Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Cuộc đàm phán dài nhất lịch sử – Kỳ 1: Lên đường*

LTS: Hội nghị Pari về Việt Nam, cuộc đàm phán hòa bình dài nhất, gay go nhất thế kỷ XX đã để lại nhiều ấn tượng trong lòng bạn bè quốc tế. Ngoài tên tuổi của những nhà ngoại giao tầm cỡ lớn như Lê Đức Thọ, Xuân Thủy, nhân dân Việt Nam và thế giới vẫn còn nhắc đến Madam Bình (Nguyễn Thị Bình), nữ Bộ trưởng ngoại giao xuất sắc của Việt Nam trong thế kỷ 20 – một người phụ nữ xinh đẹp, thông minh và đầy bản lĩnh. Những năm tháng đại diện cho đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPMN), sau là Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam (CPCMLTMN) tham gia đàm phán ở Hội nghị Pari đã được bà kể lại trong cuốn Hồi ký vừa xuất bản năm 2012. Để giúp độc giả có cái nhìn đầy đủ về Hội nghị Pari, được sự đồng ý của Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, Báo Tin tức xin trích đăng một số nội dung trong chương “Cuộc đàm phán dài nhất lịch sử” – viết về Hội nghị Pari từ năm 1968-1973.

Giữa tháng 7/1968, tôi cùng các đồng chí Dương Đình Thảo, Lý Văn Sáu, Ngọc Dung… được lãnh đạo Ban Thống nhất mời lên phổ biến chủ trương của Đảng về “đánh và đàm”. Tôi hiểu đây chưa phải là lúc giải quyết vấn đề giữa ta và Mỹ, mà là triển khai thêm một hình thức đấu tranh mới. Trên chiến trường phải tiếp tục đánh mạnh hơn nữa để cho kẻ địch biết rằng dù có tàn bạo đến mấy chúng cũng không thể khuất phục được nhân dân ta, và đấy là nhân tố quyết định; đồng thời tình thế cũng đã cho phép chúng ta mở thêm mặt trận ngoại giao rộng lớn hơn làm cho thế giới hiểu rõ hơn nữa mưu đồ và tội ác của Mỹ ở Việt Nam hòng áp đặt sự thống trị của chúng lên một dân tộc nhỏ, nghèo, chỉ mong muốn hòa bình tự do, không hề chạm đến lợi ích của nước Mỹ. Mặt trận mới này sẽ giúp ta tranh thủ thêm nữa dư luận quốc tế, dư luận Mỹ, cô lập các phần tử hiếu chiến, hỗ trợ đắc lực cho chiến trường. Đương nhiên chúng ta cũng đã nghĩ cuối cùng chiến tranh cũng phải kết thúc và hai bên sẽ phải ký kết hiệp định hòa bình… trên bàn đàm phán.

Gần sáu năm hoạt động đối ngoại cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, tôi đã tích lũy được một số kiến thức ngoại giao và kinh nghiệm đấu tranh chính trị, nhưng tôi không nghĩ mình lại may mắn được chọn lựa cho nhiệm vụ khó khăn, nặng nề và quan trọng này: cuộc đàm phán lịch sử ở Paris nhằm chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Đây có lẽ là cuộc đàm phán dài nhất trong lịch sử thế giới, bắt đầu tháng 11/1968, kết thúc ngày 27/1/1973. Khi rời Hà Nội lên đường cuối tháng 10/1968, tôi không ngờ nó sẽ kéo dài đến thế.

Trước ngày đi, tôi điện cho anh Khang từ trường Công binh ở Bắc Giang về gặp. Tôi bối rối không biết nói thế nào với chồng tôi, và trước các con tôi còn quá nhỏ mà phải xa mẹ biền biệt. Anh Khang hiểu tôi phải đảm nhiệm một công việc rất quan trọng, anh không hỏi gì cụ thể, chỉ động viên: “Em có việc phải làm, cứ yên tâm đi, các con đã có anh và ba lo”. Tôi thương quý và biết ơn anh vô cùng.

Tôi, đồng chí Dương Đình Thảo, cùng Bình Thanh, Phan Bá, Nguyễn Văn Khai là bộ phận của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đi trước để tham gia hội nghị trù bị, Chúng tôi bay qua Bắc Kinh, rồi Mátxcơva. Đối với mọi người, đoàn chúng tôi “đi công tác Cuba”. Ngày 2/11/1968, khoảng 2 giờ chiều, thời tiết Pari bắt đầu lạnh, trời âm u sẩm tối, chúng tôi đáp xuống sân bay Bourget phía bắc Pari. Trên máy bay, từ xa chúng tôi đã nhìn thấy đám đông người chờ đón. Hồi hộp, xúc động, mừng vui!

Chúng tôi dặn nhau phải có thái độ đàng hoàng, tươi cười như đồng chí Xuân Thủy đã dặn. Hôm ấy, tôi mặc áo dài màu hồng sậm, khoác măng tô xám với khăn quàng cổ đen có điểm hoa. Vừa bước vào nhà ga, mặc dù có anh em bảo vệ người Pháp và người Việt to lớn vạm vỡ dẫn đường, chúng tôi vẫn bị đám đông trong đó có nhiều nhà báo, nhiếp ảnh… bao vây xô đẩy. Tôi suýt ngã, nhưng tôi và Bình Thanh, là thư ký và phiên dịch của tôi, luôn đi sát nhau. Chúng tôi có nhiệm vụ nêu rõ lý do và ý nghĩa sự có mặt của đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại Pari. Tôi cố gắng nói dõng dạc, Bình Thanh cũng dịch mạch lạc rõ ràng, nhiều người khen cô nói tiếng Pháp rất hay không thua gì người Pháp. Xung quanh chúng tôi vang tiếng bàn ghế gãy, kính vỡ vì người ta chen lấn để được nhìn thấy, nghe và chụp ảnh các thành viên trong đoàn.

Về đến biệt thự Thévenet, nơi các đồng chí đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thuê hộ từ trước, chúng tôi lúng túng trước cảnh các nhà báo, nhiếp ảnh cứ bám theo, có người leo cả qua tường, có người để máy ảnh qua kẽ hở ở cửa để chộp lấy một vài hình ảnh đặc biệt của đoàn “Việt cộng”. Nhưng rồi chúng tôi cười xòa, nói với nhau: Chúng ta đến đây trước hết là để tuyên truyền, tranh thủ dư luận, vậy sao lại phải ngại báo chí, nhiếp ảnh, trái lại mới phải. Tất nhiên cần có kế hoạch chu đáo. Hai ngày sau chúng tôi tổ chức một cuộc họp báo lớn. Có đến hơn 400 nhà báo. Đây là lần đầu tiên tôi tiếp xúc với nhiều nhà báo đến thế. Tôi phát biểu, nêu lập trường chính nghĩa của Mặt trận và thiện chí muốn tìm giải pháp hòa bình. Các nhà báo thi nhau hỏi. Tôi thầm lo, sợ mình nói có sơ hở sẽ bị họ khai thác, nhưng bề ngoài vẫn tỏ ra bình tĩnh, điềm đạm. Đưa tin về cuộc họp báo này, các nhà báo đều tỏ ra có thiện cảm, không “bắt bẻ” gì nhiều. Trước mặt họ là một người phụ nữ nhỏ nhắn, hiền lành, đến từ một vùng đất đang rực cháy lửa chiến tranh, ăn nói có lý có tình, hẳn bước đầu đã gây cho họ cảm tình. Những ngày sau đó nhiều nhà báo và hãng truyền hình muốn phỏng vấn riêng, có ngày đến vài ba cuộc. Công việc rất căng thẳng, nhất là phải ngồi trước ánh đèn pha chiếu vào mặt. Anh em trong đoàn động viên tôi: Như vậy là họ chú ý nhiều đến đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, đúng như điều chúng ta mong muốn.

Đáng lẽ cuộc họp trù bị Hội nghị bốn bên bắt đầu họp từ ngày 6/11/1968, nhưng phía Mỹ lấy lý do là chính quyền Sài Gòn chưa đến nên chưa họp, và cái cớ họ trì hoãn nữa là vấn đề thủ tục, mà nổi lên là hình thù cái bàn… Trong lịch sử đấu tranh ngoại giao thế giới chưa bao giờ lại có kiểu bắt đầu đặc biệt như vậy: Trước tiên là đấu tranh về cái bàn. Đương nhiên có lý do, hình thù và cách phân chia chỗ ngồi ở bàn chính là xác nhận tính chất pháp nhân của các bên đàm phán. Từ tháng 5 đến tháng 10/1968, cuộc bàn cãi giữa đồng chí Xuân Thủy trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Harriman Đại sứ Mỹ đã rất gay gắt về vấn đề vai trò của đoàn Mặt trận. Phía ta nêu rõ Mặt trận là đại diện cho nhân dân miền Nam đang trực tiếp chống Mỹ nên đương nhiên phải là một bên đàm phán. Mỹ thì cho rằng Mặt trận là “người của miền Bắc”, là ‘cộng sản” muốn lật đổ “quốc gia” ở miền Nam. Ta nói rằng chính quyền Sài Gòn là do Mỹ dựng lên, là tay sai của Mỹ. Cuộc đấu tranh “bốn bên hay hai bên” có ý nghĩa chính trị rất quan trọng. Chúng ta yêu cầu một cái bàn vuông cho bốn bên đàm phán hoặc một cái bàn tròn chia bốn. Mỹ đòi một cái bàn chữ nhật có hai bên hoặc một cái bàn tròn chia đôi… Có điều vui là đoàn đồng chí Xuân Thủy đã nhận được nhiều mẫu bàn của các hãng làm đồ mộc nổi tiếng thế giới gửi đến chào hàng. Chắc đoàn Harriman cũng nhận được như vậy. Sau cùng đi đến thống nhất sẽ là một cái bàn tròn to, đường kính 8 m, cắt đôi, trải khăn bàn màu xanh, mỗi bên có một vạch phân chia nằm bên ngoài, như vậy ai hiểu là hai bên hay bốn bên cũng được. Phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn ngồi sát nhau như một bên, còn phía ta đoàn Mặt trận và đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngồi thành hai đoàn riêng biệt. Đối với dư luận cách ngồi của Mỹ và chính quyền Sài Gòn là không có lợi cho họ, có thể thấy rõ chính quyền Sài Gòn là tay sai của Mỹ, làm sao mà đại diện được cho nhân dân miền Nam?

Ngày 27/11/1968, cuộc họp trù bị được tiến hành. Cuộc họp đơn giản, chủ yếu giải quyết một số vấn đề kỹ thuật, như số lượng thành viên chính thức, thứ tự phát biểu… Nhưng mãi đến 25/1 năm sau, hội nghị 4 bên mới chính thức bắt đầu. Đồng chí Trần Bửu Kiếm làm trưởng đoàn, tôi và đồng chí Trần Hoài Nam làm phó đoàn. Việc có hai đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là điều đặc biệt hầu như chưa từng có trong lịch sử ngoại giao quốc tế, và tôi nghĩ cũng cần nói rõ điều này. Đấy là sự hiện diện của hai thực thể, đại diện cho một cuộc chiến đấu, dưới một sự lãnh đạo thống nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Về mặt chính trị ngoại giao chúng ta đã thiết lập một thế trận “tuy hai mà một, tuy một mà hai”. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, hai phái đoàn trên hai góc độ khác nhau phát huy sức mạnh của mình tạo thế cho mặt trận đối ngoại trở nên rộng lớn và sống động, cùng góp sức vào thắng lợi chung của cuộc chiến đấu chống xâm lược Mỹ, giành độc lập và thống nhất cho Tổ quốc.

Chúng ta đều biết sự thật lịch sử: Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp, giành thắng lợi vang dội ở Điện Biên Phủ, buộc Pháp phải ký Hiệp định Genève năm 1954, theo đó Pháp và các nước cùng công nhận độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Riêng Mỹ không ký vào Tuyên bố chung. Trong bối cảnh quốc tế lúc bấy giờ chúng ta buộc phải chấp nhận đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai, việc thống nhất đất nước sẽ thực hiện qua một cuộc tổng tuyển cử ở miền Nam được tổ chức sau hai năm. Nhưng hiệp định ký chưa ráo mực, Mỹ đã can thiệp vào Việt Nam, thay chân Pháp, phá bỏ Hiệp định Genève 1954, với âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, hòng biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa thực dân mới của Mỹ.

Nguyễn Thị Bình
baotintuc.vn

Kỳ 2: Quyết tâm sắt đá
* Đầu đề nhỏ do Ban biên tập đặt

“Bàn đàm phán không phải nơi mặc cả độc lập dân tộc”

(Dân trí) – “… Với Việt Nam, bàn đàm phán không phải là nơi mặc cả. Độc lập, thống nhất Tổ quốc không thể thắng lợi từ việc đôi co, mặc cả với đối phương”.

PGS.TS Nguyễn Đình Lê, Chủ nhiệm bộ môn Lịch sử Cận – Hiện đại, trường ĐH KHXH&NV – ĐH Quốc gia Hà Nội bình luận như vậy về thắng lợi của Hiệp định Paris (27/1/1973).

Thưa ông, chỉ riêng chiếc bàn cho các bên tham gia đàm phán tại Hội nghị Paris cũng là vấn đề tranh luận nhiều tháng với nhiều phương án được đưa ra. Điều tưởng như đơn giản này cũng đã báo trước về một cuộc đàm phán lâu dài, căng thẳng và nóng bỏng?

Họp ở đâu và tọa đàm quanh chiếc bàn như thế nào đã là chủ đề tranh luận giữa phái đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa và Hoa Kì. Riêng việc chọn dáng bàn như thế nào 2 bên cũng tốn nhiều thời gian tranh luận, bàn tròn hay bàn hình e-líp… Cuối cùng 2 bên đã nhất trí chọn bàn vuông trong phiên họp toàn thể 4 bên. Tuy nhiên khi tọa đàm riêng (còn gọi họp bí mật) và khi ký công khai thì ngồi ở dạng bàn khác, như các ảnh chụp thể hiện.

Trong các tọa đàm quốc tế thông lệ, ít khi người ta chọn kiểu bàn như vậy. Vì nó ít thẩm mỹ và không thân mật. Tuy nhiên, tọa đàm Paris là một ngoại lệ. Bàn vuông thể hiện 4 bên độc lập, ngang bằng nhau. Phía Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam với 2 phía còn lại. Ngồi như vậy thì dù muốn hay không Hoa Kì cũng phải công nhận Chính phủ Lâm thời trên thực tế. Đây là điều mà không chỉ Hoa Kì vô cùng ái ngại mà ngay chính quyền Sài Gòn lúc đó cũng không muốn thừa nhận. Chiếc bàn đàm phán cuối cùng đã thể hiện được vị thế của Chính phủ Lâm thời ở hội đàm và trên trường quốc tế.

PGS.TS Nguyễn Đình Lê: Việt Nam chỉ dành được ở bàn Hội nghị những gì ta thu được ở chiến trường.PGS.TS Nguyễn Đình Lê: “Việt Nam chỉ dành được ở bàn Hội nghị những gì ta thu được ở chiến trường”.

Tại chiếc bàn đàm phán đó, những thực tế trên chiến trường có song hành thực sự với cuộc đàm phán giữa các bên và tạo những bước ngoặt quan trọng nhất?

Trong chỉ đạo cách mạng Việt Nam cũng như trên thực tế chiến trường, Việt Nam chỉ dành được ở bàn Hội nghị những gì ta thu được ở chiến trường. Với Việt Nam, bàn đàm phán không phải là nơi mặc cả. Độc lập, thống nhất Tổ quốc không thể thắng lợi từ việc đôi co, mặc cả với đối phương.

Chưa thực hiện Tổng tiến công nổi dậy năm 1968, ta chưa mở mặt trận “vừa đánh vừa đàm”. Chưa thực hiện tiến công chiến lược năm 1972 ở miền Nam, phái đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính Phủ Lâm thời chưa đưa thực chất yêu cầu đàm phán. Xin lưu ý là từ năm 1968 đến 1971, ta chưa nêu các nội dung chủ chốt của đàm phán, mà mới chỉ nêu các nguyên tắc đòi Hoa Kì chấm dứt ném bom, chấm dứt xâm lược Việt Nam. Như vậy 2 bước đấu tranh cơ bản của phái đoàn Việt Nam tại Hội nghị luôn song hành với tiến công quyết liệt trên chiến trường.

Với thắng lợi của mặt trận phía Nam (qua 3 đòn tiến công năm 1972, cùng với chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”), cuối cùng đối phương mới kí Hiệp định.

Cũng phải nói thêm rằng, đương thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự kiến khá sát tình huống này. Người từng chỉ ra là chỉ khi ta đánh bại át chủ bài của Hoa Kì thì họ mới chịu xuống thang, mới chịu thất bại về quân sự.

Tuy nhiên, cuộc đấu tranh ngoại giao/mặt trận ngoại giao có thế chủ động, tích cực riêng của nó. Điều này được phái đoàn Việt Nam vận dụng triệt để, sáng tạo, có kế hoạch trong suốt mấy năm đấu tranh ở Paris.

Tại sao phía Hoa Kì lại chấp nhận ký hiệp định Paris và dường như có phần “nôn nóng” trong việc ép Chính quyền Sài Gòn ký vào bản hiệp định này. Tại sao một Hoa Kì cao ngạo như vậy ở thời điểm đó lại chấp nhận hai thất bại liên tiếp ở Chiến dịch “Linebacker II” (chiến dịch bắn phá Hà Nội bằng B52 trong 12 ngày đêm cuối năm 1972) và ở bàn đàm phán?

Vấn đề này rất phức tạp. Sự phức tạp ở phía Hoa Kì, phía Tổng thống R.Nixon và Ngoại trưởng Henry Kissinger. Ý tưởng về một Hiệp định hòa bình trong tầm tay – một hiệp định danh dự cho Hoa Kì kết thúc chiến tranh của 2 người này diễn ra trong bối cảnh mà ở đó tình hình trong nước và quốc tế đang chuyển động nhanh và khá hỗn độn.

Tình hình chiến trường Đông Dương rối rắm, phe của ông Thiệu ở Sài Gòn vừa phụ thuộc Hoa Kì, vừa ngang ngạnh. Hoa Kì có thỏa thuận nước lớn, uy tín của Tổng thống đang lên, nhưng mặt khác cơ quan lập pháp Hoa Kì đang “sờ gáy” hành pháp. Việc Quốc hội xóa bỏ Nghị định Vịnh Bắc Bộ (đã thông qua năm 1964) và sắp sửa xem xét lại chính sách của Hoa Kì ở Việt Nam khiến cho Tổng Thống R.Nixon dù vừa tái đắc cử nhưng thời yên ổn của ông cũng không còn. Thực tế năm 1973, Nixon đã gặp muôn vàn khó khăn phải đối phó với dư luận trong nước và sau đó thì “thất sủng” năm 1974. Thực tế, lúc đó, hơn ai hết, Tổng thống Hoa Kì biết rõ thời gian vật chất của ông ta đang bị dồn nén.

Sự câu thúc của dư luận, của phong trào phản chiến trong nước và quốc tế, sự thôi thúc từ tính toán thâm hiểm muốn tiếp tục theo đuổi chính sách ở Việt Nam theo hướng mới, sự ngang ngạch của Sài Gòn… khiến Tổng thống và ông ngoại trưởng hành động có phần thô lỗ, thúc ép đồng minh. Bức tranh xám xịt trong quan hệ Hoa Kì – Sài Gòn trong việc ký hay không bản Hiệp định được tạo nên như thế.

Còn thất bại ở chiến dịch “Linebacker II”, tôi đã trao đổi, biện giải cụ thể trong bài nói về chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” ngày 20/12 vừa qua.

Tôi muốn nói thêm việc Hoa Kì, Nhà trắng đã tính toán khá thâm hiểm, rất lợi hại, một mũi tên trúng nhiều đích. Nhưng cuối cùng họ đã thất bại. Lí do cơ bản là những người Việt Nam yêu nước đã dám hi sinh và thực tế đã cao tay hơn đối phương trong mọi ván bài nên rốt cuộc Nhà Trắng đã thất bại.

Tổng thống miền Nam Việt Nam thời đó Nguyễn Văn Thiệu từng nói rằng: “với chúng tôi, việc ký vào hiệp định đồng nghĩa với đầu hàng để chấp nhận bản án tử hình”, nhưng tại sao cuối cùng vẫn phải ký vào hiệp định này?

Ông Thiệu có lí khi nói như vậy. Nhưng xin nói thật, chính người đứng đầu Nhà trắng “nói toặc móng heo” là nếu Thiệu không kí, Hoa Kì vẫn kí. Chính ông Thiệu cũng từng nói, Henry Kissinger ghét Sài Gòn hơn Hà Nội. Nếu Henry Kissinger có quyền thì chắc ông ta dùng B52 “choảng” vào Sài Gòn rồi mới ném bom Hà Nội!

Xin nói thêm rằng không phải tất cả các chính khách của Sài Gòn lúc đó đều muốn Hoa Kì đưa quân viiễn chinh vào miền Nam và dùng B52 đánh phá miền Bắc. Nhưng ông Thiệu muốn có cả hai thứ đó và duy trì càng lâu càng tốt. Cho nên dư luận Hoa Kì từng gọi ông ta là người bấm giừo cho B 52 đánh phá miền Bắc. Ông Thiệu gần như phụ thuộc Hoa Kì vè mọi phương diện. Nhưnghơn ai hết ông ấy biết ký Hiệp định có nghĩa là ký sự cáo chung của chế độ Sài Gòn. Nên ông Thiệu làm mình là mẩy với Hoa Kì một thời gian.

Ông Thiệu nếu không kí thì chính bản thân ông ta cũng khó an bài. Một vụ tai nạn, ám sát hay một cuộc đảo chính để thủ tiêu một cá nhân nào đó thì CIA thừa sức làm!

Ông đánh giá thế nào về thắng lợi mà hiệp định Paris mang lại?

Đây là thắng lợi quyết định của cách mạng miền Nam, là kết quả và đỉnh cao của 18 năm chống Mỹ, cứu nước, là kế thừa và phát huy kinh nghiệm đấu tranh cách mạng từ Cách mạng Tháng 8 (1945) và cả trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất (1945-1954).

PGS.TS Nguyễn Đình Lê: Việt Nam chỉ dành được ở bàn Hội nghị những gì ta thu được ở chiến trường.Đoàn đàm phán Việt Nam dân chủ cộng hòa với Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình, Xuân Thủy, cố vấn cấp cao Lê Đức Thọ tại Hội nghị Paris.

Với những điều khoản ký kết trong Hiệp định Paris, ông có thể bình luận gì về những được – mất của các bên?

Lực lượng cánh mạng đạt được những yêu cầu căn bản đã đề ra khi mở mặt trận vừa đánh vừa đàm. Điều cốt tử, thắng lợi lớn nhất của Việt Nam là Hoa Kì rút quân còn lực lượng bộ đội miền Bắc ở lại chiến trường. Việt Nam đã mở lối thoát danh dự cho Hoa Kỳ. Hoa Kỳ phải xuống thang chiến tranh, cam kết chấm dứt dính líu quân sự. Hoa Kỳ lấy được tù binh (chủ yếu là phi công) về nước. Còn phái Sài Gòn thì ký vào. Hiệp định như chấp nhận bản án. Ông Thiệu đã nói rõ điều này trong diễn văn từ chức ngày 21/4/1975. Chính quyền ông Nguyễn Văn Thiệu phải chịu hậu quả nặng nề để 2 năm sau sụp đổ.

Cuộc đấu trí giữa cố vấn Lê Đức Thọ và Henry Kissinger trong tiến trình đàm phán ở Hội nghị Paris thì sao, thưa ông?

Cố vấn Lê Đức Thọ là bộ óc bẩm sinh có biệt tài đối ngoại, đối phó, khẩu chiến. Ông Lê Đức Thọ đại diện cho tinh thần giải phóng dân tộc. Đối phương của ông phía bên kia chiến tuyến, bất lợi về vị thế.

Ông bình luận gì về việc Kissinger nhận giải Nobel hòa bình còn ông Lê Đức Thọ lại từ chối giải thưởng này?

Sự kiện này chứng tỏ Henry Kissinger “non” hơn ông Lê Đức Thọ. Ông Lê Đức Thọ thừa biết Hiệp định là thắng lợi cốt tử của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nhưng đối phương không thể thực hiện hoà bình vì chính ông Thiệu từng nói “hòa bình, thi hành hiệp định là con đường tự sát của chế độ Sài Gòn”. Với bản lĩnh chính trị của mình, ông Thọ không thể nhận giải thưởng đó (ông từ chối nhận giải với lý do hòa bình vẫn chưa thực sự lập lại trên đất nước Việt Nam). Và với bản lĩnh nhà cách mạng chuyên nghiệp ông Lê Đức Thọ hiểu sâu sắc rằng nền tảng hòa bình đó là kết quả đấu tranh, hy sinh to lớn của toàn thể nhân dân Việt Nam.

Xin cảm ơn ông!

Cấn Cường – Phương Thảo (thực hiện)
dantri.com.vn

Nhà ngoại giao Lê Đức Thọ tại Hội nghị Paris

Kỷ niệm 40 năm ngày ký hiệp định Paris (27/1/1973 – 27/1/2013):

(Dân trí) – Trong cuộc hội thảo “Lê Đức Thọ với cách mạng Việt Nam và quê hương Nam Định” nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên nói: “Lê Đức Thọ là nhà ngoại giao khổng lồ”.

Ông Nguyễn Dy Niên nói tiếp: “Ông ấy khổng lồ ở chỗ đối phương đối thoại với ông là Kissinger – một nhân vật rất lớn của Mỹ thời đó. (Kissinger lúc ấy là cố vấn an ninh của Tổng thống Mỹ Nixon, Kissinger đã từng bí mật gặp gỡ Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai và sau đó là Brezhenev, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô cũ để nhờ ba vị này ép ta ký kết hiệp định hòa bình theo các điều kiện của Mỹ – Tác giả). Kissinger rất ngạo mạn, tưởng có thể đè bẹp được ta. Nhưng Kissinger đã không thể làm được vì Lê Đức Thọ đại diện cho chính nghĩa. Điều làm nên thành công của Lê Đức Thọ là ông đã nhuần nhuyễn, có trí tuệ để thực hiện điều mình cần và mục tiêu đề ra. Chẳng hạn vấn đề Mỹ phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam. Kissinger đòi nếu Mỹ rút thì miền Bắc Việt Namcũng phải rút quân khỏi miền Nam. Ông Lê Đức Thọ cho rằng Mỹ đánh đồng như thế là không được. Với trí tuệ của mình, ông đã tìm ra giải pháp như sau: Vấn đề quân đội Việt Nam ở lãnh thổ Việt Nam thì do các bên Việt Nam giải quyết với nhau. Còn việc Mỹ phải rút quân là bắt buộc. Trí tuệ của ông là tìm ra được một giải pháp mà giải pháp đó lại đúng với lợi ích của ta… Cái khó trong ngoại giao đối với nhà đàm phán là lúc nào thì “nhu”, lúc nào thì “cương”, thậm chí lúc nào thì nặng lời với đối phương. Ông Lê Đức Thọ đã thành công trong việc ứng xử linh hoạt này, khiến Kissinger phải nể phục…”.

Nhà ngoại giao Lê Đức Thọ tại Hội nghị ParisCố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ trao tặng bút cho tiến sĩ Kissinger sau khi hai bên ký tắt “Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” ngày 23/1/1973. Ảnh: Văn Lượng-TTXVN

Khi thương lượng bí mật với Kissinger tại Paris, ông Lê Đức Thọ đã ở tuổi 60, trong khi Kissinger mới ngót 50 tuổi lại rất khỏe mạnh. Kissinger lúc nào cũng muốn gặp ông Lê Đức Thọ vào buổi tối và cố tình kéo dài tới thật khuya, thậm chí tới tảng sáng hôm sau, nhằm làm cho ông Thọ mệt mỏi, thiếu minh mẫn hòng tìm cách lừa ông có những đối sách không có lợi cho ta.

Nhưng ông Lê Đức Thọ lúc nào cũng tỉnh táo, vững như bàn thạch, và khi nào mệt mỏi quá thì ông đề nghị phía Mỹ nghỉ giải lao để giải khát và đi bách bộ ra vườn quanh biệt thự để bàn bạc với các thành viên khác trong đoàn ta.

Sau hơn bốn năm đàm phán, ngày 8/10/1972 ta chủ động đưa ra dự thảo hiệp định và sau hơn 10 ngày bàn bạc và bổ sung, Kissinger báo cáo về Mỹ và Nixon đã nói hiệp định xem như đã hoàn thành. Kissinger tuyên bố “Hòa bình đã ở trong tầm tay”. Phía ta muốn có được hiệp định trước cuộc bầu cử tổng thống Mỹ và dự định ký hiệp định vào tuần cuối cùng của tháng 10/1972. Nhưng ngày 23/10/1972, Nixon gửi thư cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng và thông báo rằng, do chính quyền Sài Gòn ngăn cản nên Mỹ đề nghị có thêm một cuộc gặp bí mật nữa. Chính phủ ta đã vạch mặt sự tráo trở của Mỹ và công bố nội dung Hiệp định hòa bình đã được ta và Mỹ thỏa thuận cùng hai bức điện của Nixon gửi Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Mỹ bị dồn vào chân tường. Mãi đến ngày 20/11/1972 ta và Mỹ mới gặp lại nhau. Và tại cuộc gặp này, Lê Đức Thọ đã lên án Kissinger và chính quyền Mỹ lật lọng. Kissinger nhũn như con chi chi ngồi chịu trận, và chiều hôm đó ông ta đòi sửa tới hơn 60 câu chữ trong hiệp định đã thỏa thuận. Ta chỉ đồng ý sửa một vài chi tiết không thực chất, không chấp nhận sửa những vấn đề thuộc về nguyên tắc và cuộc họp đi vào bế tắc.

Ngày 14/12 Kissinger về Mỹ bàn bạc thêm, ngày hôm sau Lê Đức Thọ rờiParis về nước để báo cáo với Bộ Chính trị chuẩn bị tình huống xấu nhất. Chiều 18/12, Lê Đức Thọ vừa từ sân bay Gia Lâm về đến nhà ở phố Nguyễn Cảnh Chân thì đêm 18/12/1972 Mỹ cho B.52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng và nhiều nơi khác. Chúng ta đã giáng trả đích đáng, hạ 81 máy bay Mỹ trong 12 ngày này, trong đó tiêu diệt 34 chiếc B.52 như mọi người đã biết.

Ngay trong ngày 18/12, Mỹ gửi thư yêu cầu ta quay lại bàn đàm phán vào ngày 26/12, nhưng ta từ chối. Và sau chiến thắng B.52 trên bầu trời Hà Nội, nghe nói trên đường trở lại Paris Lê Đức Thọ mang theo một mảnh xác máy bay B.52 để “tặng” Kissinger trong cuộc gặp ngày 8/1/1973.

Buổi gặp hôm đó, Lê Đức Thọ đến địa điểm trước và đoàn ta không ra cổng đón Kissinger như mọi khi, chỉ có người bảo vệ Pháp ra mở cổng cho đoàn xe của Kissinger vào. Chắc đoàn Mỹ cũng hiểu ý nghĩa sự lạnh nhạt đó của phía ta.

Lê Đức Thọ mở màn cuộc gặp như sau: ”Các ông lấy cớ đàm phán gián đoạn để ném bom lại miền Bắc Việt Nam giữa lúc tôi vừa về đến Hà Nội có thể nói là rất “lịch sự”! Tôi có thể nói rằng hành động của các ông rất trắng trợn và thô bạo. Các ông tưởng rằng làm như vậy là có thể khuất phục được chúng tôi, nhưng các ông đã nhầm… Chính các ông đã làm cho cuộc đàm phán khó khăn, chính các ông đã làm cho danh dự nước Mỹ bị hoen ố!”.

Lê Đức Thọ đòi Mỹ chấm dứt thủ đoạn thương lượng trên thế mạnh và đi vào đàm phán nghiêm chỉnh. Kissinger không hăng hái bào chữa như những lần trước, chỉ thanh minh rằng sở dĩ có những việc vừa qua là vì cách đàm phán của Việt Nam trong tháng 12 làm cho Mỹ và Việt Nam kéo dài đàm phán, không muốn giải quyết…

Sau mấy ngày đàm phán, ngày 20/1/1973 kết thúc. Ngày 23/1 các bên ký tắt hiệp định, ngày 27/1/1973 Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh được 4 bên chính thức ký kết. Hòa bình được lập lại ở Việt Nam, tiếp đó là ở Lào và cuối cùng là ở Campuchia. Hai ngày sau Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh, Bộ trưởng Xuân Thủy về đến Hà Nội trong niềm vui khôn tả của nhân dân cả nước.

Đầu tháng 2/1973, Kissinger đến Hà Nội, Lê Đức Thọ đón và đưa ông ta tới thăm Bảo tàng Cách mạng Việt Nam. Ông dẫn Kissinger tới chỗ văn bia của Lý Thường Kiệt và nói bài “Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế Cư” chính là lời tuyên bố về chủ quyền của Việt Nam cũng giống như bài “Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi vậy. Ai không tôn trọng chủ quyền của Việt Nam thì đều bị Việt Nam chống lại và đánh cho thất bại.

Theo Nguyễn Như Kim
 Báo Tin tức

dantri.com.vn

Ngày này 40 năm trước, Hiệp định Paris có hiệu lực

(VOV) -Hồi ức của một nhà báo Đài TNVN trong ngày lịch sử đáng nhớ của đất nước và đời người

Sau ngày Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc, cố vấn Lê Đức Thọ trở lại bàn Hội nghị Paris, chúng tôi không khi nào rời máy thu thanh. Ai cũng nghe các bản tin thời sự, bình luận của đài phát thanh Giải phóng, đài Tiếng nói Việt Nam.

Tối đến, dưới căn nhà hầm của Ban Tuyên huấn tỉnh ủy Thừa Thiên Huế đóng ở động Mang Chang sôi nổi hẳn lên. Mỗi người nói lại rồi bình về diễn biến hội nghị Paris mỗi kiểu khác nhau. Paris xa xôi mà mặt trận chỉ cách một tiếng súng nổ đầu nòng.

Nhưng đến sáng 28/1/1973 thì không ai bàn cãi gì nữa, chúng tôi cùng hô vang: ta thắng rồi.

Ông Dương Xuân Tư, phụ trách điện đài đoàn VNDCCH trong suốt thời gian diễn ra Hội nghị Paris chuyển điện công khai và mật mã với Hà Nội

Sáng ấy lạ lắm. Mưa rừng lất phất, đường đất trơn tuột, nhưng cánh thanh niên chúng tôi hết đi lại chạy, vừa leo lên dốc lại xuống suối, chặt cây, hái hoa rừng để chuẩn bị đón giây phút hòa bình đầu tiên. Chiếc tăng dã chiến được căng lên phủ kín bức tường đất. Chính giữa là ảnh Bác Hồ. Bàn ghế là những cây gỗ được đẽo phẳng, chôn thẳng xuống đất. Mặt bàn bằng cây cau rừng ghép lại, lổn nhổn, gồ ghề. Lọ hoa là vỏ hộp thịt Mỹ từ thời nơi đây là căn cứ hành quân dã ngoại của chúng. Hoa rừng tươi rói đủ màu vàng, đỏ.

Gần ba chục con người xiết vai nhau đứng vòng quanh chiếc bàn dã chiến hướng lên chân dung Bác Hồ đón đợi giây phút hòa bình đầu tiên ở chiến trường.

Im lặng. Không gian mỏng tang. Tôi nghe rõ tiếng tích tắc trên chiếc đồng hồ đeo tay của anh Hiểu, bên Tỉnh đội.

Đúng 7 giờ sáng. Hòa bình rồi!

Chúng tôi reo to. Không gian vỡ òa.

Chúng tôi, những nhà báo, nhà văn, nhà giáo, huấn học, cán bộ phong trào, cán bộ chính trị từ Huế, Quảng Trị lên, từ Hà Nội vào họp thành đội ngũ thông tin tuyên truyền. O Gái, còn gọi là Kim Cúc cười tươi, nhe chiếc răng “cời” dễ thương:

–         Chà, ở bờ sông Hai Nhánh giờ này đi lại tự do nghe. Không sợ rọ, gáo
trên đầu nữa.

–         Anh em ở trên “trọc” Phong Điền, Phú Lộc, Hương Thủy tha hồ mà bay nhảy.

Anh Sự, trưởng ban Tuyên huấn tỉnh ủy chỉ tay vào chiếc đài bán dẫn đặt ngay ngắn giữa bàn. Mọi người hướng vào. Tiếng phát thanh viên long trọng thông báo: Hà Nội và cả miền Bắc treo cờ Tổ quốc 8 ngày. Việt Khoa đọc lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Mọi người nâng cốc chè rừng chào mừng ngày hòa bình đầu tiên. Anh Ngô Kha có biệt tài “ngủ không nhắm mắt” cười to:

–         Chao ôi là sướng. Muốn viết thư cho vợ quá.

Anh Quế Lâm chăm chú nghe đài, hý hoáy ghi chép, chợt kêu lên:

–         Anh em có nghe gì không? Ông Lê Đức Thọ ký xong hiệp định Paris liền trao bút cho ông Kissinger và nói: ông cầm lấy và nhớ thi hành hiệp định nhé. Khoái thật. Thế mới là ngoại giao chứ.

Thế là câu chuyện xoay sang đại lộ Kleibe giữa Paris tráng lệ. Quế Lâm khịt khịt mũi:

–         Này, thằng cha Trần Văn Lắm khi nào cũng phải ký cuối cùng nhé.

–         Hứng chịu thất bại mà.

–         Chắc là mặt mày ủ rũ lắm.

–         Buộc phải ký thôi.

Anh Đoàn Dũng, phó ban tuyên huấn nhỏ nhẹ:

–         Yên mà nghe đài tường thuật kìa. Bà Nguyễn thị Bình ghê thật. Chữ ký lịch sử nhé, lại là phụ nữ nữa mới oai chứ.

Sợ mất sóng nên chúng tôi mở ba đài một lúc. Tiếng phát thanh viên đang đọc xã luận báo Nhân dân, nói đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập nền ngoại giao cách mạng. Anh Khiêm, cán bộ huấn học vốn trầm lắng bật khóc. Hòa bình thật rồi, Bác Hồ ơi.

Mưa rừng thêm nặng hạt. Mái lá lao xao rồi xô nhau theo ngọn gió thổi thốc từ đầu suối. Anh Đoàn Dũng trầm ngâm:

–         Chà, cái năm 69, sau Mậu Thân, cực da diết, đói lắm quý vị ơi. Ai chớ, anh Sự đây này, ăn một lúc 9 chiếc bánh móng trâu, rồi tháo dạ, đói vẫn hoàn đói.

Anh Sự nhỏ nhẹ:

–         Lại còn khát muối nữa chứ. 17 người mới được hai thía cà phê muối. Đầu gối cứ rũ ra.

Anh Ngô Kha chậm rãi kể lại chuyện anh bộ đội đói quá, khát quá, không đi được nữa. Biết mình không gắng gượng nổi, anh lấy hơi sức cuối cùng cho áo vào quần ngay ngắn rồi nằm lên võng cho đến khi trút hơi thở cuối cùng. Có đơn vị bộ đội trước khi vào trận đánh chỉ được phát một khúc sắn luộc. Lệnh của chỉ huy là khi vào hàng rào số một mới được ăn để có sức chiến đấu. Có chiến sỹ khi hy sinh tay vẫn nắm chặt mẩu sắn đẫm máu.

Anh Sự lau nước mắt nhòa hết mặt kính, nghẹn ngào:

–         Chúng ta phải trả giá hòa bình quá đắt.

Tiếng máy bay xoẹt qua đầu phá tan không khí trầm lắng. Chúng nó trở mặt rồi đây. Tin điện từ quân khu thông báo rạng sáng 28/1/1973, địch đã vi phạm Hiệp định Paris, nống ra đánh chiếm Cửa Việt. Tin khắp nơi điện về, địch đang thực hiện chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”, lấn đất, giành dân.

Tôi được lệnh lên trạm xá Nam khai thác tù binh ngụy vi phạm Hiệp định hòa bình. Tôi hỏi tên tù binh: “Tại sao biết có lệnh đình chiến rồi mà anh vẫn lấn chiếm?” Anh ta trả lời: “Tôi biết đã có hiệp định hòa bình. Tôi mừng lắm chứ, nhưng chỉ huy bắt tôi đi bắn giết. Tôi không đi thì chúng sẽ giết hết cả nhà tôi.”

Vậy là Hiệp định Paris đã đưa chúng tôi đến một cuộc chiến đấu mới cho toàn thắng./.

CTV Vĩnh Trà/VOV online
vov.vn

Đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế là những nhân tố quyết định thắng lợi của Hiệp định Paris

(ĐCSVN) – Nhân dịp kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết (27/1/1973 – 27/1/2013), phóng viên Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đã có cuộc phỏng vấn bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước, vào thời điểm đó là người đại diện cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ký vào văn kiện lịch sử này.

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, Trưởng đoàn đàm phán
Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam
(Ảnh: Khánh Lan)

Phóng viên (PV): Quá trình đàm phán Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam là sự kiện tâm điểm của thế giới trong giai đoạn từ 1968 – 1972. Vậy, với tư cách là Trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và là người phụ nữ duy nhất tham gia vào sự kiện quan trọng này, bà có thể chia sẻ cảm xúc của bà tại thời điểm đặt bút ký vào Hiệp định Paris?Bà Nguyễn Thị Bình: Năm 1960, khi Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam được thành lập thì tôi được cử làm Uỷ viên Trung ương Mặt trận phụ trách về đối ngoại. Trong giai đoạn từ 1962 đến 1967, tôi cũng đã tham gia vào nhiều hoạt động đối ngoại. Các đồng chí lãnh đạo đã quyết định cử tôi tham gia đoàn đàm phán Hiệp định Paris với tư cách là Trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Khi nhận được quyết định này, tôi cảm thấy rất vinh dự, song cũng rất lo lắng vì đây là một nhiệm vụ, trọng trách nặng nề. Song với quyết tâm, tôi nghĩ mình có thể làm và phải cố gắng làm tốt nhiệm vụ cấp trên giao cho.

Ngày 27/1/1973, tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber, tôi – đại diện đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và ông Nguyễn Duy Trinh, đại diện cho đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH); ông Williams Rogers, đại diện cho Hoa Kỳ và ông Trần Văn Lắm, đại diện cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã chính thức ký Hiệp định Paris và các Nghị định thư liên quan về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Việt Nam sau gần 5 năm đàm phán. Tại thời điểm đó, tôi cảm thấy rất xúc động vì đã được thay mặt cho nhân dân miền Nam Việt Nam ký vào một văn kiện lịch sử.

Để có được kết quả trên là có sự đóng góp xương máu của đồng chí, đồng bào đã ngã xuống vì cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc kéo dài gần 20 năm; có sự ủng hộ của hàng triệu bạn bè quốc tế… Tất cả những điều đó khiến tôi vô cùng xúc động và có lẽ cảm xúc này sẽ đi theo tôi suốt cuộc đời mình.

PV: Cuộc đàm phán Hiệp định Paris là một cuộc đàm phán dài nhất trong lịch sử và có những lúc tưởng chừng như dậm chân tại chỗ. Bà có thể chia sẻ một vài thông tin về cuộc đàm phán và những suy nghĩ của mình trong quá trình tham gia đàm phán?

Bà Nguyễn Thị Bình: Chính xác cuộc đàm phán Hiệp định Paris diễn ra trong 4 năm 8 tháng 16 ngày là cuộc đàm phán dài nhất trong lịch sử ngoại giao Việt Nam, với 202 phiên họp công khai diễn ra tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber từ ngày 13/5/1968 đến ngày 27/1/1973, và 36 phiên gặp riêng cấp cao tại nhiều địa điểm khác nhau ở Paris. Cuộc đàm phán chia làm hai giai đoạn, giai đoạn thứ nhất từ ngày 13/5/1968 đến hết tháng 10/1968, giai đoạn thứ hai từ ngày 25/1/1969 đến ngày 27/1/1973.

Cuộc đàm phán diễn ra gần 5 năm, cũng có lúc tưởng chừng như dậm chân tại chỗ và có những lúc báo chí đã nói, đây là “cuộc đàm phán giữa những người điếc” vì mỗi bên đều thể hiện lập trường của mình và không ai nghe ai hết. Mặc khác, trên chiến trường, tương quan lực lượng chưa có quyết định gì cho ai mạnh hơn ai, hai bên giằng co. Cứ vào thứ 5 hàng tuần, tại Trung tâm Kléber, các cuộc họp cứ lặp đi lặp lại. Nhiều lúc các đại biểu cảm thấy chán ngán và không biết đến khi nào cuộc đàm phán sẽ kết thúc.

PV: Được biết, về nội dung của Hiệp định Paris đã được ký kết cơ bản giống bản dự thảo Hiệp định Dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” và Dự thảo “Thỏa thuận về quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam” của đoàn Chính phủ VNDCCH đưa ra tháng 10/1972. Vậy, bà có thể chia sẻ một số nội dung của Hiệp định này?

Sau gần 5 năm đàm phán, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại
hòa bình tại Việt Nam đã được ký kết ngày 27/1/1973 (Ảnh tư liệu)

Theo tôi, đợt đàm phán có ý nghĩa quyết định nhất diễn ra vào tháng 10/1972. Khi đó phía Mỹ, chính quyền Nixon nghĩ không thể đánh bại chúng ta bằng quân sự. Vì vậy, họ chấp nhận dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” và Dự thảo “Thỏa thuận về quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam” do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra, trong đó chấp nhận rút quân hoàn toàn khỏi Việt Nam và để vấn đề chính trị của miền Nam Việt Nam cho các bên của Việt Nam tự giải quyết. Tuy nhiên, sau đó, chính quyền Nixon đã lật lọng, ngừng đàm phán và tìm mọi cách để không chấp nhận những yêu cầu của Việt Nam. Mỹ muốn thực hiện các ý đồ bằng chiến dịch “Việt Nam hóa chiến tranh”, dùng vũ khí Mỹ nhưng dùng quân đội miền Nam Việt Nam thay thế quân đội Mỹ để thực hiện thôn tính Việt Nam. Ngoài ra, Mỹ đã dùng B52 để không kích, tàn phá Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh miền Bắc suốt 12 ngày đêm. Cuộc không kích của Mỹ thất bại nặng nề không những về mặt quân sự mà còn về chính trị. Chưa chấm dứt ném bom, Mỹ đặt vấn đề nối lại cuộc đàm phán. Sau thất bại đó, Mỹ phải chấp nhận ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Hiệp định Paris đã được ký kết cơ bản về nội dung giống như bản Hiệp định đã được dự thảo trước đó.Hiệp định Paris là một tổng thể bao gồm Hiệp định, 4 Nghị định thư, 8 bản Hiểu biết (Understanding), Định ước quốc tế, Tuyên bố chung và các văn thư trao đổi giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Hiệp định Paris đã ghi nhận cam kết của Mỹ tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; Quy định việc Mỹ rút hết quân khỏi Việt Nam và Đông Dương trong khi quân đội của miền Bắc Việt Nam tiếp tục ở lại miền Nam Việt Nam; Công nhận ở miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, có hai lực lượng vũ trang đối lập kiểm soát hai vùng lãnh thổ khác nhau ở miền Nam Việt Nam. Việc thi hành Hiệp định Paris 1973 làm thay đổi so sánh lực lượng ở miền Nam Việt Nam có lợi cho cách mạng, củng cố lực lượng của cách mạng, làm cho chính quyền thân Mỹ ở miền Nam mất chỗ dựa, suy yếu về chính trị, vì trên thực tế, Mỹ không còn công nhận ngụy quyền là chính quyền duy nhất đại diện cho Nam Việt Nam.

PV: Bà đánh giá thế nào về vai trò, thế của đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Paris?

Bà Nguyễn Thị Bình: Phải nói là khi bắt đầu đàm phán, một trong những vấn đề giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và phía Mỹ phải đấu tranh rất quyết liệt bởi sự có mặt của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tại Hội nghị 4 bên. Mỹ hoàn toàn không muốn sự có mặt của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, nhưng tình thế buộc Mỹ chấp nhận. Việc Mỹ phải chấp nhận đàm phán với sự có mặt của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam là một thắng lợi chính trị – ngoại giao bước đầu, một thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của chúng ta trên bàn Hội nghị. Mỹ vô hình chung đã phải thừa nhận ở miền Nam Việt Nam có một phong trào yêu nước, có một cuộc chiến đấu của nhân dân chống lại sự xâm lược của Mỹ và chính quyền thân Mỹ.

Bà Nguyễn Thị Bình, Trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền
Nam Việt Nam (ở giữa) ký vào Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh,
lập lại hòa bình tại Việt Nam (Ảnh tư liệu)

Trong 4 đoàn, đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đại diện cho cuộc chiến đấu trực tiếp với Mỹ. Do đó theo tôi, chú ý của thế giới tập trung vào đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam; và hơn nữa, như chúng ta biết, hai đoàn này là một, mục tiêu là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Vì vậy, tất cả những đề nghị giải pháp đưa ra đều do Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ủng hộ. Vì thế, vị thế của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là rất quan trọng trong đàm phán Hiệp định Paris. Bên cạnh đó, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam còn có vị trí quan trọng, bởi là người trực tiếp chiến đấu, với đường lối độc lập hòa bình trung lập, nhấn mạnh đến đường lối hòa bình, mềm dẻo đối ngoại trong đàm phán.PV: Bà đánh giá thế nào về sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, một trong những yếu tố quan trọng, góp phần vào thắng lợi của Hiệp định Paris nói riêng ,cũng như thắng lợi của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước?

Bà Nguyễn Thị Bình: Trước hết, tôi nhấn mạnh rằng, Hiệp định Paris được ký kết là thắng lợi lịch sử trọng đại của nhân dân Việt Nam, tiến hành trên 3 mặt trận: Quân sự, chính trị và ngoại giao. Và đây cũng là thắng lợi của tất cả những ai trên thế giới đã ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.

Để có được thắng lợi trên là do những đóng góp tích cực không mệt mỏi của các đồng chí đã tham gia hai đoàn Chính phủ VNDCCH và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, những người đã trực tiếp tham gia cuộc đàm phán Hiệp định Paris lâu dài và hết sức khó khăn; sự hy sinh của các đồng chí, đồng bào ta trong suốt 20 năm đấu tranh giành độc lập dân tộc… Nếu không có chiến thắng Mậu Thân 1968, không có những ngày chiến đấu ác liệt bảo vệ thành cổ Quảng Trị, không có chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, không có sự hỗ trợ chi viện của miền Bắc thì không có Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình tại Việt Nam. Và đương nhiên, nếu không có Hiệp định Paris năm 1973 thì sẽ không có Đại thắng mùa Xuân năm 1975.

Tại cuộc đàm phán, hai đoàn Chính phủ VNDCCH và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trên cương vị và nhiệm vụ của mình, khẳng định mục tiêu độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. Với những lý lẽ đanh thép nhưng có tình có lý, đã ảnh hưởng đến các quốc gia, ảnh hưởng mạnh mẽ đến dư luận quốc tế, khơi dậy được tình cảm mến phục của bạn bè quốc tế ủng hộ cuộc chiến tranh chính nghĩa của chúng ta.

Như tôi đã nói, hai đoàn Chính phủ VNDCCH và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuy hai mà một, nên sự tranh thủ vận động bạn bè quốc tế có khác nhau về đối tượng. Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam với đường lối rộng rãi, có thể tranh thủ các lực lượng yêu chuộng hòa bình, công lý, những người có chính kiến khác nhau, các tôn giáo… Đoàn VNDCCH đã thu hút sự ủng hộ của các nước XHCN và các lực lượng yêu chuộng hòa bình tiến bộ và lực lượng cánh tả. Vì vậy, đoàn kết quốc tế do hai đoàn chúng ta triển khai tạo thành mặt trận đoàn kết quốc tế rất lớn, chưa từng có trong lịch sử, một mặt có tác động đến chính phủ Mỹ, tạo thuận lợi cho cuộc chiến tranh.

Chúng ta không thể không kể đến đông đảo người dân trên thế giới đã tham gia phong trào phản chiến, ủng hộ cuộc chiến tranh chính nghĩa của Việt Nam. Ngoài ra, phong trào đoàn kết với Việt Nam của nhân dân Pháp, với sự tham gia nhiệt tình, mạnh mẽ của Đảng Cộng sản Pháp, nhiều đảng phái chính trị, các đoàn thế và nhân dân Pháp đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của hai đoàn đàm phán Chính phủ VNDCCH và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Paris.

PV: Bà có thể chia sẻ kỷ niệm sâu sắc nhất trong quá trình đàm phán Hiệp định Paris?

Bà Nguyễn Thị Bình: Đối với tôi, trong gần 5 năm đàm phán Hiệp định Paris có nhiều kỷ niệm sâu sắc, song có một câu chuyện mà mỗi khi nhớ đến tôi lại rất xúc động. Trong giai đoạn 1968 đến 1973, cuộc đàm phán Paris trở thành sự kiện tâm điểm, thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới. Họ theo dõi xem bao giờ chiến tranh ở Việt Nam có thể chấm dứt vì nó đã kéo dài gần 20 năm. Sự kiện này thu hút được sự quan tâm của nhiều hãng thông tấn quốc tế. Riêng trên cột 1 của Tờ New York Time (Mỹ) đã tổng kết, trong 10 năm liền chỉ nói về Việt Nam; các kênh truyền hình của thế giới đã ghi hình và phát rộng rãi trong vòng gần 5 năm các cuộc đàm phán diễn ra vào thứ 5 hàng tuần. Tôi và các thành viên tham gia đàm phán đã trở thành những khuôn mặt quen thuộc với bạn bè quốc tế.

Có một lần, trong chuyến đi từ Paris đến một quốc gia ở châu Phi, đi qua sân bay Ai Cập, có một số phụ nữ đã đến gặp tôi, tay bắt mặt mừng như những người bạn thân lâu ngày gặp lại, mặc dù tôi không hề quen biết họ. Họ nói đã rất quen với tôi qua các chương trình truyền hình phát về cuộc đàm phán Hiệp định vào thứ 5 hàng tuần. Điều đó khiến tôi rất xúc động và nó cũng thể hiện được sự quan tâm, ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ của chúng ta.

PV: Xin trân trọng cảm ơn bà Nguyễn Thị Bình!

Khánh Lan (thực hiện)
cpv.org.vn

Bản Hiệp định mở đường cho đại thắng

“Hiệp định Pari đánh dấu một thắng lợi quan trọng của nhân dân chúng tôi trong cuộc kháng chiến chống lại cuộc xâm lăng của Mỹ. Đối với chúng tôi, những điều khoản của Hiệp định thật là thuận lợi… Hiệp định Pari mở đường cho đại thắng mùa xuân năm 1975, chấm dứt hơn một thế kỷ đô hộ của thực dân cũ và mới và tái lập nền độc lập, tự do và thống nhất của quê hương chúng tôi” – Thủ tướng Phạm Văn Đồng trả lời phóng viên truyền hình Mỹ Walter Cronkite (năm 1975).

Vẫn còn nhiều tiếng nói khác nhau

Sau bốn thập kỷ, sự phân tích đánh giá về Hiệp định Pari đã tiến gần với sự thật lịch sử hơn. Tuy nhiên vẫn còn nhiều tiếng nói khác nhau.

Có phải Mỹ không thua trận?

Có phải Sài Gòn sụp đổ vì bị Mỹ “bỏ rơi”?

Những người có vai trò chính trong việc ký Hiệp định Pari từ phía Mỹ là các ông R. Nixon và H. Kissinger đều cho rằng họ đã thắng trong chiến tranh, biện hộ cho những thất bại của Mỹ và sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn là do Quốc hội (Mỹ) đã làm “mất hòa bình”.

Mỹ đã gấp rút thực hiện kế hoạch Enhance (Tăng cường) và Enhance Plus (Tăng cường thêm nữa) nhằm củng cố cho quân đội Sài Gòn đủ sức đứng vững một mình sau khi quân Mỹ rút đi.

Ông R. Nixon cho rằng Sài Gòn sụp đổ là do Quốc hội đã không cho Tổng thống (khi đó là G. Ford) quyền sử dụng quân lực để bảo vệ Nam Việt Nam như ông ta đã hứa với Tổng thống ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu trước đó. Không những thế, Quốc hội (Mỹ) còn bác đề nghị chi 722 triệu USD để cứu cho Nam Việt Nam tồn tại. Ông Kissinger thì cho rằng thảm kịch của Mỹ do chính tình hình nội bộ của Mỹ (ý nói vụ Watergate) và nếu không có chuyện đó, Nixon sẽ có điều kiện hạ lệnh ném bom trở lại Bắc Việt Nam ngay từ tháng 4/1973. Ông Kissinger cũng thừa nhận sai lầm của mình khi đánh giá sự sẵn sàng của dân Mỹ ủng hộ những can thiệp của Mỹ – mà ông ta gọi là để bảo vệ Hiệp định. Ngay từ ngày Hiệp định được ký (27/1/1973), kết quả thu được của cơ quan điều tra dư luận Gallup cho thấy đa số dân Mỹ đã chán ghét chiến tranh và phản đối Mỹ quay lại Việt Nam.

Một đánh giá khác của tác giả Phrank Snep trong cuốn Decent Interval (Một khoảng thời gian thích đáng) cho rằng Hiệp định Pari chỉ là “một hình thức bỏ chạy” của Mỹ để rút các lực lượng Mỹ ra khỏi Nam Việt Nam, những vấn đề còn lại của chiến tranh không được giải quyết.

Cuốn Không hòa bình, chẳng danh dự – Nixon, Kissinger, và sự phản bội ở Việt Nam của GS Larry Berman1 dẫn lời của Nixon và Kissinger nói rằng họ có thể nhìn thấy Nam Việt Nam thất bại nhưng muốn sự thất bại đó không diễn ra trong nhiệm kỳ của mình. Tổng thống Nixon muốn một tình trạng bế tắc vô hạn định bằng cách sử dụng máy bay B52 bảo vệ Nam Việt Nam cho đến hết nhiệm kỳ. Tuy nhiên vụ Watergate đã làm hỏng những toan tính đó.

Một số tiếng nói giận dữ và oán hận từ những đồng minh bị thất bại của Mỹ (Nguyễn Văn Thiệu và những phụ tá thân cận của ông ta) cho rằng Thiệu thua vì Mỹ đã phản bội và “bỏ rơi” Nam Việt Nam, thậm chí cho rằng Nam Việt Nam đã thua vì vừa phải đối phó với “kẻ thù Bắc Việt” vừa phải đối phó với đồng minh Mỹ của mình. Những tiếng nói này cũng đồng quan điểm với Siric Matac ở Campuchia cho rằng “Chúng tôi đã lầm lẫn mà tin tưởng vào các ngài, những người bạn Mỹ” khi chế độ thân Mỹ được dựng lên ở đây (sau cuộc đảo chính của Lonnon năm 1970) đang hấp hối.

“Leo thang” trong thế “xuống thang”

Chính thức từ ngày 13/5/1968, Mỹ (buộc phải) đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pari. Từ thời điểm đó, người ta bắt đầu nói đến những biện pháp nhằm giải quyết những vấn đề của cuộc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Sáu tháng sau khi bước vào Nhà trắng trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình, Nixon bắt đầu thực thi một chiến lược chiến tranh mới: Rút dần quân Mỹ về nước; từng bước thực hiện “phi Mỹ hóa chiến tranh” rồi “Việt Nam hóa chiến tranh”; dùng người Việt đánh người Việt bằng viện trợ và vũ khí của Mỹ; kết hợp chiến tranh hủy diệt, chiến tranh giành dân và chiến tranh bóp nghẹt để khống chế phần lớn miền Nam, tiến tới bao vây cô lập, làm cho cuộc chiến tranh cách mạng bị “tàn lụi”, tạo thế mạnh để Mỹ giành thắng lợi về quân sự và chính trị. Tuy “Học thuyết Nixon” có làm “thay đổi màu da xác chết” trên chiến trường nhưng những mục tiêu chiến lược của Mỹ ở miền Nam Việt Nam không thay đổi.

Trong tình thế phải “xuống thang” để rút lực lượng Mỹ nhưng muốn gây sức ép để đạt được kết quả có lợi trên bàn hội nghị, Mỹ vẫn tiếp tục cố gắng kéo dài cuộc chiến ở Việt Nam, thậm chí mở rộng chiến tranh ra ngoài biên giới miền Nam Việt Nam. Trên chiến trường, Mỹ chọn biện pháp tấn công những căn cứ hậu cần chiến lược để tiêu diệt và đẩy lùi lực lượng kháng chiến ra xa thay vì tấn công lại miền Bắc bằng không quân. Nhưng những mục tiêu cơ bản là tiêu diệt các đơn vị chủ lực, tiêu diệt căn cứ kháng chiến đầu não ở miền Nam, cắt đường vận chuyển chiến lược xuyên Đông Dương… đều không đạt được. Một phần lực lượng quân chủ lực thiện chiến và cùng theo đó là số vũ khí, trang thiết bị quân sự bị tổn thất. Không những thế, khi bộ phận quân chủ lực được đưa ra tác chiến ở vùng rừng núi biên giới, thì vùng nông thôn và đô thị đã bị “để lỏng” cho đối phương giành lại thế chủ động.

Những vi phạm được chuẩn bị trước

Mỹ đã dự kiến và gấp rút thực hiện những biện pháp đối phó với những bất lợi của họ bị bản Hiệp định Pari quy định. Nhiều điều khoản của Hiệp định đã bị vi phạm trước khi ký và chuẩn bị cho sự vi phạm sau khi ký.

Ngay sau khi thống nhất cụm từ “ba vùng kiểm soát” dưới sự quy định của một cuộc ngừng bắn tại chỗ trong khi dự thảo Hiệp định với trưởng đoàn Việt Nam là ông Xuân Thủy trong cuộc họp (dài nhất trong các buổi họp kín) ngày 11/10/1972, Kissinger đã điện cho E. Bunker, Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn, “yêu cầu Thiệu cố gắng hết sức để lấn chiếm được càng nhiều càng tốt vùng do Chính phủ cách mạng lâm thời kiểm soát”(2). Thiệu đã thực hiện điều này một cách rất tích cực, xúc tiến gấp kế hoạch “Tràn ngập lãnh thổ”, lấn chiếm, bình định trong thời gian trì hoãn việc ký Hiệp định Pari. Sau khi bản Hiệp định này có hiệu lực, những vi phạm này vẫn tiếp tục với quy mô lớn bằng nhiều cuộc hành quân của Thiệu đánh chiếm Cửa Việt, đánh chiếm Sa Huỳnh và nhiều nơi khác ở miền Trung, lấn chiếm vùng đồng bằng sông Cửu Long…

Mỹ đã gấp rút thực hiện kế hoạch Enhance (Tăng cường) và Enhance Plus (Tăng cường thêm nữa) nhằm củng cố cho quân đội Sài Gòn đủ sức đứng vững một mình sau khi quân Mỹ rút đi. Chỉ trong thời gian ngắn từ cuối năm 1972 đến đầu năm 1973, cầu hàng không đã đổ cho chính quyền Thiệu 700 máy bay, 500 pháo các loại, 400 xe tăng và xe bọc thép, bổ sung 2 triệu tấn dự trữ vật tư chiến tranh (3).

Sự suy yếu trên chiến trường và trên chính trường

Về quân sự, sau khi lính Mỹ rút đi, nguồn viện trợ quân sự Mỹ sụt giảm, quân đội Sài Gòn, dù được tiếp sức cấp tốc, không thể làm nổi những gì mà hơn nửa triệu quân Mỹ và gần 10 triệu tấn bom đạn đã không làm được trong những năm trước đó.

Về chính trị, Mỹ chọn giữ lại Thiệu như một bảo đảm về cơ hội để can thiệp vào Việt Nam và Đông Dương, bảo đảm cho vai trò của Mỹ ở khu vực và giữ cho Nam Việt Nam không bị trung lập hóa rồi cuối cùng rơi vào tay lực lượng cách mạng. Thiệu là người chống cộng quyết liệt. Nếu một nhân vật ôn hòa hơn được cả hai phía chấp nhận sẽ dẫn đến một chính phủ liên hiệp trong tương lai và phía cộng sản – với sự ủng hộ của dân chúng – sẽ dần dần chiếm đa số trong chính quyền đó. Nhưng Mỹ đã “đặt cược” sai. Chính quyền Thiệu, tiếp nối những chính quyền Sài Gòn trước đó (do Mỹ dựng lên và nuôi dưỡng) là một chính quyền không có dân chúng. Lý do tồn tại của nó là chiến tranh và nguồn sống của nó chỉ là viện trợ Mỹ. Bộ máy của chính quyền này bị mục ruỗng vì nạn tham nhũng (đến mức đã báo hiệu sự cáo chung), bị hư hoại vì hàng loạt những vấn đề chính trị – kinh tế – xã hội nảy sinh và chưa giải quyết được sau khi quân Mỹ rút đi và viện trợ Mỹ bị cắt giảm.

Vụ Watergate đã làm Nixon ra đi và lực lượng quân sự Mỹ không còn khả năng quay lại Nam Việt Nam như trước Hiệp định Pari và như lời hứa của ông ta với đồng minh ở Sài Gòn. Việc không thực hiện được lời hứa này là lý do để Thiệu và nhiều người khác kết tội Mỹ “bỏ rơi” đồng minh ở Sài Gòn. Ông Nguyễn Tiến Hưng (Tổng trưởng Kinh tế cuối cùng của Thiệu) trong cuốn sách của mình đã công bố một số trong số những bức thư của Nixon gửi Thiệu, trong đó nhấn mạnh:

“… Tôi tuyệt đối cam đoan với ngài rằng, nếu Hà Nội không tuân theo những điều kiện của Hiệp định này thì tôi cương quyết sẽ có hành động trả đũa mau lẹ và ác liệt” (14/11/1972).

“… nền tự do và độc lập của Việt Nam cộng hoà vẫn là một mục tiêu tối cao của chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ…
– Thứ nhất, chúng tôi chỉ thừa nhận chính phủ của ngài là chính phủ hợp pháp duy nhất tại Việt Nam.
– Thứ hai, chúng tôi không thừa nhận quyền ở lại của quân đội ngoại quốc trên phần đất miền Nam Việt Nam.
– Thứ ba, Hoa Kỳ sẽ phản ứng mãnh liệt đối với những vi phạm hiệp định…” (17/1/1973)(4).

Thiệu đã coi đó như một “lời hứa danh dự”. Còn ông Kissinger lại trả lời trước Ủy ban Ngoại giao Thượng viện Mỹ (năm 1975) rằng những lá thư đó “không phải là cam kết pháp lý. Chúng tôi chưa bao giờ nói là có một cam kết pháp lý” (5).

“Khả năng thứ hai”

Con đường đi từ Hiệp định hòa bình đến hòa bình và thống nhất đất nước trên thực tế của nhân dân Việt Nam không bằng phẳng. Để đi từ hòa bình trên đầu ngọn bút đến hòa bình trong thực tế, quân và dân hai miền Nam, Bắc Việt Nam còn phải chịu thêm nhiều tổn thất hy sinh do những âm mưu và hành động ngoan cố của Mỹ và tập đoàn tay sai do họ dựng lên. Những người lãnh đạo và nhân dân Việt Nam không có ảo tưởng về sự “bằng phẳng” trên con đường đi đến hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước. Tháng 10/1973, Hội nghị trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã dự kiến tình hình sẽ phát triển theo hai khả năng:

1. Do đấu tranh tích cực trên ba mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao, ta có thể từng bước buộc địch phải thi hành Hiệp định Pari về Việt Nam, hòa bình được lập lại thật sự, cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam nhằm hoàn thành độc lập, dân chủ tuy còn lâu dài nhưng ngày càng phát triển và ở thế tiến lên mạnh mẽ.

2. Mặt khác, do âm mưu chiến lược của đế quốc Mỹ cố bám giữ khu vực Đông Dương, Đông Nam Á, do bản chất cực kỳ phản động ngoan cố của Mỹ và tập đoàn thống trị tư sản mại bản quan liêu, quân phiệt tay sai Mỹ, Hiệp định Pari về Việt Nam tiếp tục bị địch vi phạm và phá hoại, xung đột quân sự có thể ngày càng tăng, cường độ và quy mô chiến tranh ngày càng lớn, ta lại phải tiến hành chiến tranh cách mạng gay go quyết liệt để đánh bại địch, giành thắng lợi hoàn toàn.
Ta phải hết sức tranh thủ thực hiện khả năng thứ nhất và chuẩn bị sẵn sàng cho khả năng thứ hai” (6).

Thực tế lịch sử đã diễn ra theo khả năng thứ hai như Đảng ta đã dự kiến.

Ngô Vương Anh
baotintuc.vn

(1) Bản dịch tiếng Việt từ nguyên bản tiếng Anh của Nxb Free Press, thuộc tổ hợp Simon & Schuster, NewYork, 2001 – Dịch giả Nguyễn Mạnh Hùng – Việt Nam Tyde xuất bản (2003).
(2) H. Kissinger – Ở Nhà trắng – Dẫn lại theo Lưu Văn Lợi; Nguyễn Anh Vũ – Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ Kísinger tại Paris (1996) – Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr 417 và Larry Berman – Không hòa bình chẳng danh dự… Sđd, tr 215.
(3) Ban tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị – Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước – Thắng lợi và bài học (1996) – Nxb CTQG, Hà Nội, tr 328.
(4) Nguyễn Tiến Hưng và Jerold. L. Schecter – Palace file (Hố sơ mật dinh Độc lập) (1978), NewYork, Harper & Row – Phần tiếng Việt, The printers, Mountain View, tr 2; 3.
(5) Larry Berman – Không hòa bình, chẳng danh dự… Sđd, tr 387.
(6) Đảng Cộng sản Việt Nam – Văn kiện Đảng toàn tập (2004) – Nxb CTQG, Hà Nội, tập 34, tr 231.

Nụ cười Võ Thị Thắng

Kỷ niệm ngày ký kết Hiệp định Paris 27-1-1973:

Theo tinh thần bản Hiệp định Paris, kẻ địch buộc phải trao trả những người yêu nước bị chúng bắt, cầm tù. Người sinh viên yêu nước, chiến sĩ biệt động thành Võ Thị Thắng với “Nụ cười chiến thắng” nổi tiếng tại phiên tòa của Mỹ – ngụy năm 1968 nằm trong số đó. Và có một người đã ghi lại được những hình ảnh cảm động ngày trở về của chị.

… “Thời điểm đó, tôi (Hồ Văn Sanh) được tổ chức phân công làm Trưởng ban Thông tấn báo chí của phái đoàn quân sự Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam VN trong Ban liên hiệp quân sự hai bên. Đoàn ta đóng tại trại David (sân bay Tân Sơn Nhất).

Tôi là phát ngôn viên của phái đoàn quân sự ta – Trong căn nhà cấp 4 trên đường Cách Mạng Tháng Tám – TP Cần Thơ, Thiếu tướng Hồ Văn Sanh nay đã 80 tuổi nhớ lại – Chính vì danh nghĩa đó tôi có thể đi lại, đến được tận cầu thang máy bay (theo quy định, nơi trao trả thuộc quyền ta kiểm soát cách nơi đỗ máy bay hơn 100m). Do có ý định nên trước khi ra Lộc Ninh đón đoàn tôi đã mượn anh em chiếc máy ảnh Minota đã cũ cùng một cuộn phim.

Chị Võ Thị Thắng (bìa phải hàng thứ hai)
và đồng đội (1973).
Ảnh: HỒ VĂN SANH

Chị Võ Thị Thắng nằm trong nhóm cuối cùng của chiếc máy bay cuối cùng chiều hôm đó. Đúng như dự đoán, địch ngăn không cho các phóng viên ảnh, quay phim của ta vô khu vực đỗ máy bay. Tôi đi sát một số nhân viên giám sát quốc tế, len vào, ra tận cầu thang máy bay. Tôi nhận ngay ra chị bởi nụ cười, một nụ cười rất thân thiện, dịu dàng, cởi mở. Và sau đó trên đoạn đường hơn 100m về nơi tập kết của ta tôi chụp hình chị liên tục. Rất tiếc chỉ chụp được khoảng 10-11 tấm thì hết phim.

Trước kẻ thù, chị Thắng tự tin, bình thản cười kiêu hãnh, giễu cợt mức án 20 năm khổ sai của chúng. Một phóng viên người Nhật đã chớp được khoảnh khắc tuyệt vời đó để rồi nhân dân cả nước và thế giới biết đến “Nụ cười chiến thắng”, biết đến bản lĩnh bất khuất của những người con gái Việt Nam. Sau 5 năm tù đày, qua nhiều nhà lao tàn bạo, kẻ thù vẫn không dập tắt nổi nụ cười đó, niềm tin đó. Hôm nay chị trở về với đồng bào đồng chí với nụ cười đầy dịu dàng, tin cậy.

…Chiến tranh đã đi qua nhiều năm rồi nhưng những kỷ vật của một thời chinh chiến tôi vẫn luôn lưu giữ. Nó nhắc nhở mình luôn phải sống xứng đáng hơn”.

(Theo SGGP)
cpv.org.vn

Kỷ niệm trọng thể 40 năm ngày ký Hiệp định Pari

Ngày 25/1, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Hà Nội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Ngoại giao đã tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27/1/1973 – 27/1/2013), sự kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của nhân dân ta và nền ngoại giao Việt Nam.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đọc diễn văn tại Lễ kỷ niệm.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước qua các thời kỳ, các vị khách quốc tế, các thành viên phái đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, các cán bộ, chiến sỹ đã tham gia phục vụ Hội nghị Pari đã đến dự.

Cách đây 40 năm, ngày 27/1/1973, Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, kết thúc thắng lợi cuộc đấu tranh ngoại giao dài nhất, khó khăn nhất trong lịch sử ngoại giao nước ta ở thế kỷ 20; đánh dấu thắng lợi lịch sử của nhân dân ta sau hơn 19 năm đấu tranh kiên cường, bất khuất trên các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao chống Mỹ xâm lược. Hiệp định đã mở ra một cục diện mới với thế mạnh áp đảo của Việt Nam trên chiến trường, tạo tiền đề vững chắc cho quân và dân ta tiến lên “đánh cho ngụy nhào” với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, mặt trận ngoại giao tại Hội nghị Pari đã phối hợp nhịp nhàng với các mặt trận chính trị, quân sự; phát huy thắng lợi trên các chiến trường, giữ vững thế chủ động trong đàm phán, liên tục tiến công. Song song với đấu tranh trên bàn đàm phán, các hoạt động tranh thủ dư luận quốc tế tại Hội nghị Pari làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ chính nghĩa sáng ngời của cuộc chiến tranh giải phóng và thiện chí hòa bình của nhân dân Việt Nam; vạch trần những thủ đoạn, mưu đồ đen tối, tính chất phi nghĩa, tàn bạo của cuộc chiến tranh xâm lược của địch, đã góp phần quan trọng tạo nên phong trào nhân dân thế giới rộng lớn chống Mỹ, ủng hộ Việt Nam – một phong trào mang tính lịch sử và thời đại, tiêu biểu cho lương tri của loài người, đã tác động rất lớn tới dư luận tiến bộ Mỹ, thúc đẩy sự lớn mạnh của phong trào phản chiến ngay trong lòng nước Mỹ.

Phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khẳng định: Hiệp định Pari là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao nước ta thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, là mốc son trong trang sử vàng của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. Thắng lợi này mang đậm dấu ấn và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh; có sự đóng góp từ những nỗ lực hết mình của các cán bộ, chiến sỹ trên mặt trận ngoại giao thời kỳ chống Mỹ, cứu nước mà trực tiếp là cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Pari, cuộc đấu trí thể hiện bản lĩnh kiên cường, thông minh, sáng tạo của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam với một nền ngoại giao nhà nghề, sừng sỏ.

Chủ tịch nước bày tỏ, kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ghi lòng tạc dạ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, người đã đặt nền móng cho nền ngoại giao cách mạng Việt Nam; ghi nhớ công lao của biết bao đồng bào, đồng chí, chiến sỹ đã anh dũng chiến đấu, hy sinh để làm nên những chiến công chói lọi; ghi nhận và đánh giá cao sự đóng góp của các thành viên: Đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa do đồng chí Xuân Thủy làm Trưởng đoàn và Đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do đồng chí Nguyễn Thị Bình làm Trưởng đoàn, đặc biệt là vai trò và những cống hiến to lớn của đồng chí Cố vấn Lê Đức Thọ; biết ơn chân thành các nước xã hội chủ nghĩa anh em, bạn bè quốc tế, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ, đã ủng hộ, cổ vũ cho cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân ta vì độc lập, tự do, hòa bình và công lý.

Chủ tịch nước nhấn mạnh, những bài học của Hội nghị Pari là hành trang quý giá để đất nước vững bước tiến vào giai đoạn hội nhập quốc tế, đưa quan hệ hữu nghị và hợp tác với tất cả các đối tác đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững, củng cố, nâng cao thế và lực của đất nước. Phát huy truyền thống tốt đẹp của ngoại giao Việt Nam và những bài học quý giá của Hội nghị Pari, công tác đối ngoại cần quán triệt, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ Đại hội XI của Đảng đã đề ra, trong đó cần tập trung tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại; kiên định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ; là bạn là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác đối ngoại phục vụ sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước; xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại tuyệt đối trung thành, suốt đời phấn đấu vì lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ngang tầm với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Tại buổi lễ, Chủ tịch nước đã trao tặng Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho hai đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vì những thành tích xuất sắc trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước.

Tại buổi lễ, nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, nguyên Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã phát biểu nhấn mạnh thắng lợi của Việt Nam tại cuộc đàm phán Pari là minh chứng tập trung nhất về sự đúng đắn, tài tình của đường lối sách lược của nền ngoại giao Việt Nam dưới sự lãnh đạo tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguyên Phó Chủ tịch nước nhấn mạnh, nếu không có Tết Mậu Thân 1968, không có cuộc giải phóng tỉnh Quảng Trị và 81 ngày đêm chiến đấu ác liệt xung quanh Thành cổ Quảng Trị, không có trận Điện Biên Phủ trên không, không có miền Bắc – Hậu phương lớn hỗ trợ cho tiền tuyến lớn phía Nam thì không có Hội nghị Pari về Việt Nam, không thể có Đại thắng mùa Xuân năm 1975. Bên cạnh đó, không thể không kể đến hàng triệu, hàng triệu người trên thế giới ở châu Âu, châu Á – Phi – Mỹ la tinh, châu Đại dương, phong trào phản chiến ở Mỹ bằng nhiều hình thức đã góp phần vào thắng lợi của nhân dân Việt Nam.

Đại diện các đoàn khách quốc tế dự buổi lễ, bà Helene Luc, Thượng nghị sĩ danh dự Thượng viện Pháp, Chủ tịch Hội hữu nghị Pháp – Việt nhấn mạnh, Hiệp định Pari cũng là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, những người đã đồng hành ủng hộ, giúp đỡ nhân dân Việt Nam trong suốt cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ. Hiệp định Pari đã củng cố niềm tin của nhân dân yêu chuộng hòa bình và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa; đi vào lịch sử của cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì độc lập, tự do, vì hòa bình và công lý. Sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế trong đó có nhân dân tiến bộ Pháp là một phần của lịch sử kháng chiến chống xâm lược của nhân dân Việt Nam, tiếp tục đồng hành với nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

* Ngày 24/1, Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp đã tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam (27/1/1973 – 27/1/2013).

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tiếp đoàn khách quốc tế dự kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pari Ngày 25/1, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã tiếp thân mật đoàn khách quốc tế đang có mặt tại thủ đô Hà Nội dự lễ kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Tại buổi tiếp, các đại biểu xúc động cảm ơn đón tiếp nồng hậu của Ban tổ chức lễ kỷ niệm, đã tạo điều kiện để các đoàn khách đến Việt Nam dự buổi lễ trọng đại. Các đại biểu đại diện các đoàn Pháp, Nga, Mỹ, CHDCND Lào nhấn mạnh, những ngày này, tại những địa điểm khác nhau trên thế giới có liên quan đến Hiệp định Pari năm 1973, nhiều hoạt động kỷ niệm đã được tổ chức trọng thể. Phát biểu tại buổi tiếp, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang hoan nghênh sự hiện diện của các vị khách quốc tế, đúng vào dịp Việt Nam tổ chức kỷ niệm ngày lễ trọng đại. Chủ tịch nước bày tỏ lòng biết ơn của Đảng, Nhà nước Việt Nam, với các nước xã hội chủ nghĩa anh em, bạn bè quốc tế, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ, đã ủng hộ cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, tin tưởng trái tim và khối óc của bạn bè quốc tế sẽ đồng hành với nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ tịch nước nhấn mạnh, Việt Nam luôn chào đón những người bạn quốc tế và sẵn sàng hợp tác với các nước trên nhiều lĩnh vực. Chủ tịch nêu rõ, trên các diễn đàn trong nước và quốc tế, Việt Nam luôn thể hiện rõ vai trò là thành viên tin cậy và trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, góp phần xây dựng môi trường hòa bình và phát triển cho các quốc gia.

Tham dự buổi lễ có Đại sứ Việt Nam tại Pháp Dương Chí Dũng; Đại sứ Cộng hòa Pháp tại Việt Nam Jean Noël Poirier; Đại sứ Dương Văn Quảng, Trưởng phái đoàn Thường trực Việt Nam bên cạnh UNESCO; ông Pierre Laurent, Thượng nghị sỹ, Bí thư toàn quốc Đảng Cộng sản Pháp; lãnh đạo hai thành phố Choisy-Le-Roi và Verrières-Le-Buisson, nơi hai đoàn đàm phán Việt Nam từng lưu trú giai đoạn 1968 – 1973; đại diện các hội đoàn hữu nghị và đoàn kết với Việt Nam cùng những Việt kiều từng tham gia giúp đỡ đoàn và bạn bè Pháp yêu mến Việt Nam.

Phát biểu tại lễ kỷ niệm, Đại sứ Dương Chí Dũng khẳng định rằng việc ký kết Hiệp định về Việt Nam tại Pari cách đây 40 năm là một sự kiện lịch sử, một dấu mốc quan trọng trong cuộc chiến tranh hào hùng của nhân dân Việt Nam giành độc lập và giải phóng dân tộc. Việc ký kết Hiệp định Pari năm 1973 buộc Mỹ phải công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và rút quân khỏi Nam Việt Nam, mở đường cho việc thống nhất đất nước vào tháng 4/1975. Hai sự kiện là ký kết thắng lợi Hiệp định Pari năm 1973 và thống nhất đất nước vào năm 1975, đã đi vào biên niên sử của nhân loại như một ví dụ về ý chí của một dân tộc kiên quyết đấu tranh vì các quyền cơ bản của con người và là minh chứng hùng hồn về ý chí của một dân tộc quyết đấu tranh để giành độc lập dân tộc và tự do.

Để giành được thắng lợi vẻ vang đó, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn ghi nhớ sự ủng hộ hết lòng của bạn bè quốc tế, những người yêu chuộng hòa bình, trong đó phải kể đến các thành viên của Đảng Cộng sản Pháp, các tổ chức, cá nhân người Pháp trực tiếp và gián tiếp ủng hộ Việt Nam cùng cộng đồng người Việt yêu nước ở Pháp.

Đại diện của Đảng Cộng sản Pháp và hai thành phố từng giúp đỡ đoàn đàm phán Việt Nam bày tỏ tinh thần đoàn kết, hữu nghị gắn bó với nhân dân Việt Nam, đồng thời khẳng định rằng thắng lợi của nhân dân Việt Nam cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc là sự cổ vũ lớn cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới vì tự do và hòa bình.

Hoàng Giang – Nhóm p/v TTXVN tại Pháp
baotintuc.vn

“Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao”

(Dân trí) – Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh, Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao nước ta thời kỳ chống Mỹ. Thắng lợi này mang đậm dấu ấn, phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh.

>> Bộ trưởng Phạm Bình Minh viết về Hiệp định Paris

Ngày 25/1, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 40 năm ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam – một sự kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của nhân dân ta và nền ngoại giao Việt Nam.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đọc diễn văn tại Lễ kỷ niệm 40 năm ký Hiệp định Paris (ảnh VOV)Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đọc diễn văn tại Lễ kỷ niệm 40 năm ký Hiệp định Paris (ảnh VOV)

Tới dự Lễ mít tinh có Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh; Chủ tịch nước Trương Tấn Sang; Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An; Đại tướng Phùng Quang Thanh – Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Đại tướng Trần Đại Quang – Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an; ông Đinh Thế Huynh – Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; ông Huỳnh Đảm – Chủ tịch UBTƯMTTQVN, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh – Trưởng ban Tổ chức cấp Nhà nước kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris.

Tới dự có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước, nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, các lãnh đạo ban, ngành đoàn thể Trung ương và Thủ đô Hà Nội, các Mẹ Việt Nam Anh hùng, các đồng chí trực tiếp tham gia và phục vụ cho cuộc đàm phán; đại diện gia đình một số đồng chí nguyên là cán bộ của hai đoàn đàm phán và bạn bè quốc tế ủng hộ Việt Nam, góp phần vào thắng lợi cuộc đàm phán tại Hội nghị Paris, các vị Đại sứ, đại diện một số cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài tại Việt Nam; các cơ quan thông tấn báo chí trong nước và quốc tế.

Cách đây 40 năm, ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, kết thúc thắng lợi cuộc đấu tranh ngoại giao dài nhất, khó khăn nhất trong lịch sử ngoại giao nước ta ở thế kỷ 20; đánh dấu thắng lợi lịch sử của nhân dân ta sau hơn 19 năm đấu tranh kiên cường, bất khuất trên các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao chống Mỹ xâm lược.

Đọc diễn văn tại lễ kỷ niệm Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh, cuộc chiến đấu trường kỳ, gian khổ của quân, dân ta trên chiến trường và cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris đều nhằm mục tiêu là buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

“Biết bao đồng bào, đồng chí và chiến sỹ, những người con ưu tú của Tổ quốc đã hy sinh xương máu vì mục tiêu thiêng liêng ấy. Ký kết Hiệp định Paris, Mỹ đã phải công nhận nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, phải chấm dứt ném bom miền Bắc, rút toàn bộ quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam; nhân dân ta đã thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược “đánh cho Mỹ cút” mà Bác Hồ kính yêu đã chỉ ra trước lúc Người đi xa”, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nói.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đọc diễn văn tại Lễ kỷ niệm 40 năm ký Hiệp định Paris (ảnh VOV)Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trao tặng Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang cho đại diện hai Đoàn đàm phán tại Hội nghị Paris

Hiệp định Paris đã đi vào lịch sử của cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì độc lập, tự do, vì hòa bình và công lý. Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam cũng mở ra một giai đoạn mới ở khu vực Đông Nam Á, giai đoạn các nước Đông Nam Á hòa bình, ổn định, khép lại quá khứ thù địch, xích lại gần nhau để sum họp trong cộng đồng ASEAN ngày nay.

Chủ tịch nước cho rằng, Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao nước ta thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, là mốc son trong trang sử vàng của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. Thắng lợi đó, trước hết bắt nguồn từ thắng lợi của cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng với những nỗ lực phi thường, quyết tâm chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì độc lập tự do, thống nhất đất nước của quân và dân ta trên các chiến trường, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán, phải xuống thang và cuối cùng phải ký Hiệp định Paris.

Thắng lợi này mang đậm dấu ấn và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh; có sự đóng góp từ những nỗ lực hết mình của các cán bộ, chiến sỹ trên mặt trận ngoại giao thời kỳ chống Mỹ, cứu nước mà trực tiếp là cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris, cuộc đấu trí thể hiện bản lĩnh kiên cường, thông minh, sáng tạo của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam với một nền ngoại giao nhà nghề, sừng sỏ. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta, mặt trận ngoại giao tại Hội nghị Paris đã phối hợp nhịp nhàng với các mặt trận chính trị, quân sự; phát huy thắng lợi trên các chiến trường, giữ vững thế chủ động trong đàm phán, liên tục tiến công.

“Kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, chúng ta bồi hồi xúc động, ghi lòng tạc dạ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, người đã đặt nền móng cho nền ngoại giao cách mạng Việt Nam; chúng ta ghi nhớ công lao của biết bao đồng bào, đồng chí, chiến sỹ đã anh dũng chiến đấu, hy sinh để làm nên những chiến công chói lọi; ghi nhận và đánh giá cao sự đóng góp của các thành viên: Đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa do đồng chí Xuân Thủy làm Trưởng đoàn và Đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do đồng chí Nguyễn Thị Bình làm Trưởng đoàn, đặc biệt là vai trò và những cống hiến to lớn của đồng chí cố vấn Lê Đức Thọ. Chúng ta bày tỏ lòng biết ơn chân thành các nước xã hội chủ nghĩa anh em, bạn bè quốc tế, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ, đã ủng hộ, cổ vũ cho cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân ta vì độc lập, tự do, hòa bình và công lý…”, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang phát biểu.

Theo Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris để lại cho chúng ta nhiều bài học sâu sắc, có ý nghĩa lớn trong tình hình hiện nay. Đó là, bài học về sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta mở ra mặt trận ngoại giao, phát huy thế mạnh của ngoại giao, phối hợp với các mặt trận chính trị, quân sự; lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, thống nhất các mặt trận, “vừa đánh, vừa đàm”, tạo ra sức mạnh tổng hợp, giành toàn thắng…

Phát biểu tại lễ kỷ niệm bà Nguyễn Thị Bình – nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam – cho biết, Hiệp định Paris được ký kết ngày 27/1/1973 là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, dẫn đến đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

“Thắng lợi của Việt Nam tại cuộc đàm phán Paris là minh chứng tập trung nhất về sự đúng đắn, tài tình của đường lối, sách lược của nền ngoại giao Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam”, bà Nguyễn Thị Bình cho biết.

Theo bà Bình, việc ký Hiệp định Paris là thắng lợi lịch sử trọng đại của nhân dân Việt Nam và cũng là thắng lợi của tất cả những người có lương tri trên thế giới đã ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.

Trúc Linh
dantri.com.vn

Bộ trưởng Phạm Bình Minh viết về Hiệp định Paris

(Dân trí) – 40 năm đã trôi qua, đất nước đã có nhiều đổi thay và đang bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế toàn diện, song ký ức về những ngày tháng gian lao mà oanh liệt cũng như những bài học sâu sắc của Hội nghị và Hiệp định Paris vẫn còn sáng mãi.

Dưới đây là bài viết của Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh nhân dịp kỉ niệm 40 năm Hội nghị Paris.

Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình MinhBộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh

Ngày 27/01/1973, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (gọi tắt là Hiệp định Paris) được ký kết, kết thúc thắng lợi Hội nghị Paris – cuộc đấu tranh ngoại giao lâu dài nhất, cam go nhất trong lịch sử của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. 40 năm đã trôi qua, đất nước đã có nhiều đổi thay và đang bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế toàn diện, song ký ức về những ngày tháng gian lao mà oanh liệt cũng như những bài học sâu sắc của Hội nghị và Hiệp định Paris vẫn còn sáng mãi. Kỷ niệm 40 năm ký kết Hiệp định Paris là dịp để chúng ta ôn lại chiến công hào hùng của dân tộc, noi theo tấm gương sáng của những thế hệ cha anh, tri ân bạn bè quốc tế và vận dụng sáng tạo các bài học lịch sử để triển khai thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng trong thời kỳ mới.

Hội nghị được mở ra từ một quyết định chiến lược sáng suốt của Đảng ta trong bối cảnh tình hình hết sức khó khăn. Đầu năm 1965, chính quyền Johnson ồ ạt đưa quân vào miền Nam, leo thang chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân chống lại miền Bắc, đồng thời, mở rộng cuộc vận động “ngoại giao hòa bình” đòi miền Bắc rút quân khỏi miền Nam và “đàm phán không điều kiện với Mỹ” (1). Đáp lại các hành động xâm lược và luận điệu lừa bịp dư luận của Mỹ, quân và dân hai miền Nam Bắc đã hiệp đồng tiến công mãnh liệt cả về quân sự và chính trị, kiên quyết đòi Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân khỏi miền Nam, chấm dứt vô điều kiện chiến tranh phá hoại chống miền Bắc. Chính vào lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta bước vào giai đoạn quyết liệt nhất, tháng 12/1965, Đảng ta ra Nghị quyết Trung ương 12, trong đó chỉ rõ “đánh đến một lúc nào đó sẽ vừa đánh vừa đàm” nhưng nhận định “tình hình chưa chín muồi cho một giải pháp” (2). Đến tháng 1/1967, sau những thắng lợi vang dội của quân và dân hai miền Nam Bắc tạo thế cho ta, Nghị quyết Trung ương 13 đã quyết định mở mặt trận ngoại giao để tạo cục diện đánh đàm và kéo Mỹ xuống thang chiến tranh (3). Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, Johnson phải cam kết xuống thang chiến tranh, ta quyết định đi vào đàm phán với Mỹ.

Kéo dài ròng rã 4 năm, 8 tháng, 14 ngày, trải qua 202 phiên họp công khai và 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, Hội nghị Paris là cuộc đấu trí, đấu bản lĩnh quyết liệt giữa nền ngoại giao non trẻ với nền ngoại giao lão luyện của một siêu cường hàng đầu thế giới. Để đi đến thắng lợi cuối cùng là bản Hiệp định lịch sử ngày 27/01/1973, chúng ta đã kiên định đường lối, chiến lược mà Đảng đề ra, đồng thời chuẩn bị kỹ càng, hết sức chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cả về bản lĩnh cách mạnh và kiến thức mọi mặt. Kế tục truyền thống đấu  tranh ngoại giao của cha ông và trên cơ sở các bài học của Hiệp định Geneva 1954, đội ngũ các bộ ngoại giao đã không ngừng lớn mạnh thông qua các hoạt động tranh thủ dư luận quốc tế, hỗ trợ chiến trường chống “chiến tranh đặc biệt”, “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, góp phần đưa tới thắng lợi Tết Mậu Thân 1968, buộc Mỹ phải thay đổi chiến lược, xuống thang chiến tranh, đi vào đàm phán, kết thúc chiến tranh bằng một giải pháp chính trị.

Cuộc đàm phán Paris trải qua ba giai đoạn. Giai đoạn một bắt đầu từ ngày 13/5/1968 đến 31/10/1968, ta đấu tranh buộc Mỹ phải chấp nhận chấm dứt mọi hành động chiến tranh chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ ngày 31/10/1968; chấp nhận việc triệu tập hội nghị về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam gồm 4 bên với sự tham gia của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Giai đoạn hai từ ngày 25/1/1969 đến giữa năm 1972, ta kiên quyết đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội và vũ khí ra khỏi miền Nam Việt Nam, xóa bỏ chính quyền Sài Gòn, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam. Mỹ muốn chấm dứt chiến tranh nhưng đòi miền Bắc và Mỹ cùng rút quân, đòi duy trì khu phi quân sự và duy trì chính quyền Sài Gòn. Giai đoạn cuối cùng từ tháng 7/1972 khi Mỹ buộc phải quay lại bàn đàm phán sau các thất bại ở cả hai miền Nam Bắc. Tuy vậy, Mỹ vẫn nuôi hy vọng đạt được một thỏa thuận trên thế mạnh. Cuối tháng 12/1972, khi con át chủ bài cuối cùng của Mỹ – dùng B52 đánh phá hủy diệt Hà Nội và các thành phố lớn của miền Bắc – đã bị quân và dân ta đánh gục trong chiến thắng vang dội “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, Mỹ mới chấp nhận ký Hiệp định.

Hiệp định Paris có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng, thống nhất đất nước của dân tộc ta. Hiệp định là văn bản pháp lý toàn diện, đầy đủ nhất công nhận các quyền cơ bản của dân tộc ta, trong đó Mỹ buộc phải cam kết “tôn trọng độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”. Hội nghị Paris và Hiệp định Paris đã góp phần quan trọng vào nỗ lực tạo nên bước chuyển chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc, từng bước buộc Mỹ phải đi vào giải pháp, chấm dứt ném bom miền Bắc, rút toàn bộ quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam, hoàn thành mục tiêu chiến lược “đánh cho Mỹ cút”. Với việc buộc Mỹ phải rút hết trong khi ta duy trì được hoàn toàn lực lượng, Hiệp định mở ra một cục diện mới, so sánh lực lượng trên chiến trường nghiêng hẳn về ta để tiến lên “đánh cho nguỵ nhào”. Hiệp định Paris còn góp phần ngăn chặn mọi âm mưu can thiệp trở lại của Mỹ khi toàn quân, toàn dân ta tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Vượt lên trên mọi ý nghĩa thông thường, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hoà bình và công lý trên thế giới, củng cố niềm tin của nhân dân các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của mình. Cũng chính vì vậy, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris đã góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình và công lý, là di sản vĩ đại của phong trào giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị và can thiệp của nước ngoài.

Hội nghị Paris để lại những bài học vô cùng quý giá. Bài học thứ nhất và quan trọng nhất là tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Đây là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Trong suốt quá trình đàm phán, Bộ Chính trị đã luôn theo dõi và chỉ đạo sát sao cả về chiến lược và sách lược đối với hai đoàn đàm phán để đi đến thắng lợi cuối cùng. Thứ hai, giữ vững độc lập, tự chủ, coi đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong xử lý các vấn đề đối ngoại. Hội nghị Paris một lần nữa khẳng định rằng, chỉ có giữ vững độc lập, tự chủ trong quyết định chiến lược, sách lược, ta mới có thể chủ động tiến công, chủ động tạo thời cơ và tranh thủ thời cơ để bảo vệ lợi ích dân tộc. Thứ ba, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp, các lĩnh vực là nhân tố quyết định đảm bảo thắng lợi. Trong suốt quá trình đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris, sự phối hợp nhịp nhàng giữa ba mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao, giữa “đánh” và “đàm”, giữa các binh chủng hợp thành thế trận chiến tranh nhân dân, có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Ngay tại Paris, sự phối hợp chặt chẽ và thực hiện phương châm “tuy hai mà một, tuy một mà hai” của hai đoàn đàm phán dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng ta cũng là nhân tố hết sức quan trọng để đi đến thắng lợi. Thứ tư, chủ động, sáng tạo là phương cách đảm bảo thắng lợi trong đấu tranh ngoại giao. Ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước mà đỉnh cao là Hội nghị Paris thực sự đã trở thành một mặt trận chiến lược, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp của dân tộc. Trong suốt quá trình đàm phán tại Paris, mặt trận ngoại giao đã chủ động tiến công, đồng thời tận dụng tối đa các thế mạnh đặc thù của mình để giành thắng lợi. Thứ năm, Hội nghị Paris là bài học tiêu biểu về kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. Trong suốt quá trình đàm phán tại Paris, chúng ta đã có được sự ủng hộ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã tranh thủ được sự đồng tình của dư luận quốc tế, kể cả dư luận tiến bộ Mỹ, góp phần tạo nên một mặt trận nhân dân thế giới rộng lớn ủng hộ Việt Nam.

Kỷ niệm thắng lợi oanh liệt của Hội nghị Paris là dịp để chúng ta bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến những người con của Tổ quốc đã chiến đấu quên mình vì độc lập, tự do, thống nhất đất nước. Sự hy sinh và công ơn to lớn ấy sẽ mãi mãi là tấm gương sáng cho lớp lớp thế hệ người Việt Nam nói chung và cán bộ ngành ngoại giao nói riêng, hôm nay và mai sau. Đây cũng là dịp để chúng ta bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các bạn bè quốc tế khắp năm châu, trước hết là nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa, đã kề vai sát cánh với nhân Việt Nam trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Sự ủng hộ của bạn bè quốc tế không chỉ là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân ta mà còn góp phần quan trọng vào việc nâng cao thế và lực của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Mỹ.

Kế tục và phát huy truyền thống vẻ vang của ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước, ngoại giao thời kỳ hội nhập quốc tế và phát triển đất nước tiếp tục là một “mặt trận”, trong đó các cán bộ ngoại giao là những “người lính“, không ngừng phấn đấu góp phần tích cực đưa đất nước vào vị thế có lợi nhất trong nền chính trị, nền kinh tế và văn hóa khu vực và toàn cầu. Với thế và lực sau hơn 25 năm Đổi mới, trong bối cảnh mới, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã chỉ rõ: “Nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới” .  Quán triệt sâu sắc nhiệm vụ đối ngoại và vận dụng các bài học lịch sử của Hội nghị Paris, ngành ngoại giao tiếp tục nỗ lực vượt bậc trong các hướng cụ thể sau:

Thứ nhất, tăng cường công tác chính trị tư tưởng, tuyệt đối tin tưởng vào con đường cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, vững vàng bản lĩnh chính trị, kiên định đường lối đối ngoại “độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ”; nỗ lực quên mình vì lợi ích quốc gia dân tộc vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh.

Thứ hai, phát huy truyền thống chủ động, sáng tạo trong đối ngoại, đề xuất nhiều sáng kiến thiết thực để nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại trong quan hệ với các đối tác và trên các diễn đàn, tổ chức quốc tế; tăng cường công tác nghiên cứu dự báo, phát hiện thời cơ và kiến nghị các biện pháp tận dụng thời cơ, lường trước các thách thức và kiến nghị các biện pháp hóa giải hoặc giảm thiểu các thách thức đối với phát triển và an ninh của đất nước.

Thứ ba, hợp đồng chặt chẽ giữa ngoại giao với kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh…. phối hợp nhịp nhàng với đối ngoại Đảng, ngoại giao nhân dân dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, góp phần gia tăng sức mạnh tổng hợp của đất nước, kết hợp thành công sức mạnh của đất nước với sức mạnh của thời đại, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đối ngoại được Đảng giao phó.

Thứ tư, không ngừng học tập rèn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ và kiến thức mọi mặt, xây dựng đội ngũ cán bộ ngoại giao có trình độ và năng lực ngang tầm với các nước trong khu vực; đáp ứng yêu cầu triển khai thành công định hướng “triển khai đồng bộ và toàn diện các hoạt động đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” của đường lối đối ngoại Đại hội XI.

Kỷ niệm 40 năm ngày Hiệp định Paris được ký kết, chúng ta bày tỏ lòng biết ơn đối với sự hy sinh của biết bao đồng bào và chiến sỹ cả nước, biết ơn Đảng và Bác Hồ vĩ đại, tri ân các thế hệ cha, anh đã trực tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh ngoại giao ở Paris, tri ân các bạn bè quốc tế đã nhiệt tình ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Ôn lại các ý nghĩa trọng đại và bài học sâu sắc của Hội nghị Paris, chúng ta thêm vững tin vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, quyết tâm phát huy tinh thần Hội nghị Paris, vận dụng sáng tạo các bài học của Hội nghị trong bối cảnh tình hình và nhiệm vụ mới, quyết tâm góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.

Phạm Bình Minh
Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng – Bộ trưởng Bộ Ngoại giao
dantri.com.vn

(1) Nguyễn Đình Bin (chủ biên), Ngoại giao Việt Nam 1945 – 2000 (Hà nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2002), trang 199.
(2) Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam 1954-1975, tập II (Hà nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1995), trang 306.
(3) Nguyễn Đình Bin (chủ biên), Ngoại giao Việt Nam 1945 – 2000 (Hà nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2002), trang 217.

Công bố tài liệu mật về Hiệp định Paris 1973

– 140 bức ảnh, 23 hiện vật, 3 bộ tài liệu đồ sộ…giới thiệu trong triển lãm kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris đang được mở cửa tại 29 Hàng Bài, Hà Nội thu hút sự chú ý của rất nhiều người.

Điều đặc biệt của triển lãm này là ngoài những hiện vật và bức ảnh quý, lần đầu tiên văn bản gốc Hiệp định Paris 1973 được trưng bày sau đúng 40 năm diễn ra sự kiện lịch sử này.

Với quy mô của triển lãm được đánh giá là lớn nhất từ trước đến nay, công chúng sẽ có dịp được tìm hiểu kĩ hơn về ý nghĩa lích sử của Hiệp định Paris về Việt Nam, về ý chí và khát vọng của nhân dân Việt Nam trong việc giành độc lập, tự do, qua đó cho thấy nghệ thuật ngoại giao tài tình của những con người đã từng tham gia vào phái đoàn ngoại giao ngày đó.

Toàn cảnh buổi khai mạc Hội nghị quốc tế về Việt Nam tại Trung tâm Hội nghị quốc tế ở Đại lộ Kléber, Paris.

Bộ trưởng Xuân Thủy phát biểu tại sân bay Bourgert khi đến Paris đàm phán với Mỹ (9/5/1968)

Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình ký Hiệp định Paris về Việt Nam (27/1/1973)

Đại diện 4 bên (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam; Hoa Kỳ; Cộng hòa Việt Nam) ký hiệp định Paris (27/1/1973).

Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nguyễn Duy Trinh ký Hiệp định Paris về Việt Nam (27/1/1973)

 

Đại diện 12 nước ký Định ước tại Hội nghị quốc tế về Việt Nam; Tổng thư ký Liên hợp quốc Kurt Waldheim chứng kiến Lễ ký với tư cách là quan sát viên tại Trung tâm hội nghị quốc tế Kléber, Paris, ngày 2/3/1973.

Hai chiếc bút được dùng để ký kết Hiệp định Paris năm 1973

Trên thân bút khắc rõ thông tin liên quan đến ngày ký kết Hiệp định Paris.

Văn bản gốc cuốn Hiệp đình Paris lần đầu tiên được mang ra trưng bày trước công chúng.

 

Những cuốn hộ chiếu công vụ, hộ chiếu ngoại giao được phái đoàn của Bộ Ngoại giao Việt Nam ngày đó sử dụng.

Con dấu của Đoàn đại biểu Quân đội nhân dân Việt Nam.

Một cuốn sách cực lớn là tập hợp chữ ký của nhân dân Cu Ba ủng hộ nhân dân Việt Nam là một hiện vật quý và rất có giá trị.

Những cuốn sách viết về nghệ thuật ngoại giao cũng như qua trình đám phán đấu tranh để giành độc lập dân tộc cũng được trưng bày tại triển lãm.

Chữ ký của Bộ trưởng Ngoại giao 12 nước trong bản Định ước của Hội nghị quốc tế về Việt Nam tại Paris.

Có rất nhiều người dân quan tâm đã chủ động đến và tham quan triển lãm để tìm hiểu và nhớ lại những kỉ niệm về một thời kì lịch sử của đất nước.

Bức ảnh được cho là gây ấn tượng nhất tại triển lãm là bức hình cô gái Mỹ cắm hoa vào họng súng của lính cảnh vệ Quốc gia như một biểu tượng mong muốn hòa bình ở Việt Nam.

Ngày 27 tháng 1 năm 1973 đã đi vào lịch sử dân tộc Việt nam như một mốc son sáng chói với “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”  hay còn gọi là hiệp định Paris.

Hiệp định đã buộc Hoa Kỳ phải thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, rút hết quân đội Mỹ và đồng minh ra khỏi Việt Nam, tạo ra bước ngoặt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam dẫn đến thắng lợi hoàn toàn vào mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Vi Vi
vietnamnet.vn

Dân tộc và thời đại với nội hàm mới…

Ngày nay, dân chủ, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội là trào lưu nổi trội. Còn ý chí tự cường, đoàn kết quốc gia và đồng thuận xã hội là cội nguồn sức mạnh của mỗi nước. Phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là phải kết hợp được nhuần nhuyễn các trào lưu phổ quát ấy.

LTS: Nhân 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam (27/1/1973 – 27/1/2013), nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm đã phát biểu như trên với nhóm phóng viên Tuần Việt Nam về quan điểm lịch sử khi đánh giá ý nghĩa của Hiệp định và về những kinh nghiệm trong quan hệ với các cường quốc tại hòa đàm Paris. Sau đây là nội dung cuộc trao đổi:

Việt Nam trên bàn cờ các nước lớn
Trên ván cờ nước lớn: Từ Geneva đến Paris
Việt Nam với nước lớn hay chuyện lòng tin và lợi ích
Rơi vào ván bài nước lớn, Việt Nam lỡ bước
‘Nước Đại Nam đối diện với Mỹ và Trung Hoa’

– Lùi lại 40 năm sau sự kiện chấn động thế giới, giờ đây các nhà nghiên cứu quốc tế, từ nhiều góc nhìn khác nhau, nhận xét Hiệp định Paris về Việt Nam 1973 như một “tao đoạn kỳ lạ” (strange interlude), một “cự ly an toàn” (decent interval) trong cuộc chiến. Xin ông bình luận?

Ông Nguyễn Mạnh Cầm: Nhận xét Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam như một “strange interlude” là muốn nói tới “thời gian giải lao” giữa hai trận đánh. Trên thực tế, các hoạt động quân sự và ngoại giao đâu có dừng lại trong thời đoạn từ lúc ký Hiệp định cho đến khi tổng tấn công và nội dậy!

Còn “cự ly an toàn” là muốn nói về ý đồ của Nixon vừa muốn tái cử, vừa muốn giữ Thiệu. Tuy nhiên, do chủ trương tràn ngập lãnh thổ của Sài Gòn, nên cơ hội hòa hợp dân tộc bị bỏ lỡ.

Nhưng vượt lên các thuật ngữ ấy là vấn đề triết lý lịch sử, nhất là khi chúng ta đã qua một thời gian khá dài, lùi lại 40 năm như phóng viên vừa nói.  Về phương pháp luận, phải biết dựa vào những dữ kiện có thật, chứ không thể chỉ dựa vào cảm quan của người viết

Có thể có chút phóng đại, nhưng tôi chia sẻ với nhận xét, có một lịch sử như nó diễn ra và một lịch sử như nhà sử học viết ra…

Tâm thức nô dịch và bá quyền, chinh phục và triều cống nhiều khi vẫn lấn lướt…. nếu ta không biết cách chế ngự nó, tương lai có nhiều điều khó dự đoán! Ảnh Lê Anh Dũng.

Phương án đấu tranh ngoại giao

Hiệp định Paris về Việt Nam, ngay như tên gọi đã có phần thiếu chính xác, một “misnomer” (gọi sai!). Tiếng là Hiệp định hòa bình năm 1973, nhưng trên thực tế, mãi tới ngày cuối cùng của tháng 4/1975, hòa bình thực sự mới được vãn hồi, nhưng nền hòa bình ấy được lập lại không theo cách mà các điều khoản của Hiệp định quy định. Ông bình luận như thế nào về nhận định này của GS Kolko, tác giả một trong những cuốn sách “best seller” về sự nghiệp đấu tranh của nhân dân ta, cuốn “Giải phẫu một cuộc chiến”?

Tâm thức nô dịch và bá quyền, chinh phục và triều cống nhiều khi vẫn lấn lướt, tư duy “một mất một còn” vẫn nổi trội trong các mối bang giao. Đấy chính là khởi nguồn đã gây ra bao nghịch lý cho dân tộc Việt trong lịch sử, nay nếu ta không biết cách chế ngự nó, tương lai có nhiều điều khó dự đoán!

Nguyên Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm nói.

Hiệp định là phương án đấu tranh ngoại giao để đi đến thực sự kết thúc chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam. Và như mọi dự án chính trị trong lịch sử, đó là sự thỏa hiệp giữa các bên tham gia cuộc đàm phán ma-ra-tông. Phương án này phản ánh so sánh thế và lực giữa các bên, phản ánh các tình huống trong cuộc chiến vào thời điểm các bên quyết định ký kết để chấm dứt một giai đoạn, phục vụ cho ý đồ chính trị, quân sự của giai đoạn tiếp theo.

Một trong những điểm mấu chốt là ý đồ của các bên không giống nhau, thậm chí còn đối nghịch nhau. Cả bốn bên đều ý thức rõ điều này khi chấp thuận đặt bút ký. Vì vậy mới có định nghĩa kinh điển “ngoại giao là nghệ thuật của những điều không thể”.

Việc lập lại hòa bình đã không diễn ra như các điều khoản của Hiệp định không hề giảm giá trị đích thực của Hiệp định, bởi vì lịch sử không bao giờ đứng yên. Lịch sử như một tiến trình và khi tiến trình ấy vận động thì nó không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của bất cứ ai, mà tùy thuộc vào diễn tiến khách quan của nhiều nhân tố. Bao giờ cũng có một giả thiết lịch sử và một thực tế lịch sử như tôi đã nói ở trên; sự giao thoa giữ hai mảng này có thể nhiều hay ít tùy thuộc vào tương quan lực lượng và tùy thuộc vào tương tác giữa các nhân tố chủ đạo trong quá trình vận động. Trên thực tế, nội dung Hiệp định đã mở ra nhiều “không gian trống” cho các tình huống về sau này…

Vâng, như chúng ta thấy, mặc dầu ký Hiệp định, nhưng Nixon vẫn tuyên bố, Mỹ chỉ công nhận Việt Nam Cộng hòa do Thiệu cầm đầu là chính phủ hợp pháp duy nhất. Điều này có nghĩa là Mỹ chỉ ủng hộ những nội dung nào của Hiệp định có lợi cho Mỹ và bỏ qua những phần còn lại.

Đến lượt mình, chính quyền Thiệu cũng từ chối công nhận chính quyền cách mạng và chỉ chịu ký một văn bản tách rời, loại trừ mọi ám chỉ liên quan đến công nhận chính phủ cách mạng lâm thời. Tại sao lại có sự tréo ngoe như thế?

Đấy là phương thức của thỏa hiệp, mà căn cốt của vấn đề là ở chỗ phải tìm được lối thoát hợp lý, tại thời điểm ấy, cho một tình huống bất thường, đó là có hai chính quyền không công nhận nhau về mặt pháp lý, nhưng lại phải có chữ ký của cả bốn bên tham gia đàm phán thì mới đi đến chung cuộc của quá trình hòa đàm. Chính những tréo ngoe ấy đã tạo ra các “không gian trống” như tôi đã đề cập ở trên.

Đến lượt mình, các “không gian trống” ấy lại mở đường cho các biến cố lịch sử mà khi ký Hiệp định không phải tất cả các bên đều trù liệu giống nhau, thậm chí như tôi đã nói, hoàn toàn đối đầu nhau.

Vì các bên không công nhận nhau, đó là cơ sở khách quan để chính quyền cách mạng chủ động thay đổi so sánh lực lượng, tiến lên giành thắng lợi trên chiến trường về sau.

Quan hệ nước lớn với nước nhỏ

Ông đánh giá như thế nào về việc xử lý các mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước lớn liên quan đến quá trình đàm phán Paris? Làm thế nào mà chúng ta vẫn đạt mục tiêu trong bối cảnh có chia rẽ sâu sắc giữa Liên Xô và Trung Quốc?

Đây là một chủ đề lớn, phức tạp nhưng rất bổ ích, nó không chỉ liên quan đến hòa đàm Paris, mà còn là “nguồn mạch chính” vận động hữu hình và vô hình trong quan hệ quốc tế giữa nước lớn với các nước nhỏ nói chung, cũng như trong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam nói riêng.

Với tư cách là một cán bộ ngoại giao được chứng kiến sự chỉ đạo sát sao và trực tiếp của Bộ Chính trị, tôi nhận thức được một số nguyên tắc cơ bản để xử lý mối quan hệ với các nước lớn, dù đó là bạn bè, đồng minh hay đối thủ.

Trong ngoại giao nói riêng và vận nước nói chung, nếu ta để nhỡ thời cơ, có khi phải mất rất lâu, thời cơ mới xuất hiện trở lại. Ảnh Lê Anh Dũng.

Ta đã giữ được quan hệ “cân bằng động” giữa Liên Xô và Trung Quốc, tranh thủ tối đa sự ủng hộ tích cực của cả hai đồng minh lớn, mặc dù mỗi nước giúp Việt Nam tùy thuộc vào khả năng và xuất phát từ yêu cầu chiến lược của mình. Các đồng minh lớn của ta, tuy bất đồng nhau, nhưng vẫn ủng hộ cuộc chiến đấu của nhân dân ta, vì một lý do quan trọng mà cố Tổng bí thư Lê Duẩn có lần đã giải thích một cách đơn giản: “Ta đánh là đánh cả cho Trung Quốc, cho Liên Xô!”

Với chính quyền Mỹ, ta đã chủ động có các cuộc tiếp xúc, tìm hiểu, gián tiếp và trực tiếp, nắm được yếu điểm cũng như điểm yếu chiến lược của siêu cường lúc bấy giờ để chuẩn bị các phương án đấu tranh.

Thời kỳ khó khăn nhất là năm 1972, lúc cả Trung Quốc và Liên Xô đều đi vào hòa hoãn với Mỹ, ta phải đối mặt với sức ép từ nhiều phía khác nhau, nhưng rồi đều vượt lên được, nhờ đường lối độc lập, tự chủ kết hợp với chủ trương đoàn kết quốc tế. Trong quá trình đàm phán ta đã tối ưu hóa các phương thức tập hợp lực lượng quốc tế, đồng thời tìm mọi cách tác động vào nội bộ đối phương, chuyển hóa tương quan lực lượng theo hướng có lợi cho cách mạng.

Vấn đề tạo thời cơ và nắm bắt thời cơ là bài học vô cùng quan trọng. Trong ngoại giao nói riêng và vận nước nói chung, nếu ta để nhỡ thời cơ, có khi phải mất rất lâu, thời cơ mới xuất hiện trở lại, hạn chế rất lớn đến lộ trình thực hiện các mục tiêu tổng thể của cách mạng.

Và ngành ngoại giao đã có những đóng góp như thế nào để phát huy mặt tích cực, hạn chế các tiêu cực của tình hình quốc tế trong thời gian hòa đàm?

Căn cốt của vấn đề là ở chỗ phải tìm được lối thoát hợp lý, tại thời điểm ấy, cho một tình huống bất thường, đó là có hai chính quyền không công nhận nhau về mặt pháp lý, nhưng lại phải có chữ ký của cả bốn bên tham gia đàm phán thì mới đi đến chung cuộc của quá trình hòa đàm.

Chính những tréo ngoe ấy đã tạo ra các “không gian trống”. Đến lượt mình, các “không gian trống” ấy lại mở đường cho các biến cố lịch sử mà khi ký Hiệp định không phải tất cả các bên đều trù liệu giống nhau, thậm chí như tôi đã nói, hoàn toàn đối đầu nhau

Ngành ngoại giao đã thực hiện tốt chức năng là “khớp nối mềm” giữa đất nước với thế giới, đã thực hành tốt bài học lớn của cách mạng Việt Nam là “kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại”. Nhờ đó, chúng ta đã hình thành nên mặt trận rộng lớn nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam.

Về nghiên cứu chiến lược, ngoại giao đã đi trước một bước trong phân tích tình hình, đánh giá ý đồ của các bên liên quan. Chúng ta đã phát huy được vai trò tích cực và chủ động của ngoại giao, áp dụng phương thức vừa đánh vừa đàm. Biết người biết ta, biết cách kết thúc chiến tranh, đó là những bài học không bao giờ cũ cả.

Dân tộc/thời đại bối cảnh mới

Ý ông muốn nói tới bài học thời sự của Hiệp định đối với hoạt động đối ngoại của ta hiện nay?

Hoàn toàn chính xác!

Nhưng như tôi đã nói, lịch sử chuyển động không ngừng, vì vậy, khi áp dụng các bài học trước đây phải luôn ý thức được nội dung mới trong những khái niệm cũ. Nói kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại thì giờ đây phải hiểu rằng cả hai vế trong định đề ấy đã có nhiều thay đổi.

Ngày nay, dân chủ, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội là trào lưu nổi trội. Còn ý chí tự cường, đoàn kết quốc gia và đồng thuận xã hội là cội nguồn sức mạnh của mỗi nước. Phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là phải kết hợp được nhuần nhuyễn các trào lưu phổ quát ấy. Có như vậy, mới có sức mạnh tổng hợp và vị thế Việt Nam mới thực sự vững chắc.

Các quốc gia nói chung và các cường quốc nói riêng đang rất thiếu nền tảng của văn hóa khoan dung. Cái tâm thức nô dịch và bá quyền, chinh phục và triều cống nhiều khi vẫn lấn lướt, tư duy “một mất một còn” vẫn nổi trội trong các mối bang giao. Đấy chính là khởi nguồn đã gây ra bao nghịch lý cho dân tộc Việt trong lịch sử, nay nếu ta không biết cách chế ngự nó, tương lai có nhiều điều khó dự đoán!

Đấy cũng là căn nguyên của việc trước đây các bên ký Hiệp định đã không tận dụng được tối đa cái cơ hội, cái triết lý của Hiệp định đã mở ra.

Cơ hội bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam với Hoa Kỳ bị đẩy lùi hàng chục năm cũng là do tư duy đối đầu ấy gây ra!

Ngày nay, chúng ta đang thực thi chính sách hội nhập toàn diện. Trong xu thế ấy, hẳn nhiên, một nền ngoại giao hiện đại là một nền ngoại giao phải xuất phát từ tâm thức văn minh thời đại, biết lấy các giá trị phổ quát làm động lực phát triển. Đó là cơ sở để bảo vệ các lợi ích quốc gia một cách hiệu quả! Trong quá trình này, vấn đề thời cơ, vấn đề tập hợp lực lượng, ngày nay ta gọi là xây dựng hệ thống các quan hệ đối tác, là những vấn để cốt tử của cách mạng.

Hãy nhớ hai vế đối trên mộ Nguyễn Trường Tộ: “Nhất thất túc thành thiên cổ hận / Tái hồi đầu thị bách niên cơ”; có thể hiểu là: “Một lần nhỡ thời cơ, hận muôn đời / Khi quay đầu nhìn lại, cơ đồ mất trăm năm!”.

Phương Loan – Hoàng Lâm (thực hiện)
vietnamnet.vn