Tag Archive | Bác Hồ

Về nơi Bác Hồ ra lời thi đua ái quốc

Mỗi lần trở lại An toàn khu Định Hóa (Thái Nguyên) – “Thủ đô gió ngàn” của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1954) là mỗi lần chúng tôi có dịp ôn lại những trang sử hào hùng của dân tộc, được nghe kể về vị Cha già kính yêu trong những năm Người sống và làm việc giữa chiến khu Việt Bắc.

Tại nơi đây, Người cùng Trung ương Đảng đã đưa ra nhiều quyết sách quan trọng đến vận mệnh dân tộc, quyết định đánh trận Điện Biên Phủ làm nên một chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Từ ATK Định Hóa, đúng dịp kỷ niệm 1000 ngày toàn quốc kháng chiến, ngày 11 tháng 6 năm 1948, từ Nà Lọm, xã Phú Đình – trung tâm của An toàn khu (ATK) Định Hóa, Người đã ra lời kêu gọi thi đua ái quốc, trong đó nêu rõ: “Mục đích thi đua ái quốc là: Diệt giặc đói, Diệt giặc dốt, Diệt giặc ngoại xâm; Cách làm là: dựa vào Lực lượng của dân, Tinh thần của dân, để gây Hạnh phúc cho dân. Vì vậy, bổn phận của người dân Việt Nam, bất kỳ sĩ, nông, công, thương, binh; bất kỳ làm việc gì, đều cần phải thi đua nhau: Làm cho mau, Làm cho tốt, Làm cho nhiều. Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ, đều cần phải trở nên một chiến sĩ tranh đấu trên mặt trận: Quân sự, Kinh tế, Chính trị, Văn hóa… Với tinh thần quật cường và lực lượng vô tận của dân tộc ta, với lòng yêu nước và chí kiên quyết của nhân dân và quân đội ta, chúng ta có thể thắng lợi, chúng ta nhất định thắng lợi…”

An toàn khu Định Hóa, Thái Nguyên. Ảnh: baothainguyen

Lời kêu gọi của Người một lần nữa được nhất mạnh tại phát động thi đua ái quốc sau đó (ngày 19/6/1948) cùng với lời kêu gọi Các tướng sĩ yêu mến tiến lên. Đáp lại lời kêu gọi thi đua ái quốc của Người, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã thi đua lao động sản xuất, đánh giặc thực dân, giành nhiều thắng lợi trên mọi mặt trận. Sau 3 năm phát động phong trào “Thi đua yêu nước”, năm 1952, Thái Nguyên tiếp tục được chọn là nơi tổ chức Đại hội chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất ở xã Hợp Thành, huyện Phú Lương. Tại đây, 7 anh hùng đầu tiên tiêu biểu cho phong trào thi đua yêu nước của cả nước đã được bầu chọn, gồm 3 Anh hùng Lao động là Ngô Gia Khảm, Trần Đại Nghĩa, Hoàng Hanh và 4 Anh hùng Quân đội là Cù Chính Lan, Nguyễn thị Chiên, Nguyễn Quốc Trị, La Văn Cầu. Những tấm gương anh hùng được tuyên dương tại Đại hội đã trở thành hình mẫu của các thế hệ người Việt Nam yêu nước từ Bắc vào Nam trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và lao động sản xuất, xây dựng CNXH, chi việc cho chiến trường miền Nam.

Từ lời kêu gọi thi đua ái quốc ở ATK Định Hoá, suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp rồi chống đế quốc Mỹ sau này đã có trên 30 phong trào thi đua của toàn dân và của riêng các lực lượng, các ngành, các giới gắn với lời kêu gọi ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những phong trào tiêu biểu như: Vững tay cày, chắc tay súng (1961), Thi đua cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật, đẩy mạnh sản xuất (1961), Thi đua sản xuất: Nhanh, nhiều, tốt, rẻ (từ năm 1957); Thi đua hợp lý hóa sản xuất, cải tiến kỹ thuật (từ năm 1961), Tự lực cánh sinh, cần kiệm xây dựng HTX (từ năm 1961), Phong trào phụ nữ 5 năm tốt (từ năm 1964); Phong trào Ba đảm đang (từ năm 1965). Trong Quân đội có phong trào cờ 3 nhất: Đạt thành tích nhiều nhất, đều nhất, giỏi nhất; Thanh niên có Ba sẵn sàng. Thiếu niên nhi đồng có phong trào thi đua Nghìn việc tốt (1963).

Trong kháng chiến chống Mỹ, còn có phong trào thi đua chung cho toàn miền Bắc: Mỗi người làm việc bằng hai, vì miền Nam ruột thịt (1964).. Thi đua yêu nước trở thành động lực trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và xây dựng hậu phương miền Bắc, góp phần quan trọng vào chiến thắng lịch sử năm 1975, thống nhất đất nước… Cho đến này hôm nay, lời kêu gọi thi đua ái quốc của Người vẫn còn nguyên giá trị lịch sử. Điểm di tích Nà Lọm cùng các di tích quan trọng khác tại ATK Định Hoá được Ban quản lý di tích lịch sử và sinh thái ATK Định Hoá đầu tư, tôn tạo trở thành nơi giáo dục truyền thống cách mạng lý tưởng cho thế hệ trẻ.

Tự hào là vùng đất chiến khu cách mạng, nơi ra đời lời kêu gọi thi đua ái quốc, trong công cuộc đổi mới ngày nay, đồng bào các dân tộc của huyện Định Hoá đang ra sức thi đua xây dựng quê hương cách mạng ngày càng giàu đẹp hơn. Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, tổng nguồn đầu tư phát triển kinh tế – xã hội trong toàn huyện đã lên tới hơn 1.200 tỷ đồng; trong đó, riêng vốn ngân sách trung ương hỗ trợ đầu tư cho vùng ATK hơn 120 tỷ đồng, vốn do các bộ, ngành tài trợ trên 70 tỷ đồng, phần vốn còn lại được đầu tư thông qua các Chương trình 135, 134, các Chương trình mục tiêu quốc gia, vốn ODA, vốn ngân sách tỉnh và huyện… Với sự đầu tư thiết thực, hiệu quả đó, những năm qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình của huyện đạt 11%/năm, bình quân lương thực đạt trên 500kg/người/năm, tỷ lệ hộ nghèo giảm trung bình 4%/năm.

Khu du lịch ATK Phú Đình của huyện đã từng bước được đầu tư và hình thành, hàng năm đã thu hút từ 40 – 50 vạn lượt khách đến du lịch và thăm quan, góp phần quan trọng vào sự phát triển ngành du lịch của tỉnh Thái Nguyên… Đặc biệt, bằng các nguồn vốn khác nhau, tỉnh Thái nguyên và huyện đã tổ chức tôn tạo phục dựng trên 30 điểm di tích, lập hồ sơ trình công nhận cho 19/128 điểm di tích lịch sử ATK Định Hoá, khôi phục nhiều loại hình văn hóa phi vật thể phục vụ cho công tác nghiên cứu, phổ biến, phát huy giá trị di tích, làm cơ sở phát triển du lịch bền vững…

Đúng dịp kỷ niệm kỷ niệm 65 năm Ngày Bác Hồ ra lời thi đua ái quốc, đồng bào các dân tộc trên quê hương cách mạng Định Hoá tiếp tục chung sức thực hiện phong trào thi đua mới với mục tiêu từ nay đến năm 2015 duy trì tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm từ 12% trở lên, thu nhập bình quân đạt 17 triệu đồng/người/năm, hàng năm trồng mới và trồng thay thế 1000 ha rừng, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 10%, xây dựng 4 xã đạt chuẩn “nông thôn mới”, 100% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế… đưa ATK Định Hoá xứng tầm với di tích lịch sử quốc gia đặc biệt.

Hoàng Thảo Nguyên
baotintuc.vn

Nữ biệt động “thép” 8 lần gặp Bác Hồ

Những ngày nắng nóng gay gắt, các vết thương cũ tái phát khiến nữ thương binh nặng 1/4 Trần Thị Kim Cúc cảm thấy đau nhức khắp người. Vậy mà, nhắc đến những lần được gặp Bác Hồ, giọng bà trào dâng niềm xúc động sâu sắc.

Trần Thị Kim Cúc sinh năm 1936, tại vùng quê nghèo xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang (Đà Nẵng). Bà làm giao liên cho huyện ủy Hòa Vang từ năm 14 tuổi. Năm 1961, bà được tổ chức phân công làm đội trưởng đội công tác đặc biệt, có nhiệm vụ thăm dò tình hình địch, đưa thông tin liên lạc cho cách mạng. 4 năm sau, bà vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Dũng cảm, mưu trí, gan dạ, bà đã tham gia nhiều trận đánh “tìm Mỹ mà diệt” làm nức lòng đồng bào và chiến sĩ. Nhiều lần bị địch bắt, tra tấn cực kỳ tàn độc nhưng bà vẫn kiên cường giữ vững khí tiết của người cộng sản. Ra tù, được tổ chức bí mật đưa ra Bắc chữa bệnh, bà vinh dự 8 lần được gặp Bác Hồ.

nu-biet-dong-aBà Trần Thị Kim Cúc thời trẻ

Bà Cúc bồi hồi nhớ lại: “Một buổi chiều giữa năm 1966, tôi và chị Mười quê ở Mỹ Tho, Tiền Giang nằm điều trị chung một phòng ở Bệnh viện Việt – Xô, được thông báo sắp có người trong Phủ Chủ tịch đến thăm. Tối đó, một chiếc ô tô con đỗ trước hiên Khoa A1. Một ông già dáng dong dỏng, râu tóc bạc, nét mặt đôn hậu, mặc bộ bà ba màu nâu sẫm, chân đi dép cao su và một người trẻ tuổi hơn (về sau tôi mới biết là chú Vũ Kỳ, thư ký của Bác), nhanh nhẹn đi về phía buồng bệnh. Tôi hồi hộp nói với chị Mười: “Đúng là Bác rồi, chị ơi!”. Chúng tôi định chạy ra, thấy thế Bác liền vẫy tay, bảo: “Hai cháu đừng chạy, ngã đấy!” rồi đưa hai tay đỡ chúng tôi. Tôi ôm lấy Bác mà nước mắt cứ trào ra. Ước mơ cháy bỏng ấp ủ bấy lâu, bây giờ đã thành hiện thực!

Chú Trịnh Kim Ảnh, Giám đốc Bệnh viện thưa với Bác: “Cô Cúc ngoài các vết thương trong người còn có 2 vết thương rất nặng: Vết thương ở đầu do bọn địch đóng đinh vào gây chấn thương não, để lại di chứng động kinh kéo dài. Vết thương thứ 2 ở cửa mình vẫn ra máu do mảnh vụn đèn neon địch tra tấn”. Nghe vậy, mắt Bác ngấn lệ. Người đưa tay sờ lên vết thương trên đầu tôi, lo lắng hỏi: “Đau thế, đêm cháu ngủ có được không? Cháu ăn có biết ngon miệng không?” Tôi liền thưa: “Dạ thưa Bác! con ăn và ngủ cũng được ít”. Bác đưa tay vẫy anh Bình, Chủ nhiệm khoa A1 lại gần, căn dặn: “Chú phải theo dõi cả việc ăn uống của các cháu, nhắc nhà bếp phải thường xuyên đổi món và chế biến thức ăn cho hợp khẩu vị. Ở miền trong thường thích món cá nấu chua lắm!”.

nu-biet-dong-bThủ tướng Phạm Văn Đồng chụp ảnh với gia đình bà Cúc

Sau lần đó, tôi và chị Mười còn nhiều lần được đón vào Phủ Chủ tịch cùng ăn cơm với Bác và chú Tô (tức Thủ tướng Phạm Văn Đồng). Tình cảm của Bác dành cho chúng tôi sâu nặng, ấp áp như tình thương của người cha vậy. Biết bệnh của chúng tôi không thuyên giảm, Bác quyết định đưa sang Trung Quốc chữa trị và động viên 2 chị em cố gắng học tiếng nước bạn, để nếu có nhà báo đến thì kể cho họ nghe về tội ác của đế quốc Mỹ và ý chí chiến đấu kiên cường của đồng bào ta. Khắc ghi lời Bác, tôi vừa chiến đấu với bệnh tật vừa nỗ lực học hỏi, luyện cách giao tiếp bằng tiếng Trung. Sau gần 2 năm, các vết thương được chữa lành, trở về Hà Nội, tôi được Bác cho xe đón vào Phủ Chủ tịch. Đó là buổi chiều 30 tết Mậu Thân 1968, tiết trời se lạnh, Bác bảo chú Vũ Kỳ đưa ra một cái khăn và chiếc mũ ấm bảo tôi mang vào kẻo lạnh (Chiếc khăn này tôi đã tặng lại Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Quân khu 5). Rồi Bác ân cần hỏi thăm sức khỏe, và bất ngờ hỏi bằng tiếng Trung: “Cháu đã học được tiếng nước bạn đến đâu rồi? Bác hỏi một câu, cháu trả lời Bác nghe thử”. Tôi lúng túng thưa với Bác cũng bằng tiếng Trung, Bác khen và dặn: “Có chí, ở hoàn cảnh nào học cũng được, cháu ạ!”. Tôi trình bày nguyện vọng muốn được trở về miền Nam đánh giặc, mắt Bác rưng rưng. Bác bảo hãy cố gắng giữ gìn sức khỏe, vì người còn yếu thế chưa về được đâu”.

Sau đó, Trần Thị Kim Cúc học văn hoá tại Trường phổ thông lao động Trung ương, đầu năm 1969, được Đài Tiếng nói Việt Nam nêu gương về thành tích học tập. Bà kể: “Nhận được tin ấy, Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ đến trường đón tôi. Bác ôm chầm lấy tôi như một người cha đón đứa con sau bao ngày xa cách. Tình cảm của Bác vẫn nồng ấm, nhưng cử chỉ và giọng nói đã yếu đi nhiều. Bác dặn chú Tô bằng giọng khàn khàn: “Sau này, tôi có mệnh hệ gì, không chăm lo được cho cháu Trần Thị Cúc và cháu Trần Thị Lý (Anh hùng LLVTND, quê Điện Quang, Điện Bàn, Quảng Nam) thì nhờ chú thay tôi chăm lo cho hai cháu đến nơi đến chốn”.

Đến chiều, chú Vũ Kỳ đưa tôi trở lại trường, Bác lấy tay xoa nhẹ lên đầu tôi và bảo: “Cháu về trường, nhớ giữ gìn sức khỏe, Bác gửi lời thăm thầy cô, bạn bè của cháu!”. Nghe thế, tôi cắn môi lại cố không để bật ra tiếng khóc, lòng thầm ao ước: “Cầu mong Bác mạnh khỏe, bình an”. Nào ngờ đó cũng là lần cuối cùng tôi được gặp Bác. Ngày 2-9 năm ấy Bác đã đi xa mãi mãi”.

Sau này, bà Cúc thi đỗ vào Khoa Hóa Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, học đến năm thứ tư thì vết thương tái phát, đôi mắt không nhìn được, phải sang chữa trị tại Cộng hoà Dân chủ Đức. Mãi đến sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, bà mới được trở về quê hương. Hiện nay, bà đang sinh sống trong căn nhà nhỏ số 149 đường Thanh Long, phường Thanh Bình, quận Hải Châu, Đà Nẵng. Các con của bà đều đã trưởng thành, trong đó 2 người con trai đang công tác trong quân đội (Đại úy Huỳnh Thanh Hà Nam, Trợ lý Ban Chính trị – Cục Chính trị Quân khu 5 và Thượng úy Huỳnh Trần Thanh Hải, Trợ lý Thanh niên Bộ CHQS thành phố Đà Nẵng). Bà bảo: “Tôi thường kể cho các con nghe kỷ niệm về những lần được gặp Bác Hồ. Đó chính là hành trang để các cháu trọn đời vững bước đi theo con đường mà Đảng, Bác Hồ đã lựa chọn”.

Theo ĐỖ THỊ NGỌC DIỆP – Quân đội nhân dân
Thanh Huyền (st)
bqllang.gov.vn

Bác Hồ – Người không có tuổi !

Một buổi sáng năm 1960, nhà thơ An-tôn-xki, người dịch “Nhật ký trong tù” vào thăm Bác tại Hà Nội. Nhà thơ viết: “Đúng 6 giờ rưỡi, chúng tôi đến chờ Người. Vừa mới bước qua ngưỡng cửa phòng khách thì từ phía cánh cửa đối diện đã bước ra một người đứng tuổi, vóc người tầm thước, với chiếc áo ka ki màu sáng và chân đi đôi dép. Người niềm nở mỉm cười. Ở đây tôi dùng chữ “đứng tuổi” là vì tôi biết rõ tuổi Hồ Chủ tịch. Đúng hơn cả, nên gọi Bác Hồ là người không có tuổi. Thật vậy, mái tóc Người đã bạc mà dáng dấp vẫn gọn gàng, nhanh nhẹn như tuổi thanh niên”.

7.a1Bác Hồ với một số người cao tuổi tiêu biểu. 

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng ta lúc đó 55 tuổi. Nhìn dáng người mảnh khảnh, đôi mắt sáng, vầng trán cao và bộ râu hơi dài, cả nước kính trọng và tôn vinh Hồ Chủ tịch là Lãnh tụ dân tộc. Báo chí thì gọi Bác là Cụ Hồ Chí Minh.

Nhà thơ Tố Hữu lúc đó chưa được gặp Bác, trong bài thơ “Hồ Chí Minh” viết ngày 26-8-1945, cũng đã gọi Bác Hồ là một người lính già:

“Hồ Chí Minh
Người lính già
Đã quyết hy sinh
Cho Việt Nam Độc Lập
Cho thế giới hoà bình…”

Một lần, một nhạc sỹ đưa một đoàn các cháu thiếu nhi vào thăm Bác. Các cháu cùng hát vang bài ca: “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng”. Khi nghe đến câu hát: “Bác nay tuy đã già rồi, già rồi nhưng vẫn vui tươi…”, Bác Hồ quay sang tươi cười, nói với đồng chí Trần Duy Hưng:

– Này chú, Bác đã già đâu nhỉ?

Có thể nói, Bác Hồ của chúng ta là một con người không chấp nhận tuổi già. Chúng ta hãy tưởng tượng, một con người 21 tuổi, với hai bàn tay trắng đã ra đi tìm đường cứu nước. Sang Pháp, rồi vượt biển lớn đi vòng quanh Châu Phi, rồi sang Mỹ, Anh, Đức, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Thuỵ Sỹ, Nga, Trung Quốc… Hầu như đi khắp các châu lục, làm nhiều nghề, vừa học vừa hoạt động cách mạng, vừa phải khôn khéo vượt qua mọi sự bắt bớ của bọn đế quốc. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy thật lạ lùng, là một người Việt Nam trẻ tuổi, vừa đến Thủ đô Paris không bao lâu, đã thâm nhập ngay được vào đời sống chính trị tại đó, làm những việc cực kỳ quan trọng đối với dân tộc mình, đối với các dân tộc thuộc địa và góp phần hình thành chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân Pháp”.

Chúng ta cũng biết trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, Bác Hồ của chúng ta đã hai lần phải vào tù, và một lần lĩnh án tử hình vắng mặt do Toà án Nam triều ở Vinh, theo lệnh nhà cầm quyền Pháp kết án ngày 11-11-1929. Năm 1931, Bác bị bắt vào nhà tù Hương Cảng, và năm 1942 ở nhà tù Tưởng Giới Thạch ở Tĩnh Tây, Trung Quốc, với bao nỗi đày ải khổ cực. Trong thời gian 1 năm 12 ngày, bị giải đi mấy chục nhà giam, chân bị cùm, răng rụng, đói và rét. Song chính trong tù ngục ấy, Bác đã để lại cho chúng ta tập thơ nổi tiếng “Nhật ký trong tù” mà ngày nay đã được in ra ở 30 nước:  Anh, Pháp, Trung Quốc, Đức, Tiệp, Nga, Tây Ban Nha, Hàn Quốc…

Khi về Pác Bó, Cao Bằng, ở trong hang đá lạnh, ăn uống thì kham khổ “Sáng ra bờ suối, tối vào hang. Cháo bẹ, rau măng, vẫn sẵn sàng…”. Một cuộc đời cách mạng gian khổ như thế, trước Đại hội Tân Trào ở lán Nà Lừa, Bác lại bị một trận ốm rất nặng. Đồng chí Võ Nguyên Giáp kể: Có đêm Bác đã dặn lại như có ý dối dăng… Thế nhưng Cách mạng Tháng Tám thành công, đã 55 tuổi, Bác Hồ vẫn ngày đêm làm việc, lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua những ghềnh thác hiểm nghèo, và Người không hề nghĩ đến tuổi già!

Ngày 19 tháng 5 năm 1946.

Lần đầu tiên nhân dân ta mừng Ngày sinh của Bác. Bác nói với Đoàn đại biểu Nam Bộ đến mừng Người: “Tôi xin cảm ơn các anh, các chị Nam Bộ đã đến chúc thọ tôi. Thật ra, các báo ở đây đã làm to cái ngày sinh của tôi, chứ 56 tuổi chưa có gì đáng chúc thọ, hãy cũng còn như thanh niên cả…” (Báo Cứu Quốc ngày 20-5-1946).

Sau này trong những bài thơ viết về tuổi thọ, Bác vẫn không chấp nhận tuổi già. Bài thơ “Không đề”, Bác viết năm 1949 tại chiến khu Việt Bắc:

KHÔNG ĐỀ

Vì nước chưa nên nghĩ đến nhà
Năm mươi chín tuổi vẫn chưa già
Chờ cho kháng chiến thành công đã
Bạn sẽ ăn mừng sinh nhật ta.

Cho đến năm 78 tuổi, trong bài thơ “Không đề” Bác Hồ vẫn viết:

KHÔNG ĐỀ

Bảy mươi tám tuổi vẫn chưa già
Vẫn vững hai vai việc nước nhà
Kháng chiến dân ta đang thắng lớn
Tiến bước ta cùng con em ta!

Anh em ở gần Bác mới thưa với Bác rằng: “Thưa Bác. 78 tuổi là già rồi ạ!”, thế là Bác chữa lại: “Bảy mươi tám tuổi chưa già mấy/ Vẫn vững hai vai việc nước nhà…”.

Sự nghiệp cách mạng vĩ đại của cả một dân tộc. Cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, mà Bác là người chèo lái, nỗi lo toan cho hạnh phúc của nhân dân và lẽ sống cao đẹp vì dân, vì nước, khiến Người đã vượt qua cái tâm lý tuổi già thông thường, để luôn hướng tới một mùa xuân đẹp đẽ của đất nước!

Ngày 19 tháng 5 năm 1946.

Một Đoàn cán bộ của Ban Vận động đời sống mới, do nhà văn Nguyễn Huy Tưởng dẫn đầu, vào chúc thọ Bác. Nhân lúc trò chuyện, nhà văn thưa với Bác:

– Thưa Cụ, nhân hôm nay đến chúc thọ Cụ Chủ tịch, xin Cụ cho Ban Đời sống mới chúng tôi một khẩu hiệu để vận động nhân dân thực hiện.

Bác Hồ vui vẻ hẳn lên, Người nói:

– Khẩu hiệu ư? Thế thì khẩu hiệu đó là: “Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”.

Sau một phút suy nghĩ, nhà văn lão thành đứng dậy thành thật thưa với Bác:

– Thưa Cụ Chủ tịch, khẩu hiệu đó rất hay, nhưng nghe nó cổ cổ thế nào ấy ạ!

Bác Hồ cười:

– Ơ hay! Sao lại cổ? Các cụ ta xưa ăn cơm, bây giờ chúng ta ăn cơm vẫn thấy ngon. Thế thì nó cổ chỗ nào? Cái hay của Tổ tiên thì chúng ta phải học.

Ngày 10 tháng 5 năm 1965.

Năm ấy, Bác Hồ của chúng ta vừa tròn 75 tuổi!

Đúng 9 giờ sáng hôm ấy, Người ngồi vào bàn viết Bản Di chúc “Tuyệt đối bí mật”. Năm ngày sau, ngày 14-5 Người đã viết xong Bản Di chúc lịch sử và tự tay đánh máy. Cuối tài liệu Bác ghi: Hà Nội ngày 15 tháng 5 năm 1965 và ký tên Hồ Chí Minh.

Tối hôm đó, các đồng chí trong Bộ Chính trị vào mừng thọ Bác 75 tuổi. Một bó hoa tươi được đặt trang trọng trên bàn. Đồng chí Trường Chinh thay mặt, nói mấy lời chúc thọ Bác.

Bác xúc động nói:

– Bác cảm ơn các chú đã có lòng, nhưng trong lúc toàn dân ta đang kháng chiến gian khổ, mọi việc hết sức khẩn trương, mà lại đi chúc thọ một cá nhân như thế này là không nên!

Mọi người có mặt trong căn phòng đều lặng yên, suy nghĩ… Bác Hồ của chúng ta là như thế đó! Trong cả cuộc đời mình, Người luôn đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng,“Nâng niu tất cả, chỉ quên mình!”.

Ngày 19 tháng 5 năm 1969.

Hồi này sức khoẻ của Bác đã yếu! Đúng 9 giờ, Bác lại ngồi vào bàn xem lại Bản Di chúc đã viết. Người đọc lại rất kỹ toàn bộ các bản viết trong 4 năm qua và chữa lại một số chữ. Trong câu “Khi người ta đã ngoài 70 tuổi”, Bác chữa lại là “70 xuân!”.

Buổi sáng, Bác hỏi đồng chí Vũ Kỳ:

– Cháu Trỗi hy sinh cách đây đã gần 5 năm rồi chú nhỉ?

Đồng chí Vũ Kỳ thưa với Bác:

– Thưa Bác, anh Trỗi hy sinh ngày 16 tháng 10 năm 1964, đến nay đã gần 5 năm!

Một thoáng buồn, rồi Bác bảo đồng chí Cẩn nấu món ăn theo kiểu Nam Bộ để Bác mời khách. Trưa hôm ấy, Bác mời đồng chí Phạm Văn Đồng sang cùng tiếp khách. Khách mời của Bác hôm ấy là hai cháu gái miền Nam, chị Phạm Thị Quyên vợ anh Trỗi và chị Nguyễn Thị Châu.

Không ai ngờ, đó là ngày 19 tháng 5 cuối cùng trong cuộc đời 79 mùa xuân của Bác!

Bác Hồ kính yêu của chúng ta là như thế đó. Bằng một nghị lực phi thường, và trí tuệ siêu việt Người đã suốt đời lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân ta làm cách mạng. Người nói: “Xưa nay, những người yêu nước không vì tuổi già mà chịu ngồi không!”.

Trước kia, khi chưa gặp Bác, nhà thơ Tố Hữu viết: “Hồ Chí Minh người lính già/ Đã quyết chí hy sinh…”. Nay được ở gần Bác, nhà thơ lại viết: “Hồ Chí Minh – Người trẻ mãi không già”. Và “Không gì vui bằng mắt Bác Hồ cười. Quên tuổi già, tươi mãi tuổi đôi mươi!”.

Bác Phạm Văn Đồng đã nói: “Tưởng nhớ Hồ Chí Minh là biến khẩu hiệu “Hồ Chí Minh sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta” thành tư tưởng, tình cảm và hành động của mỗi người cộng sản và mỗi người dân”./.

Bùi Công Bính
Theo baonamdinh.com.vn
Kim Yến
(st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ với Tết Mậu Thân 1968

QĐND Online – Giữa năm 1967, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta xuất hiện tình thế mới, có lợi cho ta. Ngày 28-12-1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Bộ Chính trị (Khóa III) họp quyết định một chủ trương hết sức quan trọng: Mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân 1968 nhằm giáng đòn quyết liệt vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Ngay sau đó, công tác chuẩn bị được tiến hành chu đáo, công phu, tỉ mỉ và hoàn toàn bí mật. Tháng 1-1968, Hội nghị Trung ương lần thứ 14 (Khóa III) thông qua Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 12-1967, khẳng định quyết tâm, mục tiêu và hướng tiến công chiến lược. Ở miền Nam, các binh đoàn chủ lực, theo kế hoạch đang bí mật áp sát vào bàn đạp tiến công. Chỉ thị cụ thể của Bác Hồ cho các chiến trường là:

Kế hoạch phải thật tỉ mỉ
Hợp đồng phải thật ăn khớp
Bí mật phải thật tuyệt đối
Hành động phải thật kiên quyết
Cán bộ phải thật gương mẫu.

Bác Hồ cùng các uỷ viên Bộ Chính trị họp bàn chiến dịch Tết Mậu Thân 1968. Ảnh tư liệu.

Theo lời kể của đồng chí Vũ Kỳ – Thư ký riêng của Bác thì Người đã chuẩn bị thư chúc Tết Mậu Thân 1968 từ độ ba tháng trước đó. Sáng chủ nhật ngày 31-12-1967, Bác ra Phủ Chủ tịch để đọc ghi âm thư chúc Tết. Chị Trần Thị Tuyết ngâm bài thơ chúc Tết vừa để Bác nghe vừa để ghi âm phát lúc giao thừa. Sáng ngày 1-1-1968, Bác gửi Thư Chúc mừng năm mới tới toàn thể cán bộ và đảng viên cả nước. Trong thư, Bác gửi lời chúc mừng đến các nước xã hội chủ nghĩa anh em, các nước bầu bạn và nhân dân toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ, đã nhiệt liệt ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta; chúc kiều bào ta ở nước ngoài, năm mới cố gắng mới, tiến bộ mới! Đối với đồng bào và chiến sĩ cả nước, Bác chúc:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!

Cũng theo đồng chí Vũ Kỳ, chiều 29 Tết, Bác Hồ nhận điện của Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng chúc tết Bác. Tối đêm giao thừa nơi Bắc Kinh xa xôi, hai Bác cháu ngồi im lặng trong phòng, mở Đài Tiếng nói Việt Nam nghe tin tức, ca nhạc và ngâm thơ Tết, chờ đón giao thừa. Từ khi về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng (năm 1941), đây là lần đầu tiên Bác đón giao thừa ở nước ngoài. Thời gian trôi đi chầm chậm. Rồi, bên ngoài, tiếng pháo nổ vang, tiễn Đinh Mùi và đón mừng Mậu Thân, từ chiếc đài bán dẫn, tiếng nói của Bác Hồ vang lên:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!

Lời thơ chúc Tết của Bác đồng thời cũng là hiệu lệnh mở đầu cuộc tiến công và nổi dậy và truyền đi khắp mọi miền đất nước mà trọng điểm là 3 thành phố lớn: Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế. Tại Sài Gòn, quân ta đã đánh thẳng vào Dinh Độc Lập, Tòa Đại sứ Mỹ, Bộ Tổng tham mưu, Đài Phát thanh và rất nhiều mục tiêu chiến lược của địch khác…. Khi đài phát xong câu cuối “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!”, Bác nói khẽ: “Giờ này, miền Nam đang nổ súng!”.

Trưa mồng một Tết, Bác Hồ rất vui khi nhận được tin chiến thắng : “Đánh khắp miền!”. Mồng 6 Tết, nhằm ngày 3-2-1968, kỷ niệm 38 năm Ngày thành lập Đảng, mới 6 giờ sáng, Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ chuẩn bị giấy bút. Bác ngồi cạnh cửa sổ, nhìn ra ngoài trời đầy tuyết trắng, đọc cho đồng chí Vũ Kỳ ghi bài thơ khai bút đầu năm:

Đã lâu chưa làm bài thơ nào
Nay lại thử làm xem sao
Lục khắp giấy tờ vần chẳng thấy
Bỗng nghe vần THẮNG vút lên cao!

Suốt 2 tháng đầu năm Mậu Thân 1968, trên toàn chiến trường miền Nam không lúc nào ngớt tiếng súng. Mục tiêu lớn của chiến dịch đã đạt được, ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, phá vỡ một mảng lớn hệ thống chính quyền của chúng, làm giảm ý chí chiến tranh của những kẻ hiếu chiến trong giới lãnh đạo Mỹ. Vần “THẮNG” của cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấm dứt ném bom và đánh phá miền Bắc, thừa nhận chính thức Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, ngồi vào bàn đàm phán tại Paris để giải quyết chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 là tiền đề quan trọng cho thắng lợi hoàn toàn mùa Xuân năm 1975.

HÀ VY (sưu tầm)
qdnd.vn

Bác Hồ với kế sách nghi binh Xuân Mậu Thân

45 năm Cuộc Tổng tiến công nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968-2013)

QĐND – Từ năm 2000 tới ngày về với Bác Hồ (16-4-2005), ông Vũ Kỳ đã dành cho tôi diễm phúc cứ 3 giờ chiều, tuần vài buổi sang nhà ông bên ngõ nhỏ phố Trần Quang Diệu (Đống Đa – Hà Nội), giúp ông ít việc. Ông kể bao nhiêu chuyện hay, bổ ích về Bác Hồ.

Thuật nghi binh bậc thầy

Chiều 29-11-2001, tôi thưa với ông Vũ Kỳ về sự kiện lịch sử Tết Mậu Thân 1968 hiện có những thông tin không rõ ràng, cách giải thích không thỏa đáng, dư luận đang mong đợi những tiếng nói xác thực từ phía các nhân chứng như ông. Ông cười hiền từ, gật đầu nhè nhẹ dáng vẻ như cân nhắc: “Xin lỗi, các cụ ta dạy: Nói có sách, mách có chứng. Đợi chút…”. Ông đứng dậy, vào phía trong lấy ra đưa tôi tập thơ chúc Tết của Bác mới in của TS Trần Viết Hoàn, Giám đốc Khu di tích Phủ Chủ tịch, bảo tôi tranh thủ xem lấy tư liệu. Ông lên gác hai lấy cuốn sổ nhỏ ghi ngày tháng mỗi sự kiện…

Được gần Vũ Kỳ nhiều, tôi nhận ra những chuyện ông kể, dù ai nghe, ông cũng rất vui. Cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ đã đến đỉnh cao qua mùa khô 1966-1967 với các chiến dịch càn quét lớn đều đã thất bại. Phải bồi thêm đòn quyết định vào mưu đồ đeo bám chiến tranh của các thế lực diều hâu, đồng thời trợ sức cho một số lực lượng chủ hòa đã manh nha ngay trong chính giới Mỹ, có thể chấm dứt cuộc chiến bằng tinh thần “hòa hiếu” mà Bác Hồ từng tuyên bố: Hà Nội sẵn sàng trải thảm đỏ nghênh đón Tổng thống Mỹ Giôn-xơn…

– Thưa anh, Bác đã bắt đầu viết Di chúc từ năm 1965 và hè năm sau, sau chuyến về Thái Bình, Bác bị cảm lạnh, liệt nhẹ…? – Tôi hỏi.

Bác Hồ thăm một đơn vị quân đội chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi (1969). Ảnh tư liệu.

– Đúng, Bác cố gắng lắm mà không giấu được sức khỏe giảm sút, đi lại khó khăn, lại tha thiết muốn được vào Nam thăm đồng bào, chiến sĩ. Bác đành phải chấp hành Nghị quyết của Bộ Chính trị sang nước bạn dưỡng bệnh. Từ đầu năm 1967, Bác đã thông qua các phương án đánh lớn trong năm, rồi ngày 5-9-1967 mới sang Trung Quốc chữa bệnh…

– Vậy mà ta vẫn giữ kín được sự biến ảo của động thái đó, vô hiệu hóa toàn bộ mạng lưới do thám trên trời, dưới đất của quân địch?

– Bác Hồ luôn nhắc chúng ta bài học cảnh giác.

Về chuyện “đánh đòn nghi binh”, ông nghe tôi kể thêm, gật đầu: “Hay đấy, biết nhiều chuyện đấy…”.

Chúng tôi thật khoái chí khi nghe những chuyện như có lần Đại tướng Võ Nguyên Giáp đang đi kiểm tra trận địa giữa “đất lửa”, mà Đài ta lại “tường thuật trực tiếp” tướng sĩ quân dân gặp gỡ vỗ tay rầm trời tại Ninh Bình…

– Hưm! Chuyện! Đòn bất ngờ Tết Mậu Thân giới tình báo Mỹ và mấy nước chư hầu thì ví ngang với trận Trân Châu Cảng trong thế chiến II. Hưm! “ngang” thế nào được! Mậu Thân ta là nhiều trận, là vào tận sào huyệt của địch. Khắp miền Nam…

– Thưa anh, trước cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, Bác Hồ, anh Văn đi dưỡng bệnh là thuật “dương đông kích tây” cho tâm điểm Mậu Thân?

– Thế này nhé! Tới tháng 6-1967, Hội nghị Trung ương 14 khóa III họp tại Kim Bôi thông qua mọi hướng chuẩn bị đại quy mô từ Bắc chí Nam. Trước ngày sang Trung Quốc 5-9-1967, Bác vẫn còn duyệt kế hoạch nhử địch dãn ra xa Sài Gòn theo gợi ý của anh Văn. Mỹ điều 4 sư đoàn ra bảo vệ Đường 9: Dốc Miếu, A Sầu, A Lưới… Giôn-xơn thì lệnh: Phải tử thủ Khe Sanh…

– Bác với anh Văn xuất ngoại có kín, hở gì không ạ? – Tôi hỏi.

– Không kín cũng chẳng hở. Ông Văn và bà Hà nghỉ bên hồ Ba-ra-tông, Hung-ga-ri thì giấu được ai? Bác Hồ ở Bắc Kinh có đôi lần đi dạo Di Hòa Viên.

Ngày 21-12-1967, Bộ Chính trị mời Bác về chọn phương án tối ưu và quyết định chọn ngày N, giờ G nổ súng cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy. Anh Cả Nguyễn Lương Bằng đề nghị bác sĩ Trần Hữu Tước chỉ trong mười hôm chăm sóc sao cho giọng nói của Bác thật khỏe mạnh để Bác đọc thơ chúc Tết thu thanh. Ai cũng mừng: Bác rất vui. Mọi năm, thường Bác chỉ cho thu thanh trước một tuần. Ông Trần Lâm, Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam nhớ lại, năm đó Bác cho thu trước 3 tuần – sáng 31-12-1967. Chiều 1-1-1968, Bác trở lại Trung Quốc.

Vài hôm sau đã thấy báo chí Anh, Mỹ, Pháp… đăng tin, ảnh Bác ở Bắc Kinh, ông Giáp ở Bu-ca-rét. Tin từ nội đô Sài Gòn cho biết: Có nơi, trong các đồn bốt bọn sĩ quan kháo nhau: Cụ Hồ, tướng Giáp còn chưa về thì… yên trí lớn đi mấy ông nội! Vợ chồng Nguyễn Văn Thiệu về ăn Tết ở Mỹ Tho. Đại sứ Mỹ Bân-cơ không có mặt trong Đại sứ quán vào giờ ta nổ súng…

Mỹ cút – sách hòa hiếu

Ông Vũ Kỳ dự báo trong sách “Thư ký Bác Hồ kể chuyện”, rằng rồi đây các nhà nghiên cứu sẽ còn tốn nhiều giấy mực cho cuộc “về thăm” Nguyễn Trãi của Bác Hồ tại Côn Sơn vào dịp rằm ra Tết Ất Tỵ – 1965. Hẳn Người thấy trước, cần thỉnh giáo tiền nhân về bài học 10 năm chống triều Minh với “Hội thề Đông Quan” năm 1428 để vận dụng cho cuộc chống Mỹ – “Mỹ cút” thì “ngụy nhào”, non sông sẽ thu về một mối cũng 10 năm: 1965 đến 1975?…

Ông Hoàng Tùng cũng kể tinh thần Đông Quan trong Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 và Pa-ri 1973. Trước đó, Bác luôn nhắc: Tuyên truyền tránh sỉ nhục kẻ bại trận, dễ kích động lòng tự tôn dân tộc của người ta. Thiếu tướng Nguyễn Đôn Tự nghe Trung tá Xăm-mơ (Summers), sĩ quan liên lạc trong Phái đoàn quân sự bốn bên nói rất nghiêm chỉnh: “Mỹ đã chịu thua các ông rồi. Đề nghị ông báo cáo với Chính phủ đừng làm nhục Mỹ…”. Thời đó, ta vẫn nói: Tạo lối thoát cho đối phương “rút lui trong danh dự”…

Chiều 20-1-1968, ông Lê Đức Thọ sang báo cáo với Bác đã hoàn tất các công việc chuẩn bị. Sáng 25-1-1968, tức 26 Tết, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trên đường về Hà Nội ghé qua Trung Quốc, Bác dặn thêm:

Kế hoạch phải thật tỉ mỉ

Hợp đồng phải thật ăn khớp

Bí mật phải thật tuyệt đối

Hành động phải thật kiên quyết

Cán bộ phải thật gương mẫu!…

Tối đầu tiên trong căn phòng Bác và Vũ Kỳ ngồi đón Giao thừa xa Tổ quốc, ngoài trời tuyết rơi dày đặc, trắng xóa. Chiếc đài bán dẫn phát ra tiếng nói quê hương thân yêu sao gắn bó mà cách biệt lạ! Tin thời sự. Câu chuyện vui. Ca nhạc. Ngâm thơ. Thời gian đi chầm chậm. Bác trầm ngâm, đượm vẻ buồn. Ông Vũ Kỳ thú thực với Bác rất nhớ vợ, nhớ con…

Bỗng, Bác như giật mình, mắt sáng khi tiếng loa đài phát ra.

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,

Thắng trận tin vui khắp nước nhà.

Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ

Tiến lên!

Toàn thắng ắt về ta!

Ông Vũ Kỳ đã nghe, đã thuộc từng câu chữ, vậy mà trong giây phút thiêng liêng này của đất trời, của dân tộc, trong lòng ông vẫn cứ trào dâng, trào dâng niềm xúc động, hạnh phúc khó tả!

Tiến lên, toàn thắng…

Mãi sau này ông mới biết: Thì ra, “Tiến lên” là hiệu lệnh Bác phát ra để khắp các mặt trận nổ súng hệt như lệnh Tắt đèn – nổ súng lúc 20 giờ ngày 19-12-1946 bắt đầu cuộc Toàn quốc kháng chiến khi Đài phát thanh phát đi tiếng nói của Người. Thảo nào, sau lời Bác: “Tiến lên”, thì pháo nổ và Bác nói một mình: Miền Nam nổ súng rồi! Đó là giờ G, ngày N đã điểm.

Bác dặn, từ giờ phút này, ông phải theo dõi chặt chẽ tin chiến sự từ các đài, các nước. Và ông Vũ Kỳ vội đi lấy chậu hoa thủy tiên buộc dải lụa đỏ, Bộ Chính trị gửi sang chúc Tết Người…

Từ đà thắng Xuân Mậu Thân – 1968, một năm sau, trước ngày đi xa, Bác nhắc khẩn trương mở “Hội thề”… Pa-ri cho Mỹ cút thì ngụy phải nhào để Bắc Nam sum họp, còn Xuân nào vui hơn – Xuân 1975!

TRỊNH TỐ LONG
qdnd.vn

Vì sao gọi Người là Bác Hồ?

(Petrotimes) – Một ông bạn người nước ngoài gửi e-mail đến hỏi vì sao tất cả người Việt Nam đương đại đều cùng gọi Chủ tịch Hồ Chí Minh là Bác Hồ? Bài báo này như lá thư trả lời bạn xa.

Quốc Hiếu

Có một tình cờ thú vị là người đầu tiên viết tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minh in thành sách lại là một, Jean Lacouture. Ông được người Pháp đánh giá là một trong những nhà văn chuyên viết tiểu sử nổi tiếng nhất nước Pháp đương đại… Lý do là ở trong nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh không đồng thuận cho viết tiểu sử mình. Nhà báo Phan Quang, nguyên Tổng giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam nhớ về Jean Lacouture như sau:

“…Trong một bữa ăn, tôi nói với Jean về cảm tưởng khi lần đầu đọc cuốn sách viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thời ấy, cả nước Việt Nam đang bừng bừng khí thế đánh Mỹ. Quân dân ta đã bắn rơi chiếc máy bay thứ 2.000… Thành thật mà nói, những tư liệu anh viết về Bác Hồ đối với chúng tôi không có gì mới. Nhưng sách của anh là cuốn tiểu sử hoàn chỉnh đầu tiên về Hồ Chí Minh. Trước anh, mới có cuốn sách mỏng của Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất bản ở Liên khu 5 từ thời kháng Pháp, bài báo của đồng chí Trường Chinh và một số hồi ký của các nhà cách mạng… Hơn nữa, tác phẩm được thực hiện và xuất bản khi Người còn khỏe (1967). Chúng tôi rất biết ơn những lời tốt đẹp anh viết về Việt Nam. Có phải chính anh đã viết: Ai muốn học bài học về chủ nghĩa lạc quan, hãy đến Việt Nam?…”.

Jean Lacouture kể lại một kỷ niệm. Hôm ấy, tại Hà Nội, giữa hai đợt bom Mỹ, khi đang phỏng vấn Thủ tướng Phạm Văn Đồng thì cửa phòng hé mở và Bác Hồ nhẹ nhàng bước vào. Tiếng chân Người bước đi vẫn rất nhẹ, còn nhẹ hơn tiếng sột soạt của bộ áo quần kaki Bác mặc trên người. Bác Hồ mỉm cười, đưa tay ra hiệu bảo mọi người cứ ngồi yên và nói: “Thủ tướng nói về chính sách của Chính phủ hay hơn tôi. Tôi đến đây chỉ như một người bạn cũ để chuyện trò với nhau về những ngày đã qua thôi. Thế nào, Paris có gì mới nào, anh bạn?”.

Jean Lacouture nhận xét, Bác Hồ trông có khác đi nhiều. Tóc bạc nhiều hơn. Bộ râu dường như thưa thớt hơn lần anh được gặp trước. Dáng người của Bác vẫn dong dỏng trong bộ quần áo kaki, tuy khuôn mặt có đầy đặn hơn một chút so với hồi trước…

Và Jean Lacouture kết thúc cuốn tiểu sử bằng ý kiến riêng của mình với những dòng sau:

“Ai mà biết được? Bác Hồ bây giờ là một người cao tuổi. Đời Bác đã trải qua cả nửa thế kỷ đấu tranh cách mạng… Nhưng nếu cậu bé Cung trở thành Nguyễn Tất Thành, trở thành anh Ba, trở thành Nguyễn Ái Quốc, trở thành Vương, trở thành Line, rồi trở thành Hồ Chí Minh không được tự mắt nhìn thấy nước Việt Nam độc lập và thống nhất từ Mục Nam Quan đến mũi Cà Mau, thì những người Việt Nam khác, những người được Bác Hồ đào tạo nên và cũng đều được tôi luyện trong chiến đấu, họ sẽ thay mặt Người mà chứng kiến điều ấy trở thành hiện thực…”.

Vậy là Jean Lacouture là một trong những người nước ngoài sớm gọi “Bác Hồ”.

Một người nước ngoài khác, con trai nhà báo Wilfred Burchett là George Burchett được sinh ra tại Hà Nội năm 1955 luôn có cảm tình đặc biệt với Bác Hồ. Anh nói rằng, Wilfred Burchett ngưỡng mộ Hồ Chủ tịch nhiều hơn bất cứ nhân vật nào trong lịch sử – bởi nhân cách, cũng như sự thông tuệ đáng khâm phục, tư tưởng quốc tế và tài lãnh đạo của Người.

“Mỗi lần trở lại Việt Nam qua những chuyến thăm ngắn ngủi, Wilfred Burchett đều nói rằng, Bác Hồ gửi tới những đứa trẻ chúng tôi lời hỏi thăm ấm áp nhất – dành cho anh trai tôi, chị gái tôi và tôi. Bởi vậy, có thể nói rằng, Bác Hồ luôn hiện diện trong gia đình tôi như một hình ảnh vô cùng mạnh mẽ. Và bởi vì cha tôi đã luôn kiên định với cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do và thống nhất của Việt Nam, nên Việt Nam cũng luôn hiện diện trong gia đình tôi. Với tôi, Việt Nam – Bác Hồ thực sự là một điều gì đó sâu sắc và có thực.

Trong tâm trí tôi, Bác Hồ và cha tôi luôn có mối quan hệ mật thiết. Tôi yêu quý và trân trọng họ với tất cả trái tim mình…”.

Xưng hô chính thức và đầu tiên của Hồ Chủ tịch trước công luận là xưng… “tôi” trong câu hỏi nổi tiếng, khi Người đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945: “Đồng bào nghe tôi nói có rõ không?”. Đồng bào và tôi. Mỗi lần nói với toàn thể hay một tập hợp người Việt, Người đều dùng chữ đồng bào.

Trong nhiều trang hồi ký các nhân vật lịch sử cho thấy, Hồ Chủ tịch rất uyển chuyển khi trò chuyện với các đối tượng khác nhau. Những người như Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh thì Người gọi là tiên sinh, tướng Trần Tu Hòa là Trần tướng quân, giám mục Lê Hữu Từ là cụ, linh mục Lê Văn Yên là ngài, các ông Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn Văn Tố… đều là cụ, đại diện các gia đình hảo tâm quyên góp cho Chính phủ là các bà và các ngài, hội hảo tâm là quý hội, Chủ tịch Quốc hội là cụ chủ tịch, một bộ trưởng là cụ bộ trưởng, đại diện các ủy ban nhân dân là các bạn… Trong một bức thư gửi các ngụy binh, Người gọi họ là anh em. Gửi những người đi lính cho Pháp và bù nhìn, Người viết: “Tôi thiết tha kêu gọi các người”.

Vậy “Bác Hồ” bắt đầu được gọi như vậy từ bao giờ, từ đâu ra? Thư tịch và tài liệu lưu trữ cho hay, tháng 9/1947, lần đầu tiên Người xưng bác và gọi cháu là trong “Trả lời thư chúc mừng của Hội Nhi đồng Công giáo khu Thượng Mỹ, huyện Phú Xuyên, Hà Đông” ngày 10/5/1947: “Bác cảm ơn các cháu. Bác khuyên các cháu: Biết giữ kỷ luật, siêng học siêng làm, yêu Chúa yêu nước. Bác hôn các cháu”. Và Người vẫn ký Hồ Chí Minh, chứ không ký Bác Hồ. Ba tháng sau, trong “Thư gửi nhi đồng toàn quốc nhân kỷ niệm Cách mạng tháng Tám” năm 1947, danh xưng Bác Hồ xuất hiện và từ đó được sử dụng.

Các nhà nghiên cứu lưu ý Hồ Chủ tịch chỉ xưng “Bác” trong hai trường hợp quan hệ. Thứ nhất, trường hợp bác – cháu, với nhi đồng. Điều này là bình thường. Ở tuổi 55, khi lên làm Chủ tịch nước, đối với người Việt thời đó, Người đã là một người cao tuổi. Bác gọi những người trạc tuổi mình là cụ. Trong bối cảnh ấy, xưng hô bác – cháu của Hồ Chủ tịch với nhi đồng là tự nhiên. Cuối thư gửi nhi đồng, Bác Hồ thường hôn các cháu. Trong một bức thư, Bác Hồ còn hôn các cháu rõ kêu, một kiểu biểu lộ tình cảm của người Âu – Mỹ lại được diễn đạt đậm đà bản sắc Việt Nam. Người cũng xưng trong quan hệ với những cộng sự, giúp việc kém tuổi mình. Bác ở đây là bác – cô/chú.

“Bác Hồ”, danh xưng thân thương này được dùng với mọi người, mọi nơi ở Việt Nam. Những người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên không gọi Bác mà gọi Bok Hồ (Cha Hồ). Nay trong nhiều gia đình “tam đại đồng đường”, thậm chí “tứ đại đồng đường”, cả nhà cùng gọi Bác Hồ vẫn tự nhiên như thường mà quên đi khái niệm tuổi tác. “Bác Hồ”, danh xưng này vượt qua tính chất gia đình mà là tấm lòng yêu quý, lòng kính trọng, biết ơn của mọi con dân nước Việt hôm nay và mai sau đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác Hồ sống mãi trong mỗi gia đình người Việt.

Q.H
petrotimes.vn

Bác Hồ của chúng ta là như vậy đó

Chuyện kể về NgườiHơn 40 năm làm công tác dân vận – Mặt trận, với trách nhiệm được giao, tôi có hạnh phúc lớn là được tiếp xúc với nhiều chính khách, nhiều nhân sĩ, trí thức nổi tiếng, các vị tiêu biểu của các dân tộc, các tôn giáo, trong đó không ít người đã được Bác Hồ cảm hóa, trở thành cộng sự thân thiết của Bác, tiếp thu tư tưởng của Người và đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc và xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất.

Mỗi lần kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh lại một lần anh chị em làm công tác Mặt trận chúng tôi có dịp được nghe chính những người trong cuộc kể lại những câu chuyện đầy xúc động về tầm nhìn xa, trông rộng, lòng bao dung, độ lượng, sức hút kỳ diệu và tài cảm hóa lạ thường của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Những câu chuyện đó được anh em chúng tôi ghi chép đầy đủ. Nhân dịp kỷ niệm 66 năm ngày Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, tôi trích đăng chuyện kể của Luật sư Phan Anh, Phó Chủ tịch thứ nhất Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa III, tại buổi họp mặt của Mặt trận ngày 10-5-1990 kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Bác Hồ. Không ai nghĩ rằng đây là buổi nói chuyện cuối cùng của Luật sư tại cơ quan Mặt trận vì chỉ sau đó hơn một tháng, ngày 28-6-1990 luật sư Phan Anh đã vĩnh biệt chúng ta. Tiêu đề bài viết này chính là câu kết bài nói của Luật sư.

Ông kể: Theo tôi nhớ, từ trung tuần tháng 7 đến trung tuần tháng 8-1945, những cuộc thương lượng giữa Chính phủ Trần Trọng Kim với Việt Minh diễn ra dồn dập tại Hà Nội. Mở đầu là việc ông Lê Trọng Nghĩa với vai giáo sư Lê Ngọc đã có cuộc tiếp xúc đầu tiên với Khâm sai đại thần Phan Kế Toại ngay tại Phủ khâm sai trong giờ hành chính. Tiếp đó là cuối tháng 7, Thủ tướng Trần Trọng Kim ra Bắc Bộ để thị sát thực địa và điều đình với Nhật cũng đã được ông Phan Kế Toại bố trí tiếp xúc với đại diện Việt Minh ở Hà Nội.

Trước tình hình chuyển biến mau lẹ, ngày 18-8 Khâm sai Phan Kế Toại lại gặp các ông Nguyễn Khang, Lê Trọng Nghĩa, Trần Đình Long tại Phủ khâm sai, chính thức mời Việt Minh cộng tác với Chính phủ Trần Trọng Kim và sẵn sàng chờ Mặt trận cử người tham gia Chính phủ. Cùng ngày, Bộ trưởng Hoàng Xuân Hãn cũng xin gặp Việt Minh, mời Việt Minh tham gia Chính phủ mở rộng và đề nghị trong tình hình quân Đồng minh đang trên đường vào Việt Nam mong cuộc thương lượng tiếp tục, Việt Minh nên nắm vùng nông thôn, Chính phủ lâm thời quản lý các thành phố để có danh nghĩa nói chuyện với Đồng minh.

Tất cả các cuộc thương lượng đều không có kết quả. Ông Trần Trọng Kim giao tôi làm thuyết khách cuối cùng với hy vọng: Với “tài hùng biện của Phan Anh” may ra còn cứu vãn được tình thế.

Nể lời Thủ tướng Trần Trọng Kim, tôi nhận lời và chuẩn bị kỹ cho cuộc gặp.

Tôi còn nhớ, ngày 25-8 Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Tân Trào về Hà Nội. Ngày 26, Người chủ trì Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Ngày 28, báo chí Hà Nội công bố danh sách 15 thành viên của Chính phủ cách mạng do Bác làm Chủ tịch. Cũng ngày đó, tôi đến gặp lại giáo sư Hoàng Minh Giám – một trí thức tiêu biểu của nước ta, thầy Hiệu trưởng trường Thăng Long xưa mà tôi đã một thời dạy học ở đó. Ông lúc này là Đổng lý Văn phòng Bộ Nội vụ và được Giáo sư cho biết Cụ sẽ tiếp tôi vào 9 giờ sáng hôm sau. Hay tin tôi ra “đấu tranh” với Chủ tịch Hồ Chí Minh, chú Phan Mỹ – em tôi, một cán bộ cách mạng, vội gặp tôi can ngăn:

– Từ trước đến nay, tôi vẫn phục Anh, coi Anh là thần tượng. Nhưng với việc anh định “đấu tranh” với Cụ thì Anh mê muội quá chừng. Anh muốn “đội đá, vá trời” chăng? – Tôi chỉ mỉm cười, chẳng phản đối, cũng chẳng thanh minh.

Đúng giờ, tôi đến địa điểm hẹn. Tôi quá bất ngờ và đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Đón tôi là một ông Tiên thực thụ. Cụ vận bộ kaki bạc màu, đi đôi bata của đồng bào dân tộc Tày. Cụ không chờ tôi lên mà dáng nhanh nhẹn, Cụ vội bước xuống ngang chỗ tôi đứng bắt tay:

– Tôi đã chờ chú từ lâu. Người nói – Trước khi ra Bắc, chú đã về quê choa chưa?

Tôi bối rối và thực sự xúc động. Những điều lâu nay tôi chuẩn bị công phu nay tan biến cả trước một con người cao sang nhưng không xa cách, một vĩ nhân xa quê hương, đất nước hơn một phần ba thế kỷ nhưng vẫn không quên thổ ngữ thân thương. Tôi ấp úng trả lời:

– Thưa Cụ, con chưa kịp về quê nhà.

Cụ ôm eo tôi cùng bước lên, đưa tôi vào phòng khách. Đồng chí Đàm Quang Trung (1) lúc đó là Đội trưởng đội bảo vệ Bác vào định rót nước mời khách.

Cụ ngăn:

– Chú Phan Anh là khách của Bác, để Bác tiếp. Chú cứ lo việc của chú. Chính tay Bác rót nước mời tôi, thân mật như cha con lâu ngày gặp lại.

Vừa uống nước, Cụ vừa giải thích cho tôi hiểu tình hình thời cuộc và đời sống cùng cực của dân ta hiện nay. Cụ nói ý:

– Dân ta bao năm một cổ đôi tròng, sống dưới chế độ áp bức của thực dân, phong kiến và phát xít Nhật. Nay ta đã giành được độc lập, phải mau chóng tái thiết quốc gia để dân có cơm ăn, áo mặc, được học hành. Chú là người tài cao, học rộng, tôi đề nghị chú ra gánh vác việc nước và trực tiếp làm Chủ tịch Ủy ban Kiến thiết quốc gia.

Tôi ngỡ ngàng trước một sự việc mà mình chưa bao giờ nghĩ tới, liền thưa:

– Thưa Cụ, con chỉ được đào tạo về luật chứ chưa được đào tạo về kiến thiết xây dựng.

– Thế tôi có được ai đào tạo để làm Chủ tịch nước đâu? Dân giao thì mình phải làm, phải vừa làm, vừa học và làm cho tốt, cho thật tốt.

Bác Hồ của chúng ta là như vậy đó. Ngày 29-8-1945 là ngày mà Bác Hồ đổi đời cho tôi, cho gia đình tôi.

45 năm đã trôi qua, tôi lớn lên theo cách mạng, lớn lên theo sự dìu dắt, bảo ban của Người, của Bác Hồ kính yêu của chúng ta.

Con đường mà Luật sư đi theo cách mạng là như vậy. Luật sư Phan Anh là Chủ tịch đầu tiên của Ủy ban Kiến thiết quốc gia của nước ta.

Ngày 2-3-1946 Chính phủ liên hiệp quốc gia được thành lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, ông được mời giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng. Tháng 7-1946 ông được Chính phủ giao trọng trách Tổng Thư ký Phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đi dự Hội nghị Fontainbleau đàm phán với Chính phủ Pháp.

Trong những năm kháng chiến chống Pháp, ông từng đảm nhiệm các chức vụ: Bộ trưởng Bộ Kinh tế (1948), Bộ trưởng Bộ Công thương (1954). Tháng 7-1954, ông là phái viên Phái đoàn Việt Nam đàm phán tại Hội nghị Giơnevơ.

Sau Hiệp định Giơnevơ, Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao ông đảm nhận nhiều trọng trách: Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Bộ trưởng Bộ Thương nghiệp rồi Bộ trưởng Bộ Ngoại thương.

Luật sư Phan Anh là đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa VIII, là Phó Chủ tịch Quốc hội khóa VII. Ông cùng luật sư Nguyễn Mạnh Tường sáng lập Hội Luật gia Việt Nam và trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của Hội và là Ủy viên Thường vụ của Hội Luật gia dân chủ thế giới.

Đối với sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc và hoạt động của Mặt trận Dân tộc thống nhất, luật sư Phan Anh là thành viên của Ban Vận động thành lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam. Ngày 29-5-1946 khi Hội chính thức được thành lập, ông được cử làm Ủy viên Thường vụ.

Ngày 10-9-1955 MTTQ Việt Nam ra đời, ông tiếp tục được cử làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam cho đến khi Đại hội thống nhất các tổ chức Mặt trận trong phạm vi cả nước vào tháng 2-1977.

Tại Đại hội I và Đại hội II MTTQ Việt Nam, luật sư Phan Anh được cử làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch. Và tại Đại hội III ông được cử làm Phó Chủ tịch thứ nhất Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam.

Luật sư Phan Anh là một trí thức tiêu biểu, tài năng và đức độ, một nhà hùng biện nổi tiếng, một trong những nhân vật đã từng được cộng tác mật thiết bên cạnh Bác Hồ trong nhiều năm và đã có những cống hiến to lớn vào việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân và Mặt trận Dân tộc thống nhất.

 Nguyễn Túc
(Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam)
daidoanket.vn

(1) Sau này là Thượng tướng, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước

Chuyện về Bác Hồ với Vua bếp huyền thoại Escoffier

Laura Lam tiếp tục có viết về quãng thời gian Bác Hồ – khi đó là chàng thanh niên Văn Ba, làm việc cùng đầu bếp huyền thoại người Pháp Escoffier, với những chi tiết ít người biết về vị lãnh tụ của chúng ta.

“Đứng trước tòa nhà mới xây trên nền đất cũ, tâm trí tôi lại trở về với Khách sạn Carlton, nơi chàng thanh niên Văn Ba (Hồ Chí Minh) đã làm việc. Tôi mường tượng ra khu bếp lớn của Vua bếp Auguste Escoffier với đội ngũ 60 nhân viên của ông ấy, tất bật chạy quanh trong những bộ áo choàng trắng cùng mũ vải trắng tinh tươm.

chuyen ve Bac Ho voi nguoi dau bep 1Khách sạn Carlton năm 1920

Trước khi chuyển đến khách sạn Carlton lộng lẫy, Escoffier đã từng làm việc cho khách sạn Savoy, nơi ông xây dựng được danh tiếng là cha đẻ của phong cách nấu ăn Pháp. Escoffier là người cung cấp thực phẩm cho nhà bếp Hoàng gia Anh, cho các phụ nữ quý tộc Châu Âu, cho những người nổi tiếng và những người siêu giàu. Được Hoàng tử xứ Wales đánh giá cao, nên khi Hoàng tử trở thành Vua Edward VII năm 1901, Escoffier được giao trọng trách chuẩn bị cho bữa tiệc đăng quang của nhà vua mới. Năm 1913, ông gặp Hoàng đế Wilhelm II tại bữa tiệc chiêu đãi cấp quốc gia dành cho 146 nhân vật quyền cao chức trọng Đức. Hoàng đế đã rất ấn tượng với phong cách nấu ăn của Escoffier và dành cho ông lời ca tụng: “Tôi là Hoàng đế của nước Đức, nhưng ông là ông vua của các đầu bếp”.

Thực đơn của Escoffier gồm những món xuất phát từ những ý tưởng chỉ có ở riêng ông. Như món thịt gà đông được làm từ ký ức của ông về con tàu Jeannette bị mắc cạn trên băng năm 1881; món bánh làm bằng quả đào là để tỏ lòng tôn kính danh ca người Australia, Nellie Melba; món làm từ dâu tây, dứa, kem chanh là món ăn tỏ lòng kính trọng với nghệ sĩ Pháp lừng danh Sarah Bernhardt. Nhiều món ăn của ông đã trở thành những món ăn kinh điển của người Pháp.

Bí quyết của người đầu bếp huyền thoại này là sử dụng những thành phần tươi nhất và nguyên chất nhất để làm nên những món ăn với kỹ thuật cao nhất cùng tính giản đơn. Ông cũng đề cao tiêu chuẩn vệ sinh trong khi chế biến. Năm 1919, Tổng thống Poincaré đã trao tặng Escoffier Bắc đẩu Bội tinh để ghi nhận tài năng đặc biệt cũng như công lao của ông quảng bá phong cách ẩm thực Pháp. Ba năm sau đó, ông được phong chức Sĩ quan Đội sĩ quan danh dự nhân một bữa tiệc quốc gia tại Palais d’Orsay.

chuyen ve Bac Ho voi 2Khách sạn Carlton bị phá hủy trong cuộc chiến Blitz ở London năm 1940

Khách sạn Carlton là nơi được Winston Churchill (sau này là Thủ tướng Anh) yêu thích. Ngày 4/8/1914, khi Churchill đang ngồi dùng bữa trong khách sạn này, Anh đã tuyên chiến với Đức và các đồng minh của Đức. Chiến tranh đã bùng nổ hai ngày trước đó, khi quân Đức tấn công lính Pháp. Escoffier và Văn Ba cũng có mặt tại khách sạn khi lời tuyên chiến được đưa ra. Văn Ba đã rất phấn chấn. Anh âm thầm hy vọng cuộc chiến này sẽ dẫn đến sự sụp đổ của chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương. Ở London, anh lặng lẽ chờ cơ hội để bộc lộ. Escoffier tiếp tục phụ trách công việc bếp núc của khách sạn Carlton cho đến hết Chiến tranh thế giới thứ I (8/1914 -11/1918).

Khi Văn Ba bắt đầu công việc của mình vào mùa Xuân năm 1913, anh chỉ là một chân trong nhóm rửa bát ở khu bếp của Escoffier. Với nhân viên này, không có gì hay ho khi chứng kiến những khách hàng giàu có và nổi tiếng để lại nhiều thức ăn trên đĩa sau mỗi bữa. Bất kỳ khi nào nhìn thấy một khoanh bít tết lớn hay miếng thịt gà to còn chưa được đụng đến, anh lại chuyển chúng sang một chiếc đĩa sạch và gửi trở lại nhà bếp. Một lần, Escoffier hỏi Ba “Tại sao anh không vứt những thức đó vào thùng rác như những người khác? Ba trả lời “Những thứ này không nên vứt đi. Ông có thể mang chúng cho người nghèo”.

Escoffier lấy làm thích thú và tỏ ý rất hài lòng với câu trả lời này. “Chàng trai trẻ thân mến ơi, hãy nghe ta. Giờ thì gạt ý tưởng mang tính cách mạng đấy của anh sang một bên và ta sẽ dạy cho anh nghệ thuật nấu nướng. Nó sẽ mang đến cho anh rất nhiều tiền”.

chuyen ve Bac Ho voi 3Tấm bảng treo trên tòa nhà mới. Không có tài liệu nào của Khách sạn Carlton thoát khỏi cuộc chiến tranh. Các nhà sử học Nga và Việt Nam cùng những nguồn khác cho rằng chàng thanh niên Văn Ba đã làm việc ở Khách sạn Carlton từ năm 1913 đến 1917

Ngay sau cuộc đối thoại này, Văn Ba được đưa lên khu vực làm bánh và Escoffier đã truyền cho anh nghệ thuật làm món tráng miệng của Pháp. Anh làm theo những hướng dẫn của vị vua bếp một cách siêng năng và với niềm thích thú thực sự. Ba học rất nhanh công thức làm các loại bánh ngọt của Pháp. Escoffier là người tiên phong trong kỹ thuật trộn các thành phần bánh, xử lý bột nhào và bí kíp nướng bánh sao cho ra lò được những chiếc bánh với lớp vỏ giòn và bóng mịn.

Ngay từ đầu, người thày thông thái của Ba đã chú ý đến sự thông minh nổi trội của cậu học trò và ông luôn đánh giá cao tính chín chắn, thái độ lịch thiệp của Ba. Năm 1917, Escoffier chuẩn bị cho sinh nhật lần thứ 71 của mình, ông đã nghĩ đến việc nghỉ ngơi sau khi tìm được người sẽ kế thừa tài sản vô giá là những công thức làm món ăn của ông. Văn Ba đã theo học ông được 4 năm và là một trong những đầu bếp được ông quý mến nhất. Escoffier không nghi ngờ về việc Ba có được một sự nghiệp đầy hứa hẹn trong thế giới của các đầu bếp Pháp.

Tuy nhiên, một buổi tối, Ba đã nói chuyện với Escoffier. Tin tức về phong trào Duy Tân bị Pháp đàn áp đã đến với Ba và anh cảm thấy rất bồn chồn. Anh thông báo với Escoffier tin sẽ rời London và bắt tay vào một sứ mệnh mới. Có thể quyết định này bắt nguồn từ sự kiện ở Đông Dương, mà cũng có thể là do cuộc Cách mạng Nga bất ngờ nổ ra. Escoffier biết hoài bão chính trị của Ba rất tốt. Nhưng ông cũng cảm thấy buồn bã khi chàng thanh niên có vẻ ngoài thư sinh kia lại từ bỏ bộ đồ trắng để bắt đầu một cuộc sống mà khi ấy, ông cho là đầy những nguy cơ và không có gì chắc chắn.

Khách sạn Carlton bị Đức Quốc xã phá hủy hoàn toàn trong cuộc chiến tranh chớp nhoáng vào London, thường được gọi là cuộc chiến London Blitz, trong những năm đầu 1940, sau 57 đêm Hitler ra lệnh không kích liên tục thành phố này. Đây là giai đoạn đầu của cuộc Chiến tranh thế giới thứ II (tháng 9/1939-tháng 8/1945).”

Theo Laura Lam (Việt Hà dịch)
Dantri.com.vn
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Họa sĩ nhiều lần được “làm phiền” Bác Hồ

Họa sĩ Phan Kế An năm 2008. Ảnh: Internet

Họa sĩ Phan Kế An sinh năm 1923 tại xã Đường Lâm-Sơn Tây, nay thuộc thành phố Hà Nội. Ông là con trai quan Khâm sai đại thần Phan Kế Toại dưới triều Nguyễn. Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, ông Phan Kế Toại đi theo kháng chiến, được Chủ tịch Hồ Chí Minh cử làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ, rồi Phó thủ tướng nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Phan Kế An thuộc thế hệ sinh viên cuối cùng của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương thời Pháp thuộc. Cách mạng tháng Tám bùng nổ, ông cùng nhiều bạn bè đồng môn như: Mai Văn Nam, Tạ Thúc Bình, Vĩnh Noãn, Mai Văn Hiến, Lê Phả, Kim Đồng, Phan Thông, Nguyễn Tư Nghiêm, Tôn Đức Lượng (tức Nguyễn Hữu Kinh), Nguyễn Văn Thiện, Trần Quốc Ân, Bùi Xuân Phái… đã hăng hái “gác bút nghiên lên đường tranh đấu”.

Hơn nửa thế kỷ làm họa sĩ cách mạng, Phan Kế An đã vẽ hơn nghìn bức tranh với nhiều chất liệu khác nhau. Ông đã 3 lần được giải nhất trong các triển lãm mỹ thuật toàn quốc, được Giải thưởng Nhà nước về văn học-nghệ thuật đợt đầu tiên (năm 2001), từng giữ chức Phó Tổng thư ký Hội Mỹ thuật Việt Nam. Tên tuổi ông gắn liền với nhiều tác phẩm hội họa nổi tiếng, như: Nhớ một chiều Tây Bắc, Gặt ở Việt Bắc, Những đồi cọ, Bác Hồ ở lán Khuổi Tạt, Hà Nội tháng 12-1972, Cánh đồng bản Bắc… và hàng loạt tranh biếm họa chính trị. Nhưng với ông, quãng đời hoạt động nghệ thuật ấn tượng nhất là những năm đầu đi theo cách mạng, ông được phân công vẽ tranh cổ động, tranh minh họa phục vụ kháng chiến. Đặc biệt là thời gian ông được vẽ tranh ký họa chân dung Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc.

Ông kể: Cuối năm 1946, không khí sục sôi chuẩn bị Toàn quốc kháng chiến, ông cùng một số danh họa như: Nguyễn Tư Nghiêm, Trần Đình Thọ, Mai Văn Hiến… được giao nhiệm vụ vẽ tranh cổ động để dán trên đường phố Hà Nội, với tinh thần “Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm…”. Các ông tập trung tại nhà ông Nguyễn Đình Thi ở ấp Thái Hà để vẽ bí mật. Một hôm, anh em đang miệt mài sáng tác thì có một người đến ngắm nghía rồi góp ý là hình ảnh những người tự vệ còn yếu đuối, thư sinh quá. “Máu sĩ” nổi lên, Phan Kế An nói với vị khách không mời mà đến “gí mũi” vào việc người khác: “Thế thì anh ngồi làm mẫu cho chúng tôi vẽ nhé!”. Không ngờ người ấy cởi áo khoác, ngồi hẳn hai giờ trong tư thế người chiến sĩ quyết tử ôm bom ba càng xông vào xe địch. Tác phẩm hoàn thành cũng là lúc có chiếc ô tô con đến đón “người mẫu” đi, lúc đó hỏi ra, Phan Kế An mới biết “người mẫu” chính là ông Đặng Xuân Khu-tên thật của đồng chí Trường Chinh-một cán bộ cấp cao của Đảng và Chính phủ.

Bác Hồ ở lán Khuổi Tạt (Tranh của họa sĩ Phan Kế An – 1948)

Một thời gian sau đó, Phan Kế An được cử sang Báo Sự Thật do đồng chí Trường Chinh trực tiếp phụ trách. Nhiệm vụ chính của ông là làm ma-két và vẽ tranh minh họa cho báo. Họa sĩ kể: Số báo Tết Kỷ Sửu năm 1949, đồng chí Trường Chinh yêu cầu trên bìa báo không phải một bức tranh, mà là trình bày sao cho đẹp mắt bốn câu thơ Xuân của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Họa sĩ phải viết thư gửi Bác, đề nghị Người viết bốn câu thơ chúc Tết đồng bào ra tờ giấy khổ lớn. Bác Hồ đồng ý nhưng khi Người gửi thơ sang để trình bày thì cả bài lại dài hơn khuôn khổ của trang báo. Ông đành viết thư sang phiền Bác viết lại. Lần này Bác lại viết hẹp hơn khuôn khổ trang báo. Ông lại phải viết thư sang lần thứ ba và lần này thì Bác viết vừa khít. Hơn nửa thế kỷ sau, kể lại câu chuyện trên đây, ông vẫn tỏ ra day dứt: “Vậy là tôi đã làm phiền Bác tới ba lần. Bốn câu thơ Bác viết không đúng khuôn khổ trang báo, tôi giữ mãi như một kỷ niệm quý hiếm. Về sau, theo yêu cầu của một đồng chí cán bộ, tôi đã đưa tặng Bảo tàng Cách mạng. Không hiểu bên bảo tàng có còn giữ được các bản viết tay này của Bác không?”…

Trước đó hơn một năm, họa sĩ Phan Kế An còn vinh dự được “làm phiền” Bác Hồ tới hai tuần lễ. Đó là vào khoảng cuối năm 1948, đồng chí Trường Chinh giao nhiệm vụ cho ông sang vẽ ký họa về Bác Hồ. Khi đó ông vừa sung sướng vì được gặp gỡ, được vẽ con người mà mình luôn ngưỡng mộ, lại vừa căng thẳng bởi trọng trách quá lớn. Ông băn khoăn liệu khi làm việc với một người quan trọng như vậy thì mình có bị bó buộc không? Liệu có được thỏa sức sáng tạo nghệ thuật không? Liệu nét vẽ của mình đã đủ chín để vẽ chân dung về Bác Hồ? Vân vân và vân vân… Song, mọi lo lắng đã được giải tỏa khi họa sĩ trẻ Phan Kế An được Bác đón tiếp ngay khi vừa đến, được Bác bắt tay, thăm hỏi sức khỏe và thậm chí là được ăn cơm cùng Bác. Họa sĩ Phan Kế An nhớ lại: “Lúc đó đang ở độ tuổi sung sức, được ăn cơm với Bác, tôi chưa biết giữ ý tứ. Mỗi bữa, tôi ăn liền một mạch 4 bát, rượu thì mỗi lần đưa chén lên là cạn. Một vài bữa sau, tôi mới nhận ra sự vô ý của mình, liền quyết tâm sửa chữa. Hôm đó, thấy chén rượu của Bác đã vơi, tôi vội cầm lấy nậm rượu định rót thêm. Bác che tay lên miệng chén và nói: “Uống nhiều thì có hại cho sức khỏe!”. Về sau, Bác không hề nói chuyện về tác hại của rượu, song tôi cũng không bao giờ dám uống đến chén thứ 2…

Về chuyện vẽ chân dung Bác Hồ, họa sĩ cũng được tự do thoải mái, vì ngay hôm đầu tiên Bác đã căn dặn: “An cứ làm việc của An, tự nhiên mà vẽ nhé!”. Bác bận nhiều công việc, họa sĩ tranh thủ vẽ Bác trong mọi tư thế, mọi địa điểm… Nhiều lúc họa sĩ cũng được Bác mời thuốc lá. Lúc đó, phần thì đang dở tay, phần thì đang mải làm việc, họa sĩ chỉ “xin” Bác điếu thuốc rồi bỏ vào túi áo ngực. Lúc đầu chỉ là để dành lát nữa mới hút, về sau họa sĩ nảy ra ý định “tích cóp” để dành cho anh em trong cơ quan không có dịp may mắn được như mình. Nào ngờ hành vi “láu cá” ấy không qua được mắt Bác. Đến hôm vẽ cuối cùng, Bác vờ như vô tình hỏi: “An tích trữ được bao nhiêu điếu thuốc rồi?”. Chẳng còn cách nào khác, ông đành thú nhận toàn bộ “âm mưu” với Bác. Nghe xong, Bác hỏi tiếp: “Ở đó có bao nhiêu anh em?”. “Dạ, có 30 người ạ!”. Bác mở hộp thuốc đếm ra 17 điếu trao cho họa sĩ, vì trước đó ông đã tích cóp được 13 điếu, để đủ chia quà cho anh em trong tòa soạn… Đợt công tác đó, họa sĩ Phan Kế An đã thực hiện được hơn 20 bức tranh về Bác. Bác bảo họa sĩ treo tất cả lên vách liếp nhà tập thể cơ quan để anh em cùng xem và góp ý. Cuối cùng Bác chọn bức “Bác Hồ ở lán Khuổi Tạt” vẽ ngày 27-11-1948, vì theo Bác, bức vẽ tự nhiên và có hồn. Báo Sự Thật số tháng 12 năm 1948 đã đăng bức họa ấy và được in với số lượng lớn, đủ để phát hành khắp các chiến khu và cả những vùng tạm chiếm, đáp ứng lòng mong mỏi của cán bộ, chiến sĩ cả nước.

Họa sĩ Phan Kế An cho biết: Cuối năm 2008, nhân dịp bức tranh “Bác Hồ ở lán Khuổi Tạt” ra đời tròn 60 năm, ông đã mang tặng Bảo tàng Hồ Chí Minh bản khắc gỗ bức tranh cùng nhiều bức tranh khác ông vẽ về Bác Hồ kính yêu!

LƯƠNG NGỌC HÀ
qdnd.vn

Bác Hồ nghe thơ “Đêm nay Bác không ngủ”

Ông Vũ Kỳ, thư ký và là người có nhiều thời gian gần gũi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kể lại với nhà thơ Minh Huệ (1927 – 2003) – tác giả bài thơ “Đêm nay Bác không ngủ” mẩu chuyện thú vị sau đây:

Bài thơ “Đêm nay Bác không ngủ” vừa ra đời (năm 1951) đã được phổ biến rộng rãi qua báo đài. Các tầng lớp nhân dân, cán bộ, chiến sĩ yêu thích đến thuộc lòng và truyền tụng bài thơ như một câu chuyện kháng chiến thấm thía và có thật.

Hôm ấy, trong Phủ Chủ tịch, vào khoảng 7h tối, Thư ký lên nhà sàn xin gặp Bác. Theo thói quen, ông Vũ Kỳ thận trọng bỏ đôi guốc mộc lại, bước nhẹ lên thang gác để khỏi làm ảnh hưởng đến Người. Khi ông bước đến cửa cũng là lúc chiếc đài bán dẫn trên bàn làm việc của Bác phát đi bài thơ  “Đêm nay Bác không ngủ”. Ông Vũ Kỳ đứng lặng, muốn theo dõi thái độ, cử chỉ của Bác lúc này ra sao? Là một người khiêm tốn, tế nhị nên rất hiếm khi Bác Hồ nhận xét cụ thể những tác phẩm viết về mình…Nhưng, biết đâu lần này sẽ có điều gì khác lạ chăng?

Bác chăm chú nghe, thỉnh thoảng lại nở một nụ cười. Có cảm giác, Người đang cảm thông, thấu hiểu và chia sẻ với hiện thực kháng chiến vô cùng ác liệt, sống động phản ánh một phần qua bài thơ mà Bác cũng là một nhân vật văn học? Cũng có thể Bác đang cảm thông, thấu hiểu và chia sẻ phần nào với tấm lòng thành kính và ý tưởng nghệ thuật của một nhà thơ đi theo kháng chiến…

Lời ngâm thơ vừa dứt, làm như không hay biết gì, ông Vũ Kỳ gõ cửa xin Bác cho vào gặp. Lúc ấy, chỉ thấy nét mặt Người vui vui… còn tuyệt nhiên Bác không nói lời nào về bài thơ “Đêm nay Bác không ngủ” vừa được ngâm trên đài phát thanh.

Nhà thơ Minh Huệ còn được ông Vũ Kỳ “tiết lộ” thêm chi tiết này: Một lần khác sau đó, khi chiếc đài bán dẫn trên bàn làm việc vừa giới thiệu tên bài thơ “Đêm nay Bác không ngủ”, Bác Hồ liền vặn cho tiếng đài thật nhỏ lại. Người tỏ ý không muốn nghe nhiều lần một tác phẩm ca ngợi mình, cho dù tác phẩm ấy chân thật đi nữa? Còn với nhà thơ Minh Huệ – qua câu chuyện ông Vũ Kỳ kể thì chỉ với nụ cười và nét mặt vui vui của Bác khi nghe bài thơ, cũng đủ là phần thưởng vô giá cho đời cầm bút của ông – một nhà thơ trọn đời theo cách mạng!

Nguyễn Văn Hùng
Theo http://vnca.cand.com.vn

bqllang.gov.vn

“Bác Hồ” – Tại sao lại gọi thế?

“Bác Hồ”, định ngữ này được dùng ở khắp nơi. Thời gian cùng những thử thách làm Cụ thêm uy nghiêm. Cùng với năm tháng, khuôn mặt thân thuộc, có thêm một hình ảnh thành kính. Năm 1958 đó là hình ảnh một chiến sĩ gần 60 tuổi mà người ta treo ở khắp nơi, giữa các tấm ảnh lãnh tụ Liên Xô và Trung Quốc.

BacHoChủ tịch Hồ Chí Minh

Từ nửa thế kỷ nay, Cụ đã đào luyện và hướng dẫn cách mạng Việt Nam giành độc lập và thống nhất. Trên góc độ Việt Nam, đó là một Lênin đã sống lâu để chiến thắng chủ nghĩa quốc xã, một Găngđi đã rời bỏ guồng kéo sợi để xây dựng nhà máy và lãnh đạo phong trào phản kháng. Danh tiếng quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh, uy tín của Cụ, sự kính trọng của mọi người đối với Cụ trong các giới cộng sản ngoài nước và trong phần lớn các nước “Không liên kết”, đọc thấy rõ ràng. Một người như Nêru đã coi Cụ là bạn. Khi Cụ tham gia Hội nghị các Đảng Cộng sản ở Praha năm 1959, Cụ đã được bao quanh bởi một sự cảm phục khiến các chiến sĩ nước ngoài xúc động.

Cụ Hồ, trước hết là một phong cách và một kiểu quan hệ với nhân dân. Lời ăn tiếng nói mà Cụ đã dùng để nói chuyện với thiếu nhi và chiến sĩ; với cán bộ và phụ lão, người ta đã trích dẫn đủ. Đây là một trong những chìa khóa để hiểu được nhân vật, văn chương kỳ diệu, rõ ràng. Người ta không thấy giọng văn này ở cả Giôdép Xtalin lẫn Uynxtơn Sớcsin hoặc Sáclơ Đờ Gôn. Còn Cụ Hồ thì có thể vươn tới giọng nói của lịch sử. Từ đó có bản chất khác thường của các mối quan hệ giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam. Những mối quan hệ có thể tóm tắt trong hai chữ mà báo chí và bộ máy tuyên truyền của Việt Nam hằng gắn liền với cái tên ông Hồ: “Cụ” và “Bác”. “Bác Hồ” tại sao gọi thế? Người ta có thể đi tìm sự giải thích trong sự việc là, đối với các bạn chiến đấu trẻ hơn Cụ chừng 20 tuổi thì xưng hô như vậy là thuận hơn cả. Gọi bằng “Ông” thì quá xa. Còn chữ “Anh” chỉ dùng cho những người bằng vai phải lứa. Chữ “đồng chí” là dùng với đảng viên. Nhưng cũng phải đặt chữ “Bác” vào trong tập tục xã hội Việt Nam xuất thân từ gốc gác Đạo Khổng của nó.

“Bác” là tiếng để gọi người anh của cha, người trong gia đình có tư cách và uy tín cao hơn cha. Khái niệm về tuổi tác là khái niệm rất quan trọng trong xã hội Việt Nam cũ. Người già đã và vẫn là nhân vật then chốt của một tổ chức xã hội lấy ruộng đất, làng mạc và gia đình làm cơ sở. Gia đình này được sắp xếp thứ bậc xung quanh bàn thờ tổ tiên. Đây là một di sản tinh thần cực kỳ sinh động mà cách mạng không hề đụng chạm tới.

Việc trìu mến gọi bằng “Bác Hồ” là có tính chất gia đình, biểu thị lòng yêu quý, và càng biểu thị lòng kính trọng. Thứ bậc, họ hàng có thể không hoàn toàn còn hiệu lực như trước đây nhưng nó vẫn là sự tham chiếu điển hình.

(Trích từ Hồi ký “Người là Hồ Chí Minh”, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, 1995.)

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

20 năm kể chuyện Bác Hồ

truyen1Ông Nguyễn Ngọc Truyện

21 năm qua, ông Nguyễn Ngọc Truyện (thường gọi là Năm Truyện) ở 42 Bùi Văn Danh, phường Mỹ Xuyên, TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang không ngừng tìm tòi, ghi chép và kể lại hàng trăm câu chuyện về cuộc sống bình dị, thanh tao của Bác Hồ.

“Hiểu về Bác một mình thì uổng quá”

Ông Năm Truyện sinh năm 1925. Tháng 10 năm 1946, ông tham gia kháng chiến, theo đoàn quân tập kết ra Bắc vào năm 1954. Sau đó, ông được cử đi học Trường Đại học Kinh tế Kế hoạch Hà Nội. Tốt nghiệp ra trường với tấm Bằng Cử nhân kinh tế, ông tham gia giảng dạy tại trường Thương nghiệp miền Bắc.

Ông Nguyễn Ngọc Truyện may mắn được gặp Bác hai lần, hình ảnh về Bác đã in đậm trong tâm trí của người một thời là lính Cụ Hồ.

Ông kể về lần đầu gặp Bác: “Lúc đó trường Thương nghiệp mượn nhà lá của Trường Công an (C500) để dạy học. Hôm đó, đang giảng bài cho sinh viên thì hay tin Bác Hồ đến thăm, tôi vội vàng chạy theo đám người đi xem mặt Bác. Nhưng mà thật buồn khi gần ngay trước mắt đó mà không thể hỏi thăm sức khỏe, không được trò chuyện cùng Người”.

Lần thứ hai, ông Năm Truyện được gặp Bác khi Người đến thăm binh chủng bộ binh ở Xuân Mai, Hà Tây. Từ lòng kính yêu đối với Bác, từ sự khâm phục ý chí, cuộc đời hoạt động Cách mạng của Người đã thúc đẩy ông Năm Truyện sưu tầm, lưu giữ những tài liệu quý, để một ngày nào đó được viết về Bác.

Năm 1975, ông Năm Truyện trở về Long Xuyên và làm Phó Hiệu trưởng Trường Trung cấp Thương nghiệp Miền Nam.

Bận bịu với công việc của một nhà giáo, mong ước viết sách về Bác đành gác lại. Tuy nhiên, ông vẫn tích cực sưu tầm tư liệu thông qua việc đặt báo, tìm sách.

Năm 1998, chị Nguyễn Thị Tuyết Nga, con gái ông có dịp đi công tác ra Hà Nội, lúc về được ghé thăm quê Bác. Biết ba mình đam mê sưu tập tư liệu về Cụ Hồ, chị đã tìm những cuốn sách hay nhất viết về Người của Nhà xuất bản Nghệ An đem về tặng ba.

Với một lượng tư liệu khổng lồ, phong phú, lên tới vài nghìn đầu báo, đầu sách, ông Năm say sưa đọc, nghiền ngẫm mà không biết chán. Với ông, những câu chuyện về cuộc đời Bác Hồ vô cùng bình thường, giản dị nhưng lại chứa đựng nhiều điều cao quý về đạo lý làm người. Lúc nghỉ hưu, ông đã có thời gian thực hiện mơ ước là viết cuốn sách, tập hợp những mẩu chuyện về cuộc đời của Bác.

Ông Năm chia sẻ: “Tôi đọc tư liệu về Bác Hồ, tôi hiểu về Bác một mình thôi thì uổng quá! Cho nên tôi “tập viết” thành sách để có thể giáo dục cho mình, đồng thời để giáo dục cho nhiều người khác, nhất là thế hệ thanh niên, làm cho cuộc đời này tốt hơn”.

“Ra đi Bác dặn còn non nước…”

83 tuổi đời, 61 năm tuổi Đảng, ông Năm Truyện vẫn còn miệt mài với sách bút, với tài liệu và những câu chuyện về Bác Hồ

Từ năm 1988, ông Năm Truyện đã đặt bảy đầu báo ngày, 15 đầu báo xuân và lang thang khắp nơi để tìm những cuốn sách hay về Bác. Nghe tin ở đâu có sách hay và mới là ông tìm đến xem bằng được.

Từ việc thai nghén đó, cộng thêm việc đảm nhiệm vai trò làm công tác tuyên giáo ở Đảng ủy Phú Xuyên và phụ trách tờ tin (phát hành hàng tháng), ông đã nghĩ ra cách giới thiệu về cuộc đời Hồ Chủ tịch qua những mẩu chuyện in trên tờ tin.

Cứ mỗi số, ông lại tìm tòi, chắt lọc và đưa ra một câu chuyện trên đó. Tổng cộng, có 70 truyện đã được đăng tải. Mẩu chuyện đầu tiên là “Nguyễn Tất Thành trên tàu La tu sơ Tờ rê vin”, sau này đổi tên thành “Từ thành phố này Người đã ra đi”.

Thế rồi với quá trình miệt mài làm việc, đến quý II năm 1999, cuốn sách đầu tay của ông Năm Truyện đã được hoàn thành gồm 100 mẩu chuyện.

Cuốn sách mang tên “Tháp Mười đẹp nhất bông sen”, năm 2000, khi Nhà xuất bản Thanh Niên phát hành cuốn sách, đã đổi tên thành “Ra đi Bác dặn còn non nước”. Cuốn sách ra đời nhân kỉ niệm 110 năm Ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh 19/05/1890 – 19/05/2000.

Trên cơ sở cuốn “Ra đi Bác dặn còn non nước”, ông Năm Truyện đã bổ sung thêm 150 mẩu chuyện mới về Bác và bốn tiểu sử của những người thân của Bác thành cuốn “Hồ Chí Minh – Cứu tinh dân tộc Việt”.

Quyển sách này đươc biên soạn trong thời gian hai năm (2000-2002). Đây là cuốn sách mà ông trân trọng nhất bởi nó được bổ sung vào tủ sách danh nhân Hồ Chí Minh nhân kỉ niệm 118 năm Ngày sinh của Người (19/05/1890 -19/05/2008).

Ngoài hai cuốn sách đã được phát hành nói trên, sau khi có cuộc vận động Học tập và làm việc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Nguyễn Ngọc Truyện còn viết thêm hai cuốn sách nữa. Đó là cuốn “Cánh sen vàng” viết từ 15/10/2006 đến 19/05/2007 có 120 mẩu chuyện, trong đó có 22 mẩu chuyện phục vụ đợt học tập: Sửa đổi lối làm việc, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, cần kiệm liêm chính, muốn gần dân thì đừng xa dân…

Nếu như các cuốn sách đã viết và xuất bản trước đó là sự chắt lọc những mẩu chuyện về cuộc đời Bác thì đến cuốn “Sức mạnh từ tấm lòng kính yêu Bác” lại đi ngược lại – khai thác khía cạnh lòng dân với Bác. Cuốn sách được viết từ 10/06/2007 – 09/11/2007) gồm 79 mẩu chuyện.

Mở đầu là câu chuyện “Ngôi mộ cánh sen” ở Đồng Tháp. Cả cuốn sách là 79 bông hoa tươi đẹp, chứa đựng tấm lòng của cả dân tộc với Bác Hồ kính yêu. Cuốn sách được NXB Thanh Niên phát hành vào Ngày Quốc khánh 02/09.

Có nhà báo viết rằng: “Nếu như cần khai thác, thì các tác phẩm của ông Năm Truyện hoàn toàn đủ chất liệu cho nhà thơ, nhà làm phim, nhà viết sử, nhà nghiên cứu…hoàn thành tác phẩm lớn về Bác”.

Trong căn nhà nhỏ trên đường Bùi Văn Danh, ảnh Bác Hồ được đặt ở vị trí cao nhất trên ban thờ tổ tiên. Ngoài ra, ảnh Hồ Chủ tịch còn được treo khắp nơi trong phòng khách. Hai tủ sách lớn sưu tập tư liệu về Bác Hồ luôn được che phủ cẩn thận để tránh bụi bám vào.

Ông Năm Truyện tâm sự: “Tôi hạnh phúc vì mình đã góp phần vào công giới thiệu cuộc đời bình thường, giản dị của Bác Hồ đến với người dân”.

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn