Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Bác Hồ nói chuyện “Tết” và “Xuân”

 Tet va xuân

Trong một bài báo viết cho Tạp chí “Vì một nền hòa bình lâu dài, vì một nền dân chủ nhân dân” vào đầu năm 1952 (Xuân Nhâm Thìn), Bác Hồ kể với bạn bè quốc tế mùa Xuân ở Việt Nam:

“May mắn hơn nhiều dân tộc khác, người Việt Nam chúng tôi cũng như các bạn Trung Quốc và Triều Tiên, mỗi năm chúng tôi có hai ngày Tết. Một lần Tết theo dương lịch. Còn một Tết thứ hai tính theo âm lịch. Đó là ngày Tết theo tục lệ cổ truyền của nhân dân. Mùa Xuân ở nước chúng tôi bắt đầu từ ngày đầu tháng Giêng Âm lịch. Khắp nơi nơi là cả một bầu không khí tuyệt vời của mùa Xuân. Mặt trời tỏa sáng, ánh sáng dịu dàng đem lại sức sống tươi vui và lành mạnh. Lúa non phủ lên các cánh đồng, khác nào những tấm thảm xanh rộng mênh mông hứa hẹn năm tới sẽ no ấm được mùa. Chim chóc hót véo von, ríu rít trong những bụi cây bốn mùa xanh tốt sum suê. Từ các lâu đài cho đến những nhà tranh bé nhỏ đều có tranh vẽ, những lời chúc mừng dán ở cửa cổng ra vào. Ngày nay những lời chúc mừng và những tranh vẽ ấy đã trở thành những khẩu hiệu đấu tranh và lao động như:

– Mở rộng phong trào thi đua yêu nước trên mặt trận đấu tranh chống quân thù, trong sản xuất, trong công việc phát triển kinh tế!

– Đấu tranh chống bệnh quan liêu, tham ô và lãng phí!

– Công việc kiến quốc nhất định sẽ thu được thắng lợi!

Trong những ngày Tết này, mọi người đều mặc những quần áo đẹp nhất mà họ có. Gia đình nào cũng nấu nướng, sửa soạn những thức ăn ngon nhất. Người ta làm lễ trước bàn thờ tổ tiên. Bạn hữu đi chúc mừng thăm hỏi lẫn nhau. Người lớn tặng quà cho trẻ con. Nhân dân gửi tặng phẩm ủng hộ bộ đội… Nói tóm lại đây thật là ngày Tết của mùa Xuân .”

Với bè bạn quốc tế, Bác Hồ kể về những ngày Tết đầm ấm, vui tươi của dân tộc ta.

Với nhân dân mình, Bác có những lời khuyên nhủ để mùa Xuân  và ngày Tết càng thêm có nhiều ý nghĩa.

Trước hết Bác nói đến sự gắn bó sâu sắc trong những ngày Xuân  giữa làng và nước, giữa địa phương và quốc gia – đất nước, giữa Việt Nam và thế giới.

Trong bài “Mừng Xuân vĩ đại” đăng trên Báo Nhân Dân số 2141 ngày 27-1-1960, Bác viết:

“Xưa kia, người ta chỉ mừng Xuân hẹp hòi trong khuôn khổ gia đình. Ngày nay chúng ta mừng Xuân rộng rãi, từ gia đình đến cả nước, đến khắp thế giới”.

Hồ Chủ tịch thường căn dặn là phải hết sức tiết kiệm trong những ngày đón Xuân. Cũng trong bài “Mừng Xuân vĩ đại” Bác nhắc nhở “Chúng ta mừng Xuân một cách vui vẻ, tưng bừng, nhưng tuyệt đối không lãng phí”.

Trên Báo Nhân Dân số 2132, ngày 28/1/1960, trong bài “Mừng Tết Nguyên đán thế nào?” Bác viết:

“Suốt năm chúng ta thi đua lao động sản xuất. Nhân ngày Nguyên Đán, chúng ta vui chơi một hôm để chào Xuân. Việc đó cũng đúng thôi.

Nhưng chúng ta nên mừng Xuân một cách vui vẻ và lành mạnh. Nếu có bao nhiêu tiền đều bỏ ra mua sắm hết để đánh chén lu bù, thế là mừng Xuân một cách lạc hậu, thế là lãng phí, thế là không Xuân. Nên nhớ rằng chúng ta phải cần kiệm xây dựng nước nhà, xây dựng chủ nghĩa xã hội, không nên vì một cớ gì mà quên nhiệm vụ ấy.

Các đồng chí cán bộ ta cần phải hướng dẫn đồng bào làm cho ngày Tết vui vẻ và tưng bừng, tiết kiệm và thắng lợi”.

Trong sách “Thanh Hóa khắc sâu lời Bác” (1975), Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Thanh Hóa có ghi lại lời dặn dò của Bác Hồ với cán bộ và nhân dân tỉnh nhà nhân dịp Bác về thăm Thanh Hóa (1957): “Chúng ta làm việc suốt năm, vui ngày Tết là xứng đáng, nhưng vui một cách lành mạnh thì nên vui. Tôi mong các cụ các bà chống lãng phí, vì lãng phí chỉ có hại cho dân, cho nước, cho nhà, vì nó đưa đến phong tục hủ bại, rượu chè, hút xách…”.

Bác khuyên trong những ngày Tết, “Không nên chơi bời quá độ mà phải có chừng độ. Chơi quá độ, bừa bãi không nên. Nếu chơi nhiều thì không tăng gia sản xuất, học tập được. Ta có câu “Lạc bất khả cực, lạc cực sinh ai”. Nghĩa là vui không nên quá mức, vui quá mức đi đến cái buồn”.

Trên Báo Nhân dân ngày 18/1/1960, nhắc nhở đồng bào cố gắng tiết kiệm, đừng lãng phí trong ngày Tết, Hồ Chủ tịch có mấy câu thơ vừa giản dị, vừa sâu sắc:

Trăm năm trong cõi người ta,

Cần kiệm xây dựng nước nhà mới ngoan,

Mừng Xuân, Xuân cả thế gian

Phải đâu lãng phí, cỗ bàn mới Xuân.

Bác Hồ cũng thường nhắc nhở rằng đón Tết, vui Xuân trong ngày đầu năm phải nghĩ đến công việc của cả năm. Bác viết trong bài “Mùa Xuân quyết thắng” trên Báo Nhân Dân số 2147 ngày 3/2/1960.

Tục ngữ có câu: “Suốt năm kế hoạch, định từ mùa Xuân” (Nhất niên chi kế, thi ư Xuân). Thật đúng như vậy. Mùa Xuân thì trời vui, đất vui, người càng vui. Cho nên ngay từ đầu mùa Xuân mọi công việc làm được tốt, thì cả năm sẽ phát triển tốt và kết quả tốt”. Từ ngày Tết đầu năm phải lo nghĩ” để hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước, để Xuân sau thắng lợi hơn Xuân này”.

Bác Hồ tuy đã đi xa, nhưng người Việt Nam cảm thấy như Bác vẫn ở bên cạnh mình. Và cứ mỗi dịp Xuân về, nhân dân ta vẫn cảm thấy như có Bác trong ngày Tết ấm áp, vẫn nghe rõ những lời Bác căn dặn:

“Hãy mừng Xuân rộng rãi từ gia đình đến cả nước”, “Hãy mừng Xuân vui vẻ tưng bừng nhưng tuyệt đối không lãng phí” và hãy nhớ câu tục ngữ: “Suốt năm kế hoạch, định từ mùa Xuân”.

Phạm Hồng Việt
(Theo Tập san Sở GD&ĐT Thừa Thiên Huế, số 1, 2011)
Thu Hiền (st) / http://bachovoihue.violet.vn

bqllang.gov.vn

Một số bài viết, bài nói và hình ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “Tết trồng cây”

1. Ngày 30/5/1959, trên Báo Nhân Dân số 1901 đăng bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Nông dân phải trồng cây chuẩn bị làm nhà ở” với bút danh Trần Lực. 1

1Bác Hồ chăm sóc cây vú sữa của đồng bào miền Nam gửi tặng Người (12/1957)

2. Với bút danh Trần Lực, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Tết trồng cây” đăng trên Báo Nhân Dân, số 2082, ngày 28/11/1959; 2

3. Ngày 19/1/1960, với bút danh T.L, Bác đã viết “Tết trồng cây đã thắng lợi bước đầu” đăng trên Báo Nhân Dân số 2133;3

4. Bác viết bài “Thêm vài ý kiến về Tết trồng cây” đăng trên Báo Nhân Dân số 2198 ngày 25/3/1960, bút danh Trần Lực; 4

5. “Tết trồng cây” với bút danh Trần Lực, đăng trên Báo Nhân Dân số 2506 ngày 28/1/1961; 5

2Chủ tịch Hồ Chí Minh trồng cây đa tại Công viên Thống Nhất mở đầu Tết Trồng cây do Người phát động (11/1/1960). Ảnh internet

3Ngày 25 tháng 1 năm 1961, Người đã về thăm HTX nông nghiệp Lạc Trung, nay là thôn Lạc Trung, xã Bình Dương, huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc. Đây là nơi có nhiều thành tích trong phong trào “Tết trồng cây” và trở thành điển hình tiên tiến của tỉnh
và toàn miền Bắc. 
Ảnh internet

6. Chủ tịch Hồ Chí Minh có bài nói chuyện với thanh niên trong buổi trồng cây tại vườn hoa thanh niên ngày 5/2/1961 – Theo tường thuật của Báo Nhân Dân số 515 ngày 6/2/1961; 6

7. Ngày 30/12/1961, Bác viết bài “Tết trồng cây” với bút danh T.L đăng trên Báo Nhân Dân số 2839 ngày 30/12/1961; 6

4Về thăm HTX Yên Trường (Yên Định) năm 1961, Bác Hồ khen việc trồng cây gây rừng cũng có tiến bộ, đã trồng được 1 vạn cây lấy gỗ và cây ăn quả. Ảnh: Internet

            8. Với bút danh T.L, Bác viết bài “Tết trồng cây” đăng trên Báo Nhân Dân số 3228 ngày 27/1/1963; 8

9. Ngày 5/2/1964, với bút danh T.L Bác viết bài “Ngày Xuân vui Tết trồng cây nơi nơi phấn khởi, người người thi đua” đăng trên Báo Nhân Dân số 3600; 9

10. Ngày 1/1/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh với bút danh T.L đã viết bài “Năm mới hãy nhiệt liệt tổ chức Tết trồng cây”. 9

11. Với bút danh T.L, Bác viết bài “Tết trồng cây” đăng trên Báo Nhân Dân số 5411 ngày 5/2/1969. 1

5Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng bà con xã Vật Lại, Ba Vì, Hà Tây (nay là Hà Nội) trồng cây vào mùa Xuân năm Kỷ Dậu, 16/2/1969. Ảnh internet

6Bác Hồ cùng cán bộ, nhân viên trồng cây trong Phủ Chủ tịch . Ảnh Internet

7Hình ảnh giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi đang tưới nước, chăm sóc cây trong Phủ Chủ tịch. Ảnh internet

—————————————-

1, 2, 3, 4: Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, XB lần thứ 3, tập 12, trang 227; 337; 442; 535;
5, 6, 7: Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, XB lần thứ 3, tập 13, trang 22; 541; 302;
8, 9, 10: Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, XB lần thứ 3, tập 14, trang 19, 248, 445;
11: Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, XB lần thứ 3, tập 15, 549.

Huyền Trang (tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Mùa Xuân Cụ Hồ… Mùa Xuân Cụ Hồ…

Bác Hồ chúc TếtTrong cuộc đời 79 mùa Xuân của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, có 30 mùa Xuân “Tha hương”, cộng thêm hai mùa Xuân vừa tha hương vừa nằm trong ngục Tưởng Giới Thạch. Trong 30 mùa Xuân cách xa Tổ quốc ấy cũng có hai lần đón Xuân tại nhà tù Víctoria ở Hồng Kông và 5 cái Tết ở trên đất Liên Xô, chỉ có đọc sách mà không được hoạt động nhiều (từ năm 1934 đến năm 1938).

Nếu tính từ tuổi 17 đã biết tự lập thì trừ đi những năm thơ ấu, những năm “ly hương” và tù ngục, Bác Hồ thân yêu thực sự chỉ “ăn” được 30 cái Tết trong nước. Chưa được một nửa cuộc đời – 17 mùa Xuân lênh đênh biển cả, 4 Xuân trong xà lim, 5 Xuân ít được hoạt động… Những mùa Xuân đắng cay ấy cũng không dồn đủ ngọt ngào cho những Xuân còn lại của Người. Bác Hồ đã một lần nói với đồng chí Hoàng Đạo Thuý rằng: “Người ta ai cũng là người, ai cũng có vui, có buồn… Với anh em, đồng chí, đồng bào, tôi cố giữ cho mình được vui…”

Bác không nói tới vế sau, nhưng ai cũng hiểu. Với niềm tin tưởng và tinh thần lạc quan cách mạng. Người đã có những mùa Xuân tươi đẹp nhất. Phải chăng đó là mùa Xuân năm 1923 trên đất Pháp, khi Người viết truyền đơn cổ động mua báo Le Paria. Mùa Xuân ấy, lần đầu tiên, sau bao nhiêu năm kiểm nghiệm cuộc sống, Nguyễn Ái Quốc viết: “Cho đến nay chủ nghĩa tư bản chỉ là những vách tường dày ngăn cản những người lao động trên thế giới hiểu nhau và thương yêu nhau”. Mùa Xuân năm 1924, Người đã đến Mátxcơva quê hương của một mùa Xuân mới. Mùa Xuân năm 1930 là một mùa Xuân tươi đẹp, sung sướng nhất của Bác Hồ, vì “từ nay đã có Đảng lãnh đạo, cách mạng sẽ thành công”. Mùa Xuân năm 1941, sau 30 năm cách xa Tổ quốc, sau khi mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ ở biên giới Việt – Trung, theo nội dung sách sau này được in lưới tên gọi Con đường giải phóng.Con đường mới đi được chặng đầu trong khí trời trong lành của một buổi sớm xuân, trong hương thơm của hoa rừng biên cương, Người trở về Tổ quốc.

Những mùa Xuân phấn khởi như vậy rất ít với Người, vì rằng Người đã nghĩ mình trong bước gian truân, tai ương rèn luyện tinh thần thêm cao, như Nguyễn Trãi đã tự nói “vì trời giao ta làm việc lớn nên thử thách ta”.

Mùa Xuân của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một mùa Xuân của nghĩa tình, chan chứa lòng yêu thương đồng cảm với nhau. Xuân năm 1959, trên đất Liên Xô, Bác nói với các cháu thiếu nhi: “Tết bây giờ khác trước rồi. Mùa Xuân của chúng ta không phải là ba tháng mà là dài hơn, gia đình, họ hàng của ta là cả gia đình quốc tế vô sản”. Người mong muốn mùa Xuân cho mọi người, xuân ở trong mọi ngày. Trong ngày xuân, gặp được đồng bào, đồng chí, bạn bè, người lại thấy Xuân này, xuân lại thêm xuân, nước non xa, anh em gần, vui thật là vui.

Khi Tết đến, Xuân về, dù không có tiền bạc, bánh quà để tặng những người nghèo khổ, Bác vẫn đến với họ, sẻ chia một tấm lòng, một sắc xuân của trái tim Người. Cô công nhân vệ sinh bất ngờ “không bao giờ nghĩ là Bác đến”. Hiền lành như một ông Tiên, ông Bụt, Bác xót xa mà nói “Bác không đến thăm cháu, còn thăm ai?”. Mùa Xuân ấy đối với căn nhà rách nát nghèo nàn, trong một hẻm phố nhỏ của chị công nhân thật là “một mùa Xuân cả thế gian, phải đâu lãng phí cỗ bàn mới xuân” như lời Bác dạy.

Nếu như “Chủ nghĩa cộng sản là mùa Xuân của nhân loại” còn quá cao trên đỉnh núi, mà ta chỉ chiêm ngưỡng được trong những ngày trời đẹp, hoặc còn quá xa như một viễn cảnh, thì trong những ngày này, thế giới này, quả đất này, có thể đã có một mùa Xuân “không gì ngăn cản được những người lao động trên thế giới hiểu nhau và thương yêu nhau”. Đó là lời tuyên bố của Nguyễn Ái Quốc trong mùa Xuân năm 1923. Đó là mong mỏi của Bác suốt cả cuộc đời mình mong muốn “Mùa Xuân dài hơn”, mùa Xuân với áo ấm, cơm no, với tự do, hạnh phúc, với cái “tâm”, cái “thiện” cho mỗi con người./.

Theo cuốn: Một số lời dạy và mẩu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh  do Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hải Dương phát hành năm 2007

Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Gặp “cô bé Trung Quốc” được chụp ảnh với Bác Hồ

1
Bà Vương Phong và bức ảnh quý chụp với Bác Hồ khi xưa.
Ảnh: Xuân Vịnh/Vietnam

Cách đây hơn nửa thế kỷ, Báo Tiền Phong số 190, ra từ ngày 1-4/6/1957 đã trang trọng in trên trang nhất bức ảnh “Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh” chụp Bác Hồ kính yêu cùng một bé gái khoảng 5 tuổi, mặc váy màu trắng có đôi mắt to, đen láy đang cầm cành hoa hồng.

Bức ảnh của tác giả Mai Nam, minh họa cho bài viết “Một bức thư của các bạn nhỏ ở Mátxcơva nhân ngày 1/6.”

Do bức ảnh in trên báo khi đó không chú thích cụ thể nên nhiều người không biết nhân vật đặc biệt đã vinh dự được chụp ảnh với Bác Hồ chính là cô bé Tiểu Hồng, con gái của nhà báo Vương Duy Chân, nguyên Trưởng Phân xã Tân Hoa xã tại Hà Nội từ năm 1955-1960.

Tìm lại người trong ảnh

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, kỷ niệm về những người bạn Việt Nam cùng Thủ đô Hà Nội thơ mộng vẫn mãi mãi khắc sâu trong trái tim cô bé Tiểu Hồng khi xưa và bà Vương Phong đang sống tại Bắc Kinh (Trung Quốc) hiện nay.

Đầu năm 2013, chúng tôi có dịp đến thăm gia đình cố nhà báo Vương Duy Chân tại Bắc Kinh và bất ngờ được nghe bà Vương Phong, con gái của nhà báo xúc động kể lại giây phút vinh dự được gặp Bác Hồ tại Thủ đô Hà Nội gần 60 năm về trước. Đặc biệt hơn, bà Vương Phong còn cho biết mình chính là cô bé Tiểu Hồng, nhân vật đặc biệt trong bức ảnh “Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh” in trên báo Tiền phong năm 1957.

Năm tháng đã dần lùi xa, nhưng bà Vương Phong vẫn nhớ như in giây phút vô cùng xúc động mà mình vinh dự được gặp Bác Hồ tại sân bay Gia Lâm ngày 20/5/1957. Bà Vương Phong cho biết, vào năm 1956, khi đó bà hơn 5 tuổi, được theo phụ thân là nhà báo Vương Duy Chân sang công tác tại Phân xã Tân Hoa Xã ở Thủ đô Hà Nội.

Cô bé Tiểu Hồng khi đó mặc dù còn rất nhỏ nhưng qua sự giới thiệu cũng như những câu chuyện kể của cha mình hàng ngày đã cảm thấy vô cùng khâm phục các nhân vật anh hùng của dân tộc Việt Nam, trong đó đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Hình ảnh Bác Hồ giản dị mà vô cùng kính yêu cũng theo đó dần khắc sâu trong tâm trí của Tiểu Hồng. Cô bé thầm nghĩ mình nhất định sẽ phải gặp bằng được con người vĩ đại đó. Cuối cùng, cơ hội đã đến khi Nguyên soái Liên Xô Kliment Yefremovich Voroshilov (1881-1969) sang thăm Việt Nam vào tháng 5 năm 1957. Sau khi nghe phụ thân nói Bác Hồ hôm nay sẽ ra sân bay Gia Lâm đón khách, Tiểu Hồng muốn gặp Người thì hãy nhanh chóng chuẩn bị, cô bé lập tức thay chiếc váy màu trắng mà mình yêu thích nhất, ra vườn hái một cành hoa hồng mang theo rồi cùng cha ra sân bay.

Tại sân bay Gia Lâm, do phải tác nghiệp để đưa tin phản ánh về chuyến thăm tới Việt Nam của Nguyên soái Voroshilov nên nhà báo Vương Duy Chân đã để cô con gái Tiểu Hồng của mình đứng cùng với gia đình Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam – La Quý Ba. Trong lúc chờ máy bay đến, bé Tiểu Hồng bỗng nghe thấy mọi người hô to “Hồ Chủ tịch đến rồi! Bác Hồ đến rồi!” và đồng loạt vỗ tay hoan hô. Lúc đó, cô đã nhìn thấy Bác Hồ – một ông cụ râu tóc bạc phơ – đang ung dung đi đến nên vui mừng nhảy lên gọi to :” Bác Hồ! Bác Hồ!” và cầm cành hoa vẫy liên tục.

Cho đến tận bây giờ, bà Vương Phong vẫn nhớ như in hình ảnh ngộ nghĩnh của mình và những gì diễn ra sau đó.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đi đến nói chuyện với Đại sứ La Quý Ba và phát hiện ra bé Tiểu Hồng đáng yêu đang đứng bên cạnh liên tục gọi “Bác Hồ! Bác Hồ” bằng tiếng Trung. Bác cúi xuống, dẫn Tiểu Hồng ra khỏi đội hình đang xếp hàng chuẩn bị đón khách và hỏi: “Cháu mấy tuổi rồi? Cháu có thích Việt Nam không?”

Ngay lập tức bé Tiểu Hồng trả lời: “Cháu thích Việt Nam! Cháu yêu Bác Hồ.”

Lúc này rất nhiều phóng viên đang có mặt tại sân bay chạy đến và đèn flas của các máy ảnh chớp sáng liên tục. Bác Hồ lại âu yếm hỏi: “Cháu có biết tiếng Việt Nam không?” Tiểu Hồng đáp “Cháu có!” và nói liền một mạch cả ba câu mà mình đã học thuộc mặc dù chưa biết nghĩa của chúng là gì: “Ăn cơm chưa? Ăn cơm rồi! Chào đồng chí!” Nghe vậy, Bác Hồ và mọi người xung quanh đều bật cười vui vẻ.

Sau này, mỗi khi nhớ lại giây phút đó bà Vương Phong đều cảm thấy vô cùng xúc động, hình ảnh kính yêu của Bác Hồ cùng những câu nói nghộ nghĩnh “tự hỏi, tự trả lời” của một cô bé 5 tuổi mãi mãi khắc sâu trong tâm khảm.

Giây phút cô bé Tiểu Hồng được gặp Bác Hồ tại sân bay Gia Lâm khi đó đã được rất nhiều phóng viên đang có mặt tại đây ghi vào ống kính máy ảnh và sau đó tặng lại cho nhà báo Vương Duy Chân.

Bà Vương Phong cho biết bức ảnh “Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh” đăng trên báo Tiền Phong nhân ngày 1/6/1957 kể trên chính là khoảnh khắc Bác Hồ bật cười vui vẻ khi nghe Tiểu Hồng nói “Ăn cơm chưa? Ăn cơm rồi! Chào đồng chí!”

Tờ báo này đã được nhà báo Vương Duy Chân sưu tầm và tự tay ghi vào bên cạnh dòng chữ “Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tiểu Hồng.”

Hiện nay, tờ báo vẫn đang được bà Vương Phong trân trọng lưu giữ và coi như bảo vật vô cùng quý giá của bản thân cũng như cả gia đình.

Ngoài ra, bà Vương Phong hiện cũng đang lưu giữ một số tấm hình khác cùng chụp khoảnh khắc được gặp Bác Hồ ở các góc độ khác nhau, trong đó có hai bức ảnh do Phóng viên ảnh Tạ Sỹ Phong thuộc Tân Hoa Việt báo chụp sau đó tặng lại cho nhà báo Vương Duy Chân.

“Bác Hồ kính yêu mãi mãi trong trái tim tôi”

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, bà Vương Phong hiện đang sống cùng mẹ và con trai tại một khu phố yên tĩnh nằm ở khu vực phía Tây của Thủ đô Bắc Kinh. Trong căn nhà tập thể giản dị này, chúng tôi thấy rất nhiều hình ảnh cũng như các bức tranh về phong cảnh Việt Nam và Thủ đô Hà Nội được chủ nhân nâng niu đặt tại những vị trí trang trọng.

Nhắc lại kỷ niệm được gặp Bác Hồ khi xưa, bà Vương Phong cho biết trong suốt những năm tháng sau này và cho đến tận bây giờ hình ảnh cùng nhân cách của Người vẫn mãi mãi khắc sâu trong tâm khảm, mỗi ngày một thêm rực rỡ và vĩ đại hơn. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng giống như các lãnh đạo cách mạng tiền bối của Trung Quốc đều hy sinh tất cả cho nhân dân, cho tổ quốc, cho độc lập tự do và bình đẳng. Một sự hy sinh cao cả mà mọi lời nói, mọi lời ca đều khó có thể diễn đạt hoặc ngợi ca hết, mãi mãi được khắc ghi trong lòng mọi người.

Bà Vương Phong cho biết mình luôn cảm thấy tự hào khi kể lại cho bạn bè nghe về kỷ niệm quý báu của đời mình và thường nói với mọi người “Chủ tịch Hồ Chí Minh của Việt Nam mãi mãi trong trái tim tôi.”

Trong khi trò chuyện, chúng tôi lại vô cùng bất ngờ và trân trọng khi được biết bà Vương Phong không những yêu thích mà còn học thuộc và hát rất hay nhiều ca khúc Việt Nam. Bà cho biết khoảng năm 2000, bà đã có dịp quay lại thăm Việt Nam sau đó tự sưu tập, nhờ người dịch sang tiếng Trung một số bài hát nổi tiếng của Việt Nam như “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người,” “Hà Nội mùa Thu” và “Em ơi Hà Nội phố”… để về Trung Quốc giới thiệu và hát lại cho mọi người nghe./.

Xuân Vịnh/Bắc Kinh (Vietnam+)
Phương Thúy
(st)

bqllang.gov.vn

Con đường không rải hoa

Đúng 11h ngày 27/1/1973, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được ký kết tại phòng khánh tiết Trung tâm Hội nghị Quốc tế Kléber (Paris, Thủ đô Cộng hòa Pháp) với bốn vị Bộ trưởng Ngoại giao của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Nguyễn Duy Trinh), Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam (Nguyễn Thị Bình), Hoa Kỳ (William P. Rogers) và Việt Nam Cộng hòa (Trần Văn Lắm). Quân đội Mỹ đã bắt buộc phải chấp nhận rời khỏi lãnh thổ Việt Nam. Mục tiêu “Đánh cho Mỹ cút” đã được thực hiện…

Hành trình tất yếu

Mặc dù có ưu thế nhân lực, vật lực hơn hẳn so với chúng ta nhưng Washington đã không thể nào đè bẹp được những nỗ lực vô bờ bến của nhân dân ta chống lại quân xâm lược. Sau sự kiện Tết Mậu Thân năm 1968, Nhà Trắng càng hiểu rõ thêm rằng, lực lượng viễn chinh Mỹ ở Việt Nam cùng quân đội Sài Gòn sẽ không thể bao giờ giành được chiến thắng quân sự ở dải đất hình tia chớp này.

Trong tập hồi ký “Gia đình, bè bạn và đất nước” do Nhà Xuất bản Tri Thức vừa ấn hành vào nửa cuối năm 2012, bà Nguyễn Thị Bình nhớ lại: “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân của chúng ta trên khắp chiến trường miền Nam khiến Mỹ phải bắt đầu nhận ra rằng, họ không còn khả năng thắng một nhân dân đã quyết chiến đấu đến cùng cho độc lập tự do và thống nhất đất nước; họ đã phải tính đến việc xuống thang chiến tranh, buộc phải nghĩ đến một giải pháp chính trị để rút khỏi cuộc chiến vô vọng này, tất nhiên vẫn muốn có được một giải pháp trên thế mạnh. Còn về phía chúng ta, chúng ta cũng đã thấy đến lúc có thể triển khai tiếp cuộc chiến đấu dưới hai hình thức, vừa đánh vừa đàm”.

Sự dính líu trực tiếp của Washington vào cuộc chiến tranh Việt Nam đã làm cho đại đa số những người dân Mỹ cảm thấy thất vọng. Đầu năm 1969, một cuộc thăm dò dư luận được tiến hành cho thấy, chỉ có khoảng 29% số người Mỹ được hỏi ý kiến ủng hộ chiến tranh ở Việt Nam. Chính vì thế nên ngày 31/3/1968, Tổng thống Mỹ lúc đó là Lyndon Johnson, người từng tăng số binh lính Mỹ tham chiến tại Việt Nam lên tới gần 540 nghìn tên và vì thế, khiến cho lực lượng này phải chịu những thương vong rất đáng kể, đã phải xuống thang và tuyên bố đơn phương ngừng đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra sau khi tiết lộ rằng ông ta sẽ không ra tái tranh cử Tổng thống thêm một lần nữa. Đồng thời, ông này đã cử người đi đàm phán với đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà tại Paris. Đáp lại, ngày 3/4/1968, Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà cũng đã tuyên bố sẵn sàng cử đại diện của mình tiếp xúc với đại diện của Mỹ.

Địa điểm được chọn để tiến hành các cuộc đàm phán tương lai là Paris. Bộ Chính trị Đảng ta đã cử hai nhà lãnh đạo cao cấp là đồng chí Lê Đức Thọ và đồng chí Xuân Thủy trực tiếp tiến hành đàm phán ở Paris (đồng chí Lê Đức Thọ làm Cố vấn Đặc biệt, còn đồng chí Xuân Thủy, với cương vị Bộ trưởng Ngoại giao, là Trưởng phái đoàn).

Hội nghị Paris về Việt Nam đã là một cuộc đàm phán kéo dài nhất trong lịch sử ngoại giao quốc tế thời hiện đại. Cuộc đàm phán đầu tiên đã được tổ chức ngày 13/5/1968, thoạt tiên chỉ có sự tham gia của hai phái đoàn từ Washington và Hà Nội sang. Do lập trường kiên quyết của chúng ta, phía Mỹ đã bắt buộc phải mở rộng thành phần tham gia đàm phán. Tới tháng 11/1968 đã diễn ra một cuộc họp trù bị khá đơn giản để thống nhất một số thủ tục kỹ thuật cho quá trình đàm phán bốn bên. Phiên họp chính thức đầu tiên với sự tham gia của bốn phái đoàn diễn ra ngày 25/1/1969 tại phòng họp của trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber nằm cách Khải Hoàn môn khoảng 100m, tức là ở chính giữa Paris…

Cũng theo hồi ức của bà Nguyễn Thị Bình, trên bàn đàm phán, các “cuộc đấu lý diễn ra rất dai dẳng. Hai đoàn chúng ta nhằm vào Mỹ phê phán, lên án. Còn Mỹ thì tránh né, đẩy cho đoàn Sài Gòn đối đáp dài dòng…”.

Ở thời điểm này, nước Mỹ đang nằm trong bàn tay chèo lái của vị Tổng thống mới là Richard Nixon. Ông này vừa ngồi chưa ấm chỗ trong Nhà Trắng đã đưa ra học thuyết “đổi màu da trên xác chết” trong chiến tranh Việt Nam. Để dằn mặt đối phương và tìm thêm thế mạnh cho các cuộc đàm phán, ngày 17/3/1969, ông ta đã mở rộng chiến trường bằng một lệnh ném bom xuống lãnh thổ Campuchia, nơi mà Washington cho là xuất phát điểm của các tuyến tiếp tế cho bộ đội chúng ta. Tuy nhiên, vũ lực đã không mang lại cho Nhà Trắng những ưu thế trên chiến trường mà chỉ làm dư luận nhân dân Mỹ thêm phần phẫn nộ. Vì thế nên tới ngày 8/6/1969, Nixon đã phải tuyên bố cho rút bớt quân Mỹ về nước từ tháng 7 năm 1969. Và ông ta đã gửi một lá thư cho Chủ tịch Hồ Chí Minh để bày tỏ cái gọi là thiện chí hòa bình. Và ngày 25/8/1969, Bác Hồ trong thư trả lời Tổng thống Mỹ đã nêu rõ, nếu mong muốn hành động cho một nền hòa bình công bằng, thì  “Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược và rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam và của dân tộc Việt Nam, không có sự can thiệp của nước ngoài… Đó là con đường để Mỹ rút khỏi cuộc chiến tranh trong danh dự”.

con duong khong rai hoa
Quang cảnh Hội nghị Paris.

Bước ngoặt quan trọng

Các hoạt động thương lượng ngoại giao bao giờ cũng là sự đồng vọng với những diễn biến trên chiến trường. Hội nghị Paris về Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. Đó là một diễn đàn đấu tranh chính trị theo nhịp điệu tiếng súng vang lên trên chiến trường. Và trong giai đoạn đầu, khi giữa ta và địch còn ở thế giằng co, thì các cuộc đàm phán tại Paris, nói theo cách của bà Nguyễn Thị Bình, tiếp tục vẫn là “cuộc nói chuyện giữa những người điếc”. Ngay cả những cuộc gặp riêng, bắt đầu từ ngày 21/2/1970, giữa Cố vấn Đặc biệt Lê Đức Thọ với Cố vấn An ninh Mỹ Kissinger trong suốt một thời gian cũng không dễ dàng dẫn tới được các thỏa hiệp mong muốn. Các cuộc gặp riêng bí mật này cũng vẫn mang tính chất đấu trí và đấu khẩu gay gắt như trong quá trình diễn ra đàm phán công khai.

Đến giữa năm 1972, Washington mới thực sự ngấm đòn từ những thiệt hại trên chiến trường vì những thử nghiệm “thay đổi màu da trên xác chết” đã bị thất bại thảm hại trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 sang đất Lào của quân đội Sài Gòn cũng như ở nhiều nơi khác. Tuy nhiên, chính quyền Nixon vẫn ngoan cố không chịu nhận ra ngay con đường sáng mà vẫn tiếp tục tìm mọi cách để vừa đánh lừa dư luận trong nước về một thiện chí hòa bình nào đó ở phía họ, vừa muốn dùng vũ khí để đánh gục ý chí của dân tộc ta. Chính vì thế nên ngày 24/3/1972, Tổng thống Mỹ Nixon tuyên bố hoãn vô thời hạn các phiên họp công khai Hội nghị Paris về Việt Nam. Tiếp đó, ngày 8/5/1972, chưa đầy một tuần sau phiên gặp riêng giữa đồng chí Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Xuân Thủy với ông Kissinger, Nixon tuyên bố tiến hành một bước leo thang mới mở rộng quy mô đánh phá miền Bắc kể cả bằng lực lượng không quân chiến lược, thả mìn cảng Hải Phòng cùng các cửa sông, lạch, trên vùng biển phong toả miền Bắc Việt Nam…

Tuy nhiên, Mỹ đã không thể đè bẹp được ý chí của nhân dân Việt Nam bằng bom đạn và chết chóc. Chính vì thế nên ngày 13/7/1972, Washington đã buộc phải chấp nhận họp lại Hội nghị toàn thể bốn bên tại Paris. Về phía Việt Nam, chúng ta cũng xác định đây là thời điểm để có thể tỏ ra mềm dẻo dẫn tới những thỏa thuận có thể chấp nhận được. Ngày 11/9/1972, lần đầu tiên kể từ khi Kissinger bắt đầu hội đàm bí mật với Hà Nội vào tháng 8 năm 1969, phía Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã thôi đưa ra “giải pháp cả gói” (Mỹ phải rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam và xóa bỏ chính quyền do họ dựng lên tại đây) và gợi ý rằng có thể sẽ chấp nhận một cuộc ngừng bắn tại miền Nam Việt Nam mà không cần loại bỏ chính quyền Sài Gòn. Đó đã là sự khai thông cho những bế tắc trên bàn hội nghị…

Tới ngày 12/10/1972, sau những tranh cãi được đánh giá là nảy lửa, Cố vấn Đặc biệt Lê Đức Thọ và Cố vấn An ninh Mỹ Kissinger đã cùng đi đến một bản nháp hiệp định gồm 9 điểm. Nội dung đó chưa đầy đủ nhưng nó đã tạo được một bước đột phá lớn. Dự thảo đã tách các vấn đề thuần túy quân sự ra khỏi các vấn đề chính trị, cho phép một cuộc ngừng bắn tại chỗ, sự rút quân đội Mỹ và đồng minh nước ngoài về nước, sự trao trả tù binh Mỹ trong vòng 60 ngày, và thiết lập một qui trình mà qua đó người Việt Nam sau đó sẽ tự quyết định tương lai của mình…

Đã có dự định là tới ngày 30/10/1972 sẽ chính thức ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh. Tuy nhiên, mọi sự đã không diễn ra như thế vì thái độ lật lọng của chính quyền Mỹ sau khi Nixon biết được kết quả bỏ phiếu đã mang lại cho ông ta thêm một nhiệm kỳ nữa trong Nhà Trắng. Và con người nhẫn tâm và tráo trở này đã cho tiến hành một đợt không kích dữ dội và đẫm máu  bằng cả pháo đài bay B52 kéo dài suốt 12 ngày ở Hà Nội, nhằm buộc chúng ta phải quỳ gối chấp thuận những điều kiện ngặt nghèo hơn của Mỹ trên bàn hội nghị. Thế nhưng, Nhà Trắng đã hoàn toàn thất bại trong trận “Điện Biên Phủ trên không” ở Hà Nội những ngày tháng Chạp năm 1972.  Huyền thoại B52 bị phá bỏ, 30 chiếc bị bắn hạ. Dư luận quốc tế đồng thanh lên án hành động tàn bạo này của Mỹ… Và thế là tới ngày cuối cùng của tháng 12 năm đó, Washington đã phải tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, quay lại đàm phán và đồng ý ký kết Hiệp định Paris theo phương án đã ký tắt hồi tháng 10 với một vài sửa đổi nhỏ có tính kỹ thuật…

Kết thúc một hành trình gian khó, không rải hoa. Và lễ ký Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã diễn ra ngày 27/1/1973 tại Paris. Bà Nguyễn Thị Bình nhớ lại: “Tất cả các báo trên thế giới đều đưa lên trang nhất sự kiện trọng đại này. Mọi người yêu hòa bình và công lý trên thế giới đều hồ hởi như chính mình đã chiến thắng…”

Theo http://antgct.cand.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

“Thép Bác Hồ”

Ngày ấy, công trường Khu Gang thép được mở mang trên một vùng đồi núi Thái Nguyên. Những cánh bộ đội chuyển ngành của từng Sư đoàn kéo đến đầu quân. Trong đầu mọi người đều hình dung và mơ tưởng một cách khác, những tưởng nơi đây chí ít cũng đã thành nhà cửa đàng hoàng, có máy móc, có xe cộ. Ai dè, một con đường cho ô tô vào cũng chưa có. Đồi núi nhấp nhô, xung quanh bạt ngàn các thứ cỏ dại. Những nhát cuốc đầu tiên bổ xuống tóe lửa lại bật lên. Mọi người từ chỗ chưng hửng, đến phát ngán.

Người là niềm tin tất thắngGiữa lúc ấy, Bác Hồ về thăm. Bác về bất ngờ. Một ngày tháng sáu năm 1959, nắng hầm hập như lửa. Anh em đang đào đất, dựng nhà, bận rộn với tre, với nứa ngoài bến… thì bỗng nghe tin Ban Chỉ huy công trường triệu về có việc gấp. Tự nhiên có người reo lên: “Hay là Bác Hồ về thăm?!”. Mọi người chẳng ai bảo ai, cuốc xẻng trên vai quáng quàng chạy một mạch về phía một bãi rộng, sườn một quả đồi đang san dở. Một chiếc ô tô đen, bám đầy bụi đường vừa đỗ, anh em đã ùa tới. Hàng trăm, hàng nghìn người vây đặc kín quanh chiếc xe. Bác Hồ từ cửa xe hiện ra râu tóc đều bạc phơ, mặt hồng hào. Bác mặc bộ quần áo ta, màu gụ, chiếc áo hở khuy cổ, để lộ lần áo lót trắng trông vừa khỏe mạnh vừa phóng khoáng. Anh em công nhân hò reo, hoan hô vui sướng. Người xúm đông, xúm đỏ, Bác nhích lên một cách khó khăn.

Những người được ở gần Bác nhất cố sức lấy tay cản mọi người đang ùa tới, lấy chỗ cho Bác đi.

Sườn đồi cao, anh em phải kéo, nâng Bác lên. Nắng quá. Có mấy anh chạy đi ngay kiếm mấy tàu lá cọ còn tươi xòe che nắng cho Bác. Bác giơ tay  cho chúng tôi trật tự rồi bắt đầu nói chuyện:

– Công trường của các cô, các chú rất rộng lớn. Sau này sẽ có tới ba vạn người tới ở. Thế mà bây giờ các cô, các chú mới có mấy nghìn người. Như vậy các cô các chú có cái vinh dự là người đi trước.

Bác giải thích về “tiền đồ”:

– Xã hội chủ nghĩa là gì ? Là không có người bóc lột người, mọi người đều no ấm. Đó là tiền đồ của chúng ta, không có tiền đồ, bạc đồ nào khác.

Rồi Bác hỏi:

– Muốn ăn quả thì phải làm gì ?

– Phải trồng cây ạ !

– Khi mới trồng cây thì đã có quả chưa ?

– Chưa ạ !

– Muốn uống nước thì phải làm gì ?

– Phải đào giếng ạ !

– Khi đang đào giếng thì đã có nước chưa ?

– Chưa ạ !

– Đào giếng có khó nhọc không ?

– Có ạ !

– Đào giếng rồi còn phải múc nước lên, đun sôi thì mới có bát nước trong lành mà uống. Xây dựng Xí nghiệp bây giờ cũng thế. Tiền đồ là ở các cô, các chú. Xây dựng Xí nghiệp nhanh thì chóng có tiền đồ. Bác nghe nói có một số cô chú thắc mắc đó là vì chưa hiểu thôi. Bác tin rồi mọi người sẽ làm rất hăng hái.

Hôm đó, Bác còn dặn rất nhiều điều: Công nhân, cán bộ phải có tinh thần đoàn kết, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, phải tăng gia lấy cái mà ăn, phải giữ gìn vệ sinh, không được uống nước lã, phải đánh ruồi, mỗi người một cái vỉ ruồi sau lưng, thấy ruồi là đánh… Mỗi điều dặn, Bác đều lấy ví dụ cho dễ hiểu.

Nói về đoàn kết, Bác chỉ vào chiếc xe hơi đang đỗ dưới đường:

– Nếu mười người cùng đẩy xe, cùng dô hò thì xe sẽ chạy bon bon. Còn nếu người thì đẩy, người thì không, có mấy người lại chỉ vờ đẩy thôi thì không thể đẩy xe chạy được.

Nói về đánh ruồi, Bác hỏi:

– Đế quốc to hơn hay con ruồi to hơn ?

– Đế quốc to hơn ạ !

Bác ôn tồn:

– Thằng đế quốc to lù lù, có máy bay, đại bác, xe tăng, tầu bò, các cô các chú còn đánh được nó, lẽ nào các cô, các chú lại chịu thua mấy con ruồi.

Cuối cùng, Bác nói:

– Hôm nay, Bác không đi thăm khắp công trường được. Bác nhờ các cô, các chú ở đây chuyển lời hỏi thăm của Bác đến các cô các chú vắng mặt.

Tiễn Bác đi rồi mà lòng chúng tôi còn ngẩn ngơ, bàng hoàng như vừa qua một giấc mơ. Chúng tôi bàn tán, khoe với nhau những gì mình được thấy ở Bác, suy nghĩ không dứt về những lời Bác dạy. Nhưng trước nhất, chúng tôi thấy có cái vẻ vang là có đi xây dựng khu gang thép mới được gặp Bác Hô, trong một kỷ niệm thắm thiết như vậy.

(Theo “Hồ Chí Minh – Một huyền thoại kỳ vĩ” – NXB Lao động)
Nguồn hcmpc.vn
Phương Thúy (st).

bqllang.gov.vn

Nỗi nhớ Bác Hồ và tiếng hát mùa xuân

Tư tưởng Hồ Chí Minh đi tới mùa XuânNhững ca khúc viết về Bác đều đạt đến độ chín mùi của tấm lòng và thăng hoa bởi tài năng của người nghệ sĩ, nhanh chóng đi vào lòng người và trở thành một phần máu thịt của tâm hồn Việt Nam. Một xuân nữa chúng ta không được nghe thơ chúc Tết của Người, nhưng hình bóng và tình yêu mà Người dành cho toàn dân là điều không thể phai nhòa.

Một trong những ca khúc viết về Bác thường được nhắc đến là “Trồng cây lại nhớ đến Người” của Đỗ Nhuận. Nhiều ca sĩ, người dẫn chương trình đã giới thiệu ca khúc này là dân ca Nghệ An một cách vô tư. Sự nhầm lẫn này là một minh chứng hết sức tuyệt vời về sự phổ biến của nó. Trên nền dân ca được chỉnh lí, chất thô mộc, đầm ấm của ca từ dường như đã hòa lẫn vào chất giọng đậm, ngọt của người xứ Nghệ : “Trồng cây tôi lại nhớ đến Người. À ơi… (chừ) rừng bao nhiêu cây mọc tôi lại ơn Người bấy nhiêu…” Cũng những rung động tương tự nhưng nhạc sĩ An Thuyên lại đưa dân ca Nghệ An reo trên cung bậc khác. “Một khúc dân ca sâu lắng quê nhà, đêm sông Lam dạt dào sóng nước. Vọng câu đò đưa tình người mộc mạc bát ngát nhớ thương mà thoảng hương giữa đời”. Nếu ai đã từng nghe NSƯT Thanh Hoa trình bày ca khúc này hẳn sẽ đồng ý: Dường như An Thuyên đã cộng hưởng với dân ca xứ Nghệ, chan hòa máu thịt mình vào để hình dung ra tâm tư Bác thời niên thiếu một cách đằm thắm nhất, sâu lắng nhất .

Hầu hết những ca khúc mang chủ đề Bác đều có sự thành công lớn khi sử dụng lợi thế phổ biến của những làn điệu dân ca. Dân ca Nghệ An có “Trồng cây lại nhớ đến Người” của Đỗ Nhuận, “Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác của An Thuyên’. Dân ca Trung bộ có “Miền Trung nhớ Bác’ của Thuận Yến. Dân ca Nam bộ có “Miền Nam nhớ mãi ơn Người” của Nguyễn Đồng Nai, Vào Lăng viếng Bác của Hoàng Hiệp… Đặc biệt là tiếng reo vui của những người con Tây Nguyên: “Mùa xuân đến rồi bản làng ơi, thư Bác Hồ gởi tới non sông đem chiến công vang dội khắp hai miền. Bác Hồ ơi đây là mùa chiến thắng…”

Dân ca là tiếng nói tâm hồn của một miền đất. Gần nửa thế kỷ qua đã có nhiều ca khúc mới sử dụng làn điệu, âm hưởng dân ca để nói về sự kiện hiện đại. Nhưng viết về một người thì không chủ đề nào lại tập trung và thành công như viết về Bác. Câu trả lời cho hiện tượng này không quá khó – ấy là do dân ta mang nặng lòng kính yêu người lãnh tụ vĩ đại của dân tộc. Người miền Trung tỏ bày chân thành không một chút màu mè: “Chúng con sinh ra khi nước còn chia cắt, nỗi nhớ Bác Hồ dằn dặt đến miền Trung. Để sớm nay con đi giữa đoàn quân, trong gió biển chan hòa đi theo dấu chân Bác. Đường miền Trung non xanh nước biếc, xin hỏi đường nào Bác đã qua đây khi Bác tìm đường cứu nước ai hay (Miền Trung nhớ Bác – Thuận Yến). Nếu Chế Lan Viên từng bộc bạch qua những vần thơ : “Lũ chúng ta sống trong giường chiếu hẹp, giấc mơ con đè nát cuộc đời con. Hiểu sao hết những tấm lòng lãnh tụ, vạch đường đi cho dân tộc đi theo” thì Thuận Yến lại bày tỏ bằng dân ca. Hầu như tất cả các nhạc sĩ khi hòa âm cho ca khúc này đều phối cho những giọt đàn bầu rải đều và xuyên suốt bài ca. Chính nét nhạc chủ đạo này đã mang lại ấn tượng tấm lòng sâu nặng của người miền Trung với Bác. Người miền Trung nhớ Bác như thế thì dân Nam bộ lại gọi tên Người như tìm đến một niềm tin tất thắng. “Trên cánh đồng miền Nam mây đen bao phủ chân trời khi ca lên Hồ Chí Minh nghe lòng phơi phới niềm vui (Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người –Trần Kiết Tường). Chất ngọt ngào của dân ca Nam bộ đã làm ca khúc như rộng hẳn ra, bàng bạc khắp không gian và mênh mông như lúa đồng Nam bộ. Có nhiều chuyện kể về tấm lòng người dân Nam bộ với Bác: chuyện người Đồng Tháp dựng đình thờ Bác, Mỹ – Ngụy phá hoài không được, chuyện người dân miệt rừng đước Cà Mau lấy ảnh Bác làm tín vật biểu lộ lòng thủy chung với cách mạng … Những câu chuyện ấy không hề cá biệt mà khắp miền Nam đâu đâu cũng có (chẳng phải thế mà ngay cả sách vở nhiều lúc cũng nhầm thơ của Bảo Định Giang là ca dao đấy thôi – Tháp Mười đẹp nhất bông sen, Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ. Rồi một chiều ghé qua bến Nhà Rồng, nhạc sĩ Trần Hoàn đã xúc động mà viết nên ca khúc thật sự thấm đượm chất Nam Bộ: “Ai về Thủ Thiêm ai qua Bến Nghé. Ai xuôi ai ngược nhớ ghé bến Nhà Rồng. Chiều về khói tỏa trên sông, lẳng nghe câu hát mà chạnh lòng nước non (Thăm bến Nhà Rồng – Trần Hoàn ). Nhạc sĩ trong ca khúc chỉ hỏi một câu, chỉ băn khoăn một điều mà đã phả được cái hồn người Nam Bộ dân dã, chất phác vào trong ca khúc. Lúc cập thuyền ai tiễn Người đi hay chỉ một mình khăn gói biệt ly vì nước vì dân. Cũng bằng những chi tiết rất nhỏ như vậy nhưng với sự khai thác độc đáo nhiều ca khúc lớn đã ra đời, điển hình là Đôi dép Bác Hồ của Văn An – “Đôi dép đơn sơ đôi dép Bác Hồ, Bác đi từ ở chiến khu Bác về. Phố phường trận địa nhà máy đồng quê đều in dấu dép Bác về Bác ơi …” Ra đời sau ngày Bác mất, cho đến nay mỗi khi nghe lại ca khúc nhiều người vẫn thấy lòng mình rưng rưng tưởng như Người vẫn còn đâu đây.

Bác của chúng ta vĩ đại vì nhiều lẽ nhưng lẽ đầu tiên đó là sự vĩ đại của cái bình thường. Sẽ không ai quên cuộc đời bình dị, hết lòng vì dân vì nước của Người, và vì thế khi viết về những điều giản đơn như vậy các nhạc sĩ đã khơi dòng suy tưởng về Bác trong trái tim ta. Những ca khúc viết về Bác sẽ còn xuyên suốt nhiều thời đại bởi lẽ chỉ riêng tên Người đã là cả một bài ca.

Bá Phùng
Theo http://www.baobinhdinh.com.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Nhớ “Tết trồng cây” của Bác Hồ

 Trong không khí rộn ràng khi Tết đến Xuân về, mỗi chúng ta lại nhớ tới cái “Tết” khác –  một mỹ tục do Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu khởi xướng từ cuối năm 1959, đó là “Tết trồng cây”. Quan tâm đến môi trường thiên nhiên và hiểu được ý nghĩa sâu sắc, giá trị thiết thực của môi trường sống, Bác đã động viên và kêu gọi nhân dân ta tích cực trồng cây, giữ lấy màu xanh của đất nước:

“Mùa xuân là Tết trồng cây,
Làm cho đất nước càng ngày càng Xuân”.

Từ lâu, câu thơ của Bác Hồ đã thấm sâu vào tâm trí của hàng triệu trái tim con người Việt Nam, kể từ đó cho tới nay, đã thành một truyền thống tốt đẹp, mỗi dịp Xuân về là “Tết trồng cây” thực sự trở thành ngày hội của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trồng cây, gây rừng và bảo vệ môi trường sinh thái. Truyền thống đó đã mang lại giá trị thực tiễn, góp phần làm đẹp cảnh quan môi trường, nhất là trong tình hình biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường như hiện nay.

trong cay 1
Bác Hồ trồng cây đa tại xã Vật Li, Ba Vì, Hà Tây (nay là Hà Nội) ngày 16/02/1969

Chủ tịch Hồ Chí Minh vốn yêu thiên nhiên, sống gần gũi với thiên nhiên nên từ những ngày hoạt động cách mạng, dù bận trăm công nghìn việc nhưng Người vẫn luôn chú trọng tới việc xây dựng môi trường để bảo đảm cho điều kiện sống và công tác bí mật trong kháng chiến. Ở thời điểm đó, cơ quan thường xuyên phải di chuyển, Người căn dặn cán bộ phải chọn những nơi:“Trên có núi, dưới có sông, có đất ta trồng, có bãi ta vui”. Đến địa điểm mới, Người cùng cán bộ bắt tay ngay vào việc cuốc đất trồng cây vừa để cải thiện đời sống, vừa để hòa nhập vào thiên nhiên. Người coi việc sống gần gũi, hòa mình với thiên nhiên như một cách để nuôi dưỡng tâm hồn, trí tuệ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt vấn đề phải đấu tranh chống lại những tai họa của thiên nhiên,“quan tâm đến việc trồng cây” và bảo vệ rừng, cấm phá rừng. Theo Bác, trồng cây ngoài ý nghĩa to lớn là để cho môi trường tự nhiên và quang cảnh đất nước trở nên tươi đẹp hơn thì còn ý nghĩa thiết thực nữa là để chuẩn bị lấy gỗ làm nhà ở cho nhân dân. Ngày 30-5-1959, với bút danh Trần Lực, Bác đã viết bài: “Nông dân phải trồng cây chuẩn bị làm nhà ở”, đăng trên Báo Nhân dân số 1901, trong đó Bác chỉ ra: “Muốn làm cửa nhà tốt, phải ra sức trồng cây, chúng ta chuẩn bị từ nay, dăm năm sau, sẽ bắt tay dựng nhà”. Ngày 28-11-1959, trên Báo Nhân dân số 2082, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài “Tết trồng cây” và đề nghị tổ chức một ngày Tết trồng cây để thiết thực kỷ niệm ngày thành lập Đảng. Trong bài viết, Bác nêu rõ tác dụng của việc trồng cây là công việc đó “tốn kém ít mà ích lợi nhiều”, tất cả nhân dân miền Bắc mỗi người phụ trách trồng một hoặc vài ba cây và chăm sóc cho tốt. Tại thời điểm đó, Bác đã tính “ở miền Bắc có độ 14 triệu, trong số đó độ 3 triệu là trẻ em thơ ấu, còn 11 triệu người từ tám tuổi trở lên đều có thể trồng cây…Như vậy, mỗi Tết trồng được độ 15 triệu cây. Từ năm 1960 đến 1965, chúng ta sẽ có 90 triệu cây, vừa cây ăn quả, cây có hoa, vừa cây làm cột nhà. Và trong hai mươi năm, nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp hơn, khí hậu điều hòa hơn, cây gỗ đầy đủ hơn. Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân ta”. Cuối bài báo, Bác Hồ đã viết Tết trồng cây “cũng là một cuộc thi đua dài hạn nhưng nhẹ nhàng mà tất cả mọi người – từ các cụ phụ lão đến các em nhi đồng đều có thể hăng hái tham gia”. Điều đó có thể thấy, ý nghĩa của “Tết trồng cây” là hết sức thiết thực và lớn lao.

trong cay 2

Vào buổi sáng ngày 11/1/1960, không khí Tết trồng cây đầu tiên mừng Đảng, mừng Xuân thật sôi nổi. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đồng bào Thủ đô đã trồng cây ở Công viên Hồ Bảy Mẫu (nay là Công viên Thống Nhất). Tại nơi đây, Bác đã tự tay cầm xẻng, xúc đất vun cho một cây đa nhỏ. Trồng cây xong, Bác nói chuyện thân mật với mọi người về lợi ích của việc trồng cây. Người nói đại ý rằng, mấy năm trước nơi đây còn là bãi rác, nhờ có lao động của mọi người mà nay cây đã lên xanh tốt. Ngày nghỉ, các cô, các chú dẫn con cái ra đây hóng mát, xem hoa, ngắm cây vui chơi. Đây chính là vườn hoa của các cô, các chú. Vậy chúng ta phải lao động cho thật tốt, ta làm cho ta và cho con cháu đời sau.

trong cay 3
Cây đa Bác Hồ trồng ở Công viên Thống Nhất (Hà Nội) năm 1960, nay sum suê xanh tốt, tỏa bóng mát quanh năm. Ảnh internet

52 mùa Xuân kể từ ngày ấy, Công viên Thống Nhất hôm nay đã trở thành một khu vui chơi giải trí lớn của Thủ đô Hà Nội. Cây đa nhỏ năm xưa Bác trồng giờ đã là một cây đa cổ thụ sum suê xanh tốt, tỏa bóng mát quanh năm.

Mùa Xuân năm 1969, sức khỏe của Bác yếu nhiều, việc bố trí để Bác trồng cây ở một địa phương nào đó theo ý của Bác là một vấn đề hết sức khó khăn. Những người phục vụ Bác rất lo lắng nên nhiều lần đề nghị Bác hoãn lại việc trồng cây. Nhưng Bác rất kiên quyết. Người nói: “Đây là dịp kỷ niệm 10 năm ngày phát động Tết trồng cây nên các chú phải bố trí cho Bác trồng cây ở một địa phương nào đó có nhiều thành tích…”. Sau đó, Bác gợi ý chọn xã Vật Lại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội) là nơi có phong trào trồng cây tốt.

Theo kế hoạch đã chuẩn bị, Bác đến địa điểm trồng cây. Đông đảo các đại biểu, các tầng lớp nhân dân đã đứng trên những đồi cây đón Bác. Bác trực tiếp trồng thêm một cây đa. Nhìn những xẻng đất, bình nước Bác tưới mát cho cây, mọi người ai cũng xúc động. Trồng cây xong, Bác cùng mọi người quây quần dưới tán bạch đàn và thân mật hỏi chuyện và chúc Tết mọi người. Bác căn dặn: “Đất nước này là của chúng ta nên phải thi đua sản xuất giỏi, trồng cây giỏi”.

Bác không chỉ nêu rõ giá trị của việc trồng cây, gây rừng mà còn chỉ rõ những hậu quả và thiệt hại khi chặt phá rừng bừa bãi, khai thác không hợp lý: “Ảnh hưởng đến khí hậu, ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống rất nhiều” và “nếu rừng kiệt thì không còn gì và mất nguồn nước thì ruộng mất màu, gây ra lụt và hạn hán”. Chính vì thế mà Bác ví rừng là vàng và căn dặn: “Chớ lãng phí vàng mà phải bảo vệ vàng của chúng ta”. Đau xót trước cảnh rừng bị tàn phá, bị khai thác bừa bãi, Bác nói: “Những cây gỗ to bị chặt để đốt hay cho mục nát không khác gì đồng bào mình tự đem tiền bạc bỏ xuống sông”. Và rồi Bác kêu gọi nhân dân ta “phải có kế hoạch trồng rừng và tích cực bảo vệ rừng… Phải bảo vệ rừng như bảo vệ nhà của mình”.

Ngay cả đến giờ phút sắp đi xa, trong Di chúc, Bác Hồ cũng không quên nhắc nhở nhân dân ta phải tiếp tục công việc trồng cây gây rừng: “Nên có kế hoạch trồng cây trên đồi. Ai đến thăm thì trồng một cây hoa làm kỷ niệm. Trồng cây nào phải tốt cây ấy. Lâu ngày cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho công nghiệp”.

Như vậy có thể thấy, trong suốt cuộc đời mình, Bác Hồ rất quan tâm tới công cuộc trồng cây, gây rừng và bảo vệ rừng. Tết trồng cây là bài học lớn của Bác để lại cho thế hệ sau về cách sống gần gũi với thiên nhiên, bảo vệ tài nguyên môi trường, về phát triển bền vững, công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước nhưng phải luôn giữ được màu xanh cây cỏ, vì chất lượng cuộc sống của người dân.

Ngày nay, trong bối cảnh trái đất của chúng ta đang đứng trước những vấn nạn như ô nhiễm môi trường, trái đất nóng lên do hiệu ứng nhà kính, biến đổi khí hậu, thiên tai lũ lụt, hạn hán…..thì công cuộc bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu đã trở thành một trong những chính sách quan trọng hàng đầu của Chính phủ các nước trên thế giới, trong đó có Đảng và Nhà nước Việt Nam. Hơn 50 năm đã trôi qua, “Tết trồng cây” do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động và những lời căn dặn của Người về giữ gìn, bảo vệ môi truờng sinh thái thân thiện, bền vững với đời sống con người càng có ý nghĩa lớn lao và thiết thực. Tấm gương sống giản dị, gần gũi với thiên nhiên, tư tưởng, triết lý sống tiến bộ về bảo vệ cảnh quan môi trường sinh thái và tài nguyên thiên nhiên để phát triển bền vững của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành kim chỉ nam hành động đúng đắn cho các thế hệ hôm nay và mãi về sau./.

Huyền Trang (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Những mùa xuân lịch sử

Người Việt Nam có một truyền thống rất đẹp: Hằng năm, cứ mỗi dịp chào đón xuân về, cả dân tộc ôn lại lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước với biết bao chiến công chói lọi giành được vào mùa xuân. Những chiến công đó đã làm nên những mùa xuân lịch sử.

Những mùa xuân lịch sử trước khi Đảng ra đời

Mùa xuân năm 1077 diễn ra trận quyết chiến chiến lược Như Nguyệt (18/1 đến 2/1077) của quân dân Đại Việt do Lý Thường Kiệt chỉ huy nhằm tiêu diệt quân Tống xâm lược trên phòng tuyến sông Cầu (Bắc Ninh). Kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ II (1075-1077).

Mùa xuân năm 1258 diễn ra cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông lần thứ I, trong đó quân và dân ta dưới thời nhà Trần tổ chức phản công bằng trận Đông Bộ Đầu (ngày 29/1/1258), đập tan âm mưu xâm lược Đại Việt của quân Nguyên-Mông.

Mùa xuân năm 1285 diễn ra trận phòng ngự ở Vạn Kiếp (2/1285) do Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn chỉ huy, đánh thắng quân Nguyên-Mông trong cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông lần thứ II.

Mùa xuân năm 1288 ghi lại trận phục kích đường sông của quân dân nhà Trần (Đại Việt) trên sông Bạch Đằng (9/4/1288) do Trần Quốc Tuấn chỉ huy nhằm tiêu diệt quân Nguyên-Mông trên đường rút chạy, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông lần III (1287-1288).

Mùa xuân năm 1785 chứng kiến trận Rạch Gầm-Xoài Mút (20/1/1785) do Nguyễn Huệ chỉ huy, đập tan âm mưu can thiệp của phong kiến Xiêm, đánh đổ các tập đoàn phong kiến của chúa Nguyễn ở Đàng Trong.

Mùa xuân năm 1789, chỉ trong vòng 5 ngày đêm (từ ngày 30/12 đến 5/1 năm Kỷ Dậu – 1789), dân tộc ta dưới sự lãnh đạo tài tình của Quang Trung – Nguyễn Huệ đã quét sạch 20 vạn quân xâm lược Mãn Thanh ra khỏi bờ cõi, giải phóng kinh thành Thăng Long, giải phóng Tổ quốc.

Đây là một trong những chiến công vĩ đại và hiển hách vào bậc nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta.

Những mùa xuân lịch sử gắn với sự ra đời và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Mùa xuân năm 1930 ghi lại dấu mốc lịch sử ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3/2/1930. Từ đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam giành được nhiều thắng lợi vĩ đại, có ý nghĩa dân tộc và thời đại.

Mùa xuân năm 1931: Chứng kiến sự ra đời của Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương vào ngày 26/3/1931, tiền thân của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, là tổ chức chính trị – xã hội lớn nhất của thanh niên Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

moi do xuan ve
Ảnh Tư liệu

Mùa xuân năm 1949: Chiến dịch Cao – Bắc – Lạng (mở màn ngày 15/3/1949, kết thúc ngày 30/4/1949), là chiến dịch tiến công của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đánh vào tuyến phòng thủ đường 4 và lực lượng chiếm đóng của Pháp ở Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn.

Mùa xuân năm 1950:

Từ ngày 25 đến ngày 27/1/1950 diễn ra Chiến dịch Bến Cát I của lực lượng vũ trang khu Sài Gòn – Chợ Lớn tiêu diệt một bộ phận quân Pháp, mở rộng khu căn cứ Long Nguyên – Thanh Tuyền;

Ngày 18/1/1950, diễn ra trận sân bay Bạch Mai của Tiểu đoàn 108 (Mặt trận Hà Nội) tập kích sân bay Bạch Mai – một căn cứ không quân quan trọng của Pháp ở Hà Nội;

Từ ngày 26/1 đến ngày 1/2/1950, diễn ra chiến dịch Cao Lãnh của lực lượng vũ trang Khu 8 trên địa bàn tổng An Tịnh (huyện Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc, nay thuộc tỉnh Đồng Tháp) nhằm tiêu hao sinh lực, phá vỡ hệ thống lô cốt, tháp canh của quân Pháp, mở rộng vùng giải phóng, xây dựng cơ sở cách mạng trong vùng địch tạm chiếm.

Mùa xuân năm 1951: Chiến dịch Trần Hưng Đạo kết thúc thắng lợi vào ngày 18/1/1951, do Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp tổ chức, chỉ huy đánh vào phòng tuyến của quân Pháp ở vùng trung du Bắc Bộ, nhằm phát huy quyền chủ động chiến lược sau thắng lợi chiến dịch Biên Giới (năm 1950).

Mùa xuân năm 1954:

Chứng kiến trận sân bay Cát Bi (7/3/1954) do 32 chiến sĩ bộ đội địa phương Kiến An tập kích vào sân bay Cát Bi, góp phần phát triển chiến tranh du kích trong chiến cục Đông Xuân 1953-1954;

Chiến dịch Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia từ 30/1 đến 4/1954, là chiến dịch tiến công của quân đội nhân dân Việt Nam phối hợp với lực lượng vũ trang cách mạng Lào và Campuchia đánh quân Pháp ở Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia;

Chiến dịch Thượng Lào (29/1 đến 13/2/1954) là chiến dịch tiến công của Đại đoàn 308 và một bộ phận lực lượng vũ trang Phathét Lào trong chiến cục Đông Xuân 1953-1954;

Chiến dịch Điện Biên Phủ (từ 13/3 đến 7/5/1954), chiến dịch quyết chiến chiến lược của quân đội nhân dân Việt Nam, là đòn tiến công tiêu diệt lớn nhất, điển hình nhất của quân và dân Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp, giáng đòn quyết định đánh bại ý chí xâm lược của thực dân Pháp.

Mùa xuân năm 1963: Trận Ấp Bắc (2/1/1963) là trận chống càn điển hình của quân và dân miền Nam Việt Nam đánh bại lực lượng càn quét của ngụy quân Sài Gòn được cố vấn Mỹ chỉ huy. Báo hiệu sự phá sản của chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ.

Mùa xuân năm 1964: Trận chiến đấu đầu tiên của không quân Việt Nam (16/2/1964), trong đó máy bay T-28 (số hiệu 963 do Nguyễn Văn Ba và Lê Tiến Phước điều khiển) thuộc Trung đoàn không quân vận tải 919 Quân chủng Phòng không-Không quân, bằng 2 loạt đạn bắn rơi máy bay địch, diệt toàn bộ toán biệt kích và tổ lái. Không quân Việt Nam lập chiến công đầu ở mặt trận trên không.

Mùa xuân năm 1965: Trận chiến đấu không quân (3/4/1965) của biên đội máy bay MIG-17 thuộc Trung đoàn không quân tiêm kích 921, là trận đầu đánh thắng của Không quân nhân dân Việt Nam, mở ra mặt trận trên không chống chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc Việt Nam. Mỹ phát động cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ I (7/2/1965 đến 1/11968). Quân và dân miền Bắc bắn rơi 3.243 máy bay (có 6 B 52 và 3 F 111), bắn chìm, bắn cháy 143 tàu chiến, tàu biệt kích của Mỹ.

Mùa xuân năm 1967: Chiến dịch phản công của quân giải phóng miền Nam Việt Nam đánh bại cuộc hành quân Gianxơn Xiti (Junction City) của Mỹ (từ 22/2 đến 15/4/1967), loại khỏi chiến đấu hơn 14.000 quân địch, phá huỷ 992 xe quân sự, 112 khẩu pháo, bắn rơi và phá huỷ 160 máy bay; bảo vệ vững chắc căn cứ, cơ quan đầu não kháng chiến; đánh bại cố gắng lớn nhất của Mỹ trong cuộc phản công chiến lược lần II và cả cuộc chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam.

Mùa xuân năm 1968: Đêm 30 rạng ngày 31/1/1968, quân dân miền Nam nhất tề tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt ở 64 thành phố, thị xã và nhiều vùng nông thôn rộng lớn, tiến công hàng loạt căn cứ quân sự, đánh trúng các sào huyệt, cơ quan đầu não quan trọng của quân Mỹ và quân Ngụy, là đòn quyết định giáng vào chiến lược chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ.

Mùa xuân năm 1971: Diễn ra Chiến dịch phản công của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam nhằm đánh bại chiến dịch Quang Trung của ngụy quân Sài Gòn ở vùng giáp giới 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia từ 27/2 đến 16/4/1971, tiêu diệt 3 tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng 9 tiểu đoàn, đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân Quang Trung của địch. Chiến dịch đường 9 Nam Lào (từ 30/1 đến 3/3/1971), trong đó Quân giải phóng miền Nam Việt Nam phối hợp với lực lượng cách mạng Lào đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 (30/1 đến 23/3/1971) của ngụy quân Sài Gòn được Mỹ yểm trợ hoả lực.

Mùa xuân năm 1973: Ngày 15/1/1973, sau nhiều thất bại thảm hại, Chính phủ Mỹ buộc phải tuyên bố chấm dứt mọi hành động ném bom, bắn phá miền Bắc Việt Nam. Ngày 27/1/1973, Mỹ buộc phải ký Hiệp định Pari lập lại hoà bình tại Việt Nam.

Mùa xuân năm 1975: Chiến dịch Tây Nguyên (4/3 đến 24/3/1975) là chiến dịch chiến lược tiến công của Quân giải phóng Mặt trận Tây Nguyên mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975, làm thay đổi cơ bản so sánh lực lượng và thế chiến lược giữa ta và địch, tạo bước ngoặt quyết định, đưa cuộc tiến công chiến lược của ta phát triển thành Tổng tiến công trên toàn miền Nam Việt Nam.

Đặc biệt, Chiến dịch Hồ Chí Minh (26/4 đến 30/4/1975), chiến dịch quyết chiến chiến lược của quân và dân ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975, là điển hình về hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng, các binh chủng, quân chủng, sự kết hợp trên quy mô lớn giữa tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng; đòn quyết chiến chiến lược táo bạo, kịp thời, chính xác, kết thúc chiến tranh.

Thái Công Trường Giang
Theo http://www.gdtd.vn
Thu Hiền
(st)

bqllang.gov.vn

Một năm hai lần đến thăm trại giam

Ngày 18 tháng 1 năm 1946, mới 5 tháng sau ngày 19 tháng 8, nhân dân ta giành được chính quyền ở Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu đi kiểm tra công tác “giác ngộ” những người lầm lỗi ở nhà giam Hỏa Lò và ở Nha Công an.

Chuyện kể về NgườiTháng 1 năm 1946 là một tháng trong những tháng “ngàn cân treo sợi tóc” của nước cộng hòa non trẻ Việt Nam. Và ngày 16/2/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ sáng sớm đã gửi thư cho Tổng thống Mỹ H.Truman qua bài diễn văn ngày 28 tháng 10 năm 1945 của Tổng thống. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã viết trong thư lên án sự trở lại của quân đội Pháp và yêu cầu Tổng thống Mỹ “can thiệp ngay lập tức và có giải phóng để nhân dân Việt Nam thoát ra khỏi cuộc chiến tranh đó”.

Thư viết xong, đã thấy một cán bộ của Văn phòng Phủ Chủ tịch, trình Chủ tịch nước ký một loạt sắc lệnh, trong đó có Sắc lệnh giải tán tổ chức Quỹ cứu trợ mang tên Toàn quyền Đông Dương Brêviê và của Hội Bảo trợ Phụ nữ và Nhi đồng An Nam do chính quyền cũ tổ chức, để lại.

Sau đó, Hồ Chủ tịch tới nhà giam ở trên phố Hỏa Lò. Người đến đây với tư cách người ông, người cha, xót thương cho những con cháu lỗi lầm, nước đã độc lập tự do mà họ còn ngồi trong bốn bức tường nhà tù.

Bác đi một vòng xem nhà bếp, nhà ăn, phòng tắm, phòng giam. Ngôi bên họ, không sợ hôi hám, bẩn thỉu, Bác nghe những đứa con nhẹ dạ, không hiểu biết đầy đủ luật pháp đã phạm sai lầm phân trần. Thông cảm với sự hồi tâm, hối tiếc của những người bị giam giữ, Bác khuyên họ mau chóng sửa chữa để xứng đáng là công dân của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, để góp công, góp sức vào công cuộc kiến thiết nước nhà…

Nước mắt lưng tròng, những người đeo số tù ấy không ai vận động ai đều đứng lên hô to: “Hồ Chủ tịch muôn năm!”

Họ có biết đâu là Hồ Chủ tịch của họ cũng rưng rưng nước mắt. Bác nói: “Nên đổi chữ trại giam thành khu giác ngộ”. Giác ngộ là danh từ nhà Phật. Tự mình răn mình, lánh xa điều ác, chăm giữ điều thiện để trở về với con người chân chính, là giác ngộ. Bác không vui, dù rằng nếu có đổi ra “Khu giác ngộ” cũng là “trại giam” mà thôi… ý xót thương, tấm lòng bao dung của Bác muốn cho cán bộ trại không nên coi đấy là nơi đọa đầy họ và họ cũng chẳng nên phẫn chí, cùng đường ở nơi “đầy đọa” này…

Có lẽ hình ảnh những con người Việt Nam ấy, sau 80 năm nô lệ, chưa được độc lập tự do luôn trở về trong tâm trí Bác.

Mười tháng sau, mới 2 ngày sau khi từ Paris về Hà Nội, Bác lại đến thăm “Khu giác ngộ”, thăm số công an viên đang chuẩn bị đi làm nhiệm vụ.

Nói chuyện với trại viên “Khu giác ngộ”, Bác an ủi họ: “Anh chị em vì hám lợi mà làm sai nên phải vào đây chờ pháp luật xét xử”. Nhưng khi gặp cán bộ khu, Bác căn dặn: “Nên chăm sóc hơn đối với người bị giam. Phải xét ngay và xét kỹ cho họ khỏi bị oan uổng”.

Trong cơn lốc của cuộc cách mạng, trong buổi đầu lập nước, tránh sao khỏi những việc oan uổng trong dân… Bác biết và Bác nói hộ lời của dân “xin đừng giam lâu, xin đừng xét oan…”

Trích trong “120 chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
Baclieu.gov.vn
Tâm Trang
(st)

bqllang.gov.vn

Những câu truyện kể về Bác Hồ với bà con nông dân

Chuyện kể về NgườiĐể Bác tự đi

Được cấp trên cho biết Bác Hồ sẽ về thăm Hợp tác xã cấp cao Vĩnh Thành, huyện Yên Thành, lãnh đạo Đảng, chính quyền và Ban chủ nhiệm Hợp tác xã đều lo toan chuẩn bị. Nào là bố trí làm tổng vệ sinh khu vực làm việc của Đảng ủy, ủy ban và trụ sở Hợp tác xã. Cuộc họp lãnh đạo nhất trí là phải thông báo cho dân biết tin này để cùng chuẩn bị đón Bác. Thế là Ban Chủ nhiệm Hợp tác xã phân công cán bộ đến từng nhà dân ở gần trụ sở ủy ban và gần nơi đón Bác. Những nhà gần đó đều được xã cử thanh niên đến sửa soạn lại trong nhà sao cho ngăn nắp. Có 4 gia đình ở gần hội trường nhất thì cho người mượn thêm tủ, bàn ghế sang trọng ở những nhà khác xa hơn đưa đến đặt vào, để khi Bác đến sẽ thấy đời sống của dân ở đây khấm khá thật.

Thế là ngày hôm sau, Bác Hồ đã đến thăm Hợp tác xã Vĩnh Thành. Sau khi nói chuyện xong với cán bộ và nhân dân, Bác nói cho Bác đi thăm một số gia đình. Lãnh đạo xã mời Bác đi và dẫn Bác theo con đường có mấy nhà đã chuẩn bị trước. Ra khỏi hội trường đi được khoảng mươi mét đến ngã ba đường làng, ông Chủ tịch xã chỉ mời Bác đi đường này. Nhưng Bác xoa tay nói: “Để Bác tự đi để biết đúng thực tế, có lẽ ở đó các chú đã bố trí rồi”. Thế là Bác Hồ đi theo con đường khác. Bác đi vào nhà một gia đình bình thường có ngôi nhà tranh nhỏ bé. Trong nhà chỉ có một cái sập nhỏ đựng lúa làm bàn thờ và hai cái giường gỗ nhỏ cũ kỹ. Sau khi nói chuyện và hỏi thăm bà già đang ngồi bồng cháu trên chiếc võng, Bác lại đi thăm một số gia đình khác.

Trích theo sách: Tư tưởng lớn qua những câu chuyện nhỏ, Nxb Nghệ An, 2005

 Bác hướng dẫn làm kinh tế thời kháng chiến

 Thời gian rỗi, Bác cùng anh em trong cơ quan chơi bóng chuyền, tập thể thao, tăng gia sản xuất, trồng bí trồng bầu, nuôi gà, nuôi bò. Trong thời gian này, Bác nảy ra ý quản lý kinh tế theo phương thức khoán sản phẩm. Bác bảo các đồng chí, giao bò cho dân địa phương nuôi, khi bò phát triển thì một phần để lại cho nhân dân còn một phần cho tập thể. Trồng được nhiều bí, cả một bãi rộng dày đặc quả, khi thu hoạch anh em kiểm số lượng quả vì nhiều nên bị lẫn liên tục, Bác bày cho cách: Đếm xong quả nào cắm một que tre, khi cắm hết chỉ cần gom số que là ra số quả tăng gia được và giao cho người quản lý.

Trích theo sách: Những kỷ niệm cảm động về Bác Hồ
, Nxb Văn hóa thông tin, H.2008

 Biết mực nước lụt thường xuyên như chỉ huy nắm địch

 Vào mùa nước sông Hồng đang lên, Bác cho gọi đồng chí Thứ trưởng Bộ Thuỷ lợi lên hỏi: Chú cho Bác biết mực nước sông Hồng lên bao nhiêu?” “Thưa Bác tối qua mực nước là…” Bác ngắt lời: “Tối qua Bác biết rồi, Bác muốn biết lúc này là bao nhiêu?”. Đồng chí Thứ trưởng không trả lời được, Bác nghiêm giọng nói: “Thủy – hỏa – đạo – tặc, giặc lụt tai hại bao nhiêu chắc chú đã biết rõ, vậy sao chú nắm tình tình không sát, phải như Bộ Chỉ huy nắm địch ấy.

Trích theo sách: Những kỷ niệm cảm động về Bác Hồ
Nxb Văn hóa thông tin, H.2008

“Trăm năm trong cõi người ta,

Chống úng thắng lợi mới là người ngoan”.

 Đó là một sáng tháng 8 năm 1962, tất cả xã viên và cán bộ Mai Xá đang dồn hết sức mình ứng cứu lúa trên trận tuyến dài gần một cây số ở cánh đồng Sao. Hàng trăm chiếc gầu, hàng chục chiếc guồng nghiêng đồng đổ nước ra sông. Bác đến rất bất ngờ. Cả công trình chống úng của Mai Xá tưng bừng nhộn nhịp hẳn lên trong niềm vui được đón Bác. Mọi người chạy xô lại phía Bác. Bác bước tới dáng hồng hào khoẻ mạnh. Người mặc bộ quần áo gụ giản dị, đầu đội mũ cát, chân đi đôi dép cao su. Đến một chiếc guồng nước của hai cô xã viên, Bác bước lên và cùng đạp guồng với đồng chí Bí thư tỉnh uỷ. Sau đó Bác nói chuyện với bà con xã viên. Bác căn dặn tất cả mọi người phải đoàn kết chống úng đẩy mạnh sản xuất. Và Bác đọc một câu lẩy kiều:

“Trăm năm trong cõi người ta,

Chống úng thắng lợi mới là người ngoan”.

Giọng nói của Bác ấm áp đã đi sâu vào trong tâm trí mọi người. Cuộc gặp gỡ diễn ra hơn một giờ đồng hồ. Sau đó Bác ra về. Xã viên Mai Xá nhìn theo Bác lòng đầy lưu luyến. Tất cả mọi người đều muốn được mãi mãi nhìn Bác, nghe những lời dạy dỗ của Bác như lời người cha hiền từ dạy bảo con cái. Và từ hôm đó mọi người cùng nêu cao quyết tâm thực hiện lời dạy của Bác hăng hái chống úng đẩy mạnh sản xuất. Ngay vụ mùa đó cánh đồng Sao, cánh đồng hay ngập úng của xã Mai Xá mà Bác cùng guồng nước với mọi người đã đạt năng suất 3 tấn một héc ta.

Trích theo sách: 118 chuyện kể về Bác Hồ, Nxb Lý luận chính trị, H2008

Bác là người lao động

 Vào khoảng cuối năm 1953, đầu năm 1954, tuy đã ở trong ATK (an toàn khu) nhưng đội bảo vệ của Bác vẫn đào hầm sâu trong núi để đề phòng giặc. Anh em không quen nên làm việc có phần lúng túng. Bác đến và làm động tác mẫu quai búa cho đồng chí phụ trách búa xem. Rồi Bác lấy một thanh tre bánh tẻ làm kẹp cây “choòng” cầm chống, ra lệnh cho người quai búa cứ quai cho đều tay. Sợ Bác mệt, anh em nói:

– Thưa Bác, chúng cháu hiểu rồi ạ.

Đến lúc anh em tranh cãi về tăng gia, Bác lại “tham gia”. Có anh phát biểu nên trồng cà, anh thì bảo nên trồng rau muống cạn. Bác hỏi:

– Các chú đều là nông dân phải không?

– Dạ, chúng cháu đều là nông dân.

Bác giải thích: Vì các chú mỗi người một quê khác nhau, thời tiết mỗi vùng một khác. Kinh nghiệm trồng trọt cũng khác nên tranh cãi là bình thường. Song phải chú ý tới người xưa đã dạy ta rằng: “Bao giờ đom đóm bay ra, cành xoan chân chó trồng cà mới nên…” Thế các chú thấy cây xoan nảy mầm tức là thò chân chó chưa”

– Dạ, chưa ạ

– Thế thì chưa trồng cà được đâu!

Trích theo sách: Chuyện kể về Bác Hồ, Nxb Công an nhân dân, H.2009

Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

Tấm gương cần kiệm của Bác

Theo gương Bác HồBác Hồ thường căn dặn mọi người phải thực hành tiết kiệm, tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thời giờ, tiền bạc; phải tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, không xa xỉ, hoang phí, không bừa bãi, phô trương hình thức. Bác đã sống cả cuộc đời thanh bạch từ ăn, ở đến phương tiện sử dụng phục vụ công việc hàng ngày.

Sinh thời, để tiết kiệm thời gian, Bác dạy: “Ai mang vàng vứt đi là người điên rồ. Ai mang thời giờ vứt đi là người ngu dại”, “Từ Chủ tịch Chính phủ cho đến người chạy giấy, người quét dọn trong một cơ quan nhỏ, đều là những người ăn lương của dân, làm việc cho dân… làm việc phải đến đúng giờ, chớ đến trễ về sớm… Phải nhớ rằng: Dân đã lấy tiền mồ hôi nước mắt để trả lương cho ta trong những giờ đó. Ai lười biếng tức là lừa gạt dân”.

Nhà ở của Bác chỉ là một ngôi nhà sàn gỗ lợp ngói, trên gác có hai phòng mỗi phòng hơn 10m2, vậy mà, Bác đề nghị để đồng chí Phạm Văn Đồng sử dụng một phòng để khỏi lãng phí. Một Tổng Biên tập nước ngoài được Bác tiếp tại nơi đó đã kể lại: “Chúng tôi được dẫn vào tầng dưới ngôi nhà sàn của Bác Hồ. Chúng tôi đợi Người ở đấy. Tôi còn kịp lướt nhìn mọi thứ được xếp đặt trong phòng khách của Người. Gọi là phòng khách của vị nguyên thủ quốc gia mà thật vô cùng giản dị, có lẽ không khác những gian nhà của nông dân Việt Nam mà tôi có dịp tới. Trong gian phòng này có lẽ chỉ có bộ bàn ghế mây được coi là nổi bật”.

Bữa ăn của Bác như bữa ăn của mọi nhà: Bát canh, quả cà, con cá kho, hoặc lát thịt kho. Bác luôn nghĩ đến người nghèo “lúc chúng ta nâng bát cơm ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi đề nghị với đồng bào cả nước và tôi xin thực hành trước, cứ 10 ngày nhịn ăn 1 bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa 1 bơ) để cứu dân nghèo”. Một hôm, Bác đi họp ở đâu về, sợ Bác đói, nhà bếp vẫn để dành cơm cho Bác, nhưng Bác kiên quyết từ chối không ăn, mặc dầu Bác chưa ăn cơm. Vì hôm đó đúng bữa nhịn của Bác để góp vào hũ gạo tiết kiệm.

Khi ăn, không bao giờ Bác để rơi cơm. Đồng chí Phạm Văn Đồng có lần kể: Ăn cơm với Cụ hàng trăm lần, lần nào cũng thấy Cụ tém vén không để rơi một hạt cơm. Bởi vì Cụ trọng và tiết kiệm công sức của người làm ra lúa gạo. Chuyện nhỏ, đức lớn hài hoà ở một con người.

Khi dùng các món ăn bao giờ Bác cũng dùng hết, không để thừa lãng phí. Hồi 1957, Bác về thăm quê, lần ăn cơm với lãnh đạo tỉnh, khi đưa thêm các món ăn, Bác gạt đi: Dùng hết lấy thêm, đừng để người khác ăn thừa của mình.

15 năm cuối ở Hà Nội, lúc dân đói, kinh tế còn khó khăn, Bác đã thực hiện: Chiều thứ 7 hàng tuần ăn cháo để tiết kiệm thêm một chút gạo cho người nghèo. Dân, cán bộ ăn cơm độn ngô, khoai, sắn bao nhiêu phần trăm, thì Bác cũng thực hiện bấy nhiêu phần trăm giống như cán bộ, như dân. Khi đi công tác, Bác mang cơm nắm với muối vừng.

Một đồng chí ở Hội Luật gia Việt Nam kể lại: Đến Hội nghị Tư pháp toàn quốc năm 1950, Bác không cho Hội nghị làm cơm mời Bác. Buổi trưa, Bác bày ra bãi cỏ nắm cơm, lọ cà, lọ thịt kho và cho gọi tôi cùng ăn. Tôi gắp miếng thịt nhai không đứt, phải dúi xuống cỏ. Bác mang cơm nắm, vì rằng: Bác dặn đồng chí phục vụ đi công tác nắm cơm ở nhà đi. Trên đường tính toán đến giờ ăn dừng lại chỗ nào đó giữa đường, Bác cháu ăn với nhau. Đến nơi nói với địa phương Bác ăn cơm rồi, Bác thích thế, đỡ phiền bữa cơm, mất thời giờ của mọi người. Bác nói: Người ta dọn ra một bữa cơm sang, có khi Bác chẳng ăn đâu, nhưng rồi để lại cái tiếng đấy. Bác Hồ đến thăm cũng làm một bữa cơm sang, cũng điều người này, người khác từ giao tế sang, chuẩn bị cả buổi. Thế là tự Bác bao che cho cái chuyện xôi thịt. Như thế nắm cơm theo ăn cho tiện, ăn no rồi đến làm việc.

Bác còn chỉ thị cho những người phục vụ: Vá khăn mặt cho Bác, vá áo lót cho Bác, vá chiếu nằm cho Bác. Có lần, khi tất rách chưa kịp vá, anh em đưa đôi mới để Bác dùng. Bác cầm đôi tất xoay chỗ rách vào bên trong người Bác, rồi cười: Đấy có trông thấy rách nữa đâu… Những việc này thật quá bình thường. Nhưng trên đời này không ai làm được những điều bình thường ấy. Bác làm những điều bình thường ấy có làm cho Bác nhỏ bé đi đâu.

Mùa đông, Bác Hồ có một cái áo bông của đồng bào biếu. Bác dùng nhiều năm, mền bông xẹp xuống không ấm nữa. Nhưng không ai dám nghĩ đến việc xin Bác bỏ mền bông đi, chỉ nghĩ đến việc thay vỏ ngoài. Vì dùng mãi vỏ áo đã đứt chỉ ở khuỷu tay và ở cổ. Bác bảo mạng nó lại. Nó rách ở vai thì Bác bảo vá vai, đến khi nó rách lần hai, đồng chí phục vụ xin cho thay vỏ ngoài, Bác bảo: Này chú ạ, Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mặc áo vá vai thế này là cái phúc của dân đấy, đừng bỏ cái phúc đó đi.

Bác mặc bộ quần áo ka ki đã sờn cổ, sờn tay, xin được thay bộ khác, Bác bảo: Nếu thi sang thì thua, thi tiết kiệm thì thắng. Bác mặc như thế phù hợp với hoàn cảnh của nước của dân không phải thay. Xưởng may X biếu Bác bộ quần áo ka ki mới, Bác nhận, nhưng rồi Bác lại gửi lại xưởng may để làm phần thưởng thi đua.

Nhớ lại lần Bác sang thăm In-đô-nê-xi-a, đồng chí bảo vệ được cùng đi với Bác, và đồng chí đã sắm bộ com-lê mới. Sang bên đó, đồng chí mặc nó, thấy vậy, Bác nói với đồng chí rằng: Không phải Bác không muốn các chú ăn sang, mặc đẹp, nhưng lương của các chú có hạn, cái sang, cái đẹp dễ biến thành nô lệ của nó.

Ô tô phục vụ Bác là chiếc Pô bê đa (Thắng lợi) của Liên Xô trước đây. Đã nhiều lần Trung ương xin thay ô tô khác, nhưng Bác bảo ô tô là phương tiện phục vụ cho công việc, chứ không phải là sự phân biệt cấp bậc, chức tước, ô tô phục vụ Bác còn dùng được, không phải thay. Và một lần chiếc ô tô phục vụ Bác bị lão hoá ở vòng tay lái, toả mùi cao su khó chịu nhưng chưa kịp sửa, thì đúng lúc Bác có việc phải đi, đồng chí bảo vệ lấy chút nước hoa vẩy vào trong xe để át mùi cao su. Khi Bác lên ô tô phát hiện có mùi nước hoa, Bác tỏ ý không vui. Bác bảo: Không phải Bác không thích nước hoa, nhưng nhân dân mình còn nghèo khổ. Vị Chủ tịch của những người nghèo khổ dùng nước hoa sao đành.

Bác tiết kiệm đến cái nhỏ như tờ giấy: “Giấy bút, vật liệu đều tốn tiền của Chính phủ, tức là của dân; ta cần phải tiết kiệm. Nếu một miếng giấy nhỏ đủ viết, thì chớ dùng một tờ to. Một cái phong bì có thể dùng hai, ba lần”. Và Bác đã làm để mọi người bắt chước là hàng ngày các văn bản Bác đều viết ở mặt sau của bản tin Thông tấn xã Việt Nam; còn phong bì Bác đều dùng lại phong bì của các nơi gửi tới đến hai, ba lần.

Làm được những việc nhỏ thì sẽ thành cái to như Bác đã chỉ rõ “nơi nào cũng tiết kiệm một chút, thì trong một năm đỡ được hàng vạn tấn giấy, tức là hàng triệu đồng bạc. Nhờ tiết kiệm…mà lợi cho dân rất nhiều”. Qua những việc làm đó mà một chính khách nước ngoài được gặp Bác từ năm 1951 đã nói: Tôi hiếm khi được gặp một người sống thanh đạm đến thế và khinh thường mọi xa hoa đến thế.

Bác đã dạy: “Người ta ai cũng muốn ăn ngon, mặc đẹp, nhưng phải đúng thời, đúng hoàn cảnh. Trong lúc nhân dân còn khó khăn, một người nào đó muốn sống hưởng ăn ngon, mặc đẹp thì không có đạo đức”. Và Bác thường xuyên nhắc nhở phải coi đạo đức là cái gốc của người cách mạng, của con người, phải thực hành cần, kiệm, liêm, chính. Người chỉ rõ: “Một dân tộc biết cần, kiệm, liêm, chính là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, một dân tộc văn minh tiến bộ”.

Ôn lại những điều cụ thể trên đây về cuộc sống tiết kiệm của Bác, như đồng chí Phạm Văn Đồng đã nói: Chớ có hiểu lầm rằng, Bác Hồ sống khắc khổ theo kiểu nhà tu hành, thanh tao theo kiểu nhà hiền triết ẩn dật. Bác Hồ sống tiết kiệm, thanh bạch trong đời sống và cuộc đấu tranh gian khổ, ác liệt của quần chúng nhân dân. Đời sống vật chất càng giản dị thì càng phù hợp với đời sống tâm hồn phong phú, với những tình cảm, những giá trị tinh thần cao đẹp nhất. Đó là cuộc sống thật sự văn minh mà Bác Hồ đã nêu gương sáng.

Và cũng chính vì thế, lịch sử biến thiên, nhưng Bác Hồ vẫn sống mãi. Tuy Bác đã đi xa, nhưng con cháu Bác vẫn hàng ngày tìm về cái đẹp cuộc đời Bác nêu gương để chau chuốt cái đẹp cho đời. “Học tập, làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ” chính là học tập và làm theo những mẫu mực cao đẹp đó của Người.

Theo TS. Trần Viết Hoàn
Nguyên Giám đốc Khu di tích Phủ Chủ tịch/ VietNamnet

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn