Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Bác Hồ ở Cam Ranh năm ấy…

QĐND – Sau Hội nghị Phông-ten-nơ-blô, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đường về nước. Cùng về với Người trên chuyến tàu còn có 4 kỹ sư vừa tốt nghiệp xuất sắc tại Pháp, theo Người trở về phục vụ Tổ quốc. Đó là bác sĩ Trần Hữu Tước và các kỹ sư: Võ Quí Huân, Võ Đình Huỳnh và Phạm Quang Lễ. Ngày 18-10-1946, tàu đưa Bác Hồ tiến vào vịnh Cam Ranh. Cao ủy Pháp Đác-giăng-li-ơ đã đón Chủ tịch Hồ Chí Minh theo nghi lễ chính thức trên biển.

Tượng Bác Hồ ở Cam Ranh.

Gần đây, Giáo sư Hàm Châu sưu tầm được hồi ký của Giáo sư Trần Hữu Tước, người duy nhất được tháp tùng Bác Hồ sang chiến hạm gặp Cao ủy Pháp. Đọc những dòng hồi ký ấy, chúng ta không khỏi bồi hồi xúc động về vận mệnh của Tổ quốc và tài ứng xử trước nguy nan của Bác Hồ:

“… Nước nhà độc lập rồi, mà giữa vịnh Cam Ranh, chiếc tuần dương hạm cỡ lớn, còn lại duy nhất trong Hạm đội Thái Bình Dương của Pháp, nằm ngạo nghễ ở đó, với cờ ba sọc bay phần phật trong gió Trường Sơn thổi ra như xua đuổi. Lại hai chiếc thủy phi cơ đang vè vè bay lượn chung quanh bảo vệ. Chúng chuẩn bị tiếp đón Bác rất trọng thể, đúng nghi thức để diễu võ dương oai…

Nghi lễ “đại kỳ”, khắp trên chiến hạm, tất cả các loại cờ đều treo; tất cả các đại bác, thần công, cao xạ, phóng lôi… đều giương cao nòng tua tủa. Và hai nghìn rưỡi thủy quân đồng phục trắng tinh, đứng nghiêm như những pho tượng đá, xếp trên bảy tầng tàu.

Đại Thủy sư Đô đốc, Đặc Cao ủy Pháp Đác-giăng-li-ơ, là con người hiếu cổ đang phục hồi tất cả những nghi thức thời oanh liệt của thủy quân Pháp xâm lược, dọc ngang trên các sông biển nước người.

Điện tín hiệu ước hẹn giờ sang mời Chủ tịch “phó hội”. Bác mượn ống nhòm, nhìn qua tình thế, rồi bình thản nói:

– Chỉ một mình chú Tước đi với Bác!

Vài giây hơi lạ, tôi giương hai mắt kính cận nhìn Bác. Bác nhắc lại:

– Phải, chỉ một mình chú thôi!

Xuồng máy tăng tốc, rẽ sóng lao về phía soái hạm. Đây là chiếc xuồng dùng để duyệt thủy quân, không mui, có chỗ tựa tay để đứng. Cách độ vài chục mét, loa phóng thanh gầm lên một khẩu hiệu, rồi vang lên ba lần: “Híp, híp, híp”. Tiếp theo sau là hai nghìn rưỡi cổ họng cùng hô to lên bảy lần: “Houra! Houra!”…

Đó là đại lễ đón Quốc trưởng…

Hồ Chủ tịch ung dung lẹ bước, trèo lên thang, tiến vào phía “viên môn” của soái hạm. Quả ông Đại Đô đốc này thích nghi lễ thật!

Lại một tiếng hô. Hai nghìn thủy quân to lớn, răm rắp đều bước nhanh dãn ra hai bên thảm đỏ. Đặc Cao ủy Pháp, người loắt choắt, tướng ngũ đoản, nụ cười cáo già trên môi, miệng toe toét với những vết nhăn nheo, bước ra niềm nở đón Hồ Chủ tịch. Hai bàn tay nhỏ, ngắn, xoe tròn lấy nhau, ông ta nói:

– Thưa Chủ tịch, thật tình đến tuổi tôi, mới được học một kinh nghiệm quý báu là tốt nhất đi đâu vẫn cần người thầy thuốc bên cạnh. Có phải không, thưa ông bác sĩ?

Bác trả lời gọn gàng:

– Sang thăm Đặc Cao ủy, nên đi với thầy thuốc!

… Viên Đặc Cao ủy lõi đời, sành sỏi đã nhận rằng, mình tiếp thu ngay bài học Bác vừa dạy cho. Trước nghi lễ rầm rộ, uy nghi đó, Bác chẳng coi ra gì, một mình “phó hội”, chỉ với người thầy thuốc, với mũ, gậy hằng ngày, như thể đi thăm người quen trong làng ngoài xóm, thế thôi!

Tiệc rất thịnh soạn, Chủ tịch ngồi đối diện với Đặc Cao ủy. Hai bên Bác là một vị tướng Tổng chỉ huy Lục quân Đông Dương và một vị Đô đốc Hải quân Pháp ở Thái Bình Dương. Lại cái tay ngắn củn, lại nụ cười muốn ra vẻ duyên dáng, viên Đại Đô đốc ngọt xớt:

– Kìa, thế là Chủ tịch được đóng khung giữa Lục quân và Hải quân rồi đấy.

Nhẹ nhàng cười, Bác đáp ngay:

– Đặc Cao ủy biết đấy, chính bức họa mới làm cho cái khung có giá trị.

Khắp bàn tiệc đều tán thưởng câu trả lời rất chí lý, chơi chữ Pháp tài tình của Bác: Đóng khung và cái khung.

Sau cuộc hội đàm, lúc bắt tay từ biệt, Bác chợt ôm hôn viên Đặc Cao ủy Pháp. Hắn ngạc nhiên chưa đầy nửa giây, rồi trấn tĩnh được ngay và cũng ôm Hồ Chủ tịch. Tất cả chung quanh đều sửng sốt, trơ mắt nhìn. Các nhà báo Pháp, chỉ toàn nhà báo Pháp thôi, chụp ảnh lia lịa, ghi ghi chép chép…

Lúc ra về, như để giải đáp một thắc mắc thầm kín của tuổi trẻ trong tôi, Bác nhẹ nhàng nói:

– Ôm hôn hắn cũng chẳng sao. Xã giao mà!

Xuồng nhỏ lướt trên làn sóng dập dềnh. Đứng ngay sau lưng Bác, nên có lúc như không thấy những người chung quanh. Trước mắt là núi non, biển cả. Quê hương bao la, hùng vĩ, phần phật gió Trường Sơn đã nổi, như cả dân tộc đang đứng lên, quật cường trong trận chiến cuối cùng; rồi chớp mắt nhìn lại, thấy Bác mảnh khảnh trong bộ quần áo bạc màu, tóc phong sương bao năm đang bay trong gió, đôi mắt sáng rực niềm tin tưởng và quyết tâm. Người đứng như pho tượng trước mặt xuồng, để chèo chống trong cơn sóng gió chưa từng có của đất nước…

Nhớ lại câu của Đặc Cao ủy trong bữa tiệc: “Chủ tịch thật quen với biển cả, có lẽ xin tặng Người danh hiệu “Người thủy thủ nhỏ” như quân đội Pháp đã quý mến tặng Napoléon cái tên “Người đội trưởng nhỏ”. Bác trả lời ngay: “Phải, người thủy thủ nhỏ của Hải quân Việt Nam”…”.

Cuộc gặp gỡ ấy đã đi vào lịch sử. Dù những hiệp định và tạm ước bị phản bội, nhưng “người thủy thủ nhỏ” đã trở thành người cầm lái vĩ đại đưa con thuyền dân tộc Việt Nam vượt qua sóng gió thác ghềnh, chiến thắng kẻ thù hung bạo. Năm 2008, tượng đài Bác Hồ thăm Cam Ranh được xây dựng.

NGUYÊN MINH
qdnd.vn

Những tiên đoán về Hồ Chí Minh

QĐND – Đối với các thiên tài và vĩ nhân, người ta không thể đánh giá cao thấp, mà chỉ có thể xem xét, đánh giá họ qua phát hiện và giải quyết những nhiệm vụ mà thời đại đã đặt ra cho nhân loại hoặc cho dân tộc mình. Bác Hồ kính yêu của dân tộc ta là như vậy.

Tiên đoán của cụ Phan Châu Trinh

Cụ Phan Châu Trinh là nhà yêu nước lớn của Việt Nam đầu thế kỷ XX. Về tuổi tác, Phan Châu Trinh là bậc cha chú của Nguyễn Ái Quốc. Mặc dù giữa hai người có sự khác nhau về phương pháp cứu nước, nhưng đối với Nguyễn Ái Quốc, cụ Phan luôn dành cho Anh một niềm tin và cả sự tôn trọng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1969)

Trong một bức thư đề ngày 18-2-1922 gửi từ Mác-xây cho Nguyễn Ái Quốc ở Pa-ri, cụ Phan Châu Trinh đã viết rằng: Nguyễn Ái Quốc “như cây dương lộc, nghị lực có thừa, dày công học hành, lý thuyết tinh thông”. Cụ Phan tin rằng, không bao lâu nữa “cái chủ nghĩa mà Anh tôn thờ (ý nói chủ nghĩa Mác – Lê-nin) sẽ sâu rễ bền gốc trong đám dân tình chí sĩ nước ta”.

Năm 1925, trước khi qua đời cụ Phan đã thổ lộ với các đồng chí của mình như Lê Văn Huân, Huỳnh Thúc Kháng: ”Sự nghiệp độc lập nước nhà trông cậy vào Nguyễn Ái Quốc”(1).

Tiên đoán của một nhà thơ lớn của Liên Xô

Vào năm 1923, khi Nguyễn Ái Quốc làm việc ở Quốc tế Cộng sản ở Mát-xcơ-va, một lần nhà thơ Liên Xô là Ô-xíp Man-đen-xtam đến thăm Nguyễn Ái Quốc. Trả lời câu hỏi của nhà thơ, vì sao phải ra nước ngoài hoạt động, Nguyễn Ái Quốc đã nói: Khi tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ tự do, bình đẳng, bác ái… tôi muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những từ ấy. Chuyến thăm này đã được Ô-xíp Man-đen-xtam viết lại trong bài “Thăm một chiến sĩ Quốc tế Cộng sản” (trên tờ báo “Tia lửa nhỏ”, Liên Xô, số 39, ngày 23-12-1923). Trong bài báo nói trên, nhà thơ đã nhận xét: “Qua cử chỉ cao thượng, tiếng nói trầm lắng của Nguyễn Ái Quốc, tôi thấy được ngày mai, thấy được viễn cảnh trời yên biển lặng của tình hữu ái toàn thế giới bao la như đại dương… Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa, không phải văn hóa châu Âu, mà có lẽ là văn hóa tương lai…”(2).

Tiên đoán của luật sư F.H Lô-dơ-bai

Vào năm 1931, trong thời kỳ hoạt động Cách mạng ở Hồng Công, Bác Hồ đã bị cảnh sát Hồng Công bí mật bắt giam theo “đặt hàng” của mật thám Pháp. Biết tin Nguyễn Ái Quốc bị bắt, Hồ Tùng Mậu đã đến gặp luật sư Phrăng-xít Hăng-ri Lô-dơ-bai – một luật sư tiến bộ người Anh ở Hồng Công nhờ giúp đỡ. Luật sư F.H Lô-dơ-bai với những thông tin về Nguyễn Ái Quốc và cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam đã không ngại nguy hiểm, khó khăn, qua 9 phiên tòa xét xử, bác bỏ những cáo buộc của thẩm phán, cứu Nguyễn Ái Quốc thoát khỏi nanh vuốt của thực dân Pháp. Sau này, ông nói: “Tôi tin Việt Nam sẽ có vị trí đặc biệt trên thế giới với nhà lãnh tụ tài ba Hồ Chí Minh”.

———-

(1) – Theo “117 chuyện kể về Chủ tịch Hồ Chí Minh” – Ban Tuyên giáo Trung ương.

(2) – Hồ Chí Minh “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận”, NXB Văn học, HN,1981, Tr 477,478.

LỆ CHI
qdnd.vn

Tết trồng cây cuối cùng của Bác Hồ

Đồng chí có biết?

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng - Ảnh tư liệu

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng – Ảnh tư liệu

QĐND – Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác trồng cây gây rừng. Ngày 28-11-1959, với bút danh Trần Lực, Hồ Chí Minh viết bài “Tết trồng cây” để phân tích ý nghĩa và lợi ích thiết thực của phong trào này và “đề nghị tổ chức một ngày Tết trồng cây, việc này tốn kém ít mà lợi ích rất nhiều”. Tết trồng cây đầu tiên đã được tổ chức ở miền Bắc vào đầu Xuân năm 1960. Từ đó, hằng năm, vào dịp đầu Xuân mới Bác Hồ lại đến một địa phương nào đó để trồng cây.

Địa điểm Người trồng cây cuối cùng là mùa Xuân Kỷ Dậu năm 1969 tại đồi Yên Bồ, xã Vật Lại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội). Hồi ấy sức khỏe của Bác yếu nhiều, việc bố trí để Bác trồng cây ở một địa phương nào đó theo ý của Bác là một vấn đề rất khó khăn. Những người phục vụ Bác rất lo lắng nên nhiều lần đề nghị Bác hoãn lại việc trồng cây. Nhưng Bác rất kiên quyết. Bác gợi ý chọn xã Vật Lại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây là nơi có phong trào trồng cây tốt.

Theo kế hoạch đã chuẩn bị, Bác đến địa điểm trồng cây. Đông đảo các đại biểu, các tầng lớp nhân dân đã đứng trên những đồi cây đón Bác. Bác trực tiếp trồng thêm một cây đa. Nhìn những xẻng đất, bình nước Bác tưới mát cho cây, mọi người ai cũng xúc động nghẹn ngào.Trồng cây xong, Bác cùng mọi người quây quần dưới tán cây và thân mật hỏi chuyện và chúc Tết mọi người. Tất cả mọi người có mặt trong buổi Bác trồng cây năm ấy không ai nghĩ rằng đó là mùa xuân cuối cùng và cũng là cái Tết trồng cây cuối cùng của Bác.

Ghi nhớ lời bác dạy 54 năm qua, nhân dân Ba Vì đã ra sức thi đua sản xuất giỏi, trồng nhiều cây xanh, năm nào cũng thực hiện tốt phong trào “Tết trồng cây” do Bác Hồ phát động. Xuân Quý Tỵ này, Ba Vì sẽ tổ chức ra quân thực hiện Tết trồng cây vào ngày 18-2 (tức là ngày mồng 9 Tết).

MINH HÀ
qdnd.vn

Theo chân Bác trên đất nước Hoa Hồng (tiếp theo)

(ĐCSVN)  – Trong ba ngày từ 13 đến 17 tháng 8 năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu Đoàn đại biểu Đảng và Nhà nước ta thăm chính thức Cộng hoà Nhân dân Bulgaria. Trong chuyến thăm ba ngày ngắn ngủi đó, hình ảnh của “một vị anh hùng huyền thoại của một dân tộc vĩ đại” (theo cách gọi của báo chí Bulgaria thời đó) qua nhiều thế hệ, vẫn còn in đậm nét trong ký ức của những người bạn Bulgaria trọng thị, mến khách.

Lễ đón Chủ tịch Hồ Chí Minh tại quảng trường Trung tâm Thủ đô Sophia.
(Ảnh chụp lại từ phông tư liệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh).

Ông Phạm Quốc Bảo, nguyên Đại sứ nước ta tại Bulgaria cho biết, nếu theo dấu chân Bác chỉ thông qua những trang tư liệu thì chưa đủ. Và, ông kể cho chúng tôi nghe quá trình lần tìm những nhân chứng đã từng tham gia đón tiếp Người trong chuyến thăm lịch sử đó.

Tháng 8-2007, Đoàn cán bộ Ban Tuyên giáo Trung ương do GS, TS Phạm Mạnh Hùng, Phó Trưởng ban làm Trưởng đoàn đã cùng Đại sứ và nhóm biên soạn đến thăm lâu đài Vơrana, trước đây là Nhà khách Chính phủ, nơi Bác Hồ đã ở trong thời gian chuyến thăm lịch sử. Chủ nhân của lâu đài là cựu Hoàng Simeon Đệ nhị, nguyên Thủ tướng Bulgaria (2001-2005) đã đích thân dẫn đoàn đi thăm nơi ăn, chốn nghỉ của Bác trước đây và giới thiệu với khách về tòa lâu đài cổ kính này.

Các hoạt động kỷ niệm 50 năm chuyến thăm Bulgaria của Chủ tịch Hồ chí Minh diễn ra trên đất bạn đã được các cơ quan, đoàn thể ở trung ương và địa phương, các hãng thông tấn báo chí và nhân dân Bulgaria đánh giá cao và hưởng ứng nhiệt tình. Tới dự mít tinh và khai mạc triển lãm ảnh có nhiều vị lãnh đạo cấp cao như: Bộ trưởng Quốc phòng, Bộ trưởng Kinh tế và Năng lượng, Chủ tịch Cơ quan Nhà nước về Công nghệ thông tin và Truyền thông; Chủ nhiệm Ủy ban Nông – Lâm của Quốc hội, Chủ tịch Nhóm nghị sĩ Quốc hội hữu nghị với Việt Nam; Thứ trưởng Bộ Văn hóa; Chủ tịch Hội Hữu nghị Bulgaria – Việt Nam; các đại biểu Quốc hội, Đoàn Ngoại giao, cán bộ nhân viên Đại sứ quán, đông đảo bà con trong cộng đồng người Việt và bạn bè Bulgaria… Điều rất cảm động là các cựu chiến binh, các nhà hoạt động chính trị – xã hội lão thành, có nhiều tình cảm sâu sắc với Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tham gia đầy đủ trong các hoạt động nhân dịp kỷ niệm chuyến thăm Bulgaria của Bác.

Trước đó, nhằm bổ sung, hoàn thiện tư liệu cho việc biên soạn cuốn sách, Đại sứ và nhóm biên soạn đã tổ chức nhiều cuộc gặp gỡ với các nhân chứng. Ngày 8-5-2007, vợ chồng nghị sĩ Oleg Popov và con trai đến thăm Đại sứ quán nước ta tại Sôphia ta trước khi bà Evelina Popova sang Việt Nam công tác. Bà cho biết, trước đây cụ Popov (bố chồng bà) đã được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Nôvi Khan. Hồi đó cụ Popov còn là một thượng úy trẻ trong hàng ngũ an ninh nước bạn bảo vệ Bác Hồ. Sau này, cụ Popov được thăng quân hàm thiếu tướng an ninh và đã nghỉ hưu. Đại sứ rất xúc động khi nghe tin vui này và đã ngỏ ý mong muốn được đến thăm cụ. Không bao lâu sau, chiều ngày 11-5, ông Phạm Quốc Bảo về thăm làng Gabra. Mặc dù đã gần 80 tuổi, không quản đường xá xa xôi, cụ Popov đã lên tận làng Novi Khan, cách nhà 15 km để chỉ nơi Bác Hồ dừng chân và kể lại khi nghe tin Bác Hồ đi qua tuyến đường này, nhân dân đã đổ ra đường, đông chưa từng có trong lịch sử để chào đón Bác. Cụ nói rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị khách duy nhất được nhân dân Bulgaria đón tiếp nồng nhiệt đến như vậy. Cụ cũng không quên kể lại những giây phút xúc động khi được ôm Bác Hồ như thế nào, nửa thế kỷ đã qua mà cho tới tận bây giờ vẫn còn nhớ mãi không nguôi. Cụ đã tâm sự: “Tham gia bảo vệ Bác Hồ, tôi thấy có cái gì đấy rất khác. Người thật khiêm tốn, giản dị và cái đó đã tôn vinh Người trong mắt người dân Bulgaria và gây ấn tượng rất sâu sắc đối với tôi cho đến tận bây giờ”.

Ngày 17-8-2007, trong số khách đến dự mít tinh kỷ niệm 50 năm chuyến thăm Bulgaria của Chủ tịch Hồ Chí Minh có hai mẹ con cụ Vasilka Nikiphorova. Cụ tặng hoa Đại sứ và bày tỏ cảm tình đặc biệt với nhân dân Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tuy ở tuổi 93 nhưng cụ vẫn minh mẫn và rất tích cực tham gia các hoạt động của hội hữu nghị Bulgaria – Việt Nam. Ngày 29-8-2007, Đại sứ cùng nhóm biên soạn đến thăm gia đình cụ, thật cảm động khi được biết cả con gái và con rể của cụ nay đã ở tuổi 70 mà trước đây cũng đều được gặp Bác Hồ. Cụ được gặp Bác Hồ ở cuộc mít tinh, dự chiêu đãi và tặng hoa Bác cách đây nửa thế kỷ. Bà Maria Nikiphorova phụ trách nhóm thiếu nhi tặng hoa Bác Hồ ở sân bay Sophia, còn ông Andrey Evtimov Penchev được dự mít tinh chào mừng Bác ở quảng trường Đỏ, thành phố Plovdiv. Năm mươi năm đã trôi qua, nhưng hình ảnh về Bác Hồ vẫn còn in dấu ấn sâu đậm trong lòng người dân Bulgaria.

Theo dấu chân Bác Hồ, Đại sứ cùng nhóm giúp việc đã về làng Perustitsa (nay là một thị trấn) nằm ở phía tây dãy núi Rodopi ở cách Sophia 147 km về phía Đông Nam. Nhóm biên soạn đã vào tham quan hầm rượu vang mà cách đây 50 năm Bác Hồ đã đến thăm. Tại đây, hai bố con ông Giám đốc niềm nở đón tiếp và đã dành cho ông Phạm Quốc Bảo và nhóm biên soạn một bất ngờ lớn. Họ giới thiệu một cụ già người tầm thước, da dẻ hồng hào có mặt trong buổi tiếp là người được gặp Bác Hồ ở đây tháng 8-1957. Cụ Iordan Costadinov Toncov bồi hồi nhớ lại: “Cách đây 50 năm, khi đó tôi mới 25 tuổi đã vinh dự được bắt tay Bác Hồ”. Sau đó, cụ đã hướng dẫn các thành viên của đoàn công tác tham quan những nơi mà nửa thế kỷ trước Bác Hồ đã thăm như: hầm rượu vẫn còn nguyên, ngôi nhà nơi tiếp đón Bác, gia đình ông Petar Savov có người em đã anh dũng hy sinh trong chiến tranh chống phát xít để bảo vệ dân làng. Cụ Iordan Costadinov Toncov xúc động nói: ”Tôi vẫn còn nhớ mãi cái bắt tay nồng nhiệt với một bậc vĩ nhân. Dù chỉ trong giây lát ngắn ngủi, nhưng cũng đủ để bản thân tôi có cơ hội cảm nhận được lòng nhân ái của Người”.

Vào dịp kỷ niệm ngày sinh lần thứ 80 của cụ bà Angelina Ivanova Angelova (23-11-2007), nguyên Giám đốc Liên hiệp Nhà trẻ mang tên Hồ Chí Minh trong suốt 20 năm (1970-1990), đơn vị liên tục là lá cờ đầu trong toàn quốc và đã được nhà nước tặng thưởng Huân chương cao quý “Kiril và Metoy” hạng Nhất”. Tiếp xúc với Đại sứ, cụ Angelina Ivanova Angelova xúc động tâm sự: “Cho đến ngày nay, các lớp con cháu của chúng tôi vẫn mang trong mình niềm tự hào lớn lao là đã được dạy dỗ và lớn lên từ Liên hiệp Nhà trẻ “Hồ Chí Minh”.

Theo dấu chân Bác Hồ, nhóm biên soạn đã đi theo hành trình Bác đã đi qua, bồi hồi xúc động và niềm tự hào trào dâng khó tả. Từ các cơ quan trung ương đến chính quyền địa phương, từ thủ đô Sophia đến Perustitsa, những địa danh, thành phố, làng mạc, đường đèo, núi non, rừng cây, sông suối…, đến đâu cũng như vẫn còn in dấu chân Người, như những nhân chứng lịch sử đã chứng kiến một thời Bác đã đi qua, nay vẫn còn để lại những dấu ấn sâu đậm trong lòng người dân Bulgaria.

Những nhân chứng lịch sử đã nói lên rằng: Sự kính trọng, khâm phục và tình cảm quý báu đối với Bác Hồ vẫn còn là những dấu ấn sâu đậm trong lòng những người bạn Bulgaria, bất chấp cả những biến động lớn trong quan niệm về các giá trị tinh thần, tư tưởng và đạo đức trong quá trình chuyển đổi thể chế chính trị của đất nước.

Trải qua những bước thăng trầm của lịch sử, Di sản Hồ Chí Minh vẫn là cầu nối cho những ý niệm tốt đẹp của người Bulgaria đối với Việt Nam. Dấu ấn của Người để lại vẫn luôn nâng bước để chúng ta tiến lên trên con đường hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc.

(Viết theo lời kể của ông Phạm Quốc Bảo và tài liệu do nhóm biên soạn cuốn sách cung cấp)

Nguyễn Vũ Cân
dangcongsan.vn

Theo chân Bác trên đất nước Hoa Hồng

(ĐCSVN)  – Trong ba ngày từ 13 đến 17 tháng 8 năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu Đoàn đại biểu Đảng và Nhà nước ta thăm chính thức Cộng hoà Nhân dân Bulgaria. Trong chuyến thăm ba ngày ngắn ngủi đó, hình ảnh của một vị anh hùng huyền thoại của một dân tộc vĩ đại (theo cách gọi của báo chí Bulgaria thời đó) qua nhiều thế hệ, vẫn còn in đậm trong ký ức của những người bạn Bulgaria trọng thị, mến khách..

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến thăm Bulgaria từ ngày 13 đến
ngày 17 tháng 8 năm 1957. (Ảnh chụp lại từ phông tư liệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh)

Bác Hồ qua từng trang tư liệu

Tháng 6 năm 2010, tôi được ông Phạm Quốc Bảo, nguyên Đại sứ nước ta tại Bulgaria tặng cuốn sách “Hồ Chí Minh trên đất nước Hoa Hồng”. Cuốn sách này do Đại sứ quán nước ta tại Cộng hoà Bulgaria phối hợp với Bảo tàng Hồ Chí Minh biên soạn và được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự Thật phát hành. Cuốn sách tập hợp những tư liệu quý về chuyến thăm lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Bulgaria từ ngày 13 đến ngày 17 tháng 8 năm 1957. Chuyến thăm được ghi vào trang vàng của lịch sử quan hệ giữa Việt Nam và Bulgaria.

Ông Phạm Quốc Bảo kể rằng, nhờ sự giúp đỡ tận tình của bạn bè và các cơ quan hữu quan Bulgaria và trong nước, Đại sứ quán nước ta đã sưu tầm được nhiều hình ảnh và tư liệu quý về hoạt động đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Bulgaria và Việt Nam.

Đầu năm 2007, nhờ có mối quan hệ thân tình với một số cán bộ lãnh đạo Bộ Ngoại giao Bulgaria, Đại sứ quán ta đã nhận được một tập hồ sơ tư liệu quý về chuyến thăm Bulgaria năm 1957 của Chủ tịch Hồ Chí Minh gồm 62 trang bằng tiếng Bulgaria và tiếng Pháp. Trong đó có nhiều tài liệu có giá trị như các bản ”tốc ký” ghi lại những lời phát biểu miệng của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại buổi gặp mặt với Đoàn Chủ tịch Quốc hội Bulgaria, biên bản các cuộc hội đàm giữa các nhà lãnh đạo hai nước, các chỉ thị và nghị quyết đặt tên Chủ tịch Hồ Chí Minh cho các đại lộ, nhà trẻ, nhà máy ở Bulgaria…

Tháng 5/2007, nhờ sự giúp đỡ của Quốc hội Bulgaria, Đại sứ quán nước ta đã nhận được hai tập bản sao báo “Sự nghiệp Công nhân” – Cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Bulgaria và báo “Mặt trận Tổ quốc” – Cơ quan ngôn luận của Đoàn Chủ tịch Quốc hội và Mặt trận Tổ quốc Bulgaria (từ ngày 13 đến ngày 19/8/1957) đang lưu giữ tại Quốc hội. Trong đó, các báo đăng tải các tin, bài, văn kiện, lời phát biểu của lãnh đạo hai nước… diễn tả đầy đủ toàn cảnh chuyến thăm của Bác qua hệ thống truyền thông Bulgaria. Dựa trên những tư liệu quý bước đầu sưu tầm được, trước hết nhóm biên soạn tiến hành cuộc hành trình ”Theo dấu chân Bác Hồ” trên tư liệu báo chí. Những tư liệu đó đã cho thấy, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân Bulgaria đã dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh sự đón tiếp hết sức nồng nhiệt, trọng thị, hữu nghị và thân thiết, thể hiện tình cảm chân thành với lòng kính trọng và tình yêu cao quý nhất của nhân dân Bulgaria anh em đối với nhân dân Việt Nam anh hùng. Báo chí Bulgaria mô tả nhân dân Bulgaria đón tiếp Chủ tịch Hồ Chí Minh như một vị anh hùng huyền thoại của một dân tộc vĩ đại. Đồng thời khắc họa trong tâm khảm của người dân Bulgaria hình ảnh của “Bác Hồ” khiêm tốn, giản dị, cởi mở, chân thành và giàu lòng nhân ái.

Vào một ngày cuối thu năm 2007, lãnh đạo Cơ quan Lưu trữ Quốc gia Bulgaria mời Đại sứ đến thăm. Cùng đi với Đại sứ còn có tiến sĩ Bạc Cầm Tiến, một nhà khoa học đang định cư tại Bulgaria. Sau này, Tiến sĩ Bạc Cầm Tiến được giao nhiệm vụ biên dịch những tài liệu tiếng Bulgaria sang tiếng Việt, phục vụ công tác biên soạn cuốn sách “Hồ Chí Minh trên đất nước Hoa Hồng”.  Ông Phạm Quốc Bảo nói rằng, đây là cơ hội để nhóm biên soạn tìm kiếm các tư liệu về Bác đang được lưu giữ ở Cục Lưu trữ Quốc gia Bulgaria. Ông nói: “Điều cuốn hút chúng tôi nhất là những album ảnh và những tập tài liệu đã ố vàng bởi thời gian, nhưng được bảo quản rất chu đáo, trong đó có gần 40 bức ảnh quý, những bút tích và chữ ký nguyên gốc của Bác”.

Khám phá đầu tiên và có ý nghĩa quan trọng nhất trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu này là mối quan hệ giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Bulgaria đã có từ rất lâu, trước khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức (tháng 2/1950). Điều này đã được Bác Hồ “tiết lộ” trong lời phát biểu khi đến thăm Đoàn Chủ tịch Quốc hội ngày 14/8/1957: ”Mối quan hệ giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Bulgaria đã có từ lâu rồi. Hôm nay tôi mới tiết lộ điều bí mật của mối quan hệ này”. Người kể về mối quan hệ thân thiết của mình với những người con ưu tú của dân tộc Bulgaria là Georgi Dimitrov và Vasil Kolarov khi người tham dự một hội nghị bí mật của Quốc tế Cộng sản trước khi đi vào hoạt động bí mật tại Trung Quốc.

Chính mối quan hệ mang ý nghĩa lịch sử sâu xa đó đã đặt nền móng xây dựng mối quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp giữa nhân dân hai nước Việt Nam – Bulgaria. Trải qua những bước thăng trầm của lịch sử, nhân dân hai nước không ngừng vun đắp cho mối quan hệ này ngày càng nở hoa kết trái.

Ông Phạm Quốc Bảo, nguyên Đại sứ nước ta tại Cộng hoà Bulgaria.

Theo ông Phạm Quốc Bảo, bước đầu tiên – như cách ông nói – theo chân Bác trên đất nước Hoa Hồng qua tư liệu báo chí cho thấy:

Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh là đóng vai trò to lớn trong việc phát triển quan hệ hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Bulgaria, đồng thời góp phần củng cố sự đoàn kết trong phe xã hội chủ nghĩa thời đó vì sự nghiệp hoà bình, tiến bộ xã hội trên thế giới.

Một trong những mục đích quan trọng của chuyến thăm còn nhằm vào việc củng cố sự đoàn kết và thống nhất hành động giữa các nước xã hội chủ nghĩa chống chạy đua vũ trang và chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc thời bấy giờ. Điều này đã được nêu rõ trong Tuyên bố chung của chuyến thăm.

Trong bài xã luận ngày 18/8/1957, Báo “Mặt trận Tổ quốc” Bulgaria gọi Đoàn đại biểu ta là ”Những vị sứ giả của tình hữu nghị và đoàn kết giữa các dân tộc”.

Phóng sự báo “Sự nghiệp Công nhân” đã ghi lại những chi tiết quý báu của hoạt động ngoại giao “Hồ Chí Minh” trong buổi đến thăm nông trang Pêruxtixa. Lúc đó, tại buổi họp mặt, khi nhận bình rượu vang từ tay đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Đảng Cộng sản Bulgaria, Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa chậm rãi đọc dòng khẩu hiệu trên tường bằng tiếng Bulgaria “Hãy củng cố sự thống nhất giữa những người cộng sản và nông dân!”, vừa rót rượu, mỉm cười mời Chủ tịch Đảng Liên minh Nông dân. Sự tinh tế, sâu sắc trong phong cách “ngoại giao nhân dân” Hồ Chí Minh đã được mọi người có mặt vỗ tay nhiệt liệt hưởng ứng. Như vậy, với một cử chỉ rất bình dị, thân tình trong một cuộc gặp gỡ ngắn ngủi, Người đã kịp chuyển đến các vị lãnh đạo của bạn thông điệp về tầm quan trọng và sức mạnh của sự đoàn kết và thống nhất…

Lãnh đạo Đảng và Nhà nước Bulgaria ủng hộ hoàn toàn đối với sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam. Lãnh đạo hai nước khẳng định sự cần thiết phải có những nỗ lực chung của tất cả các lực lượng yêu chuộng hòa bình, nhằm thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt sự chia cắt đất nước, góp phần tích cực vào việc củng cố hòa bình ở khu vực và trên thế giới.

Sự đoàn kết gắn bó giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước dựa trên những nét tương đồng về hoàn cảnh lịch sử, lý tưởng cách mạng và lập trường kiên định trên các vấn đề quốc tế cùng quan tâm.

Sự kính trọng, khâm phục và đặc biệt là tình cảm nồng nhiệt, thân thiết và gần gũi mà nhân dân Bulgaria đã dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Những tình cảm đặc biệt mà nhân dân Bulgaria dành cho Bác xuất phát từ uy tín lớn lao và khả năng cảm hoá đặc biệt của Người. Ông Andey Evtimov Penchv – một nhân chứng lịch sử đã tâm sự: ”Một ấn tượng mạnh mẽ đọng lại trong tôi là chỉ qua một lần gặp mặt tại cuộc mít tinh ngắn ngủi mà Bác Hồ đã trở nên vô cùng gần gũi thân thiết với tất cả những người có mặt tại đây. Họ xem Người như một người thân. Chỉ trong khoảnh khắc Người đã chiếm được lòng tin của tất cả. Ai cũng muốn được tự mình góp phần ủng hộ đồng bào Việt Nam anh em. Sức mạnh vô hình từ Người đã lôi cuốn họ: tính khiêm tốn giản dị, niềm mong muốn vô tận được tiếp xúc với mọi người dân bình thường, khả năng diễn đạt nội dung phong phú bằng rất ít lời và yếu tố không kém phần quan trọng là phong thái trí thức, thanh cao trong mọi cử chỉ của Người…”.

Nguyễn Vũ Cân
dangcongsan.vn

Truyền thông thế giới phản ánh cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968

QĐND – Cách đây vừa tròn 45 năm, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 với vai trò và hệ quả mang tính bước ngoặt trong Chiến tranh Việt Nam, đã gây chấn động lớn trong dư luận không chỉ ở nước Mỹ mà trên toàn thế giới. Sự chấn động ấy được thể hiện sâu sắc qua những trang báo, những ấn phẩm lúc bấy giờ và cả sau này…

Trận tiến công rất đỗi kinh ngạc

Trong lịch sử chiến tranh thế giới cũng như lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, chưa bao giờ có cuộc tiến công đồng loạt, đều khắp và rộng lớn như Mậu Thân 1968. Cuộc tổng tiến công đã đánh vào 4/6 thành phố, 37/46 thị xã và hàng trăm thị trấn trên toàn miền Nam, làm rung chuyển cả Nhà Trắng và Lầu Năm góc, khiến báo chí thế giới bàng hoàng. Hãng thông tấn Roi-tơ của Anh, ngày 3-2-1968, đưa tin: “Quy mô và tính chất ác liệt của các trận tiến công phối hợp ở Sài Gòn và các trung tâm quan trọng khác tại miền Nam Việt Nam làm cho Mỹ và các nước đồng minh rất đỗi kinh ngạc”. Tờ Người bảo vệ (Anh) viết: “Người ta không thể tin là một sự kiện như thế lại có thể xảy ra”.

Biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam tại thành phố Niu Y-óoc năm 1968. Nguồn: AP

Không chỉ báo chí nước ngoài lên tiếng mà cả những tờ báo danh tiếng tại Mỹ cũng có những nhận định chua chát về chính cuộc chiến do mình gây nên. Tờ Tin tức Oa-sinh-tơn đã viết: “Các cuộc tiến công ồ ạt, táo bạo của Cộng sản ngày 31-1 là một điều đáng kinh ngạc. Mỹ đã phải dùng máy bay lên thẳng đổ bộ xuống nóc nhà sứ quán Mỹ ở Sài Gòn đang mù mịt trong khói đạn để giành lại ngôi nhà được coi là “chống du kích”, đã bị Cộng sản chiếm trong 6 giờ liền. Chỉ riêng cảnh tượng đó cũng đủ để xóa tan những nhận định lạc quan trước đó của Chính phủ Tổng thống Giôn-xơn”.

“Mỹ và đồng minh Nam Việt Nam nói rằng đây là chiến thắng, nhưng thực chất nó chỉ là chiến thắng trống rỗng”, “cuộc tiến công thậm chí còn khiến công luận Mỹ nhận ra rằng, cuộc chiến tranh Mỹ tiến hành ở Việt Nam là hành động vô cùng dại dột”… đó là hàng loạt những lời nhận xét xác đáng đăng kèm theo ảnh một số lính Mỹ bị thương trong một cảnh đổ nát ở gần Sài Gòn mà tờ Time nổi tiếng của Mỹ đã đưa ra thời đó. Số ra ngày 31-3-2003, nhân kỷ niệm 80 năm tồn tại của tờ báo này đã dành một phần đặc biệt viết về những ngày đáng nhớ trong lịch sử nước Mỹ. Trong đó, có 2 ngày đặc biệt mà nhân dân và quân đội Mỹ không bao giờ quên, đó là ngày 31-1-1968 (Tết Mậu Thân) và ngày 30-4-1975. Tờ Time cũng từng nhận định, chính cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 đã khiến L.B.Giôn-xơn không thể tái ứng cử tổng thống Mỹ.

Cú đấm nặng nề

Thực tế đã chứng minh chính người dân nước Mỹ là những người cảm nhận rõ nét nhất tác động của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Trong cuốn hồi ký “Thanh gươm và lưỡi cày”, xuất bản tại Niu Y-óoc năm 1972, tướng Mắc-xoen D. Tay-lo (Maxwell D.Taylor), cựu Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn và cũng từng là cố vấn đặc biệt của Tổng thống Mỹ L.B Giôn-xơn (L.B Johnson), đã miêu tả: “Ngày 31-1-1968, quân địch (tức Quân Giải phóng) tiến công và chỉ trong vòng 2 ngày, họ đã tiến vào 5 đô thị lớn, 39 tỉnh lỵ và nhiều thành phố. Những trận tiến công đã được báo chí Mỹ tường thuật bằng những hàng tít lớn và chiếu trên màn ảnh vô tuyến truyền hình. Điều này đã làm cho phần lớn dân chúng và một số quan chức Mỹ kinh hoàng. Thậm chí cho đến mãi sau này, sự kinh hoàng đó vẫn còn trong tâm trí họ”.

Về phần mình, tướng Mắc-xoen D. Tay-lo cũng thú nhận, bất ngờ thực sự mà cuộc tiến công Tết 1968 đã gây cho ông không phải việc Quân giải phóng mở một cuộc tiến công lớn mà chính là mức độ mãnh liệt của hàng loạt cuộc tiến công đổ dồn vào thời điểm đó. “Nói theo quan điểm thực tế thì chúng ta phải công nhận, đối phương đã giáng cho Chính phủ Nam Việt Nam một cú đấm nặng nề”, đó là câu chốt được đánh giá là vô cùng xác đáng trong cuốn “Tường trình của một quân nhân” của Tướng W.C Oét-mo-len (W.C.Westmoreland) – nguyên Tư lệnh Bộ Chỉ huy quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

Sức mạnh có hạn của Mỹ

Cuộc tổng tiến công của đối phương vào tận đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn càng cho thấy những bằng chứng về sức mạnh có hạn của Mỹ ở châu Á. Mỹ có đến nửa triệu quân ở Nam Việt Nam, đã mất 13 năm và đã tiêu mỗi ngày 60 triệu USD mà vẫn không bảo vệ được một tấc vuông đất nào ở miền Nam Việt Nam. Thời báo Niu Y-óoc, tờ báo lớn nhất nước Mỹ, đã đăng những dòng như vậy trong số ra ngày 1-2-1968. Cũng tờ báo này, số ra ngày 2-1-1968, đã nhấn mạnh: “Chiến thắng của Việt cộng không những chứng minh sự suy yếu của cơ cấu chính trị Mỹ mà còn đe dọa thủ tiêu hoàn toàn cơ cấu chính trị này”. Tác giả bài báo còn đánh giá: “Hậu quả chính trị do thắng lợi đáng kinh ngạc của Việt cộng gây ra lần này mới là nguy hại nhất”.

Còn N. Si-han (N. Sheehan), tác giả Mỹ khi viết cuốn sách “Sự lừa dối hào nhoáng” (A Bright Shining Lie) cũng cho rằng, tướng lĩnh và quân đội Mỹ trong chiến tranh Việt Nam đã nói dối trắng trợn nhân dân Mỹ rằng, cuộc công kích Tết Mậu Thân là chiến thắng của Mỹ và quân đồng minh miền Nam. Đó không chỉ là những dòng chữ chát chúa, cay đắng đối với chế độ của Tổng thống Mỹ Ních-xơn mà là những minh chứng hùng hồn về chiến thắng rõ ràng của dân tộc Việt Nam.

Truyền thông Mỹ đã có tác động mạnh đến dư luận Mỹ về cuộc chiến tranh ở Việt Nam, đặc biệt là vào thời điểm sau Tết Mậu Thân 1968, 16 triệu thanh niên Mỹ đã đốt thẻ và chống lệnh đi quân dịch. Kể cả những lính Mỹ đang ở Việt Nam cũng công khai phản đối chiến tranh.

Qua một số sách báo Mỹ và nước ngoài nói về sự kiện Tết Mậu Thân năm 1968, có thể nhận thấy, dù ở góc độ nào, dưới con mắt của các nhà khoa học quân sự, nhà chính trị, nhà sử học hay nhà báo, từ người dân bình thường đến các tướng lĩnh cao cấp, thậm chí cả Tổng thống đương nhiệm của nước Mỹ lúc bấy giờ, đều phải thừa nhận tác động to lớn của sự kiện Tết Mậu Thân năm 1968 đối với toàn bộ cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam.

Trong hồi ký của mình, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn đã từng thú nhận: “Dù so với bất kỳ tiêu chuẩn nào thì cuộc tiến công Tết cũng là một thất bại quân sự nặng nề” (của Mỹ). Cựu Ngoại trưởng Mỹ Hen-ri Kít-xinh-gơ (Henry Kissinger) cũng nhận xét: “Việc Tổng thống chúng ta chỉ có thể gặp người lãnh đạo một nước mà hơn 30.000 người Mỹ đã phải chết vì nó trên một hòn đảo hiu quạnh trong một khung cảnh đẹp trời của Thái Bình Dương chứng minh tình hình rối như tơ vò mà chiến tranh Việt Nam đã dìm xã hội chúng ta vào”. Trong cuốn sách “Những năm tháng ở Nhà Trắng”, Hen-ri Kít-xinh-gơ từng viết rằng, ngày nay hầu hết chuyên viên về Việt Nam công nhận đó là một thất bại thảm hại của Mỹ.

Chính những thừa nhận này chứng tỏ tầm vóc và ý nghĩa sâu sắc của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1968 của quân và dân Việt Nam ở miền Nam. Nó đập tan những luận điểm sai trái và xua đi những nghi ngờ về thắng lợi của quân giải phóng trong Tết Mậu Thân năm 1968.

HÙNG HÀ
qdnd.vn

Khoảnh khắc trước giờ G

QĐND – Sáng 30 Tết Mậu Thân 1968, tôi đang chuẩn bị đến gặp đồng chí Phạm Xuân Ẩn để nắm tình hình và bàn công việc thì có thư hỏa tốc của trên do cô giao liên đem đến. Nội dung lá thư chỉ một câu: “Anh Tư ra gặp tôi gấp”. Ký tên: Sáu Trí.

Cô giao liên cho biết, địa điểm gặp ở Sở Cao su Bến Củi, đường đi ước chừng trên một trăm cây số. Tôi mượn chiếc xe Hon-đa nữ của cô Tám Thảo. Cô Thảo mua thêm giỏ hoa và trái cây, bánh mứt để ngụy trang trên đường. Tôi và cô giao liên đóng vai vợ chồng ngày 30 về quê cúng ông bà. Vì vậy, dọc đường, tuy qua rất nhiều trạm kiểm soát của địch, nhưng chúng tôi không gặp bất kỳ trở ngại nào. Chúng tôi đến nơi thì đã gần 4 giờ chiều. Bến Củi cách Dầu Tiếng một cây cầu bắc ngang sông Sài Gòn. Hai bên đều là rừng cao su bạt ngàn. Bên Dầu Tiếng thì còn đồn, bốt giặc, bên Bến Củi là vùng du kích. Bàn giao tôi cho tổ giao thông vũ trang, cô giao liên từ giã, vội vàng trở về dãy nhà lụp xụp của công nhân cao su.

Anh em trong tổ giao thông vũ trang đều thuộc Cụm Tình báo H63 mà tôi là cụm trưởng. Lâu ngày gặp lại tôi từ thành phố ra, anh em mừng lắm. Anh em cứ quấn lấy ngắm nhìn mái tóc quăn xịt keo và đôi giày da bóng lộn của tôi, tỏ vẻ ngạc nhiên về thủ trưởng của mình. Tôi nói: “Vô thành phố phải vậy chớ sao tụi bây! Mai mốt đứa nào vô thành phố phụ với tao cũng phải cải trang vậy thôi”.

Đại tá Nguyễn Văn Tàu và Tám Thảo, nguyên chiến sĩ tình báo trong cụm H63. Ảnh tư liệu

Tôi giao xe và chìa khóa cho Khắc Vệ, tổ trưởng, rồi theo chân chiến sĩ Ghém đi gặp anh Sáu Trí. Tôi và anh Sáu Trí vốn biết nhau từ hồi kháng chiến chống Pháp. Lúc đó, anh là Phó ban Quân báo Khu 7, tôi là cán bộ nằm trong tổ nghiên cứu địch do đồng chí Trần Văn Danh làm tổ trưởng. Năm 1964, anh được rút trở ra căn cứ, làm Trưởng phòng Tình báo Miền (B2).

Đêm 30 Tết trong rừng, với ánh sáng lù mù từ ngọn đèn dầu leo lét, anh Sáu phổ biến nghị quyết của Bộ Chính trị cho tôi. Sau khi phân tích cặn kẽ tình hình địch, tình hình ta; nghị quyết nêu ra phương hướng hành động mới: Tình hình cho phép ta chuyển cuộc chiến tranh cách mạng sang thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định.

Rừng về khuya, sương lạnh mà nghe ấm lòng. Tôi thấy phấn khởi như hồi năm 1960, được nghe Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng, đồng ý cho miền Nam được kết hợp tự vệ vũ trang với đấu tranh chính trị.

Sáng Mồng 1 Tết, anh Sáu phổ biến cụ thể: Đêm Mồng 1, rạng sáng Mồng 2 Tết, quân ta sẽ nổ súng Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam. Là người đã cùng anh chị em trong cụm trực tiếp tham gia chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công, từ việc phát hiện sơ hở của địch trong những ngày Tết cho đến việc vẽ sơ đồ, chụp ảnh các mục tiêu… Vậy mà nay, nghe phổ biến giờ nổ súng ngay trong đêm nay, lòng tôi tràn ngập niềm vui đến không cầm được nước mắt. Chiến tranh sắp đến hồi kết thúc rồi chăng? Chiều nay, tôi phải về Sài Gòn để kịp phổ biến cho anh chị em trong cụm.

Tạm biệt anh Sáu, tôi trở ra trạm liên lạc thì một tình huống không ngờ xảy ra. Anh em trong tổ giao thông thấy chiếc xe đẹp nên chạy thử, nhưng vì không quen nên té làm hỏng xe, đi sửa chưa thấy về. Ra chỗ cánh công nhân sửa giùm, họ bảo: Chúng tôi không biết về loại xe này, thấy chỗ nào cong thì uốn lại thôi, còn máy không nổ thì đành chịu.

Tôi vặn công tắc điện, đạp cần phát động. Máy vẫn im lìm. Tôi rút khăn tay lau mồ hôi trán. Thế này thì không kịp về Sài Gòn mất! Thử áp dụng biện pháp cuối cùng, tôi bảo: Tao ngồi lên xe, tụi bây sáp vô đẩy cho mạnh. Tôi dận cần số. Máy nổ giòn. Êm tai mát ruột làm sao. Tôi dừng lại nói lớn: “Tao đi luôn, tụi bây mạnh giỏi nhé”.

Ra đến Quốc lộ 1 thì đã 7 giờ tối. Tôi hình dung các binh đoàn chủ lực của ta đang hăm hở tiến về Sài Gòn trên những cánh đồng bên trái, bên phải kia. Đồng đội đi trên ruộng lầy, còn tôi đi trên đường tráng nhựa… Khi tôi ra khỏi địa bàn xã An Tịnh thì bất ngờ đụng cụm xe tăng địch. Hai thằng Mỹ bước tới, chĩa thẳng súng vào tôi. Một thằng hỏi: “Vi xi?”. Tôi trả lời: “Ô, nô vi xi” và nói câu chúc Tết: “Happy New Year”. Một thằng lại gần, nói câu chúc Tết và hỏi tôi đi đâu vào giờ này. Tôi nói đi chúc Tết cha vợ trên Trảng Bàng, hơi quá chén nên giờ này mới về.

Tôi lấy bao thuốc ra mời và dò hỏi hai tên Mỹ vì sao không nghỉ Tết, hai bên đã tuyên bố ngừng bắn để người dân ăn Tết kia mà? Chúng cho biết, đêm qua, ngoài Huế và nhiều thành phố khác đã bị Việt Cộng bất ngờ tiến công.

Nghe đến đây, lòng tôi đầy nỗi băn khoăn. Vì sao ngoài đó lại nổ súng trước? Nếu vậy thì giặc trong thành đã phòng bị, tối nay anh chị em đặc công biệt động của mình sẽ gay go.

Tôi về đến Sài Gòn lúc 9 rưỡi tối. Sau khi phổ biến cho đồng đội và giao nhiệm vụ, tôi vẫn đủ thời gian đi một vòng xuống bến Bạch Đằng, lên đường Thống Nhất, kiểm tra lại mục tiêu chính như Bộ tư lệnh Hải quân, Tòa đại sứ Mỹ, dinh Độc Lập… Xong việc, tôi trở về căn nhà ở 136B đường Gia Long, nơi đồng đội đang chờ. Thấy tôi an toàn, Tám Thảo rất mừng, nói: “Tối qua, giờ Giao thừa, em và ba lén vặn đài Hà Nội, nghe Bác Hồ chúc Tết. Nghe câu: “Tiến lên, toàn thắng ắt về ta”, ba em phấn khởi quá, nói năm nay chắc ngon lành lắm”. Tôi nói nhanh: “Chốc nữa, súng quân ta sẽ nổ khắp Sài Gòn, mở ra giai đoạn tổng khởi nghĩa nhằm đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn…”.

Giờ G trên toàn miền Nam được quy định từ 0 đến 2 giờ ngày 31-1-1968, tức đêm Mồng 1, rạng sáng Mồng 2 Tết Mậu Thân. Một sự việc đáng tiếc là do sự đổi lịch ở miền Bắc, nên hướng Quân khu 5 và Tây Nguyên vẫn theo lịch cũ, nổ súng trước, còn B2 nổ súng sau theo lịch mới. Mặc dù vậy, chấp hành quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng, đêm 31-1, rạng 1-2-1968, quân dân B2 đã thực hiện tổng công kích và nổi dậy đồng loạt tại Sài Gòn và hầu hết các thành phố, thị xã, thị trấn. Đợt 1 Tết Mậu Thân diễn ra từ 31-1 đến 25-2-1968. Ta đã đánh vào những cơ quan đầu não chỉ huy của Mỹ-ngụy. Tại nhiều thị xã, thị trấn và một số nơi ở Sài Gòn, quân ta trụ lại nhiều giờ hoặc nhiều ngày để đánh địch phản kích. Trong hồi ký của mình, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn thừa nhận, ta đã tiến công 36/44 tỉnh, thành phố ở miền Nam, bắn phá 5 trong 6 thành phố lớn và khoảng 1/4 trong số 248 quận lỵ. Ta đã bất ngờ, đồng loạt tiến công sào huyệt địch, gây choáng váng không chỉ giới chóp bu Mỹ-ngụy tại Sài Gòn mà thực tế Oa-sinh-tơn thừa nhận là đã “đưa chiến tranh vào lòng nước Mỹ”.

Tại buổi hội thảo khoa học “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968” do Bộ Quốc phòng và Tỉnh ủy Thừa Thiên-Huế tổ chức ngày 10-1-2008, trong tham luận của mình, đồng chí Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng Bí thư, khẳng định: Thắng lợi to lớn, rất oanh liệt của Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã làm chấn động nước Mỹ và thế giới, làm đảo lộn chiến lược của địch trên chiến trường, tạo ra bước ngoặt chiến tranh, đánh dấu thất bại của “Chiến tranh cục bộ”, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ.

Đại tá NGUYỄN VĂN TÀU, Anh hùng LLVT nhân dân
qdnd.vn

Thế trận vững chắc trên ba vùng chiến lược, tiến công đồng loạt, bất ngờ

Kỷ niệm 45 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968

QĐND – Nhằm tạo ra hiệu lực chiến lược mạnh, làm tan rã ý chí xâm lược của đối phương, Đảng ta chủ trương trong Tết Mậu Thân 1968 vừa tiến công đồng loạt vừa táo bạo hướng sức mạnh của chiến tranh cách mạng vào các đô thị miền Nam, xem đó là mũi nhọn thọc sâu vào yết hầu của địch, có tầm quan trọng chiến lược đối với toàn bộ chiến trường và toàn bộ cuộc chiến tranh, là đòn ác liệt nhất, đánh vào “tim óc”, “huyết mạch” của địch. Đó cũng là cách tốt nhất để phối hợp ba mũi giáp công trên cả ba vùng chiến lược, tiêu diệt nhiều nhất sinh lực địch, làm sập chỗ dựa chính trị, đè bẹp ý chí xâm lược của chúng.

Trước khi tiến hành cuộc tổng tiến công và nổi dậy, bằng nhiều biện pháp, nhiều hình thức kết hợp, các cơ quan chỉ đạo chiến lược và các cấp chỉ huy chiến trường của ta đã tổ chức nghi binh chiến lược, nhằm phân tán lực lượng chủ lực địch, làm lạc hướng đề phòng của chúng. Từ những tháng cuối năm 1967, ta đã lần lượt mở một số chiến dịch ở vùng ven biên giới, ở Tây Nguyên, đồng thời duy trì các hoạt động quân sự ở vùng ven đô thị và các vùng nông thôn đồng bằng như lệ thường, làm cho địch lầm tưởng rằng lực lượng ta đã bị thương vong trong cuộc phản công chiến lược mùa khô 1966-1967, không còn khả năng mở các chiến dịch ở đồng bằng như trước.

Ban chỉ huy thống nhất Phân khu 5 (Thị xã Thủ Dầu Một) bàn kế hoạch tác chiến trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Ảnh tư liệu.

Trên mặt trận ngoại giao, ta ngỏ ý rằng Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa sẽ đi vào đàm phán với Mỹ, càng làm cho nước Mỹ bị phân hóa giữa phái chủ chiến và phái chủ hòa, đồng thời giới lãnh đạo Mỹ càng tin là ta đã thực sự bị suy yếu trên mặt trận quân sự.

Tháng 1-1968, ta chủ động mở hai chiến dịch quân sự lớn trong đó có Chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh và ngay lập tức thu hút sự chú ý của bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn và giới lãnh đạo Mỹ, khiến Mỹ nhận định và phán đoán sai lầm.

Hướng tiến công chủ yếu trong Tết Mậu Thân nhằm vào các đô thị ở miền Nam thực sự là một đòn bất ngờ lớn, khiến địch trên chiến trường không kịp trở tay, làm cho giới lãnh đạo Mỹ phải sững sờ, choáng váng. Đây là lần đầu tiên trong nhiều năm kháng chiến, ta đã đưa được chiến tranh vào thành thị, biến hậu phương và hậu cứ địch thành chiến trường của ta. Đòn tiến công của ta đã nhằm trúng vào các mục tiêu yết hầu, huyết mạch của địch, bao gồm các cơ quan đầu não trung ương và địa phương của chính quyền Sài Gòn, các sở chỉ huy, sân bay, bến cảng, kho tàng, căn cứ truyền tin, đầu mối giao thông, đặc biệt là đánh vào Tòa đại sứ Mỹ… Đó là thành công lớn của Đảng ta trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, làm thay đổi một cách đột biến, đẩy địch vào thế bị động cả về quân sự và chính trị.

Bất ngờ không chỉ là hướng tiến công mà còn ở thời điểm tiến công. Thời điểm đó là dịp Tết Nguyên đán, lúc địch dễ bộc lộ sơ hở, chủ quan và lơi lỏng nhất trong việc đề phòng. Thực tiễn đã cho thấy việc chọn thời điểm tiến công bất ngờ vào dịp Tết của ta là rất sáng suốt, khi các đơn vị quân đội Sài Gòn chỉ còn một nửa quân số, khiến cho bộ chỉ huy quân sự Mỹ lúng túng ứng phó.

Nghệ thuật chọn hình thức và phương thức tiến công trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 rất sáng tạo. Chúng ta đã tiến công đồng loạt, tiến công bằng nhiều hình thức, nhiều lực lượng; không tiến công tuần tự từ ngoài vào trong mà kết hợp từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong, khiến cho địch đã bị bất ngờ càng thêm bất ngờ và lúng túng. Việc nghi binh chọn hướng, chọn thời điểm, mục tiêu, hình thức và phương thức tiến công chứng tỏ bước phát triển mới trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, trong nghệ thuật tiến công của Đảng, của quân và dân ta trên chiến trường. Trong khi chiến lược quân sự của Mỹ là “tìm và diệt”, nhằm đưa chiến tranh tới tận xứ sở của đối phương. Trong khi bộ chỉ huy quân sự của Mỹ tại Sài Gòn vẫn nhất mực tin rằng chiến lược của đối phương là “lấy nông thôn bao vây thành thị”, thì chiến tranh lại nổ ra mạnh mẽ, đồng loạt ngay giữa Sài Gòn và một loạt các thành phố, thị xã, thị trấn trên toàn miền Nam. Đầu năm 1968, lực lượng quân sự địch tại miền Nam lên tới gần 1 triệu 200 nghìn tên, với hệ thống chính quyền tay sai, ấp chiến lược và mạng tình báo đặc vụ giăng khắp mọi nơi, thì cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 của ta, mà hướng chính nhằm vào các đô thị là một hành động “xuất thần”, khiến các nhân viên tình báo địch phải thú nhận thất bại cay đắng.

Để có được cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, hy sinh, nêu cao quyết tâm tiến công địch, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân ngày càng vững chắc trên khắp ba vùng chiến lược, tổ chức và bố trí hợp lý lực lượng chính trị và LLVT ba thứ quân ở đô thị, vùng ven, vùng nông thôn đồng bằng và rừng núi. Đó là kết quả của quá trình nắm bắt thực tiễn trên chiến trường và tình hình nội bộ nước Mỹ, từ đó tính toán, chọn lựa và tìm ra cách đánh, cách thắng Mỹ phù hợp với điều kiện thực tế Việt Nam.

Đại tá, TS NGUYỄN THÀNH HỮU
qdnd.vn

“Pho sử sống” của đặc công Rừng Sác

QĐND – Người được mệnh danh là “pho sử sống”, từng là “linh hồn” của đặc công Rừng Sác chính là Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Lê Bá Ước (Bảy Ước), nguyên Chính ủy Đoàn 10. Trong hàng nghìn trận đánh của đặc công Rừng Sác thì trận tiêu diệt đồn Giồng Ông Đông, thuộc xã Phú Hữu (nay là xã Phú Đông) huyện Nhơn Trạch (Đồng Nai) diễn ra vào đêm Mồng Một Tết Mậu Thân năm 1968, thể hiện rõ bản lĩnh, sự nhạy bén của vị chỉ huy huyền thoại này.

Trong căn nhà ấm cúng của Đại tá Lê Bá Ước ở phường Quyết Thắng, TP Biên Hòa một ngày Xuân Quý Tỵ, chúng tôi có dịp được nghe ông kể về trận đánh năm xưa: “Ngày Mồng Một Tết Mậu Thân, tôi bí mật vào trong dân tìm hiểu thêm tình hình. Bà con Phú Hữu thông báo rõ quy luật hoạt động của địch và cho biết, chỉ huy đồn Giồng Ông Đông là tên chuẩn úy Sáu, quê ở Bến Tre. Đột nhiên, tôi nảy ra sáng kiến, ngay đêm hôm đó, trong khi đơn vị triển khai đội hình, tôi nhờ một cụ già ở địa phương dẫn đường đưa tới gần phía trước đồn địch. Lựa chỗ có địa hình thuận lợi, tôi bắc loa kêu gọi dõng dạc: “Chuẩn úy Sáu, tôi biết rõ anh quê ở Bến Tre và đang chỉ huy lực lượng bảo an ở đây. Ngày Tết cổ truyền, cha mẹ, vợ con anh đang mong đợi. Hiện nay, cách mạng đang tổng tiến công mãnh liệt ở mọi nơi, anh hãy buông súng và đưa lính ra đầu hàng ngay thì chúng tôi không tiến công đồn. Bằng không, tất cả sẽ bị tiêu diệt”.

Lúc đầu, địch im phăng phắc. Dường như lời kêu gọi đã làm nao núng tinh thần phần đông tụi lính nên chỉ ít phút sau, một số tên bỏ chạy ra bờ ruộng, một số chạy thục mạng về sau, trong đó có cả tên chuẩn úy Sáu.

Đại tá Lê Bá Ước giới thiệu chiếc đế giày của phi công Mỹ bị cá sấu rừng Sác ăn thịt.

Tuy nhiên, trong đồn còn tên đồn phó cùng mấy đứa ác ôn hô nhau bám trụ chống trả. Chúng bắn xối xả về phía tiếng loa. Lê Bá Ước liền rút nhanh khỏi đó. Đồng chí Tám Sơn, Đoàn trưởng, ra lệnh cho đơn vị tiến công. Đặc công xé hàng rào áp sát đồn địch, khống chế hỏa lực địch và tiêu diệt quá nửa số lính của đại đội bảo an. Tuy nhiên, do nắm địch không kỹ nên ta không phát hiện được vị trí khẩu đại liên của chúng. Xung kích 1 đã phát triển vào bên trong, xung kích 2 gặp khó khăn bởi khẩu đại liên của địch bắn quá dữ. Đồng chí Tám Sơn bò tới chỗ Lê Bá Ước, nói: “Anh Bảy, cho xung kích 3 lên thôi”. “Tôi lưỡng lự suy tính. Vừa lúc đó, tôi nhận được báo cáo, có 2 trường hợp hy sinh sau khi cắt hàng rào lô cốt, trong đó có đồng chí Nguyễn Văn Nở là chủ nhiệm trinh sát trung đoàn. Tôi nói với đồng chí Đoàn trưởng: “Nếu tiếp tục kéo dài sẽ bất lợi, nhất định bọn chúng sẽ gọi hỏa lực chi viện”. Đồng chí Tám Sơn nhất trí, hạ lệnh lui quân. Đúng như dự tính của tôi, khoảng 30 phút sau, Mỹ cho pháo kích dữ dội xung quanh khu vực đồn”-ông Ước hào sảng kể tiếp.

Vậy là, trận tiến công đồn Giồng Ông Đông, mặc dù đánh không đúng sở trường nhưng Đoàn 10 đặc công Rừng Sác vẫn hoàn thành tốt nhiệm vụ. Cũng trong thời điểm ấy, các đơn vị của Đoàn đồng loạt triển khai tiến công ở nhiều nơi trên địa bàn giáp ranh Sài Gòn. Cả đặc khu Rừng Sác hừng hực khí thế tổng tiến công đánh vào những mục tiêu trọng yếu làm lung lay tinh thần quân địch, mở đường cho thắng lợi cuối cùng.

Bài và ảnh: HOÀNG THÀNH
qdnd.vn

“Đòn sấm sét” quyết định (kỳ 2)

Cuộc tổng tiến công, nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 và ba bài học giá trị

Đòn bất ngờ

QĐND – Bài học thứ ba là: Chủ trương đúng đắn, thắng lợi quyết định. Như kế hoạch và chủ trương đã định, cuối tháng 1-1968 ta bắt đầu mở hoạt động lớn ở Mặt trận đường số 9-Khe Sanh, xem như một đòn chính của bộ đội chủ lực ta, nhằm đánh lạc hướng, thu hút quân cơ động của Mỹ, vây hãm, giam chân, tiêu hao địch tạo thế cho các chiến trường khác tiến công và nổi dậy. Tướng Oét-mo-len vội vã điều quân tăng cường giữ và cho không quân ném bom dữ dội, chở quân đổ bộ xuống khu vực Khe Sanh. Sau đợt Tết, quân ta tiếp tục bao vây Khe Sanh, dùng các hỏa lực và đánh lấn khiến Bộ Quốc phòng Mỹ tính tới khả năng ta có thể tạo ra một “trận giống như Điện Biên Phủ”. Địch đã rơi vào cái bẫy của ta.

Một cuộc gặp giữa đoàn đàm phán Việt Nam và Mỹ ở Hội nghị Pa-ri. Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã góp phần buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán ở Pa-ri. Ảnh tư liệu

Trên chiến trường nước bạn Lào, từ ngày 12 đến ngày 27-1-1968, quân đội Pa Thét Lào và quân tình nguyện Việt Nam mở chiến dịch Nậm Bạc đại thắng. Chiến thắng này đi trước và phối hợp nhịp nhàng với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên chiến trường miền Nam. Đêm 30 rạng ngày 31-1-1968, đêm Giao thừa Xuân Mậu Thân, quân dân miền Nam đồng loạt Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền đánh vào 4 thành phố, 37 thị xã, hàng trăm thị trấn. Bốn bộ tư lệnh quân đoàn, hầu hết các bộ tư lệnh sư đoàn, 30 sân bay và gần 100 cơ sở hậu cần bị đánh. Trong đó có những trận gây chấn động lớn trong giới cầm quyền Mỹ và có tiếng vang mạnh mẽ trên thế giới như trận đánh vào tòa Đại sứ Mỹ, dinh Độc Lập ngụy, Bộ Tổng tham mưu ngụy, Đài phát thanh ở Sài Gòn và 25 ngày đêm làm chủ thành phố Huế…

Phối hợp với cuộc tiến công vào đô thị của các lực lượng vũ trang và được sự giúp sức của lực lượng vũ trang, nhân dân đồng bằng Nam Bộ đã nổi dậy, phá tan phần lớn bộ máy kìm kẹp của ngụy quyền ở thôn xã, giành quyền làm chủ ở nhiều vùng, mở rộng và củng cố hậu phương của ta. Tuy vậy, trên thực tế đã không có tổng khởi nghĩa. Trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cho đến lúc đó, chưa có cuộc ra quân nào có quy mô lớn và khí thế cao như cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Ta đã tiêu diệt một bộ phận sinh lực của Mỹ, làm tan rã từng mảng lớn quân đội tay sai, giải phóng nhiều thôn ấp, phường phố gồm 120 vạn dân.

Trong khi lực lượng Mỹ – ngụy và chư hầu còn đông tới hơn 1 triệu 20 vạn tên, nắm trong tay những phương tiện chiến tranh hiện đại khổng lồ, đứng chân trên những căn cứ được phòng thủ vững chắc, thì quân dân miền Nam đã tiến công vào tận hang ổ của chúng, giành được thắng lợi to lớn chưa từng có.

Trong khi bộ chỉ huy quân Mỹ chờ đợi một cuộc tiến công thì cuộc tiến công đã được đoán trước lại xảy ra như một bất ngờ. Sức mạnh, thời gian, không gian, cường độ và mức phối hợp của cuộc tiến công làm cho sự bất ngờ càng tăng thêm. Mỹ luôn luôn bị bất ngờ, điều này đã hầu như có tính quy luật vì sự chủ quan, đánh giá thấp đối phương của họ. Còn về phía ta thì tạo được bất ngờ là kết quả của một quá trình tạo thế, tạo lực công phu, chu đáo, có tính toán và chuẩn bị về mọi mặt.

“Chiến tranh cục bộ” phá sản

Xuân Mậu Thân 1968 là một “đòn sét đánh” giáng vào đầu chính quyền Mỹ-ngụy, buộc Mỹ phải rời bỏ ảo tưởng để đối đầu với thực tế: Trước mặt giới cầm quyền Mỹ hiểu rõ khả năng lần đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ, quân đội Mỹ bị đánh bại trong một cuộc chiến tranh. Kẻ sợ chiến tranh kéo dài không dứt là Mỹ chứ không phải là ta. Thế trận chiến tranh nhân dân của ta cho phép ta có thể đánh địch ở cả những điểm mà địch nghĩ là “bất khả xâm phạm”. Quyền chủ động sử dụng nhân tố thời gian và không gian là thuộc về chúng ta. Chúng ta có thể đánh lâu dài và đánh mạnh, càng đánh càng mạnh; càng mạnh, càng thắng; nơi nào muốn đánh đều đánh được, lúc nào muốn đánh đều đánh được.

Đòn tiến công Xuân Mậu Thân 1968 đã gây kinh hoàng cho cả nước Mỹ. Trên hầu hết các bang nước Mỹ rộ lên những cuộc biểu tình chống chiến tranh, đặc biệt là của giới sinh viên, học sinh. Nhiều người trong chính giới Mỹ đòi xét lại chính sách của Mỹ đối với cuộc chiến này. Trong nội bộ các cố vấn thân cận của Tổng thống Mỹ diễn ra sự chia rẽ gay gắt. Tổng thống Giôn-xơn đã phải triệu tập một cuộc họp “những người am hiểu nhất”. Sau hai phiên tranh luận kéo dài, phần đông tán thành chấm dứt leo thang chiến tranh ra miền Bắc Việt Nam và có những biện pháp đi đến tách ra khỏi cuộc chiến tranh này.

Ngày 31-3-1968, Giôn-xơn thông báo quyết định đơn phương ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, nhận ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Pa-ri và tuyên bố không ra tranh cử Tổng thống nhiệm kỳ hai. Có thể coi đó là sự thừa nhận công khai sự phá sản của chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ. Và rõ ràng là ý chí xâm lược của giới cầm quyền Mỹ đã bị lung lay. Nhưng Mỹ vẫn có ý đồ xảo quyệt, rút ra mà vẫn ở lại, chuyển sang thi hành chiến lược “phi Mỹ hóa” rồi “Việt Nam hóa” chiến tranh.

Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, ta còn tổ chức mấy đợt tiến công nữa vào các thành thị, bỏ lỏng các vùng nông thôn, trong khi địch tiến hành “bình định cấp tốc” giành dân, nên đã gặp khó khăn trong một thời gian dài.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã giành được thắng lợi to lớn, toàn diện, có ý nghĩa chiến lược quan trọng. Thắng lợi to lớn và quan trọng nhất là chúng ta đã tạo ra một sự thay đổi đột biến trong cục diện chiến tranh. Thế chiến lược của địch bị đảo lộn. Địch đã bị hãm vào thế đi xuống về chiến lược trên toàn bộ chiến trường, đặc biệt là mặt trận thành thị, phải chuyển sang chiến lược phòng ngự. Tiến công không được, phòng ngự không vững, đó là thế thất bại. So sánh lực lượng ta, địch đã chuyển biến một bước quan trọng có lợi cho ta.

Về chính trị, điều quan trọng nhất là địch đã nhận thấy sẽ thua nếu kéo dài chiến tranh. Nỗi lo thất bại lan rộng trong hàng ngũ Mỹ-ngụy. Cuộc tiến công phối hợp của ta trên mặt trận ngoại giao làm cho địch càng bị động, khó khăn hơn. Ta đã mở ra cục diện mới, tạo ra thế chiến lược mới, mặt trận mới, lực lượng mới, khả năng mới để tiến lên giành những thắng lợi mới to lớn hơn nữa.

Phân tích kết quả đợt tổng công kích, tổng khởi nghĩa Xuân Mậu Thân 1968, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15 (từ ngày 28 đến 31-8-1968) Đảng ta nhận định: “Với thắng lợi to lớn của 6 tháng mở đầu thời kỳ tổng công kích, tổng khởi nghĩa vừa qua, ta đã mở ra cục diện mới của chiến tranh, tạo ra thế chiến lược mới, lực lượng mới, khả năng mới… Ta đang ở thế thắng, thế mạnh và có đủ lực lượng để thực hiện quyết tâm đánh thắng Mỹ trong bất kỳ tình huống nào”. Đây là một chủ trương chiến lược đúng đắn và sáng tạo, là một sáng tạo lịch sử của Đảng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc ta.

(hết)

Đại tá Trần Nam Chuân
qdnd.vn

Quyết tâm chiến lược táo bạo (kỳ 1)

Quyết tâm chiến lược táo bạo (kỳ 1)

Cuộc tổng tiến công, nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 và 3 bài học giá trị

Lựa chọn phương án tối ưu

QĐND – Bài học thứ hai là: Quyết tâm chiến lược chính xác, sáng tạo, táo bạo. Chủ trương đã có, nhưng thực hiện được là cả một quá trình cực kỳ căng thẳng về trí óc và sức lực, bằng mồ hôi và máu, khắc phục nhiều khó khăn, vượt qua nhiều thử thách với nỗ lực phi thường.

Ban đầu, khi được Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương giao nhiệm vụ chuẩn bị kế hoạch chiến lược Đông Xuân 1967-1968, Bộ Tổng tham mưu đề ra phương án bao gồm những trận đánh tiêu diệt lớn với những chỉ tiêu định mức diệt sinh lực địch, giải phóng dân, làm tê liệt giao thông, đánh căn cứ lớn, đẩy mạnh đấu tranh đô thị, phá tuyển cử của địch. Đây là phương án chiến lược chính xác với chỉ tiêu cao hơn. Với phương án này, ta sử dụng lực lượng quân sự là chính nhằm đánh tiêu diệt lớn, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh chính trị và binh vận từng bước giành quyền làm chủ ở các đô thị và vùng chung quanh. Nhưng khó khăn là cho đến lúc này, chủ lực ta còn thiếu kinh nghiệm đánh lớn, khả năng tiêu diệt đơn vị địch lớn hơn cấp tiểu đoàn chưa bảo đảm. Một lúng túng nữa là chọn chiến trường nào để ra đòn quyết định. Vả lại, làm theo kiểu tuần tự như tiến đánh theo mùa thì địch sẽ có thời gian hồi phục, tình hình sẽ kéo dài không thể tạo chuyển biến gì lớn. Về chiến lược, không tranh thủ được thời cơ có lợi, không đáp ứng được tình thế đã mở ra.

Quân ta tiến công trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968. Ảnh tư liệu

Bộ Tổng Tham mưu đã báo cáo những phương án, kế hoạch và xin ý kiến của đồng chí Lê Duẩn. Đồng chí nêu vấn đề: Mỹ đã đưa chiến tranh cục bộ đến đỉnh cao mà vẫn thất bại. Phải chăng lúc này đã có thể đưa chiến lược tiến công của ta đến bước phát triển tất yếu của nó là tổng công kích, tổng khởi nghĩa? Xong cần phải bàn bạc kỹ. Quân ủy Trung ương cần chuẩn bị để báo cáo Bộ Chính trị. Đến tháng 8-1967 đã hình thành ý định thay đổi phương án, lựa chọn phương án tối ưu phát huy sức mạnh tổng hợp lớn nhất bằng cách tổng tiến công kết hợp với nổi dậy, giáng cho địch một đòn quyết định, tạo cục diện mới của chiến tranh. Bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 11-1967, các đồng chí phụ trách chiến trường ra báo cáo tình hình, thống nhất cao với chủ trương và cách đánh mới này. Ngày 20-10-1967, Bộ Chính trị nghe Quân ủy Trung ương báo cáo kế hoạch chiến lược toàn diện về tổng công kích-tổng khởi nghĩa. Và ngày 18-11-1967, Bộ Chính trị lại họp bàn về đề án phát động quần chúng tổng khởi nghĩa kết hợp với tổng công kích.

Ngày 18-1-1968, Bộ Chính trị họp nghe đồng chí Nguyễn Văn Linh báo cáo kế hoạch của miền Nam và hạ quyết tâm cuối cùng. Vậy là phải mất vài tháng nghiên cứu, bàn bạc, trao đổi với các chiến trường, các đồng chí lãnh đạo và chỉ huy quân sự cấp cao, các địa phương, mới đi đến khẳng định một quyết định: Kết hợp hai đòn tổng tiến công và nổi dậy, tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận quan trọng lực lượng quân sự Mỹ-ngụy, đánh đổ ngụy quyền các cấp, làm thay đổi lực lượng so sánh có lợi cho ta hơn nữa. Trên cơ sở đó, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc Mỹ phải thay đổi chiến lược, phải xuống thang chiến tranh. Đồng thời, thực hiện sách lược mềm dẻo, lôi kéo và làm tan rã quân ngụy, mở đường cho Mỹ rút ra mà không mất thể diện.

Để thực hiện mục tiêu thắng lợi nói trên, chúng ta lựa chọn hướng công kích và khởi nghĩa chủ yếu nhằm vào các thành thị mà trọng điểm là Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế. Thành thị là sào huyệt đầu não, trung tâm chỉ huy, nơi dự trữ nhiều trang bị kỹ thuật, hạ tầng cơ sở của không quân, hải quân, phương tiện thông tin, giao thông vận tải của địch. Đánh vào đây là đánh vào tim óc, huyết mạch, dạ dày của địch, nơi rất hiểm và nhạy cảm nhất, chỗ mạnh nhất cũng là nơi địch đang có sơ hở, từ đó tạo một tác động lớn. Ở đây ta sử dụng lực lượng quân sự tinh nhuệ (đặc công, biệt động), kết hợp mũi tiến công của lực lượng xung kích với những cuộc nổi dậy của quần chúng tại chỗ và vùng nông thôn kế cận, phối hợp quân sự và chính trị, thành thị và nông thôn. Đánh như vậy nhất định gây ảnh hưởng lớn đến cục diện chiến tranh, thắng lợi sẽ có tầm vóc chiến lược, “sức dùng một nửa mà công được gấp đôi”.

Đồng thời, ta chủ trương kéo chủ lực địch ra những chiến trường ta đã chuẩn bị nhằm giam chân và tiêu diệt nhiều địch, khiến cho địch không phán đoán được ý định của ta, tạo điều kiện cho các thành thị tiến công và nổi dậy. Đây cũng là một đòn chính của tổng công kích, một hướng tiến công của bộ đội chủ lực của ta.

Đạn đã lên nòng

Không gian tiến công bao trùm toàn miền, tiến hành đồng loạt trên quy mô rộng lớn chưa từng có. Thời gian tiến công được chọn đúng giữa Đêm Giao thừa Tết Nguyên đán – một thời điểm mà địch không ngờ tới. Đây thật quả là một quyết tâm chiến lược chính xác, sáng tạo, táo bạo.

Như vậy, việc lựa chọn phương hướng tiến công đánh đòn quyết định, việc tìm ra cách đánh tối ưu nhằm tạo hiệu lực chiến lược với lực lượng không nhiều, cũng như thực hiện phối hợp chiến trường trên quy mô toàn miền, cả nước đã làm cho trận chiến Tết Mậu Thân 1968 là một trận quyết chiến chiến lược chưa từng có trong cuộc chiến tranh giải phóng này. Đây quả là một sự sáng tạo độc đáo trong tư duy chiến lược của Đảng ta và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một mẫu mực về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh cách mạng Việt Nam.

Song nhiều vấn đề cực kỳ phức tạp vẫn còn ở phía trước. Làm sao đưa một số lượng người và vũ khí không nhỏ vào ém sẵn sâu trong lòng địch, nơi chúng bảo vệ nhiều lớp, nhiều tầng, tưởng chừng ruồi bay khó lọt. Làm sao giữ được bí mật cả một hoạt động sôi nổi, dồn dập của cả ba thứ quân. Làm sao sắp xếp bố trí lực lượng chuẩn bị và phối hợp nhịp nhàng kịp thời các mũi tiến công. Thật khó mà nói hết được mức độ khẩn trương, căng thẳng của lao động trí óc của Bộ thống soái tối cao và các cấp lãnh đạo chỉ huy các chiến trường, các địa phương để bàn bạc, đóng góp trí tuệ, đề ra và tổ chức thực hiện quyết sách chiến lược lịch sử này. Và cũng khó mà hình dung hết được khối lượng đồ sộ công tác chuẩn bị tạo lực, tạo thế cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, chuẩn bị đề phòng cả tình huống địch có thể đánh phá hệ thống đê điều miền Bắc, kéo dài và mở rộng chiến tranh.

Dựa vào tinh thần làm chủ của nhân dân ta, ý thức trách nhiệm cao của các cấp, thế trận và lực lượng mà Đảng đã dày công chuẩn bị và xây dựng nên cho đến thời điểm lịch sử ấy, như đạn đã lên nòng chỉ chờ giờ hành động điểm là bắn ra nhằm thẳng yết hầu địch.

Đại tá TRẦN NAM CHUÂN (Còn nữa)
qdnd.vn

12 ngày đêm máu trộn hoa đào

QĐND – Chiều 30-1-1968, khi hoa anh đào cùng xác pháo nhuộm đỏ phố phường Đà Lạt thì cách đó không xa, trong khu rừng thuộc huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, 100 cán bộ, chiến sĩ dưới sự chỉ huy của Đại đội trưởng Bùi Minh Hớn thẳng tiến về hướng Đà Lạt. Cạnh đó, trong căn phòng cưới vừa được dựng lên bằng tấm vải dù, nữ y tá Lê Thị Mai lặng lẽ cất cặp gối thêu màu trắng vào ba lô. Hôm nay là ngày cưới nhưng vì thời khắc trọng đại trên toàn miền Nam đã điểm nên họ đành gạt bỏ hạnh phúc riêng mình…

Lên đường trong ngày cưới

Với vợ chồng Thiếu tướng Bùi Minh Hớn, 45 năm qua, ngày Tết năm nào cũng gợi lại cho ông bà thật nhiều kỷ niệm. Bởi cái ngày cả nước nổ súng bắt đầu chiến dịch Mậu Thân 1968 cũng chính là ngày cưới “hụt” của hai người.

Tháng 1-1967, khi tham gia trận đánh gần Quốc lộ 20 tuyến Sài Gòn – Đà Lạt, Đại đội trưởng Bùi Minh Hớn bị thương nhẹ ở vai, phải vào Bệnh xá Tỉnh đội Tuyên Đức (nay là Lâm Đồng) để điều trị. Tại đây, anh được nữ y tá Lê Thị Mai, nguyên nữ sinh trường Bồ Đề, Đà Lạt trực tiếp chăm sóc. Vẻ đẹp dịu dàng và sự ân ần, chu đáo của nữ y tá trẻ khiến trái tim chàng sĩ quan giải phóng rung động. Trước đó, dù chưa biết mặt nhưng Mai cũng đã nhiều lần nghe danh Minh Hớn, một chỉ huy nổi tiếng gan dạ, dũng cảm, nhiều lần tổ chức bộ đội đánh những trận “xuất quỷ nhập thần” khiến địch kinh sợ. Tên tỉnh trưởng tỉnh Tuyên Đức ngày ấy là Trung tá Nguyễn Hợp Đoàn ra giá: “Thưởng 20 ngàn đô-la cho ai lấy được đầu Minh Hớn”. “Đầu tiên là mến vì tài nhưng khi tiếp xúc lại thấy anh ấy thật thà, khiên tốn nên đem lòng thương”- bà Mai nói.

Yêu nhau 2 năm, hai người quyết định báo cáo tổ chức cho phép thành vợ chồng. Do điều kiện công tác của cả hai đều rất bận rộn nên sau nhiều lần trì hoãn, cuối cùng họ cũng được đơn vị cho phép tổ chức lễ cưới vào chiều 30 Tết.

Bà Mai nhớ lại: Chuẩn bị cho đám cưới, anh em đơn vị giúp dựng một phòng cưới “dã chiến” bằng vải dù, còn bà chuẩn bị một ít bánh kẹo, thuốc lá để đồng đội đến chia vui. “Khi chúng tôi đang làm mọi công tác chuẩn bị và hồi hộp, náo nức chờ tới giây phút trọng đại của đời mình thì trưa 30-1, anh ấy nhận được chỉ thị phải lên gặp cấp trên nhận nhiệm vụ, 5 giờ chiều anh ấy mới về, nét mặt đăm chiêu. Anh nắm tay tôi rất chặt rồi nói: Do yếu tố bí mật nên tối nay bọn anh ra mặt trận, sắp tới sẽ đánh lớn. Vậy là lễ cưới của chúng mình sẽ không thực hiện được. Em đừng buồn, ngày chiến thắng sẽ là ngày cưới của chúng ta”.

Thiếu tướng Bùi Minh Hớn cùng vợ Lê Thị Mai.

12 ngày đêm máu trộn hoa đào

Từ biệt người vợ sắp cưới, Bùi Minh Hớn chỉ huy Đại đội 810 hành quân về Đà Lạt. Tại đây đơn vị của ông cùng Đội biệt động thành Đà Lạt và một trung đội đặc công đảm nhiệm đánh địch từ hướng Tây Bắc, chiếm các mục tiêu chủ yếu như: Tòa tỉnh trưởng, Ty cảnh sát, Tỉnh đoàn bảo an, Lữ quán thanh niên, Đại học chiến tranh chính trị, Chợ Đà Lạt và các ấp: Đa Phú, Đa Cát, Phước Thành.

Đêm 31-1-1968, đơn vị xuất phát tiến công thị xã Đà Lạt. 22 giờ cùng ngày, tổ đi đầu vừa tới đường Hai Bà Trưng, phát hiện một tiểu đội địch án ngữ phía trước. Đại đội nhanh chóng triển khai đội hình, hình thành 2 mũi bí mật, áp sát rồi bất ngờ nổ súng, 10 tên địch bị tiêu diệt, đơn vị nhanh chóng tiếp cận mục tiêu chủ yếu, tuy nhiên địch đã phát hiện hướng tấn công của ta nên chúng nhanh chóng triển khai đội hình và gọi hỏa lực đáp trả, cuộc chiến đấu diễn ra giằng co, quyết liệt. Địch tuy có tổn thất nhưng ta vẫn không chiếm được mục tiêu, phải lùi ra khu Hòa Bình tổ chức chức bám trụ ở đó.

8 giờ sáng ngày 2-2-1968, địch dùng lực lượng lớn cùng xe tăng và xe bọc thép hỗ trợ mở nhiều đợt đánh phá vào khu Hòa Bình, đơn vị kiên cường đánh trả, loại khỏi vòng chiến đấu gần 100 tên, bắn cháy 2 xe bọc thép. Đến 10 giờ, đơn vị rút ra phía tây thị xã, trụ lại khu vực Đa Cát, Phước Thành xây dựng trận địa đánh địch. Từ ngày 3 đến 12-2-1968, địch liên tiếp sử dụng bộ binh cùng các loại vũ khí hạng nặng như xe tăng, thiết giáp và máy bay tổ chức nhiều đợt tiến công. Dù phải chịu nhiều tổn thất nhưng với ý chí sắt đá và quyết tâm giữ vững trận địa, đơn vị đã đẩy lùi các đợt tiến công và gây cho địch nhiều tổn thất to lớn. Đêm 11-2-1968, được lệnh của cấp trên, Đại đội 810 rút về căn cứ.

12 ngày đêm tiến công và bám trụ đánh địch, dưới sự chỉ huy của Đại đội trưởng Bùi Minh Hớn, cán bộ, chiến sĩ Đại đội 810 đã vượt nhiều khó khăn, không do dự, chùn bước, bám trụ ngoan cường dưới mưa bom bão đạn của quân địch. Dù hơn một nửa cán bộ, chiến sĩ hy sinh và bị thương nhưng không ai tỏ ra nao núng, mà đều kiên quyết đánh trả hàng chục đợt phản kích của địch, giữ vững trận địa.

4 tháng sau kể từ ngày 30-1-1968, Đại đội trưởng Hớn và nữ y tá Mai mới gặp lại nhau. Lúc này bà Mai đã xung phong ra chiến trường, trực tiếp tham gia chiến đấu và chăm sóc thương binh. Đó cũng là lần đầu tiên họ được sống giây phút vợ chồng.

Sau Chiến dịch Mậu Thân, Đại đội 810 được bổ sung lực lượng và trở thành tiểu đoàn, được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân, ông tiếp tục giữ chức tiểu đoàn trưởng, rồi Tham mưu phó Tỉnh đội Tuyên Đức. Sau năm 1975, ông là Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Ninh Thuận, về hưu năm 2001 với quân hàm Thiếu tướng. Còn bà tham gia công tác tại địa phương, về hưu năm 1993. Hiện nay ông bà vẫn mạnh khỏe và sống hạnh phúc cùng con cháu trong căn nhà trên đường Phù Đổng Thiên Vương, phường 8, thành phố Đà Lạt.

Bài và ảnh: VŨ ĐÌNH ĐÔNG
qdnd.vn