Thư viện

“Bác sống như trời đất của ta/ Yêu từng ngọn lúa mỗi nhành hoa”

Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào uỷ thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi.” (Trích Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 161-162.).

Đó là câu Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời các nhà báo nước ngoài, đầu năm 1946, ở thời điểm nước ta mới giành được độc lập, đang đứng trước muôn vàn khó khăn, thù trong, giặc ngoài, cùng những khó khăn chồng chất về kinh tế tài chính kiệt quệ… Gửi thông điệp này tới các nhà báo, chính là Hồ Chí Minh muốn tuyên bố với quốc dân đồng bào mục đích phấn đấu của cả đời Người là vì độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân, không màng tới danh lợi. Lời tuyên bố trên của Bác đã trở thành khát vọng của cả dân tộc Việt Nam và đã từng bước được thực hiện. Còn phần sau của lời tuyên bố, là ước nguyện của riêng Người, một mong muốn hết sức bình dị, tự nhiên, đời thường, nhưng đã tạo nên một nét văn hoá Hồ Chí Minh, chính là điều chúng tôi muốn nhắc đến trong bài viết này.

1.Trong hơn 60 năm hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cống hiến sức lực và trí tuệ để thực hiện mong muốn tột bậc cho Tổ quốc, nhân dân và nhân loại. Còn ước nguyện cho riêng mình chưa được thực hiện. Người không thể:

Thảnh thơi vui thú thanh nhàn,
Sớm khuya tiếng hạc tiếng đàn tiêu dao

(Trích Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđ d, t.11, tr.245)

Tuy nhiên, trong những điều kiện và hoàn cảnh cho phép, Người vẫn tìm và tạo được cho mình một không gian nho nhỏ để tận hưởng cuộc sống hài hòa với thiên nhiên, hưởng thụ những giá trị cuộc sống do thiên nhiên ban tặng. Đồng thời, vì sự phát triển chung của đất nước, Người cũng sớm đưa ra những chủ trương bảo vệ môi trường, giữ gìn tài nguyên thiên nhiên… Cả cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn có hai người Bạn Lớn, đó là Con người và Thiên nhiên. Yêu thương quý trọng con người, đồng thời rất yêu quý thiên nhiên. Đó cũng chính là cội nguồn của tình yêu Tổ quốc. Triết lý sống hài hòa với thiên nhiên, giản dị, yêu lao động của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một giá trị vĩnh hằng. Chúng ta có thể hiểu được điều này qua những di sản mà Người để lại trên hành trình tìm đường cứu nước, trong những năm kháng chiến và qua những câu chuyện kể về cuộc sống đời thường của Bác…

Trên hành trình đi tìm đường cứu nước, khi dừng chân dạy học ở trường Dục Thanh, Phan Thiết, anh thanh niên Nguyễn Tất Thành đã để lại nhiều dấu ấn ở Phan Thiết, trong đó có cây khế anh chăm sóc từ 100 năm trước, hiện nay vẫn tốt tươi. Khi hoạt động ở vùng Đông Bắc Thái Lan trong những năm 1928, 1929, tại các địa điểm có nhiều Việt kiều như Phì Chịt, Uđon Thani, Sacon Nakhon, bản Mạy, thuộc tỉnh Nakhon Phanom còn để lại nhiều dấu ấn của Nguyễn Ái Quốc. Tháng 1 năm 2004, Làng Hữu nghị Việt – Thái ở bản Mạy, trong đó trung tâm hoạt động là di tích Nhà Hợp tác, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng ở và làm việc đã được xây dựng lại. Tham quan địa điểm di tích này, chúng ta sẽ bắt gặp cây dừa, cây khế Bác trồng từ 80 năm về trước.

Trở về nước, hoạt động ở vùng biên giới Việt – Trung, hay ở chiến khu Việt Bắc, khi sống ở thành phố, hay ở vùng rừng núi, Bác vẫn duy trì một cuộc sống, sinh hoạt, làm việc gần gũi với thiên nhiên. Ở Côn Minh, sáng nào Người cũng đi bộ một vòng quanh thành phố. Ở Liễu Châu, mùa đông Người vẫn tắm sông. Ở vùng núi, Người thích đi bộ, tắm suối. Do yêu cầu của công việc kháng chiến, một ngày Người đi bộ 40, 50 cây số là thường, và có thể đi như thế ngày nọ qua ngày kia. Những năm tháng kháng chiến chống Pháp, ở rừng, Bác chủ trương tránh ăn no, không ngủ trưa và hoạt động thân thể nhiều. Ngoài giờ làm việc, buổi sáng thể dục, buổi chiều làm vườn, lúc cần đi vác củi cùng đồng bào.

Ở chiến khu Việt Bắc, Bác chỉ thị cho các đồng chí giúp việc chọn địa điểm làm nhà cho Người phải đảm bảo các yếu tố sau:

Trên có núi
Dưới có sông
Có đất ta trồng
Có bãi ta vui.
Tiện đường sang tổng bộ
Thuận lối tới Trung ương
Nhà thoáng, ráo, kín mái
Gần dân, không gần đường.”

Bác còn nói làm lán chỉ được dựa vào cây, không được chặt cây. Đoàn công tác của Bác đi đến đâu thì lại dựng lán ở, cuốc đất trồng rau, trồng bầu, bí. Nhiều khi rau chưa kịp thu hoạch thì đã phải di chuyển. Những lúc rảnh rỗi, Người cùng các chiến sĩ ra suối câu cá, bắt cua, bắt ốc để cải thiện bữa ăn vốn chỉ có rau rừng, nổi tiếng là rau tàu bay, tuy “ăn nhẹ cả người, nhưng lại ngửi thấy mùi xăng”, như Bác vẫn đùa. Dọc đường kháng chiến, Người qua nhiều miền quê của đất nước, từ đồng bằng, đến vùng núi cao, rừng rậm, suối sâu… càng đi càng thấy đất nước tươi đẹp. Những lúc dừng chân nghỉ ở dọc đường, gối đầu trên ba lô, Người lại mơ về một ngày không xa, đất nước sạch bóng quân xâm lược, để toàn dân cùng chung tay xây dựng đất nước đẹp giàu.

Trở về Thủ đô Hà Nội, ở khu Phủ Chủ tịch, Người vẫn sống như ở chiến khu, ở trong nhà sàn quen thuộc, chứ không ở trong ngôi nhà Phủ Chủ tịch lộng lẫy cao sang. Cõi Bác xưa giờ đây là nơi tụ họp của hàng trăm loài cây, có đường xoài hoa trắng nắng đu đưa, hồ nước lặng sôi tăm cá, bưởi cam, thơm cạnh cây dừa nghiêng nghiêng soi bóng nước; có hàng bụt mọc chân trong nước, cạnh rễ đa kiên trì. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: Cái nhà sàn của Bác vẻn vẹn chỉ có vài ba phòng, và trong lúc tâm hồn của Bác lộng gió thời đại, thì cái nhà nho nhỏ đó cũng luôn lộng gió và ánh sáng, phảng phất hương thơm của hoa vườn. Một đời sống như vậy thanh bạch và tao nhã biết bao.

Yêu thiên nhiên là tình cảm vốn có của Bác. Nó không chỉ biểu lộ hàng ngày trong cuộc sống, trong lối sống, mà khi có dịp đã biểu lộ thành thơ. Nhạy cảm và tinh tế, Bác đã để lại cho chúng ta nhiều bài thơ tức cảnh bằng chữ Hán thấm đẫm tình yêu, tri kỷ với thiên nhiên, những bài thơ không chỉ có hình ảnh “trăng”, “sông, suối”, “chim rừng”, “hoa núi”, “nghiên mực”, mà có cả những sản vật của thiên nhiên “cháo bẹ”, “rau măng”, “thịt rừng quay”, “ngô nếp nướng”. Tất cả phản ánh hiện thực cuộc sống ở chiến khu Việt Bắc.

Khi mới về nước, Bác ở Pác Bó, suối Lênin, nơi đầu nguồn cách mạng, chỉ với mấy câu thơ, đã miêu tả chân thực hoạt động cách mạng của Người, tràn đầy lạc quan, giữa núi rừng thiên nhiên. Bác đã vẽ nên cho chúng ta bức tranh thiên nhiên phong cảnh núi rừng miền Bắc: non xanh, nước biếc; cảnh vật yên bình thanh cao. Và đặc biệt thiên nhiên trong thơ Bác đã giao hoà với nhịp sống của người chiến sỹ cách mạng. Cháo bẹ, rau măng là những sản vật từ thiên nhiên đã cùng Bác sống trong những ngày gian khổ nhất:

Sáng ra bờ suối tối vào hang
Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng.
Bàn đá chông trên dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang.

Tập thơ “Nhật ký trong tù”, được Bác sáng tác trong điều kiện lao tù khắc nghiệt, vậy mà có nhiều bài thơ vẫn tràn ngập hình ảnh của thiên nhiên, Người đã lấy cái hiền dịu của thiên nhiên mà đối kháng với ác nghiệt của nhà tù. Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai nhận xét: “Trong Nhật ký trong tù thiên nhiên chiếm một địa vị danh dự”. Thiên nhiên đẹp trong thơ Bác còn tượng trưng cho mơ ước, niềm vui, tương lai tươi sáng, khát vọng tự do, có thể dẫn ra đây một số bài thơ tiêu biểu, mà chắc rằng có rất nhiều người đã thuộc, từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường:

Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ.
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”.
“Mặc dù bị trói chân tay
Chim ca rộn núi hương bay ngát rừng
Vui say ai cấm ta đừng
Đường xa âu cũng bớt chừng quạnh hiu

Những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, cuộc sống khắc khổ khó khăn. Bác phải di chuyển chỗ ở liên tục. Lo kháng chiến, đánh giặc, nhưng trước cảnh đẹp của thiên nhiên, núi rừng Việt Bắc, tâm hồn thơ của Người lại rung động và những tuyệt tác thơ chữ Hán ra đời. Bài Lên núi, Bác làm ở Lũng Dẻ, Lam Sơn:

Hai mươi tư tháng sáu,
Lên ngọn núi này chơi
Ngẩng đầu mặt trời đỏ,
Bên suối một nhành mai.
Bức tranh thiên nhiên cảnh vật Việt Bắc:
“Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay
Vượn hót chim kêu suốt cả ngày
Khách đến thì mời ngô nếp nướng
Săn về thường chén thịt rừng quay
Non xanh nước biếc tha hồ dạo
Rượu ngọt, chè tươi mặc sức say
Kháng chiến thành công ta trở lại
Trăng xưa, hạc cũ với xuân này”
Hay như bài Nguyên tiêu Bác làm năm 1948:
“Rằm xuân lồng lộng trăng soi
Sông xuân nước lẫn mầu trời thêm xuân
Giữa dòng bàn bạc việc quân
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.”

Bài Vô đề, Bác viết năm 1949, dường như công việc kháng chiến đã sang một giai đoạn mới, Bác có phần yên tâm hơn trước đà thắng lợi của quân dân ta, nên mới có hình ảnh đẹp hết sức dung dị:

“Đường non, khách tới hoa đầy
Rừng sâu, quân đến tung bay chim ngàn
Việc quân, việc nước đã bàn
Xách bương dắt trẻ ra vườn tưới rau”

Họa sĩ Diệp Minh Châu, người được ở cạnh để vẽ Bác trong thời gian ở Việt Bắc, nhận xét: Bác là một nhà nghệ thuật lớn, có một tâm hồn lớn về nghệ thuật mang đầy tính chất của nhà thơ Á Đông… trong cuộc sống Bác rất chú ý đến cái đẹp. Trong khi tìm chỗ làm nhà, ngoài việc đảm bảo an toàn, Bác còn chú ý tới vẻ đẹp thiên nhiên. Trên đường đi công tác, nếu chỗ nào có cảnh đẹp Bác thường dừng lại giây lát để thưởng thức. Có đêm hai Bác cháu đang nghe đài. Chợt Bác kéo hoạ sĩ trỏ ra khung cửa sổ. Một mảnh trăng lưỡi liềm vừa nhô ra khỏi núi, toả sắc huyền ảo xuống cánh rừng xa xa. Bác nói: của chú đấy. Cái gì đẹp và thơ mộng thì Bác cũng cho là của nghệ sĩ. Nhưng hoạ sĩ Diệp Minh Châu thì cho rằng thật ra là của Bác. Bác đã tạo ra một sắc thái mới cho trời đất, núi sông, cây cỏ và cả dân tộc.

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người có nhiều thời gian được sống và làm việc cạnh Bác thì lại rất hiểu về cuộc sống và tâm hồn nghệ sĩ của Người, ông liên tưởng đến hai câu thơ của Nguyễn Công Trứ: “Gió trăng chứa một thuyền đầy. Của kho vô tận biết ngay nào vơi” và nhận xét: “Hai câu thơ từ hàng trăm năm trước rất phù hợp với khung cảnh sống và lối sống của Hồ Chí Minh, thể hiện nguyện vọng và xu hướng của cuộc sống văn minh chân chính” (Trích Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh – Tinh hoa khí phách của dân tộc, nxb. Chính trị quốc gia, 2009, tr. 210)

Trong xã hội ngày nay, cuộc sống này dường như khác biệt. Nhịp sống đô thị, với những thành phố khổng lồ, nhà cao chọc trời, đầy tiện nghi nhân tạo, nhưng tiềm ẩn những nỗi bất an cho con người như môi trường ô nhiễm, phá hoại thiên nhiên, an toàn giao thông không đảm bảo. Xã hội “văn minh” như vậy lại tước đoạt đi của con người sự yên bình, thanh thản. Vùng rừng núi trùng trùng điệp điệp, đã bao năm che chở bộ đội, vây hãm quân thù, giờ đây đang bị chặt phá bừa bãi, để xảy ra bao hệ lụy tiếp theo như lũ lụt, sạt lở. Tất cả đều do con người không biết trân trọng, yêu quý thiên nhiên, coi thiên nhiên là bạn… Chúng ta hãy trở về với những lời căn dặn của Bác. Học tập tấm gương yêu thiên nhiên của Bác.

2. “Mây gió trăng hoa tuyết núi sông” là thiên tạo, không dành cho riêng ai. Ai có tâm hồn tha hồ mà rung động, tận hưởng. Bác của chúng ta không muốn riêng mình hưởng lộc, mà muốn tạo ra một thiên nhiên giàu đẹp cho cả nhân dân Việt Nam được chung hưởng. Cả cuộc đời Bác là một cuộc hành trình không biết mỏi vì độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Từ ngôi nhà tranh ở Kim Liên, Nam Đàn ra đi hơn 30 năm, Bác mới trở về Tổ quốc, thêm 15 năm nữa mới về đến Phủ Chủ tịch, Hà Nội. Con đường Người đã đi xuyên qua 3 đại dương, 4 châu lục, qua hơn 30 quốc gia, gặp gỡ bao nhiêu người, là tiếp xúc bấy nhiêu vùng đất mới. Về nước lãnh đạo cách mạng, khắp nẻo đường kháng chiến in dấu chân Người. Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, làm việc và sống ở Thủ đô Hà Nội. Cuộc sống của Bác rất mộc mạc đơn sơ. Bữa ăn của Người cũng giản dị, từ những sản vật thiên nhiên như dưa, cà, mắm, ớt. Và cũng với cơm nắm, muối vừng, cùng đoàn tuỳ tùng gọn nhẹ, Người đã có gần 700 cuộc đi thăm các địa phương, nhà máy, công trường… Trong những cuộc đi ấy, được gặp gỡ tiếp xúc với các tầng lớp nhân dân, gần gũi với thiên nhiên, dường như tình yêu đất nước, con người trong Bác lại được nhân lên gấp bội. Người luôn nghĩ cho dân, cho nước. Thăm mỗi địa phương, Bác rất quan tâm đến đời sống của nhân dân. Từ thực tế của mỗi địa phương, Bác chỉ đạo cho các đồng chí lãnh đạo chú ý đến phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản. Người nói:

“Nước ta ở về xứ nóng, khí hậu tốt,
Rừng vàng biển bạc, đất phì nhiêu.
Nhân dân dũng cảm và cần kiệm,
Các nước anh em giúp đỡ nhiều”

(Trích Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.543)

Người nhắc các địa phường cần có kế hoạch khai thác, sử dụng thiên nhiên để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống cho nhân dân. Thăm nước bạn, bắt gặp những cây xanh, bốn mùa không rụng lá, Bác lại nhớ tiếng chổi tre của người công nhân quét rác đêm khuya. Người đã nghĩ nhắc xin giống cây này về trồng ở Việt Nam để có mát cho mọi người, và để người lao công đỡ phải quét rác. Thương người nông dân vất vả sớm hôm, một nắng hai sương mà vẫn đói khổ không đủ ăn, trong những lần đi thăm Trung Quốc, Người đã nghiên cứu nền nông nghiệp của Trung Quốc và viết nhiều bài báo về những kinh nghiệm cấy và chăm sóc giống lúa nước của nông dân Trung Quốc để bà con nông dân ta học tập.

Một lão nông ở hợp tác xã Đại Xuân, xã Ứng Hòe, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương là một trong 27 người được Bác chọn cử đi học làm lúa xuân với nông dân Trung Quốc. Đại Xuân cũng là nơi áp dụng cấy lúa xuân đầu tiên ở miền Bắc nước ta, mở ra hướng mới cho sản xuất nông nghiệp, thay đổi cơ cấu thời vụ, tránh được mùa mưa bão. Từ kết quả cấy lúa xuân ở Đại Xuân đã phát triển sang các địa phương khác ở miền Bắc. Đời sống nông dân được nâng cao. ở Đại Xuân bà con vẫn gọi vụ lúa xuân là vụ lúa Bác Hồ.

Ngắm nhìn những tấm ảnh Bác Hồ đạp guồng chống úng, cầm gầu tát nước chống hạn với dân, lội ruộng cấy lúa, thăm bà con nông dân trong mùa gặt, tay Người nâng bông lúa xem từng hạt mẩy, hạt lép, lúc này Bác như một lão nông thực sự rất gần gũi với cuộc sống đời thường của bà con nông dân.

Những năm cuối đời, tại ngôi nhà sàn đơn sơ, Bác đã viết những dòng Di chúc gửi lại cho toàn Đảng, toàn dân. Và những dòng Bác viết cho riêng mình, lại làm cho chúng ta xúc động vô cùng. Người đề nghị thi hài của mình được hoả táng, tro đem chôn trên đồi, rồi xây nhà trồng cây để nhân dân đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi. Dẫu không còn ở trên đời, Người vẫn luôn luôn nghĩ đến nhân dân, thuận lợi cho người sống, đảm bảo vệ sinh môi trường, và để khi trở về cát bụi, Người vẫn được sống cùng thiên nhiên.

“Bác sống như trời đất của ta, yêu từng ngọn lúa mỗi nhành hoa”. Không chỉ yêu thương, mà tình yêu đã được thể hiện bằng hành động, ngay từ rất sớm Bác đã có những chủ trương về bảo vệ môi trường. Sinh thời, dù bận trăm công nghìn việc Bác vẫn dành sự quan tâm chăm lo cho sự nghiệp “trồng cây” và “trồng người”. Đó là tầm nhìn của một vĩ nhân, với tầm nhìn xa trông rộng về lợi ích của việc trồng cây, ngoài việc lấy gỗ, ăn quả, cây còn có tác dụng chắn gió, chống xói mòn, bảo vệ cuộc sống. Mặt khác đây là một công việc từ cụ già đến các cháu thiếu nhi đều có thể tham gia, từ đó mà Người phát động thành phong trào lớn trong nhân dân. Bên cạnh những bài viết về Tết trồng cây giúp mọi người nhận biết về việc làm “tốn kém ít mà lợi ích nhiều” cả về kinh tế lẫn quốc phòng; Người còn nêu tấm gương mẫu mực cho phong trào trồng cây mà Người khởi xướng từ năm 1960.

Trồng cây làm kỷ niệm là một nét đẹp văn hoá, một việc làm lưu lại kỷ niệm lâu bền. Đi thăm các địa phương, Bác đã trồng cây kỷ niệm. Thăm các nước bạn Bác cũng trồng cây. Những cây xanh Bác Hồ trồng ở Việt Nam, hay trên đất bạn sẽ trường tồn với thời gian và còn mãi những kỷ niệm để nhớ về Người – một nét danh nhân của thời đại.

3. Tổ tiên, cha ông ta đã tốn biết bao xương máu để khai khẩn, giữ gìn bờ cõi. Chúng ta được thừa hưởng một đất nước Việt Nam tươi đẹp, liền một dải, từ mục Nam quan đến mũi Cà Mau. Ngày nay, chúng ta có điều kiện thuận lợi: thiên thời, địa lợi và nhân hoà để xây dựng một cuộc sống ấm no hạnh phúc cho nhân dân ta. Tuy nhiên, chúng ta phải biết khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên, thiên nhiên môi trường để xây dựng đất nước ta to đẹp hơn, đàng hoàng hơn, nhưng không phá vỡ cảnh quan thiên nhiên, xâm hại môi trường sống. Vấn đề sử dụng và khai thác thiên nhiên một cách hợp lý không chỉ là mối bận tâm của các lãnh đạo mà những người dân bình thường cũng cần quan tâm. Tốc độ đô thị hoá như hôm nay lại càng ngăn trở con người được tiếp cận và gần gũi với thiên nhiên. Do vậy phải sử dụng tài nguyên thiên nhiên như thế nào để nguồn tài nguyên không bị cạn kiệt mà ngày càng giàu và đa dạng hơn.

Giáo sư Trần Văn Giàu viết: “Con người là tinh anh của thiên nhiên, thiên nhiên như cha mẹ của con người. Nhưng không phải mỗi ai đều biết yêu thiên nhiên, đều biết gắn thiên nhiên với cuộc sống chiến đấu của mình. Biết yêu thiên nhiên, biết gắn thiên nhiên với cuộc sống chiến đấu là một biểu hiện của sự tiến bộ văn hoá, của trạng thái quân bình trong tâm hồn” (Trích Giáo sư nhà giáo nhân dân Trần Văn Giàu, Nxb. Giáo dục 1996, tr.458). Cuộc sống, chiến đấu của Bác luôn gắn bó với thiên nhiên. Người luôn coi thiên nhiên là bạn, luôn quan tâm, chăm lo và đề ra chiến lược bảo vệ người bạn thiên nhiên. Thế kỷ XXI, con người càng có xu hướng tiến gần hơn đến thiên nhiên, mong muốn sống chung với thiên nhiên với một xã hội ngày càng giàu mạnh và công bằng hơn, xanh sạch đẹp hơn, văn minh hơn. Càng thấy tầm nhìn xuyên thế kỷ của một vĩ nhân.

Một nét văn hóa Hồ Chí Minh – văn hóa ứng xử với thiên nhiên, cảnh vật, cỏ cây quanh ta mà chúng tôi phác hoạ vài nét trên đây, chính là một trong những giá trị văn hoá mà chúng ta cần khai thác và phát huy.

Theo Phạm Thị Lai, Bảo tàng Hồ Chí Minh
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Noi gương nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh

Sinh thời, Bác Hồ thường căn dặn các thầy giáo, cô giáo phải có ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức và trách nhiệm phục vụ nhân dân trong các hoạt động giáo dục, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực trong giáo dục.

Trong cuộc đời của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những thời điểm trực tiếp là nhà giáo. Từ tháng 9-1910 đến trước tháng 2-1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành dạy học ở Trường Dục Thanh, Phan Thiết. Sau khi đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, trong những năm 1925 – 1927, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc), trực tiếp mở các lớp huấn luyện chính trị cho thanh niên, thiếu niên Việt Nam yêu nước; trực tiếp lãnh đạo và là giảng viên chính của các khóa học.

Thông qua các bài giảng và thảo luận, nhà giáo Nguyễn Ái Quốc phân tích, so sánh làm cho học viên nhận thức sâu sắc tính chất triệt để, đến nơi đến chốn của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga so với các cuộc cách mạng tư sản Anh, Pháp, Mỹ, từ đó lựa chọn con đường của cách mạng Việt Nam: Ðộc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Năm 1941, sau 30 năm bôn ba ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Người luôn chăm lo việc đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cho cách mạng; tổ chức và chỉ đạo từng bước xây dựng nền giáo dục cách mạng, nhằm thực hiện công cuộc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ.

Quá trình từ nhà giáo yêu nước Nguyễn Tất Thành, đến nhà giáo Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, khi đã là người cộng sản, cũng chính là quá trình nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh phấn đấu không mệt mỏi để tự học, khổ luyện trong mọi khó khăn, gian khổ để rèn luyện đạo đức, ý chí cách mạng và qua đó sự sáng tạo của Người bộc lộ sáng ngời trên mọi lĩnh vực công tác.
Nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh tấm gương sáng ngời về đạo đức, tinh thần tự học và sự sáng tạo để mọi người học tập và noi theo.

Ðạo đức là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu và xuyên suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng. Ðặt đạo đức ở vị trí là gốc, là nguồn, là nền tảng của người cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên tự tu dưỡng đạo đức về mọi mặt để làm gương giáo dục, rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên, công nhân, nông dân, trí thức, bộ đội, công an, thanh niên, thiếu nhi, giáo viên, học sinh và sinh viên, v.v.

Nêu gương đạo đức, nói đi đôi với làm là nét đẹp trong văn hóa phương Ðông và văn hóa Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng và trở thành nguyên tắc chỉ đạo xây dựng đời sống mới và rèn luyện hàng ngày của Người. Lời nói phải đi đôi với việc làm, thì mới đem lại hiệu quả thiết thực cho chính bản thân mình và có tác dụng đối với người khác. Do đó, Bác Hồ căn dặn: “… một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”(1).

Sinh thời, Bác Hồ thường căn dặn các thầy giáo, cô giáo phải có ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức và trách nhiệm phục vụ nhân dân trong các hoạt động giáo dục, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực trong giáo dục; Yêu nghề, yêu ngành, yên tâm công tác, mô phạm trong quan hệ với nhân dân, đồng nghiệp và người học, thương yêu học sinh và sinh viên; Ðoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ, thật thà phê bình, đấu tranh, ngăn chặn nhà giáo vi phạm pháp luật và quy định nghề nghiệp. Thầy giáo, cô giáo phải có chí khí cao thượng, phải “tiên ưu hậu lạc”, nghĩa là khó khăn thì phải chịu trước thiên hạ, sung sướng thì hưởng sau thiên hạ.

Nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh còn nêu tấm gương sáng ngời về tu dưỡng đạo đức suốt đời. Hàng ngày, Người chăm lo tu dưỡng bản thân, ung dung tự tại, lạc quan, yêu đời, không chủ quan, tự mãn, thắng không kiêu, bại không nản. Ðồng thời, Người còn đề xuất nhiều phong trào quần chúng rộng rãi để rèn luyện đạo đức cho đội ngũ cán bộ, bộ đội, công nhân, nông dân, thanh thiếu nhi. Trong ngành giáo dục, Bác Hồ đã khởi xướng phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt” từ năm 1961 và trở thành truyền thống của nhà giáo, học sinh và sinh viên từ đó đến nay.

Tự học là quá trình tự thân vận động của mỗi người để tích lũy những tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm lịch sử – xã hội mà nhân loại tích lũy được trong quá trình phát triển, biến nó thành kinh nghiệm và kỹ năng riêng cho cá nhân mỗi người. Ngoài những tri thức ban đầu học được ở các thầy giáo khi còn nhỏ ở quê và khi còn trên ghế nhà trường ở Huế, thì suốt cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các tri thức, kiến thức có được chủ yếu là do tự học và bản thân không ngừng tự học.

Mục tiêu và động cơ học tập được Bác Hồ xác định rõ: Học để biết, học để làm việc, học để làm người, học để chung sống, học để phục vụ Tổ quốc và nhân dân, học để thực hiện nhiệm vụ cách mạng do Ðảng và nhân dân giao phó, học để phục vụ nhân loại. Do đó, Bác Hồ rất chủ động và tự giác trong học tập.

Nguyễn Ái Quốc tự học ở sách báo, học ở bạn bè và những người cùng hoạt động, học ở trên tàu, học ở thực tiễn cách mạng của nhân dân lao động trên thế giới, học mọi nơi và mọi lúc, v.v. Người đã khắc phục mọi khó khăn, tự lao động nuôi sống bản thân, hoạt động cách mạng và học tập, tìm lấy phương pháp tự học, tự nghiên cứu để học ngoại ngữ, văn hóa, chính trị, quân sự và các lĩnh vực mà Người quan tâm.

Ngày nay, sự tự học của nhà giáo vừa là quá trình để tự hoàn thiện mình vừa là tấm gương cho học trò. Học tập để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, ngoại ngữ và nghiệp vụ để phục vụ công tác và hoạt động giáo dục. Rèn luyện và sáng tạo nên phương pháp tự học, năng lực tự học, tự nghiên cứu để chiếm lĩnh tri thức khoa học, công nghệ và nghệ thuật sư phạm.

Sáng tạo là đổi mới, là tạo nên những sự vật mới, giá trị mới tốt đẹp hơn. Cách mạng là sáng tạo và sáng tạo là bản chất của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu cho chúng ta tấm gương sáng ngời về sự sáng tạo. Sáng tạo về phương pháp tự học, sáng tạo về phương pháp lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng, sáng tạo trong các hoạt động thực tiễn hàng ngày.

Nhờ đó, Người đã kế thừa và phát triển được những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thụ được tinh hoa văn hóa của nhân loại; tiếp nhận, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, dẫn dắt cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Ngày nay, sáng tạo của nhà giáo là sự đổi mới, là tạo ra cái mới trong hoạt động giáo dục và quản lý giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Các nhà giáo chân chính đều sáng tạo không ngừng trong các hoạt động của mình. Sáng tạo trong vận dụng tri thức và công nghệ mới vào quá trình giảng dạy, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Chế tạo đồ dùng dạy học mới, hoặc cải tiến đồ dùng dạy học đã có phù hợp với điều kiện cụ thể của bài dạy, lớp học và người học.

Ðổi mới phương pháp giảng dạy, áp dụng công nghệ thông tin vào bài giảng. Kịp thời phát hiện và xử lý tốt các tình huống sư phạm. Biết phát hiện và bồi dưỡng những người học có năng khiếu, học giỏi, đồng thời biết bồi dưỡng và phụ đạo những người học yếu kém. Ðổi mới, cải tiến phương pháp quản lý nhà trường, quản lý học sinh, sinh viên và người học, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục – đào tạo.

Mỗi nhà giáo thường xuyên rèn luyện đạo đức, năng lực tự học và sáng tạo theo gương nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh sẽ là bước đột phá, góp phần xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong sạch và vững mạnh, tạo động lực thúc đẩy đổi mới mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục – đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn mới.

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, H,1995, Tr.263
Theo: http://www.pup.edu.vn
Anh Tú (st)

bqllang.gov.vn

Nhớ lời dặn của Bác: “Dù khó khăn đến đâu cũng phải thi đua dạy tốt, học tốt ”

Kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam 20 tháng 11

66 năm đã qua đi (1945-2011) kể từ ngày Bác Hồ kêu gọi toàn dân chống nạn thất học, những chỉ dẫn của Người, niềm mong mỏi của Người là phải “làm cho dân tộc Việt Nam trở thành một dân tộc thông thái” đã từng bước được thực hiện, và trong những kết quả đó, dạy tốt, học tốt vừa là nguồn động lực, vừa là mục tiêu của quốc sách giáo dục.

Từ khi nước Việt Nam còn đắm chìm trong đêm trường nô lệ, còn nhiều thuốc phiện, nhà tù hơn là trường học, Bác Hồ kính yêu đã đem theo khát vọng giải phóng dân tộc, đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi vòng tối tăm dốt nát, vươn tới ánh sáng của văn minh, trở thành một dân tộc thông thái trong hành trang bôn ba tìm đường cứu nước của mình.

Thấu hiểu được rằng một dân tộc dốt là một dân tộc yếu, và mù chữ thì đứng ngoài chính trị, ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, trong phiên họp của Hội đồng Chính phủ, thay mặt Chính phủ lâm thời, Người đã nêu một trong sáu nhiệm vụ cấp bách phải làm ngay, đó là xoá nạn mù chữ. Xoá nạn mù chữ là bước khởi đầu của sự nghiệp nâng cao dân trí, để giúp mỗi người dân không chỉ biết đọc, biết viết, tiến đến “phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà”. Động viên toàn dân tích cực hưởng ứng chiến dịch xoá mù, Người nói “các bạn cố gắng diệt cho hết giặc dốt trong một thời gian mau chóng” và càng ngày càng cố gắng thi đua diệt giặc dốt để tiến lên một bước nữa.

Đặt niềm tin vào thế hệ măng non, kỳ vọng rằng chính lớp người này ngày mai sẽ đưa dân tộc Việt Nam chiếm lĩnh dần những đỉnh cao tri thức của nhân loại, Bác Hồ đã nói với các em tâm nguyện của mình nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam độc lập “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Không dừng lại ở lòng mong mỏi, Người thường xuyên động viên, thăm hỏi khuyến khích mọi người thi đua học tập, trau dồi kiến thức để có đủ năng lực làm chủ, xoá bỏ mặc cảm tự ti của thân phận nô lệ, mù chữ.

Học tập để góp ích thiết thực cho độc lập, tự do, và học tập là yêu nước, nên Người luôn tự mình cố gắng học tập và đề nghị mọi người sẽ còn phải cố gắng nhiều hơn nữa trong học tập. Người cũng nói, công việc của cách mạng đòi hỏi mọi người phải luôn luôn cầu thị, vì trong công việc, những kiến thức mới sẽ giúp cho mỗi người “khi thành công thì phải nghiên cứu vì sao thành công để lấy kinh nghiệm, khi thất bại cũng sẽ xem xét tại sao thất bại để mà tránh đi”.

Phong trào bình dân học vụ phát triển, phương pháp dạy và học của Nhà nước Việt Nam mới cũng có nhiều thay đổi. Khác với phương pháp giáo dục nô dịch thực dân, chỉ đào tạo theo lối nhồi sọ, học lấy chút vinh hoa phú quý, thờ ơ với xã hội, xa rời đời sống lao động và đấu tranh của nhân dân, hệ thống giáo dục quốc dân được xây dựng trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ xâm lược, trong những năm miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đã thực sự tạo ra những cơ hội phát triển cho mỗi cá nhân và toàn xã hội. Đi đôi với việc mở mang các loại hình trường lớp từ nông thôn cho đến thành phố là phong trào thi đua dạy và học. Tại các nhà trường các thầy cô dạy học trò kiến thức mới, tinh thần yêu nước, học tập đời sống mới, tình đoàn kết tương trợ lẫn nhau…, giúp cho các em được tự do học tập và phấn đấu, giúp cho các em vốn tri thức, vốn văn hoá để trở thành những người hữu ích.

Ý thức sâu sắc được tầm quan trọng của dạy và học trong nền giáo dục của nước nhà, Bác Hồ nói rất rõ : “Trách nhiệm vẻ vang của người thầy là chăm lo dạy dỗ con em của nhân dân thành những người công dân tốt, người lao động tốt, người chiến sỹ tốt, người cán bộ tốt của nước nhà”. Không thể có những người trò tốt nếu không có những người thầy tốt. Điểm cốt lõi của vấn đề là phải xây dựng cho được một đội ngũ những người thầy cô yêu trường và yêu nghề, tâm huyết với sự nghiệp trồng người. Dạy học đến dạy tốt là cả một quá trình phấn đấu khổ luyện của người thầy. Và từ học đến học tốt cũng là một sự tự cố gắng, tự vươn lên của bản thân học trò. Cùng với việc tự học, có ý thức học tập, không thụ động nghe giảng, thụ động tiếp thu kiến thức của thầy cô của học sinh, thì những người thầy cô luôn tự mình trau dồi chuyên môn, tu dưỡng đạo đức, khi đứng trên bục giảng, ngoài trái tim người thầy, họ nhất định phải là tấm gương sáng cũng sẽ góp phần quan trọng vào thành công của phong trào thi đua dạy tốt, học tốt. Hơn ai hết, chúng ta đều thấu hiểu rằng: Dạy tốt phụ thuộc rất nhiều vào nhân cách của người thầy, và nếu không có những người thầy miệt mài gắng sức, luôn xứng đáng là thầy giáo, lặng lẽ chăm sóc, uốn nắn những mầm non của đất nước qua mỗt giai đoạn kế tiếp nhau từ mẫu giáo đến khi là người đã tốt nghiệp những trường dạy nghề, cao đẳng, đại học và trên đại học, thì không thể có những hiền tài, những nguyên khí của mỗi quốc gia theo đứng nghĩa của nó.

“Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt học tốt” (Bác Hồ)

Cùng với những thành tựu của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, nền giáo dục xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, đã làm phát triển hoàn toàn năng lực sẵn có của các em, đã thực hiện phương châm học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tế, nhà trường, gia đình và xã hội đồng tâm, đồng hướng đào tạo các em thành những con người như mong muốn của Bác Hồ, để “thật thà phụng sự nhân dân”. Có thể nói, cùng với thời gian, lời căn dặn đầy tâm huyết của Bác Hồ nhân dịp bước vào năm học 1968 – 1969: “Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt, học tốt” vẫn luôn là nguồn sức mạnh động viên người thầy và học trò trong sự nghiệp giáo dục. Và hơn bao giờ hết, chúng ta càng nhận thấy rõ rằng: Muốn nâng cao chất lượng nền giáo dục nước nhà, muốn những kết quả đào tạo toàn diện của ngành giáo dục về văn hoá, chuyên môn, về lý tưởng, về nhân cách, kỹ năng sống, có trách nhiệm với chính bản thân mình và cộng đồng xã hội,v.v..”ngày càng đạt chuẩn” thì không thể không chú trọng, quan tâm đến phong trào thi đua dạy tốt, học tốt tại các nhà trường, các giảng đường đại học, cao đẳng…

65 năm đã qua đi (1945-2010) kể từ Ngày Bác Hồ kêu gọi toàn dân chống nạn thất học, những chỉ dẫn của Người, niềm mong mỏi của Người là phải “làm cho dân tộc Việt Nam trở thành một dân tộc thông thái” đã từng bước được thực hiện, và trong những kết quả đó, dạy tốt, học tốt vừa là nguồn động lực, vừa là mục tiêu của quốc sách giáo dục. Sự phát triển toàn diện, nhanh chóng cả về quy mô, loại hình, chất lượng đào tạo của ngành giáo dục đã góp phần nâng cao dân trí. Chiến lược con người cũng luôn là mối quan tâm bức xúc của Đảng, Nhà nước và của toàn xã hội. Đầu tư cho giáo dục, xã hội hoá công tác giáo dục đào tạo đã thực sự tạo ra những kết quả nhất định, bước đầu trong giáo dục nhà trường. Song chúng ta đều biết, mục tiêu đào tạo những con người có tài và có đức, để kế tiếp cha anh phục vụ Tổ quốc và nhân dân, sẽ luôn gắn liền với phong trào thi đua dạy tốt, học tốt tại các nhà trường.

Thực hiện lời dạy của Người đào tạo thế hệ trẻ hôm nay vừa có tài vừa có đức, xứng đáng kế thừa cha anh phục vụ Tổ quốc và nhân dân

Chế độ đãi ngộ đối với các thầy cô giáo, đặc biệt là các thầy cô giáo ở vùng sâu, vùng xa, những đổi mới về công tác đào tạo như đào tạo theo yêu cầu của địa phương, ưu tiên đầu vào và cả đầu ra cho con em đồng bào dân tộc thiểu số… là rất thiết thực, phù hợp với điều kiện thực tiễn. Cải cách giáo dục bao gồm cải cách về phương pháp dạy, phương pháp học, cải cách sách giáo khoa cho các bậc học, đặc biệt là giảm tải đối với học sinh tiểu học, xây dựng hệ thống trường, lớp chuẩn quốc gia, xã hội hoá công tác giáo dục nhà trường, tránh dạy thêm, học thêm, tránh chạy theo số lượng, chạy theo bệnh thành tích, v.v..sẽ là những điều kiện cần và đủ để thực hiện phong trào thi đua dạy tốt, học tốt tại các nhà trường.

Nói dạy tốt, học tốt là nền tảng của quốc sách giáo dục trong đường lối chiến lược của Đảng ta, vì dạy tốt, học tốt sẽ làm cho các em thành con ngoan, trò giỏi, bạn tốt hôm nay, để mai sau là những người công dân trung thành, những người cán bộ gương mẫu và người chủ của đất nước, những người sẽ quyết định vị trí của dân tộc ta, đất nước ta trên trường quốc tế. Hiền tài là vốn quý của nước nhà, đào tạo hiền tài là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng trong chiến lược con người của toàn Đảng, toàn dân ta. Song hiền tài chỉ có được khi phong trào thi đua dạy tốt, học tốt tại các nhà trường phát triển cả về qui mô và chất lượng, khi mà mọi nguồn lực đầu tư cho giáo dục đều hướng đến mục đích: Vì một dân tộc Việt Nam thông thái như mong muốn của Bác Hồ.

Theo ictdanang.vn
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ với sự nghiệp trồng người

Bác Hồ luôn đặc biệt quan tâm đến sự nghiệp trồng người - Ảnh tư liệu

Nền giáo dục Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám dưới chế độ Dân chủ Cộng hòa đã phát triển dưới ánh sáng của một mục tiêu cao cả như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra:

“Trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân dân, nhằm mục đích đào tạo những công dân và cán bộ tốt, những người chủ tương lai tốt của nước nhà”.

Mục tiêu ấy bao hàm ý nghĩa: Cần xây dựng tư tưởng: Dạy và học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân (không phải học để làm quan hay làm giàu cho cá nhân). Thầy giáo và học trò, tùy hoàn cảnh và khả năng, cần tham gia những công tác xã hội, ích nước lợi dân.

Trong thư gửi giáo viên, học sinh, cán bộ thanh niên và nhi đồng ngày 31/10/1955, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Bác đề ra nhiệm vụ cho ngành giáo dục: “Mỗi một cấp giáo dục cần nhận rõ nhiệm vụ của mình trong lúc này:

Đại học thì cần kết hợp lý luận khoa học với thực hành, ra sức học tập lý luận và khoa học tiên tiến của các nước bạn, kết hợp với thực tiễn của nước ta, để thiết thực giúp ích cho công cuộc xây dựng nước nhà.

Trung học thì cần đảm bảo cho học trò những tri thức phổ thông chắc chắn, thiết thực, thích hợp với nhu cầu và tiền đồ xây dựng nước nhà, bỏ những phần nào không cần thiết cho đời sống thực tế.

Tiểu học thì cần giáo dục các cháu thiếu nhi yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, trọng của công. Cách dạy phải nhẹ nhàng và vui vẻ, chớ gò ép thiếu nhi vào khuôn khổ của người lớn. Phải đặc biệt chú ý giữ gìn sức khỏe cho các cháu.

Tôi cũng mong các gia đình hãy liên lạc chặt chẽ với nhà trường, giúp nhà trường giáo dục và khuyến khích con em chăm chỉ học tập, sinh hoạt lành mạnh và hăng hái giúp ích nhân dân”.

Đến với Đại hội Sinh viên Việt Nam lần thứ hai ngày 7/5/1958, Bác nói: Đối với thanh niên trí thức như các cháu ở đây thì cần đặt lại câu hỏi: Học để làm gì? Học để phục vụ ai? Đó là hai câu hỏi cần phải trả lời dứt khoát, thì mới có phương hướng để sửa chữa khuyết điểm của mình”.

Bác dạy học sinh, sinh viên phải có 6 cái yêu:

Yêu Tổ quốc: Yêu như thế nào? Yêu là phải làm sao cho Tổ quốc ta giàu, mạnh. Muốn cho Tổ quốc giàu mạnh thì phải ra sức lao động (chân tay và trí óc), ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm.

Yêu nhân dân: Mình phải hiểu rõ sinh hoạt của nhân dân, biết nhân dân còn cực khổ như thế nào, chia sẻ những lo lắng, vui buồn, những việc làm nặng nhọc với nhân dân.

Yêu chủ nghĩa xã hội: Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mình mới mỗi ngày một no ấm thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm.

Yêu lao động: Muốn thật thà yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu chủ nghĩa xã hội, thì phải yêu lao động, vì không có lao động thì chỉ là nói suông.

Yêu khoa học và kỹ thuật, bởi vì tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải có khoa học và kỹ thuật.

Bác nêu rõ: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.

“Thời đại chúng ta là thời đại của khoa học phát triển rất mạnh, thời đại anh hùng, mỗi người lao động tốt đều có thể trở nên anh hùng (không phải là anh hùng cá nhân). Vậy mong các cháu cũng làm người thanh niên anh hùng trong thời đại anh hùng”.

Cũng năm 1958, ngày 13/9, mở đầu một năm học mới, Bác đã nhấn mạnh về nhiệm vụ các nhà trường: “Vì lợi ích 10 năm thì phải trồng cây. Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người. Chúng ta phải đào tạo ra những công dân tốt và cán bộ tốt cho nước nhà. Nhân dân, Đảng, Chính phủ giao các nhiệm vụ đào tạo thế hệ tương lại cho các cô, các chú. Đó là một trách nhiệm nặng nề nhưng rất vẻ vang”.

Đáp lòng mong mỏi của Bác, giai đoạn ấy chúng ta đã có những bậc thầy mẫu mực về trí tuệ và đạo đức được vinh danh và kính trọng ở các trường trong và ngoài nước, như Giáo sư Hoàng Tụy, Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn, Giáo sư Nguyễn Thúc Hào, Giáo sư Đỗ Tất Lợi, Giáo sư Nguyễn Tài Thu và nhiều giáo sư khác, đến nay vẫn là những tấm gương sáng cho các thế hệ thày giáo trẻ noi theo.

Đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo, Bác không chỉ quan tâm đến những vấn đề lớn như mục đích, mục tiêu, phương châm, tính chất của giáo dục, mà còn để ý đến cả những vấn đề phương pháp cụ thể.

Trong bài nói tại Hội nghị Tổng kết phong trào thi đua Dạy tốt, Học tốt của ngành Giáo dục phổ thông và sư phạm tháng 8/1963, Bác căn dặn: Về học tập và giảng dạy, phải thực hiện tốt phương châm giáo dục kết hợp với lao động sản xuất. Về lao động, cần chú ý tổ chức cho thích hợp với lứa tuổi và sức khỏe của học sinh.

Về giảng dạy, tránh lối dạy nhồi sọ. Chương trình dạy học hiện nay còn có chỗ quá nhiều, quá nặng. Về học tập, tránh lối học như vẹt. Ngoài ra, cần chú ý tránh nói tiếng nước ngoài quá nhiều, những tiếng ta có thì không nên dùng tiếng nước ngoài. Bài dạy phải chuẩn bị cho tốt và cần chọn lọc những bài thích hợp với tuổi của học sinh. Trường học phải liên hệ chặt chẽ với gia đình, với xã hội.

Với một nền giáo dục có định hướng cách mạng, có mục tiêu được xác định rõ ràng, được tổ chức hợp lý theo những nguyên tắc khoa học tiên tiến và thích hợp với điều kiện và hoàn cảnh nước ta, nền giáo dục Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám được xây dựng trên những phương châm dân tộc- khoa học- đại chúng, đã từ bỏ được những tật xấu của lối giáo dục ngu dân chỉ phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị, xây dựng được một nền giáo dục nhân dân.

Nền giáo dục theo ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh sau Cách mạng Tháng Tám để lại cho chúng ta nhiều bài học lớn.

Thứ nhất, giáo dục cũng như mọi công cuộc khác, cần phải xác định rõ mục đích, mục tiêu. Riêng giáo dục phổ thông cần để cao mục tiêu giáo dục làm người: người công dân tốt, người lao động tốt, người cán bộ tốt, có ý thức giác ngộ chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa xã hội nhân văn, có tinh thần dân tộc, sẵn sàng tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ hai, việc xây dựng mô hình nhà trường các cấp, việc thiết kế chương trình, viết sách giáo khoa, ấn định nội dung, phương pháp dạy và học phải đáp ứng được mục đích, mục tiêu chung đã định. Từ bỏ lối dạy tham lam nhồi sọ, lý thuyết suông, khắc phục lối học vẹt, học không kết hợp với hành, học chỉ để đạt những tiêu chí thi cử hình thức.

Thứ ba, muốn phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển đất nước cũng như sự phát triển mỗi con người, thì bất cứ nền giáo dục nào cũng phải bám sát thời đại và những hoàn cảnh, điều kiện, nhu cầu riêng của đất nước để phát triển cho đúng hướng và có hiệu quả.

Thứ tư, trong tình hình hiện nay của thế giới và nước nhà, thì một cuộc cải cách giáo dục ở Việt Nam đang là một yêu cầu cấp thiết.

Trong thư nhân dịp khai giảng năm học mới 2011 – 2012, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã rất có lý khi đề ra nhiệm vụ cho ngành giáo dục cần “đổi mới căn bản và toàn diện”.

Ngày 2/9/2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khi dự lễ khai giảng năm học mới tại Trường Quốc học Huế yêu cầu phát triển giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá và hội nhập quốc tế; tập trung đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng giáo dục…

Thứ năm, các trường sư phạm, nhất là sư phạm đại học chính là “máy cái” để khởi động sự nghiệp cải cách.

Hiện nay, mỗi năm, ngành sư phạm cho ra lò hàng ngàn giáo sinh. Tuy nhiên, đội ngũ này vẫn còn nhiều hạn chế trước đòi hỏi ngày càng mạnh mẽ của sự phát triển đất nước.

Theo chương trình “Phát triển ngành sư phạm và các trường sư phạm từ năm 2011-2020”, Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra mục tiêu đến năm 2015, 100% giảng viên trường đại học sư phạm đạt trình độ thạc sỹ trở lên, trong đó ít nhất 25% đạt trình độ tiến sỹ và phấn đấu năm 2020, ít nhất 50% giảng viên các trường đại học sư phạm đạt trình độ tiến sỹ.

Để đáp ứng mục tiêu này, cần sự nỗ lực rất lớn của ngành giáo dục, sự hỗ trợ, chung sức của toàn xã hội, của các bộ, ngành để có thể thực hiện được nhanh chóng công cuộc “đổi mới căn bản và toàn diện” giáo dục.

Theo chinhphu.vn
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Từ “Văn hoá Đảng”, “Văn hoá Hồ Chí Minh” nghĩ về quan điểm “Văn học – nghệ thuật cũng là một mặt trận”

Gần đây chúng ta đã có dịp bàn về “Văn hóa Đảng”. Theo Nhà nghiên cứu Văn hoá- văn nghệ Trần Trọng Đăng Đàn, khái niệm “Văn hóa Đảng” có nội hàm như sau: “Văn hoá Đảng Cộng sản Việt Nam là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do hoạt động của Đảng mà tạo ra trong quá trình lịch sử từ năm 1930 cho đến ngày nay”.

Sự nghiệp văn hóa đó có được là nhờ Đảng đã kế thừa có chọn lọc, có phê phán và có sáng tạo truyền thống văn hóa dân tộc từ năm 1930 cho đến tận ngàn xưa; nhờ Đảng biết tiếp thu có chọn lọc, có phê phán, có sáng tạo văn hóa của thế giới từ cổ xưa cho tới tận thời đương đại; đặc biệt là nhờ Đảng đã biết phát huy nội lực văn hóa bản thân của các thế hệ đảng viên tập hợp được những tinh hoa văn hóa của giai cấp công nhân và của quảng đại quần chúng của cách mạng suốt từ khi mới thành lập cho đến tận hôm nay. Trong hiện tình chính trị – triết học của quốc tế và quốc gia, cần đặt văn hóa Đảng ở một vị trí thế xứng đáng ít nhất là trong hai giá trị lớn sau đây: 1- Giá trị về sự khẳng định cách mạng Việt Nam trước sau như một vẫn đi theo con đường của chủ nghĩa Mác – Lênin: 2- Giá trị về sự khẳng định thể chế một đảng lãnh đạo đất nước Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội.

Sự xuất hiện vị lãnh tụ của dân tộc, lãnh tụ của Đảng, đồng thời là nhà văn hóa kiệt xuất: Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là một thực tế lịch sử tạo sức mạnh tăng tốc mang tính bước ngoặt cho quá trình hình thành và phát triển văn hóa. Văn hóa Hồ Chí Minh thể hiện qua sự nghiệp hoạt động cách mạng của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh và đã được đúc kết lại trong trước tác của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đặc biệt là trong ký ức tư duy và trong trí tuệ của nhiều thế hệ thần dân cách mạng. Như vậy, văn hóa Hồ Chí Minh hình thành và phát triển trước Văn hóa Đảng xét theo chiều dọc thời gian.

Thực ra, Văn hóa Hồ Chí Minh được phát sinh, hình thành từ thời kỳ niên thiếu của Nguyễn Tất Thành. Đó là thời kỳ trước năm 1911, khi Nguyễn Tất Thành còn là một thành viên nhỏ tuổi trong gia đình, trong các địa phương mà Nguyễn Tất Thành sinh sống, tại các môi trường mà Nguyễn Tất Thành học hành, tiếp xúc, quan hệ với tính chất mầm mống đó cũng đã có thể thấy màu sắc khá đậm của những tinh hoa văn hóa dân tộc Việt Nam thời cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Trong đó có pha thêm cả tinh hoa của văn hoá truyền thống ViệtNam trước đó.

Suốt 30 năm Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc bôn ba nhiều nơi trên thế giới để tìm đường cứu nước, văn hóa nơi Nguyễn Tất Thành được phát triển một cách rực rỡ trở thành văn hóa Hồ Chí Minh. Nhìn một cách tổng quát, Văn hóa Hồ Chí Minh là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần do hoạt động của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh mà tạo ra. Trong khối phức hợp rộng lớn những giá trị vật chất và tinh thần của Văn hóa Hồ Chí Minh có những giá trị đặc biệt rực rỡ cần được xếp vào hàng đầu.

Trong số những giá trị rực rỡ đó, trước tiên là sự tạo dựng nên một phương sách chiến lược cứu dân, cứu nước thích hợp xét trong mối tương quan với chiều dọc thời gian theo lịch đại và trong mối tương quan với chiều ngang đồng đại của tình thế quốc tế và quốc gia hơn nửa thế kỷ của Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh.

Giá trị rực rỡ thứ hai của Văn hoá Hồ Chí Minh là tài tình trong sáng lập, sáng tạo trong điều hành, minh mẫn trong định hướng cho sự phát triển của một chính đảng cách mạng – Đảng Cộng sản Việt Nam – với mục đích xây dựng đất nước Việt Nam dân chủ, giàu mạnh, theo con đường xã hội chủ nghĩa và thực hiện lý tưởng cộng sản chủ nghĩa.

Giá trị rực rỡ thứ ba cấu thành Văn hóa Hồ Chí Minh là sự hình thành và phát triển một hệ thống tư tưởng được gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh. Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin chắt lọc từ những tính hoa trí tuệ của nhân loại gắn với truyền thống tốt đẹp của trí tuệ dân tộc Việt Nam là nét cơ bản nổi bật nhất trong Tư tưởng Hồ Chí Minh làm cốt lõi cho Văn hóa Hồ Chí Minh.

Giá trị rực rỡ thứ tư làm nền tảng đồng thời là nét mang tính tổng hợp xuyên suốt toàn bộ của Văn hoá Hồ Chí Minh là sự mở ra cho đất nước cho dân tộc một thời đại mới: Thời đại Hồ Chí Minh. Lịch sử dân tộc Việt Nam đã từng có nhiều anh hùng hào kiệt. Nhưng, chiến công hiển hách trong sự nghiệp chống ngoại xâm, thành tựu vĩ đại trong công cuộc cải cách đất nước, thành quả to lớn trong hoạt động xây dựng đất nước của họ… dẫu sao vẫn không thể sánh kịp với chiến công, thành tựu, thành quả của vị anh hùng hào kiệt Hồ Chí Minh. Bởi vì chiến đấu với giặc ngoài mà Hồ Chí Minh giữ vai trò thống lĩnh; làm cách mạng cải cách đất nước mà Hồ Chí Minh giữ vai trò lãnh đạo tối cao không phải là để thay đổi những người bóc lột này bằng những kẻ bóc lột khác mà là để xóa bỏ hoàn toàn chế độ người bóc lột người. Đặc điểm cơ bản chính của Thời đại Hồ Chí Minh là ở giá trị này. Đó cũng là nét thuộc loại đậm nhất trong bức tranh toàn cảnh Văn hóa Hồ Chí Minh.

Giá trị rực rỡ thứ năm làm nền tảng cho văn hóa Hồ Chí Minh là sự mở rộng đột biến vai trò quốc tế của đất nước, của dân tộc Việt Nam. Nói đến ”đột biến” trước hết là xét theo chiều dọc thời gian lùi vào quá khứ xa xưa. Những chiến công hiển hách của dân tộc Việt Nam từ Trưng nữ vương ở đầu Công nguyên cho đến nhà tiền Lý, nhà Triệu, nhà Ngô, nhà Đinh và suốt từ thời Thái Bình Đinh Tiên Hoàng, thời Thiên Phúc Lê Đại Hành, thời Thuận Thiên Lý Thái Tổ – Lý Thường Kiệt, thời Kiến Trung Trần Thái Tông – Trần Hưng Đạo thời Thánh Nguyên Hồ Quý Ly, thời Thuận Thiên Lê Thái Tổ – Nguyễn Trãi… cho đến thời Tây Sơn Nguyễn Huệ đã có sự mở rộng vai trò quốc tế của Việt Nam.

Tuy nhiên phạm vi mở rộng đó vẫn chỉ gói gọn trong vùng Đông Á. Cho đến thời đại Hồ Chí Minh thì vai trò Việt Nam trên trường quốc tế mới thực sự mở rộng ra toàn thế giới loài người. Suốt thời gian hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh 1911 cho đến tận 1969 có thể nói vai trò, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế liên tục đuợc mở rộng và qua những thời điểm nở rộ mang tính lịch sử vĩ đại như sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930, như Cách mạng Tháng Tám 1945, như kết thúc đại thắng cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược Pháp năm 1954. Đặc biệt là thời kỳ Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động toàn đảng, toàn quân, toàn dân tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước để dẫn tới đại thắng mùa Xuân 1975. Ngày nay uy tín, thành tựu của Việt Nam trong xây hòa bình, trong việc tiến hành công cuộc đổi mới đã làm vang dội thế giới đương đại cũng chính là sự tiếp tục nét văn hoá này của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Giá trị rực rỡ thứ sáu làm nền tảng cho văn hoá Hồ Chí Minh là sự hình thành mẫu mực một vị lãnh tụ, một người anh hùng của thời thế mới. Anh hùng Hồ Chí Minh, theo quy luật chung, là sản phẩm của thời thế – thời thế xét ở tầm quốc gia và cả ở tầm quốc tế. Và anh hùng Hồ Chí Minh đã tác động trở lại vào thời thế, xoay chuyển thời thế theo chiều xoắn ốc đi lên để đạt tới những tầm cao lý tưởng của dân tộc và của cả nhân loại.

Một khi Văn hoá Hồ Chí Minh được nhận thức ở tầm cỡ như vậy thì những phát biểu, ý kiến trái ngược với quan điểm của Hồ Chí Minh “Văn hoá-nghệ thuật cũng là một mặt trận-Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy” sẽ trở thành quá nhỏ bé, sẽ không còn chỗ đứng để góp sức gây rối trong sinh hoạt hoạt lý luận của chúng ta và những phát biểu, những ý kiến trái ngược ấy sẽ tức khắc bị loại ra khỏi bộ nhớ của những người quan tâm đến các cá nhân, các lực lượng đang phiêu lưu, rồ dại… húc đầu vào tường đá-toan tạo ra một dòng nước ngược với Văn hoá Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh và phản lại quy luật phát triển tất yếu của xã hội loài người- phản lại học thuyết Mác-Lênin và chủ nghĩa xã hội.

Các từ khóa theo tin:(Theo báo Văn nghệ)

cpv.org.vn

Học và hành theo tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá cầm quyền

Hồ Chủ tịch thăm nông dân xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đang thu hoạch vụ lúa đầu tiên sau cải cách ruộng đất (1954)

Nói văn hóa cầm quyền là nói tới cái đẹp, cái giá trị của Đảng cầm quyền, của Chính phủ và cá nhân nhà lãnh đạo, quản lý. Văn hóa cầm quyền là nguồn lực nội sinh vô tận, to lớn của Đảng và hệ thống chính trị, chìa khóa sự phát triển của Đảng, Nhà nước, thấm sâu và tạo dấu ấn khai sáng trong quá trình phát triển của Đảng, Nhà nước.

Hồ Chí Minh nói “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Trong Di chúc, Người lại viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng”… Đó là tư tưởng, tinh thần Hồ Chí Minh về văn hóa cầm quyền. Văn hóa cầm quyền bàn tới ở đây là nói tới văn hóa lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền. Đương nhiên, khi nói tới đảng cầm quyền thì không thể không nói tới chính quyền nhà nước mà trực tiếp là Chính phủ, cơ quan hành pháp với ý nghĩa “kéo dài” sự lãnh đạo của Đảng. Theo tinh thần của Lê-nin, khi Đảng trở thành Đảng cầm quyền thì văn hóa của đảng phải tương đối khác so với khi Đảng chưa cầm quyền. Văn hóa cầm quyền là biến lý luận thành thực tiễn, thông qua tổ chức, xây dựng, thể hiện mối quan hệ giữa Đảng với các thành tố trong hệ thống chính trị; đạo đức của đảng cầm quyền; văn hóa ứng xử của Đảng, Chính phủ với nhân dân và văn hóa dùng người.

1. Văn hóa cầm quyền – nguồn lực nội sinh vô tận, chìa khóa sự phát triển của Đảng

Nói văn hóa cầm quyền là nói tới cái đẹp, cái giá trị của Đảng cầm quyền, của Chính phủ và cá nhân nhà lãnh đạo, quản lý. Văn hóa cầm quyền là nguồn lực nội sinh vô tận, to lớn của Đảng và hệ thống chính trị, chìa khóa sự phát triển của Đảng, nhà nước, thấm sâu và tạo dấu ấn khai sáng trong quá trình phát triển của Đảng, nhà nước. Hồ Chí Minh nói “Văn hóa không thể đứng ngoài mà đứng trong kinh tế và chính trị”, điều đó có nghĩa là tổ chức chính trị, hoạt động chính trị, đảng chính trị và cá nhân nhà chính trị phải thấm nhuần văn hóa. Năng lực chính trị thực chất và cốt tủy là năng lực văn hóa.

Văn hóa cầm quyền thuộc dòng văn hóa chính trị. Trong những năm gần đây, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, trong khi khẳng định sự phát triển của xã hội dựa trên thế của “kiềng ba chân”: Gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt và phát triển văn hóa – nền tảng tinh thần của xã hội”, Đảng ta “đặc biệt coi trọng nâng cao văn hóa lãnh đạo, quản lý”(1), “Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền”(2). Nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng, năng lực quản lý của nhà nước thực chất sâu xa và cốt tủy là nâng cao văn hóa cầm quyền của Đảng và văn hóa quản lý của nhà nước; đồng thời nâng cao văn hóa lãnh đạo, quản lý của từng cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.

Trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta kiên trì mục tiêu vì dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Muốn thực hiện được mục tiêu đó, trước hết Đảng phải đề ra được một cương lĩnh cách mạng xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân, phù hợp với xu thế vận động của thời đại. Điểm chung của thực tiễn Việt Nam từ xưa đến nay là văn hóa, lịch sử, con người Việt Nam. Đó là một thực tiễn hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước với sự đắp bồi nhiều giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam. Những giá trị đó là nguồn lực vô tận để nhân dân Việt Nam thực hiện khát vọng ngàn đời của mình là độc lập dân tộc và sống đời hạnh phúc. Việt Nam ngày nay đang trong quá trình hội nhập vào thế giới toàn cầu hóa với bao điều mới mẻ của cách mạng khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức, kinh tế thị trường, biến đổi môi trường… Việt Nam phải phát triển bền vững trong quỹ đạo và xu thế của thế giới là hòa bình, hợp tác, dân chủ và đa dạng văn hóa. Xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, sải bước cùng thời đại là một tiêu chí của văn hóa cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thước đo văn hóa cầm quyền của Đảng là lòng dân. Đảng cầm quyền nhưng dân là chủ. Đảng cầm quyền để dân làm chủ. Đảng cầm quyền nhưng dân là gốc. Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân; trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Bài học quý giá Hồ Chí Minh để lại cho Đảng ta ngày nay là: “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”(3).

Trong đường lối lãnh đạo và cương lĩnh của Đảng, tức là về mặt lý thuyết, Đảng đã khẳng định rõ ràng, dứt khoát tất cả mọi hoạt động của Đảng là vì hạnh phúc của nhân dân. Nhưng cái khó nhất, cũng là văn hóa cao nhất của Đảng cầm quyền lại không phải nằm ở lý luận mà phải nằm ở thực tiễn. Hành động để đem lại hiệu quả thật sự cho dân chúng từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đến “tương, cà, mắm, muối” và lấy hiệu quả đó làm thước đo mới là điều khó nhất của một đảng cầm quyền. Bác thường dạy: “Nói thì dễ, làm thì khó”. Cái khó trong khi làm không phải là khó khăn, vất vả, mệt nhọc mà cái chính là không vượt qua được chính mình để thực hiện quan điểm quần chúng. Ví dụ: “Miệng thì nói dân chủ nhưng làm việc thì họ theo lối “quan” chủ. Miệng thì nói “phụng sự quần chúng”, nhưng họ làm trái ngược với lợi ích của quần chúng”(4). “Làm theo lối “quan” chủ” tức là lãnh đạo thiếu văn hóa, lãnh đạo bằng quyền lực, “làm việc theo cách quan liêu. Cái gì cũng dùng mệnh lệnh. Ép dân chúng làm”(5). Làm như vậy thì dân oán. Mà “dân oán, dù tạm thời may có chút thành công, nhưng về mặt chính trị, là thất bại”(6) (người trích nhấn mạnh). Chính trị thất bại tức là không được lòng dân. Mà cái nguy hiểm nhất là mất lòng dân. Bởi vì, mất tiền và của cải thì còn làm lại được, còn đã mất lòng tin, đặc biệt là mất lòng tin của dân là mất tất cả. Nâng cao văn hóa cầm quyền là Đảng phải có sự lựa chọn sáng suốt, có tầm nhìn, trí tuệ và bản lĩnh văn hóa giữa việc lấy cái căn bản quy tụ của lòng dân và lợi ích lâu dài thay vì lợi ích và thành tích trước mắt mang mầm bệnh. Văn hóa cầm quyền là phải “sao cho được lòng dân”(7).

2. Đảng phải tôn trọng chính quyền, hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật

Nói đến Đảng cầm quyền là phải nói tới quản lý của nhà nước. Trong văn hóa cầm quyền thì văn hóa lãnh đạo và văn hóa quản lý thâm nhập vào nhau. Giá trị, uy tín, quyền uy tạo sức mạnh của đảng cầm quyền không chỉ trong khuôn phép của Đảng mà được cân, đong, đo, đếm bằng văn hóa quản lý. Nói cách khác, văn hóa quản lý là một thước đo của văn hóa lãnh đạo của đảng cầm quyền, trong đó “Chính phủ là công bộc của dân” như Hồ Chí Minh dạy là tiêu chí hàng đầu.

Trên cơ sở nhận thức nhà nước là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng, văn hóa của đảng cầm quyền là Đảng phải tôn trọng chính quyền, tôn trọng nhà nước. Đảng cầm quyền nhưng không thể và không được đứng trên nhà nước, đứng trên và đứng ngoài pháp luật. Xã hội xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng là một xã hội có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Đây là một nhận thức rất quan trọng trong cấu trúc quyền lực của hệ thống chính trị đương đại. Với nhà nước đó thì Quốc hội là cơ quan có quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết. Nhân dân có quyền bãi miễn các đại biểu Quốc hội nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân. “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”(8). “Bãi miễn các đại biểu” là tinh thần của “văn hóa từ chức” theo cách nói ngày nay. Nghĩa là, các vị đại diện khi được dân bầu – tức là dân ủy thác quyền lực – thì phải làm hết trách nhiệm “như một người lính vâng lệnh quốc dân ra trước mặt trận”; khi dân không còn tín nhiệm nữa thì phải vui vẻ từ chức theo lời dạy của Bác Hồ “khi nào đồng bào cho tôi lui thì tôi rất vui lòng lui”. Đảng cầm quyền, mọi tổ chức và cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật và tuân thủ hiến pháp và pháp luật mà không có một ngoại lệ nào. Tất cả họ phải hành xử theo đúng hiến pháp và pháp luật.

Khi Đảng trở thành đảng cầm quyền, việc giải quyết mối quan hệ giữa Đảng với nhà nước là giá trị văn hóa hàng đầu, vì Đảng phải hoàn thành sứ mệnh “hai vai”. Là người lãnh đạo nhà nước, Đảng phải xứng danh lãnh đạo với một chiều sâu trí tuệ, một bề dày đạo đức, sự vững chắc về bản lĩnh chính trị và phương thức lãnh đạo trọng dân, tin dân, gần dân, hiểu dân, học dân, hỏi dân, theo đúng đường lối quần chúng. Là một thành tố của hệ thống chính trị, Đảng phải hành xử phù hợp với hiến pháp và luật pháp, không được lạm quyền, coi khinh dư luận.

3. Đảng, Chính phủ phải luôn luôn tự phê bình và hoan nghênh nhân dân phê bình mình

Đảng luôn luôn tự phê bình, hoan nghênh nhân dân và đảng viên phê bình mình. Đảng phải nâng cao dân trí, bồi dưỡng ý thức làm chủ, nâng cao tính tích cực công dân, tự do ngôn luận, khuyến khích nhân dân tham gia vào các công việc của nhà nước, khắc phục mọi thứ dân chủ hình thức.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”(9). Phải khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến. Nếu cán bộ không nói năng, không đề ý kiến, không phê bình, thậm chí lại tâng bốc mình, thế là một hiện tượng rất xấu. Thế là mất hết dân chủ trong Đảng. Thế là nội bộ của Đảng âm u, cán bộ trở nên những cái máy, trong lòng uất ức, không dám nói ra, do uất ức mà hóa ra oán ghét, chán nản. “Nếu đào tạo một mớ cán bộ nhát gan, dễ bảo “đập đi, hò đứng”, không dám phụ trách. Như thế là một việc thất bại cho Đảng”(10).

Văn hóa truyền thống, phía sau cái mạnh trọng tình, bộc lộ cái hạn chế duy tình, thiếu văn hóa tranh luận, mà thực chất là giấu giếm khuyết điểm và thích khen, không thích chê, trở thành bệnh thành tích. “Nếu ai nói chúng ta không dân chủ, thì chúng ta khó chịu. Nhưng nếu chúng ta tự xét cho kỹ, thì thật có như thế”(11). Nâng cao văn hóa của đảng cầm quyền là thể hiện một đảng văn minh như cách nói của Bác Hồ. Ngược lại, “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sữa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.

Trên nền tư duy “Chính phủ là công bộc, đầy tớ của dân”, Hồ Chí Minh chỉ ra rằng “khi dân dùng đày tớ làm việc cho mình, thì phải giúp đỡ Chính phủ. Nếu chính phủ sai thì phải phê bình, phê bình nhưng không phải là chửi… Xin đồng bào hãy phê bình, giúp đỡ giám sát công việc Chính phủ”(12).

Khuyết điểm, sai lầm là xấu, là phản văn hóa, nhưng nếu nhận ra khuyết điểm, sai lầm và tìm mọi cách khắc phục, sửa chữa sai lầm, khuyết điểm thì đó là một hành vi mang giá trị văn hóa. Nhân dân chính là người mang lại giá trị văn hóa lãnh đạo, văn hóa quản lý cho Đảng và Chính phủ. Nhận thức rõ điều đó, Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở “Chính phủ mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm tròn nhiệm vụ của mình là người đầy tớ tận tụy của nhân dân”.

Tư duy Hồ Chí Minh là Đảng và Chính phủ phải luôn luôn tạo điều kiện để nhân dân phê bình mình. Bởi vì, dân chúng thông minh, sáng tạo “biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”.
“Dám nói” theo quan điểm Hồ Chí Minh là một giá trị văn hóa đỉnh cao. Chỉ có một đảng cách mạng chân chính, đạo đức, văn minh thì mới đủ trí tuệ, bản lĩnh tạo điều kiện cho dân dám nói. Và chỉ khi nào dân chúng và cán bộ đảng viên dám nói, dám phê bình, kiểm soát hoạt động của Đảng và Chính phủ thì Đảng và Chính phủ mới làm việc tốt hơn và cán bộ, viên chức các cơ quan chính phủ mới thật sự là công bộc của dân. Vì vậy, “cần phải có biện pháp khác, biện pháp nghiêm ngặt hơn, để trừng trị loại cán bộ tha hóa, biến chất. Phải gây nên một đạo đức để ngăn ngừa, gây nên một phong trào quần chúng gớm ghét, bao vây lũ giặc ấy. Biện pháp ấy là gây nên một cuộc vận động trong công nông chống tiêu cực, làm cho những kẻ “chạy” không sống còn được”(13).

4. Văn hóa cầm quyền – văn hóa dùng người

Văn hóa của đảng cầm quyền, văn hóa lãnh đạo đạo, quản lý có một nội dung căn cốt là văn hóa dùng người. Con người sáng tạo ra văn hóa và cũng là sản phẩm của văn hóa. Cán bộ là gốc của mọi công việc. Mọi việc thành hay bại đều liên quan tới cán bộ tốt hay kém.

Một trong những phương thức lãnh đạo của đảng cầm quyền là thông qua cán bộ và công tác cán bộ. Hiện nay chúng ta đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong công tác cán bộ, đó là nạn chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy dự án, chạy bằng cấp, chạy tuổi, chạy huân huy chương… Lại có một dạng thách thức khác, đó là năng lực, bản lĩnh, đạo đức, phương pháp công tác của cán bộ không tương xứng với vị trí, chức vụ quản lý, lãnh đạo. Một thực tế đáng buồn đang diễn ra ở những mức độ khác nhau ở tất cả các loại cán bộ, các ngành, các cấp, các địa phương là có một loại cán bộ không chịu rèn đức, luyện tài mà chỉ rèn “công nghệ” xu nịnh, luồn cúi, a dua, “đi nhẹ, nói khẽ, hay cười và chạy…”, “thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi”, theo gió bẻ buồm, không có khí khái. Còn một bộ phận thuộc loại cán bộ được Đảng, nhà nước giao cho trọng trách làm công tác cán bộ lại thích người chạy và kẻ khéo nịnh hót mình, ghét người chính trực. Nhưng nguy hiểm nhất là những cái đó đang dần dần có xu hướng trở thành “giá trị” trong cơ cấu quyền lực của hệ thống chính trị, của xã hội và được một bộ phận xã hội đồng tình, chưa bị sức mạnh văn hóa, đạo đức của xã hội, của nhân dân đánh bại. Những ai chỉ chăm chú rèn đức, luyện tài, phát biểu trung thực thẳng thắn, vì sự thật thà đoàn kết và phát triển của đơn vị mà lại thiếu những “tố chất chạy”, lại thường bị coi là những người “xa lạ”, không thức thời. Nói tóm lại, một nguy cơ lớn là sự đảo lộn giá trị. Một đơn vị mà đa số cán bộ thuộc loại kém và trung bình, mang tư tưởng “dĩ hòa vi quý, chín bỏ làm mười”, còn thiểu số là tích cực, trung thực, thẳng thắn, thật sự tu dưỡng hồng, chuyên thì nguyên tắc “thiểu số phục tùng đa số” sẽ không mang lại kết quả tích cực như mong muốn.

Trước tình trạng đó, một đảng độc quyền lãnh đạo, nếu không có trí tuệ, tầm nhìn và bản lĩnh văn hóa trong việc dùng người thì nhất định thất bại. Đảng phải tìm thấy giá trị trong các mối quan hệ giữa người già và người trẻ; người trong Đảng và người ngoài Đảng; người có bằng cấp và không có bằng cấp, doanh nhân và trí thức, nhà lãnh đạo, quản lý và nhà khoa học… Trí tuệ văn hóa thể hiện bản lĩnh văn hóa của đảng cầm quyền là phải thấy thanh niên là người chủ tương lai của đất nước, thế hệ mới chắc chắn sẽ vượt thế hệ cũ (và có như thế thì đất nước và dân tộc mới có phúc). Có nhiều người không có bằng cấp nhưng có tài, có đức, cần phát hiện, trọng dụng và có chế độ đãi ngộ xứng đáng. Không phải đã lãnh đạo, quản lý là giỏi. Một người lãnh đạo, quản lý mất đi có người thay thế được ngay, còn một nhà khoa học, thật sự khoa học (đầu ngành hay chuyên ngành) mất đi, rất khó tìm người thay thế (thậm chí không có được người thay thế). Trong Đảng cũng có những người kém, người xấu. Hồ Chí Minh dạy: “Đảng ta không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra. Vì vậy, tuy nói chung, thì đảng viên phần nhiều là những phần tử tốt, nhưng vẫn có một số chưa bỏ hết những thói xấu tự tư tự lợi, kiêu ngạo, xa hoa… Trong Đảng ta chưa hoàn toàn tránh khỏi một vài kẻ vu vơ, những việc không chính đáng”(14). Vì vậy, văn hóa của đảng cầm quyền là đủ khả năng phân định có chất lượng khoa học và cách mạng một cách rõ ràng thật – giả, vàng – thau, tốt – xấu, đúng – sai… Đảng không chọn được những người có đức, có tài, quyết tâm, suốt đời, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân thì đó là thất bại cho Đảng, cũng là thất bại cho cách mạng.

5. Phải thật sự thấm nhuần văn hóa đạo đức

Trong điều kiện cầm quyền, cùng với việc Đảng xây dựng đường lối khoa học, đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng. Nếu học và hành theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh không tốt thì đó là nguy cơ lớn của Đảng. Cuộc vận động xây dựng Đảng về đạo đức trong những năm qua chưa đạt yêu cầu đặt ra. “Có những tổ chức đảng tê liệt, mất sức chiến đấu… Bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng; vẫn còn tình trạng “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy tội”, “chạy bằng cấp”. Thoái hóa biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, đẩy lùi…, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Đó là một nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ(15). Như vậy là rất rõ ràng. Nếu Đảng cầm quyền thiếu văn hóa đạo đức thì Đảng sẽ mất lòng tin của dân, sẽ cô độc. Mà “cô độc thì nhất định thất bại”(16).

…Mấu chốt là ở chỗ, “Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy” như Hồ Chí Minh đã dạy. Văn hóa chính trị mà cốt lõi là văn hóa cầm quyền sẽ thật sự đem lại cho Đảng những tố chất trong sạch, vững mạnh. “Đảng vững” theo tư tưởng Hồ Chí Minh là Đảng đạo đức, văn minh. Tăng cường xây dựng văn hóa cầm quyền, văn hóa lãnh đạo – quản lý là xây dựng năng lực, trí tuệ, đạo đức, bản lĩnh, phương pháp, phong cách của Đảng, Chính phủ, của đảng viên, cán bộ, nhất là người đứng đầu.

Người Trung Quốc quan niệm cầm quyền là sự nghiệp, ý nghĩa của sự nghiệp là cống hiến. Cầm quyền là khoa học, giá trị của khoa học là ở cầu sự chân thực. Cầm quyền là nghệ thuật, sức sống của nghệ thuật là ở sáng tạo. Cầm quyền là thách thức, mấu chốt của ứng đối là ở bản thân. Nếu nói rằng, địa vị cầm quyền của Đảng không phải sinh ra đã có thì chúng ta cũng có thể nói rằng, địa vị cầm quyền của Đảng luôn đi cùng với sự cống hiến và hy sinh. Nếu nói rằng, địa vị cầm quyền của Đảng không phải có rồi sẽ tồn tại mãi mãi, thì cũng có thể khẳng định rằng, chỉ cần Đảng một lòng vì công thì Đảng có thể đứng vững lâu dài; chỉ cần Đảng một lòng vì dân thì Đảng có thể cầm quyền tốt đẹp; chỉ cần Đảng kiên trì tôn chỉ và tính chất của mình, không ngừng tăng cường xây dựng mình, thì Đảng có thể vĩnh viễn đứng ở vị trí chiến thắng (17)./.

(1), (15) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, 2006, tr.213, 263-264.
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Sđd, tr.279.
(3), (5), (6), (8), (10), (11), (12), (14), (16) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1995, t.5, tr.293, 293,293, 61, 281, 243, 60-61, 238.
(4), (13) Sđd, t.6, tr.292, 501
(7) Sđd, t.4, tr.47.
(9)Sđd, t.12, tr.223.
(17) Xem Tôn Chí Cương: Suy nghĩ về tăng cường xây dựng năng lực cầm quyền của Đảng, trong Những vấn đề chính trị- xã hội, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, số 13, 2006, tr.1-13.

Theo tuyengiao.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Nét văn hoá độc đáo trong cách học và cách viết của Hồ Chủ tịch

Xét cho cùng, lịch sử loài người cũng như lịch sử mỗi dân tộc không có gì khác hơn là quá trình con người tự nhận thức để làm chủ bản thân, nhận thức về xã hội để làm chủ xã hội, nhận thức về thiên nhiên để làm chủ thiên nhiên. Nói đến vấn đề nhận thức là nói đến văn hoá, nói đến sự phát triển của trí tuệ và năng lực, tư duy, nói đến quá trình sáng tạo và sự phát triển không ngừng của khoa học, kỹ thuật, của văn minh công nghiệp.

Khái niệm văn hoá và văn minh có mối quan hệ khăng khít với nhau nhưng vẫn là hai vấn đề có nội hàm khác nhau. Khái niệm văn minh rộng hơn, bao quát hơn khái niệm văn hoá; văn minh là kết quả của quá trình phát triển còn văn hoá gắn với phát triển, là động lực của phát triển. Nói về văn hoá, Hồ Chí Minh đã định nghĩa rằng: “Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. Cụ thể hơn “xã hội thế nào, thì văn hoá thế ấy”. Người chỉ rõ: “Thực dân Pháp đã phá hoại tất cả các phong tục tập quán và nền văn minh của dân tộc bị xâm chiếm…Muốn biến một dân tộc thành nô lệ thì phải làm cho dân tộc đó càng ít văn hoá chừng nào càng tốt chừng ấy, phải ban cho dân tộc đó một nền văn hoá theo chiều nằm chứ không phải theo chiều đứng, như lời của viên toàn quyền Merlin đã từng nói.”

Đấu tranh bằng mọi hình thức và bằng mọi con đường để mang lại nền độc lập, tự do và ánh sáng văn hoá cho nhân dân, trước hết là tư tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người được xem là lý tưởng cao nhất của mục tiêu văn hoá trong con người vĩ đại Hồ Chí Minh. Cho nên, không phải ngẫu nhiên, từ những năm 1920 đến khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành nhiều hoạt động văn hoá, lúc thì viết báo, khi thì viết sách, lúc viết truyện ký, viết kịch, làm thơ, vẽ ký hoạ vừa công khai, vừa bí mật hoặc bán công khai để tuyên truyền cho lý tưởng cách mạng, đồng thời tổ chức tập hợp quần chúng cách mạng, giáo dục cán bộ, đảng viên tạo nên lực lượng cách mạng hùng hậu cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Đồng thời, cũng từ đó hình thành nền văn hoá Mácxít trong con người Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ thiên tài của cách mạng Việt Nam mà còn là nhà thơ, nhà văn, nhà báo, nhà ngôn ngữ học, người thầy vĩ đại …

Lúc thiếu thời, cậu bé Thành rất thích 2 câu thơ:

Mỗi bữa không quên ghi sử sách
Lập thân hèn nhất ấy văn chương.

Năm 1905, sau khoảng 10 năm học chữ Hán, Nguyễn Tất Thành chuyển sang học tiếng Pháp, nhưng chỉ mới kịp học đến lớp cao đẳng tiểu học. Năm 1907, từ trường Đông Ba, Nguyễn Tất Thành được chuyển sang trường Quốc học Huế và được nhận vào lớp trung đẳng, hay còn gọi là lớp nhì của bậc tiểu học. Tiếng Pháp là ngôn ngữ chính dạy trong trường. Nguyễn Tất Thành miệt mài học tập, tập viết, tập dịch, tập phát âm tiếng Pháp, mà vẫn không quên trau dồi chữ Hán, trong đầu luôn có suy nghĩ: “muốn đánh Pháp thì phải hiểu Pháp, muốn hiểu Pháp thì phải học chữ Pháp”.

Học xong lớp nhất niên khoá 107-108, Nguyễn Tất Thành đã đạt điểm xuất sắc đã vượt qua năm thứ nhất vào thẳng năm thứ hai trường Quốc học. Năm 1911 Thầy Thành dạy chữ Pháp và chữ quốc ngữ cho lớp ba và lớp tư tại trường Dục Thanh ở Phan Thiết.

Bản Yêu sách của Nguyễn Ái Quốc được ông Phan văn Trường dịch ra tiếng Pháp nhưng ông không viết tất cả những điều mà Nguyễn Ái Quốc muốn nói, đến đây Nguyễn Ái Quốc đã nhận ra nhược điểm của mình là chưa viết được tiếng Pháp. Nguyễn Ái Quốc quyết định đến gặp chủ nhiệm báo Dân chúng là Giăng Lông-ghê – cháu ngoại của Các-Mác đồng thời là Nghị sỹ Quốc hội. Ông ta khuyến khích Nguyễn Ái Quốc học nghề làm báo và bày cách học viết báo cho Nguyễn Ái Quốc.

Ông Nguyễn nói thật mình còn kém tiếng Pháp, Người chủ bút nói: “Điều đó không ngại, có thế nào anh viết thế ấy. Tôi sẽ chữa bài của anh trước khi đưa in. Anh không cần viết dài; năm sáu dòng cũng được”. Ông Nguyễn bắt đầu viết rất khó khăn. Tin tức về Việt nam, ông Nguyễn không thiếu, cái ông thiếu nhất là văn Pháp. Ông Nguyễn viết làm hai bản, gửi cho toà báo một bản, giữ lại một bản. Ông hết sức vui sướng khi thấy bài viết đầu tiên của mình được đăng lên báo. Ông đọc lại bài báo đã in, so sánh và sửa chữa những chỗ viết sai. Ông kiên nhẫn làm theo cách ấy. Khi thấy đã viết bớt sai, ông chủ bút bảo ông Nguyễn: “ Bây giờ anh viết dài hơn một tí, viết độ bảy tám dòng”. Ông Nguyễn viết bảy, tám dòng.

Dần dần, ông Nguyễn có thể viết cả một cột báo và có khi dài hơn. Lúc bấy giờ, người chủ bút trở thành bạn thân của ông Nguyễn, khẽ bảo: “Bây giờ anh viết ngắn lại, viết từng này hoặc từng này dòng. Không viết dài hơn”.
Ông Nguyễn thấy rằng, phải rút ngắn cũng không như trước kia phải kéo dài, nhưng hết sức cố gắng. Và ông thành công. Ông bắt đầu vào làng báo từ đó.

Ngày mồng 2 tháng 8 năm 1919 là một ngày đáng nghi nhớ. Bởi lẽ hôm đó, báo Nhân đạo đăng bài viết đầu tiên của nhà báo Nguyễn Ái Quốc có nhan đề Vấn đề Bản xứ.Tiếp theo là các bài “Đông Dương và Triều Tiên” hay “Thư gửi Ông U-tơ-rây”.

Với kinh nghiệm như vậy, sau này Bác được học ở trường Lê-nin, trường Đảng cao cấp cho các lãnh tụ nước ngoài và học ở Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa. Bác có thể đọc báo Đảng bằng tiếng Trung Quốc, tiếng Anh, tiếng Pháp, dịch các bài hay để bồi dưỡng tinh thần quốc tế cho nhóm học sinh Việt Nam. Bác còn chú ý dạy cho anh em cách viết: qua việc duyệt các bài báo hoặc những tài liệu do anh em dịch ra tiếng Việt, Bác luôn luôn chú ý làm cho anh em viết một cách giản đơn, dễ hiểu, không dùng nhiều danh từ và nếu dùng thì dùng cho đúng. Nếu Bác thấy lủng củng, khó hiểu tức thì Bác gạch đi, bảo viết lại hay dịch lại.

Năm 1927-1928 Bác ở Xiêm và lấy tên là Thầu Chín. Bác đặt chương trình hàng ngày của mình: Buổi sáng lao động mấy giờ, học tiếng Xiêm mấy chục chữ, dịch mấy trang sách; buổi tối, huấn luyện chính trị hoặc nói chuyện với mọi người. Thầu Chín tham gia gánh gạch xây dựng nhà trường. Vì chưa quen gánh nặng nên buổi đầu, ông đặt chương trình gánh mỗi đầu mười viên, sau tăng dần lên 15 viên và mỗi sáng gánh hai chục gánh. Cứ mỗi lần gánh đến chỗ xếp gạch, ông lại lấy phấn đánh dấu, theo thứ tự nét chữ “chính” là ông nghỉ; ông cũng không bao giờ gánh hơn mà cũng không gánh kém. Thầu Chín cũng cổ động mọi người học chữ Xiêm; số người cùng học được mười người. Khi đặt chương trình, Thầu Chín đề ra cách học: trong thời gian đầu mỗi ngày học mười chữ, về sau tăng dần lên. Mọi người chê ít, đòi học nhiều hơn. Thầu Chín chủ trương học mười chữ thôi. Mọi người cho rằng nhất định mình học được. Chưa đầy ba tháng, Thầu Chín đã xem được báo chữ Xiêm.

Thầu Chín đã xem sách và dịch sách như thế nào? Trước khi định đọc hay dịch một cuốn sách, ông đếm số chương và số trang, rồi đặt chương trình mỗi ngày dịch hay đọc mấy tờ. Ông không bao giờ chịu sai chương trình (hồi ấy Thầu Chín dịch cuốn Nhân loại tiến hoá sử và cuốn cộng sản A,B,C). Nếu gặp việc đột xuất, như có kiều bào đến nói chuyện thì Ông cũng kiếm thời gian khác bù vào cho đúng kế hoặch. Chính vì sự kiên trì mà sau này về Pắc Bó Người đã dịch thành công cuốn lịch sử Đảng bằng tiếng Nga.

Ngày 5/6/1911 Nguyễn Tất Thành rời Cảng Nhà Rồng sang phương Tây trên một chiếc tàu viễn dương Pháp thì ngày 8/2/1941, Nguyễn Ái Quốc bước qua biên giới Việt- Trung, khép 30 năm bôn ba đi tìm con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến bến bờ vinh quang.

10 năm học chữ Hán với cha và các nhà nho yêu nước đã trang bị cho Nguyễn Tất Thành một vốn chữ Hán không nhỏ để sau này Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có thể sáng tác 133 bài thơ chữ Hán trong ngục tù của bọn Tưởng. Nhà thơ Cu-ba Phê lích Pi ta Rôđơrighết đã mượn câu của W.Uýtman để nói về Nhật Ký trong tù: “Ai mở cuốn sách này sẽ gặp một con người” và ông nói thêm: “Một con người, nhưng đây là một con người đã qua một sự chắt lọc trong sáng nhất, đã được nâng lên làm cho nó có tầm vóc lớn”.

Mở đầu tập Ngục trung nhật ký Người viết: “Ngâm thơ ta vốn không ham…” đúng với suy nghĩ của cậu Thành thời trẻ “Lập thân tối hạ thị văn chương”, nhưng trên con đường 30 năm bôn ba hoạt động cách mạng, Người nhận ra rằng văn chương là một lợi khí sắc bén và đã nắm lấy nó, trau dồi để sử dụng thành thục nhằm phục vụ cách mạng. Từ vở kịch con Rồng Tre, truyện Vi Hành, Bản án Chế độ Thực dân Pháp, các bài báo bằng tiếng Pháp, Chính Cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng cho đến Bản Tuyên ngôn Độc lập, các bài thơ Chúc tết và Di chúc bất hủ đều thống nhất một quan điểm: viết văn, viết thơ là một hành động cách mạng. Trước khi viết, Người cân nhắc xem: “viết cho ai – đối tượng; viết để làm gì – mục đích; viết cái gì – nội dung; viết như thế nào? – thể loại.

Trên con đường hoạt động cách mạng, Bác đã đi rất nhiều nước, viết rất nhiều tác phẩm, học và nói được rất nhiều thứ tiếng tất cả cũng chỉ nhằm một mục đích cuối cùng là phục vụ cách mạng, làm cho nước nhà được độc lập, tự do, nhân dân ai cũng có cơm ăn áo mặc, được học hành…Bác viết cả chính luận, chính trị, kịch, thơ ca hò vè, nhưng ít khi trích dẫn. Ngôn ngữ sử dụng mộc mạc, giản dị, dễ hiểu mà có sức cổ vũ lan toả, lôi cuốn, động viên lớn, mang đậm phong cách Hồ Chí Minh. Chẳng hạn nói về Đảng, Bác nhấn mạnh: Đảng không phải là một tổ chức để làm quan, phát tài… Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Còn đối với quần chúng nhân dân để nói về sự đoàn kết Bác viết Bài ca sợi chỉ, bài thơ Hòn đá, động viên nhân dân vào hợp tác xã nông nghiệp, Lê nin dùng hình ảnh: “Người nông dân như củ khoai tây…” còn Bác lại viết: “Bà con hãy vào hợp tác xã đi, nó có rất nhiều lợi ích giống như hai người đi tắm kỳ lưng cho nhau”.

Tại Hội nghị văn hoá toàn quốc lần thứ nhất họp tại Hà Nội tháng 11 năm 1946, Hồ Chí Minh đã đọc diễn văn khai mạc nêu bật nhiệm vụ của nền văn hoá mới và vai trò động lực của văn hoá đối với cách mạng. Người nói: “Văn hoá phải làm thế nào cho quốc dân có tinh thần vì nước quên mình, vì lợi ích chung mà quên lợi ích riêng. Với xã hội, văn hoá phải làm thế nào cho mỗi người dân Việt Nam từ già đến trẻ, cả đàn ông và đàn bà ai cũng hiểu cái nhiệm vụ của mình và biết hưởng hạnh phúc của mình nên được hưởng.

Đặc biệt khi nói với giới văn nghệ sĩ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bày tỏ quan điểm của mình một cách rõ ràng về mối quan hệ giữa văn hoá và chính trị, văn hoá với kinh tế…Người nói: “Văn hoá và nghệ thuật cũng như nhiều hoạt động khác, không thể đứng ngoài mà phải đứng trong kinh tế và chính trị”. Từ đó quan điểm đó, Người đề ra khẩu hiệu: “Kháng chiến hoá văn hoá, văn hoá hoá kháng chiến. Văn hoá cũng là một mặt trận, người nghệ sỹ cũng đồng thời là người chiến sĩ trên mặt trận đó”.

Ngày nay, văn hoá trở thành động lực và mục tiêu của sự phát triển không phải là chân lý độc quyền ở nước ta, cho riêng xã hội ta. Đó là những vấn đề chung mang tính toàn cầu, cho nên không phải ngẫu nhiên UNESCO lại đứng ra phát động Thập kỷ thế giới văn hoá giữa lúc thế giới đang bùng nổ thông tin, bùng nổ văn hoá và sự phát triển mạnh mẽ khoa học kỹ thuật và công nghệ, hứa hẹn một giai đoạn phát triển mới, một nền văn minh mới của xã hội loài người.

Thiết nghĩ, Đảng ta đã phát động và đang triển khai thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” thì những “nét văn hoá độc đáo trongcách học, cách viết” của Bác đáng để mỗi người chúng ta suy nghĩ, vận dụng thực hiện trong cuộc sống hàng ngày, góp phần xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, ấm no, hạnh phúc. Phương pháp học và cách viết của Bác sẽ mãi mãi vẫn còn nguyên giá trị cho các thế hệ mai sau.

Bùi Công Uẩn

Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển giá trị văn hóa dân tộc và nhân loại

Đại hội IX của Đảng khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”. Ở đây, xin làm rõ phần nào nhận định đúng đắn của Đảng ta về tư tưởng vĩ đại của Người.

1-Tư tưởng Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Tư tưởng Hồ Chí Minh có cội nguồn từ những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Khi tôn vinh Người là danh nhân văn hóa kiệt xuất và Anh hùng giải phóng dân tộc, tổ chức UNESCO đã ghi nhận: Nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh là kết tinh của truyền thống văn hóa ngàn năm của dân tộc Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau… Dân tộc Việt Nam trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã tạo lập cho mình một nền văn hóa riêng, phong phú và bền vững với những giá trị truyền thống tốt đẹp và cao quý.

Trước hết đó là chủ nghĩa yêu nước và ý chí bất khuất đấu tranh để dựng nước và giữ nước. Đây là một trong những tài sản có giá trị nhất trong hành trang của Hồ Chí Minh lúc ra đi tìm đường cứu nước năm 1911. Nó là cơ sở xuất phát, là động lực, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã có quá trình lịch sử hàng ngàn năm với nội dung phong phú và sâu sắc như: yêu nước gắn liền với yêu quê hương, yêu con người Việt Nam, yêu truyền thống văn hóa quý giá. Thời kỳ phong kiến, yêu nước có nội dung trung quân ái quốc, lợi ích giai cấp thống trị phù hợp với lợi ích của nhân dân lao động trong sự nghiệp chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc.

Hồ Chí Minh đã làm phong phú nội dung của chủ nghĩa yêu nước. Yêu nước đối với Người là gắn liền với yêu nhân dân. Người nói, lòng thương yêu nhân dân và nhân loại của Người không bao giờ thay đổi…Người có một ham muốn tột bậc là làm sao nước ta được độc lập, dân ta có cơm ăn, áo mặc và được học hành. Người đã nêu ra chuẩn mực “trung với nước, hiếu với dân” và phát triển những nội dung mới của chủ nghĩa yêu nước. Đó là yêu nước dựa trên quan điểm giai cấp công nhân, yêu nước mở rộng ra thành tình yêu vô cùng rộng lớn đối với nhân dân lao động, những người cùng khổ, đối với giai cấp công nhân các nước trên thế giới. Trên cơ sở tư tưởng của giai cấp công nhân, Người đã nêu ra nội dung mới: Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì chỉ có chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mình mới ngày một ấm no thêm, Tổ quốc ngày một giàu mạnh thêm.

Trong các giá trị truyền thống Việt Nam, tinh thần nhân nghĩa, truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái là những nét hết sức đặc sắc. Truyền thống này hình thành một lúc với sự hình thành dân tộc, từ hoàn cảnh và nhu cầu đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên và giặc ngoại xâm. Người Việt Nam gắn bó với nhau trong tình làng, nghĩa xóm. Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát huy sức mạnh bốn chữ “đồng” (đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh). Người thường nhấn mạnh, nhân dân ta đã từ lâu sống với nhau có tình có nghĩa. Tình nghĩa ấy được Người nâng lên cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà. Ngay cả khi tiếp thu lý luận Mác-Lênin – đỉnh cao của trí tuệ nhân loại – cũng phải trên nền tảng của giá trị truyền thống. Người nhấn mạnh: Hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu kinh sách mà sống không có tình nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin được…Tư tưởng đại nhân, đại nghĩa ở Hồ Chí Minh là phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của con người, là cứu nước, độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, tạo mọi điều kiện cho con người phát triển. Trong văn hóa đạo đức Việt Nam, chữ “Nghĩa” có ý nghĩa là lẽ phải, ngay thẳng. Nguyễn Trãi đã từng nói: Phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, nên “công to phải lấy nhân nghĩa làm đầu”, Hồ Chí Minh lấy chữ nghĩa để phân rõ bạn thù. Ai làm điều gì có lợi cho nhân dân, cho Tổ quốc đều là bạn. Bất kỳ ai làm điều gì có hại cho nhân dân và Tổ quốc đều là kẻ thù.

Trong những giá trị truyền thống cao đẹp của dân tộc, Hồ Chí Minh đã kế thừa tinh thần cộng đồng, một lối sống thành thực, thân ái, những thuần phong mỹ tục, trở thành những yếu tố đậm nét trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Ngay từ năm 1947, trong khi cuộc chiến chống thực dân Pháp đang diễn ra quyết liệt, người đã nói đến đời sống mới của một người, một nhà, một làng và khắp cả nước. Xoay quanh hạt nhân của đời sống mới là cần, kiệm, liêm, chính. Hồ Chí Minh đã nói đến thuần phong mỹ tục, không có cờ bạc, hút xách, bợm bài, trộm cắp. Người nhắc đến tục ngữ “lá lành đùm lá rách”, “đói cho sạch rách cho thơm”. Và, nếu một mình no ấm mà nỡ để đồng bào xung quanh đói rét…, thì dù giàu cũng không hưởng được. Người nói: Cách cư xử đối với đồng bào thì nên thành thực, thân ái, sẵn lòng giúp đỡ…Nhiều lần, Người nhấn mạnh đến việc xây dựng và phát triển thuần phong mỹ tục, tức là phát triển một trong những giá trị truyền thống. Mặt khác, khi trân trọng giữ gìn thuần phong mỹ tục, Hồ Chí Minh luôn gắn với việc phê phán, bài trừ đồi phong, bại tục. Người đã nói đến việc “khôi phục vốn cũ” với một tinh thần trân trọng các giá trị của người xưa để lại như: tương thân tương ái, tận trung với nước, tận hiếu với dân…Song, Người yêu cầu xóa bỏ cái xấu (tính lười biếng, tham lam…), sửa đổi các phiền phức (cúng bái, cưới hỏi quá xa xỉ).

2- Hồ Chí Minh tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại

Nói đến văn hóa nhân loại có tầm cỡ vĩ đại nhất và ảnh hưởng lớn nhất đối với Hồ Chí Minh là phải nói đến chủ nghĩa Mác-Lênin. Có thể nói, Hồ Chí Minh đã tiếp thu phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin và ứng dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của đất nước, đưa cách mạng Việt Nam giành nhiều thắng lợi vĩ đại và cống hiến nhiều vào kho tàng lý luận mác-xít cũng như phương pháp hoạt động sáng tạo của cuộc cách mạng vô sản.

Xuất thân trong một gia đình khoa bảng, với tư chất thông minh tuyệt vời, từ nhỏ, Hồ Chí Minh đã được giáo dục Hán học và đã tiếp thu nền văn hóa phương Tây tại trường Quốc học Huế. Khi bôn ba khắp năm châu, bốn bể, Người vừa hoạt động cách mạng, vừa học hỏi không ngừng. Người đã thông thạo các ngôn ngữ tiêu biểu cho nền văn minh của nhân loại, am tường các nền văn hóa Đông, Tây, kim, cổ. Khi tiếp thu các nền văn hóa, Người bao giờ cũng phân tích các yếu tố giá trị toàn nhân loại và vĩnh cửu. Người đã làm giàu trí tuệ của mình bằng tinh thần văn hóa nhân loại. Người là tượng trưng cho sự kết hợp hài hòa giữa các nền văn hóa và tỏa ra một nền văn hóa của tương lai.

Tiếp thu văn hóa phương Đông, trước hết là Nho giáo, Hồ Chí Minh đã đánh giá đúng đắn vai trò của Nho giáo và người sáng lập ra nó là Khổng Tử và đã đặc biệt khai thác những mặt tích cực của tư tưởng Nho giáo.

Hơn ai hết, Hồ Chí Minh hiểu rõ những mặt bất cập, hạn chế của Nho giáo. Đó là trong Nho giáo có những yếu tố duy tâm, lạc hậu, phản động như tư tưởng đẳng cấp, khinh lao động chân tay, khinh phụ nữ, khinh thường thực nghiệm, doanh lợi…Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng thấy được những mặt tích cực của nó và khuyên chúng ta “nên học”. Theo Người, mặt tích cực của Nho giáo là nó đề cao văn hóa, lễ giáo, tạo ra truyền thống hiếu học với châm ngôn “Học không biết chán, dạy không biết mỏi”. Về điểm này, Nho giáo hơn hẳn các học thuyết cổ đại, bởi vì nhiều học thuyết cổ đại chủ trương ngu dân để dễ cai trị.

Hồ Chí Minh đã khai thác Nho giáo, lựa chọn những yếu tố tich cực, phù hợp để phục vụ cho nhiệm vụ cách mạng.

Tiếp thu tư tưởng vị tha ở Phật giáo, Hồ Chí Minh là hiện thân của lòng nhân ái, độ lượng, khoan dung – những nét đặc trưng của giáo lý đạo Phật.

Thứ nhất là, tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ cứu nạn, thương người như thể thương thân – một tình yêu bao la không chỉ dành cho con người mà dành cho cả chim muông, cây cỏ.

Thứ hai là, nếp sống có đạo đức, trong sạch, giản dị, chăm lo làm điều thiện.

Thứ ba là, tinh thần bình đẳng, tinh thần dân chủ chất phác chống lại mọi phân biệt đẳng cấp.

Thứ tư là, Phật giáo Thiền tông đề ra luật “chấp tác”: “nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực” (một ngày không làm, một ngày không ăn), đề cao lao động, chống lười biếng. Cuối cùng, Phật giáo vào Việt Nam, gặp chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc ta, đã hình thành nên Thiền phái Trúc lâm Việt Nam, chủ trương sống không xa rời, lẩn tránh mà gắn bó với đời sống của nhân dân, với đất nước, tham gia vào cộng đồng, vào cuộc đấu tranh của nhân dân, chống kẻ thù dân tộc.

Như thế, có thể nói, những mặt tích cực của Phật Việt Nam đã đi vào đời sống tinh thần dân tộc và nhân dân lao động. Gia đình Bác Hồ là gia đình nhà nho nghèo, gần gũi với nông dân, cũng thấm nhuần tinh thần đó và để lại dấu ấn trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Ngoài ra, còn có thể tìm thấy nhiều trích dẫn khác nữa về các nhà tư tưởng phương Đông như Lão Tử, Mặc Tử, Quản Tử… trong các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh. Cũng như sau này, khi đã trở thành người mác-xít, Nguyễn Ái Quốc vẫn tìm hiểu thêm về Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn và tìm thấy trong đó “những điều thích hợp với điều kiện nước ta”. Các tiêu chí của chủ nghĩa Tam dân là dân tộc – độc lập; dân quyền – tự do; dân sinh – hạnh phúc đã được Hồ Chí Minh rút gọn trong quốc hiệu của Việt Nam “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc”. Là người mác-xít tỉnh táo và sáng suốt, Hồ Chí Minh đã biết khai thác những yếu tố tích cực của tư tưởng và văn hóa phương Đông để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng nước ta.

Lĩnh hội tư tưởng văn hóa phương Tây: Trong ba mươi năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Hồ Chí Minh sống chủ yếu ở châu Âu nên cũng chịu ảnh hưởng rất sâu rộng của nền văn hóa dân chủ và cách mạng của phương Tây.

Khi xuất dương, Người đã từng sang Mỹ, đến sống ở Niu Oóc, làm thuê và thường đến thăm khu ở của người da đen. Trong các bài viết sau này, Người thường nhắc đến ý chí đấu tranh cho tự do, độc lập, cho quyền sống của con người được ghi lại trong Tuyên ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ. Người đã tiếp thu giá trị của tư tưởng nhân quyền với nội dung là quyền tự do cá nhân thiêng liêng trong bản tuyên ngôn này. Sau này Người đã phát triển nó thành quyền sống, quyền độc lập, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của tất cả các dân tộc. Nội dung nhân quyền được Người nâng lên một tầm cỡ mới trong Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam năm 1945.

Cuối năm 1917, Người từ Anh sang Pháp và quyết định sống và hoạt động ở thủ đô nước Pháp có ý nghĩa lịch sử rất lớn, mở ra một thời kỳ mới trong cuộc đời mình. Là Thủ đô của nước Pháp, Pa-ri cũng đồng thời là trung tâm văn hóa – nghệ thuật của Châu Âu. Các trào lưu triết học và các trường phái nghệ thuật nổi tiếng thế giới phần lớn đều được hình thành và ra mắt tại đây. Sống ở giữa nơi hợp lưu của các dòng văn hóa thế giới, Người đã có điều kiện thuận lợi để nhanh chóng chiếm lĩnh vốn tri thức của thời đại, đặc biệt là truyền thống văn hóa dân chủ và tiến bộ của nước Pháp.

Đến với quê hương của lý tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, Hồ Chí Minh được tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm của các nhà tư tưởng khai sáng: Von-te, Rút-xô, Mông-tét-xki-ơ, những lý luận gia của đại cách mạng Pháp 1789, như Tinh thần pháp luật của Mông-tét-xki-ơ, Khế ước xã hội của Rút-xô, v.v… tư tưởng dân chủ của các nhà khai sáng đã có ảnh hưởng tới tư tưởng của Người. Ngoài ra, Người còn hấp thụ được tư tưởng dân chủ và hình thành được phong cách dân chủ của mình từ trong cuộc sống thực tiễn. Rõ ràng là, ở Pháp, Người đã có thể hoạt động và đấu tranh cách mạng một cách tương đối tự do, thuận lợi hơn ở trên đất nước mình, dưới chế độ thuộc địa.

Nhờ được rèn luyện trong phong trào công nhân Pháp và sự cổ vũ, dìu dắt trực tiếp của nhiều nhà cách mạng và trí thức tiến bộ Pháp như M. Ca-sanh, P.V. Cu-tuya-ri-ê, G.

Mông-mút-xô…mà Hồ Chí Minh đã từng bước trưởng thành. Con người ấy, trên hành trình cứu nước, đã làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn trí tuệ của thời đại, Đông và Tây, vừa thâu thái, vừa gạn lọc để có thể từ tầm cao của tri thức nhân loại mà suy nghĩ và lựa chọn, kế thừa và đổi mới, vận dụng và phát triển.

Kế thừa lòng nhân ái, đức hy sinh của Thiên chúa giáo: Nói đến việc kết hợp văn hóa Đông, Tây trong con người Hồ Chí Minh, không thể không đề cập đến sự kế thừa lòng nhân ái, đức hy sinh, những giá trị cơ bản của Thiên chúa giáo. Người đã cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân lao động khỏi ách áp bức, bóc lột; đã là hiện thân của lòng nhân ái và đức hy sinh cao cả. Sau này, Người luôn luôn giáo dục cán bộ, đảng viên về lòng thương người, thương dân, thương các chiến sỹ ngoài mặt trận – đó là những tư tưởng thấm đậm những giá trị cao cả mang tính nhân loại mà Thiên chúa giáo đã khởi xướng và răn dạy.

Người lên án gay gắt những kẻ “giả danh Chúa” để thực hiện những “hành vi ác quỷ”: dẫn đường cho đội quân viễn chinh; cướp của cải, đánh đập, bắt giết người (đặc biệt là trẻ em); chiếm ruộng đất canh tác, v.v…Người coi những hành động đó là sự đi ngược lại và phản bội lòng nhân ái cao cả của Chúa, làm hoen ố tư tưởng lớn của Ngài là muốn mưu cầu phúc lợi cho xã hội. Người viết: “Nếu Chúa bất hạnh đã chịu đóng đanh trên cây thánh giá trở về cõi thế này, thì chắc Ngài sẽ vô cùng ngao ngán khi thấy “các môn đồ trung thành” của mình thực hiện đức khổ hạnh như thế nào”.

Người lên án những giáo sĩ đại diện cho chủ nghĩa tư bản phương Tây, những kẻ nhân danh Chúa để quan hệ mật thiết với thế lực thực dân, tham gia vào guồng máy của chủ nghĩa thực dân, xâm nhập về kinh tế và quân sự, áp đặt nền văn hóa thực dân, làm xuất hiện nguy cơ bá quyền văn hóa, v.v…

Tóm lại, Hồ Chí Minh tiếp thu các tinh hoa văn hóa nhân loại một cách có chọn lọc rồi vận dụng tinh hoa đó một cách sát hợp vào những điều kiện cụ thể của đất nước, của dân tộc vì mục đích không chỉ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc mình mà còn góp phần tích cực nhất vào sự nghiệp của các dân tộc khác trên thế giới./.

Theo TS. Hồ Văn Chiểu
Ban Tư tưởng – Văn hóa TW
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn