Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Những ngày giải phóng quận lỵ Hướng Hóa

Kỷ niệm 45 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968

QĐND – Đã 45 năm trôi qua, nhưng với Trung tướng Nguyễn Ân, những kỷ niệm khi trên cương vị Trung đoàn trưởng Trung đoàn 66, Sư đoàn 304 chỉ huy đơn vị lần đầu tiên vào chiến trường miền Nam chiến đấu tại Mặt trận Đường 9 thời điểm Tết Mậu Thân năm 1968 vẫn còn nguyên vẹn trong tâm trí về một thời trận mạc… Ông bồi hồi nhớ lại:

Cuối năm 1967, sau hai mùa khô đọ sức quyết liệt với quân viễn chinh Mỹ, ta đã tích lũy nhiều kinh nghiệm, thế trận chiến tranh nhân dân được xây dựng vững chắc. Trên các địa bàn quân và dân ta đã đánh bại một bước cuộc chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ, dồn chúng vào thế “tiến thoái lưỡng nan” và bắt đầu tụt hạng ở chiến trường. Về thế trận, cho phép ta chuyển cuộc chiến tranh cách mạng sang một thời kỳ mới. Trên cơ sở đó, tháng 12-1967, Bộ Chính trị đã có Nghị quyết lãnh đạo sáng tạo và kiên quyết, xác định: “Nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta là động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng lên một bước phát triển mới, bằng phương pháp tổng công kích-tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi có ý nghĩa quyết định”.

Trung tướng Nguyễn Ân (bên phải) và đồng đội cũ chụp ảnh lưu niệm.

Để thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị, tại mặt trận Đường 9, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh đã quyết định tăng cường cho Bộ tư lệnh B5, cử Thiếu tướng Trần Quý Hai, Phó tổng tham mưu trưởng làm Tư lệnh, Thiếu tướng Lê Quang Đạo, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy và đưa thêm các Sư đoàn 320, 304, cùng một số binh chủng vào chiến đấu. Trung đoàn 66 do tôi làm Trung đoàn trưởng, trong đội hình Sư đoàn 304 được lệnh hành quân vào chiến trường miền Nam và được giao nhiệm vụ tác chiến trên chiến trường chiến lược Đường 9 – Bắc Quảng Trị, tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng của Mỹ-ngụy, chủ yếu là quân Mỹ; thu hút giam chân địch; hiệp đồng chặt chẽ với chiến trường toàn miền Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho Trị Thiên-Huế nổi dậy…

Đảng ủy Mặt trận B5 chủ trương tổ chức, sử dụng lực lượng làm hai hướng: Hướng phía Tây, mục tiêu chủ yếu là Khe Sanh, cụm phòng ngự liên hoàn kiên cố nhất của Mỹ-ngụy ở Tây Đường 9 được xác định là hướng chủ yếu, do Sư đoàn 304 và Sư đoàn 325 đảm nhiệm. Hướng phía Đông gồm hệ thống căn cứ hành quân, hỏa lực, hậu cần của địch từ Cửa Việt, Đông Hà đến tận Cù Tu là hướng quan trọng do Sư đoàn 320 và Sư đoàn 324 đảm nhiệm. Lực lượng pháo binh có Trung đoàn 675 và Trung đoàn 45 pháo binh dự bị chiến lược của Bộ tham gia. Về thiết giáp có Tiểu đoàn 198 xe tăng được tăng cường cho hướng trọng điểm Khe Sanh. Đây là lần đầu tiên xe tăng của ta có mặt ở chiến trường miền Nam. Thời gian mở đợt tấn công trên mặt trận Đường 9 xác định vào khoảng cuối tháng 2-1968. Trong thời điểm đối phương tăng cường lực lượng lớn, có lúc lên tới 50 vạn quân Mỹ và chư hầu, chưa kể lực lượng ngụy quân. Việc mở chiến dịch lớn tại Tây Nam giới tuyến quân sự tạm thời, trên địa bàn rộng buộc địch phải điều động lực lượng, trang bị lớn để đánh trả là đòn tấn công chiến lược, tạo điều kiện cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta.

Sau khi nhận nhiệm vụ ở mặt trận đêm 14-1-1968. Lúc này ta dự định nổ súng mở màn chiến dịch vào ngày 20-1-1968, sớm hơn so với kế hoạch một tháng. Công tác chuẩn bị chiến đấu hết sức khẩn trương do thời gian chuẩn bị chỉ có 4 đến 5 ngày là rất gấp. Sư đoàn 304 được tăng cường Tiểu đoàn Xe tăng 198, một trung đoàn cao xạ, có nhiệm vụ mở màn chiến dịch giải phóng đoạn từ Khe Sanh đến Lao Bảo. Quyết tâm của Sư đoàn sử dụng Trung đoàn 24 và một số xe tăng đánh chiếm Huội San, sau đó phát triển về tấn công Làng Vây; Trung đoàn 9 sẵn sàng đánh viện; Trung đoàn 66 của chúng tôi có nhiệm vụ đánh chiếm quận lỵ Hướng Hóa. Đây là một thử thách khắc nghiệt ngay từ trận đầu đối với sư đoàn vì trong một thời điểm phải triển khai hai trận đánh công sự vững chắc, với yêu cầu phải bảo đảm thắng lợi để mở màn cuộc tấn công lịch sử.

Nhiệm vụ Trung đoàn 66 là nhanh chóng đưa bộ đội vào tiến công mở màn, trước hết tiêu diệt chi khu quân sự và quận lỵ Hướng Hóa, sau đó chốt giữ không cho địch chiếm lại. Trước khi nổ súng phải có lực lượng chiếm giữ Ku Bốc và Cao điểm 471, sử dụng một tiểu đoàn bám đường 9 chuẩn bị đánh viện. Triển khai nhiệm vụ, 14 giờ ngày 18-1-1968, Đảng ủy, chỉ huy trung đoàn hạ quyết tâm: Sử dụng Tiểu đoàn 7 được tăng cường Đại đội ĐKZ 82, cùng một trung đội vận tải, một trung đội đặc công có nhiệm vụ tiêu diệt địch ở quận lỵ Hướng Hóa. Tiểu đoàn 9 đưa một đại đội chốt ở đồi Ku Bốc, lực lượng còn lại chuẩn bị đánh địch ở Đông Nam đồi Ku Bốc. Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 66, lần đầu vào chiến trường miền Nam đánh Mỹ, vào ngay khu vực gần giới tuyến giữa miền Nam và miền Bắc, là cửa ngõ đường tiếp tế của quân ta từ Bắc vào Nam; khu vực Khe Sanh – Đường 9, Mỹ-ngụy tăng cường lực lượng phòng thủ chặt chẽ, xa căn cứ thì chúng dùng máy bay B-52 hoặc máy bay chiến thuật rải bom, hoặc dùng pháo tầm gần, tầm xa bắn phá. Ngay ngày đầu đơn vị vào vị trí tập kết đã bị B-52 rải thảm và pháo của chúng kết hợp với nhau bắn phá kéo dài 15-20 phút. Khi bị B-52 rải thảm, lúc đầu chúng tôi còn tranh luận nhau là B-52 rải thảm hay là pháo chúng bắn, vì sau B-52 rải thảm, là pháo của chúng bắn trùm lên…

Mọi công tác chuẩn bị cho trận mở màn, từ khâu nắm địch tới việc điều động lực lượng, kế hoạch chi tiết của từng bộ phận đảm bảo bí mật. Đúng 14 giờ, ngày 20-1-1968, đơn vị vừa nhô ra khỏi công sự thì bị B-52 rải thảm, may không có ai hy sinh, vài người bị thương nhẹ. Do chưa có kinh nghiệm chuẩn bị đường xuất kích, chỉ chuẩn một đường nên khi B-52 rải thảm và pháo bắn, cây cối đổ ngổn ngang lấp hết đường đi, bộ đội mang vác nặng không sao đi nhanh được, trong khi máy bay OV10 bay liệng và pháo sáng liên tục. Nhưng đúng 5 giờ ngày 21-1-1968 theo hiệp đồng đơn vị đã tiếp cận được mục tiêu. Trời vừa sáng, địch đã phát hiện ra ta tiếp cận vị trí của chúng. Tình thế hết sức khẩn trương, tâm trạng chúng tôi lúc này rất căng thẳng, thì bất ngờ pháo binh của ta đồng loạt thực hiện một trận bão lửa mãnh liệt vào sân bay, sở chỉ huy, các trận địa pháo của địch ở Tà Cơn, Hướng Hóa, các điểm cao 832, 471….

Đúng 5 giờ 10 phút, tôi ra lệnh nổ súng, các loại hỏa lực dồn dập chế áp hỏa điểm địch, yểm trợ cho bộc phá viên lên mở cửa. Trung đội bộc phá mở được 4 hàng rào, còn một hàng rào sát lô cốt có một khẩu đại liên bắn ra rất mãnh liệt. Đồng chí Tiểu đoàn trưởng và bộc phá viên bị hy sinh ngay sát hàng rào. Lúc 5 giờ 40 phút, tôi lên quan sát và lệnh cho ĐKZ cơ động vào cửa mở diệt hỏa điểm của địch. Bất ngờ một loạt đạn của địch từ trong bắn ra, một viên trúng vào chiếc mũ sắt của tôi đang đội trên đầu, khiến cho chiếc mũ xoay 180 độ về sau. Tôi choáng váng ngồi xuống và chợt nhớ ra hôm trước khi trinh sát chúng tôi phát hiện có một cửa ngách bên khu gia binh thông vào đồn, không có người canh gác. Tôi quyết định để một bộ phận kiềm chế địch, còn phần lớn lực lượng chuyển hướng sang khu gia binh để đột nhập vào qua cửa ngách, ở đó địch mỏng yếu. Quân ta nhanh chóng tiến công vào bên trong, phát triển chiến đấu rất nhanh, chiếm lĩnh các vị trí khiến cho địch không kịp đối phó.

Cũng thời gian này, đúng như ta đã dự kiến, khi ta tiến công Hướng Hóa, địch điều ngay Đại đội 258 địa phương đổ bộ đường không xuống Ku Bốc. Đại đội 11, Tiểu đoàn 9 của trung đoàn tôi bố trí phục sẵn ở đó, giữ được bí mật, khi máy bay địch lượn khắp cũng không phát hiện ra, nên khi đổ quân xuống liền bị ta tiêu diệt gọn, sau gần 50 phút chiến đấu. Phân đội súng máy 12,7mm của ta còn bắn rơi tại chỗ 3 chiếc trực thăng. Khi bắt được tù binh chúng khai: “Chúng tôi thấy thấp thoáng có lính đội mũ sắt nhưng cho rằng, Việt cộng làm gì có mũ sắt, thế là chúng tôi cứ đổ quân xuống…”. Thật là bất ngờ thú vị, vì lần đầu tiên bộ đội chủ lực miền Bắc được Liên Xô trang bị mũ sắt và nhờ đó ta đã giữ được bí mật tại đây.

Bước vào chiến dịch, chỉ trong 18 ngày, Trung đoàn 66 cùng với các đơn vị trong Sư đoàn 304 đã đánh 3 trận diệt địch trong công sự vững chắc, diệt 3 cứ điểm quan trọng của địch ở Huội San, Hướng Hóa và Làng Vây. Cụm cứ điểm Tà Cơn do quân Mỹ chiếm đóng bị cô lập ở giữa lòng chảo Khe Sanh. Sư đoàn 304 và Sư đoàn 325 được Bộ tư lệnh chiến dịch giao nhiệm vụ chuyển sang bao vây đánh lấn Tà Cơn. Đến ngày 10-2-1968, Trung đoàn 9, Sư đoàn 304 cùng Trung đoàn 95C và Trung đoàn 101Đ của Sư đoàn 325 và bộ đội địa phương Hướng Hóa đã tổ chức được 13 trận vây lấn xung quanh Tà Cơn. Từ hướng Bắc, Tây và Tây Bắc, Trung đoàn 95C và Trung đoàn 101Đ cũng tiến vào vây lấn Tà Cơn. Những trận đánh liên tiếp của các trung đoàn của ta đã trở thành những mũi tiến công sắc nhọn ngày càng cắm sâu vào căn cứ địch. Mỹ đã dùng máy bay chiến lược B-52 thả gần 60.000 tấn bom, bắn hàng chục vạn quả đạn pháo, nhưng các trận địa vây lấn của ta vẫn đứng vững. Báo chí phương Tây và dư luận đã phải nói đến hình ảnh một Điện Biên Phủ mới. Tổng thống Giôn-xơn khi đó yêu cầu tham mưu liên quân “ký bản cam kết rằng Khe Sanh sẽ được giữ vững”.

Những ngày cuối tháng 3-1968, các trận vây lấn của ta khép chặt vòng vây. Trong 50 ngày đêm, các đơn vị tiêu diệt 3000 tên địch, bắt sống 217 tên, bắn rơi và bắn cháy tại sân bay 279 máy bay các loại, phá hủy rất nhiều vũ khí, kho tàng của địch. Tình hình Khe Sanh làm cho bọn hiếu chiến ở Nhà trắng và Lầu Năm Góc đau đầu. Tại Quốc hội Mỹ đã nổ ra cuộc tranh luận rất gay gắt về việc giữ hay không giữ Khe Sanh. Ngày 26-6-1968, địch buộc phải tuyên bố rút khỏi Khe Sanh. Ngày 9-7-1968, cờ giải phóng đã cắm trên cột cờ sân bay Tà Cơn….

45 năm nhìn lại tôi càng thấy rõ hơn tầm chiến lược của Đảng. Thắng lợi trên các chiến trường cùng với thắng lợi của cuộc Tổng tiến công nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã làm cho địch “xuống thang”, tạo bước phát triển mới của cuộc chiến tranh, là tiền đề, động lực để quân và dân ta giành những thắng lợi to lớn hơn, tiến tới ngày toàn thắng…

Trung tướng NGUYỄN ÂN (kể) – Xuân Dân (ghi)
qdnd.vn

Sáng tạo độc đáo của nghệ thuật quân sự Việt Nam

Kỷ niệm 45 năm cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968

QĐND – Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đúng lúc Giao thừa Tết Mậu Thân 1968, toàn quân và toàn dân ta ở miền Nam đã mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy, đồng loạt đánh vào hầu hết các thành phố lớn, đặc biệt là Sài Gòn và Huế, các thị xã, thị trấn, chi khu, quận lỵ, các sân bay và căn cứ hậu cần của Mỹ, quân đội Sài Gòn trên toàn chiến trường miền Nam Việt Nam.

Cuộc tiến công táo bạo bất ngờ đã tiêu diệt bộ phận quan trọng sinh lực cấp cao của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, đánh chiếm những mục tiêu hiểm yếu như Đài phát thanh, Tòa đại sứ Mỹ, đánh vào Bộ Tổng tham mưu, Tổng nha Cảnh sát ngụy ở Sài Gòn, đánh vào nội thành và làm chủ trong một thời gian dài ở Cố đô Huế, phá hủy một khối lượng quan trọng các phương tiện chiến tranh và cơ sở hậu cần-kỹ thuật hiện đại nhất của Mỹ và chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ.

Đây là thắng lợi tạo ra bước ngoặt quyết định của cuộc kháng chiến, làm lung lay tận gốc ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải bắt đầu xuống thang chiến tranh, là một sáng tạo độc đáo của nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Bộ đội ta tiếp cận mục tiêu tiến công thị xã Bến Tre trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Ảnh tư liệu.

Ngay từ đầu năm 1965, trước sự phá sản của chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, Mỹ chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ”, xuất con chủ bài quân viễn chinh Mỹ, đưa ồ ạt quân Mỹ vào tham chiến trên quy mô lớn ở miền Nam, với tham vọng bẻ gãy xương sống Việt Cộng và chụp bắt cơ quan đầu não kháng chiến của ta, đồng thời đẩy mạnh chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc nước ta. Tham vọng của Mỹ khi tiến hành chiến tranh cục bộ là đánh bại cách mạng miền Nam Việt Nam trong vòng từ 25 đến 30 tháng, với kế hoạch 3 giai đoạn, hai cuộc phản công chiến lược, mà giai đoạn 3 được dự tính là hoàn thành việc tiêu diệt khối chủ lực ta, tiếp tục bình định miền Nam, rút quân Mỹ về nước vào cuối năm 1967.

Trước âm mưu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta đã đánh giá đúng tình hình chiến lược, tạo sự nhất trí cao trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Giữa lúc đế quốc Mỹ ở thế ngập ngừng về chiến lược, giới cầm quyền Mỹ dao động và trong thời điểm rất nhạy cảm của năm bầu cử tổng thống Mỹ, Đảng ta quyết định phải giáng một đòn bất ngờ thật mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ, bằng cách chọn hướng chiến lược hiểm và dùng cách đánh mới, tạo ra một bước ngoặt lớn, làm thay đổi cơ bản cục diện chiến tranh có lợi cho ta, đưa cách mạng và chiến tranh cách mạng miền Nam chuyển sang một thời kỳ mới, thời kỳ giành thắng lợi quyết định.

Sự sáng tạo về nghệ thuật quân sự của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là ở cách đánh chưa từng diễn ra trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ và cả trong lịch sử chiến tranh trên thế giới, khiến cho Mỹ và chính quyền Sài Gòn bị động, bất ngờ.

Đó là sự sáng tạo của phương châm ba vùng chiến lược. Nếu không có ba vùng chiến lược được xây dựng từ nhiều năm với những cơ sở vững mạnh và quần chúng đông đảo ủng hộ thì không thể có chiến tranh ở thành thị, nhất là ở các thành phố trọng điểm Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng là những trung tâm chính trị, quân sự. Đánh vào đây là đánh vào các cơ quan đầu não, các trung tâm chỉ huy, đánh vào sinh lực cao nhất của địch, chỗ hiểm yếu, dễ chấn động và nhạy cảm nhất của chúng.

Đó là sự sáng tạo của việc vận dụng hai lực lượng chính trị và quân sự để giành thắng lợi cả chính trị và quân sự, sáng tạo về hình thức tiến công đồng loạt để tạo hiệu lực như một đòn sét đánh. Để đồng loạt tiến công ở 41 thành phố và thị xã thì phải có một thời gian chuẩn bị dài, phải dự trữ một khối lượng vật chất lớn, đặc biệt là phải giữ được bí mật. Chỉ khi nhân dân có giác ngộ chính trị cao, có lòng nồng nàn yêu nước mới sáng tạo ra trăm phương nghìn kế để tạo ra chỗ giấu quân, để đưa hàng trăm tấn vũ khí, đạn dược vào ngay sào huyệt của địch; sẵn sàng hy sinh cả tính mạng và của cải để bảo vệ các lực lượng cách mạng, để tiếp sức cho các LLVT chiến đấu trong thành phố. Mục tiêu cao nhất của cuộc tổng tiến công là đánh vào ý chí của địch, làm cho chúng lung lay tận gốc, làm nản chí cả những kẻ hiếu chiến nhất, làm náo động cả nước Mỹ, đẩy cuộc chiến tranh ngay trong lòng nước Mỹ lên một bước mới. Trong khi đó, ta tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta.

Đó còn là sự sáng tạo trong lựa chọn thời cơ chiến lược. Ta tiến hành tổng tiến công và nổi dậy vào lúc số lượng quân Mỹ đông nhất, sau gần 3 năm thực hiện chiến lược chiến tranh cục bộ, đang ở vào thế “tiến thoái lưỡng nan”. Ta chọn thời cơ vào năm bầu cử tổng thống Mỹ, tình hình nước Mỹ rất nhạy cảm về chính trị, áp lực quân sự vào thời điểm này có thể tạo ra hiệu lực lớn. Đây là thời cơ ta lựa chọn đúng lúc, đạt hiệu quả cao. Hai tháng sau cuộc tổng tiến công của ta, ngày 31-3, tổng thống Mỹ Giôn-xơn tuyên bố đơn phương ngừng bắn phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, chấp nhận đàm phán với ta ở Hội nghị Pa-ri, không ra ứng cử nhiệm kỳ thứ hai. Trên thực tế, Mỹ đã mặc nhiên thừa nhận một cách đầy đủ sự phá sản của chiến lược chiến tranh cục bộ, tạo ra bước ngoặt mới của cách mạng nước ta.

Đại tá, PGS, TS TRẦN NAM CHUÂN
qdnd.vn

Vừa hành quân, vừa đánh địch

QĐND – Chiều 29-1-1968 (tức ngày 30 Tết), Tiểu đoàn 52 Tỉnh đội Bình Định nhận được lệnh của trên hành quân đến rìa núi xã Phước Long thuộc huyện Tuy Phước nhận nhiệm vụ chiến đấu và khẩn trương làm công tác chuẩn bị để hành quân đến vị trí tập kết đúng giờ quy định.

Đêm 30 Tết, trời tối như bưng, Tiểu đoàn hành quân băng rừng trong ánh đuốc lồ ô. Khi Giao thừa đến, Ban chỉ huy Tiểu đoàn 52 cho bộ đội dừng lại khoảng 5 phút nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh chúc Tết. Giọng Bác Hồ ấm áp như tiếp thêm sức mạnh để cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn tiếp tục hành quân vào trận đánh.

Đến vị trí tập kết ở xã Phước Long, Tiểu đoàn 52 được giao nhiệm vụ đánh địch ở vòng ngoài, kìm chân địch, uy hiếp cửa ngõ chính vào thành phố Quy Nhơn để các đơn vị bạn tiến công địch trong thành phố. Dù chưa kịp chuẩn bị, nhưng do thông thạo địa bàn, sáng ngày 31-1-1968 (Mồng Một Tết Mậu Thân), tiểu đoàn nổ súng đánh địch ở xã Phước Long. Bị đánh bất ngờ, lực lượng địch đồn trú ở khu vực ga Diêu Trì nhanh chóng bị tiêu diệt, tiểu đoàn làm chủ đoạn đường sắt đi qua khu vực này. Khoảng 9 giờ sáng, địch huy động một tiểu đoàn lính Nam Hàn phản kích, Tiểu đoàn 52 bám trụ đánh địch, đến 16 giờ, ta mới rút về dãy núi Phước Long để củng cố lực lượng.

Trong đêm Mồng Một và sáng Mồng Hai Tết Mậu Thân, địch tăng cường lực lượng, chặn ven rìa núi đánh chặn quân ta. Ban chỉ huy Tiểu đoàn 52 tổ chức lực lượng đánh địch, vượt qua tuyến ngăn chặn của quân Nam Hàn, tập kích tiêu diệt một đại đội địch ở thôn Lập Lễ (xã Phước Long), khẩn trương xây dựng công sự trụ lại đánh địch. Các chốt của tiểu đoàn đẩy lui nhiều đợt phản kích của địch, tạo điều kiện cho các đơn vị của ta đánh vào thành phố Quy Nhơn.

Khi các đơn vị bạn rút khỏi thị xã Quy Nhơn, Tiểu đoàn 52 được lệnh rút về khu vực núi Mun (Phú Tài). Trên đường về vị trí tập kết, Tiểu đoàn tổ chức tập kích một đại đội bảo an của địch ở Tây Định, sau đó tiến công bọn lính Tân Tây Lan đánh thuê cho Mỹ đóng quân ở Lộc Trung (Phước Sơn), gây cho địch nhiều tổn thất.

Vừa hành quân vừa phối hợp với các đơn vị bạn chiến đấu, Tiểu đoàn 52 đã đánh nhiều trận, tiêu diệt hai đại đội bảo an địch và hàng chục tên lính Nam Hàn, Tân Tây Lan đánh thuê cho Mỹ, góp phần vào thắng lợi của cuộc tổng tiến công Xuân Mậu Thân 1968 ở Bình Định.

QUANG PHÁT
qdnd.vn

Tết Mậu Thân diệt đồn Giồng Ông Đôn

QĐND Online – “Đặc khu rừng Sác”, cái tên đã đi vào lịch sử dân tộc như một bản hùng ca gắn liền với những chiến công oanh liệt của Đoàn 10 trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Người được mệnh danh là “pho sử sống”, từng là “linh hồn” của đặc công rừng Sác chính là Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Lê Bá Ước (bảy Ước) nguyên Trung đoàn trưởng, kiêm Chính ủy Đoàn 10. Trong hàng nghìn trận đánh của đặc công rừng Sác thì trận tiêu diệt đồn Giồng Ông Đôn, thuộc xã Phú Hữu, huyện Nhơn Trạch (Đồng Nai) diễn ra đúng vào đêm mùng Một Tết Mậu Thân năm 1968, thể hiện rõ bản lĩnh, tài thao lược của vị chỉ huy huyền thoại này.

Trong căn nhà ấm cúng của Đại tá Lê Bá Ước ở phường Quyết Thắng, TP Biên Hòa một ngày giáp Tết Quý Tỵ, chúng tôi có dịp được nghe ông kể về trận đánh năm xưa.

– Trước Tết Mậu Thân mấy ngày, trung đoàn tôi được lệnh của Bộ chỉ huy Miền tổ chức đánh địch theo chỉ đạo tổng tiến công. Vốn là đơn vị đặc công chuyên sử dụng thuốc nổ với kỹ thuật cá nhân là chính, anh em rất ít khi chạm tới súng hay cuốc, xẻng bộ binh. Hơn nữa, chúng tôi hầu như không được trang bị các loại vũ khí và dụng cụ này. Nhưng với tinh thần tổng tiến công, tôi và đồng chí Tám Sơn (lúc bấy giờ là Trung đoàn trưởng) đã bàn bạc, thống nhất tiêu diệt đồn Giồng Ông Đôn, nơi có một đại đội bảo an đóng giữ, thường xuyên đàn áp nhân dân xã Phú Hữu. Sau khi triển khai kế hoạch công đồn, tinh thần bộ đội phấn khởi và đầy khí thế quyết tâm. Có lẽ bởi lính đặc công quen đánh bí mật, nhỏ lẻ, tác chiến độc lập nên khi được đánh trực diện với quân địch anh em háo hức lắm! Các đơn vị từ Cần Giờ, Nhơn Trạch đến Cát Lái đều bám sát ấp chiến lược quên cả ngày Tết, luôn trong tư thế sẵn sàng đợi lệnh. Mặc dù thời gian gấp, chưa điều nghiên kỹ về địch, nhưng với khí thế hừng hực chúng tôi vẫn xốc lại lực lượng, lựa chọn một bộ phận khẩn trương thực thi phương án. Ngày mùng Một Tết, tôi bí mật vào trong dân tìm hiểu thêm tình hình. Bà con Phú Hữu thông báo rõ quy luật hoạt động của tụi bảo an và cho biết chỉ huy đồn Giồng Ông Đôn là tên chuẩn úy Sáu, quê ở Bến Tre. Đột nhiên, tôi nảy ra sáng kiến, ngay đêm hôm đó, trong khi đơn vị triển khai đội hình, tôi nhờ một cụ già ở địa phương dẫn đường đưa tới gần phía trước đồn địch. Lựa chỗ có địa hình thuận lợi, tôi bắc loa kêu gọi dõng dạc: “Chuẩn úy Sáu, tôi biết rõ anh quê ở Bến Tre và đang chỉ huy lực lượng bảo an ở đây. Ngày Tết cổ truyền, cha mẹ, vợ con anh đang mong đợi. Hiện nay, cách mạng đang tổng tiến công mãnh liệt ở mọi nơi, anh hãy buông súng và đưa lính ra đầu hàng ngay thì chúng tôi không tiến công đồn. Bằng không, tất cả sẽ bị tiêu diệt”. Tôi gọi loa mấy lần liên tiếp, trong đêm tối nghe vọng tận tâm can.

Đại tá Lê Bá Ước đang giới thiệu kỷ vật là chiếc đế giầy còn lại của phi công Mỹ sau khi bị cá sấu rừng Sác ăn thịt

– Tụi chúng có phản ứng gì không, thưa chú? – Tôi sốt sắng hỏi chen ngang. Ông Ước cười:

– Lúc đầu tụi chúng im phăng phắc. Dường như lời kêu gọi của tôi đã làm nao núng tinh thần phần đông tụi lính nên chỉ ít phút sau một số thằng bỏ chạy ra bờ ruộng, một số chạy thục mạng về sau, trong đó có cả tên chuẩn úy Sáu.

– Vậy là các chú chưa đánh mà địch đã tự rút khỏi đồn. Tên chỉ huy cũng trốn chạy thì tụi lính còn tâm trạng đâu mà chống đỡ! – Tôi nói như để chia sẻ cùng ông. Đại tá Ước lắc đầu:

– Trong đồn còn thằng chỉ huy phó cùng mấy đứa ác ôn hô nhau bám trụ chống trả. Chúng bắn xối xả về phía tiếng loa. Tôi liền rút nhanh khỏi đó. Đồng chí Tám Sơn ra lệnh cho đơn vị tiến công. ĐKZ 75 và súng máy 12,7 ly của trung đoàn đồng loạt nổ giòn giã. Đặc công xé hàng rào áp sát đồn địch, tiêu diệt mấy lô cốt xung quanh và quá nửa số lính của đại đội bảo an. Nhưng do nắm địch không kỹ địch nên chúng tôi không phát hiện được vị trí khẩu đại liên của chúng. Đến lúc này mới thấy hỏa lực của nó nguy hiểm. Khẩu ĐKZ duy nhất của đơn vị lại hết đạn, 12 ly 7 cũng bị trục trặc. Xung kích 1 đã phát triển vào bên trong, xung kích 2 gặp khó khăn bởi khẩu đại liên bắn quá dữ. Đồng chí Tám Sơn bò tới chỗ tôi, nói: “Anh Bảy, cho xung kích 3 lên thôi”. Tôi lưỡng lự suy tính. Vừa lúc đó tôi nhận được báo cáo, có 2 trường hợp hy sinh sau khi cắt hàng rào lô cốt, trong đó có đồng chí Nguyễn Văn Nở là Chủ nhiệm trinh sát trung đoàn. Cái tin ấy làm tôi thêm dứt khoát, quyết đoán. Tôi nói với đồng chí Trung đoàn trưởng: “Không nên đưa xung kích 3 vào nữa mà tổ chức rút quân ngay bởi bộ đội ta ít kinh nghiệm công đồn theo kiểu bộ binh. Nếu tiếp tục kéo dài sẽ bất lợi, nhất định bọn chúng sẽ gọi hỏa lực chi viện. Nhưng trước khi rút, phải cử người bí mật tiếp cận, dùng lựu đạn tiêu diệt cho được khẩu đại liên bên trong rồi rút về căn cứ”. Đồng chí Tám Sơn nhất trí, hạ lệnh lui quân. Lúc đó là 4 giờ sáng ngày mùng 2 Tết. Đúng như dự tính của tôi, khoảng 30 phút sau, tụi Mỹ cho pháo kích dữ dội xung quanh khu vực đồn rồi ồ ạt đổ quân xuống ứng cứu. Ngồi trên xuồng về cứ, Tám Sơn gật gù: Anh Bảy liệu việc hay dữ!

– Còn khẩu đại liên, các chú có diệt được không? – Tôi băn khoăn hỏi. Ánh mắt vị thủ lĩnh đặc công rừng Sác vụt sáng lên:

– Diệt được chứ, đặc công mà! Tôi xuống xuồng ngồi đợi, chừng hơn chục phút sau thì nghe tiếng lựu đạn nổ. Ngay lập tức tiếng đại liên im bặt, thế là biết nó bị “hạ” rồi. Cho dù chúng có ngụy trang kín đến mấy nhưng khi đã bắn là sẽ lộ mục tiêu. Chỉ cần thế thôi, lính của tôi sẽ có cách bịt miệng nó ngay.

Vậy là, trận tiến công đồn Giồng Ông Đôn, mặc dù đánh không đúng sở trường, nhưng Đoàn 10 đặc công rừng Sác vẫn hoàn thành tốt nhiệm vụ, tiêu diệt và làm mất sức chiến đấu của gần 1 đại đội bảo an. Cũng trong thời điểm ấy, các đơn vị của Đoàn đồng loạt triển khai tiến công ở nhiều nơi trên địa bàn giáp ranh Sài Gòn. Cả đặc khu rừng Sác hừng hực khí thế tổng tiến công đánh vào những mục tiêu trọng yếu làm lung lay tinh thần quân địch, mở đường cho thắng lợi cuối cùng.

Trước khi chia tay, Đại tá Lê Bá Ước bảo tôi: “Trận thắng đầu xuân Mậu Thân 1968 đã tạo đà cho chúng tôi mở rộng địa bàn hoạt động, vận dụng nhiều cách đánh thích hợp để tiêu diệt quân thù. Đây là dấu ấn quan trọng trong nghệ thuật quân sự độc đáo của bộ đội đặc công”. Nói rồi, ông nở nụ cười mãn nguyện nồng nàn hơi ấm mùa xuân.

Bài và ảnh: HOÀNG THÀNH
qdnd.vn

Nhớ lời Bác Hồ căn dặn tại Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ II

(TCTG)- Từ tuổi trẻ của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu và đồng cảm với thanh niên sinh viên – đó là lớp người trẻ tuổi đang chuẩn bị bước vào đời, khát khao lý tưởng, có nhiều hoài bão. Là những người ham hiểu biết, khám phá, cũng ham hành động, lại nhiều xúc cảm, dễ chịu tác động của tập thể và đặc biệt là đó mới chỉ là lớp người đang trưởng thành, chứ chưa phải là những người trưởng thành nên họ rất dễ vấp ngã, nản lòng. Từ đó, Người khuyên sinh viên hãy thực hiện “6 cái yêu”. Theo Người, 6 điều đó, vừa thể hiện rõ tinh thần và quyết tâm của tuổi trẻ, vừa là cái đích để mỗi sinh viên hướng tới và phấn đấu.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo đến thế hệ trẻ, trong đó sinh viên là những “người lao động trí óc trẻ” được Bác chú trọng nhiều. Người thư­ờng xuyên thăm hỏi, động viên họ, khuyến khích họ miệt mài học tập và không ngừng tu dưỡng đạo đức cách mạng, để trở thành những người có đức, có tài, đóng góp sức mình vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong hành trình tìm đ­ường cứu n­ước, tìm con đường giải phóng dân tộc, đem lại tự do hạnh phúc cho đồng bào, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã sớm quan tâm đến “bộ phận quan trọng” này của dân tộc. Người đã cổ vũ, cuốn hút những thanh niên, sinh viên Việt Nam, đưa họ đến với cách mạng bằng chính những năm tháng tuổi trẻ đầy nhiệt huyết cách mạng và khát khao đấu tranh ginàh độc lập cho dân tộc, tự do cho đồng bào của mình. Khi nước nhà chưa giành được độc lập, từ điều kiện cụ thể của Việt Nam, một đất nư­ớc với hơn 90% dân số là nông dân, đa phần là mù chữ, Người đã bằng những hoạt động thiết thực của mình, tuyên truyền, khuyến khích và tạo điều kiện giúp họ được học hành để góp sức cho cách mạng.

Sau khi cách mạng thành công, tin yêu và hy vọng ở thanh niên, sinh viên, những con ng­ười như­ Lênin nói: Nhiệm vụ thật sự xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa chính là của thanh niên, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Thanh niên là người chủ tư­ơng lai của nư­ớc nhà. Thật vậy, nư­ớc nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”[1]. Để thanh niên có thể trở thành những ng­ười chủ xứng đáng, những con ngư­ời đủ đức, đủ tài, gánh vác đư­ợc những trọng trách mà cách mạng giao phó, bên cạnh việc tự bản thân họ phải rèn luyện, tu d­ưỡng đạo đức, năng lực chuyên môn, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng đã luôn tạo điều kiện để họ được học tập, được sinh hoạt trong tổ chức và hư­ớng dẫn họ tập dư­ợt làm việc, để họ ngày một trưởng thành và đảm đương tốt những nhiệm vụ đ­ược giao.

Không chỉ dừng lại ở việc hoạch định một chiến lược đào tạo con người, đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp cách mạng lâu dài, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thông qua những bức thư, những bài phát biểu thể hiện rõ sự quan tâm của mình đối với thanh niên. Đến thăm và nói chuyện với các sinh viên Việt Nam tại Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ II (5-7/5/1958), Người nói: Hồi Người còn đồng tuổi với các sinh viên, những người đang được hưởng sự chăm lo, giáo dục của chế độ xã hội mới, được Đảng và Chính phủ nâng niu giúp đỡ, thì Người không có điều kiện được học hành như họ, mà phải “đi rửa bát hoặc làm nhiều công việc khác để lấy tiền mà đi học”. Hơn nữa, khi đó đất nước đang đắm chìm trong đêm trường nô lệ, người dân thuộc địa không có một chút tự do dân chủ nào, nên không được học hành “cho đến nơi đến chốn”, và càng không thể “phát triển hết khả năng của mình”. Tuy nhiên, đánh giá đúng vị trí và vai trò của thanh niên (sinh viên) trong sự nghiệp giải phóng và xây dựng đất nước sau này, ngay từ những ngày cách mạng còn trong thời kỳ trứng nước, cùng với việc tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, Hồ Chí Minh khi đó với tầm nhìn chiến lược cảu một vị lãnh tụ, đã kịp gửi những thanh niên Việt Nam đi đào tạo ở trường Quân sự Hoàng Phố, ở trường Đại học phương Đông Mátxcơva, trường Không quân Mátxcơva, v.v..

Và sau 9 năm kháng chiến, miền Bắc đã được giải phóng. Sau những năm dài chiến tranh, một kỷ nguyên mới với những nhiệm vụ mới, nhằm hướng đích Độc lập tự do và CNXH đang đòi hỏi sự cố gắng phấn đấu về mọi mặt của thanh niên, đặc biệt là những sinh viên- “những người đang được đào tạo dưới mái trường XHCN”. Nhấn mạnh điều này, Hồ Chí Minh khẳng định: họ là những người không chỉ tiếp sức cho thế hệ già, mà còn có trách nhiệm dìu dắt các em nhỏ và chính họ là thế hệ, là lớp người kế cận, tiếp tục tực hiện con đường mà Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn, trong hành trình đấu tranh vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, tự do và CNXH.

Đề cao nhiệm vụ đào tạo và phát triển con người Việt Nam mới XHCN “vừa hồng vừa chuyên”, Người từng nhiều lần nhấn mạnh: thanh niên phải có cả đức và tài mới hoàn thành được nhiệm vụ mà Tổ quốc và nhân dân tin tưởng giao phó. Người quan niệm “Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì, nhưng cũng không lợi gì cho loài người”[2]. Mặc dù nhấn mạnh: “Thanh niên bây giờ là một thế hệ vẻ vang”[3], song được sinh ra và lớn lên từ trong lòng chế độ xã hội cũ, họ ít nhiều còn mang trong mình những tàn dư của tầng lớp tiểu tư sản, nên để xứng đáng với vị trí, vai trò và nhiệm vụ của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: bản thân mỗi người phải “tự giác tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng mình”, cải tạo tư tưởng cá nhân chủ nghĩa. Bởi rằng, từ cá nhân chủ nghĩa sẽ “đẻ ra tư tưởng danh lợi”, ham chuộng địa vị, quyền chức, từ đó lại sinh ra căn bệnh sợ khó nhọc và sợ khổ, “coi khinh lao động chân tay”, “coi khinh người lao động chân tay”.

Nêu ra những căn bệnh vốn là tàn dư, là dấu vết của tầng lớp tiểu tư sản, Người cũng đồng thời chỉ ra biện pháp để sửa chữa những căn bệnh đó. Thấm nhuần lời dặn của cổ nhân, người cách mạng hãy “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, vị Chủ tịch nước chân tình nói với lớp cán bộ trí thức tương lai: “Muốn sửa chữa cá nhân chủ nghĩa thì khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, mà phải nghĩ đến đồng bào”, “làm việc gì mình cũng nghĩ đến lợi ích chung trước và lợi ích riêng sau”[4]. Trên tinh thần đó, Người nhấn mạnh: chừng nào mỗi người sinh viên tự hỏi và trả lời được 2 câu hỏi có ý nghĩa: đó là Học để làm gì ? và Học để phục vụ ai? thì chừng đó, trong tư tưởng của họ đã dứt khoát xác định rõ mục tiêu để học, để phấn đấu. Bởi rằng, tư tưởng thông suốt thì hành động sẽ đúng đắn.

Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ II diễn ra trong bối cảnh miền Bắc đang tiến hành thực hiện kế hoạch 3 năm khôi phục và cải tạo kinh tế văn hoá xã hội để bước đầu xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH. Trước những khó khăn của thực tế và con đường đi lên CNXH đầy chông gai thử thách, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói với những sinh viên Việt Nam, những người trí thức XHCN là: Để xây dựng CNXH thì cần phải có “lao động trí óc và lao động chân tay”. Tuy nhiên, trong điều kiện cụ thể của nước nhà, Người nêu rõ: Chúng ta cần “lao động trí óc kiêm lao động chân tay, nghĩa là lao động chân tay cũng phải có văn hoá, mà người lao động trí óc cũng phải làm được lao động chân tay. Nếu lao động trí óc không làm được lao động chân tay và lao động chân tay không có trí óc thì đó là người lao động bán thân bất toại”[5]. Ngược lại, Người cũng khẳng định rằng: Lao động trí óc mà không có lao động chân tay, “chỉ biết lý luận mà không biết thực hành” thì cũng chỉ là “trí thức một nửa”.Vì vậy, sinh viên các cháu phải luôn nhớ rằng: “Trong lúc học lý luận cũng phải kết hợp với thực hành”, “học tập kết hợp với lao động”.

Từ tuổi trẻ của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu và đồng cảm với thanh niên sinh viên – đó là lớp người trẻ tuổi đang chuẩn bị bước vào đời, khát khao lý tưởng, có nhiều hoài bão. Là những người ham hiểu biết, khám phá, cũng ham hành động, lại nhiều xúc cảm, dễ chịu tác động của tập thể và đặc biệt là đó mới chỉ là lớp người đang trưởng thành, chứ chưa phải là những người trưởng thành nên họ rất dễ vấp ngã, nản lòng. Từ đó, Người khuyên sinh viên hãy thực hiện “6 cái yêu”. Theo Người, 6 điều đó, vừa thể hiện rõ tinh thần và quyết tâm của tuổi trẻ, vừa là cái đích để mỗi sinh viên hướng tới và phấn đấu.

1. Đó là yêu Tổ quốc và “phải làm sao cho Tổ quốc ta giàu mạnh”. Luận giải điều vĩ đại này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cắt nghĩa rất giản dị: để “Tổ quốc ta giàu mạnh thì phải ra sức lao động, ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm”[6].

2. Đó là yêu nhân dân và muốn làm được như vậy, “phải hiểu rõ sinh hoạt của nhân dân, biết nhân dân còn cực khổ như thế nào, biết chia sẻ những lo lắng, những vui buồn, những công tác nặng nhọc với nhân dân”. Đây đồng thời cũng là thực hiện mối quan hệ gần dân, lắng nghe ý kiến của dân, gắn bó máu thịt với nhân dân.

3. Đó là yêu CNXH, vì chỉ “có tiến lên CNXH thì nhân dân mình mỗi ngày một no ấm thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm”.

4. Đó là yêu lao động. Theo Người, “muốn thật thà yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu CNXH thì phải yêu lao động”, vì lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là trách nhiệm của mỗi người. Một người trí thức nói yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu CNXH mà không yêu lao động, thì đó “chỉ là nói suông”.

5. Đó là yêu khoa học và kỷ luật, bởi “tiến lên CNXH thì phải có khoa học và kỷ luật”.

Cuối cùng, Người kết luận: Bây giờ là thời đại của khoa học phát triển rất mạnh, là thời đại của CNXH và là thời đại của anh hùng, vì vậy mà “mỗi người lao động tốt đều có thể trở thành anh hùng” và 6 là: “Mong các cháu cũng làm người thanh niên anh hùng trong thời đại anh hùng”.

Từ những chỉ dẫn tâm huyết, cụ thể và đầy ý nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh với sinh viên, từ những đòi hỏi cụ thể của sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc và xây dựng CNXH ở miền Bắc, Người đã cùng Đảng, Chính phủ chú trọng đến sự nghiệp đào tạo, giáo dục thanh niên sinh viên, đồng thời sử dụng, tạo điều kiện để những trí thức XHCN phát huy mọi khả năng của mình trên mọi lĩnh vực. Mặt khác, Người cũng luôn lấy g­ương ng­ười tốt việc tốt để cổ vũ, động viên và khuyến khích thanh niên sinh viên, giúp họ định hướng tốt, hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Hơn nửa thế kỷ đã qua đi kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự và căn dặn sinh viên Việt Nam, cùng với sự phát triển của cách mạng, thanh niên sinh viên ngày càng thể hiện rõ vai trò của mình. Họ thực sự là những người được đào tạo chuyên môn, nắm vững khoa học kỹ thuật, có đạo đức cách mạng, tinh thần giác ngộ XHCN và tinh thần quốc tế vô sản cao cả. Những phong trào Sinh viên tình nguyện, Tiếp ứng mùa thiVòng tay nhân ái, v,v..những sẻ chia của họ đối với nhau, đối với cộng đồng, những gương sáng Sinh viên nghèo vượt khó, những Sinh viên đạt giải cao tại các kỳ thi học sinh giỏi quốc tế về học thuật, về âm nhạc,… trong những năm đất nước chuyển mình, thực hiện công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển, đã thực sự làm cho những mong mỏi, những tâm huyết của Chủ tịch Hồ Chí Minh cách đây hoan 50 năm toả sáng trong thực tiễn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về với cõi vĩnh hằng, song những điều Người dặn, những việc Người đã làm, đặc biệt là tình cảm, sự quan tâm của Người đối với thanh niên, sinh viên Việt Nam thì vẫn luôn là nguồn động viên nội lực, là sức mạnh tinh thần, để mỗi thanh niên, sinh viên không ngừng phấn đấu vươn lên, trở thành những người “vừa hồng vừa chuyên”, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN./ .

Ths. Nguyễn Đoàn Phượng

Trung tâm bồi dưỡng cán bộ lý luận chính trị, Đại học Quốc gia Hà Nội
tuyengiao.vn


[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1996, t.5, tr.185

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.9, tr.172

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.9, tr.172

[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.9, tr.172

[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.9, tr.173

[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.9, tr.173

Bác Hồ với thế hệ trẻ

Hỏi chuyện đồng chí Vũ Kỳ

– Làm thư ký cho Bác đã hai mươi bốn năm, có bao giờ anh thấy Bác tự cho mình là một “ông già” không? Và Bác đã làm gì để chống lại tâm lý “ông già” ấy? 

Như tất cả các cụ già Việt Nam, Bác cũng muốn có cái thú vui bình dị của tuổi già như Bác đã thể hiện trong thơ: Xách bương, dắt trẻ ra vườn tưới rau. Nhưng ở Bác, tôi không bao giờ thấy bộc lộ tâm lý mệt mỏi của một “ông già”. Chắc đồng chí còn nhớ bài thơ của Bác: 

Bảy mươi tám tuổi chưa già lắm, 
Vẫn vững hai vai việc nước nhà. 
Kháng chiến dân ta đang thắng lớn, 
Tiến bước, ta cùng con em ta!

Việt Nam - Hồ Chí MinhXuất xứ của bài thơ là thế này. Sáng 20 tháng 5 năm 1968, Bác dậy sớm hơn để chuẩn bị 6 giờ 15 tới dự kỳ họp khai mạc của Quốc hội. Vào hội trường, với tư thế trẻ trung và hóm hỉnh, Bác nói: Lần trước tôi có nói là những thắng lợi của chiến sĩ và đồng bào hai miền làm cho tôi như trẻ lại 20 tuổi. Nhưng nay nghe nói 78 tuổi, thì tôi thấy già đi. Vì vậy tôi có bài thơ này: “Bảy mươi tám tuổi chưa già lắm…”. Cả hội trường sôi động hẳn lên. Các đại biểu Quốc hội ai cũng cảm thấy cùng trẻ lại với Bác.

Từ khi bước chân vào hoạt động cách mạng cho đến lúc từ giã cuộc đời, Bác luôn luôn quan tâm đến thế hệ trẻ. Năm 1925, Bác đã lo đào tạo nhân tài trẻ bằng cách gửi Lê Hồng Phong, Trương Văn Lễnh sang học trường quân sự Hoàng Phố, gửi Trần Phú và một số thanh niên khác sang học trường đại học Phương Đông ở Mát-xcơ-va. Các cháu thiếu niên, nhi đồng, Bác cũng chú ý nhiều. Đó là những cháu ở Trung Kỳ phải sống lưu lạc vì bố mẹ bị thực dân Pháp bắt bớ, tù đày, được Bác đưa từ Phi Chít (Thái Lan) sang Quảng Châu để tổ chức thành nhóm “Thiếu niên tiền phong Việt Nam”. Năm 1926, Bác đưa một số cháu sang học ở Liên Xô kèm theo bức thư gửi Uỷ ban Trung ương Đội Thiếu niên tiền phong trực thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Lê-nin: “… Khi chúng tôi nói cho các em nghe về Lênin, về các bạn, những học trò nhỏ Nga của Lê-nin, các em rất thích và muốn đến nước các bạn để gặp các bạn, sống với các bạn, học tập các bạn, và thật sự trở thành những học trò của Lê-nin như các bạn… Chúng tôi hy vọng rằng các đồng chí không từ chối nhận ba hoặc bốn đồng chí nhỏ tuổi Việt Nam chứ?” Thật là cảm động, Bác lo cho các cháu những điều rất nhỏ, được viết trong lá thư: “… Vào tháng mấy thì ở Mát-xcơ-va bắt đầu lạnh (vì các em thiếu niên này từ một nước nóng bức tới, phải chọn lúc thời tiết thích hợp cho các em đi)… Đến Mát-xcơ-va, các em tới địa chỉ nào?…” 

Khởi đầu lịch sử Đảng ta cũng là do lực lượng thanh niên được Bác dìu dắt. Hồi đó, Bác đã tổ chức “Thanh niên cách mạng đồng chí hội” và tự tay Bác soạn thảo cuốn “Đường kách mệnh” để giảng dạy. 

Năm 1961, trong Đại hội lần thứ ba của Đoàn thanh niên Lao động Việt Nam, Bác vui mừng nói: “Từ chỗ chỉ có một Lý Tự Trọng đến ngày nay chúng ta có 78 vạn đoàn viên Đoàn thanh niên lao động hăng hái ra sức giúp Đảng xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất Tổ quốc. Tiến bộ đó làm cho Bác rất vui sướng và trẻ lại. Nó làm cho lòng Bác phơi phới như hoa nở trong mùa xuân”. 

– Theo anh, trong tất cả các tổ chức của tuổi trẻ, Bác chú ý đến tổ chức nào nhất? 

Tất cả các hình thức tổ chức để tập hợp thanh niên, thiếu niên, nhi đồng nhằm phụng sự Tổ quốc, Bác đều chú ý, quan tâm giáo dục để tổ chức đó ngày càng vững mạnh. Trong đó tổ chức thanh niên xung phong được Bác đặc biệt quan tâm. Bài hát truyền thống của Thanh niên xung phong cũng là bài ca chính thức của Đoàn thanh niên bây giờ, được nhạc sĩ Hoàng Hà phổ nhạc bốn câu thơ của Bác: 

Không có việc gì khó 
Chỉ sợ lòng không bền, 
Đào núi và lấp biển 
Quyết chí ắt làm nên!

Trên đường đi chiến dịch Biên giới, ghé thăm một lán trại thanh niên xung phong làm đường, Bác trò chuyện thân mật rồi hỏi “Các cháu có thích nghe thơ không?”. Tất cả đồng thanh: “Chúng cháu thích nghe thơ ạ”. Thế là Bác ứng khẩu đọc bốn câu thơ này. Ngay sau đó, nhiều thanh niên xung phong và cả bộ đội Vệ quốc đoàn đều truyền cho nhau và học thuộc trong chiến dịch Biên giới. 

Về tổ chức thanh niên xung phong, Bác nói với tôi: “qúy hồ tinh, bất quý hồ đa, lựa tuyển cẩn thận để thanh niên xung phong thật sự là một trường đào tạo thanh niên bằng những công việc thiết thực”. Bác trực tiếp xem và sửa chữa bản điều lệ về nhiệm vụ và bổn phận của Đoàn thanh niên xung phong. 

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Bác theo dõi rất sát các hoạt động của thanh niên xung phong, kịp thời viết bài, nêu gương những điển hình tốt và gửi thư khen các đơn vị thanh niên xung phong có nhiều thành tích trong xây dựng và chiến đấu. 

Tháng 5 – 1968, trong phần viết thêm vào Di chúc, có đoạn: “Những chiến sĩ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong đều đã được rèn luyện trong chiến đấu và đều tỏ ra dũng cảm. Đảng và Chính phủ cần chọn một số ưu tú nhất, cho các cháu ấy đi học thêm các ngành, các nghề, để đào tạo thành những cán bộ và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững chắc. Đó là đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. 

Như vậy, Bác xem tổ chức Thanh niên xung phong không chỉ để làm những việc cụ thể như đắp đường, xây cầu, khai hoang…, mà còn là một trường học để rèn luyện và đào tạo cán bộ tốt cho đất nước. Nếu không nhận thức đầy đủ như vậy tức là chưa thấu hiểu được lời dạy của Bác đối với thanh niên xung phong. 

– Là người được thường xuyên gần gũi Bác, chắc anh thấy rất rõ sự quan tâm bồi dưỡng và giáo dục thế hệ trẻ được thể hiện trong công việc và sinh hoạt thường ngày của Bác? 

Một lần, Bác đi công tác xa hơn một tháng, lúc trở về, Bác lại ngồi bên cầu ao vỗ tay gọi cá đến để cho ăn. Hôm ấy Bác không thấy con cá gáy vây đỏ đến ăn. Bác hỏi tôi. Tôi không biết trả lời thế nào. Tối, tôi hỏi anh em, được biết không ai câu cả. Khoảng mười ngày sau, ngồi bên Bác cho cá ăn, Bác bảo: “Kìa, chú coi, con cá gáy vây đỏ miệng đỏ đã đến rồi đấy”. Rồi Bác nói thêm: “Các chú ở nhà chắc không cho cá ăn đều và đúng giờ cho nên nó mới phải đi kiếm ăn lăng băng như thế”. Bác hạ giọng như tự nói với mình: “Đối với con người cũng thế, nhất là tuổi thanh niên, không quan tâm giữ nếp sống tốt thì cũng như thế”. Tôi nghe mà thấm thía sâu sắc làm sao! 

7 giờ sáng ngày 27 tháng 5 năm ấy, tức là trước ngày Thiếu nhi quốc tế 1-6, Bác gọi chị Thu Trà đến. Hồi đó chị Thu Trà làm chủ tịch Uỷ ban thiếu niên – nhi đồng. Bác hỏi về tình hình một số cháu học sinh miền Nam nghịch ngợm, Bác nói: ba má các cháu gửi các cháu ra miền Bắc để yên tâm công tác với niềm tin là được dạy dỗ tốt. Tại sao có tình trạng này? Lỗi các cháu một phần thì trách nhiệm của các cô các chú gấp mười phần… Bác căn dặn: vì các cháu xa nhà, thiếu tình cảm gia đình, cho nên phân trách nhiệm cho một số gia đình cán bộ chăm sóc các cháu như con em trong nhà. Bác cũng nhận chăm sóc con của đồng chí Nguyễn Hữu Thọ một cháu trai, hai cháu gái. 

Ngày 23 tháng 5 năm 1969, Bác tiếp ông Chủ tịch Thượng nghị viện Chi-lê X. Agienđê, sau này là Tổng thống. Sau đó, Agienđê đã ghi lại những ý nghĩ chân tình của mình trong một bài báo: “Chúng tôi ngồi quanh một cái bàn. Chủ tịch Hồ Chí Minh mở chiếc phong bì lấy ra một tấm ảnh và nói với chúng tôi: “Đây là một kỷ niệm”. Chủ tịch lần lượt giới thiệu với chúng tôi những em thiếu nhi anh hùng miền Nam có nét mặt ngây thơ đang ngồi quây quần quanh Chủ tịch trong tấm ảnh. Chủ tịch nói: “Tôi rất vui lòng về các cháu thiếu nhi ngày nay… Hồi còn nhỏ, tôi không làm được những việc mà các cháu đã làm. Thiếu nhi thời tôi cũng vậy”. Sau đó, Chủ tịch mở một quyển vở cũ và với giọng dịu hiền, Chủ tịch đọc những con số chỉ rõ những thanh niên, thiếu nhi đã đạt được thành tích xuất sắc trong học tập, lao động và trong những việc làm anh hùng. Con số này ngày một tăng, nói lên sự nỗ lực của thanh niên”. Agienđê kết luận: “Chưa bao giờ một người khi nói với chúng tôi về các em nhỏ lại giáo dục chúng tôi nhiều như vậy”. 

Sự quan tâm và niềm tin của Bác Hồ đối với các thế hệ trẻ, người chủ của tương lai, một phần quan trọng đã được thể nghiệm trong chính thời thanh niên của Bác. Với hai bàn tay trắng, chàng trai xứ Nghệ Nguyễn Tất Thành 21 tuổi đã quyết tâm đi khắp năm châu bốn biển, tự kiếm sống, tự học tập để tìm đường cứu nước. Quyết tâm ấy, niềm tin ấy, Bác dồn tất cả cho các thế hệ trẻ, mùa xuân của xã hội.

Võ Văn Trực thực hiện

Tạp chí Tia sáng, số 5/2000

thanhdoanquynhon.org.

Nói thì phải làm – Đó là đạo đức của người cách mạng

Trong đời sống của dân tộc ta, từ xưa đến nay, những người chỉ nói mà không làm, hoặc nói nhiều mà làm ít, đều bị nhân dân chê trách, thậm chí khinh ghét và bị coi là hạng người không chính đáng. Trong ca dao, tục ngữ, tiếng nói của nhân dân, còn ghi lại biết bao những câu nói đáng để chúng ta suy ngẫm: “Một điều bất tín, vạn sự chẳng tin”, “Trăm voi không được bát nước sáo!”, hoặc “Nói chín thì phải làm mười/Nói mười làm chín, mọi người cười chê!”. Nghĩa là nhân dân mong muốn làm phải nhiều hơn nói.

Cũng phải nói một cách thẳng thắn rằng, có một số không ít cán bộ và đảng viên ta, trong số đó có cả những người lãnh đạo, đã nói nhưng không làm, hoặc làm không đến nơi đến chốn. Thậm chí có những điều đã hứa hẹn với dân, nhưng nói xong rồi lại quên ngay, khiến nhân dân mất lòng tin. Gần đây trong nhân dân có từ “chém gió”, để chỉ những cán bộ khi nói thì vung tay, mạnh mẽ, hứa hẹn đủ điều, nhưng lời nói rồi gió bay, chẳng có điều nào thành sự thật!.

Trong tác phẩm “Đường Kách Mệnh” viết từ năm 1927, cách đây vừa đúng 85 năm, khi nói về tư cách một người cách mạng, trong 23 điều thì điều thứ 10, Bác Hồ đã viết: “Nói thì phải làm”. Nói và làm đúng những điều mình nói, là một phẩm chất của người cách mạng. Chính điều này tạo ra niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta. Và cũng chính điều này, làm cho công tác cách mạng của chúng ta ngày càng phát triển mạnh mẽ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương lớn về “Nói thì phải làm”.

Ngay từ những ngày đầu ra đi tìm đường cứu nước, Bác đã nói: Tôi muốn ra đi tìm hiểu thế giới, rồi sau đó trở về giúp đỡ đồng bào ta. Và Bác đã làm đúng như thế. Sau 30 năm bôn ba khắp các xứ người, chịu đựng biết bao gian khổ, tự kiếm sống, tự học, tham gia đấu tranh, hai lần vào tù, một án tử hình vắng mặt, ngày đêm viết báo lên án chủ nghĩa thực dân, rồi thành lập Đảng và năm 1941 Người đã trở về Tổ quốc, cùng với Đảng và nhân dân làm nên Cách mạng Tháng Tám thành công, giành lại nền độc lập cho đất nước. Bác dạy chúng ta phải: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” và nói cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức của cách mạng. Và Bác đã làm đúng như thế. Cả cuộc đời của Bác, từ khi còn ở Pác Bó, Tân Trào… cho đến khi giành được chính quyền, trở về Thủ đô Hà Nội, Người vẫn sống một cuộc sống giản dị, thanh bạch, hoà vào đời sống của nhân dân.

Tìm hiểu thực tế sản xuất của nông dân xã Ái Quốc (Hải Hưng) năm 1958Bác Hồ đi tìm hiểu thực tế sản xuất của nông dân xã Ái Quốc (Hải Hưng)
năm 1958
. Ảnh:Internet

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nạn đói đang đe doạ, Bác vận động nhân dân ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Người còn viết bài “Xẻ cơm nhường áo” in trên Báo Cứu Quốc số 53, ngày 28-9-1945: “… Lúc chúng ta bưng bát cơm để ăn, nghĩ đến người đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa 1 bơ) để cứu dân nghèo. Như vậy thì những người nghèo sẽ có bữa rau bữa cháo để chờ mùa lúa năm sau, khỏi đến nỗi chết đói…”. Và Bác đã cùng Văn phòng Chính phủ thực hiện đúng như vậy.

Một hôm, đúng vào ngày Văn phòng Chính phủ nhịn ăn, thì Bác được Trung tướng Tiêu Văn – một người chỉ huy của quân Tưởng – mời gặp. Sau đó lại chiêu đãi Bác. Để tranh thủ quân Tưởng, Bác đã nhận lời. Khi về, mặc dù đã được các đồng chí ở nhà báo cáo lại là đã góp một bơ gạo của Bác vào số gạo cứu đói. Nhưng Bác nói, hôm nay Bác vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ nhịn ăn như mọi người và ngày hôm sau Bác đã nhịn ăn một bữa.

Giáo sư Phan Ngọc đã viết: “Bác là một người không thay đổi. Khi gian khổ thế nào thì khi làm Chủ tịch nước Bác vẫn thế. Gian khổ ăn củ khoai lang như thế nào, thì khi làm Chủ tịch cũng ăn củ khoai lang như vậy. Bác không chấp nhận một cái gì đặc biệt cho mình hết. Không những không chấp nhận, mà còn ghét đặc quyền. Người ta nhịn thì mình cũng nhịn. Người ta ở cái lán thì mình cũng ở cái lán. Không có một người như vậy, thì không thể nào lôi cuốn được toàn dân”.

Cũng chính vì thế, chúng ta hiểu vì sao những lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh đi sâu vào lòng người mạnh mẽ và xúc động như vậy. “Bác bảo đi là đi, Bác bảo thắng là thắng…”. Toàn dân nhất tề xông lên, không ngại gian khổ hy sinh, vì nhân dân có niềm tin mãnh liệt ở người lãnh đạo của mình. Người lãnh đạo ấy vì mình, vì nhân dân chứ không phải chỉ vì bản thân họ, con cái họ. Người lãnh đạo ấy, ngày đêm lo lắng, ngày đêm làm việc cũng là vì mình, vì nhân dân. Do đó người lãnh đạo và nhân dân là một, và đó chính là sức mạnh của dân tộc ta để đánh thắng những kẻ thù to lớn hơn mình, không phải chỉ hôm nay mà còn trong cả lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc.

*

Nói đi đôi với làm, làm nhiều hơn nói, và nhiều khi chỉ làm mà không nói. Đó là phong cách Hồ Chí Minh!

Bác khuyên mọi người tiết kiệm, và chính Bác nêu gương tiết kiệm trước. Không phải chỉ ở trong nước, mà khi ra nước ngoài, ở nhà khách chính phủ nước bạn, thấy nhiều bóng điện sáng không cần thiết, Bác cũng tự tắt bớt đi.

Bác khuyên mọi người trồng cây thì năm nào Bác cũng đi tham gia trồng cây ở các địa phương. Rồi đến thăm, viết thư, động viên mọi người cùng trồng cây cho đất nước xanh tươi.

Bác khuyên mọi người “Chí công vô tư” thì khi đi dự Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô về, được Đảng bạn biếu một số tiền, Bác đã không nhập vào sổ tiết kiệm của riêng mình, mà nhập vào quỹ Đảng.

Cũng xin nói thêm, Bác có một sổ tiết kiệm cá nhân, nhờ một đồng chí ở văn phòng đứng tên gửi ở quỹ tiết kiệm phố Hàng Gai. Đây là số tiền nhuận bút mà các báo ở trong và ngoài nước gửi cho Bác. Năm Hà Nội đánh trả máy bay Mỹ, Bác đã bảo đồng chí Vũ Kỳ lấy tất cả số tiền tiết kiệm của Bác là 25 nghìn đồng (tương đương với 25 cây vàng lúc đó) để gửi cho Bộ Tư lệnh Phòng không mua nước ngọt cho các chiến sĩ bắn máy bay.

Chúng ta có kể cả ngày, cũng không hết những điều nói đi đôi với làm của Bác. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng phê bình một số cán bộ chỉ biết nói là nói, nói giờ này qua giờ khác, nhưng những công việc thiết thực thì không làm được. Người mong muốn cán bộ, đảng viên tốt nhất là miệng nói, tay làm, làm gương cho người khác bắt chước.

Song nói và làm không phải chỉ là vấn đề quan trọng đối với từng cán bộ, đảng viên, kể cả những người lãnh đạo, mà lớn hơn còn là những chủ trương, đường lối, những nghị quyết của Đảng và Nhà nước đã ban hành có được thực hiện một cách đầy đủ không.

Người chỉ rõ: Đảng cũng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào? Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó không những hoá ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng.

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khoá XI về xây dựng Đảng, một lần nữa chúng ta lại cùng nhau học tập và làm theo Bác, nói đi đôi với làm, đã nói thì phải làm, làm nhiều hơn nói và luôn nhớ lời dạy của Bác: Nói thì phải làm, đó là đạo đức của người cách mạng.

*

Một nhà văn Đức, tác giả cuốn “Hồ Chí Minh một biên niên sử” đã viết: “Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn trung thành với lý tưởng của mình – Đó là quên mình. Dáng vẻ lãnh đạo, sự xa hoa, ưu đãi, huân chương và các hình thức vinh danh khác là những thứ người ta chỉ hoài công tìm ở Người. Đối với Người, sự gần gũi với nhân dân, với dân tộc là quan trọng hơn cả”. Một nhà văn khác lại viết: Chủ tịch Hồ Chí Minh – Một con người huyền thoại, đã làm thay đổi số phận và tương lai của một dân tộc. Người suốt đời nói và làm là một, lý luận và hành động là một, lời nói và việc làm là một. Chính vì thế, niềm tin ở Việt Nam là Hồ Chí Minh!

Bùi Công Bính
baonamdinh.com.vn

Đảng và mùa xuân dân tộc!

Mùa Xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời!

83 năm đã qua, Đảng vĩ đại, anh hùng đã gắn bó với nhân dân làm nên Mùa Xuân đất nước.

83 năm dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Việt Nam đã viết thêm vào lịch sử dân tộc những trang hào hùng nhất, rực rỡ nhất của thời đại Hồ Chí Minh. Trong cuộc hành quân thế kỷ ấy, nhân dân ta đã phải trải qua 30 năm chiến đấu gian khổ, đánh thắng những kẻ thù xâm lược lớn mạnh hơn mình, để hôm nay đất nước hoà bình, độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội và hoà nhập cùng thế giới. Câu nói ngắn gọn ấy, nhưng là mục tiêu vĩ đại, là con đường quang vinh mà gần thế kỷ qua dân tộc ta dưới ngọn cờ đại đoàn kết của Đảng đã tiến lên giành nhiều thắng lợi.

Những con người và những sự kiện lớn, càng lớn lên với khoảng cách thời gian. Lịch sử diễn ra và tiến về phía trước, càng làm nổi bật tầm cao và chiều sâu của sự nghiệp vĩ đại mà Đảng cùng với nhân dân ta đã thực hiện.

Biết bao Mùa Xuân đã trôi qua, nhưng một Mùa Xuân thực sự, một Mùa Xuân khởi đầu, đặt nền móng cho hạnh phúc của chúng ta hôm nay lại chính là Mùa Xuân thành lập Đảng – Mùa Xuân Canh Ngọ năm 1930. Hôm nay nhớ lại thời dựng Đảng, chúng ta càng thấy Đảng ta thật là vĩ đại.

Cuối năm 1929, nhận được liên lạc của Đảng, Bác Hồ của chúng ta đã từ một vùng quê ở Thái Lan, đáp xe lửa đi Băng Cốc, rồi từ đó đi tàu thuỷ đến Singapo. Tại đây Người chuyển sang một con tàu khác đi Hồng Công. Các đồng chí Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn đã ra tận cảng biển đón Bác. Và Bác đã quyết định họp Hội nghị thành lập Đảng vào đúng dịp Tết Nguyên đán. Ở Trung Quốc cũng như Việt Nam, Tết Nguyên đán là ngày Tết lớn nhất trong năm và thường kéo dài nhiều ngày liền. Đó chính là dịp để những đại biểu tham gia Hội nghị có thể đi khỏi đất nước mà không ai để ý. Còn ở Cửu Long thì một cuộc họp mặt như vậy cũng sẽ có nhiều thuận lợi.

Mãi mãi niềm tin theo Đảng.Mãi mãi niềm tin theo Đảng.

Và thế là ngày 3-2-1930, đúng ngày mồng 5 Tết Canh Ngọ, Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã họp tại Cửu Long (Trung Quốc) dưới sự chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Đảng ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của Cách mạng Việt Nam. Ngày 7-2-1930 ngày cuối cùng của Hội nghị, Bác Hồ tổ chức một bữa liên hoan nhỏ ngay tại phòng ở của mình. Khi các đại biểu đã ngồi xung quanh bàn, Người xúc động nói:

“Các đồng chí, hôm nay là ngày lịch sử của chúng ta. Lê-nin vĩ đại đã nói, chỉ có đảng nào có được một lý luận tiền phong mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong. Bây giờ, chúng ta đã có một Đảng như thế rồi – đảng của giai cấp công nhân Việt Nam. Nhân dân ta từ xưa có truyền thống đấu tranh anh dũng, nhưng suốt những năm ấy, Nhân dân ta thiếu người cầm lái sáng suốt. Giờ đây Đảng của chúng ta phải gánh lấy vai trò này, và tôi tin rằng Đảng ta sẽ dẫn dắt Nhân dân ta đến thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành Độc lập, Tự do cho Tổ quốc thân yêu”.

Như vậy là ngay trong những ngày đầu tiên thành lập Đảng, trong lời phát biểu ngắn gọn ấy, Bác đã ba lần nhắc đến nhân dân ta.

Năm 1960, kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:

“Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người Cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng: Đảng ta thật là vĩ đại… Đảng ta vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác”.

Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Đảng là trí tuệ, là phẩm chất của cả dân tộc, kế thừa tinh hoa của hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của ông cha ta. Sức mạnh của Đảng chính là sự gắn bó máu thịt với nhân dân, là sức mạnh đại đoàn kết toàn dân. Và Bác Hồ đã nói: “Nhiệm vụ của Đảng ta có thể nói gọn trong 8 chữ: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nói: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Và chính Người là đỉnh cao của đạo đức và văn minh đó. Người là hình ảnh tuyệt đẹp về mối liên hệ thân thiết, gắn bó giữa lãnh tụ với nhân dân, và Người luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên ta phải thường xuyên liên hệ chặt chẽ với nhân dân.

Liên hệ và gắn bó chặt chẽ với nhân dân, là điều Bác Hồ đã nói với chúng ta rất nhiều lần. Bác đã nhiều lần nhấn mạnh:

“Đảng phải liên hệ với quần chúng như chân tay ruột thịt… Đảng viên thì phải dựa vào nhân dân mà xây dựng Đảng. Tức là hết lòng ra sức phụng sự nhân dân, tin tưởng vào lực lượng của nhân dân. Học hỏi nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân và không một phút nào xa rời nhân dân, cùng nhân dân kết thành một khối”.

Chưa ở đâu mà tình cảm giữa lãnh tụ với quần chúng lại thân thiết, gần gũi và được kính trọng, tin tưởng như Hồ Chủ tịch với nhân dân ta. Một nhà văn nước ngoài đã viết: “Bác Hồ – cách xưng hô quen thuộc của Việt Nam, chứa đựng cả sự kính trọng sâu sắc và sự ngưỡng mộ của cả một dân tộc đối với một người cha. Không có một từ nào có thể diễn tả được một cách trong sáng và đẹp đẽ như hai tiếng đó!”.

Hồ Chủ tịch nói: Dân là gốc của nước, Dân là gốc của cách mạng, do đó Dân cũng là người tham gia xây dựng Đảng.

“Gốc có vững cây mới bền
Xây lầu thắng lợi trên nền Nhân dân”

Người nói thế, và suốt đời Người luôn luôn gương mẫu làm đúng, làm hơn cả những điều mình nói… Người luôn luôn đặt đời sống của mình trong đời sống của nhân dân. Trong Di chúc của mình, Người dặn dò: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”.

Trong bản Di chúc của mình, Bác đã 17 lần nhắc đến chữ “Nhân dân”. Và trong Di chúc của Người những chữ “Nhân dân” Bác đều gạch dưới.

Đồng chí Nguyễn Thọ Chân kể lại, hồi còn làm Phó Bí thư Thành uỷ Hà Nội, một lần vào làm việc với Bác, đồng chí đã đề nghị Bác cho xây dựng trụ sở của Trung ương Đảng tại Hà Nội cho có bề thế.

Bác im lặng, rồi trả lời:

– Trụ sở bề thế của Đảng ta, phải xây dựng ở trong lòng dân ấy, chú ạ!

*

Một nhà văn lớn đã nói: “Lịch sử không đơn thuần là chiếc cầu thang thuận tiện hướng thẳng tới tương lai. Và con đường của nhân loại ít khi chạy trên con đường bằng, mà thường là vắt qua những núi non hiểm trở”. Cách mạng Việt Nam cũng thế, cũng đã từng trải qua muôn vàn khó khăn, thử thách. Nhưng Bác Hồ đã viết: Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững, thuyền mới chạy đúng hướng. Trong mỗi bước gian lao đó, có Đảng sáng suốt dẫn đường, dân tộc ta đã đoàn kết tiến lên giành thắng lợi.

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, sự nghiệp đổi mới của nước ta đã được đẩy mạnh trên mọi lĩnh vực. Việt Nam đã hội nhập với thế giới, trong nước thì chính trị xã hội ổn định, kinh tế phát triển, an sinh xã hội được chăm lo, quốc phòng và an ninh được tăng cường, chủ quyền và lãnh thổ được giữ vững.

Mùa xuân này, mỗi người Việt Nam trong cuộc sống mới của mình, ai cũng có thể trực tiếp cảm nhận thấy những gì mà Đảng đã đem lại cho gia đình mình, cho đất nước mình, và cho mỗi người chúng ta.
Nhà thơ Chế Lan Viên đã viết:

“Ngày biết Đảng, mắt ta còn ngơ ngác
Mà nay dưới chân mình,
một thế giới đã đi qua
Ai ngờ ngọn cờ búa liềm trên
những cành đa
Màu son ấy thổi dậy hồn non nước
Rồi ta sống những năm dài hạnh phúc
Mà trống đồng nhịp với giọng thơ ta!”

Trong Di chúc của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết:

“Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ, phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Trong đoạn văn ngắn này, Bác Hồ đã viết bốn chữ Thật: Thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Mùa Xuân này, đọc lại những lời căn dặn của Bác, chúng ta càng thấm thía và suy nghĩ về những chữ Thật ấy của Bác!

Đảng ta thành lập đúng vào ngày 5 Tết Canh Ngọ năm 1930!

Ra đời vào Mùa Xuân. Và Đảng đã cùng với nhân dân ta làm nên Mùa Xuân đất nước.

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, và công cuộc Xây dựng chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 của Đảng càng làm cho chúng ta thêm tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới của Đảng và nhân dân ta./.

Thanh Bình
baonamdinh.com.vn

Bác Hồ với nông dân!

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đến vấn đề nông dân – một lực lượng to lớn của cách mạng.

Ngày 10-10-1923, Đại hội Quốc tế Nông dân đầu tiên, khai mạc tại gian phòng lớn An-đrây-ep-xki ở Điện Krem-li. Ngày 12-10, dưới đầu đề “Tại Đại hội Nông dân toàn thế giới”, báo Pra-vđa đưa tin: “Tại phiên họp thứ hai, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã thay mặt Đông Dương phát biểu ý kiến. Diễn giả chỉ ra rằng nông dân Đông Dương bị hai tầng áp bức, một là với tư cách nông dân nói chung, hai là với tư cách nông dân một nước thuộc địa”.

Trong bài phát biểu tại một phiên họp của đại hội, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã nêu rõ: “Quốc tế của các đồng chí chỉ trở thành một quốc tế thật sự khi mà không những nông dân phương Tây, mà cả nông dân ở phương Đông, nhất là nông dân ở các thuộc địa là những người bị bóc lột và bị áp bức nhiều hơn các đồng chí, đều tham gia…”. Cả đại hội đã sôi nổi vỗ tay, tán thành ý kiến của Người.

Bác Hồ dùng thử máy cấy tại trại thí nghiệm lúa thuộc Sở Nông lâm Hà Nội, năm 1960Bác Hồ dùng thử máy cấy tại trại thí nghiệm lúa
thuộc Sở Nông lâm Hà Nội, năm 1960
.

Và chính trong Đại hội này, đã tiến hành bầu các cơ quan lãnh đạo của Quốc tế Nông dân. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc một nhà hoạt động cách mạng nổi tiếng, thay mặt nông dân châu Á đã được bầu vào đoàn chủ tịch. Lúc đó Bác của chúng ta 33 tuổi.

Năm 1927, khi viết cuốn “Đường Kách mệnh”, ở mục “Ai là những người Kách mệnh” Bác Hồ viết:

“Vì bị áp bức mà sinh ra cách mệnh, cho nên ai mà bị áp bức càng nặng thì lòng cách mệnh càng bền, chí cách mệnh càng quyết. Khi trước tư bản bị phong kiến áp bức cho nên nó cách mệnh. Bây giờ tư bản lại đi áp bức công nông, cho nên công nông là người chủ cách mệnh”…

Mùa Xuân Tân Tỵ năm 1941, Bác Hồ của chúng ta đã trở về Tổ quốc, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Ngay từ những ngày đầu tiên ấy, Bác đã sống với những người nông dân miền núi và giác ngộ họ làm cách mạng. Đồng thời những người nông dân nghèo khổ và bị áp bức ấy đã chở che, giúp đỡ Bác và các đồng chí của mình. Pác-Bó, Cao Bằng đã vinh dự trở thành “Đại bản doanh” đầu tiên của cách mạng nước ta.

Rồi trong những năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Định Hoá (Thái Nguyên), Tân Trào, Chiêm Hoá (Tuyên Quang) đã trở thành an toàn khu của cách mạng. Những người nông dân đã che chở, bảo vệ, nuôi dưỡng lực lượng kháng chiến, cũng như hàng chục triệu người nông dân trong cả nước vừa đánh giặc vừa góp gạo nuôi quân, góp phần làm nên chiến thắng.

Tháng 11-1949, trong Thư gửi Hội nghị cán bộ Nông dân cứu quốc toàn quốc, Bác viết:
“Nông dân là một lực lượng rất to lớn của dân tộc, một đồng minh rất trung thành của giai cấp công nhân. Muốn kháng chiến kiến quốc thành công, muốn độc lập thống nhất thực sự ắt phải dựa vào lực lượng của nông dân. Đồng bào nông dân sẵn có lực lượng to lớn, sẵn có lòng nồng nàn yêu nước, sẵn có chí khí kiên quyết đấu tranh và hy sinh”.

Trong Di chúc của mình Bác dặn dò:

“Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh. Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”.     

*

Đồng chí Vũ Kỳ, thư ký của Bác Hồ kể lại: Tết Kỷ Dậu 1969 – Cái Tết cuối cùng của Bác, Bác vẫn bảo tổ chức cho Bác đi thăm nông dân. Bác hỏi:

– Chú Kỳ! Các chú đã chuẩn bị cho Bác đi thăm những đâu? Mồng 1 Tết này, chúng ta xuất hành phương nào?

Thấy Bác hỏi, tôi rất lo lắng vì năm ấy Bác đã 79 tuổi, lần khám sức khỏe gần nhất Hội đồng bác sĩ đã nói Bác cần tránh đi lại nhiều và tránh những xúc động mạnh. Bác lại hỏi:

– Chú có nhớ Bác phát động Tết trồng cây năm nay là năm thứ mấy rồi không?

– Thưa Bác, năm thứ 10 ạ!

– Đúng! Nhân dịp kỷ niệm 10 năm Tết trồng cây, các chú bố trí cho Bác đi trồng cây ở một địa phương có nhiều thành tích…

Mặc dù biết sức khỏe của Bác không được tốt, nhưng chúng tôi cũng không ngăn được lòng mong muốn của Bác đến với nông dân. Và Tết năm ấy, sau khi đi thăm bộ đội phòng không, không quân, khoảng 11 giờ trưa Bác mới đến được xã Vật Lại, Ba Vì. Trồng cây đa xong, Bác vui vẻ cùng mọi người quây quần dưới tán bạch đàn. Bác rất vui, trò chuyện với bà con nông dân, với các cụ phụ lão và các cháu thiếu nhi. Bác dặn đồng chí nữ bí thư đảng ủy xã: Phải dân chủ với dân, phải để cho dân phê bình cán bộ, đảng viên.

Thật là cảm động khi nhìn thấy Bác Hồ vui vẻ ngồi giữa những người nông dân như một cụ già trồng cây hiền từ ngồi cùng con cháu. Và chúng ta còn cảm động hơn nữa, khi biết lúc ấy trong Di chúc của mình Bác Hồ đã viết:

“Trong bao năm kháng chiến chống thực dân Pháp tiếp đến chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân đã luôn luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta ra sức góp của góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khăn gian khổ. Nay ta đã hoàn toàn thắng lợi, tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp một năm cho các Hợp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”.

Nhà báo Mỹ Đa-vit Han-bớt-stem đã viết:

“Ông Hồ thường mặc bộ quần áo đơn giản… Địa vị càng cao, ông càng giản dị, trong sạch hơn. Ông luôn giữ được những giá trị vĩnh viễn của người Việt Nam”.

Mùa xuân này, khi đời sống của những người nông dân đã đổi mới khác xưa. Nước Việt Nam đã trở thành một nước xuất khẩu gạo hàng đầu trên thế giới. Nhiều con cái của những người nông dân đã trở thành những giáo sư, tiến sĩ, những cán bộ lãnh đạo đất nước. Trong niềm vui ấy, lòng chúng ta càng nhớ đến Bác kính yêu – Người xây dựng nên nước Việt Nam mới, lãnh tụ vĩ đại của Đảng và của dân tộc, người suốt đời quan tâm, gần gũi với nông dân và nông thôn Việt Nam./.

Vũ Thái
baonamdinh.com.vn

Nhớ lời Bác dặn về Đảng cầm quyền

Đến xuân này, sau một năm triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng là dịp chúng ta suy ngẫm những lời căn dặn của Bác về Đảng cầm quyền để thấm nhuần và vận dụng tốt hơn vào việc thực thi nhiệm vụ chỉnh đốn Đảng trong giai đoạn mới của sự nghiệp đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước.

Đảng phải chăm lo phát triển kinh tế để không ngừng nâng cao đời sống nhân dân

Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng. Trong bản Di chúc lịch sử, điều đầu tiên Bác nói về Đảng và khẳng định: Đảng ta là một Đảng cầm quyền, mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư… Người căn dặn Đảng ta những việc cần phải làm để tiếp tục lãnh đạo nhân dân ta hoàn thành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thống nhất Tổ quốc, hàn gắn các vết thương chiến tranh, xây dựng lại đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế… Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: công việc trên đây là rất to lớn, nặng nề và phức tạp, mà cũng là rất vẻ vang. Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, là Đảng Cộng sản cầm quyền, Đảng ta phải hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ trung thành của nhân dân.

Yêu dân, trọng dân là tình cảm và tư tưởng của Bác muốn giáo dục và truyền lại cho Đảng ta phải tiếp tục phát huy trong mọi thời kỳ để sự nghiệp cách mạng đi lên vững chắc.

Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong DI CHÚC, thể hiện tình cảm thương dân, tự hào vô hạn về nhân dân ta và trách nhiệm nặng nề của Đảng với nhân dân: Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh. Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

Đồng chí Nguyễn Khắc Hưng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ trao Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ tặng Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh. Ảnh: Xuân ThuĐồng chí Nguyễn Khắc Hưng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ trao Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ tặng Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh. Ảnh: Xuân Thu

Hơn bốn mươi bốn năm qua, thực hiện Di chúc của Bác, Đảng và Nhà nước ta đã lãnh đạo nhân dân ta làm tốt nhiều điều căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, hàn gắn các vết thương chiến tranh, Đảng và Nhà nước ta đã tập trung mọi nguồn lực để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội. Từ năm 1986, Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân tiến hành công cuộc đổi mới, đưa nền kinh tế nước ta thoát khỏi khủng hoảng, thực hiện CNH-HĐH đất nước, mở cửa thị trường, hội nhập kinh tế thế giới, xã hội ổn định, đời sống nhân dân từng bước được nâng lên.

Nhờ có đường lối đổi mới và các chính sách kinh tế phù hợp, được sự ủng hộ và thực hiện sáng tạo của các tầng lớp nhân dân, từ một nước nghèo, chậm phát triển, trong mấy chục năm qua Việt Nam đã vượt lên thoát khỏi nước nghèo, có tốc độ phát triển kinh tế khá cao ở châu Á. Đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp đã có những thành tựu to lớn, nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu ở tốp các nước hàng đầu thế giới. Kinh tế phát triển gắn liền với thực hiện các chính sách xã hội, chăm lo cho con người mà Bác Hồ căn dặn. Công tác xoá đói giảm nghèo đạt những thành tựu to lớn được thế giới đánh giá cao. Các đối tượng chính sách được hưởng chế độ đãi ngộ ngày càng nâng cao, bảo đảm ngang bằng và cao hơn mức sống trung bình của người dân. Đời sống của đại đa số nhân dân có mức tăng trưởng, ngày càng cải thiện. Trong công cuộc đổi mới, nhiều phong trào thi đua phát triển kinh tế, xây dựng đời sống văn hoá đã lan toả và phát triển mạnh mẽ tạo ra những thay đổi nhanh chóng trên mọi vùng, miền của đất nước.

Những năm gần đây, trước những khó khăn mới do tình hình suy giảm kinh tế toàn cầu và những yếu kém trong quản lý nền kinh tế đất nước, trong quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, dù có nhiều cố gắng của Đảng, Nhà nước và nhân dân song chúng ta nhận thấy việc thực hiện tâm nguyện và lời dặn của Bác về phát triển kinh tế và văn hoá để không ngừng nâng cao đời sống nhân dân vẫn còn phải tiếp tục lâu dài. Đặc biệt cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu phải được đẩy mạnh hơn. Những khuyết điểm, sai phạm trong lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước cần phải được sửa chữa, xử lý theo tinh thần của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Ra sức giữ gìn truyền thống đoàn kết của Đảng

Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, đoàn kết trở thành chiến lược lớn nhất được Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát thành khẩu hiệu hành động của toàn Đảng, toàn dân ta “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.

Để tập hợp, xây dựng, phát triển lực lượng cách mạng, vấn đề hết sức quan trọng là phải nhận thức và giải quyết đúng đắn các mối quan hệ lợi ích giữa cá nhân – tập thể. Trong giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú ý tới lợi ích cá nhân và coi đó là động lực trực tiếp để kích thích tính tích cực, sáng tạo của mỗi cá nhân. Hồ Chí Minh chỉ ra: trong cuộc sống, mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và gia đình mình. Nếu lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích tập thể thì không phải là cái xấu… Đối với cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh yêu cầu: Mỗi người trong Đảng phải hiểu rằng, lợi ích của cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng. Lợi ích của mỗi bộ phận nhất định phải phục tùng lợi ích lâu dài. Người nhấn mạnh: Nếu gặp lợi ích nói chung của Đảng mâu thuẫn với lợi ích riêng của cá nhân, thì phải kiên quyết hy sinh lợi ích của cá nhân cho lợi ích của Đảng. Khi cần đến tính mệnh của mình cũng phải vui lòng hy sinh cho Đảng.

Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Người căn dặn: Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Trong Đảng phải thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên tiến hành tự phê bình và phê bình; mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Hiện nay, trong bối cảnh quốc tế, mở cửa, hội nhập, toàn cầu hoá, đoàn kết toàn dân và xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất là xuất phát từ nhu cầu khách quan, việc xử lý những mâu thuẫn xã hội, các nhóm người có quyền lợi khác nhau cần theo hướng phát triển cộng đồng, có lợi cho quần chúng nhân dân lao động, tránh đẩy tới mâu thuẫn đối kháng, không để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chia rẽ. Trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng Cộng sản là hạt nhân lãnh đạo và là linh hồn. Đoàn kết nội bộ Đảng là chỗ dựa, là cơ sở để đoàn kết dân tộc và khối đại đoàn kết dân tộc chỉ có thể xây dựng được khi đường lối cách mạng có mục tiêu, phương pháp phù hợp với nguyện vọng, quyền lợi của đại đa số nhân dân. Trong tiến trình hội nhập quốc tế rất đa dạng và phức tạp, chứa đựng những vấn đề thống nhất và đối lập, cơ hội và thách thức đan xen, cần thực hiện một nguyên tắc trong quan hệ quốc tế được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ngắn gọn “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” để giữ vững độc lập tự chủ, bình đẳng và cùng có lợi, vì hoà bình, hữu nghị và phát triển, tranh thủ những thời cơ và vận hội trong quá trình xây dựng đất nước, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân thế giới, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại.

Tư tưởng đoàn kết của Hồ Chí Minh có ý nghĩa lâu dài, mãi mãi, là sức mạnh của chúng ta. Sự đoàn kết nhất trí của Đảng cầm quyền vì thế là nhân tố đặc biệt để lãnh đạo nhân dân, lãnh đạo xã hội để xây dựng đất nước vì trong xu thế toàn cầu hoá về kinh tế, khi nhân loại tiến đến nền kinh tế tri thức, cuộc cách mạng thông tin, điện tử và sinh học… bùng nổ, Việt Nam tiến hành hội nhập kinh tế, quan hệ hợp tác quốc tế sâu rộng hơn, bên cạnh những thuận lợi cũng có nhiều thách thức, khó khăn mới. Đó cũng là bài học lớn của tiến trình đổi mới phải bảo đảm và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, ra sức phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, sức sáng tạo của nhân dân làm nên lịch sử. Đổi mới trước hết phải phát huy yếu tố năng động nhất của lực lượng sản xuất là nhân tố con người, mà căn bản nhất là giải phóng năng lực trí tuệ con người, giải phóng mọi tiềm năng xã hội để phát triển con người và phục vụ con người, đem lại cuộc sống xứng đáng với lao động và cống hiến của mỗi người.

Gần 3 thập kỷ qua, công cuộc đổi mới ở nước ta được tiến hành từng bước vững chắc và toàn diện là nhờ có đường lối ĐỔI MỚI đúng đắn và sự đoàn kết chặt chẽ của Đảng. Đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, chăm lo xây dựng đời sống văn hoá mới là ba trụ cột của xã hội. Cùng với cải cách, đổi mới kinh tế là đổi mới hệ thống chính trị, phát huy dân chủ trong Đảng và dân chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước pháp quyền vì dân, làm lành mạnh hoá xã hội, chống tiêu cực, tham nhũng, lợi ích nhóm và các tệ nạn xã hội khác. Nhờ đó mà thế và lực của nước ta ngày càng lớn mạnh và có vị thế mới trên trường quốc tế.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng, những điều Người căn dặn về Đảng cầm quyền là di sản tinh thần thiêng liêng, tài sản quý giá của Đảng và nhân dân ta. Đó là cội nguồn sức mạnh cho Đảng, để Đảng ta luôn luôn xứng đáng là Đảng của dân tộc Việt Nam, Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện và xây dựng./.

TS Phạm Văn Khánh
baonamdinh.com.vn

Nhớ lời Bác Hồ dặn khi Tết đến

Bác Hồ của chúng ta lúc sinh thời có viết tác phẩm “Mừng Tết Nguyên đán như thế nào ?”. Trong tác phẩm, Người căn dặn: “Suốt năm chúng ta thi đua lao động, sản xuất, những ngày Tết Nguyên đán chúng ta vui chơi một hôm để chào xuân, việc đó cũng đúng thôi… Chúng ta mừng xuân một cách vui vẻ và lành mạnh. Nếu có bao nhiêu tiền bỏ ra mua sắm hết để đánh chén lu bù, thế là mừng xuân một cách lạc hậu, thế là lãng phí, thế là không xuân”.

Vào những dịp Tết hàng năm, Bác dành thời gian đi chúc Tết không những các cơ quan, xí nghiệp mà còn đến thăm một số gia đình khó khăn, lam lũ làm ăn.

Chúng ta còn nhớ, qua những mẩu chuyện Bác đi chúc Tết đã được ghi lại. Cảm động nhất là Bác đến thăm chị Nguyễn Thị Tín, một người gánh nước thuê ở ngõ 16 Lý Thái Tổ trong đêm 30 giá rét và mưa phùn của Tết Nhâm Dần năm 1962. Với đôi thùng trên vai, chị vừa ra đến ngõ thì gặp Bác. Quá bất ngờ trước sự xuất hiện của Bác, đôi thùng trên vai chị rơi xuống đất. Tay chị run run nắm lấy tay Bác và nói trong sự xúc động chen lẫn tiếng nấc nghẹn ngào: “Cháu không ngờ lại được Bác đến thăm”. Bác vỗ vai an ủi chị: “Bác không đến thăm những gia đình như thím thì thăm ai…”.

Dịp Tết năm 1965, Bác đi thăm các cơ quan, đoàn thể ở Hà Nội, sau đó lên thăm công trường ở Việt Trì, nơi có chuyên gia và cán bộ, công nhân các nước bạn đang giúp ta, Bác nhắc nhở lãnh đạo đơn vị đại ý là phải chú ý chăm lo sinh hoạt của anh chị em trong ngày Tết. Đối với các đồng chí xa nhà trong dịp Tết Nguyên đán này, càng chú ý chăm sóc, các anh em công nhân người Âu, Phi lâu nay đã quen với phong vị Tết Việt Nam, nên làm sao cái Tết được vui vẻ hơn so với những năm trong kháng chiến… Tình cảm của Bác không chỉ dành riêng cho nhân dân mình mà còn cho bè bạn năm châu, thật là xúc động biết bao!

Không chỉ vậy, Bác còn căn dặn chúng ta phải hết sức tiết kiệm và chống lãng phí. Trong lúc đất nước đang khó khăn, việc cần, kiệm để xây dựng Tổ quốc là một nhiệm vụ, không ai được phép quên. Bác chê trách khi phát hiện có những nơi làm không đúng, gây lãng phí tiền của, công sức của nhân dân và Người từng nói:

“Mừng xuân mừng cả thế gian
Phải đâu lãng phí cỗ bàn mới xuân”.

Nhân dịp Tết Kỷ Dậu – 1969, đúng ngày mồng Một, Bác Hồ đến trồng cây ở xã Vật Lại, huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây nay thuộc TP. Hà Nội. (Ảnh TL, TNN st)

Tết Nguyên đán Quý Tỵ – 2013 lại đến, cả nước ta tưng bừng đón chào năm mới. Mỗi chúng ta cùng khắc ghi lời Bác Hồ căn dặn. Đón Tết, vui Xuân mới với tấm lòng biết ơn Người, chúng ta nguyện quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng và nhất là tinh thần Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tư, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên, để xây dựng Đảng ta luôn trong sạch vững mạnh, xứng đáng là người đầy tớ, là người lãnh đạo trung thành của nhân dân.

LÊ THANH SƠN
binhthanh.hochiminhcity.gov.vn

Bác Hồ và hạnh phúc của dân

Tại sao dân ta ai cũng gọi Hồ Chủ tịch là Bác Hồ, kể cả ngay từ sau Cách Mạng Tháng Tám, nghĩa là khi bác mới có 55 tuổi.

Một nhà văn cho biết: Lần đầu tiên Hồ Chí Minh xưng bác và gọi cháu là trong “Trả lời thư chúc mừng của Hội Nhi đồng Công giáo khu Thượng Mỹ, huyện Phú Xuyên, Hà Đông” ngày 10/5/1947. Bác viết: “Bác cảm ơn các cháu. Bác khuyên các cháu: Biết giữ kỉ luật, siêng học siêng làm, yêu Chúa yêu nước. Bác hôn các cháu”. Và ký với Hồ Chí Minh, chứ không với Bác Hồ. Ba tháng sau, trong “Thư gửi nhi đồng toàn quốc nhân kỉ niệm Cách mạng Tháng Tám, năm 1947″, danh xưng Bác Hồ xuất hiện và từ đó được sử dụng. Song phải nhấn mạnh: Hồ Chí Minh chỉ xưng bác trong hai trường hợp quan hệ. Thứ nhất, trường hợp bác – cháu, với nhi đồng. Điều này không có gì là chướng.

Ở tuổi 55 khi lên làm Chủ tịch nước, đối với người Việt thuở đó Hồ Chí Minh đã là một người già. Phóng viên báo chí thường gọi là Cụ Chủ tịch, cũng như Chủ tịch gọi những người trạc tuổi mình là cụ. Trong bối cảnh ấy, xưng hô bác – cháu của Hồ Chí Minh với nhi đồng là tự nhiên… Cuối thư gửi nhi đồng, Hồ Chí Minh thường hôn các cháu. Trong một bức thư, còn hôn các cháu rõ kêu, một cử chỉ rất Tây được diễn đạt rất Việt. Trường hợp xưng bác thứ hai của Hồ Chí Minh là trong quan hệ với những người kém tuổi mình. Bác ở đây không phải là bác – cháu, mà là bác – cô/chú”.

Như vậy việc toàn dân gọi Bác Hồ không phải là chủ ý của Bác mà chính là từ lòng thật sự kính yêu Bác của tuyệt đại đa số nhân dân, từ các bậc trí thức cao niên cho đến các cháu bé ở vùng núi cao. Bác tôn trọng mọi người trên tinh thần Đại đoàn kết toàn dân tộc, nhưng diều đặc biệt là Bác thực sự quan tâm đến những người nghèo khổ nhất trong xã hội.

Đồng chí Vũ Kỳ kể rằng: Trong cuộc “vi hành” đêm Ba mươi Tết của mùa Xuân độc lập đầu tiên, Bác Hồ đã chứng kiến cảnh gia đình một người đạp xích lô “Tết mà không có Tết” ngoài một nén hương đang cháy dở trên bàn, còn chủ nhà thì đang đắp chiếu nằm mê mệt vì ốm. Bác đã xúc động lấy khăn lau nước mắt, lặng lẽ bước ra khỏi nhà, bảo đồng chí thư ký ghi lại địa chỉ để hôm sau báo cáo cho đồng chí Chủ tịch Hà Nội biết… Kể từ mùa Xuân đầu tiên đó, suốt 24 năm làm Chủ tịch nước, mỗi lần Tết đến, Xuân về, Bác lại nghĩ đến dân, lo sao cho dân có một mùa xuân ấm no, hạnh phúc.

Thường thì trước Tết ba tháng, Bác đã nhắc các cơ quan, các ngành chuẩn bị Tết cho dân. Riêng Bác cũng tự mình chuẩn bị sớm ba việc. Tìm ý thơ cho bài thơ mừng năm mới, nhắc văn phòng chuẩn bị thiếp “Chúc Mừng Năm Mới” để kịp gửi đến những nơi xa xôi nhất, kể cả bộ đội ở các vùng rừng núi, hải đảo xa xôi và cán bộ công tác ở nước ngoài. Và cuối cùng là một chương trình đi thăm dân không thể thiếu đối với Bác, một chương trình riêng mà chỉ Bác và các đồng chí cảnh vệ biết.

Tối Ba mươi Tết năm 1960, Bác đến thăm gia đình mẹ con chị Tín, một lao động nghèo ở phố Hàng Chĩnh, Hà Nội… Nếu Bác chỉ đến thăm các gia đình theo chương trình của các cơ quan đã bố trí thì làm sao Chủ tịch nước biết được gần đến giao thừa rồi mà chị Tín vẫn còn phải đi gánh nước thuê đổi gạo để sáng mai mùng một Tết có cơm ăn cho bốn đứa con của mình. Gặp Bác, chị Tín xúc động để rơi cả đôi thùng gánh nước xuống đất, run run cầm lấy bàn tay của Bác: – Cháu không ngờ lại được Bác đến thăm… Chỉ nói được vậy, chị đã òa lên khóc nức nở. Vị Chủ tịch nước đã an ủi chị: – Bác không đến thăm những gia đình như cô thì thăm ai… Và Bác đã vào nhà thăm hỏi khá lâu năm mẹ con chị Tín. Gọi là nhà nhưng đâu có phải là nhà mà là một cái chái như một túp lều. Chồng chị Tín là công nhân khuân vác ở bến Phà Đen đã mất cách đó bốn năm, còn chị thì cho đến lúc này vẫn chưa có việc làm ổn định. Cảnh nghèo của gia đình đã phũ phàng hiện ra trước mắt Bác. Trên chiếc bàn gỗ mục chỉ có một nải chuối xanh và một gói kẹo. Đúng là “Ba mươi Tết mà không có Tết”.

Cách đó 15 năm, Tết độc lập đầu tiên, Bác đã đau lòng chứng kiến cảnh một gia đình “Tết mà không có Tết” ở ngõ hẻm Sinh Từ. Đó là khi đất nước mới thoát khỏi vòng nô lệ. Còn bây giờ, kháng chiến đã thắng lợi, hòa bình đã sáu năm, mà lại còn cái cảnh này sao? Không phải ở đâu xa mà ở ngay Thủ đô Hà Nội… Vậy còn bao nhiêu gia đình như thế này ở khắp mọi miền đất nước? Cứ ngồi nghe báo cáo thì đâu cũng là no ấm, tươi vui…

Đêm ấy, trên đường về, ngồi trên xe, Bác Hồ trầm ngâm suy nghĩ. Vẻ đăm chiêu thoáng hiện trên gương mặt của Người. Bác đã từng tâm sự với các đồng chí phục vụ: “Một ngày dân chưa đủ ăn, áo chưa đủ mặc, các cháu chưa được học hành, mọi người còn khổ thì Bác ăn không ngon, ngủ không yên”. Về đến nhà, các đồng chí Bộ Chính trị đang chờ Bác để chúc mừng năm mới. Mọi người băn khoăn khi thấy Bác không vui. Bác kể lại hoàn cảnh gia đình chị Tín cho mọi người nghe. Cuối câu chuyện Bác nói: “Ta có chính quyền trong tay, nhưng chính quyền đó chưa thực sự là do dân, vì dân. Một số lãnh đạo các địa phương còn quan liêu và nặng về hình thức. Họ không chịu đi sâu, đi sát quần chúng, nên phục vụ quần chúng chưa tốt. Nếu chúng ta chỉ nghe báo cáo của họ thì sẽ không bao giờ nắm được chính xác tình hình để có chủ trương, nghị quyết đúng đắn. Đảng quan liêu, chính quyền quan liêu, thực sự là một nguy cơ đối với đất nước chúng ta” (Thư ký Bác Hồ kể chuyện, NXB Chính trị quốc gia, 2008).

Chưa có ai bảo Bác kê khai tài sản nhưng Bác là vị lãnh tụ hiếm hoi công khai tài sản. Tất cả tài sản ấy nhân dân ta và cả các khách quốc tế đều biết rõ khi viếng thăm ngôi nhà sàn của Bác.

Trong bốn đức được Bác Hồ nhiều lần nhấn mạnh Cần Kiệm Liêm Chính, Bác đã giải thích chữ Liêm như sau: “Liêm là trong sạch, không tham lam… Tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là BẤT LIÊM. Người cán bộ, cậy quyền thế mà đục khoét dân, ăn của đút, hoặc trộm của công làm của tư… Cụ Khổng Tử nói: “Người mà không Liêm, không bằng súc vật”. Cụ Mạnh Tử nói: “Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy”… Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”. Vì vậy, cán bộ phải thực hành chữ LIÊM trước, để làm kiểu mẫu cho dân… Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì. Mỗi người phải nhận rằng tham lam là một điều rất xấu hổ, kẻ tham lam là có tội với nước, với dân”. (Hồ Chí Minh toàn tập, T.5, tr.640-641).

Bác để lại những câu nói nổi tiếng về tự do cho nhân dân: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người” (Hồ Chí Minh toàn tập, T.8, tr.216); “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” (Hồ Chí Minh toàn tập, T.4, tr.56).

Chúng ta đang bàn chuyện sửa đổi Hiến pháp. Phải chăng không nên thiếu các quyền tự do được ghi trong điều 10 Hiến pháp 1946 mà Bác Hồ là người đã đích thân chỉ đạo.

NGUYỄN LÂN DŨNG
nongnghiep.vn