Việt Bắc. Ngày 9/5/1968, đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do ông Xuân Thủy dẫn đầu đến Paris. Lúc đầu, đoàn được bố trí ở khách sạn Lutetia, số 45 Đại lộ Raspail, quận 16 Paris . Vài ngày sau, vì nhiều lý do, đoàn đã chuyển đến ở tại Trường Đảng Choisy Le Roi. Đối với ông, được làm nhiệm vụ đảm bảo an ninh cho đoàn đàm phán để chấm dứt chiến tranh, giành lại hòa bình ở Việt Nam là một nhiệm vụ quan trọng và vinh dự lớn . Trong suốt thời gian đó, Choisy le Roi đã được giữ bí mật, tới mức không có mấy người dân ở chính thành phố này biết chỗ đoàn sống và hoạt động. Lực lượng bảo vệ đồng chí Xuân Thủy, đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa gồm 5 người, lực lượng cảnh sát bảo vệ vòng ngoài do Cảnh sát Pháp, với 2 trạm gác đảm nhận.

Do thất bại ở hai miền nước ta, nhất là sau cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, ngày 31/3/1968, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra và đồng ý hội nghị đàm phán với đại diện của Chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hòa, sau đó với đại diện của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Từ đây, ông Lê Việt Hưng được chuyển qua bảo vệ cho đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Sau gần 3 năm làm nhiệm vụ, ông Hưng vinh dự tự hào đã góp phần bảo đảm an toàn tuyệt đối cho hai đoàn đàm phán, giành thắng lợi lớn trên mặt trận ngoại giao… Trong quá trình công tác, ông được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Tự do, do Chính phủ Lào tặng và nhiều huân, huy chương khác… Năm 1993, ông nghỉ hưu tại xóm Đồng Văn, xã Hùng Tiến, huyện Nam Đàn (Nghệ An) với quân hàm Đại tá. Nay ông đã tròn 80 tuổi đời, 50 tuổi Đảng.

* Paris, địa điểm tốt cho cuộc đàm phán

Ngày 31/3/1968, Tổng thống Mỹ L.B Giôn-xơn tuyên bố ngừng ném bom Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra và đề nghị cùng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nói chuyện. Ngày 3/4/1968, Chính phủ ta tuyên bố đồng ý cử đại diện tiếp xúc với phía Mỹ nhằm xác định việc Mỹ chấm dứt hoàn toàn và không điều kiện việc ném bom Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để hai bên có thể bắt đầu các cuộc nói chuyện về thực chất. Từ ngày 4/4 cho đến cuối tháng 4/1968, hai bên đưa ra những địa điểm để cùng chọn cho cuộc nói chuyện.

Từng tham gia nhiều công việc trước và sau Hiệp định Paris, trong đàm phán “bí mật” và đàm phán công khai, chứng kiến nhiều sự kiện thể hiện những thuận lợi cho ta của địa điểm Paris, ông Võ Văn Sung, nguyên Tổng đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pháp trong thời gian đàm phán Paris, nguyên Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Pháp cho biết: “Paris là địa điểm đàm phán mà ta và Mỹ đã nhất trí lựa chọn theo đề xuất của ta. Qua những gì xảy ra, cho đến giờ, tôi càng thấy Paris quả là địa điểm rất tốt cho ta trong cuộc đàm phán với Mỹ. Phía Mỹ từng đồng ý với ta họp ở Paris hai bên, rồi bốn bên, nhưng sau ngày 27 tháng Giêng 1973, họ lại tỏ ra không thích địa điểm này lắm. Khi cùng ta bàn việc họp Hội nghị Quốc tế về Việt Nam cuối tháng 2 năm 1973, ban đầu Mỹ không muốn chọn Paris làm địa điểm. Nhưng do ta kiên trì và vì những lý do khác, cuối cùng phía Mỹ mới chịu đồng ý”.

Theo nhận định của ô ng Võ Văn Sung: Nhìn tổng quát, có thể nói Paris là địa điểm có môi trường đàm phán, đấu tranh dư luận, tranh thủ quốc tế vào loại tốt nhất cho hai Đoàn đàm phán của ta, trong đó những yếu tố thuận lợi là: chính giới Pháp, phong trào quần chúng, lực lượng cánh tả, báo giới và đặc biệt là cộng đồng người Việt tại Pháp. Chính phủ Pháp đã rất hoan nghênh việc ta đề nghị chọn Paris làm địa điểm đàm phán và đã tạo mọi thuận lợi cho các cuộc đàm phán (đàm phán hai bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ năm 1968; đàm phán bốn bên từ năm 1969 đến 1973; đàm phán “bí mật” Lê Đức Thọ-Kissinger từ năm 1970 đến 1973 và cuộc đàm phán hai bên miền Nam Việt Nam ở La Celle-Saint Cloud từ tháng 3/1973 đến tháng 4/1974).

Nhớ những kỷ niệm trong 12 ngày đêm Mỹ dội bom Hà Nội năm 1972, ông Võ Văn Sung kể lại: “Trong những ngày đó, gần như ngày nào ông Bộ trưởng Ngoại giao Pháp lúc đó là Maurice Schuman và tôi cũng có những cuộc gặp, có lúc còn gọi điện thoại cho nhau cả vào đêm khuya để thông tin tình hình và trao đổi ý kiến vì phía Pháp cần có thông tin để có thái độ và phía ta cũng mong muốn phía Pháp góp phần lên án cuộc ném bom của Mỹ vào Hà Nội. Đối với cuộc đàm phán, Chính phủ Pháp đã tạo mọi thuận lợi cho các đoàn, đặc biệt là cảnh sát Pháp đã rất vất vả để lo an ninh cho các đoàn trong năm năm. Theo tôi biết, trong lịch sử của Trung tâm Hội nghị Quốc tế ở Kleber, chưa hề có cuộc thương lượng quốc tế nào chiếm dụng phòng họp của Trung tâm liên tục gần 5 năm như cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Hoa Kỳ”.

Viết Hùng – Nguyễn Hồng Điệp
baotintuc.vn

Hiệp định Paris – đỉnh cao nghệ thuật ‘vừa đánh vừa đàm’

Bị thất bại nặng nề trên chiến trường miền Nam và trong chiến dịch 12 ngày đêm đánh phá Hà Nội bằng B52, ngày 27/1/1973, Hoa Kỳ buộc phải ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Kéo dài suốt 5 năm với gần 250 cuộc họp và gặp riêng, Hội nghị Paris là đỉnh cao nghệ thuật “vừa đánh vừa đàm” của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Thắng lợi của cuộc đàm phán đã buộc Mỹ phải rút hoàn toàn quân xâm lược về nước, mở đường cho cuộc Tổng tiến công mùa xuân 1975, kết thúc oanh liệt cuộc kháng chiến chống ngoại xâm kéo dài suốt 30 năm của dân tộc Việt Nam, thu trọn non sông về một mối.

Nhân kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Paris, Thông tấn xã Việt Nam trân trọng giới thiệu những bức ảnh tư liệu về Hội nghị Hòa bình Paris về Việt Nam:

Ngày 3/6/1968, đông đảo các chính khách và Việt kiều tại Paris ra sân bay Bretigny (Pháp) đón đ/c Lê Ðức Thọ, Cố vấn đặc biệt của đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam tại Hội nghị Paris. Ảnh: Văn Lượng-TTXVN.

Sáng 4/11/1968, Đoàn đại biểu Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam do Bà Nguyễn Thị Bình, Phó Trưởng đoàn dẫn đầu đến Paris (Pháp) dự Hội nghị bốn bên về Việt Nam. Ảnh: Văn Lượng-TTXVN.

Chữ ký của các các bên trong Văn bản Hiệp định Chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Ảnh: Tư liệu TTXVN.

Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta đón Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Bộ ngoại giao Nguyễn Duy Trinh ở Phủ Chủ tịch sau khi ký Hiệp định Paris trở về Việt Nam. Đông đảo đại diện các đoàn ngoại giao đến chúc mừng, chia vui trước thắng lợi lịch sử của nhân dân ta. Ảnh: Tư liệu – TTXVN.

Quang cảnh Cuộc nói chuyện chính giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Hoa Kỳ về hòa bình tại Việt Nam tại Phòng họp Trung tâm Hội nghị Quốc tế ở Paris ngày 13/5/1968. (Đoàn Việt Nam ngồi phía bên phải).  Ảnh Tư liệu – TTXVN.

Ngày 9/5/1968, đông đảo kiều bào Việt Nam và nhân dân Paris cùng các phóng viên quốc tế tập trung tại sân bay Bourget đón đồng chí Xuân Thủy, đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến tham dự cuộc đàm phán với đại diện Chính phủ Mỹ về hòa bình tại Việt Nam. Ảnh Tư liệu – TTXVN.

Ngày 25/01/1969, Hội nghị bốn bên về Hòa bình tại Việt Nam chính thức khai mạc phiên toàn thể đầu tiên, gồm 4 đoàn đại biểu: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa. Ảnh:Tư liệu – TTXVN.

Thái độ lật lọng và hành động leo thang chiến tranh của chính quyền Mỹ đã gây nên một làn sóng phản đối mạnh mẽ khắp thế giới. Ngày 20/01/1973, cùng với hàng trăm cuộc biểu tình chống chiến tranh nổ ra ở nhiều nước trên thế giới, nhân dân Mỹ tổ chức biểu tình lớn ở Thủ đô Oasinhtơn, trong khi Richard M.Nixon làm lễ nhậm chức Tổng thống, đòi Mỹ ký ngay Hiệp định hòa bình, chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam. Ảnh: Tư liệu – TTXVN.

Thực hiện Hiệp định Hòa bình Paris, trong hai ngày 28 và 29/3/1973, tại sân bay Gia Lâm, 107 nhân viên quân sự Mỹ (đợt cuối cùng) được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trao trả cho Hoa Kỳ. Ảnh: Văn Bảo – TTXVN.

Hiệp định Hòa bình Paris được ký kết, Mỹ buộc phải rút quân về nước. 11h30 phút ngày 30/4/1975, xe tăng Quân giải phóng đánh chiếm Dinh Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn, kết thúc oanh liệt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Ảnh: Mai Hưởng – TTXVN.

TTXVN/ Tin tức
baotintuc.vn

Sống lại những kỷ niệm về ngày ký Hiệp định Pari

Kỷ niệm tròn 40 năm sự kiện ký kết Hiệp định Pari (27/1/1973), triển lãm “Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam”, do Cục Mỹ thuật Nhiếp ảnh và Triển lãm phối hợp với Bộ Ngoại giao tổ chức tại Hà Nội, đã khai mạc ngày 23/1.

Bà Nguyễn Thị Bình, Trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hội nghị Pari

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, từng là Trưởng đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời tại Hội nghị Pari, là nhân chứng lịch sử cho sự kiện quan trọng này đã tới tham dự triển lãm, cùng lãnh đạo các Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch…

Triển lãm trưng bày gần 150 bức ảnh, 21 lời trích, 23 hiện vật, 3 tài liệu, 8 cuốn sách, trong đó có những hiện vật quý lần đầu được trưng bày như văn bản gốc Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam; con dấu và biển tên của đoàn Chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam; hai cây bút được đã được đoàn Việt Nam sử dụng để ký kết Hiệp định và Định ước quốc tế công nhận Hiệp định; chiếc xoong nhôm dùng để quấy xi măng niêm phong bản Hiệp định… Triển lãm còn trưng bày nhiều hiện vật rất đặc biệt như cuốn sổ tập hợp 10.000 chữ ký của nhân dân Cuba phản đối chiến tranh và ủng hộ nhân dân Việt Nam, các cuốn tư liệu về cuộc chiến tranh ở Việt Nam được mang về từ Mỹ…

Với những tư liệu quý cùng những bức ảnh ghi lại dấu ấn của những giây phút quan trọng trong tiến trình đi đến ký kết Hiệp định Pari, người xem có thể cảm nhận được toàn cảnh cuộc đấu tranh bền bỉ, kiên cường, mưu trí, khôn khéo và đầy bản lĩnh của những nhà ngoại giao cách mạng Việt Nam trên bàn đàm phán; sự kết hợp tài tình giữa ba mặt trận quân sự – chính trị – ngoại giao; sự ủng hộ, cổ vũ của nhân dân các nước, những người tiến bộ, yêu chuộng hòa bình và công lý; cả những giây phút khó khăn cũng như những giây phút xúc động, hân hoan trong niềm vui chiến thắng…

Phát biểu tại triển lãm, bà Nguyễn Phương Nga, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao khẳng định: Những tư liệu quý trưng bày tại triển lãm sẽ góp phần giúp cho người xem, cả bạn bè quốc tế, người dân Việt Nam và đặc biệt là thế hệ trẻ, có thể hiểu thêm về truyền thống đấu tranh, lịch sử hào hùng của dân tộc cũng như là nghệ thuật ngoại giao của Việt Nam, bản lĩnh, trí tuệ của dân tộc Việt Nam. Đây là những tư liệu vô cùng quý giá, những di sản rất quan trọng có thể để lại cho thế hệ sau này, qua đó để cho thế hệ trẻ hiểu được rằng nền độc lập mà họ đang được hưởng đã phải đánh đổi bằng nhiều xương máu của cha ông, và học tập tinh thần đó trong tương lai xây dựng đất nước.

Ông Phạm Ngạc, thông dịch viên và là thư ký trong cuộc đàm phán Hiệp định, không giấu nổi những xúc động khi xem triển lãm: “Được nhìn lại những tư liệu, xem các bức ảnh ghi lại từng bước, từng dấu mốc lịch sử của cuộc đàm phán cam go ngày ấy, tôi như được sống lại những giây phút đáng nhớ nhất khi được trực tiếp chứng kiến buổi ký kết, cũng như được sống lại những ngày tháng hào hùng đó của dân tộc. Cả tôi và những người đã từng đi qua những năm tháng đó thật sự cảm thấy xúc động và tự hào về sự tài tình của người Việt Nam, về tinh thần kiên định, đấu tranh không mệt mỏi cho nền hòa bình của dân tộc”.

Theo Ban tổ chức, triển lãm “Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam” là triển lãm lớn nhất về sự kiện ký Hiệp định Pari từ trước tới nay, góp phần làm sống lại những giây phút quan trọng trong tiến trình đầy cam go của cuộc đấu tranh để tiến tới ký kết Hiệp định Pari trên cả ba mặt trận chính trị – quân sự – ngoại giao, buộc Mỹ phải rút hết quân và đồng minh ra khỏi Việt Nam, tạo bước ngoặt mở đường cho thắng lợi mùa xuân 1975 thống nhất đất nước sau này.

Tạ Nguyên
baotintuc.vn

Kỷ niệm Ngày ký hiệp định Pari và Chiến thắng Stalingrad tại Nga

Chiều 22/1, tại Moscow, Hội Hữu nghị Nga – Việt phối hợp cùng Đại sứ quán nước ta đã tổ chức kỷ niệm lần thứ 40 ngày ký Hiệp định Paris (27/01/1973-27/01/2003) và lần thứ 70 ngày Chiến thắng Stalingrad trong cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của nhân dân Liên Xô (02/02/1943-02/02/2013).

Hai sự kiện dù xảy ra ở hai thời điểm lịch sử, hai bối cảnh khác nhau, nhưng lại có sự liên quan chặt chẽ, là mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh giữ nước của hai dân tộc.

Tham dự lễ kỷ niệm về phía Việt Nam có Đại sứ Phạm Xuân Sơn cùng đại diện các phòng, ban của Đại sứ quán. Về phía Nga có các ông Vladimir Buyanov, Chủ tịch Hội Hữu nghị Nga-Việt, ông Anatoly Pozdeev, Thiếu tướng, cựu chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam; các cựu chiến binh Liên Xô trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại; đại điện Hội Cựu chiến binh thành phố Moscow; con em một số anh hùng Xô Viết đã ngã xuống trong trận Xtalingrát và đông đảo sinh viên nghiên cứu chuyên ngành lịch sử của Học viện Kinh tế và pháp luật.

Phát biểu tại buổi lễ, Đại sứ Phạm Xuân Sơn nhấn mạnh chiến thắng của nhân dân Liên Xô trong trận Stalingrad đã góp phần cổ vũ tinh thần to lớn dẫn đến thành công của cuộc cách mạng tháng 8/1945 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau này, với sự ủng hộ về ngoại giao, sự trợ giúp thiết thực bằng vật chất của nhân dân Liên Xô, Việt Nam đã đạt được thắng lợi trong quá trình đấu trí cam go, buộc Mỹ phải đặt bút ký Hiệp định Pari lịch sử năm 1973 và sau đó quân và dân ta giành chiến thắng trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử thống nhất hoàn toàn đất nước vào năm 1975. Đại sứ cho rằng việc tổ chức kỷ niệm thường niên hai sự kiện lịch sử này có giá trị giáo dục to lớn đối với thế hệ trẻ hai nước, giúp ôn lại quá khứ hào hùng của cha ông và tiếp thêm sức mạnh để các thế hệ mai sau vững tin trên con đường xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Phát biểu bày tỏ cảm xúc, Thiếu tướng Pozdeev cho biết, những người đương thời với ông vẫn tự hào gọi Chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không là Stalingrad của Việt Nam bởi quy mô cuộc chiến, lòng yêu nước và ý chí quyết tâm của hai dân tộc đã cùng tạo nên bước ngoặt lịch sử.

Đại diện cho các nữ cựu chiến binh từng tham gia trận đánh Stalingrad, bà Marina Rokhlina chia sẻ những ký ức khủng khiếp về thời bom đạn; mong muốn các bạn trẻ hôm nay không chỉ nghe, không chỉ biết mà còn phải ghi nhớ để nhắc nhở con cháu rằng đã có một cuộc chiến tranh tàn khốc như thế trong lịch sử dân tộc. Nhiều đại diện là con em các anh hùng Liên Xô đã ngã xuống trong trận Stalingrad bày tỏ ký ức họ còn lưu giữ về những người ông, người cha đã hy sinh để bảo vệ Tổ Quốc.

Các đại biểu tham dự lễ kỷ niệm cùng nhau xem lại những trích đoạn phim tư liệu phản ánh cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của nhân dân Liên Xô và cuộc chiến giành độc lập dân tộc của quân và dân Việt Nam.

TTXVN/Tin tức
baotintuc.vn

Nhà ngoại giao Lê Đức Thọ tại Hội nghị Pari

Kỷ niệm 40 năm ngày ký hiệp định pari (27/1/1973 – 27/1/2013):

Trong cuộc hội thảo “Lê Đức Thọ với cách mạng Việt Nam và quê hương Nam Định” do Tỉnh ủy Nam Định, Ban Tổ chức Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương và Học viện Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh đồng tổ chức nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên nói: “Lê Đức Thọ là nhà ngoại giao khổng lồ”.

Ông Nguyễn Dy Niên nói tiếp: “Ông ấy khổng lồ ở chỗ đối phương đối thoại với ông là Kissinger – một nhân vật rất lớn của Mỹ thời đó. Kissinger lúc ấy là cố vấn an ninh của Tổng thống Mỹ Nixon, Kissinger đã từng bí mật gặp gỡ Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai và sau đó là Brezhenev, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô cũ để nhờ ba vị này ép ta ký kết hiệp định hòa bình theo các điều kiện của Mỹ – Tác giả). Kissinger rất ngạo mạn, tưởng có thể đè bẹp được ta. Nhưng Kissinger đã không thể làm được vì Lê Đức Thọ đại diện cho chính nghĩa. Điều làm nên thành công của Lê Đức Thọ là ông đã nhuần nhuyễn, có trí tuệ để thực hiện điều mình cần và mục tiêu đề ra. Chẳng hạn vấn đề Mỹ phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam. Kissinger đòi nếu Mỹ rút thì miền Bắc Việt Nam cũng phải rút quân khỏi miền Nam. Ông Lê Đức Thọ cho rằng Mỹ đánh đồng như thế là không được. Với trí tuệ của mình, ông đã tìm ra giải pháp như sau: Vấn đề quân đội Việt Nam ở lãnh thổ Việt Nam thì do các bên Việt Nam giải quyết với nhau. Còn việc Mỹ phải rút quân là bắt buộc. Trí tuệ của ông là tìm ra được một giải pháp mà giải pháp đó lại đúng với lợi ích của ta… Cái khó trong ngoại giao đối với nhà đàm phán là lúc nào thì “nhu”, lúc nào thì “cương’’, thậm chí lúc nào thì nặng lời với đối phương. Ông Lê Đức Thọ đã thành công trong việc ứng xử linh hoạt này, khiến Kissinger phải nể phục…’’.

Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ trao tặng bút cho tiến sĩ Kissinger sau khi hai bên ký tắt “Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” ngày 23/1/1973. Ảnh: Văn Lượng-TTXVN

Khi thương lượng bí mật với Kissinger tại Pari, ông Lê Đức Thọ đã ở tuổi 60, trong khi Kissinger mới ngót 50 tuổi lại rất khỏe mạnh. Kissinger lúc nào cũng muốn gặp ông Lê Đức Thọ vào buổi tối và cố tình kéo dài tới thật khuya, thậm chí tới tảng sáng hôm sau, nhằm làm cho ông Thọ mệt mỏi, thiếu minh mẫn hòng tìm cách lừa ông có những đối sách không có lợi cho ta.

Nhưng ông Lê Đức Thọ lúc nào cũng tỉnh táo, vững như bàn thạch, và khi nào mệt mỏi quá thì ông đề nghị phía Mỹ nghỉ giải lao để giải khát và đi bách bộ ra vườn quanh biệt thự để bàn bạc với các thành viên khác trong đoàn ta.

Sau hơn bốn năm đàm phán, ngày 8/10/1972 ta chủ động đưa ra dự thảo hiệp định và sau hơn 10 ngày bàn bạc và bổ sung, Kissinger báo cáo về Mỹ và Nixon đã nói hiệp định xem như đã hoàn thành. Kissinger tuyên bố “Hòa bình đã ở trong tầm tay”. Phía ta muốn có được hiệp định trước cuộc bầu cử tổng thống Mỹ và dự định ký hiệp định vào tuần cuối cùng của tháng 10/1972. Nhưng ngày 23/10/1972, Nixon gửi thư cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng và thông báo rằng, do chính quyền Sài Gòn ngăn cản nên Mỹ đề nghị có thêm một cuộc gặp bí mật nữa. Chính phủ ta đã vạch mặt sự tráo trở của Mỹ và công bố nội dung Hiệp định hòa bình đã được ta và Mỹ thỏa thuận cùng hai bức điện của Nixon gửi Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Mỹ bị dồn vào chân tường. Mãi đến ngày 20/11/1972 ta và Mỹ mới gặp lại nhau. Và tại cuộc gặp này, Lê Đức Thọ đã lên án Kissinger và chính quyền Mỹ lật lọng. Kissinger nhũn như con chi chi ngồi chịu trận, và chiều hôm đó ông ta đòi sửa tới hơn 60 câu chữ trong hiệp định đã thỏa thuận. Ta chỉ đồng ý sửa một vài chi tiết không thực chất, không chấp nhận sửa những vấn đề thuộc về nguyên tắc và cuộc họp đi vào bế tắc.

Ngày 14/12 Kissinger về Mỹ bàn bạc thêm, ngày hôm sau Lê Đức Thọ rời Pari về nước để báo cáo với Bộ Chính trị chuẩn bị tình huống xấu nhất. Chiều 18/12, Lê Đức Thọ vừa từ sân bay Gia Lâm về đến nhà ở phố Nguyễn Cảnh Chân thì đêm 18/12/1972 Mỹ cho B.52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng và nhiều nơi khác. Chúng ta đã giáng trả đích đáng, hạ 81 máy bay Mỹ trong 12 ngày này trong đó tiêu diệt 34 chiếc B.52 như mọi người đã biết.

Ngay trong ngày 18/12, Mỹ gửi thư yêu cầu ta quay lại bàn đàm phán vào ngày 26/12, nhưng ta từ chối. Và sau chiến thắng B.52 trên bầu trời Hà Nội, nghe nói trên đường trở lại Pari Lê Đức Thọ mang theo một mảnh xác máy bay B.52 để “tặng” Kissinger trong cuộc gặp ngày 8/1/1973.

Buổi gặp hôm đó, Lê Đức Thọ đến địa điểm trước và đoàn ta không ra cổng đón Kissinger như mọi khi, chỉ có người bảo vệ Pháp ra mở cổng cho đoàn xe của Kissinger vào. Chắc đoàn Mỹ cũng hiểu ý nghĩa sự lạnh nhạt đó của phía ta.

Lê Đức Thọ mở màn cuộc gặp như sau: ”Các ông lấy cớ đàm phán gián đoạn để ném bom lại miền Bắc Việt Nam giữa lúc tôi vừa về đến Hà Nội có thể nói là rất “lịch sự”! Tôi có thể nói rằng hành động của các ông rất trắng trợn và thô bạo. Các ông tưởng rằng làm như vậy là có thể khuất phục được chúng tôi, nhưng các ông đã nhầm… Chính các ông đã làm cho cuộc đàm phán khó khăn, chính các ông đã làm cho danh dự nước Mỹ bị hoen ố!”.

Lê Đức Thọ đòi Mỹ chấm dứt thủ đoạn thương lượng trên thế mạnh và đi vào đàm phán nghiêm chỉnh. Kissinger không hăng hái bào chữa như những lần trước, chỉ thanh minh rằng sở dĩ có những việc vừa qua là vì cách đàm phán của Việt Nam trong tháng 12 làm cho Mỹ và Việt Nam kéo dài đàm phán, không muốn giải quyết…

Sau mấy ngày đàm phán, ngày 20/1/1973 kết thúc. Ngày 23/1 các bên ký tắt hiệp định, ngày 27/1/1973 Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh được 4 bên chính thức ký kết. Hòa bình được lập lại ở Việt Nam, tiếp đó là ở Lào và cuối cùng là ở Campuchia. Hai ngày sau Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh, Bộ trưởng Xuân Thủy về đến Hà Nội trong niềm vui khôn tả của nhân dân cả nước.

Đầu tháng 2/1973, Kissinger đến Hà Nội, Lê Đức Thọ đón và đưa ông ta tới thăm Bảo tàng Cách mạng Việt Nam. Ông dẫn Kissinger tới chỗ văn bia của Lý Thường Kiệt và nói bài “Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế Cư’’ chính là lời tuyên bố về chủ quyền của Việt Nam cũng giống như bài “Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi vậy. Ai không tôn trọng chủ quyền của Việt Nam thì đều bị Việt Nam chống lại và đánh cho thất bại.

Nguyễn Như Kim
baotintuc.vn

Kỷ niệm 40 năm ngày ký hiệp định Pari- Bài cuối: Trường đời ở Pari

Gần 5 năm diễn ra cuộc đàm phán ở Pari, khi các chiến sỹ, nhân dân Việt Nam không quản ngại khó khăn, gian khổ để chiến đấu giữ gìn từng tấc đất với kẻ thù, thì trên bàn đàm phán, các “chiến sỹ ngoại giao” cũng từng giờ, từng phút đấu tranh bằng lý lẽ với đối phương để đi đến thỏa thuận về bản Hiệp định hòa bình, chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.

“Không bao giờ khuất phục!”

Năm 1972 là giai đoạn đi vào thương lượng cụ thể. Hồi đó lập trường của hai bên khác nhau lắm, Mỹ muốn rút, nhưng muốn giữ nguyên chế độ Thiệu – Kỳ, mà lại không công nhận chính phủ Lâm thời. Lúc bấy giờ đã đi vào thảo luận về Hiệp định rồi, hôm trước vừa thỏa thuận như thế, nhưng hôm sau họ lật lại. Mỹ luôn lấy cớ rằng chính quyền Sài Gòn không chấp nhận. Ở nhà, đồng chí Lê Duẩn đã dặn đồng chí Lê Đức Thọ: “Anh sang bây giờ, anh sẽ là Tư lệnh ở mặt trận ngoại giao, làm thế nào thì làm, nhưng anh phải đạt được là “quân Mỹ rút ra, quân ta ở lại”. – ông Lưu Văn Lợi, nguyên thư ký của Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ nhớ lại.

Từ ngày 19/7 tới đầu tháng 10/1972, các cuộc gặp riêng đã có những tiến triển khả quan. Trong phiên họp riêng kéo dài lâu nhất trong suốt gần 5 năm đàm phán, từ 9 giờ 30 phút sáng 11/10/1972 tới gần 2 giờ sáng ngày hôm sau, nội dung Hiệp định về cơ bản đã được hai bên chấp nhận. Trong thông điệp ngày 20/10/1972 gửi Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Tổng thống Mỹ Nixon đã xác nhận “văn bản Hiệp định coi như đã hoàn thành” và cam kết Hiệp định sẽ được chính thức ký kết ngày 31/10/1972 tại Pari. Kissinger thông báo với báo giới: “Hòa bình trong tầm tay”! Tuy nhiên, khi Nixon tái đắc cử tổng thống Mỹ nhiệm kỳ 2 đã tìm cách lật lọng, đưa ra những yêu sách nhằm phá bỏ những thỏa thuận trước đó. Trong cuộc họp hẹp với Kissingger sáng 4/12/1972, Cố vấn Lê Đức Thọ nói: “Chúng tôi cũng đã dự tính là nếu không giải quyết được thì chiến tranh sẽ rất tàn khốc, có thể là các ông sẽ đem B52 đánh bom ồ ạt đất nước chúng tôi… Chúng tôi đã chịu đựng hàng triệu tấn bom đạn của Mỹ, nhưng chúng tôi không hề khiếp sợ, chúng tôi không bao giờ khuất phục, không bao giờ làm nô lệ. Cho nên những lời đe dọa của các ông và việc các ông không giữ đúng lời hứa chỉ chứng tỏ các ông không phải là những người đàm phán nghiêm chỉnh”.

Theo ông Lưu Văn Lợi, sau phiên họp ngày 13/12/1972, ngày 14/12 Kissingger rời Pari, ngày 15/12 phái đoàn ông Lê Đức Thọ cũng rời Pari. “Khoảng hơn 6 giờ chiều ngày 18/12/1972 đoàn về đến sân bay Gia Lâm. Khoảng hơn 2 tiếng sau thì B52 trút bom xuống Hà Nội và các nơi khác. Trời đất sáng rực vì tên lửa và cao xạ bắn lên, đất rung chuyển ầm ầm, ông Lợi nhớ lại.

Việc dùng B52 ném bom Hà Nội thất bại đã phá tan “giấc mộng” đảo ngược tình thế của Mỹ, dư luận thế giới phê phán và phản đối kịch liệt. Mỹ không còn lựa chọn nào khác là phải ngừng ném bom và quay lại bàn đàm phán.

Ngày 6/1/1973, Cố vấn Lê Đức Thọ tới Pari trong hào quang của “chiến thắng Điện Biên Phủ trên không”. Ngày 8/1/1973, cuộc đàm phán bốn bên tại Pari được nối lại sau trận “Điện Biên Phủ trên không”. Hôm ấy, khi đoàn Mỹ đến cổng, không có bất cứ thành viên nào của đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra cửa đón như thông lệ. Kissinger phải tự mình mở cửa vào nhà, tự tìm lối vào phòng họp. Ở đó, đoàn của ta đã ngồi đợi sẵn, ai nấy đều tỏ thái độ lạnh lùng. Ngay khi bắt đầu phiên họp, Cố vấn Lê Đức Thọ đã rất nhẹ nhàng và mỉa mai khi nói chuyện với Kissinger và giới ngoại giao ở Pari: “Mỹ đã đón tiếp khi tôi trở về Hà Nội “hết sức lịch sự”… Và rồi ông gay gắt: “Các ông kiếm cớ thương lượng bị gián đoạn, để dùng B52 đánh vào Hà Nội. Hành động của các ông thật là trắng trợn và rất thô bạo. Các ông tưởng rằng làm như vậy là có thể khuất phục được chúng tôi, nhưng các ông nhầm. Chính các ông đã làm cho cuộc đàm phán khó khăn, chính các ông, chứ không phải ai khác đã làm cho danh dự nước Mỹ bị hoen ố…”. Kissinger lúc đó rất lúng túng, chỉ biết phân bua: “Đó không phải là trách nhiệm của tôi. Việc ném bom B52 xuống Hà Nội không phải là lỗi của tôi”.

Chưa bao giờ, những người có mặt trong buổi gặp mặt hôm đó lại thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như vậy. Ông đập bàn và nói: “Hơn mười năm nay, Mỹ đã dùng bạo lực để khuất phục nhân dân Việt Nam, bom napan, B52. Nhưng các ông đã không rút ra được bài học nào từ những thất bại đó. Thật là ngu xuẩn, ngu xuẩn, ngu xuẩn”. Khi ông ngừng lời, người phiên dịch của đoàn Việt Nam nhìn xuống sàn nhà, không muốn dịch mấy từ cuối cùng. Nhưng các thành viên trong phái đoàn Mỹ không những đã dịch nốt, còn nhấn mạnh thêm mấy từ cuối: “Stupid! Stupid! Stupid!”. Khi đó, Kissinger càng lúng túng, đề nghị: “Tôi có nghe những tính từ, tôi đề nghị không dùng những từ đó”. Nhưng ông Lê Đức Thọ trả lời: “Những từ đó tôi dùng đã là kiềm chế lắm rồi, chứ dư luận thế giới, các nhà báo và cả những người Mỹ còn dùng những câu chữ dữ dội hơn nhiều”. Và ông Thọ tiếp tục nói liền một tiếng đồng hồ không hề bớt gay gắt. Thậm chí có lúc, Kissinger đã xin ông hạ giọng bớt để các nhà báo đang tụ tập bên ngoài không nghe được, nhưng ông phớt lờ.

Ngày 23/1/1973, Hiệp định Pari được ký tắt với nội dung cơ bản như bản Dự thảo mà ta đưa ra hồi tháng 10/1972. Khi ký tắt xong, Kissinger trao cây bút mà ông ta vừa ký cho ông Lê Đức Thọ và nói: “Tôi xin tặng ông cây bút này để nhớ mãi ngày lịch sử này”. Ông Lê Đức Thọ tươi cười nhận và tặng lại Kissinger cây bút mình vừa ký và nói: “Tôi tặng lại ông cây bút này – và xin ông nhớ cho ký rồi phải giữ lấy lời nhé!”. Sau đó, ngày 26/1, Cố vấn Lê Đức Thọ đi Mátxcơva nên ông Lợi không được dự lễ ký chính thức hôm 27/1/1973.

Và mùa xuân thắng lợi

Ông Lợi nhớ lại, Tết năm 1973 cũng rất đặc biệt, đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ăn Tết ở 3 nước. Tại Pari, các thành viên trong đoàn được ăn một cái Tết hoành tráng do hội Việt kiều tại Pháp tổ chức. Đêm đón Tết năm ấy có những người bạn quốc tế đặc biệt: Diễn viên điện ảnh nổi tiếng của Mỹ là Jane Fonda, cùng hai ca sỹ là Joan Baez (người Mỹ) và Hugues Aufray (người Pháp). Họ đã cùng cất cao tiếng hát ủng hộ, chia sẻ mất mát chiến tranh với Việt Nam. Hôm đó còn có khoảng 6.000 người Việt ở Pháp và các nước lân cận, các quan khách Pháp và quốc tế cũng đến vui Tết Việt ở Pari.

Đến sáng 26/1, Cố vấn Lê Đức Thọ về Mátxcơva. Ngay tối hôm đó, Liên Xô tổ chức mít tinh hoành tráng ở Nhà Công đoàn, có các nhà lãnh đạo Liên Xô đến dự. Máy bay đưa đồng chí Lê Đức Thọ lại quay sang Pari đón đồng chí Nguyễn Duy Trinh, rồi cả đoàn cùng về nhà. Máy bay dừng lại Bắc Kinh đúng chiều 30 Tết. Để chúc mừng Việt Nam đạt được thắng lợi ở Pari, các bạn Trung Quốc nhất định giữ đoàn ở lại đón giao thừa tại Bắc Kinh. Thật thú vị, trong bữa cơm đón giao thừa ở Bắc Kinh, cả đoàn ngạc nhiên và cảm động khi thấy mâm cơm ngày Tết lại có nem, có bánh chưng… Thì ra, bữa tiệc giao thừa năm đó được chế biến bởi một đầu bếp Trung Quốc vừa đi học nấu ăn ở Việt Nam về. Bữa tiệc liên hoan mừng năm mới đó cũng rất vui, nhưng vui nhất vẫn là khi về Việt Nam.

Đoàn về nước đúng hôm mùng 1 Tết, xông đất Việt Nam. Ngay ngày mùng 2 Tết năm Quý Sửu (tức ngày 4/2/1973), Cố vấn Lê Đức Thọ đã lên đường đến thăm các cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn tên lửa 77, Sư đoàn phòng không Hà Nội, Đại tá Trần Văn Giang, Chính ủy sư đoàn, thay mặt đơn vị chào mừng “lão tướng chiến thắng từ mặt trận ngoại giao trở về”. Cố vấn Lê Đức Thọ xua tay nói: “Không, không! Cán bộ, chiến sĩ phòng không không quân anh hùng mới chính là người chiến thắng. Không có chiến thắng của các đồng chí trên mặt trận quân sự, thì sẽ không có chiến thắng ở mặt trận ngoại giao. Các đồng chí đã bắn rơi B52 trên bầu trời Hà Nội và chính cái đó đã buộc Mỹ ký Hiệp định Pari ngày 27/1/1973. Chính các đồng chí đã cho tôi sức mạnh và sự kiên quyết trước kẻ thù trên bàn Hội nghị”.

Ông Lợi đã từng ví, Hội nghị Pari như một cái lò luyện cho những cán bộ tham gia Hội nghị. Ông bảo, gần 5 năm trời, Hội nghị như một trường học ngoài đời đã đào tạo nhiều người trưởng thành hơn, bản lĩnh hơn. Không chỉ tôi luyện trí tuệ, bản lĩnh cho các cán bộ của ta, mà Hội nghị Pari những năm ấy còn cảm hóa bao nhiêu thế hệ không chỉ người Việt Nam. Có những người Pháp đang đi làm ở công ty, đã xin nghỉ không lương, đăng ký với Đảng Cộng sản Pháp tình nguyện đến giúp đoàn ta, họ còn mang cả xe ô tô riêng đến, rồi đảm nhiệm luôn vai trò lái xe, sẵn sàng đưa đoàn đi bất cứ nơi đâu, đi đến chỗ họp, đi thăm kiều bào, đi vận động sự ủng hộ của bạn bè khắp nơi… Bà Tôn Nữ Thị Ninh, khi đó là người của Sài Gòn cử đi Pari học, đã chuyển hẳn sang làm việc cho đoàn của ta, sau này trở về Việt Nam đã đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ quan trọng ở Bộ Ngoại giao và Quốc hội.

Đó là những ký ức không thể nào quên của nhà ngoại giao Lưu Văn Lợi, nguyên thư ký của cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ tại Hội nghị Pari. Bốn mươi năm đã qua, Cố vấn Lê Đức Thọ – vị “Tư lệnh” tài ba, đầy bản lĩnh trên “mặt trận ngoại giao” của Việt Nam đã đi xa, nhưng những câu chuyện về ông, những đóng góp to lớn của ông đối với đất nước vẫn còn mãi trong lòng nhân dân Việt Nam. Bây giờ, dù tuổi cũng đã cao, sức khỏe đã không còn như trước, nhưng ông Lưu Văn Lợi vẫn luôn dành thời gian để tham gia các công trình nghiên cứu về cuộc đàm phán ở Pari, cũng như về nhà ngoại giao nổi danh Lê Đức Thọ – người mà ông luôn coi như một người thày, một người anh, người thủ trưởng mà ông hằng kính trọng.

Phương Lan
baotintuc.vn

Kỷ niệm 40 năm ngày ký hiệp định Pari – Bài 2: Cuộc chiến… quanh những “chuyện nhỏ”

Ở Hội nghị Pari, ta và Mỹ tổ chức rất nhiều cuộc họp riêng, và những cuộc họp riêng này cực kỳ căng thẳng, đấu lý từng điểm rất nhỏ. Cuộc đàm phán dài nhất thế kỷ XX từ 1968 -1973 đã trở thành “tâm điểm” của dư luận thế giới. Khi đó, cả thế giới đều hướng về Pari, theo dõi từng động tĩnh dù là rất nhỏ diễn ra trên bàn Hội nghị. Và giới báo chí quốc tế không bỏ qua cơ hội “săn” những tin thật “hot” để thu hút dư luận.

Câu chuyện cái bàn

Trước khi khởi động họp bốn bên, một trong những tranh cãi nảy lửa và kéo dài cả tháng trời là câu chuyện về cái… bàn ở Hội nghị. Chuyện tưởng nhỏ nhưng thực chất lại có ý nghĩa chính trị quan trọng đối với cả ta và Mỹ, vì vị trí ngồi ra sao sẽ xác định tư cách pháp nhân của bên tham gia. Phía Mỹ đòi bàn hình chữ nhật hoặc tròn chia đôi để thể hiện rằng cuộc đàm phán chỉ có 2 bên: Mỹ – Việt Nam Cộng hòa và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Còn ta lại yêu cầu chiếc bàn hình vuông hoặc tròn có phân chia rõ 4 bên. Vì chỉ có 4 bên mới bình đẳng. Câu chuyện cái bàn nổi tiếng đến mức, các hãng làm đồ mộc lớn trên thế giới khi ấy đã gửi nhiều mẫu bàn tới chào hàng để các bên cùng chọn. Song do tranh cãi kéo dài và không đi đến thống nhất, cuối cùng, hai bên quyết định chọn cái bàn tròn bằng phẳng lớn và kê hai bàn thư ký hình chữ nhật ở hai bên. Không có cờ và biển ghi tên trước mặt các đoàn. Bố trí kiểu “nước đôi” như vậy, dư luận quốc tế hiểu đây là đàm phán “hai bên” cũng được mà “bốn bên” cũng được. Chuyện màu sắc chiếc khăn trải bàn cũng gây tranh luận khiến nước chủ nhà Pháp phải mang cả xấp khăn đủ các màu ra để các bên lựa chọn. Cuối cùng, ta với Mỹ nhất trí lựa chọn khăn trải bàn màu xanh lá cây thẫm.

Thái độ lật lọng và hành động leo thang chiến tranh của chính quyền Mỹ đã gây nên một làn sóng phản đối mạnh mẽ khắp thế giới. Ngày 20/1/1973, cùng với hàng trăm cuộc biểu tình chống chiến tranh nổ ra ở nhiều nước trên thế giới, nhân dân Mỹ tổ chức biểu tình lớn ở thủ đô Oasinhtơn, trong khi Richard M.Nixon làm lễ nhậm chức Tổng thống, đòi Mỹ ký ngay Hiệp định hòa bình, chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam. Ảnh: Tư liệu – TTXVN

Sau chuyện cái bàn, màu khăn trải bàn, nhiều chuyện nhỏ khác cũng phải trải qua những tranh luận gay gắt. Đó là quy định thứ tự phát biểu của các đoàn tại cuộc họp. Có nước gợi ý để cho nước chủ nhà bốc thăm, trúng bên nào thì bên đó được đọc trước. Cuối cùng vì không muốn để vấn đề thủ tục kéo dài, ta đã đồng ý để đoàn Mỹ phát biểu trước, đồng thời chấp nhận đề nghị của Mỹ tổ chức phiên họp thứ nhất của Hội nghị bốn bên vào ngày 18/1/1969. Nhưng về sau, cuộc họp trù bị của các phó trưởng đoàn đã họp vào ngày này vì trưởng đoàn chính quyền Sài Gòn chưa có mặt ở Pari.

Theo lời kể của ông Lưu Văn Lợi, những cuộc tranh luận căng thẳng về các tiểu tiết (nhưng lại rất quan trọng) như trên trong Hội nghị Pari có rất nhiều. Đặc biệt, nhiều khi phía Mỹ còn sử dụng cả những “tiểu xảo” hòng đưa phía ta vào thế khó. Như việc Kissinger cậy mình trẻ hơn Cố vấn Lê Đức Thọ tới hơn một giáp, thường tìm cách làm cho Cố vấn Lê Đức Thọ mệt mỏi. Biết ông hay bị mất ngủ, sức khỏe hạn chế trong các cuộc thương lượng kéo dài thâu đêm, nên trong những cuộc họp riêng Kissinger luôn lòng vòng lê thê đủ chuyện xa gần hết cả ngày trời. Song cứ nhè vào lúc chiều muộn nhập nhoạng tối, Kissinger mới đưa việc chính, những vấn đề “nóng” ra tranh luận, hòng có được những kết quả có lợi về phía mình, bởi Kissinger cho rằng, lúc đó ông già kia (Cố vấn Lê Đức Thọ) đã mệt mỏi rồi, chắc sẽ dễ ừ, dễ gật. Nhưng điều mà Kissinger không thể ngờ được, là tuy đã cao tuổi, nhưng Cố vấn Lê Đức Thọ là người dạn dày với chiến trường, lại rất cảnh giác trước những mánh lới này nên Kissinger đã không thể đạt được mục đích. “Có những cuộc họp kéo dài tới 12-13 tiếng đồng hồ, những người dự thay nhau lên gác nghỉ, chợp mắt, nhưng ông già thì không nghỉ, thỉnh thoảng chỉ uống một cốc nước sâm. Đàm phán càng muộn, ông Thọ càng tỉnh và diễn thuyết càng hăng, khiến cho chính Kissinger cũng phải thừa nhận: “Tôi rất ngán khi đang đàm phán căng thẳng, người cận vệ của ông Thọ lại mang nước tới. Vì tôi biết, nước đó là nhân sâm” – ông Lưu Văn Lợi nhớ lại.

Cho đến giờ, ông Lợi vẫn nhớ như in một lần họp riêng, Kissinger đưa cho Cố vấn Lê Đức Thọ khoảng 30 cái ảnh màu cỡ bằng cái khay, chụp từ vệ tinh rất rõ, toàn ảnh quân đội ta không đội mũ tai bèo mà đội mũ cối, vai đeo lon, rõ cả sao trên mũ. Kissinger nói: “Đã thỏa thuận là từ tháng 3 các ông thôi không đưa thêm quân vào nữa. Đây, ông đưa quân vào đây này”. Ông Thọ cười to, tiếng cười lạ lắm, cười khỏe kiểu vừa ở thế thắng, lại vừa có vẻ khinh miệt. Ông bảo Kissinger: “Mấy cái ảnh này các ông chụp ở đâu chẳng được, ông ra Bắc, rừng chỗ nào chả giống nhau. Tình báo các ông tồi lắm, lúc chúng tôi không đưa quân thì các ông lại bảo chúng tôi đưa quân, nhưng lúc chúng tôi đưa xe tăng và đại pháo vào sát Sài Gòn thì các ông chả biết tí gì cả. Cho nên các ông thua là phải!”. Kissinger ngồi im, không nói được câu nào.

Sau này, chính Kissinger cũng phải thốt lên: “Ông Thọ ở Pari đã mổ xẻ tôi bằng con dao rất nhọn, với tay nghề của một nhà giải phẫu cừ khôi. Có những lúc ông ấy nói cả tiếng đồng hồ về lịch sử ngàn năm đấu tranh, dựng nước và giữ nước của Việt Nam, tôi bảo cái điều này tôi đã nghe nhiều lần rồi, thì ông Thọ bảo: Ông nghe nhiều lần nhưng chưa thuộc, tôi nói lại để ông biết…” – ông Lưu Văn Lợi kể lại.

Diễn viên… đóng thế

Khi cuộc chiến tranh Việt Nam đã trở thành nỗi trăn trở của cả loài người, thành vấn đề lương tri của thời đại, thì không có gì ngạc nhiên là từ tất cả các nước, mọi người mong chờ, hướng về Hội nghị Pari này. Hàng nghìn nhà báo, điện ảnh, nhiếp ảnh, đã đổ về Pari, họ luôn tìm mọi cách để “săn” những cái tin thật “nóng” để thu hút dư luận.

Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi đó được báo giới phương Tây ví như một “nhà tu kín”, trước cửa trụ sở của đoàn ở thị trấn Choisy Le Roi luôn có hàng chục phóng viên “trực chiến”. Ngay khi phát hiện xe của phái đoàn Việt Nam rời khỏi nhà, họ lập tức dùng môtô phân khối lớn bám theo, mong lần ra địa điểm họp bí mật với phía Mỹ. Để tránh sự đeo bám của các phóng viên, có lúc, ông Lợi đã trở thành diễn viên… đóng thế vai Trưởng đoàn đàm phán. “Một lần, để đảm bảo bí mật, tôi cùng người bảo vệ quen thuộc ngồi lên xe của trưởng đoàn. Xe vừa từ sân trụ sở lăn bánh ra khỏi cổng đã phóng nhanh như mọi bận. Một tốp phóng viên trực sẵn trông thấy lập tức bám theo. Xe của “trưởng đoàn giả” cứ thế chạy lòng vòng khắp các phố với “cái đuôi” là đám phóng viên nước ngoài dính chặt. Trong khi đó, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Xuân Thủy thì đã qua cửa phụ lên chiếc xe riêng của một trí thức người Pháp làm công tác phục vụ đoàn và tới nơi họp mà chẳng bị ai quấy rầy” – ông Lợi vui vẻ nhớ lại.

Tuy đã giữ bí mật như thế nhưng cũng nhiều lần các tay săn tin vẫn tìm ra được nơi họp kín giữa đoàn Việt Nam và Mỹ. “Họ thuê các ngôi nhà đối diện, dỡ cả mái ngói, tìm vị trí đặt ống kính, sẵn sàng chộp” lấy bất cứ hình ảnh nào của những nhân vật quan trọng trong cuộc họp”.

Trong suốt gần 5 năm tham gia cuộc đàm phán ở Hội nghị Pari về Việt Nam, ông Lợi đã nhiều lần tháp tùng Cố vấn Lê Đức Thọ đi về giữa Pari và Hà Nội, nhiều lần ông đi cùng Cố vấn đến thăm và báo cáo với Hồ Chủ tịch. Ông xúc động nhớ lại: “Có lần, cả đoàn về Hà Nội, dự định về nơi ở tại khu biệt thự ở Hồ Tây chờ sự cho phép của các bác sĩ. Nhưng vừa về tới nơi, người bảo vệ đã chạy vào báo: Hồ Chủ tịch tới thăm!”. Khi gặp Cố vấn Lê Đức Thọ, Chủ tịch Hồ Chí Minh bảo: “Nghe chuyện ở Pari tôi rất vui. Lần này nhất định sẽ có thưởng cho đoàn Pari”. Nhưng Cố vấn Lê Đức Thọ đã nói: “Chiến tranh còn ác liệt, bao giờ chiến thắng, đất nước độc lập thống nhất rồi, Bác thưởng cũng không muộn”…

Phương Lan
baotintuc.vn

Bài 3: Trường đời ở Pari

Kỷ niệm 40 năm ngày ký hiệp định Pari – Bài 1: Tại sao lại chọn Pari?

Ký ức về Hội nghị Pari 40 năm đã trôi qua, đất nước đã trải qua biết bao thay đổi, nhưng với những người đã từng có mặt ở Hội nghị Pari từ năm 1968 đến 1973, những diễn biến, những câu chuyện bên trong và ngoài bàn đàm phán dường như vẫn nguyên vẹn. Trong những ngày đầu xuân 2013, chúng tôi tìm gặp ông Lưu Văn Lợi, nguyên thư ký của cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ, nghe ông kể về những kỷ niệm liên quan đến sự kiện lịch sử đặc biệt này.

Bài 1: Tại sao lại chọn Pari?

Trong căn nhà riêng ấm cúng trong một ngõ nhỏ trên đường Hoàng Hoa Thám (Hà Nội), ông Lưu Văn Lợi (ảnh) đã kể cho chúng tôi nghe những năm tháng đầy cam go trên mặt trận ngoại giao hơn 40 năm trước ở bàn Hội nghị Pari.

Cuộc gặp gỡ định mệnh

Mở đầu câu chuyện, ông đã nói ngay: “Các bạn nhớ tôi là Lưu Văn Lợi, thư ký của Cố vấn Lê Đức Thọ nhé, không được nhầm tôi với cụ Lưu Văn Lợi – cố vấn pháp lý cho Hiệp định Pari năm ấy đâu nhé”. Rồi ông kể, Bộ Ngoại giao hồi đó có hai người cùng tên là Lưu Văn Lợi.

Cụ Lưu Văn Lợi khi đó là trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (sau này là Trưởng ban Biên giới Chính phủ – hàm Bộ trưởng), năm nay cụ Lợi đã tròn 100 tuổi. Cụ rất giỏi, được cử làm cố vấn pháp lý cho ông Lê Đức Thọ cùng với Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch hoàn thành văn bản Hiệp định Pari. Còn ông là Lưu Văn Lợi, làm việc ở Vụ Liên Xô, Đông Âu.

Qua câu chuyện với ông, chúng tôi được biết, ông sinh năm 1933, quê ở Duy Tiên, Hà Nam. Năm 1946, khi học hết lớp 3 thời Pháp thuộc, ông theo gia đình lên chiến khu. Sau đó ông vào học trường Thiếu sinh quân. Năm 1951, ông sang Trung Quốc học ở khu học xá Nam Ninh. Ba năm sau, ông được sang Liên Xô học lớp Nga văn đặc biệt. Năm 1956, ông làm việc ở Đại sứ quán Việt Nam ở Liên Xô.

Việc ông trở thành thư ký cho cố vấn Lê Đức Thọ cũng thật tình cờ. Ngày 2/6/1968, trên đường tới Pari tham gia đàm phán, cố vấn Lê Đức Thọ đã dừng chân ở Mátxcơva. Khi đó, cố vấn muốn nghe những tin tức xung quanh Hội nghị Pari, cũng như dư luận thế giới về sự kiện này. Đại sứ Việt Nam tại Liên Xô Nguyễn Thọ Chân đã giao cho ông Lưu Văn Lợi, lúc đó là tùy viên phòng văn hóa – báo chí hữu nghị của Đại sứ quán, trực tiếp làm tin cho cố vấn Lê Đức Thọ. Sau đó, ông Lợi còn đảm nhiệm luôn nhiệm vụ phiên dịch cho cố vấn Lê Đức Thọ trong hội đàm với một lãnh đạo cao cấp của Liên Xô đến thăm và làm việc tại tòa biệt thự trên đồi Lênin. Sau bữa cơm tối, bất ngờ cố vấn Lê Đức Thọ gọi ông tới và bảo: “Cậu thu xếp mai đi với tôi sang Pari. Tôi cần người thông thạo ngoại giao và biết tiếng giúp việc cho tôi”. Từ đó, ông Lợi bắt đầu phục vụ trong văn phòng của Cố vấn Lê Đức Thọ cho tới tháng 10/1989.

Khi chúng tôi ngỏ ý muốn nghe ông kể những câu chuyện xung quanh Hội nghị Pari, ông cười và nói: “Một người có trí nhớ rất tốt thì cũng không thể nhớ hết nổi các sự kiện của hơn 40 năm trước, và nếu có nhớ thì nói cả nhiều ngày không hết được đâu. Tôi chỉ có thể kể cho các bạn một vài chuyện mà tôi có ấn tượng sâu sắc thôi…”. Và rồi, bằng một giọng đều đều nhưng đầy cảm xúc của một người đã từng có mặt trong Hội nghị năm ấy, ông Lưu Văn Lợi đã kể cho chúng tôi nghe nhiều câu chuyện thú vị xung quanh những cuộc đấu trí trường kỳ trên bàn Hội nghị Pari hơn 40 năm về trước.

Lợi thế khi chọn Pari

Theo những tư liệu lịch sử, chủ trương kết hợp đánh với đàm trong kháng chiến chống Mỹ đã được Bác Hồ và Đảng tính tới từ cuối năm 1965. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 13 của BCH TƯ khóa III, tháng 1/1967 đã khẳng định: “Chúng ta tiến công địch về ngoại giao bây giờ là đúng lúc vì ta đã và đang thắng địch, thế của ta là thế mạnh… Trong tình hình quốc tế hiện nay, với tính chất cuộc đấu tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động…”. Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 đã làm nhụt ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ chấp nhận thương lượng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 13/5/1968, Hội nghị hai bên giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ chính thức họp phiên đầu tiên tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber ở thủ đô Pari của Pháp, mở ra cục diện “vừa đánh, vừa đàm”.

Trước khi đi vào đàm phán chính thức ở Pari, chuyện địa điểm họp ở đâu cũng mất hơn tháng trời mới thống nhất được. Có rất nhiều địa điểm được ta và Mỹ đề xuất làm nơi đàm phán nhưng đều không chọn được vì hai bên không đồng thuận. Sau này ta nghiên cứu và đưa ra đề nghị chọn Pari (thủ đô của Pháp). Tám tiếng sau, Mỹ đồng ý, dù chưa thực sự “xuôi”, bởi Tổng thống Pháp lúc đó là Charles De Gaulle lại là người có quan điểm ủng hộ Việt Nam, chỉ trích sự can thiệp của Mỹ và mong muốn chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.

Ta chọn Pháp không chỉ vì thủ đô Pari là trung tâm thông tin, chúng ta có thể tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của dư luận Pháp và quốc tế, mà ở đó, ta còn có thể dựa vào sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Pháp (mà Bác Hồ là một trong những người sáng lập) và phong trào hoạt động của cộng đồng Việt kiều ở Pháp khi đó cũng rất mạnh, công tác hậu cần và sân sau sẽ là lực lượng hỗ trợ chúng ta ở Pháp là tốt nhất và rất có lợi cho ta. Khi đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sang, tạm thời ở khách sạn hạng sang, nhưng quá tốn kém. Chỉ vài ngày mà đã gần hết kinh phí mang theo. Ta đến nhờ Đảng cộng sản Pháp giúp đỡ và Đảng cộng sản Pháp đã nhường cho ta một trụ sở là trường Đảng mang tên Tổng bí thư Đảng cộng sản Pháp Moris Tores ở Choisy Le Roi, một biệt thự 2 tầng, hai bên là 2 tòa nhà 3 tầng, cả nhân viên, bảo vệ, đầu bếp bạn cũng để lại để giúp ta. Lúc đầu, ai cũng nghĩ cuộc đàm phán chắc khoảng 5-6 tháng, nhiều lắm thì 1 năm là cùng, nào ngờ lại kéo dài tới gần 5 năm, bạn đã phải di dời cả trường học đi chỗ khác, lấy chỗ cho chúng ta ở. Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ chỗ chỉ có 37 người (năm 1968) sang năm 1969 đã lên đến gần 80 người, sau này, số lượng còn hơn thế. Bên cạnh sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Pháp, các trí thức Việt kiều cũng đã đóng góp rất nhiều công sức giúp chúng ta chỉ với một tấm lòng yêu quê hương, đất nước.

Phương Lan
baotintuc.vn

Bài 2: Cuộc chiến… quanh những “chuyện nhỏ”