Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Những người lính thầm lặng

Kỷ niệm 40 năm ký Hiệp định Paris (27.1.1973 – 27.1.2013)

Đóng góp vào thắng lợi của cuộc đấu tranh ngoại giao lâu dài nhất, cam go nhất trong lịch sử ngoại giao cách mạng Việt Nam là những người chịu trách nhiệm bảo vệ an toàn tuyệt đối cho thành viên các đoàn cũng như tài liệu, địa điểm Hội nghị.

Dù hơn 40 năm đã đi qua, nhưng với ông Lê Việt Hưng, những ngày bảo vệ các đoàn Việt Nam tại Hội nghị Paris vẫn chưa phai mờ. Cuối tháng 4.1968, ông Lê Việt Hưng là một trong 5 đồng chí (với 5 bí danh: Bắc, Trung, Nam, Thống, Nhất) được Cục Cảnh vệ, nay là Bộ Tư lệnh cảnh vệ, Bộ Công an, giao nhiệm vụ bảo vệ đoàn đàm phán Hiệp định Paris. Ông Lê Việt Hưng được mang bí danh Lê Việt Bắc. Ngày 9.5.1968, đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do đồng chí Xuân Thủy làm trưởng đoàn đến Paris. Những ngày mới sang, đoàn ở khách sạn Lutestia, số 45 Đại lộ Raspail, quận 16, Paris, về sau để bảo đảm an toàn tuyệt đối, đoàn chuyển đến Trường Đảng Choisy Le Roi, ngoại ô Paris. Nhằm tránh sự nhòm ngó của các thế lực phản động, trong thời gian diễn ra các cuộc đàm phán, trường vẫn tổ chức chiêu sinh bình thường. Ông Lê Việt Hưng nhớ lại: “suốt gần 5 năm trên đất Paris, chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ khi không để xảy ra sơ suất nào dù nhỏ nhất về người, về tài liệu, về địa điểm. Căn phòng của Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Trưởng đoàn Xuân Thủy ở luôn được canh gác suốt ngày đêm, cùng với sự giúp sức của Đảng Cộng sản Pháp và cảnh sát Chính phủ Pháp gác vòng ngoài. Khi Trưởng đoàn Xuân Thủy và Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ cần ra ngoài, lại có một lượng cảnh sát hộ tống. Tất cả chuyến đi, từ công khai đến bí mật của đoàn đàm phán đều tuyệt đối an toàn. Dĩ nhiên, lúc bấy giờ không ai biết đó là nơi ở và làm việc của phái đoàn Việt Nam”.

Trong số 42 cán bộ cảnh vệ được lựa chọn đi bảo vệ tại Hội nghị Paris, hiện chỉ còn 27 người, 15 người đã mất. Mỗi cán bộ, chiến sỹ khi đó đều nhận thức đây là một nhiệm vụ nặng nề, nhưng cũng là vinh dự lớn lao mà Đảng và nhân dân tin cậy giao phó, ai nấy đều quyết tâm với hết khả năng của mình để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Ông Trần Hữu Diệt, nguyên Trưởng phòng Hậu cần, Bộ Công an, thành viên Đội bảo vệ Đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam, kể: “Công việc của tôi lúc bấy giờ là bảo đảm an toàn cho lãnh đạo khi tiếp xúc các đoàn, trước khi ra hội trường, kiểm tra bảo quản an toàn thực phẩm… Hiểu rõ công việc của mình, chúng tôi luôn nỗ lực và cố gắng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, chủ động thực hiện tốt các phương án đấu tranh với địch trong cũng như ngoài hội nghị. Ngoài bảo đảm an toàn chính trị của 2 đoàn, các tài liệu quan trọng cũng được bảo vệ tuyệt đối. Suốt thời gian tôi và đồng đội làm nhiệm vụ, hơn 200 phiên họp công khai, 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, 500 buổi họp báo, gần 1.000 cuộc phỏng vấn diễn ra nhưng không một thông tin, một địa điểm bí mật nào bị tiết lộ”.

Cùng nhận nhiệm vụ bảo vệ đoàn tại Paris, ông Tăng Văn Soát, chia sẻ thêm: để hoàn thành nhiệm vụ, tôi luôn khắc sâu lời Bác Hồ căn dặn và xác định rõ phương châm hành động: “Khi không có địch phải coi như có địch, khi có địch phải bình tĩnh như không có địch”.

Kỷ niệm 40 năm ký Hiệp định Paris, được xem lại các hình ảnh cũ, nhớ lại những câu chuyện năm xưa, những người từng làm công tác bảo vệ 2 đoàn đàm phán của Việt Nam như được sống lại một giai đoạn lịch sử không thể nào quên. Mặc dù đã cao tuổi nhưng ai cũng tâm niệm sẽ tiếp tục đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hương Sen
daibieunhandan.vn

Đỉnh cao thắng lợi ngoại giao Việt Nam

Kỷ niệm 40 năm ký Hiệp định Paris, Đài Tiếng nói Việt Nam sẽ thực hiện chương trình phát thanh đặc biệt Đỉnh cao thắng lợi ngoại giao Việt Nam từ 7h – 13h ngày 27.1 trên hệ VOV1. Chương trình chia làm ba phần: từ 7h-9h với chủ đề Con đường dẫn tới hòa đàm; từ 9h-11h là Đấu trí trên bàn đàm phán và từ 11h – 13h là Bài học đối thoại, hòa bình và hòa hợp.

Chương trình nhằm giúp khán thính giả hiểu rõ về ý nghĩa của Hiệp định Paris, mốc son trong hoạt động ngoại giao, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, thống nhất đất nước của dân tộc ta; bài học “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong đấu tranh ngoại giao của dân tộc Việt Nam. Khách mời trong phần 1 là GS, NGND Vũ Dương Ninh, nguyên Trưởng khoa Quốc tế học, Đại học KHXH&NV, nhà nghiên cứu lịch sử quan hệ quốc tế và Đại tá, PGS, TS Nguyễn Mạnh Hà, Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng. Họ sẽ phân tích, nêu rõ ý nghĩa, hoàn cảnh lịch sử của Hiệp định Paris, tác động của Hiệp định Paris với đại thắng mùa xuân năm 1975, sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam. Thính giả cũng sẽ được nghe những bài viết về những bài học đánh giặc ngoại xâm từ thời Vua Lê Lợi, Nguyễn Trãi; nghệ thuật binh vận, bước nối dài từ Hội nghị Fontainebleau; Hội nghị Đà Lạt… cho tới Hiệp định Geneve, và tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh… để khẳng định: dân tộc ta biết cách tìm lối ra hòa bình cho cuộc chiến tranh chống ngoại xâm.

Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nguyễn Duy Trinh ký Hiệp định Paris

Trong phần II, nhà ngoại giao Phan Doãn Nam, nguyên Trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, nguyên chuyên viên Đoàn; nhà ngoại giao Phạm Ngạc, nguyên Đại sứ, nguyên chuyên viên Đoàn kể lại những câu chuyện trong thời gian diễn ra cuộc đấu trí trên bàn đàm phán; bối cảnh trước cuộc đàm phán lịch sử tại Paris; phân tích về tác động của sự kiện lịch sử ký Hiệp định Paris với việc buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán tại thủ đô Paris (Pháp), nhằm rút lui trong danh dự; thế của ta khi bước vào đàm phán thực chất; sự ủng hộ mạnh mẽ hơn của dư luận quốc tế đối với ta; bối cảnh chính trị Mỹ khiến Tổng thống Nixon phải xuống thang…

Phần III Bài học đối thoại, các khách mời đồng hành cùng chương trình sẽ là ông Lưu Văn Lợi, cố vấn của ông Lê Đức Thọ tham gia đàm phán Hiệp định Paris; ông Vũ Dương Huân, nguyên Trưởng ban Nghiên cứu lịch sử ngoại giao. Các khách mời sẽ chia sẻ về ý nghĩa lịch sử Hiệp định Paris…

VOV
daibieunhandan.vn

Sự tiếc nuối của một người Mỹ

QĐND – Có mặt trong đoàn đại biểu quốc tế được mời tới Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pa-ri, linh mục Thô-mát Găm-bơ-tơn (Thomas J. Gumbleton) đã chia sẻ những tâm sự với tư cách một người Mỹ từng tham gia phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam ở chính nước Mỹ.

Linh mục Thô-mát Găm-bơ-tơn. Ảnh: Mạnh Lâm

Ông Thô-mát Găm-bơ-tơn, 83 tuổi, đã tham gia phong trào chống chiến tranh tại Việt Nam từ cuối những năm 60 của thế kỷ trước khi Hội đồng Giám mục Mỹ chính thức công khai đặt vấn đề nghi vấn về cuộc chiến tranh này. Ông cũng chính là người có công lớn trong việc thúc đẩy Hội đồng Giám mục Mỹ thông qua một nghị quyết lên án cuộc chiến tranh tại Việt Nam vào năm 1971. “Theo tôi, các quyền cơ bản của con người cần phải được bảo vệ. Người dân Việt Nam có khát vọng được độc lập, tự do và họ có quyền được như vậy”, ông lý giải cho hành động phản chiến của mình.

Muốn buộc chính quyền Mỹ phải dập “ngọn lửa” chiến tranh do chính mình “châm ngòi”, đòi hỏi phải có sức ép từ chính người dân Mỹ. Nhận thức điều đó, linh mục Thô-mát Găm-bơ-tơn đã lăn lộn nhiều nơi trên khắp đất Mỹ, trình bày những bài thuyết giảng nhằm nâng cao nhận thức, thức tỉnh lương tri, kêu gọi người dân lên tiếng phản đối hành động phi nghĩa của chính quyền. Mọi chuyện hóa ra lại không hề đơn giản bởi khi ấy không phải người Mỹ nào cũng hiểu rõ vấn đề. “Có người còn la ó, phản đối, chỉ thẳng vào mặt tôi mà gọi là “đồ Cộng sản”, ông bộc bạch. Tuy nhiên, không vì thế mà ông nản lòng, bỏ cuộc bởi vì ông không hề đơn độc, sát cánh cùng ông còn có nhiều vị giám mục khác.

Việc chính quyền Ních-xơn không muốn “mất mặt” vì thua Việt Nam nên đã lật lọng, tiến hành ném bom miền Bắc Việt Nam vào thời điểm Giáng sinh-cái dịp đáng lẽ nhiều người dân được sum họp, vui vầy bên gia đình và người thân, đã thôi thúc ông phải tìm mọi cách đến Việt Nam càng sớm càng tốt. “Tôi muốn tìm hiểu chính quyền Mỹ thực sự đã và đang làm gì trên mảnh đất này?”, ông chia sẻ. Tuy nhiên, vào thời điểm ông có thể đến được Việt Nam thì đã là tháng 4-1973, lúc đó Hiệp định Hòa bình Pa-ri đã được ký kết. Dù vậy, ông vẫn muốn đến, bởi trên thực tế, chiến tranh chưa thực sự chấm dứt.

Trong chuyến đi 10 ngày tại Sài Gòn năm ấy, ông đã có cơ hội gặp gỡ, tiếp xúc với một số tù nhân được chính quyền Sài Gòn phóng thích. Họ bị bắt vì phản đối chiến tranh, chống chính quyền. Họ kể cho ông về những chuồng cọp, nơi mà chính quyền ngụy Sài Gòn đã giam giữ họ. Ông cũng được gặp gỡ nhiều người dân Việt Nam khác, những con người mà theo ông là “bình dị nhưng dũng cảm, dám đứng lên đấu tranh vì tự do, độc lập”. Sau khi trở về Mỹ, ông viết báo kể về những gì mắt thấy tai nghe, sự tàn khốc mà chiến tranh đã gây ra với người dân Việt Nam nhằm thúc đẩy phong trào phản chiến.

Nói về cuộc chiến tranh Việt Nam, ông Thô-mát Găm-bơ-tơn thẳng thắn thừa nhận, trên thực tế, Mỹ không có quyền can thiệp quân sự vì Việt Nam đã là một quốc gia độc lập từ năm 1945. “Chính quyền miền Bắc Việt Nam muốn một Việt Nam độc lập, thống nhất nhưng chúng tôi, nước Mỹ lại hỗ trợ đào tạo, thành lập chính quyền Sài Gòn, rồi dùng bom na-pan, chất độc da cam để gây chiến ở Việt Nam”, giọng ông run lên, như tự trách mình.“Chúng tôi đã sai lầm”, ông nhấn mạnh, “và kết quả là phải nếm mùi thất bại nặng nề”.

Vị linh mục Mỹ vẫn còn nhớ như in một thước phim tài liệu ông đã xem, trong đó Cựu bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Rô-bớt Mắc Na-ma-ra (Robert McNamara), tại một cuộc gặp với các nhà lãnh đạo Việt Nam hồi những năm 80 của thế kỷ trước, thừa nhận cuộc chiến tranh tại Việt Nam là một sai lầm khủng khiếp của Mỹ. “Tiếc là ông ấy nhận ra điều đó quá muộn bởi hơn hai triệu người đã thiệt mạng và hàng triệu người khác mất nhà cửa vì cái sai lầm khủng khiếp ấy”, ông Thô-mát Găm-bơ-tơn tiếc nuối.

LÂM TOÀN
qdnd.vn

Nỗ lực tạo bước chuyển chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ *

Kỷ niệm 40 năm Hội nghị Pa-ri về Việt Nam

QĐND – Ngày 27N-1-1973, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (gọi tắt là Hiệp định Pa -ri) được ký kết, kết thúc thắng lợi Hội nghị Pa -ri – cuộc đấu tranh ngoại giao lâu dài nhất, cam go nhất trong lịch sử của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Kỷ niệm 40 năm ký kết Hiệp định Pa -ri là dịp để chúng ta ôn lại chiến công hào hùng của dân tộc, noi theo tấm gương sáng của những thế hệ cha anh, tri ân bạn bè quốc tế và vận dụng sáng tạo các bài học lịch sử để triển khai thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng trong thời kỳ mới.

Di sản vĩ đại của phong trào giải phóng dân tộc

Kéo dài ròng rã 4 năm, 8 tháng, 14 ngày, trải qua 202 phiên họp công khai và 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, Hội nghị Pa -ri là cuộc đấu trí, đấu bản lĩnh quyết liệt giữa nền ngoại giao non trẻ với nền ngoại giao lão luyện của một siêu cường hàng đầu thế giới. Để đi đến thắng lợi cuối cùng là bản Hiệp định lịch sử ngày 27-1-1973, chúng ta đã kiên định đường lối, chiến lược mà Đảng đề ra, đồng thời chuẩn bị kỹ càng, hết sức chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cả về bản lĩnh cách mạnh và kiến thức mọi mặt. Kế tục truyền thống đấu tranh ngoại giao của cha ông và trên cơ sở các bài học của Hiệp định Giơ -ne-vơ 1954, đội ngũ cán bộ ngoại giao đã không ngừng lớn mạnh thông qua các hoạt động tranh thủ dư luận quốc tế, hỗ trợ chiến trường chống “chiến tranh đặc biệt”, “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, góp phần đưa tới thắng lợi Tết Mậu Thân 1968, buộc Mỹ phải thay đổi chiến lược, xuống thang chiến tranh, đi vào đàm phán, kết thúc chiến tranh bằng một giải pháp chính trị.

Hiệp định Pa -ri có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng, thống nhất đất nước của dân tộc ta. Hiệp định là văn bản pháp lý toàn diện, đầy đủ nhất công nhận các quyền cơ bản của dân tộc ta, trong đó Mỹ buộc phải cam kết “tôn trọng độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”. Hội nghị Pa -ri và Hiệp định Pa -ri đã góp phần quan trọng vào nỗ lực tạo nên bước chuyển chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc, từng bước buộc Mỹ phải đi vào giải pháp, chấm dứt ném bom miền Bắc, rút toàn bộ quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam, hoàn thành mục tiêu chiến lược “đánh cho Mỹ cút”. Với việc buộc Mỹ phải rút hết trong khi ta duy trì được hoàn toàn lực lượng, Hiệp định mở ra một cục diện mới, so sánh lực lượng trên chiến trường nghiêng hẳn về ta để tiến lên “đánh cho ngụy nhào”. Hiệp định Pa -ri còn góp phần ngăn chặn mọi âm mưu can thiệp trở lại của Mỹ khi toàn quân, toàn dân ta tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 với đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Vượt lên trên mọi ý nghĩa thông thường, Hội nghị Pa -ri và Hiệp định Pa -ri là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, củng cố niềm tin của nhân dân các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của mình. Cũng chính vì vậy, Hội nghị Pa -ri và Hiệp định Pa -ri đã góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình và công lý, là di sản vĩ đại của phong trào giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị và can thiệp của nước ngoài.

Những bài học quý giá

Hội nghị Pa -ri để lại những bài học vô cùng quý giá. Bài học thứ nhất và quan trọng nhất là tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Đây là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Trong suốt quá trình đàm phán, Bộ Chính trị đã luôn theo dõi và chỉ đạo sát sao cả về chiến lược và sách lược đối với hai đoàn đàm phán để đi đến thắng lợi cuối cùng. Thứ hai, giữ vững độc lập, tự chủ, coi đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong xử lý các vấn đề đối ngoại. Hội nghị Pa -ri một lần nữa khẳng định rằng, chỉ có giữ vững độc lập, tự chủ trong quyết định chiến lược, sách lược, ta mới có thể chủ động tiến công, chủ động tạo thời cơ và tranh thủ thời cơ để bảo vệ lợi ích dân tộc. Thứ ba, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp, các lĩnh vực là nhân tố quyết định đảm bảo thắng lợi. Trong suốt quá trình đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Pa -ri, sự phối hợp nhịp nhàng giữa ba mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao, giữa “đánh” và “đàm”, giữa các binh chủng hợp thành thế trận chiến tranh nhân dân, có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Ngay tại Pa -ri, sự phối hợp chặt chẽ và thực hiện phương châm “tuy hai mà một, tuy một mà hai” của hai đoàn đàm phán dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng ta cũng là nhân tố hết sức quan trọng để đi đến thắng lợi. Thứ tư, chủ động, sáng tạo là phương cách đảm bảo thắng lợi trong đấu tranh ngoại giao. Ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước mà đỉnh cao là Hội nghị Pa -ri thực sự đã trở thành một mặt trận chiến lược, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp của dân tộc. Trong suốt quá trình đàm phán tại Pa -ri, mặt trận ngoại giao đã chủ động tiến công, đồng thời tận dụng tối đa các thế mạnh đặc thù của mình để giành thắng lợi. Thứ năm, Hội nghị Pa -ri là bài học tiêu biểu về kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. Trong suốt quá trình đàm phán tại Pa-ri, chúng ta đã có được sự ủng hộ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã tranh thủ được sự đồng tình của dư luận quốc tế, kể cả dư luận tiến bộ Mỹ, góp phần tạo nên một mặt trận nhân dân thế giới rộng lớn ủng hộ Việt Nam.

Kế tục và phát huy truyền thống vẻ vang của ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước, ngoại giao thời kỳ hội nhập quốc tế và phát triển đất nước tiếp tục là một “mặt trận”, trong đó các cán bộ ngoại giao là những “người lính“,không ngừng phấn đấu góp phần tích cực đưa đất nước vào vị thế có lợi nhất trong nền chính trịk, nền kinh tế và văn hóa khu vực và toàn cầu. Quán triệt sâu sắc nhiệm vụ đối ngoại và vận dụng các bài học lịch sử của Hội nghị Pa -ri, ngành ngoại giao tiếp tục nỗ lực vượt bậc trong các hướng cụ thể sau:

Thứ nhất, tăng cường công tác chính trị tư tưởng, tuyệt đối tin tưởng vào con đường cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, vững vàng bản lĩnh chính trị, kiên định đường lối đối ngoại “độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ”; nỗ lực quên mình vì lợi ích quốc gia dân tộc vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh.

Thứ hai, phát huy truyền thống chủ động, sáng tạo trong đối ngoại, đề xuất nhiều sáng kiến thiết thực để nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại trong quan hệ với các đối tác và trên các diễn đàn, tổ chức quốc tế; tăng cường công tác nghiên cứu dự báo, phát hiện thời cơ và kiến nghị các biện pháp tận dụng thời cơ, lường trước các thách thức và kiến nghị các biện pháp hóa giải hoặc giảm thiểu các thách thức đối với phát triển và an ninh của đất nước.

Thứ ba, hợp đồng chặt chẽ giữa ngoại giao với kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh… phối hợp nhịp nhàng với đối ngoại Đảng, ngoại giao nhân dân dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, góp phần gia tăng sức mạnh tổng hợp của đất nước, kết hợp thành công sức mạnh của đất nước với sức mạnh của thời đại, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đối ngoại được Đảng giao phó.

Thứ tư, không ngừng học tập rèn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ và kiến thức mọi mặt, xây dựng đội ngũ cán bộ ngoại giao có trình độ và năng lực ngang tầm với các nước trong khu vực; đáp ứng yêu cầu triển khai thành công định hướng “triển khai đồng bộ và toàn diện các hoạt động đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” của đường lối đối ngoại Đại hội XI.

Kỷ niệm 40 năm ngày Hiệp định Pa -ri được ký kết, chúng ta bày tỏ lòng biết ơn đối với sự hy sinh của biết bao đồng bào và chiến sĩ cả nước, biết ơn Đảng và Bác Hồ vĩ đại, tri ân các thế hệ cha, anh đã trực tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh ngoại giao ở Pa -ri, tri ân các bạn bè quốc tế đã nhiệt tình ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. ôn lại các ý nghĩa trọng đại và bài học sâu sắc của Hội nghị Pa -ri, chúng ta thêm vững tin vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, quyết tâm phát huy tinh thần Hội nghị Pa -ri, vận dụng sáng tạo các bài học của Hội nghị trong bối cảnh tình hình và nhiệm vụ mới, quyết tâm góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.

PHẠM BÌNH MINH
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao
qdnd.vn

* Đầu đề của Báo Quân đội nhân dân

Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bước phát triển mới của chủ nghĩa Mác – Lênin, được vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Điều cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với giải quyết xã hội và giải phóng con người. Trong đó, vấn đề con người là vấn đề lớn, được đặt lên hàng đầu và là vấn đề trung tâm, xuyên suốt trong toàn bộ nội dung tư tưởng của Người.

Tư tưởng Hồ Chí Minh đi tới mùa XuânTư tưởng Hồ Chí Minh là một bước phát triển mới của chủ nghĩa Mác – Lênin, được vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Điều cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với giải quyết xã hội và giải phóng con người. Trong đó, vấn đề con người là vấn đề lớn, được đặt lên hàng đầu và là vấn đề trung tâm, xuyên suốt trong toàn bộ nội dung tư tưởng của Người. Tin ở dân, dựa vào dân, tổ chức và phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân, bồi dưỡng, đào tạo và phát huy mọi năng lực của dân (ở từng cá nhân riêng lẻ và của cả cộng đồng), đó là tư tưởng được Hồ Chí Minh vận dụng và phát triển trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng giành độc lập dân tộc cũng như xây dựng đất nước. Tư tưởng đó cũng chính là nội dung cơ bản của toàn bộ tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh.

Đối với Hồ Chí Minh, con người vừa tồn tại tư cách cá nhân, vừa là thành viên của gia đình và của cộng đồng, có cuộc sống tập thể và cuộc sống cá nhân hài hòa, phong phú. Người đã nêu một định nghĩa về con người: “Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người”. Quan điểm đó thể hiện ở chỗ Người chưa bao giờ nhìn nhận con người một cách chung chung, trừu tượng. Khi bàn về chính sách xã hội, cũng như ở mọi nơi, mọi lúc, trong mọi hoàn cảnh, Người luôn quan tâm đến nhu cầu, lợi ích của con người với tư cách nhu cầu chính đáng. Đem lại lợi ích cho con người chính là tạo ra động lực vô cùng lớn lao cho sự nghiệp chung, vì nếu như những nhu cầu, lợi ích của mỗi cá nhân không được quan tâm thỏa đáng thì tính tích cực của họ sẽ không thể phát huy được. Trong khi phê phán một cách nghiêm khắc chủ nghĩa cá nhân, Người viết: “Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”. Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình”. Trong quan điểm về thực hiện một nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, theo Người, phải là một nền dân chủ chân chính, không hình thức, không cực đoan, trong đó mỗi con người cụ thể phải được đảm bảo những quyền lợi và nghĩa vụ của mình theo hiến pháp và pháp luật. Con người, với tư cách là những cá nhân, không tồn tại biệt lập mà tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với cộng đồng dân tộc và với các loài người trên toàn thế giới.

Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không tồn tại như một phạm trù bản thể luận có tính trừu tượng hóa và khái quát hóa, mà được đề cập đến một cách cụ thể, đó là nhân dân Việt Nam, những con người lao động nghèo khổ bị áp bức cùng cực dưới ách thống trị của phong kiến, đế quốc; là dân tộc Việt Nam đang bị đô hộ bởi chủ nghĩa thực dân; và mở rộng hơn nữa là những “người nô lệ mất nước” và “người cùng khổ”. Lôgíc phát triển tư tưởng của Người là xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước để đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, đến với chủ nghĩa quốc tế chân chính. Theo lôgíc phát triển tư tưởng ấy, khái niệm “con người” của Hồ Chí Minh tiếp cận với khái niệm “giai cấp vô sản cách mạng”. Người đề cập đến giai cấp vô sản cách mạng và sự thống nhất về lợi ích căn bản của giai cấp đó với các tầng lớp nhân dân lao động khác (đặc biệt là nông dân). Người nhận thức một cách sâu sắc rằng, chỉ có cuộc cách mạng duy nhất và tất yếu đạt tới được mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và toàn thể nhân loại khỏi mọi sự nô dịch, áp bức. Toàn bộ các tư tưởng, lý luận (chiếm một khối lượng lớn trong các tác phẩm của Người) bàn vềcách mạng (chiến lược giải pháp; bàn về người cách mạng và đạo đức cách mạng, về hoạch định và thực hiện các chính sách xã hội; về rèn luyện và giáo dục con người v.v…) về thực chất chỉ là sự cụ thể hóa bằng thực tiễn tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người được khái niệm vừa là mục tiêu của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, vừa là động lực của chính sự nghiệp đó. Tư tưởng đó được thể hiện rất triệt để và cụ thể trong lý luận chỉ đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Trong lý luận về xây dựng chế độ mới, Hồ Chủ tịch đã khẳng định xây dựng chế độ dân chủ nhân dân gắn liền với việc thực hiện bước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong kháng chiến giải phóng dân tộc cần xây dựng chế độ dân chủ nhân dân để đẩy mạnh công cuộc kháng chiến, đồng thời tạo ra những tiền đề cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội; trong xây dựng chủ nghĩa xã hội cần phải thực hiện chế độ dân chủ nhân dân, vì như Người nói: “Đây là cuộc chiến đấu khổng lồ chống lại những cái gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”. Cuộc chiến đấu ấy sẽ không đi đến thắng lợi, nếu không “dựa vào lực lượng của toàn dân”. Về chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh không bao giờ quan niệm hình thái xã hội đó như một mô hình hoàn chỉnh, một công thức bất biến. Bao giờ Người cũng coi trọng những điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa khách quan. Người chỉ đề ra những mục tiêu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội với những bước đi thiết thực và những nội dung cơ bản nhất. Theo Người: “Nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết là làm cho nhân dân lao động thoát khỏi bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và được sống đời hạnh phúc”; “Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân” xây dựng chủ nghĩa xã hội tức là làm cho nhân dân ta có một đời sống thật sung sướng, tốt đẹp. Người dạy xây dựng chủ nghĩa xã hội phải thiết thực, phù hợp với điều kiện khách quan, phải nắm được quy luật và phải biết vận dụng quy luật một cách sáng tạo trên cơ sở nắm vững tính đặc thù, tránh giáo điều, rập khuôn máy móc. Sự sáng tạo đó gần gũi, tương đồng, nhất quán với luận điểm của Ăngghen: “Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo. Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay”. Vì vậy, không chỉ trong lý luận về đấu tranh giành độc lập dân tộc mà cả trong lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội khi định ra những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, trước hết, “cần có con người xã hội chủ nghĩa”, Hồ Chí Minh đã thể hiện nhất quán quan điểm về con người: con người là mục tiêu, đồng thời vừa là động lực của sự nghiệp giải phóng xã hội và giải phóng chính bản thân con người.

Tấm lòng Hồ Chí Minh luôn hướng về con người. Người yêu thương con người, tin tưởng con người, tin và thương yêu nhân dân, trước hết là người lao động, nhân dân mình và nhân dân các nước. Với Hồ Chí Minh, “lòng thương yêu nhân dân, thương yêu nhân loại” là “không bao giờ thay đổi”. Người có một niềm tin lớn ở sức mạnh sáng tạo của con người. Lòng tin mãnh liệt và vô tận của Hồ Chí Minh vào nhân dân, vào những con người bình thường đã được hình thành rất sớm. Từ những năm tháng Người bôn ba tìm đường cứu nước, thâm nhập, lăn lộn, tìm hiểu thực tế cuộc sống và tâm tư của những người dân lao động trong nước và nước ngoài. Người đã khẳng định: “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương ẩn giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét, và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến”1. Tin vào quần chúng, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, đó là một trong những phẩm chất cơ bản của người cộng sản. Và đây cũng chính là chỗ khác căn bản, khác về chất, giữa quan điểm của Hồ Chí Minh với quan điểm của các nhà Nho yêu nước xưa kia (kể cả các bậc sĩ phu tiền bối gần thời với Hồ Chí Minh) về con người. Nếu như quan điểm của Hồ Chí Minh: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết toàn dân”, thì các nhà Nho phong kiến xưa kia mặc dù có những tư tưởng tích cực “lấy dân làm gốc”, mặc dù cũng chủ trương khoan thư sức dân”, nhưng quan điểm của họ mới chỉ dừng lại ở chỗ coi việc dựa vào dân cũng như một “kế sách”, một phương tiện để thực hiện mục đích “trị nước”, “bình thiên hạ”. Ngay cả những bậc sĩ phu tiền bối của Hồ Chí Minh, tuy là những người yêu nước một cách nhiệt thành, nhưng họ chưa có một quan điểm đúng đắn và đầy đủ về nhân dân, chưa có đủ niềm tin vào sức mạnh của quần chúng nhân dân. Quan điểm tin vào dân, vào nhân tố con người của Người thống nhất với quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin: “Quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính ra lịch sử”.

Tin dân, đồng thời lại hết lòng thương dân, tình thương yêu nhân dân của Hồ Chí Minh có nguồn gốc sâu xa từ trong truyền thống dân tộc, truyền thống nhân ái ngàn đời của người Việt Nam. Cũng như bao nhà Nho yêu nước khác có cùng quan điểm “ái quốc là ái dân”, nhưng điểm khác cơ bản trong tư tưởng “ái dân” của Người là tình thương ấy không bao giờ dừng lại ở ý thức, tư tưởng mà đã trở thành ý chí, quyết tâm thực hiện đến cùng sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại cần lao, xóa bỏ đau khổ, áp bức bất công giành lại tự do, nhân phẩm và giá trị làm người cho con người. ở Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước gắn bó không tách rời với chủ nghĩa quốc tế chân chính. Tình thương yêu cũng như toàn bộ tư tưởng về nhân dân của Người không bị giới hạn trong chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi mà nó tồn tại trong mối quan hệ khăng khít giữa các vấn đề dân tộc và giai cấp, quốc gia với quốc tế. Yêu thương nhân dân Việt Nam, Người đồng thời yêu thương nhân dân các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Trong sự nghiệp lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh luôn coi trọng sức mạnh đoàn kết toàn dân và sự đồng tình ủng hộ to lớn của bè bạn khắp năm châu, của cả nhân loại tiến bộ. Người cũng xác định sự nghiệp cách mạng của nước ta là một bộ phận không thể tách rời trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh giải phóng nhân loại trên phạm vi toàn thế giới.

Tóm lại: Quan niệm về con người, coi con người là một thực thể thống nhất của “cái cá nhân” và “cái xã hội”, con người tồn tại trong mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân với cộng đồng, dân tộc, giai cấp, nhân loại; yêu thương con người, tin tưởng tuyệt đối ở con người, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp giải phóng xã hội và giải phóng chính bản thân con người, đó chính là những luận điểm cơ bản trong tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh. Xuất phát từ những luận điểm đúng đắn đó, trong khi lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, Hồ Chí Minh luôn tin ở dân, hết lòng thương yêu, quý trọng nhân dân, biết tổ chức và phát huy sức mạnh của nhân dân. Tư tưởng về con người của Người thông qua thực tiễn cách mạng của Người đã trở thành một sức mạnh vật chất to lớn và là nhân tố quyết định thắng lợi của chính sự nghiệp cách mạng ấy.

Tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh dựa trên thế giới quan duy vật triệt để của chủ nghĩa Mác – Lênin. Chính vì xuất phát từ thế giới quan duy vật triệt để ấy, nên khi nhìn nhận và đánh giá vai trò của bản thân mình (với tư cách là lãnh tụ), Người không bao giờ cho mình là người giải phóng nhân dân. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, người cán bộ (kể cả lãnh tụ) chỉ là “đầy tớ trung thành” có sứ mệnh phục vụ nhân dân, lãnh tụ chỉ là người góp phần vào sự nghiệp cách mạng của quần chúng. Tư tưởng này đã vượt xa và khác về chất so với tư tưởng “chăn dân” của những người cầm đầu nhà nước phong kiến có tư tưởng yêu nước xưa kia. Và đây, cũng chính là điều đã làm nên chủ nghĩa nhân văn cao cả ở Hồ Chí Minh, một chủ nghĩa nhân văn cộng sản trong cốt cách của một nhà hiền triết phương Đông.

Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Tư tưởng về con người của Đảng Cộng sản Việt Nam nhất quán với tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh. Sự nhất quán ấy được thể hiện qua đường lối lãnh đạo cách mạng và qua các chủ trương chính sách của Đảng trong suốt quá trình Đảng lãnh đạo công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, tư tưởng đó tiếp tục được Đảng ta quán triệt vận dụng và phát triển. Con người Việt Nam đang là trung tâm trong “chiến lược phát triển toàn diện”; đang là động lực của công cuộc xây dựng xã hội mới với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”.

Theo http://www.yenbai.gov.vn
Tâm Trang
(st)

bqllang.gov.vn

Nguyễn Ái Quốc và “duyên nợ” ở Hồng Kông

“Tôi sẽ bào chữa cho ngài vì niềm vinh dự, không phải vì tiền” – Đó là câu trả lời của vị luật sư nổi tiếng người Anh Frank Loseby với Nguyễn Ái Quốc tại Hồng Kông cách đây 79 năm, khi biết Người bị bắt vì những hoạt động yêu nước.

Xin giới thiệu với độc giả bài viết của Laura Lam cho DTInews, về bước ngoặt trong sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hồng Kông, nơi Người đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ cảm động khi phải đối mặt với lệnh dẫn độ và khả năng bị tử hình:

lS

Frank Loseby

Năm 1932, Hồ Tùng Mậu đã gặp Frank Loseby, một luật sư người Anh xuất chúng, nổi tiếng có lòng thương người và tính tình chính trực. Luật sư này vài năm trước đã từng bảo vệ một người Việt Nam có trường hợp tương tự, nên nắm rất rõ tình hình ở Đông Dương. Ông đã gật đầu với trường hợp của Nguyễn Ái Quốc. Ông đã gặp thân chủ và lập tức cảm thấy đặc biệt tôn trọng người đàn ông này. Ông nói với Nguyễn Ái Quốc rằng một trong những đồng sự của ông đã đại diện cho Tiến sĩ Tôn Trung Sơn khi ông này bị bắt và bị giam giữ ở London vì những hoạt động chính trị. Nguyễn Ái Quốc rất lo lắng về việc không có tiền để chi trả cho luật sư. Nhưng Loseby nói: “Tôi biết ngài là nhà lãnh đạo của phong trào cách mạng Việt Nam. Tôi sẽ bào chữa cho ngài vì niềm vinh dự, chứ không phải vì tiền”.

Thực dân Pháp đã đưa ra bằng chứng đầy đủ để “hợp pháp hóa” lệnh bắt giữ Nguyễn Ái Quốc. Tại Tòa án Dân sự Tối cao ở Hồng Kông (khi đó là thuộc địa của Anh), chúng đã buộc tội ông “âm mưu lật đổ chính phủ Vương Quốc Anh”. Trước tiên, luật sư Loseby chỉ ra rằng Tống Văn Sơ (tên của Hồ Chủ Tịch khi đó) đã bị bắt vào ngày 6/6/1931, nhưng lệnh bắt lại được ký ngày 12 tháng 6 năm đó. Ông cũng lập luận rằng nếu Tống Văn Sơ bị bắt và bị dẫn độ về Đông Dương (khi đó còn là thuộc địa của Pháp), thì chắc chắn ông sẽ bị tử hình.

Thực dân Pháp chắc mẩm rằng nhà cầm quyền Hồng Kông sẽ giao Nguyễn Ái Quốc cho chúng. Ngày 24/8/1931, văn phòng Sở Liêm phóng Pháp tại Hà Nội đã gửi điện vào Sài Gòn thông báo rằng Nguyễn Ái Quốc sẽ rời Hồng Kông vào ngày 1 tháng 9 trên con tàu GeneralMetzinger. Hai cảnh sát được được giao nhiệm vụ áp tải Nguyễn về Việt Nam.

Sau 9 phiên tòa kéo dài từ tháng 6 đến tháng 10 tháng 1931, Tống Văn Sơ không bị tuyên phạm bất kỳ tội danh nào. Tòa án Dân sự Tối cao đã ra phán quyết trả tự do cho ông. Tuy nhiên, ông không được phép lưu lại Hồng Kông. Nguyễn Ái Quốc đã tự yêu cầu cho phép ông tạm thời đến Anh.

Pháp tiếp tục gây áp lực buộc chính quyền Hồng Kông trục xuất nhà cách mạng Việt Nam. Trước đó, chúng đã loan báo khoản tiền thưởng tới 75.000 đồng Đông Dương cho bất kỳ ai có thể bắt giữ Nguyễn Ái Quốc và giao nộp ông cho chúng. Trong khi đó, Sở Liêm phóng Pháp đã yêu cầu mật vụ “Pinot” của chúng cung cấp thông tin về các đảng viên trong tổ chức Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội bị bắt ở Canton (Trung Quốc). Chúng cho rằng những người Việt Nam này có thể đã có liên lạc với Nguyễn Ái Quốc. “Mật vụ Pinot” chính là Lâm Đức Thụ (tức Nguyễn Công Viên), một thành viên của Thanh niên Cách mạnh Đồng chí Hội, người đã phản bội Nguyễn Ái Quốc và khiến ông bị bắt vào ngày 6 tháng 6.

Luật sư Frank Loseby quyết định đấu tranh với vấn đề dẫn độ bằng cách đưa vụ này lên Hội đồng Cơ mật Hoàng gia Anh ở London.

Ngày 12/9/1931, La Prade, Tổng Lãnh sự Pháp tại Hồng Kông, đã gửi điện cho Bộ Ngoại giao ở Paris. Thư viết: “Tòa án Tối cao, sau khi tuyên bố lệnh dẫn độ có hiệu lực vào sáng nay, đã cho phép Nguyễn Ái Quốc, theo như yêu cầu mà ông đưa ra hôm qua, được kháng án lên Hội đồng Cơ mật ở London. Theo những gì tôi hiểu thì quyết định này sẽ không được thực thi trước 1 năm và trong khoảng thời gian này, Nguyễn Ái Quốc sẽ vẫn bị giam giữ ở đây”.

Ngay sau đó, Frank Loseby đã có một tuyên bố công khai về Nguyễn Ái Quốc: “Tôi muốn cho tất cả các ngài biết rằng thân chủ của tôi là một người có trình độ học vấn cao. Vì nhiều lý do, tôi là người duy nhất ông ấy có thể tin tưởng. Do lý do nhân đạo, tôi thường đến thăm ông và giữa chúng tôi đã nảy sinh tình bạn thân thiết. Vì vậy, nếu Nguyễn Ái Quốc bị dẫn độ sang Pháp để bị xử tử, hoặc nếu mật vụ Pháp ám sát ông, thì đó sẽ là mất mát lớn với cá nhân tôi”.

Phu nhân của luật sư Frank Loseby, bà Rosa, rất đồng cảm với tình cảnh của Nguyễn Ái Quốc. Bà và con gái là Patricia thường đi thăm ông tại nhà tùVictoria mỗi chiều thứ Bảy. Đầu tháng 11 năm 1931, bệnh lao tái phát và Nguyễn Ái Quốc bị ốm nặng. Ông được nhập viện dành cho tù nhân. Bữa ăn trong tù chỉ có rau vào buổi sáng và cháo trắng ăn với cá mắm vào buổi chiều đã khiến ông càng thêm yếu. Frank Loseby đã bố trí để ông có thể dùng bữa mỗi ngày qua một nhà ăn của Tàu ở khu vực đó. Nguyễn Ái Quốc vẫn phải lưu lại bệnh viện này trong hơn một năm.

Rosa Loseby và con gái vẫn tiếp tục các chuyến thăm Nguyễn. Mỗi tuần, họ mang tới cho ông những đồ dùng thiết yếu và một bó hoa lớn. Nguyễn đặc biệt vui mừng mỗi khi đón nhận bó hoa. Vẻ đẹp và hương thơm thanh khiết của những bó hoa tươi đã làm ông cảm động. Hoa đã trở thành bầu bạn của ông, giúp ông quên đi cái lạnh lẽo và điều kiện sống khắc nghiệt trong xà lim biệt lập. Trong nỗi khát khao được thoát khỏi nơi giam cầm ngột ngạt, chính những bó hoa này đã giúp Nguyễn Ái Quốc hòa mình trong tưởng tượng với thiên nhiên thanh bình quanh mình, với những vườn cây trái, với những ngọn gió trong lành.

Một hôm, khi qua Chợ Trung tâm mua hoa, bà Rosa Loseby đã gặp phu nhân của Bộ trưởng Thuộc địa Anh Quốc tại Hồng Kông. Hai người phụ nữ đã nói chuyện và vị phu nhân đã quyết định đến bệnh viện với Rosa Loseby. Ngay cuộc gặp đầu tiên, bà đã đặc biệt ấn tượng với khả năng nói tiếng Anh trôi chảy của người tù nhân đặc biệt cũng như phong thái giao tiếp của ông. Bà rơi nước mắt khi nghe kể về những thử thách mà con người này phải trải qua. Khi bà trở về và kể lại với chồng về chuyến đi đến bệnh viện,  ngài Bộ trưởng Thuộc địa đã quyết định gặp người tù gây tò mò này. Cuộc gặp đã giúp thay đổi số phận của Nguyễn Ái Quốc.

Vào cuối năm 1931, Hoàng thân nhà Nguyễn là Cường Để khi đó đang sống lưu vong ở Nhật Bản đã gửi cho Nguyễn Ái Quốc một bức thư bày tỏ tấm thịnh tình và 300 yên để giúp ông chi trả tiền chữa bệnh.

Trong một năm ròng đợi quyết định của Hội đồng Cơ mật Hoàng gia Anh, Nguyễn Ái Quốc đã phải đương đầu với nỗi tuyệt vọng và sự cô độc bằng cách tự đắm mình vào những trang viết. Ngoài những bài thơ, ông còn dành thời gian viết một quyển sách. Đó là những trang viết đậm triết lý về những thách thức lớn trong cuộc sống và nỗi khổ cực trong đời người, toàn bộ đều bằng tiếng Anh.

Dịch: Việt Hà
Theo Dân trí

Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

Phát triển khoa học – công nghệ Việt Nam theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Từ sau cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ Nhất diễn ra ở Châu Âu và Bắc Mĩ giai đoạn cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 mà xuất phát điểm là ở nước Anh, nhân loại đã bắt đầu nhận thức được sức mạnh thực sự của khoa học, kĩ thuật. Có thể nói, cách mạng công nghiệp là một trong những nguyên nhân cơ bản hình thành lên chủ nghĩa tư bản và các đế quốc hùng mạnh thời bấy giờ. Chính nhờ tàu bè, súng ống mà năm 1858 người Pháp đã nổ phát súng đầu tiên lên bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), mở đầu cho mấy chục năm Pháp thuộc, làm cho nhân dân ta lâm vào cảnh lầm than. Những thành tựu khoa học, kĩ thuật nổi bật của phương Tây thời kì đó là động lực thôi thúc các chí sĩ yêu nước của dân tộc ta như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng…và sau này là Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh làm ra các cuộc vượt biển lớn, đi tìm con đường giải phóng, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Khoa học và công nghệ giai đoạn mới hiện nay bắt đầu phát triển mạnh từ những năm 40 thế kỷ trước và đặc trưng rõ nét nhất từ khi vệ tinh nhân tạo đầu tiên chinh phục không gian vũ trụ, tiếp đó là con người bay vào vũ trụ, đặt chân lên mặt trăng, các công trình nghiên cứu vũ trụ khác; sự ra đời của các ngành công nghệ mới như công nghệ thông tin, viễn thông, công nghệ năng lượng tái tạo…Đến cuối thế kỷ XX, có thể khẳng định rằng nền sản xuất xã hội đang biến đổi sâu sắc, mạnh mẽ tạo nên sự phát triển nhảy vọt, một bước chuyển lịch sử sang một kỉ nguyên hoàn toàn mới – kỉ nguyên tri thức. Tri thức đã thực sự trở thành lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội loài người và khoa học – công nghệ chính là yếu tố tạo ra tri thức đó. Khoa học – công nghệ là một trong những thế mạnh chủ yếu giúp cho các nước phát triển duy trì được vị thế của mình, đồng thời cũng trở thành động lực, cơ hội, là đòn bẩy giúp các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam tiến lên. Sự trỗi dậy của những “con rồng, con hổ” Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore là những ví dụ xác thực nhất cho luận điểm đó.

Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 01/11/2012 Hội nghị lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tếđã nhận định: Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, mặc dù điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, nhưng nhờ có sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự nỗ lực, tâm huyết của đội ngũ các nhà khoa học, sự cố gắng của các doanh nghiệp và nhân dân, khoa học và công nghệ nước ta đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, đóng góp thiết thực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc….Tuy nhiên, hoạt động khoa học và công nghệ nhìn chung còn trầm lắng, chưa thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế – xã hội. Việc huy động nguồn lực của xã hội vào hoạt động khoa học và công nghệ chưa được chú trọng; đầu tư cho khoa học và công nghệ còn thấp, hiệu quả sử dụng chưa cao. Việc đào tạo, trọng dụng, đãi ngộ cán bộ khoa học và công nghệ còn nhiều bất cập. Cơ chế quản lý hoạt động khoa học và công nghệ chậm được đổi mới. Công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển khoa học công nghệ chưa gắn với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội; cơ chế tài chính còn chưa hợp lý. Thị trường khoa học và công nghệ phát triển chậm, chưa gắn kết chặt chẽ kết quả nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo với nhu cầu sản xuất, kinh doanh và quản lý. Hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ còn thiếu định hướng chiến lược, hiệu quả thấp….Từ những đánh giá trên, một lần nữa chúng ta cùng nhìn lại, ngẫm lại và học hỏi từ những lời căn dặn của Hồ Chủ tịch về phát triển khoa học và kỹ thuật.

8.1. phat trien KHCN theo quan diem cua CTHCM 1Bác Hồ với phong cách làm việc khoa học, tiến bộ. Ảnh internet

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Hội phổ biến Khoa học, kĩ thuật Việt Nam năm 1963, Bác đã nói: “Chúng ta đều biết rằng trình độ khoa học, kỹ thuật của ta hiện nay còn thấp kém. Lề lối sản xuất chưa cải tiến được nhiều. Cách thức làm việc còn nặng nhọc. Năng suất lao động còn thấp kém. Phong tục tập quán lạc hậu còn nhiều. Nhiệm vụ của khoa học là ra sức cải biến những cái đó”1. Như vậy, một mặt Bác chỉ rõ yếu kém của trình độ khoa học, kỹ thuật nước nhà, một mặt chỉ ra nhiệm vụ quan trọng của khoa học. Nhiệm vụ đó chính là:“Khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhằm nâng cao năng suất lao động và không ngừng cải thiện đời sống của nhân dân…”. Điều đó có nghĩa, khoa học phải hướng tới người lao động, giúp họ thay đổi, cải tiến lề lối sản xuất, công việc bớt nặng nhọc mà năng suất lao động đạt được cao hơn. Quan điểm đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nay và mai sau vẫn còn nguyên giá trị, là bài học lớn cho các nhà hoạch định chính sách đối với sự phát triển của khoa học – công nghệ hiện nay ở nước ta.

Trong thời gian qua, một vấn đề nổi bật đã được đặt ra, đó là chất lượng của hoạt động nghiên cứu khoa học, là tính ứng dụng vào thực tiễn đời sống xã hội của các đề tài nghiên cứu khoa học còn rất hạn chế. Ở nước ta, có hàng trăm trường đại học, số lượng các nhà khoa học rất đông đảo, hàng chục nghìn cán bộ nghiên cứu, hàng chục nghìn giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ….được đào tạo bài bản, công phu, có cơ sở và thiết bị để nghiên cứu, có ngân sách của Nhà nuớc bảo đảm thực hiện….Nhưng những phát minh, sáng chế có hiệu quả ứng dụng thực tiễn caocho bà con nông dân như máy gặt lúa, máy tách hạt, máy thái hành, tỏi, máy thu hoạch hoa quả, máy cắt tỉa cành…lại do chính những người nông dân tự mày mò, học hỏi, nghiên cứu sáng tạo ra, trong khi đó rất nhiều đề tài, dự án khoa học hàng trăm triệu đồng, thậm chí hàng tỉ đồng do các nhà nghiên cứu khoa học thực hiện thì lại “đắp chiếu” và không có ứng dụng trong thực tế, cũng không có nhiều đóng góp vào tri thức khoa học cơ bản. Nói như Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc: “Các nhà khoa học lo về tiền còn vất vả hơn nghiên cứu, dẫn đến hiệu quả hạn chế, làm xong ứng dụng thực tế thì ít mà lưu kho thì nhiều, trong khi chính người nông dân lại tự sáng tạo ra nhiều máy móc phục vụ sản xuất hiệu quả”, hay như gần đây nhiều báo chí đưa tin, giật tít “Nông dân Việt Nam “đánh bại” các nhà khoa học thế nào?”…Đó là điều mà các nhà khoa học, cũng như các nhà quản lí khoa học – công nghệ cần phải thực sự thẳng thắn nhìn nhận và có biện pháp, định hướng phát triển chiến lược hiệu quả, nghiêm túc.

Bàn sâu hơn về vấn đề này, Bác căn dặn những người làm khoa học: “Các đồng chí phải đi xuống tận các xí nghiệp, các hợp tác xã, hỏi han công nhân, nông dân yêu cầu gì, họ làm ăn và sinh sống như thế nào và phổ biến những điều cần thiết giúp đỡ họ cải tiến kĩ thuật, phát triển sản xuất, cải thiện đời sống. Các đồng chí phải là những chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng, văn hóa và khoa học, kĩ thuật; phải góp tài góp sức để cải biến bộ mặt xã hội của nước ta, làm cho nhân dân ta sản xuất và công tác theo khoa học và đời sống của nhân dân ta văn minh, tức là khoa học, lành mạnh và vui tươi. Đó là nhiệm vụ rất nặng nề mà cũng rất vẻ vang”. Bằng những câu từ giản dị dễ hiểu đó, Bác đã chỉ ra đường hướng cơ bản cho sự phát triển khoa học – công nghệ, đó là phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa khoa học với lao động sản xuất và đời sống xã hội. Đồng thời Bác cũng đã chỉ ra trách nhiệm lớn lao của các nhà khoa học trong việc “cải biến bộ mặt xã hội”, định hình bộ mặt văn hóa của đất nước và sứ mệnh làm cho đời sống của nhân dân “khoa học, lành mạnh và vui tươi”. Các nhà khoa học, thông qua hoạt động nghiên cứu, giảng dạy và phổ biến kiến thức, phải có trách nhiệm giúp người dân sinh hoạt và làm việc khoa học, hợp lý hơn, loại bỏ những thói quen sống và làm việc lạc hậu, trì trệ. Có thể nói, tư tưởng đúng đắn đó của Người càng cần phải được áp dụng mạnh mẽ hơn trong bối cảnh hiện nay, khi sự liên kết giữa các cơ sở nghiên cứu, người làm khoa học với người dân, các doanh nghiệp và rộng hơn là đời sống thực tiễn xã hội chưa thực sự sâu sắc và chặt chẽ; sự xa rời thực tế, ít có tính mới, tính sáng tạo trong hoạt động nghiên cứu khoa học là những trăn trở cần phải có những đường lối, chính sách lãnh đạo, biện pháp thực hiện quyết liệt của Đảng và Nhà nước.

Nghiên cứu khoa học luôn có tính kế thừa. Nhận thức sâu sắc điều đó, Người đã căn dặn các nhà khoa học nói chung phải có “nhiệm vụ dạy bảo các cháu thiếu niên về khoa học, kĩ thuật, làm cho các cháu ngay từ thuở nhỏ đã biết yêu khoa học, để mai sau các cháu trở thành những người có thói quen sinh hoạt và làm việc theo khoa học” 3. . Đây là một tư tưởng hết sức tiến bộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cách giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ, về vai trò của các em đối với sự phát triển của khoa học – công nghệ nói riêng và của đất nước nói chung. Bác đã nhấn mạnh một triết lý giáo dục rất khoa học đó là phải tạo cho trẻ em tình yêu khoa học, ham hiểu biết, khám phá ngay từ thuở nhỏ; không phải dạy cho học sinh thật nhiều chữ nghĩa, mà là khơi dậy ở các em niềm yêu thích, tự học hỏi và sáng tạo. Khi các em đã có tình yêu với tri thức thì các em sẽ tự giác học tập và từ đó hiệu quả giáo dục cũng sẽ được nâng cao. Bác cũng nhận định rằng, khi các em đã biết yêu khoa học từ nhỏ thì lớn lên sẽ trở thành người có thói quen sinh hoạt và làm việc theo khoa học. Điều đó thực sự rất quan trọng và có ích cho sự phát triển kinh tế – xã hội trong công cuộc thực hiện CNH-HĐH đất nước và hội nhập toàn cầu.

8.2. phat trien KHCN theo quan diem cua CTHCM 2Chủ tịch Hồ Chí Minh và GS.VS Trần Đại Nghĩa. Ảnh internet

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc phát triển khoa học, kĩ thuật nước nhà không chỉ thể hiện qua những bài nói, bài viết, mà còn qua chính cách Bác trọng dụng nhân tài nói chung và đối với các nhà khoa học nói riêng. Trong cuộc đời làm cách mạng của mình, Bác đã thu hút được rất nhiều trí thức, nhà khoa học về phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước; giao cho họ những công việc hợp sở trường, tạo điều kiện thuận lợi để họ phát huy tối đa năng lực, hiểu biết của mình góp phần vào công cuộc giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước. Xuất phát từ lòng yêu nước, niềm tin, niềm cảm phục đối với lãnh tụ Hồ Chí Minh, biết bao nhân sĩ, trí thức và các nhà khoa học tên tuổi như: Hồ Đắc Di, Nguyễn Văn Tố, Tạ Quang Bửu, Tôn Thất Tùng, Trần Đại Nghĩa, Phạm Ngọc Thạch, Đặng Văn Ngữ… đã tự nguyện từ bỏ cuộc sống êm ấm, giàu có ở Hà Nội, Sài Gòn, Tokyo hay Paris để tham gia cách mạng, sẵn sàng chịu nhiều hi sinh, gian khổ, lập nên những kỳ tích về khoa học, kĩ thuật trong kháng chiến và phát triển đất nước. Trong ký ức của mình, ông Vũ Kỳ rất ấn tượng về bức thư kêu gọi những người tài giỏi ra giúp đỡ Chính phủ của Bác năm 1945 và việc Bác cho đăng tin trên báo chí: Sẵn sàng dành thì giờ tiếp 15 phút với bất kỳ ai để nghe kiến nghị, góp ý phê bình về các vấn đề quốc kế, dân sinh… Như vậy, với tư tưởng tiến bộ và phong cách làm việc khoa học của mình, Bác luôn tôn trọng ý kiến đóng góp của các trí thức, các nhà khoa học đối với mỗi quyết sách lớn của đất nước. Bác không chỉ lắng nghe những ý kiến hợp tình, hợp lý, đúng đắn mà còn trân trọng lắng nghe cả những ý kiến phản biện, trái chiều, miễn sao các ý kiến đó có mục đích chung là giải phóng dân tộc, phát triển đất nước. Tinh thần cầu thị đó của Bác với các trí thức, các nhà khoa học chính là bài học lớn đối với các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý đất nước ta trong thời kì hiện nay, khi tình trạng “chảy máu chất xám” đang diễn ra ngày càng phổ biến và nhức nhối, rất nhiều nhà khoa học ưu tú của đất nước đang cống hiến tri thức của mình cho các nước tiên tiến vì trong nước không có được điều kiện tốt nhất để phát huy, phát triển tài năng…. Đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho nền khoa học – công nghệ nước ta chưa bắt kịp các nước phát triển trên thế giới.

Gần đây trên báo chí cũng đã có nhiều bài viết, nhiều chuyên đề thảo luận về các vấn đề như làm thế nào để đưa nền khoa học Việt Nam đi lên, làm thế nào để thu hút các nhà khoa học giỏi về nước. Có thể nói, trong lĩnh vực khoa học – công nghệ, yếu tố con người là quan trọng nhất, được đặt lên hàng đầu. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú ý đến việc đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho lĩnh vực khoa học – công nghệ, Bác đặt biệt coi trọng xây dựng “con người mới” vì đây là động lực quyết định hướng đi lên của xã hội Việt Nam tương lai. Con người mới vừa là nhân vừa là quả của quá trình đấu tranh xây dựng xã hội mới. Bác nói: “Đã là người chủ thì phải biết tự mình lo toan gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ”. Điều đó nghĩa là, con người mới phải có tri thức văn hóa và khoa học, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ dựa trên những phẩm chất đạo đức được tu dưỡng, rèn luyện hàng ngày. Do đó, muốn khoa học – công nghệ nước ta ngày càng phát triển thì vấn đề ưu tiên trước nhất là phải thu hút được người tài, người giỏi và đặc biệt là thu hút được các nhà khoa học đã có kinh nghiệm làm việc trong môi trường quốc tế. Để làm được điều đó phải tạo điều kiện cho họ được làm việc, giao những trọng trách xứng đáng dựa trên tài năng, tạo ra cho họ môi trường tự do học thuật, không bị gò bó bởi các yếu tố chính trị. Các nhà lãnh đạo cũng như cán bộ các cấp cần thực sự cầu thị, tôn trọng lắng nghe ý kiến đóng góp của họ trong những vấn đề liên quan tới phát triển khoa học, kĩ thuật, phát triển đất nước. Tiếp đến là cần tập trung đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị, máy móc đạt tiêu chuẩn quốc tế để các nhà khoa học có được điều kiện tốt nhất để làm việc, nghiên cứu. Và yếu tố cũng rất quan trọng và được quan tâm đó là mức lương chi trả cho các nhà khoa học ít nhất cũng phải bảo đảm được cuộc sống cơ bản của họ và gia đình, để họ không phải gánh thêm nỗi lo “cơm áo gạo tiền”….

Từ hơn nửa thế kỷ trước, Người đã khẳng định “Nhiệm vụ của khoa học, kĩ thuật là cực kì quan trọng, cho nên mọi ngành, mọi người đều phải tham gia công tác khoa học, kĩ thuật, để nâng cao năng suất lao động, sản xuất ra nhiều của cải vật chất, để xây dựng chủ nghĩa xã hội thắng lợi” . Điều đó có nghĩa, nhiệm vụ phát triển khoa học, kĩ thuật là nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, là điều kiện quan trọng để xây dựng và phát triển đất nước. Các nhà khoa học có vai trò tạo ra tri thức và phổ biến tri thức cho nhân dân và nhân dân cũng cần tích cực học hỏi, sống, làm việc một cách khoa học để đưa đất nước đi lên, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Thấm nhuần những lời dạy sâu sắc đó của Người, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách, định hướng phát triển chiến lược, quan trọng cho nền khoa học – công nghệ nước nhà, đặc biệt Quyết định số 418/QĐ-TTg ngày 11 tháng 4 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011 – 2020; ngày 01/11/2012, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (Nghị quyết số 20-NQ/TW) về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; việc sửa đổi Luật Khoa học và Công nghệ; Chính phủ ban hành Nghị định số108/2012/NĐ-CP ngày 25/12/2012 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 19 tháng 02 năm 2013 và thay thế cho Nghị định số 62/2008/NĐ-CP ngày 12/5/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.…sẽ tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng để nền khoa học – công nghệ Việt Nam phát triển đi lên, trở thành động lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước./.

1, 2, 3, 4: Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, XB lần 3, tập 14, trang 96.

Huyền Trang
bqllang.gov.vn

Vận dụng tư tưởng, tấm gương Đạo đức Hồ Chí Minh

Tự học và học suốt đời là một luận điểm quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và chính Người là tấm gương sáng ngời về tinh thần suốt đời bền bỉ và khiêm tốn học hỏi. Người căn dặn: “Phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học, phải học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học hỏi ở nhân dân”, “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời.

TT-HCM về đạo đứcHọc tập phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”

Truyền thống gia đình, quê hương đã hun đúc nên tinh thần hiếu học của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành. Trong những năm tháng ra đi tìm đường cứu nước, Người chứng kiến và thấu hiểu được cảnh lầm than, thất học của nhân dân các dân tộc thuộc địa. Năm 1919, thay mặt những người Việt Nam yêu nước sống ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị Versailles bản yêu sách gồm tám điểm, trong đó điểm thứ sáu là: “Tự do học tập và mở các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp cho người bản xứ ở khắp các tỉnh”. Chính quá trình tự nghiên cứu, học tập và khảo sát mà Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc: Đó là sự kết hợp và giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Cách mạng Tháng Tám thành công, Bác coi việc diệt giặc dốt quan trọng và cấp bách như diệt giặc đói, giặc ngoại xâm: “Giặc đói, giặc dốt là bạn đồng hành của giặc ngoại xâm” vì “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Bác động viên khích lệ đồng bào: “Đi học là yêu nước”. Tại phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ do Hồ Chí Minh chủ trì đã nêu xóa nạn mù chữ và nâng cao trình độ văn hóa cho nhân dân lao động là một trong những nhiệm vụ cấp bách. Ngày 8/9/1945, Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh thành lập cơ quan Bình dân học vụ và kêu gọi toàn dân tham gia xóa nạn mù chữ. Mỗi người biết chữ đều phải tham gia dạy cho người mù chữ: “Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo…”. Trong bài “Chống nạn thất học”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “ Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”.

Năm 1946, trong “ham muốn tột bậc” của vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu của chúng ta, bên cạnh ham muốn “nước nhà được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc”, là ham muốn “ai cũng được học hành”. Cũng nhờ sự ham muốn đó mà Bác Hồ không ngừng học tập, rèn luyện trong mọi hoàn cảnh để có một  kiến thức uyên bác,  tài năng lỗi lạc, trở thành “Danh nhân văn hoá thế giới, anh hùng giải phóng dân tộc”, vững tay chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt muôn trùng sóng gió để tới bến bờ vinh quang.

Với sự nghiệp trồng người, Bác căn dặn “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây. Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Bác khẳng định: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”.

Theo Bác, trong cách học thì “lấy tự học làm cốt”, phải coi trọng trách nhiệm tự học của mỗi người, tự học thêm để làm chủ được tri thức. Những điều được học, được nghiên cứu tại trường chỉ có thể ví như một “hạt nhân bé nhỏ” mà người học “sẽ tiếp tục săn sóc, vun xới, làm cho mọc thành cây và dần dần nở hoa, kết quả”. Mục đích của việc học là để làm cán bộ phục vụ cho Tổ quốc “phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, “Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”. Người cảnh báo trước cho cán bộ thấy là “không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau”. Để thực hiện được mục đích giáo dục thì nội dung giáo dục phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn. Bác nhấn mạnh: “Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn là thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không có liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”. Bác nêu ra nguyên lý giáo dục “Học đi đôi với hành”, “kết hợp lý luận với thực hành, ra sức học tập lý luận và khoa học tiên tiến của các nước bạn kết hợp với thực tiễn nước nhà…”.

Học tập suốt đời là khâu then chốt để cải cách giáo dục và là nội dung cốt lõi của xã hội học tập. Tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh bắt gặp xu thế của thời đại khi mô hình xã hội học tập là một trong những đặc điểm và yêu cầu tất yếu của mỗi quốc gia trong nền kinh tế tri thức và hội nhập toàn cầu. UNESCO nhận định: chính việc học tập suốt đời sẽ thúc đẩy tạo ra sự bình đẳng cho mọi người, làm cho mọi người đều có cơ hội học tập trong mọi điều kiện khác nhau vì mục đích của việc học tập là “học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khảng định mình”. Học vấn ở trong nhà trường trang bị không thể thâu tóm được mọi tri thức mong muốn và không thể giải quyết được tất cả mọi vấn đề của thực tiễn. Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã mang lại cho nhân loại một lượng tri thức và thông tin theo hàm số mũ, sự đổi mới công nghệ làm cho kiến thức và tay nghề trước đây mà người học tiếp thu được trong giáo dục ban đầu trở nên lỗi thời, tụt hậu đòi hỏi phải liên tục được đào tạo và tự đào tạo để có khả năng thich ứng với những thực tiễn mới đòi hỏi

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại mới, Đảng ta đề ra khái niệm giáo dục suốt đời, Văn kiện Đại hội IX của Đảng xác định  mục tiêu  xây dựng “Cả nước trở thành một xã hội học tập nhằm“Tạo điều kiện cho mọi người ở mọi lứa tuổi được học tập thường xuyên, suốt đời”, Văn kiện Đại hội X nêu rõ thêm “Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở – mô hình xã hội học tập với hệ thống giáo dục suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người với những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, bảo đảm sự công bằng xã hội trong giáo dục”. Điều này phù hợp với hoàn cảnh thực tế của đất nước, giải quyết được mâu thuẫn giữa nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân với điều kiện cơ sở vật chất còn  hạn chế.

Từ các Nghị quyết của Đảng, Bộ Chính trị đã có Chỉ thị 50 – CT/TW ngày 24/8/1999 và Chỉ thị 11/CT/TW ngày 13/4/2007 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, xác định: “Xây dựng xã hội học tập là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, là mục tiêu cơ bản trong chiến lược chấn hưng và phát triển giáo dục của nước ta” và Chỉ thị 02/2008/CT-TTg ngày 08/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ thể chế hoá về mặt nhà nước, nhằm đưa chủ trương lớn của Đảng vào cuộc sống.

Để xây dựng một xã hội học tập, chúng ta phải tiến hành đổi mới giáo dục cả về mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng dạy lẫn  cách kiểm tra, đánh giá. Việc đề cao phương thức học tập suốt đời đi đôi với đề cao năng lực tự học của mỗi người mà chủ yếu là học cách học, đưa người học từ vị trí thụ động trở thành người chủ động, sáng tạo trong quá trình lĩnh hội kiến thức. Các hình thức giáo dục phải đa dạng và linh hoạt với những phương pháp khoa học, phương tiện hiện đại nhằm biến cả nước trở thành một trường học lớn, tạo điều kiện cho mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọi ngành nghề, mọi trình độ đều được học tập, cập nhật kiến thức, công nghệ để tự nâng cao năng lực trí tuệ và khả năng thực hành, đáp ứng tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người, chúng ta phải học thường xuyên, học suốt đời, góp phần xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập.

Theo http://toaan.gov.vn/
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ góp ý dự thảo Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960

(Ghi theo lời kể của đồng chí Phan Hữu Chi, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế VKSNDTC, trong dịp thảo luận Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, năm 1989).

Trong không khí đón chào Năm mới 2013, nhân dịp ngành Kiểm sát nhân dân đã và đang tích cực, khẩn trương triển khai các hoạt động tổng kết, thi hành, nghiên cứu, xây dựng, sửa đổi các văn bản pháp luật có liên quan đến tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân như: Bộ luật Tố tụng Hình sự (sửa đổi), Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi), tôi xin kể lại một câu chuyện mà tôi được nghe, cũng là một kỷ niệm của ngành Kiểm sát với Bác Hồ khi Đảng đoàn Viện công tố Trung ương báo cáo với Bác về Dự thảo Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960.

Trong không khí đón chào Năm mới 2013, nhân dịp ngành Kiểm sát nhân dân đã và đang tích cực, khẩn trương triển khai các hoạt động tổng kết, thi hành, nghiên cứu, xây dựng, sửa đổi các văn bản pháp luật có liên quan đến tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân như: Bộ luật Tố tụng Hình sự (sửa đổi), Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi), tôi xin kể lại một câu chuyện mà tôi được nghe, cũng là một kỷ niệm của ngành Kiểm sát với Bác Hồ khi Đảng đoàn Viện công tố Trung ương báo cáo với Bác về Dự thảo Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960.

36
Bác Hồ – vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc

Lời căn dặn của Bác khi Viện công tố Trung ương báo cáo Dự thảo Luật Tổ chức Viện kiểm sát năm 1960

Tháng 12 năm 1959, Đảng đoàn Viện công tố Trung ương có trình Ban Bí thư Trung ương Đảng Dự thảo Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, sau đó Quốc hội giao cho Hội đồng Chính phủ chuẩn bị. Theo chỉ thị của Ban Bí thư, Đảng đoàn Viện công tố cử đồng chí Nguyễn Văn Ngọc, Ủy viên Đảng đoàn, Phó Viện trưởng Viện công tố Trung ương và đồng chí Phan Hữu Chi, chuyên viên cao cấp, người chắp bút soạn thảo Dự luật để báo cáo với Bác.

Như chúng ta đã biết, lúc đó Viện kiểm sát nhân dân là một trong những cơ quan mới của nhà nước ta. Bác hỏi kỹ về cơ sở pháp lý cho việc thành lập cơ quan Viện kiểm sát nhân dân. Đồng chí Phan Hữu Chi đã báo cáo những nguyên tắc cơ bản về tổ chức bộ máy nhà nước là tập trung dân chủ, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, trong đó Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan nhà nước độc lập, chịu trách nhiệm trước Quốc hội, tổ chức và hoạt động, thực hiện chức năng nhiệm vụ theo Hiến pháp và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân. Khi soạn thảo Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân Liên-xô có một số ý kiến cho rằng Viện kiểm sát nhân dân nên song trùng trực thuộc Xô-viết địa phương và Xô-viết tối cao Liên bang. Nhưng trong tác phẩm “Bàn về chế độ song trùng trực thuộc và pháp chế”,V.I.Lê Nin đã phân tích rằng tổ chức Viện kiểm sát theo nguyên tắc song trùng trực thuộc như các cơ quan nhà nước khác là một sai lầm. Viện kiểm sát, theo Lê Nin là cơ quan kiểm sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan nhà nước, viên chức nhà nước và mọi công dân. Nó bảo đảm cho “bất cứ quyết định nào của bất cứ một cơ quan hành chính địa phương nào cũng không đi ngược pháp luật”. Cho nên “Viện kiểm sát địa phương chỉ trực thuộc vào Trung ương”.

Theo Bản dự thảo này, “Viện kiểm sát nhân Tối cao kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan nhà nước và công dân”… Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật làm cho pháp luật được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, pháp chế dân chủ nhân dân được giữ vững.”

Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, tại Điều 3 của Dự thảo quy định “Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân địa phương các cấp thi hành nhiệm vụ trên bằng cách: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các nghị quyết, quyết định, thông tư, chỉ thị của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ và cơ quan nhà nước ở địa phương, kiểm sát việc tuân thủ pháp luật của nhân viên cơ quan nhà nước, và của công dân. Các cơ quan nhà nước khi ban hành văn bản phải gửi sang Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp để kiểm sát”.

Nghe xong, Bác nói đại ý: Các chú đưa vào luật buộc các cơ quan nhà nước khi ban hành văn bản phải gửi sang Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp để kiểm sát là không được, muốn phát hiện văn bản có vi phạm phải qua công tác thực tế, ngành kiểm sát của các chú có bao nhiêu người có trình độ và năng lực cao? Chính phủ phải chi bao nhiêu tiền để làm kho lưu trữ. Nếu các chú lưu trữ mà không phát hiện được sai phạm của văn bản thì các chú chịu trách nhiệm gì với Đảng, với Bác?

Sau đó, Bác căn dặn rằng: Nhiệm vụ, chức năng của các chú rất nặng nề, Đảng và Bác tin tưởng các chú. Các chú phải hết sức cố gắng làm tốt nhiệm vụ chức năng được giao. Phải thật:“Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng và khiêm tốn”.

Thiết nghĩ, câu chuyện tôi vừa kể về những lời căn dặn của Bác với ngành Kiểm sát nhân dân khi xây dựng Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 sẽ có một ý nghĩa sâu sắc khi chúng ta đang nghiên cứu xây dựng Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 (sửa đổi).

Tăng Thảnh /Nguyên Vụ phó Vụ 1, 2 A – VKSNDTC
Theo vksdaklak.gov.vn
Phương Thúy (st).

bqllang.gov.vn

Cuộc đấu trí hơn 1.700 ngày

Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris:

(Chinhphu.vn) – Bà Nguyễn Thị Bình, người 40 năm về trước giữ trọng trách Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại bàn đàm phán Hiệp định Paris cho biết đó là vinh dự lớn với bà vì được tham gia “cuộc đấu tranh đặt biệt vì độc lập dân tộc ở xứ người”, cuộc đấu trí hơn 1.700 ngày.

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình (người đứng giữa) tại Triển lãm kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris khai mạc ngày 23/1/2013 tại Hà Nội. Ảnh: VGP/Bảo Minh

Dành cho phóng viên Báo điện tử Chính phủ những chia sẻ về các sự kiện liên quan đến Hiệp định Paris, bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước nói ngoại giao có những kiến thức ngoại giao và nghệ thuật ngoại giao, nhưng vận dụng lập trường như thế nào trong đấu tranh ngoại giao mới là điều căn bản, là cái gốc.

Hội nghị Paris diễn ra trong 4 năm, 8 tháng, 14 ngày, tức khoảng 1.718 ngày, từ 15/3/1968 đến 27/1/1973.

Thực tế cho thấy trong cuộc đàm phán ở Paris, chúng ta đã tiến hành cuộc đấu tranh ngoại giao rất bài bản.

Bà Nguyễn Thị Bình kể lại, lúc đầu nhiều người nghĩ rằng cuộc đàm phán chỉ kéo dài độ một hai năm, nhưng thực tế lại tới gần 5 năm. Trong đàm phán cũng có lúc lập trường hai bên không gặp nhau. Đoàn ta luôn giữ vững quan điểm Mỹ xâm lược Việt Nam nên Mỹ phải chấm dứt xâm lược và rút quân.

Ngoài việc tham gia 174 phiên họp công khai, 50 phiên họp kín và khoảng 1.000 cuộc họp báo, đoàn Việt Nam còn đi nhiều nơi để tuyên truyền về cuộc chiến đấu chính nghĩa của mình.

Đề cập đến thắng lợi trên mặt trận ngoại giao, nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình cho rằng một trong những yếu tố quan trọng là vấn đề lập trường của ta vừa “hết sức là kiên định nhưng đồng thời cũng có lúc mềm dẻo”. Bây giờ 40 năm nhìn lại, bạn bè của chúng ta cũng rất khâm phục nhân dân Việt Nam, một nước nhỏ, yếu đã chiến thắng đế quốc sừng sỏ.

Một trong những nguyên nhân của thắng lợi là chúng ta có đường lối đúng đắn và đã tiến hành đấu tranh hết sức tài tình. Trong đàm phán, bất ngờ cũng là một yếu tố rất quan trọng. Chúng ta có nhiều cuộc “tấn công” ngoại giao lớn như Giải pháp toàn bộ 10 điểmSáng kiến hòa bình 9 điểm, Đề nghị 8 điểm, Sáng kiến mới gồm 7 điểm… Tất cả những đòn tấn công ấy đều khiến đối phương bị bất ngờ khi ta đưa ra các giải pháp, sáng kiến tại các cuộc họp.

Có lẽ phía Mỹ cũng không tính được hết những thuận lợi của ta khi chọn Paris là địa điểm đàm phán. Paris không chỉ là trung tâm thông tin quốc tế lớn để từ đó chúng ta có thể khiến thế giới chú ý và hiểu được cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân ta mà ở Paris, các tầng lớp nhân dân Pháp, đặc biệt là Đảng Cộng sản Pháp đã tích cực ủng hộ chúng ta. Hơn nữa, ở Paris còn có phong trào kiều bào rất mạnh. Kiều bào ta đã ủng hộ các hoạt động của đoàn Việt Nam tại Hội nghị Paris cả về tinh thần và vật chất. Những yếu tố này cũng góp phần vào thắng lợi trên bàm đàm phán.

Bà Nguyễn Thị Bình nhấn mạnh thắng lợi của chúng ta trước hết là tinh thần đoàn kết. Chúng ta đã phát huy được thắng lợi của chiến trường trên mặt trận ngoại giao, từ đó đi đến việc ký kết hiệp định kết thúc sự can thiệp của Mỹ, kết thúc chiến tranh.

Phía sau bàn đàm phán

Các bạn nước ngoài khi ấy không thể biết rõ về điều kiện làm việc của đoàn Việt Nam và rất muốn chụp ảnh nơi ăn chốn ở của đoàn ta. Bà Nguyễn Thị Bình cho biết “về sinh hoạt, nhìn bề ngoài ai cũng đi đứng oai phong, đĩnh đạc nhưng thực ra chúng tôi rất tiết kiệm. Lúc bấy giờ mỗi thành viên của đoàn được 1 franc/ngày tiền ăn, mức ăn như vậy là rất khá. Ai cũng thấy rằng mình còn sung sướng hơn các đồng chí ở nhà. Điều đó khiến ai trong đoàn cũng luôn tâm niệm phải làm hết sức mình, phải đóng góp cho công việc chung nhiều chừng nào tốt chừng ấy. Về nơi ở, mỗi phòng gác mái (mansarde, giống nhà kho) kê 2 giường đơn (giống giường trong bệnh viện). Khi trời rét, bên ngoài tuyết rơi dày nhưng trong phòng thì quá nóng vì hơi nóng trong nhà đều đi lên chỗ nhà kho đó”.

Bà từng phải từ chối khéo phóng viên nước ngoài khi họ muốn quay phim nơi Trưởng đoàn làm việc và nghỉ ngơi (ở nhà riêng) với lý do “ở Việt Nam có tục lệ không cho phép người nước ngoài vào phòng của phụ nữ”…

Nghĩ về hòa bình và sự phát triển của đất nước hôm nay, nghĩ về những ngày tháng không thể nào quên 40 năm về trước, bà Nguyễn Thị Bình muốn gửi đến thế hệ mai sau lời nhắn nhủ mỗi người hãy góp công gìn giữ những trang sử anh hùng của dân tộc./.

Hải Minh
chinhphu.vn

Báo chí phương Tây với Madam Bình

(Chinhphu.vn) – 40 năm trước, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết sau 4 năm đàm phán. Trong khoảng thời gian đó, một nhân vật được báo chí phương Tây trân trọng ghi lại những khoảnh khắc đáng nhớ là bà Nguyễn Thị Bình, được gọi thân mật là Madam Bình.

2 giờ chiều ngày 2/11/1968, bầu trời Paris u ám và giá lạnh, bà Nguyễn Thị Bình trong bộ áo dài màu hồng sậm, khoác măng tô xám với chiếc khăn quàng đen điểm hoa, cùng đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam bước xuống sân bay Bourget giữa đám đông người chào đón, trong đó có nhiều nhà báo. Máy ảnh chớp lia lịa.

Ấn tượng đầu tiên

Bước vào phòng khách danh dự, bà cố gắng nói to, dõng dạc 5 điểm giải pháp của Mặt trận, bà Bình Thanh (Thanh Vân, chị gái bà Bình), dịch rõ ràng mạch lạc.

Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thị Bình thay mặt Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam trả lời báo chí tại Paris – Ảnh tư liệu

Đám nhà báo ngạc nhiên, im lặng, rồi xung quanh vang tiếng bàn ghế gãy, kính vỡ loảng xoảng và cãi cọ om xòm vì ai cũng muốn đứng gần bà Bình để ghi hình, ghi tiếng tốt hơn.

Ông Xuân Thủy (Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) cùng bà Bình đi trên đoàn xe bóng loáng, phấp phới lá cờ nửa đỏ nửa xanh, có ô tô, mô tô của cảnh sát Pháp dẫn đường và hộ tống, bà con Việt kiều và người dân Paris đứng chật hai bên đường sững sờ, xúc động. Hôm sau tất cả các báo Pháp và báo của các nước phát hành ở Paris đều chạy tít lớn: “Đại diện của Việt cộng đã đến Paris” và những lời bình rất kêu: “Việt cộng đã thắng lớn qua cuộc đón tiếp Madam Bình ở Paris”; “Madam Bình như một bà hoàng được đón như một quốc trưởng với đủ nghi thức chính quy, lại được hoan nghênh nhiệt liệt”; “Madam Bình đã làm chấn động dư luận Paris và thế giới. Cờ Mặt trận đã tung bay ở Paris! Rất tuyệt! Thật hiếm có!”.

Nhiều nhà báo đeo bám đến nơi ở, có nhà báo leo qua tường, có người đặt máy ảnh giữa kẽ hở cánh cửa để bất chợt chụp được những tấm ảnh đặc biệt của “đoàn Việt cộng”, nhất là ảnh Madam Bình ở biệt thự Thévent.

Bà Nguyễn Thị Bình tên thật là Nguyễn Châu Sa, sinh năm 1927 ở tỉnh Sa Đéc, Nam Bộ, là cháu ngoại chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh. Năm 1948, hoạt động chống Pháp ở Sài Gòn, lấy bí danh là Yến Sa. Năm 1961, làm công tác đối ngoại của Ủy ban thống nhất tại Hà Nội, đổi tên là Nguyễn Thị Bình để bảo đảm bí mật.

Thân sinh làm trắc địa ở Campuchia, đưa cả gia đình sang sống ở Phnompenh. Vì vậy, Nguyễn Châu Sa học trường Lycée Sisowath, trường trung học lớn nhất của Campuchia nên rất thông thạo tiếng Pháp, lại có khuôn mặt xinh tươi, vóc dáng thon thả, hợp với nghề ngoại giao. Suốt 14 năm làm công tác ngoại giao, Bà đã tham dự nhiều Hội nghị quốc tế quan trọng ở các nước châu Âu, trong đó có 5 năm là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Paris.

Ba ngày sau (5/11/1968), đoàn tổ chức họp báo, cuộc họp báo đầu tiên được coi là hiếm có. Hơn 400 nhà báo quốc tế đến dự, chứng tỏ họ rất quan tâm chú ý nhiều đến Đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam, đến cuộc đấu tranh chính nghĩa của ta. Trước mắt họ là một người phụ nữ nhỏ nhắn, hiền lành, đến từ một vùng đất đang rực lửa chiến tranh, ăn nói có lý có tình. Bà Bình đã trả lời phỏng vấn các nhà báo một cách suôn sẻ hơn 1 tiếng đồng hồ, gây được thiện cảm với họ. Những ngày tiếp theo, Madam Bình chịu áp lực khi nhiều nhà báo và các hãng truyền hình phỏng vấn riêng, nhưng vẫn tỏ ra bình tĩnh trước ánh đèn pha chiếu trực diện.

Ngày 25/1/1969, cuộc đàm phán về Hiệp định Paris chính thức bắt đầu. Lúc đó, trưởng đoàn là ông Trần Bửu Kiếm, bà Bình và ông Trần Hoài Nam là phó đoàn. Từ phiên họp thứ 21, bà Bình được cử làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, làm trưởng đoàn (thay ông Trần Bửu Kiếm).

Trong 4 năm đàm phán, bà Bình đi thăm nhiều nước để tranh thủ sự ủng hộ của họ. Tháng 4/1969, thăm Anh, một nước luôn ủng hộ Mỹ. Chuyến thăm tốt đẹp hơn cả mong đợi. Kết thúc buổi đón tiếp long trọng, Madam Bình từ trên đài cao bước xuống, đi diễu hành giữa hai hàng cảnh binh bảo vệ. Giữa quãng trường Trafalgar lớn, rừng người hô vang khẩu hiệu “Đoàn kết với Việt Nam!”, “Chấm dứt chiến tranh!”.

Chuyến thăm Thụy Điển năm 1970, được đích thân Thủ tướng Olof Palme (1927-1986) tiếp và cùng Madam Bình dẫn đầu cuộc biểu tình ủng hộ Việt Nam. Nữ nhà văn Sara Lidman (1923-1976) nổi tiếng ở Bắc Âu, tiếp và nói: “Chị Bình ơi, Việt Nam đang có một nền văn hóa dân tộc vô cùng quý giá…”.

Cuối tháng 4/1969, bà Bình về Hà Nội nhận chỉ thị mới và thăm cha đang bệnh nặng, và được Bác Hồ dặn phải vận động nhân dân các nước ủng hộ Việt Nam. Không ngờ đó là lần bà gặp cha và Bác cuối cùng.

Mặt trận đối ngoại là một chiến trường

Ngoài việc chuẩn bị cho các phiên họp chính vào thứ Năm hàng tuần, các trưởng đoàn phải tiếp xúc với báo chí nhiều. Bà Bình có những giai đoạn hầu như ngày nào cũng phải tiếp một hay hai hãng truyền hình hoặc phóng viên các báo Pháp, Mỹ, Anh, Nhật Bản.

Mặt trận đối ngoại là một chiến trường, có thể nói đấu lý lần nào chúng ta cũng giành thắng lợi. Có nhà báo hỏi: “Có quân đội miền Bắc ở miền Nam không?”. Bà Bình trả lời: “Dân tộc Việt Nam là một, người Việt Nam ở Bắc cũng như ở Nam đều có nghĩa vụ chiến đấu chống xâm lược”.

Nhà báo hỏi: “Vùng giải phóng ở đâu?” . Bà Bình dứt khoát: “Nơi nào Mỹ ném bom, bắn phá thì đó chính là vùng giải phóng của chúng tôi. Nếu không tại sao Mỹ lại phải ném bom?”.

Bà Nguyễn Thị Bình tại Lễ ký Hiệp định Paris, ngày 27/1/1973 – Ảnh tư liệu

Giữa năm 1971, truyền hình Pháp tổ chức cuộc họp báo ở hai đầu Paris và Washington, có 20 nhà báo tham gia, 10 người phần lớn là Mỹ bảo vệ lập trường của Mỹ, 10 người, phần lớn là Pháp trung lập. Bà Bình một mình giữa các nhà báo sừng sỏ, dưới ánh đèn sáng chói đã bình tĩnh đối đáp đàng hoàng, mạnh mẽ nhưng hòa nhã, nêu rõ thiện chí muốn tìm giải pháp chính trị chấm dứt chiến tranh. Ông Xuân Thủy gọi điện khen: “Cô rất dũng cảm”.

Khi Mỹ huy động máy bay B52 ném bom Hà Nội, ai cũng hồi hộp, lo lắng. Bà Bình được gọi về. Giữa đêm 30/12, về đến Hà Nội, bà đi thăm phố Khâm Thiên bị B52 tàn phá tối 26/12 với nỗi căm giận kẻ thù tàn bạo. Thăm hai đứa con nhỏ thương yêu, sống xa mẹ nhiều năm, sơ tán ở thị xã Hưng Yên.

Ngày 21/1/1973, trở lại Paris, bà Bình mở ngay cuộc họp báo, tuyên bố: “Chỉ có một nước Việt Nam, chỉ có một dân tộc Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời là đại diện của nhân dân miền Nam!”. Hãng AFP mô tả: “Madam Bình mặc áo dài truyền thống của Việt Nam bằng lụa vân màu xanh lá cây, trông rất thoải mái. Đôi lúc Madam Bình nở nụ cười làm khuôn mặt càng rạng rỡ, trả lời các nhà báo rõ ràng khúc chiết, làm cho người ta có cảm giác đứng trước một quý bà đầy bản lĩnh, đầy tự tin”.

Ngày 27/1/1973, họp phiên chính thức ký kết “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh Việt Nam”. Phóng viên hãng AP của Mỹ mô tả Trung tâm hội nghị Kléber tràn ngập biển người và cờ Việt Nam, cờ Mặt trận. Họ tung hô Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh và Nguyễn Thị Bình: “Hoan hô Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ! Hoan hô Chính phủ Cách mạng lâm thời!”. Mỗi vị ký vào 32 văn bản của Hiệp định. Phóng viên UPI của Mỹ viết: “Buổi lễ ký kết hòa bình ở Việt Nam diễn ra trong khung cảnh huy hoàng tráng lệ của thế kỷ 19 và những biện pháp an ninh nghiêm ngặt nhất mà thế kỷ 20 có thể tạo ra. Bốn Ngoại trưởng, 2.000 cảnh sát và an ninh bảo vệ nghiêm cẩn”.

Bà Bình nhớ rõ, với 174 phiên họp chính thức, hai đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời đã tổ chức hơn 500 cuộc họp báo và 1000 lần trả lời phỏng vấn báo chí. Ngày 29/1/1973, hai đoàn Việt Nam tổ chức chiêu đãi các nhà báo. Ông Lê Đức Thọ hoan nghênh và cảm ơn các nhà báo. Cả phòng họp với hơn 400 nhà báo quốc tế đứng dậy vỗ tay hồi lâu. Đó là một ngoại lệ chưa từng có trong các cuộc họp báo trước đó.

Phan Thu Hương
chinhphu.vn

Tình báo tồi và ông “nghễnh ngãng” ở Hội nghị Pa-ri

QĐND – Trên bàn đàm phán ở Hội nghị Pa-ri về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam, có giai đoạn Mỹ đòi ta không được đưa thêm quân miền Bắc vào miền Nam. Mỹ còn đưa ra các bằng chứng để cáo buộc ta về việc này. Có lần họp, đoàn Mỹ đưa bằng chứng là mấy bức ảnh màu chụp từ vệ tinh, trong đó chụp bộ đội của ta đang ở trong rừng mà Mỹ cho là đang trên đường hành quân vào Nam. Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ rất nhanh, phản ứng trước tiên bằng một nụ cười to, chắc khỏe, có ý “khinh khi” sự bịa đặt của Mỹ. Rồi đồng chí nói, tình báo của các ông tồi lắm. Lúc chúng tôi không đưa quân nữa thì các ông lại chụp ảnh này. Tôi nói với các ông chứ rừng Việt Nam chỗ nào chả giống chỗ nào. Các ông ra Bắc chụp quân mà đội mũ cối, sao vàng, đeo lon thế này là bình thường. Nhưng lúc chúng tôi đưa đại pháo và cả xe tăng vào Sài Gòn thì tình báo các ông lại chẳng biết tí gì cả. Cho nên các ông thua là phải. Tấm ảnh Mỹ đưa ra không hề chính xác, vì khi dàn trận, quân ta không đeo lon, đeo sao như thế. Sau đó, ta họp báo cũng nêu tình tiết này nhằm cho thế giới biết âm mưu và thủ đoạn của Mỹ.

Trưởng đoàn Xuân Thủy nổi tiếng là người hay lái vào các vấn đề đàm phán khi gặp đoàn Mỹ một cách khéo léo. Suốt thời gian diễn ra hội nghị hai bên giữa đoàn VNDCCH và đoàn Mỹ (từ tháng 5 đến tháng 11-1968), ta chỉ nhắc đi nhắc lại yêu cầu Mỹ phải chấm dứt ném bom miền Bắc trước khi bàn sang các vấn đề khác. Trong khi Mỹ muốn bàn đồng thời hai vấn đề quân sự và chính trị trên nguyên tắc “có đi có lại”. Suốt mấy tháng trời, trong các cuộc họp, ta chỉ nêu độc vấn đề như trên, còn Mỹ nhất định không chịu. Thế nên báo chí gọi đây là “cuộc nói chuyện giữa những người điếc”. Song rốt cuộc, do các diễn biến thay đổi trên chiến trường và sức ép mạnh mẽ của dư luận, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn đã phải tuyên bố chấm dứt ném bom hoàn toàn và vô điều kiện miền Bắc Việt Nam. Sau đó, trong một buổi nói chuyện khi kết thúc hội nghị hai bên giữa trưởng đoàn Xuân Thủy và trưởng đoàn Mỹ Ha-ri-man, ông Ha-ri-man tâm sự với ông Xuân Thủy rằng: “Tôi già trên 80 tuổi rồi, nên tai hơi khó nghe”. Đồng chí Xuân Thủy bèn nói ngay: “Bây giờ tôi mới biết ông nghễnh ngãng. Thảo nào chỉ có một câu là “Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc” thôi mà tôi nói suốt gần 6 tháng ông mới nghe ra”.

MỸ HẠNH-ANH THƯ
qdnd.vn