Thư viện

Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh – Bài 8

Một số vấn đề phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu về Hồ Chí Minh

~ oOo ~

Phần thứ nhất: MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ HỒ CHÍ MINH

Chương III: Một số nguyên tắc phương pháp luận đặc thù về nghiên cứu Hồ Chí Minh

Muốn trở thành một ngành khoa học có triển vọng, bộ môn tư tưởng Hồ Chí Minh, cần thiết phải tiến lên xây dựng được những nguyên tắc phương pháp luận riêng của mình, theo quan điểm: đối tượng nào, phương pháp ấy. Vậy những nguyên tắc mang tính đặc thù của bộ môn tư tưởng Hồ Chí Minh là gì? Đây là vấn đề đang trên đường nghiên cứu, tìm tòi, chưa có sẵn lời giải đáp. Để có câu trả lời tương đối đầy đủ và chính xác, cần phải có thời gian và công sức của nhiều người. Trước mắt, trong việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng, có một số vấn đề liên quan đến phương pháp luận cần được làm rõ.

I- Những khó khǎn trong nghiên cứu Hồ Chí Minh

1. Về đối tượng nghiên cứu

Như trên đã trình bày, chuyên ngành nghiên cứu Hồ Chí Minh lấy toàn bộ cuộc đời – sự nghiệp, tư tưởng – lý luận, đạo đức – phong cách – lối sống… của Hồ Chí Minh làm đối tượng nghiên cứu. Đây là một đối tượng vừa dễ, vừa khó. Cảm giác dễ là vì còn hình thức như chúng ta chỉ tập trung vào nghiên cứu có một con người, một vĩ nhân. Nhưng đây lại không phải là một đối tượng đơn nhất. Đảng ta đã đánh giá: cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cuộc đời “vô cùng oanh liệt và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ”. Người là một thiên tài đa diện: nhà yêu nước vĩ đại, nhà hoạt động quốc tế xuất sắc, chiến sĩ tiên phong trong phong trào giải phóng dân tộc, sứ giả của hoà bình và hữu nghị. Người vừa là nhà chính trị, nhà tư tưởng, nhà chiến lược quân sự, nhà ngoại giao, vừa là nhà vǎn, nhà thơ, nhà báo. UNESCO đã chung đúc lại, tôn vinh Người là “anh hùng giải phóng dân tộc và nhà vǎn hoá lớn”.

Trong khoảng hơn 20 danh nhân vǎn hoá đã được tổ chức này ra nghị quyết kỷ niệm trên toàn thế giới kể từ nǎm 1978 tới nay, chưa có người nào được ghi nhận vừa là vĩ nhân, vừa là anh hùng giải phóng dân tộc, vừa là nhà vǎn hoá lớn như Hồ Chí Minh. Vì vậy, nghiên cứu Hồ Chí Minh thuộc loại nghiên cứu phức hợp, đa ngành, vừa theo từng chuyên môn hẹp (của nhiều khoa học) vừa phải đi tới một tổng luận chung nhằm làm sáng tỏ những giá trị đặc sắc của Hồ Chí Minh như một chính thể. Có thể hình dung bước đầu về đối tượng – khách thể nghiên cứu Hồ Chí Minh trên mấy phương diện sau đây: Thứ nhất, do bản chất con người là tổng hoà các quan hệ xã hội nên nghiên cứu về Hồ Chí Minh trước hết phải tìm hiểu toàn bộ các quan hệ xã hội chủ nghĩa của Người, từ quê hương, gia đình, nhà trường, xã hội, thời đại, … Thứ hai, nghiên cứu Hồ Chí Minh là nghiên cứu toàn diện và hệ thống về Người bao gồm: – Con người Hồ Chí Minh. Người là một nhà tư tưởng lớn, nhà lý luật kiệt xuất của dân tộc, của Đảng ta, của cách mạng Việt Nam, của phong trào giải phóng dân tộc trong thời đại cách mạng vô sản ở thế kỷ XX; một chính khách có tầm cỡ trong đời sống chính trị quốc tế, danh nhân vǎn hoá thế giới.

Cùng với những đỉnh cao đã được lịch sử thừa nhận, Hồ Chí Minh lại là một con người gần gũi và thân thiết với mọi người trong đời thường. Điều đó là tǎng thêm sức hấp dẫn, truyền cảm của Hồ Chí Minh trong đời sống hiện thực và tôn vinh một cách thực chất giá trị nhân cách của Người cùng với những ảnh hưởng sâu rộng của nhân cách đó trong toàn xã hội, làm đậm nét hơn một chác chân thực và tự nhiên cái dấu ấn của thiên tài cá nhân đối với lịch sử.

Con người Hồ Chí Minh gắn liền với cuộc đời – sự nghiệp – tư tưởng – đạo đức của Người, kết hợp giữa cội nguồn vǎn hoá – lịch sử của dân tộc với sự thâu thái tinh hoa của vǎn hoá nhân loại, với tác động và ảnh hưởng trực tiếp từ chủ nghĩa Mác – Lênin và thời đại cách mạng vô sả…, tất cả được chung đúc lại làm nên sự nghiệp Hồ Chí Minh. Sự nghiệp ấy lại trở thành sự nghiệp của Đảng, của dân tộc – một sự nhất quán hiếm thấy giữa con người và cuộc đời, tư tưởng và sự nghiệp – mà không phải một vĩ nhân nào cũng có thể đạt tới một sự thống nhất trọn vẹn như thế. Do đó, nét đặc trưng bao trùm con người Hồ Chí Minh là vĩ đại trong sự giản dị, một sự giản dị vĩ đại. Tính cao cả của sự thật này làm cho Hồ Chí Minh khi còn sống đã là một trong số hiếm hoi những nhân vật lỗi lạc được huyền thoại hoá, nhưng là huyền thoại để khẳng định chân giá trị của một con người lý tưởng, có thật trong đời chứ không phải một hiện tượng tôn giáo hoá, thần thánh hoá.

Cũng như vậy, Hồ Chí Minh đã đi trọn lôgích cuộc đời mình để trở về cõi vĩnh hằng nhưng thực tế là Hồ Chí Minh vẫn sống mãi trong đời sống tâm thức của những người đang sống, trong sự nghiệp đang được dựng xây theo tư tưởng của Người. – Tư tưởng Hồ Chí Minh: đó là một hệ thống lớn với nhiều phương diện, nhiều lĩnh vực, bao quát sự chú ý sâu rộng và uyên bác của Người mà tiêu biểu nhất là tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó còn là tư tưởng về triết học, chính trị, quân sự, kinh tế, quản lý xã hội, giáo dục đào tạo con người, phát triển vǎn hoá và trau dồi đạo đức, nhân cách, là đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, là chiến lược và sách lược cách mạng nhằm đi tới một xã hội tốt đẹp cho con người và vì hạnh phúc, tự do của tất cả mọi người.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một thể nghiệm sinh động đầy sáng tạo, và vì sáng tạo mà Người có được những đóng góp quý báu vào sự phát triển của chủ nghĩa Mác – Lênin. Vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh là khoa học, cách mạng và hiện đại. – Đạo đức Hồ Chí Minh: Sự tu dưỡng và thực hành đạo đức cá nhân đồng thời làm hết sức minh để giáo dục đạo đức cho toàn xã hội là những điểm nổi trội trong nhân cách Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh là người đề xướng và thực hành đạo đức cách mạng đồng thời là tấm gương tuyệt vời về cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. – Lối sống và phong cách Hồ Chí Minh: Lối sống và phong cách Hồ Chí Minh là biểu tượng đầy sức thu hút về sự liêm khiết, thanh cao, giản dị. Đó là một mẫu mực của lối ứng xử có vǎn hoá, có tác dụng giáo dục đối với mọi người một cách sâu sắc, tự nhiên. Lối sống và phong cách Hồ Chí Minh biểu hiện trong đời thường hàng ngày đã cảm hoá, thuyết phục và thu phục được lòng người bởi lẽ con người được yêu thương, tôn trọng và tin cậy.

Tất cả những cái thật và cái đẹp ấy phản chiếu cái đúng và cái tốt từ Hồ Chí Minh lan toả ra xung quanh… Chính vì vậy Hồ Chí Minh làm sáng tỏ quan niệm “phong cách tức là người” và phong cách Hồ Chí Minh là một phong cách vǎn hoá Việt Nam. Trong hệ thống hoàn chỉnh và hoàn hảo ấy, con người – Tư tưởng – Đạo đức – Lối sống – Phong cách Hồ Chí Minh đem lại hình ảnh trọn vẹn về nhân cách Hồ Chí Minh – biểu tượng của chủ nghĩa nhân đạo hiện thực, của chủ nghĩa nhân vǎn hiện đại, vừa thể hiện tinh thần thời đại, vừa thấm nhuần bản sắc Việt Nam. Thứ ba, nghiên cứu Hồ Chí Minh trong tính toàn diện và hệ thống những vấn đề lớn nêu trên (mà trong mỗi vấn đề đó, tự nó lại là một hệ thống cho phép khai thác vô số các vấn đề khác như một tập hợp các phân hệ) sẽ thấy Hồ Chí Minh là khách thể nghiên cứu. Trong khách thể này có nhiều đối tượng khác nhau: nghiên cứu tư tưởng với cấp độ lý luận, nghiên cứu đạo đức với cấp độ chuẩn mực và giá trị, nghiên cứu lối sống với cấp độ hành vi, ứng xử, hay nghiên cứu Con người – Tiểu sử – Sự nghiệp với cấp độ nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, thời đại…

Cái khó và điều quan trọng là, dù nghiên cứu đối tượng Hồ Chí Minh hay nghiên cứu toàn bộ khách thể Hồ Chí Minh đều phải tìm ra mối liên hệ, tính thống nhất chỉnh thể, cái đã định hình thành giá trị và cả những cái còn đang phát triển, đang tiếp tục sinh thành trong cuộc sống, trong nhân dân. Thứ tư, nghiên cứu Hồ Chí Minh dù là nghiên cứu đối tượng hay khách thể thì những quá trình nghiên cứu này đều thống nhất – đồng nhất ở Hồ Chí Minh như một hiện tượng vǎn hoá độc đáo. Hồ Chí Minh là một vĩ nhân, một danh nhân vǎn hoá. Học tập, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, theo gương đạo đức và nhân cách Hồ Chí Minh không phải dễ. Song, từ mỗi người bình thường đến toàn Đảng, toàn dân ta và các dân tộc, bạn bè anh em trên thế giới đều có thể và có nhu cầu học tập, noi gương Hồ Chí Minh. Trong thực tế đang nảy sinh hiện tượng: mỗi người đến với Hồ Chí Minh, trở về với Hồ Chí Minh để khám phá chính mình – dựa trên sự hiểu biết về Hồ Chí Minh theo cách của riêng mình.

Nghiên cứu khoa học về Hồ Chí Minh, thông qua sự mẫn cảm của chủ thể nghiên cứu đối với đối tượng, khách thể của mình, phải sống và làm việc theo gương sáng của nhân cách Hồ Chí Minh. Đây thực là một động lực tinh thần to lớn cần được nhận thức và khai thác về sự phát triển của con người và xã hội Việt Nam trong hiện tại và trong tương lai.

2. Về tư liệu nghiên cứu

Như đã trình bày trong phần dẫn luận, công tác tư liệu học về Hồ Chí Minh những nǎm qua đã có những bước phát triển mới và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Bộ Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử gồm 10 với trên một vạn sự kiện đã qua thẩm định, xác minh khoa học, tuy không tránh khỏi những nhược điểm, song là bộ sách công cụ có thể tin cậy được. Việc xuất bản lần thứ hai bộ “Hồ Chí Minh – Toàn tập”, gồm 12 tập, được bổ sung thêm gần 3000 trang tư liệu mới, trong đó có nhiều tư liệu gốc lần đầu tiên được công bố, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà nghiên cứu ngày càng tiếp cận được những tư tưởng đích thực của Hồ Chí Minh, đặc biệt ở thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám 1945, giúp cho việc lý giải nguồn gốc, sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh có thêm cǎn cứ khoa học và sức thuyết phục cao hơn. Tuy nhiên, hiện nay còn một bộ phận tư liệu rất quan trọng về Hồ Chí Minh vẫn chưa có đủ điều kiện để sưu tầm và khai thác. Hồ Chí Minh của chúng ta có 30 nǎm sống ở nước ngoài, từng đặt chân lên khoảng 26 nước, hoạt động bí mật, đi Âu về á, đã nhiều lần phải thay tên đổi họ.

Cho đến nay chúng ta vẫn chưa có điều kiện khảo sát kỹ nhiều giai đoạn trong tiểu sử của Người, thí dụ: Những nǎm 1912 – 1913 ở Mỹ, Người đã làm gì, có những hoạt động học hỏi, nghiên cứu gì ? Cả hai giai đoạn này chưa có điều kiện làm rõ. Như chúng ta đã biết, ngay từ lúc sinh thời, Hồ Chí Minh đã đi vào huyền thoại. Vậy trong các mẩu chuyện, sự kiện hiện có, cái gì là thật, cái gì là huyền thoại. Đất nước ta, dân tộc ta có truyền thống biết ơn những người có công với nước, nên thờ phụng rất nhiều các anh hùng cứu nước trong lịch sử, không riêng gì với lãnh tụ Hồ Chí Minh. Giải thích hiện tượng này như thế nào để đạt tới chân lý khoa học mà vẫn dung hợp được lòng ngưỡng mộ, kính yêu của nhân dân đối với lãnh tụ, vốn cũng là một tình cảm rất chân thực, quả là một việc không đơn giản, vì ở đây lôgích của huyền thoại không đi ngược lại lôgích của khoa học mà chỉ tạo đường viền cho nó nổi bật hơn mà thôi.

Đương nhiên, hồi ký, mẩu chuyện, giai thoại,… không phải là tư liệu trực tiếp của khoa học tiểu sử, nhưng khi viết về thời niên thiếu của Hồ Chí Minh, các nhà viết tiểu sử không thể không biết đến chúng, vấn đề là xử lý và sử dụng chúng như thế nào được coi là phù hợp. Vì vậy có người bảo sự kiện này, chi tiết kia trong một giai thoại, hồi ký nào đó là không có thực. Nhưng khi Hồ Chí Minh đã trở thành biểu tượng của dân tộc rồi, đã đi vào đời sống tinh thần của dân tộc như một sức mạnh vật chất rồi thì phân biệt được giữa cái thực và cái huyền thoại khác nhau như thế nào, chúng ta phải xem xét và giải quyết nó như thế nào, đó cũng là một vấn đề của phương pháp luận nghiên cứu Hồ Chí Minh mà đến nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa hoàn toàn nhất trí với nhau.

Một thí dụ khác: Hồ Chí Minh nói tương đối ít về tư tưởng nhà nước và pháp quyền, nhưng Người là biểu tượng của một nhà nước kiểu mới, nhà nước của dân, do dân, vì dân. Người đã khai sinh ra một nhà nước dân chủ, mà quyền lực là thuộc về nhân dân. Tư tưởng đó đã thấm sâu vào nhân dân, và nhân dân đòi hỏi chúng ta phải làm theo tinh thần đó. Có những vấn đề cụ thể mà Người chưa nói tới, nhưng dựa theo tư tưởng của Người mà nhân dân thêm thắt, bổ sung vào. Đây là chỗ để các nhà nghiên cứu phải lý giải: khi tư tưởng Hồ Chí Minh đi vào cuộc sống, thì được nhân dân tiếp nhận, bổ sung và phát triển như thế nào. Nói thế để thấy rằng, trước một đối tượng nghiên cứu như vậy đòi hỏi chúng ta phải dày công sưu tầm, xác minh, đối chiếu tư liệu một cách rất thận trọng. Cuộc đời của Hồ Chí Minh vốn đã vô cùng oanh liệt và phong phú, bất cứ một sự thêm thắt nào, dù chân thành đến đâu, cũng chỉ làm giảm vẻ đẹp chân thực vốn có của nó, hơn nữa còn có hại, tạo kẽ hở cho kẻ thù lợi dụng, xuyên tạc công việc nghiên cứu của chúng ta.

3. Về cái khó của việc lĩnh hội và kiến giải di sản tư tưởng của các vĩ nhân

Có tình hình là, cùng một mệnh đề lý luận thường có nhiều cách hiểu khác nhau, dẫn đến những lập luận khác nhau. Vậy ai được xem là hiểu đúng, ai bị coi là hiểu sai ? Cần phải thấy rằng, tư tưởng của vĩ nhân vốn rất sâu sắc và uẩn súc, không phải một lúc có thể hiểu hết ngay được. Vả lại người trích dẫn và giải thích tư tưởng của vĩ nhân thường xuất phát từ những động cơ khác nhau, từ vốn sống, vốn hiểu biết riêng nên có khi hiểu đúng, khi hiểu chưa đúng, có khi còn ngộ nhận. Đó là nói về hạn chế do trình độ chủ quan của người nghiên cứu; nhưng cũng có thể do trình độ phát triển khách quan của xã hội, của thành tựu học thuật hôm nay mới cho phép hiểu đến mức ấy, các thế hệ sau sẽ đem lại những phát hiện mới, sâu hơn, đầy đủ hơn hoặc đảo ngược lại. Đó là chuyện bình thường trong khoa học, nêu lên để thấy hết cái khó của việc lĩnh hội và kiến giải những tư tưởng sâu sắc của vĩ nhân.

Xuất phát từ quan điểm: nói và viết sao cho quần chúng có thể hiểu được, hiểu được để làm được, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn cách viết ngắn gọn, giản dị, thiết thực, hầu hết những khái niệm và thuật ngữ khó hiểu đều được thay thế bằng những từ ngữ thông thường. Tuy nhiên, do tư tưởng của Người là những chân lý lớn của thời đại được trình bày dưới một hình thức cô đọng, hàm súc, cho nên nó là sự giản dị sau khi đã phức tạp, là cụ thể sau khi đã khái quát, là cái chất phác, hồn nhiên sau khi đã tinh tế, cái đạm sau khi đã nồng, cho nên không phải câu nào, ý nào của Người cũng có thể lĩnh hội được ngay được sự sâu sắc của nó, một sự sâu sắc làm ngạc nhiên cả những bậc thức giả uyên thâm nhất.

Vì vậy không có gì lạ, đến nay vẫn còn nhiều câu nói, mệnh đề của Người còn được hiểu khác nhau, chưa nói có lúc còn bị hiểu sai. Xin dẫn ra một câu nói của Người: “Hễ Chính phủ nào mà có hại cho dân chúng, thì dân chúng phải đạp đổ Chính phủ ấy đi, và gây lên Chính phủ khác”. Câu này Người lấy ý trong “Tuyên ngôn độc lập” của nước Mỹ và được đưa vào cuốn Đường kách mệnh. Có ý kiến cho rằng: Người đưa câu này vào Đường kách mệnh là để kêu gọi nhân dân ta nổi lên làm cách mạng lật đổ chính phủ thực dân, phong kiến, lập nên chính phủ dân chủ cộng hoà. Câu đó không đúng với hoàn cảnh hiện nay khi chính quyền đã về tay nhân dân. Nếu bây giờ lại trích dẫn, đề cao câu này của Hồ Chí Minh, như thế là có tà tâm, ác ý! Hiểu như vậy có đúng không?

Thực ra, Người không chỉ nói câu này có một lần. Sau Cách mạng Tháng Tám, Người vẫn nhắc lại. Nǎm 1947, đến thǎm tỉnh Thanh Hoá, trong bài nói chuyện với đại biểu cán bộ, nhân dân trong tỉnh, Người đã dẫn lại ý đó: “Dân là chủ thì Chính phủ phải là đày tớ… Nếu Chính phủ làm hại dân, thì dân có quyền đuổi Chính phủ”. Bởi chính quyền đã là của dân rồi nên Người lại càng đề cao quyền lực của dân. Tất nhiên, chúng ta phải hiểu khái niệm “đuổi” (cũng như khái niệm “cách mạng xã hội”) với nhiều hình thức: có thể thông qua một cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với Chính phủ, diễn ra trong quốc hội của dân để bầu ra một chính phủ khác.

Cũng có thể thông qua con đường phê bình, bãi miễn một vài thành viên nào đó của chính phủ nếu họ không còn đủ tư cách, không đủ trình độ xứng đáng để làm việc. Có rất nhiều hình thức và đã được ghi vào Hiến pháp, chỉ có điều là có thực thi hay không. Nói về đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh luôn luôn nhấn mạnh đến chuẩn mực “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”. Trong một cuộc hội thảo tại Hà nội, có người phát biểu: Cần kiệm liêm chính thì đúng quá rồi, còn tại sao lại phải chí công mà vô tư ? Chuẩn mực này liệu có còn đúng nữa không, nhất là ở thời kỳ đổi mới, mở cửa hiện nay, chúng ta đang đề cao vai trò cá nhân, động lực cá nhân, thừa nhận lợi ích chính đáng của cá nhân, vậy nhấn mạnh phải “chí công”, tất cả vì cộng đồng, vì tập thể mà phải “vô tư”, tức là quên cá nhân đi, như vậy thì có đúng không?

Đây là một cách hiểu rất sai lệch và thô thiển về chuẩn mực này, trái với tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, nguyên nhân là do hiểu sai khái niệm. Công và tư mà Người nói ở đây không phải là quan hệ tập thể và cá nhân. Chí công có nghĩa là phải rất mực công minh, chính trực, phải luôn luôn công bằng và công tâm (như người xưa vẫn gọi thượng đế là đấng chí công !). Còn vô tư tức là không được thiên tư, thiên vị (impartial), đã nắm luật pháp và xử theo luật thì không được có lòng riêng. Nó hoàn toàn khác với khái niệm vô ngã của Phật giáo, nghĩa là phải quên hẳn bản thân mình, phải xoá bỏ cá nhân đi ! Còn quan hệ tập thể – cá nhân lại là một vấn đề khác. Đúng là Hồ Chí Minh rất đề cao chủ nghĩa tập thể và lên án chủ nghĩa cá nhân. Nhưng cần phân biệt cá nhân và chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là một lối sống ích kỷ, nó chỉ thấy công lao của mình mà không thấy công lao của người khác, chỉ thấy khuyết điểm của người khác mà không thấy khuyết điểm của chính mình, đúng như chúa Jésus đã từng phê phán một số tông đồ hư hỏng, “chỉ thấy cái dằm nhỏ trong con mắt của người khác mà không thấy cả xúc gỗ lớn trong chính con mắt của ngươi!”.

Do đó, Hồ Chí Minh viết: “Vết tích xấu nhất và nguy hiểm nhất do chế độ cũ để lại là chủ nghĩa cá nhân”. Trái lại, Người rất xem trọng cá nhân: “Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình… Không có chế độ nào tôn trọng con người, chú ý xem xét lợi ích cá nhân và bảo đảm cho nó được thoả mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa”. Hơn ai hết, Hồ Chí Minh rất có ý thức về bản lĩnh, bản sắc của cá nhân mình nên Người cũng rất chú ý phát huy vai trò của từng cá nhân. Người thấy “rừng” và thấy cả từng “cây”, Người không quên một ai cả. Một mệnh đề nổi tiếng khác của Hồ Chí Minh cũng chưa hoàn toàn được hiểu một cách đúng đắn. Trong Di chúc, Người cǎn dặn mỗi cán bộ, đảng viên “phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Có người bǎn khoǎn: đã coi cán bộ là đầy tớ thì còn tư cách gì để có thể làm người lãnh đạo ? Khái niệm “đầy tớ” là do Người chuyển nghĩa từ hai chữ “công bộc” (quan giả dân chi công bộc). Nhưng Người không chỉ nhấn mạnh có một vấn đề công bộc mà nhấn mạnh cả về người lãnh đạo, khẳng định tư cách người lãnh đạo trước, người đày tớ sau. Cần hiểu đúng tinh thần Hồ Chí Minh: làm đày tớ với tư cách người lãnh đạo và làm lãnh đạo cũng chỉ như “người lính biết vâng lệnh quốc dân ra mặt trận”, trung thành, tận tuỵ như một người công bộc; nếu kết hợp được hài hoà cả hai vế, hai tinh thần ấy, thì đó là hình ảnh lý tưởng về người cán bộ cách mạng mà Người mong muốn. Nêu ra một vài thí dụ như vậy cũng chỉ nhằm nói lên một điều: tuy tư tưởng Hồ Chí Minh vốn được diễn đạt dưới một hình thức ngắn gọn, giản dị như vậy, nhưng để lĩnh hội, kiến giải được hết chiều sâu và sự tinh tế của những tư tưởng ấy, quả là không đơn giản. Chính vì vậy, công việc đó cần được soi sáng, dẫn đạo bởi một số nguyên tắc phương pháp luận nhất định.

PGS, PTS. Hoàng Chí Bảo; GS. Nguyễn Đǎng Mạnh;

cpv.org.vn

Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh – Bài 9

Một số vấn đề phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu về Hồ Chí Minh

~ oOo ~

Phần thứ nhất: MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ HỒ CHÍ MINH

Chương III: Một số nguyên tắc phương pháp luận đặc thù về nghiên cứu Hồ Chí Minh

II. Đề xuất một số nguyên tắc mang tính đặc thù của việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh

Trên cơ sở những kinh nghiệm và thành tựu nghiên cứu về Hồ Chí Minh những nǎm gần đây, nhất là qua tác phẩm của các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta đã viết về Người, đồng thời đào sâu vào đối tượng nghiên cứu, chúng tôi mạnh dạn đề xuất một số nguyên tắc phương pháp luận mang tính đặc thù của một bộ môn đang trên đường hình thành, chỉ dám coi là những gợi ý để các nhà nghiên cứu cùng thảo luận, bổ sung và phát triển. Những nguyên tắc này được vận dụng chung cho việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Song, dù nghiên cứu ở lĩnh vực nào, xét đến cùng cũng là để nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, bất kể đó là tư tưởng kinh tế, tư tưởng chính trị, tư tưởng đạo đức hay tư tưởng vǎn hoá – vǎn nghệ,…

1. Phải xuất phát từ vǎn kiện, tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ những tư liệu, sự kiện lịch sử chính xác để bảo đảm tính chân thực, khách quan về bản thân đối tượng

1.1. Nghiên cứu Hồ Chí Minh, nhất là nghiên cứu về tư tưởng, trước hết phải cǎn cứ vào vǎn kiện, tác phẩm của Người. Điều này tưởng không có gì mới. Vǎn bản không phải là điều quan trọng nhất, cái quan trọng hơn là phải xem người đời sau đã đọc và hiểu vǎn bản đó như thế nào. Tất nhiên nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh gắn liền với thực tiễn là phải tìm hiểu xem tư tưởng của Người đã đi vào quần chúng, được nhân dân tiếp nhận và đã tạo nên sức mạnh vật chất to lớn ra sao. Nhưng điều đó không có gì giống với quan điểm của trường phái herméneutique (chú giải học) ở phương Tây, nó chỉ chú trọng đến sự thông hiểu của đọc khi tiếp thu vǎn bản, nghĩa là xem cái quyết định là cái được tạo ra ở người đọc chứ không phải là cái đã có trong vǎn bản. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh như là một bộ môn khoa học, trước hết phải xuất phát từ vǎn kiện, tác phẩm của Người.

Nếu chỉ cǎn cứ vào sự thông hiểu của người đọc, thì như trên đã nói, đối với các mệnh đề kinh điển, mỗi người có thể hiểu khác nhau, thậm chí rất xa nhau. Vì vậy, để không rơi vào gán gép tuỳ tiện, thêu dệt chủ quan thì phải bám vào vật liệu khách quan, vào ngôn ngữ của vǎn bản đã biểu đạt cái tư tưởng vốn có của vĩ nhân. Đây là nguyên tắc đầu tiên, Trước nhất, tuy không phải là duy nhất. Nói như vậy không hề có ý định cổ vũ cho lối nghiên cứu “tầm chương trích cú”, bám vào câu chữ một cách máy móc, thô thiển. Nhưng cũng cần tránh lối nói “vo”, coi thường mọi trích dẫn, vẫn dễ gây nghi ngờ cho người nghe, người đọc, liệu đó có phải đích thực là tư tưởng Hồ Chí Minh. Hay chỉ là tư tưởng suy diễn, áp đặt chủ quan của nhà nghiên cứu.

Thí dụ: Chủ tịch Hồ Chí Minh có tư tưởng về nhà nước pháp quyền không ? Đó là nhà nước của dân, do dân, vì dân hay là nhà nước “thân dân” ? Cǎn cứ vào đâu mà nói như vậy ? Chúng ta đã biết, nǎm 1919 đại diện cho một nhóm người Việt Nam yêu nước, khi đưa ra Yêu sách tám điểm gửi Hội nghị Vécxay, Nguyễn ái Quốc đã đòi phải bãi bỏ chế độ cai trị bằng sắc lệnh và thay vào đó bằng các đạo luật. Diễn ca điều thứ 7 của yêu sách này, Người đã viết “trǎm điều phải có thần linh pháp quyền !”. Sau khi chính quyền đã về tay nhân dân, Người lại viết: “Nước ta là một nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều là vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều là của dân, chính quyền từ xã đến chính phủ trung ương đều do dân cử ra”. Như vậy là từ rất lâu rồi Người đã từng nói đến một nhà nước pháp quyền, của dân, do dân, vì dân rồi chứ không phải chúng ta đã “hiện đại hoá” tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với sự đổi mới hiện nay.

Nếu cho rằng Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng một nhà nước “thân dân” thì đó là một sự cố tình gán gép, bởi vì tư tưởng “thân dân” thấp hơn tư tưởng về nhà nước của dân, do dân, vì dân của Người rất nhiều. Nhà nước của giai cấp thống trị, ở giai đoạn tích cực và tiến bộ, cũng chủ trương thân dân. Nhà nước phong kiến thời Lê Lợi, Lê Thánh Tông chủ trương thân dân, nhưng không phải là nhà nước của dân. Có người nói, khái niệm nhà nước của dân, do dân, vì dân đâu có phải là sáng tạo riêng của Hồ Chí Minh, nó là thành tựu của pháp quyền tư sản, có nguồn gốc từ các nhà triết học khai sáng. Đúng như vậy, nhưng cũng tư tưởng của Mác – Lênin, khi đã được Hồ Chí Minh tiếp nhận và thực hiện thì nó đã trở thành tư tưởng của Người rồi. Các nhà triết học khai sáng đề ra tư tưởng này khá sớm, nó là thành tựu của vǎn minh nhân loại, được giai cấp tư sản nắm lấy, nhưng chưa bao giờ thực hiện trong thực tế.

Dưới chế độ tư bản, nhà nước bao giờ cũng nằm trong tay giai cấp tư sản. Cũng có lúc nó tuyên bố là nhà nước “vì dân”, nhưng làm sao có thể vì dân được nếu như nhà nước đó không phải là của dân, không do dân lập ra và có quyền bãi miễn ? Còn như nói Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đào tạo ra được một đội ngũ cán bộ nhà nước có tác phong quần chúng, rất gần dân và thân dân, … thì đó chỉ là phong cách người cán bộ nhà nước, một khía cạnh của mối quan hệ giữa nhà nước với nhân dân chứ chưa phải là tư tưởng về bản chất của một nhà nước kiểu mới (nhà nước của dân, do dân, vì dân).

Như vậy, tính khách quan khoa học của việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi chúng ta trước hết phải dựa vào vǎn kiện, tác phẩm của Người. Để làm được điều này chúng ta còn gặp không ít khó khǎn vì cho đến nay một số tác phẩm của Hồ Chí Minh vẫn chưa tìm lại được: như Những người bị áp bức (Les opprimés), Con rồng tre (Le dragon en bambou), Nhật ký chìm tàu, Chủng tộc da đen, Khu vực đặc biệt, v.v.., nhiều bài báo Người viết cho tập san Inprékoorr, gửi từ Quảng Châu, qua Ban Phương Đông về Matxcơva, chưa được đǎng, nhiều bản thảo viết tay, nhiều ý kiến phát biểu ở các hội nghị,… đến nay vẫn chưa biết nằm ở đâu. Cái khó nữa là, trong những tài liệu của Người đã công bố, không kể những bài do chính tác giả sữa chữa lúc sinh thời, hoặc do cách dịch khác nhau,… có một số bài, vì nhiều lý do, đã được biên tập lạ, sửa chữa về chi tiết hoặc lược bớt một số câu, một số đoạn. Thí dụ, Tuyên ngôn độc lập, hiện có nhiều dị bản.

Điều đó gây trở ngại cho việc tiếp tư tưởng đích thực của Người, cũng như trong việc nghiên cứu ngôn ngữ và vǎn phong Hồ Chí Minh. Việc xuất bản lần thứ hai bộ Hồ Chí Minh – Toàn tập với tinh thần khôi phục lại tính lịch sử của vǎn bản, hiệu đính lại các bản dịch và bổ sung thêm nhiều tài liệu mới,… là một cố gắng đáng kể trong việc khắc phục tình hình nói trên, tuy nhiên khó khǎn chưa phải đã hết.

1.2. Dựa vào vǎn bản, sự kiện, câu trích dẫn đồng thời phải dựa vào bối cảnh xuất xứ của nó mà phân tích, đánh giá để không rơi vào suy diễn chủ quan, theo thiên kiến, từ phía này hay phía khác. Sự kiện Nguyễn Tất Thành viết đơn xin vào học Trường Thuộc địa Paris là điều có thật. Cần hiểu sự kiện này như thế nào ? Trong bối cảnh nào, do động cơ nào mà Nguyễn Tất Thành làm đơn xin vào học Trường Thuộc địa ? Một lá đơn ngắn được viết theo thể thức vǎn hành chính chưa thể nói được nhiều với chúng ta về tất cả những suy nghĩ của anh. Trong đơn có câu: “Tôi muốn trở thành có ích cho nước Pháp và cho đồng bào tôi, đồng thời muốn cho họ được hưởng những lợi ích của học thức” (Je désirerais deverin utile à la France vis-à-vis de mes compatriotes et pouvoir en même temps les faire profiter des bienfaits de I’ Instruction).

Nếu đặt câu này trong ngữ cảnh của một lá đơn xin học và trong mục tiêu ban đầu mà anh đã nói rõ “sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi”, để “xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”, thì việc anh xin vào học Trường thuộc địa để hy vọng sau này giúp cho đồng bào mình được hưởng những lợi ích của học vấn, điều đó hoàn toàn nhất quán với mục tiêu anh đề ra cho mình khi rời Tổ quốc đi sang phương Tây. Bình luận về sự kiện này, nhà sử học Pháp D. Hémery đã viết: lá đơn đó “trước hết thể hiện một ý muốn tạm thời được học,… nhưng đơn xin học còn bao hàm một ý nghĩa khác, tóm tắt trong khẩu hiệu thịnh hành lúc đó trong các thanh niên học sinh là “xuất dương du học rồi về nhà cứu nước”,… để phổ biến tri thức hiện đại trong các dân tộc thuộc địa”.

Sau nữa, thực tế lịch sử đã chỉ ra rằng không phải ai học xong Trường Thuộc địa cũng đều ra làm quan lại cho Pháp cả. Có người học xong đã chuyển qua học trường Beaux – Arts Paris để trở thành hoạ sĩ, như Lê Vǎn Miến; có người học xong về nước chỉ dạy học, nghiên cứu, viết vǎn như Bùi Kỷ, v.v.. Như vậy rõ ràng là những ai chỉ suy diễn, ngộ nhận bằng cách đánh đồng phương tiện với mục đích thì chỉ là sự xuyên tạc sự thật mà thôi. Như trên đã nói, quá trình tìm tòi chân lý của Hồ Chí Minh không phải là con đường thẳng tắp, giản đơn. Tư tưởng Hồ Chí Minh có quá trình hình thành và phát triển của nó.

Vì vậy, việc nắm vững bối cảnh xuất xứ của sự kiện, vǎn bản, câu trích dẫn sẽ giúp cho người nghiên cứu tránh được những biện luận, suy diễn nhầm lẫn không đáng có. Chẳng hạn, có người đã dẫn câu nói nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Muốn cứu nước, giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” để chứng minh rằng Người đã phát hiện ra chân lý lớn đó của thời đại từ rất sớm, ngay từ đầu những nǎm 20 của thế kỷ này! Đúng là từ thực tiễn hoạt động chính trị của mình, Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh ngay từ những nǎm 20 đã có nhiều bài viết thể hiện tinh thần của quan điểm trên, nhưng câu vừa được trích dẫn thì mãi đến nǎm 1959 Người mới viết, trong lời tựa cho cuốn “Những bài nói và viết chọn lọc”, do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Matxcơva xuất bản nǎm 1960. Lấy câu viết ở giai đoạn sau để diễn giải về tư tưởng của giai đoạn trước là một điều nên tránh, nếu muốn đảm bảo tính khách quan, chân thực lịch sử trong nghiên cứu, đánh giá.

2. Phải tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh trong tính thống nhất giữa nói và viết, sống và làm; giữa tư tưởng – đạo đức và phương pháp – phong cách; giữa đời sống chung và đời sống riêng

2.1. Nghiên cứu tư tưởng vĩ nhân phải dựa vào vǎn bản – những điều đã nói và viết – đó là điều trước nhất, nhưng không phải là duy nhất, quan trọng hơn còn phải xem họ đã sống và làm như thế nào. Bởi không phải một nhà tư tưởng, một nhà đạo đức nào cũng đạt tới sự nhất quán giữa nói và làm. Có người chỉ nói mà không làm, hoặc nói một đằng, làm một nẻo, nói thì hay làm lại dở. Hồ Chí Minh là một vĩ nhân đã đi chọn lôgích nhất quán của đời mình, đạt tới sự thống nhất cao độ giữa con người và sự nghiệp, tư tưởng và hành động, giữa thuyết giảng đạo đức và thực hành đạo đức, giữa ham muốn của cá nhân với ham muốn của cả dân tộc, giữa đời công và đời tư,… Người là một trí tuệ mẫn tiệp, có bút lực dồi dào và đã để lại cho chúng ta một khối lượng những trang viết không phải là nhỏ. Tuy nhiên, về cơ bản, Hồ Chí Minh là một nhà hiền triết hành động, tư tưởng của Người được thể hiện chủ yếu qua hành động. Nét đặc sắc ở nhà tư tưởng Hồ Chí Minh là nói ít làm nhiều, có làm được mới nói, có khi làm mà không nói.

Do đó, cần thiết phải tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh qua hành động. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh phải kết hợp tiếp cận vǎn bản với tiếp cận thực tế, phải tìm hiểu qua những việc làm và cách làm, qua hành động và ứng xử cụ thể từ việc lớn đến việc nhỏ, trong đời sống chung cũng như trong đời sống riêng, với người thân, bạn bè, đồng chí và kẻ thù,… Nói tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện trong những bài nói, bài viết của Người, mà còn thể hiện trong hoạt động phong phú, trong toàn bộ sự nghiệp vĩ đại mà Người đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta.

Thí dụ: Trong kháng chiến chống Pháp, nhất là trong kháng chiến chống Mỹ, khi phong trào cộng sản và công nhân có sự mâu thuẫn và bất đồng về quan điểm, vì lợi ích dân tộc và nhằm khôi phục sự đoàn kết, thống nhất trong phong trào cộng sản quốc tế, nên có nhiều điều Người không thể nói ra, viết ra, nhưng Người vẫn làm theo quan điểm, đường lối của mình và hướng dẫn cho đồng chí, học trò của mình chỉ đạo thực hiện theo đường lối đó.

Trong những trường hợp như trên, nếu chỉ tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh trên vǎn bản thì sẽ không đầy đủ và khó chính xác, mà phải tìm hiểu trong thực tiễn hành động, trong việc làm và cách làm của Người. Từ đó, một phương hướng nữa có thể và cần thiết phải kết hợp vận dụng, đó là tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh trong các tác phẩm của các đồng chí và học trò gần gũi đã được Người chỉ giáo, đã lĩnh hội, thấm nhuần và quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực hoạt động của mình. Đồng chí Trường-Chinh đã cho biết có một số bài báo của đồng chí đã cǎn cứ vào những ý kiến, chỉ thị của Bác Hồ mà viết ra, như bài Mười chính sách của khu giải phóng.

Các tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi, Bàn về cách mạng Việt Nam ,… đã được hoàn thành với sự trao đổi, góp ý, bổ sung của Hồ Chí Minh. Tìm hiểu tư tưởng quân sự của Hồ Chí Minh không thể không tìm hiểu sự quán triệt những tư tưởng đó trong các tác phẩm của đồng chí Võ Nguyên Giáp. Cũng như vậy, tìm hiểu tư tưởng vǎn hoá, tư tưởng về nhà nước và pháp luật của Hồ Chí Minh có thể tìm hiểu thêm qua các tác phẩm của đồng chí Phạm Vǎn Đồng với cương vị ban đầu là Phó thủ tướng rồi sau là Thủ tướng Chính phủ làm việc bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh cho đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, nghĩa là có khoảng 20 nǎm hoạt động về nhà nước bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã quán triệt tư tưởng của Người về nhà nước trong công tác hàng ngày.

2.2. Sự nhất quán trong đa dạng của nhân cách vǎn hoá Hồ Chí Minh được chi phối bởi một tư tưởng chỉ đạo nhất định, cần phát hiện ra tư tưởng cốt lõi đã quán xuyến toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp, tư tưởng và đạo đức, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh, đã liên kết chúng thành một hệ thống chặt chẽ, sâu sắc. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh là phải tìm ra cho được các hạt nhân cơ bản đó, cái tâm “bất biến” đã chi phối hành động “vạn biến” của Hồ Chí Minh thành một khối thống nhất. Cái tâm bất biến đó chính là tư tưởng về sự gắn bó thống nhất giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Điều này, chính Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Về nội dung viết mà các cô, các chú gọi là “đề tài”, thì tất cả các bài Bác viết chỉ có một “đề tài” là: chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Đồng chí Lê Duẩn cũng viết: “Người là tượng trưng sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý tưởng độc lập, tự do với lý tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, giữa chủ nghĩa yêu nước nồng nàn với tinh thần quốc tế vô sản chân chính”. Có khi, ở một thời điểm nhất định, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ nhấn mạnh vào chín chữ vàng chói lọi: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, nhưng đúng như đồng chí Trường Chinh đã chỉ rõ: “Chân lý của dân tộc “không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã được Hồ Chủ tịch nâng lên ngang tầm của thời đại và mang một nội dung mới: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”.

Việc xác định chính xác hạt nhân cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh có một ý nghĩa phương pháp luận rất quan trọng, nó trở thành phạm trù khởi điểm đồng thời cũng là phạm trù quy tụ cho mọi sự nghiên cứu, tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp và trước tác của Người. Đó là cơ sở tạo nên sự thống nhất giữa chủ nghĩa yêu nước với chân lý của thời đại là chủ nghĩa Mác – Lênin, giữa dân tộc với giai cấp, dân tộc và quốc tế, kháng chiến và kiến quốc, chống kẻ thù xâm lược và xây dựng chủ nghĩa xã hội, chiến đấu và sản xuất, cải tạo và xây dựng, v.v… Toàn cảnh bức tranh đa dạng, phong phú về tư tưởng và lý luận của Người được liên kết trên cái trục trung tâm đó; đồng thời tư tưởng cốt lõi, hạt nhân cơ bản đó cũng là ngọn đèn hướng đạo cho người nghiên cứu nhận thức, lĩnh hội được đúng đắn mọi chi tiết và khía cạnh cụ thể trong trước tác của Người.

Không thấu suốt nguyên tắc đó trong nghiên cứu dễ rơi vào tản mạn, cục bộ. Xa rời nguyên tắc đó trong đánh giá, lý giải, cũng dễ rơi vào chủ quan, khiên cưỡng. Tóm lại, nắm vững nguyên tắc về tính thống nhất này sẽ giúp cho người nghiên cứu lý giải thành công mối quan hệ biện chứng giữa cái đa dạng và cái bất biến, giữa chiến lược và sách lược, giữa anh hùng giải phóng dân tộc và nhà vǎn hoá, giữa nhà chính trị thực tiễn và nhà thơ trữ tình, v.v. trong cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh.

3. Phải tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự vận động, phát triển của cách mạng Việt Nam, trong mối quan hệ giữa lãnh tụ với quần chúng và gắn với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới hiện nay

3.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh hình thành và phát triển song song với quá trình vận động và phát triển của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đi lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, trong mối quan hệ với cách mạng thế giới. Tư tưởng Hồ Chí Minh có nội dung lịch sử cụ thể của nó. Những điều Người nói thường rất cụ thể, trong hoàn cảnh cụ thể với những đối tượng cụ thể, nhằm đạt tới những yêu cầu cụ thể. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh không được thoát ly những điều kiện cụ thể đó. Thí dụ, từ sau khi hoà bình lập lại, miền Bắc nước ta đã bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, những vấn đề về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc nói chung và xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ của nhà nước chuyên chính vô sản nói riêng đều là những vấn đề lý luận còn hết sức mới mẻ. Do chưa có kinh nghiệm bản thân, còn đang trên con đường tìm tòi, thể nghiệm, ta phải vừa làm, vừa học tập, tham khảo lý luận, kinh nghiệm, cách làm của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, trước hết là Liên Xô (cũ) và Trung Quốc.

Đó cũng là điều bình thường, không tránh khỏi của một thời kỳ mới mẻ, đang khai phá. Vì vậy, khi nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, cần có sự phân tích khách quan, khoa học, gắn với hoàn cảnh lịch sử cụ thể để tránh ngộ nhận, biến cái cá biệt, cái nhất thời thành cái phổ biến, cái cốt lõi; coi những điều đang tìm tòi, thể nghiệm là cái đã định hình, cái bản chất. Một lãnh tụ dù vĩ đại và sáng suốt đến đâu cũng chịu sự hạn chế của lịch sử, của thời đại cũng như cái hạn chế của đời sống một con người. Do biết chắt lọc, kế thừa những thành tựu tư tưởng – vǎn hoá của nhân loại mà Hồ Chí Minh trở thành lãnh tụ lỗi lạc của Đảng và dân tộc. Nhưng trí tuệ, thành tựu của thời đại mới phát triển đến đó, chưa thể mách bảo gì hơn thì không thể vì kính yêu lãnh tụ mà suy diễn, gán ghép cho Người những điều mà Người chưa nghĩ tới, chưa thực sự đặt ra và chín muồi trong tư tưởng của mình.

Cũng như vậy, chỉ nên coi những tư tưởng của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là những phác thảo ban đầu, Người chưa bao giờ có ý định đưa ra một mô hình nào về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Những cố gắng đi tìm trong tác phẩm của Hồ Chí Minh những giải pháp có sẵn cho những vấn đề của ta hiện nay chỉ là ảo tưởng. Người chỉ cung cấp cho ta một phương thức vận động tư duy, một phương pháp để phân tích thực tại xã hội, từ đó mà tự tìm ra những giải pháp cho các vấn đề hôm nay. Cần nhớ rằng, bản thân tư tưởng Hồ Chí Minh cũng vận động và phát triển. Thí dụ đầu những nǎm 20 của thế kỷ này, nhận định về mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, Người viết: “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới”.

Đến nǎm 1941, Hội nghị Trung ương lần thứ tám, dưới sự chủ toạ của Người, đã có sự phân tích và lập luận cụ thể: “… Nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn nǎm cũng không đòi lại được”. Về những vấn đề lý luận của chủ nghĩa xã hội cũng vậy, nếu còn sống đến ngày hôm nay, trước thực tiễn mới, chắc rằng Người cũng có những tìm tòi và phát hiện mới. Điều đó hoàn toàn phù hợp với lôgích phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh là “hướng tới phía trước, tiến lên không ngừng”.

3.2. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh còn phải tìm hiểu sự vận động và phát triển của nó trong đời sống tư tưởng, tình cảm và hành động cách mạng của quần chúng. Điều đó có nghĩa là phải chống khuynh hướng kinh viện chủ nghĩa, trách việc nghiên cứu tư tưởng và lý luận Hồ Chí Minh trong sự đóng kín của vǎn kiện, tác phẩm, không thấy được mối quan hệ chặt chẽ giữa lãnh tụ và quần chúng, giữa tư tưởng và lý luận cách mạng của Người với thực tiễn cách mạng của dân tộc và đất nước. Là người học trò trung thành của Mác và Lênin, Hồ Chí Minh nghiên cứu và phát biểu lý luận không chỉ để giải thích thế giới mà là để cải tạo thế giới. Người tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin không phải bằng con đường nhà trường và sách vở mà trong thực tiễn hoạt động cách mạng, từ nhu cầu cấp bách của việc tìm đường cứu nước. Như Người đã nói, “vừa làm công tác thực tế”, “vừa nghiên cứu lý luận Mác – Lênin” và vận dụng lý luận vào tuyên truyền, giáo dục, tác động, thức tỉnh quần chúng. Người kịch liệt chống lại thứ lý luận chỉ dừng lại trên sách vở, “đề ra những luận cương dài dằng dặc và thông qua những nghị quyết rất kêu để sau đại hội đưa vào viện bảo tàng”.

Mỗi suy nghĩ, mỗi lời nói của Người đều hướng tới quần chúng và nhằm mục đích đấu tranh cải tạo xã hội và con người. Vì vậy, “những chân lý giản dị mà sâu sắc đó, lúc thâm nhập vào quả tim và bộ óc của hàng triệu quần chúng đang chờ đợi nó, thì đó là sức mạnh vô địch, đó là chủ nghĩa anh hùng cách mạng”. Như vậy, nghiên cứu di sản tư tưởng của Hồ Chí Minh là phải nghiên cứu cả hai quá trình: quá trình hình thành, phát triển của chính nội dung tư tưởng đó và quá trình nó thâm nhập vào cán bộ, đảng viên, quần chúng, thức tỉnh, cổ vũ, tác động, giáo dục họ; nghĩa là nghiên cứu hiệu quả của lý luận khi thâm nhập vào quần chúng sẽ trở thành một sức mạnh vật chất như thế nào, như Mác đã nói. Ví như nghiên cứu tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, nếu chỉ dừng lại ở việc thuyết minh hệ thống các khái niệm, phạm trù và chuẩn mực của đạo đức cách mạng, xác lập những hình thức và biện pháp giáo dục đạo đức mới, v.v. thì vẫn là chưa đủ nếu như không chứng minh được ý nghĩa, tác dụng, hiệu quả của những tư tưởng đạo đức đó trong việc đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện cả một đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng qua các giai đoạn cách mạng, từ vận động đấu tranh giành chính quyền, qua hai cuộc kháng chiến đến giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay.

Cũng như vậy, trong việc nghiên cứu thơ vǎn Hồ Chí Minh, sẽ là không đúng nếu chỉ chú ý hoặc chú ý quá nhiều đến việc tìm hiểu một bộ phận thơ trữ tình, thơ nghệ thuật của Người mà, không chú ý hoặc chú ý không đúng mức đến bộ phận thơ cổ động, thơ chúc tết của Người. Loại thứ nhất, phần lớn được viết ra trong hoàn cảnh như Người nói, không biết làm gì thì “ngâm ngợi cho khuây”, thế thôi! Không ai chối cãi giá trị tư tưởng và nghệ thuật của một tập thơ vĩ đại “đã làm xáo trộn cả tâm hồn người đọc” như Nhật ký trong tù. Dù sao những bài thơ ấy chủ yếu được viết ra để tự nói với mình chứ không phải chủ yếu hướng tới người đọc. Trái lại, bộ phận thứ hai, thơ cổ động, thơ chúc tết, lại được Người viết ra với một công phu, dụng ý hẳn hoi, có lựa ý lựa lời, có tính toán hiệu quả ở người tiếp nhận. Điều này, Cố vấn Phạm Vǎn Đồng đã nói rõ: “Lúc đọc những lời kêu gọi cũng như các bài thơ chúc tết, Bác biết rằng đồng bào cả nước đều lắng nghe, Bác cũng biết rất rõ rằng đồng bào và chiến sĩ miền Nam càng lắng nghe Bác nói với tất cả tâm hồn mình, hình như Bác đang nói với mình”. Do đó, nghiên cứu bộ phận thơ này, chủ yếu không phải là nghiên cứu giá trị nghệ thuật của nó – dù là nghệ thuật tuyên truyền – mà là nghiên cứu mối quan hệ giữa động cơ sáng tác của lãnh tụ và hiệu quả, tác dụng của nó trong tư tưởng, tình cảm và hành động cách mạng của quần chúng, tức là không chỉ vận dụng phương pháp của vǎn học mà cả phương pháp của xã hội học.

Tóm lại, thơ ca và vǎn chính luận của Hồ Chí Minh không dừng lại ở mức nhận thức và phản ánh, mà chủ yếu là nhằm để tác động, giáo dục. Nó là vũ khí sắc bén của người cách mạng, là một kênh thông tin quan trọng giữa lãnh tụ và quần chúng. Chỉ có vượt lên trên câu chữ, sách vở, nghiên cứu tư tưởng và lý luận của Hồ Chí Minh trong sự gắn bó với thực tiễn cách mạng, với đời sống tư tưởng, tình cảm của quần chúng, mới thấy được sức sống bất diệt của những tư tưởng ấy, mới thấy ” Hồ Chủ tịch vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”.

3.3. Cuối cùng, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh không phải chỉ đáp ứng yêu cầu tổng kết, đánh giá, thẩm định những giá trị lịch sử đã qua, mà phải tính đến yêu cầu làm sống động các giá trị đó trong công cuộc đổi mới, phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Từ tư tưởng đích thực của Hồ Chí Minh, người nghiên cứu cần đề xuất được những gợi ý vận dụng những tư tưởng đó vào cuộc sống hiện nay. Nếu nghiên cứu chỉ dừng lại ở yêu cầu tìm hiểu tư tưởng của một vĩ nhân trong quá khứ, chỉ để khẳng định cái đã qua mà không làm cho nó hiện diện, sống thực, toả sáng với hôm nay, không chỉ ra được ý nghĩa “là cơ sở tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của chúng ta”, thì sự nghiên cứu đó là không đạt yêu cầu, xét về mặt phương pháp luận.

Những điều trình bày trên mới chỉ là một số nét phác thảo ban đầu, về những nguyên tắc phương pháp luận có ý nghĩa đặc thù chỉ đạo việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng. Công việc đó, về cơ bản, mới chỉ là giai đoạn khởi động; các công trình nghiên cứu trọng điểm vẫn đang trên đường hoàn thiện để tiến tới xã hội hoá, vì vậy chúng ta vẫn chưa có điều kiện tổng kết những thành tựu và hạn chế của nó xét về mặt phương pháp luận. Những nguyên tắc được nêu lên ở chương này đã cố gắng trình bày trong sự liên hệ với thực tiễn nghiên cứu về Hồ Chí Minh những nǎm gần đây ở trong nước và ngoài nước. Một sự phân tích khoa học đầy đủ và sâu sắc hơn sẽ được bổ sung cùng với thành tựu và triển vọng của một bộ môn mới đang hình thành – bộ môn tư tưởng Hồ Chí Minh.

PGS, PTS. Hoàng Chí Bảo; GS. Nguyễn Đǎng Mạnh;

cpv.org.vn

Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh – Bài 10

Một số vấn đề phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu về Hồ Chí Minh

~ oOo ~

Phần thứ hai: PHƯƠNG PHÁP LIÊN NGÀNH VÀ MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP CHUYÊN NGÀNH NGHIÊN CỨU VỀ HỒ CHÍ MINH

Chương IV Phương pháp liên ngành trong nghiên cứu Hồ Chí Minh

Ở nước ta, cho đến nay, phương pháp liên ngành vẫn còn là một hiện tượng mới mẻ của lĩnh vực phương pháp và phương pháp luận, mức độ phổ cập còn hạn chế, thực chất là chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn. Do đó, trước khi bàn việc vận dụng phương pháp liên ngành vào nghiên cứu Hồ Chí Minh, cần thiết thống nhất một số quan niệm cơ bản về thực chất, đặc điểm và phạm vi vận dụng của nó.

I. Khái niệm về nghiên cứu liên ngành và phương pháp liên ngành

1. Về nghiên cứu liên ngành

Hiện tượng nghiên cứu liên ngành đã phát triển mạnh mẽ từ những nǎm 50 trở lại đây, nảy sinh từ thực tiễn phát triển của khoa học, khi các chuyên ngành hẹp không thể tự mình giải quyết được những vấn đề đặt ra nếu không liên hợp, kết hợp với các chuyên ngành khác. Đến nay, xu hướng liên ngành đã trở thành đối tượng nghiên cứu không thể bỏ qua của những người làm khoa học. Hiện tượng liên ngành đã được Ph. Ǎngghen tiên đoán từ cuối thế kỷ XIX. ở thời cổ đại, về cơ bản, khoa học chưa có sự phân ngành, nếu có, cũng chỉ như những yếu tố mà chưa thành một ngành. Các nhà khoa học có tên tuổi thời bấy giờ cũng đồng thời là các nhà bách khoa (như Pithagore vừa là nhà triết học, vừa là nhà toán học, thiên vǎn học, … Aristote vừa là nhà triết học, chính trị học, lôgích học, tu từ học, thi pháp học, vừa là nhà vật lý học, sinh vật học, v.v…).

Điều đó cũng diễn ra ở phương Đông với tình trạng vǎn – sử – triết bất phân. Nhà nho kiêm cả y, lý, số… Bước sang thời trung, cận đại, thế giới không còn được nhìn như một tổng thể thống nhất mà đã được chia ra thành từng khối. Tri thức khoa học đã được phân hoá và hình thành các bộ môn khác nhau: toán, thiên vǎn, cơ, lý, hoá, sinh, sử, vǎn, kinh tế, tâm lý, ngôn ngữ,… Lịch sử phân ngành kéo dài cho đến cuối thế kỷ thứ XIX. Các khoa học lý thuyết đồ sộ cũng đã xuất hiện vào thời gian này. Sự phân ngành dữ dội, đã tạo ra những hạn chế: các chuyên ngành chỉ biết đi sâu vào cái riêng của ngành mình mà bỏ qua cái chung. Vì vậy, càng phân ngành, các nhà khoa học càng ít hiểu nhau. Do đó, Ph. Ǎngghen đã dự đoán: ở chỗ ráp ranh của phân ngành sẽ là liên ngành. ở thời kỳ hiện đại, sự phát triển như vũ bão của khoa học đã tạo ra yêu cầu khách quan là các ngành phải xích lại gần nhau, liên hợp với nhau, thâm nhập vào nhau.

Khoa học hiện đại hình thành ba khối chuyên môn lớn: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân vǎn, khoa học kỹ thuật và công nghệ. Sự liên ngành diễn ra ở các mức độ khác nhau: có khi là hai ngành ráp ranh, kề cận nhau (cơ-lý, hoá-lý, hoá-sinh), có khi tới ba ngành (cơ-lý-toán, hoặc như khoa học Mác – Lênin gồm triết học, kinh tế – chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học), có khi còn nhiều hơn nữa, tới bốn, nǎm ngành, như trong tâm lý học hiện đại, điều khiển học, v.v… Sự liên ngành không chỉ diễn ra trong nội bộ một khối ngành mà còn diễn ra giữa khối ngành kia, như toán – kinh tế, toán – ngôn ngữ,… Xét về mức độ, sự hợp ngành cũng diễn ra ở hai mức: mức thấp, mức kết hợp là liên ngành (hay liên bộ môn) và mức cao là mức hợp ngành hay tích hợp (intégration) để tạo ra bộ môn mới.

Hiện nay ở nước ta, nghiên cứu liên ngành mới bắt đầu ở mức thấp. Chương trình khoa học và công nghệ quốc gia về tư tưởng Hồ Chí Minh (KX.02) là một chương trình nghiên cứu liên ngành (ở mức thấp) nghĩa là các nhà khoa học thuộc nhiều bộ môn tham gia vào giải quyết các đề tài của chương trình bằng cách vận dụng phương pháp bộ môn của mình để tìm hiểu, lý giải một phương diện nào đó của đối tượng nghiên cứu vốn rất đa diện là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thực ra, nghiên cứu liên ngành như là một cấu trúc thực sự, sau khi có một cơ quan nghiên cứu làm đầu mối, một chương trình nghiên cứu làm nội dung vẫn chưa đủ, mà phải tiến lên xây dựng một lý thuyết chung mới nghiên cứu liên ngành được. Từ đó đẻ ra yêu cầu phải xây dựng phương pháp liên ngành.

2. Phương pháp liên ngành

Như trên đã nói, xuất phát từ yêu cầu mở rộng trường nhận thức của mỗi chuyên ngành, do quá đi sâu vào cái riêng của ngành mình mà làm cho nhiều cái riêng khác bị che mờ đi, không đủ sức bao quát được các hiện tượng phức tạp khác, vì vậy cần thiết phải liên ngành với nhau nhằm phát huy thế mạnh, khắc phục cái hạn chế của mỗi bên. Nhu cầu hợp tác nghiên cứu liên ngành đặt ra vấn đề phương pháp liên ngành. ở nước ta, vấn đề nghiên cứu liên ngành hưa thật phát triển nên vấn đề phương pháp liên ngành cũng chưa thể giải đáp một cách thật đầy đủ và sáng tỏ ngay được. Hiện nay, có hai xu hướng liên ngành cơ bản: liên ngành vì một ngành (đã có) và liên ngành vì hợp ngành (để hình thành một ngành mới). ở nước ta, nhất là trong khoa học xã hội, đang bắt đầu ở hướng thứ nhất. Do đó, để tìm hiểu về phương pháp liên ngành, ở đây giới thiệu hạn chế trong phạm vi liên ngành vì một ngành, nhằm vân dụng thiết thực vào việc nghiên cứu Hồ Chí Minh.

2.1. Thực chất của phương pháp liên ngành (vì một ngành) là gì ? Nó có những đặc trưng và yêu cầu nào ? ở nước ta, đây là một vấn đề còn mới mẻ, đang trên đường thực nghiệm, nên cũng chỉ mới có điều kiện nêu ra một số nét ban đầu đẻ từ đó tìm cách vận dụng vào chuyên ngành Hồ Chí Minh học. Phương pháp nghiên cứu liên ngành (vì một ngành) do đối tượng nghiên cứu quyết định. Thực tế, có những đề tài không thể do một ngành nghiên cứu giải quyết được, mà đòi hỏi phải có sự nghiên cứu liên ngành. Thí dụ, để nghiên cứu về thời kỳ quá độ ( bao gồm các vấn đề quy luật phổ biến và đặc thù của thời kỳ quá độ, vấn đề phân kỳ thời kỳ quá độ, vấn đề giải quyết những khó khǎn, phức tạp về kinh tế – xã hội, đạo đức – lối sống,… trong thời kỳ quá độ, v.v..) đòi hỏi phải có sự tham gia nghiên cứu của nhiều ngành. Điều này càng rõ hơn khi tiếp cận các đề tài có tính toàn cầu như về thời đại hiện nay, về chiến tranh và hòa bình, về nguyên liệu – nǎng lượng và môi trường sinh thái, v.v..

Trong những trường hợp đó, phương pháp liên ngành là phương thức tốt nhất để khai thác, tái hiện toàn bộ bản chất và quy luật của đối tượng nghiên cứu như là nó và như là ngoài nó. Thí dụ, việc sử dụng phương pháp liên ngành trong sử học xuất phát từ chỗ đối tượng của sử học là những sự kiện do con người sáng tạo ra, đã xảy ra trong quá khứ, có khi ở những thời đai rất xa xưa, trong mối quan hệ với tự nhiên, xã hội và giữa con người với nhau. Đó không phải là một đối tượng trực tiếp đang diễn ra mà là được tái hiện ra, nên không bao giờ đầy đủ. Vì vậy, để chiềm lĩnh được nó, một đối tượng phức tạp nhiều bộ phận, nhiều hệ thống, nên ngoài chi thức và phương pháp của bản thân sử học, nhà nghiên cứu cần phải vận dụng những chi thức và phương pháp ngoài sử học như triết học (đặc biệt là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử), đường lối, quan điểm của Đảng, các nhà khoa học hỗ trợ khác như địa lý – lịch sử, xã hội học, tâm lý học, dân số học, v.v..

Phương pháp liên ngành là phương pháp đưa cách thức, mô hình, lược đồ của ngành mình vận dụng vào nghiên cứu ngành khác và ngược lại. Nó là sự kết hợp, đan xen và bổ sung các phương pháp cho nhau giữa các ngành độc lập, nhằm phát huy cái mạnh, hạn chế cái nhược điểm của mỗi phương pháp. Tất nhiên, liên ngành không đơn thuần chỉ là cộng ngành, mà có sự điều chỉnh đậm, nhạt trong sử dụng các phương pháp tuỳ theo mỗi đề tài nghiên cứu. Thí dụ, để nghiên cứu những vấn đề đạo đức trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam chủ yếu phải vận dụng phương pháp của đạo đức học Mác – Lênin có kết hợp với phương pháp tâm lý học xã hội để lý giải diễn biến tâm lý con người sau chiến tranh, từ bao cấp sang cơ chế thị trường, với phương pháp điều tr xã hội học, phương pháp thống kê toán học, v.v..

Vì vậy, hội thảo chuyên gia là bước đi là bước đi cần thiết để lựa chọn khả nǎng đối tác trước khi bắt tay thực sự vào nghiên cứu liên ngành. Hiện nay, do sự phát triển của khoa học và do yêu cầu của thực tiễn đời sống, nghiên cứu liên ngành đang trở thành một hiện tượng phổ biến trong mỗi quốc gia cũng như trên phạm vi toàn cầu. Việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế – xã hội (ngắn han, trung hạn và dài hạn) của mỗi quốc gia, cũng như việc giải quyết những vấn đề có tính toàn cầu của thời đại hiện nay (vấn đề cân bằng sinh thái, bùng nổ dân số, khủng hoảng lực lượng, nǎng lượng,…) đòi hỏi sự nhất thể hoá về nhận thức và hành động trong tất cả các quốc gia, khu vực và toàn nhan loại. Tập thể rộng lớn các nhà khoa học thế giới tham gia vào đó, làm việc với nhau trên cơ sở phương pháp liên ngành khoa học, sẽ đem lại cho nó một bước phát triển mới, cả về lý thuyết lẫn thực tiễn.

2.2. Phương pháp liên ngành đòi hỏi nắm vững một số nguyên tắc chỉ đạo – Phải xác định rõ vai trò của chủ thể trong liên ngành: cái gì là trung tâm, ai giữ địa vị chủ đạo ? Liên ngành là sự tương tác giữa các chuyên ngành, nếu sự tương tác đó chịu lực chi phối của nhiều trung tâm khác nhau sẽ dẫn tới những kết quả khác nhau. Hai bộ môn khoa học gần kề nhau, như hóa và sinh, nếu hóa học là trung tâm thì sẽ tạo ra chuyên ngành mới là hóa – sinh, nếu sinh học đóng vai trò trung tâm thì sẽ tạo ra ngành mới là sinh – hóa. Trong trường hợp liên ngành vì một ngành thì phải lấy ngành sẵn có này làm trung tâm, xuất phát từ nhu cầu của ngành đó và cuối cùng tất cả đều quay về phục vụ cho ngành đó. Nếu liên ngành vì chuyên ngành nghiên cứu Hồ Chí Minh thì trung tâm tổ chức hợp tác liên ngành là bộ môn Hồ Chí Minh học.

Các chuyên gia hợp tác như sử học, đạo đức học, xã hội học, vǎn học,… sẽ huy đông mọi tri thức và phương pháp của các ngành mình hướng vào phục vụ cho việc khám phá bản chất và quy luật của đối tượng nghiên cứu là con người, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức,… Hồ Chí Minh. Để làm được việc này, trung tâm đứng ra tổ chức sự hợp tác liên ngành phải có đội ngũ chuyên gia giỏi, nhất là cán bộ đầu ngành giỏi, để phân tích, chọn lọc tiếp thu và sử dụng được lợi thế của những phương pháp khác nhằm hoàn thiện cho phương pháp của chuyên ngành mình. Một ngành học non trẻ sẽ trưởng thành nhanh chóng khi biết hợp tác với các chuyên ngành khác. – Phải xác lập và nắm bắt những đặc thù của phương pháp chuyên ngành của mình để trong quá trình liên ngành, khi tiếp thu các chi thức và phương pháp của các ngành khác, không làm mất đi đặc trưng riêng củ chuyên ngành mình.

Một chuyên ngành khoa học mới ra đời, hệ thống tri thức, ngôn ngữ, khái niệm của nó, thường chưa thể hoàn chỉnh ngay một lúc. Nghiên cứu chuyên ngành là sự giao thoa, tương tác giữa nhiều ngành, trong đó có những ngành cơ bản đã có bề dày lịch sử, có khả nǎng thâm nhập, tác động vào các ngành khác. Nếu không đứng vững và xuất phát từ đặc trưng của ngành mình thì chẳng những không hấp thụ được những cái hay, cái mạnh của ngành khác mà còn đánh mất vai trò, tác dụng của ngành mình, và như vậy thì nghiên cứu liên ngành cũng mất luôn ý nghĩa. Thí dụ, nghiên cứu đề tài “Con người và chính sách xã hội với con người” đã thu hút sự tham gia của rất nhiều ngành: triết học, xã hội học, đạo đức học, vǎn hoá học, tâm lý học, v.v..

Khi tham gia vào đề tài này, bộ môn Hồ Chí Minh phải xuất phát từ những quan điểm của Hồ Chí Minh về con người và những tư tưởng của Người về chính sách xã hội đối với con người. Từ khi có mặt trận Việt Minh, nhất là từ khi đứng đầu nhà nước của dân, do dân, vì dân, cho đến Di chúc để lại cho Đảng và Nhà nước ta, Người luôn luôn yêu cầu phải làm gì đối với con người sau khi chiến tranh kết thúc… Chỉ trên cơ sở đó, chuyên ngành Hồ Chí Minh mới có đóng góp cụ thể vào đề tài những kiến nghị cụ điều chỉnh, sửa đổi các chính sách cũ, đặt ra những chính sách mới có tính khả thi, theo đúng tư tưởng Hồ Chí Minh và phù hợp với tình hình thực tiễn nước ta. – Phải tuân thủ trình tự liên ngành từ gần đến xa, từ cùng khối đến khác khối, tức là phải xuất phát từ nhu cầu và đặc trưng của ngành mình mà lựa chọn đối tác.

Chẳng hạn, toán học liên kết trước hết với khoa học tự nhiên và khoa học công nghệ, sau đó mới dần dần lan sang khoa học xã hội và nhân vǎn. Ngay trong khoa học tự nhiên nó cũng bắt đầu từ các bộ môn gần kề: từ cơ học, đến vật lý học, sau mới đến hoá học rồi sinh học,… Chuyên ngành nghiên cứu Hồ Chí Minh thuộc khối khoa học xã hội và nhân vǎn, có mối liên hệ chặt chẽ với các bộ môn lý luận Mác – Lênin (triết học Mác – Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học, lịch sử Đảng, xây dựng Đảng,…) tiếp theo là với sử học, kinh tế học, tâm lý học, ngôn ngữ học, vǎn học,… Phương pháp thống kê toán học cũng có thể vận dụng trong phạm vi nhất định như để tìm hiểu tần số xuất hiện của những từ ngữ và mệnh đề nào đó trong ngôn ngữ Hồ Chí Minh.

PGS, PTS. Hoàng Chí Bảo; GS. Nguyễn Đǎng Mạnh;

cpv.org.vn

Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh – Bài 11

Một số vấn đề phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu về Hồ Chí Minh

~ oOo ~

Phần thứ hai: PHƯƠNG PHÁP LIÊN NGÀNH VÀ MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP CHUYÊN NGÀNH NGHIÊN CỨU VỀ HỒ CHÍ MINH

Chương IV Phương pháp liên ngành trong nghiên cứu Hồ Chí Minh

II. Vận dụng phương pháp liên ngành trong nghiên cứu Hồ Chí Minh

1. Cơ sở của phương pháp liên ngành trong nghiên cứu Hồ Chí Minh

Như đã trình bày, nghiên cứu về Hồ Chí Minh có thể và cần thiết phải sử dụng phương pháp liên ngành. Điều này do đặc điểm của đối tượng nghiên cứu quyết định. Nghiên cứu Hồ Chí Minh là nghiên cứu cả tiểu sử và sự nghiệp, tư tưởng và lý luận, phương pháp và phong cách, đạo đức và lối sống,… của Người. Hồ Chí Minh xuất hiện trên vũ đài lịch sử dân tộc và thời đại trong thế kỷ này với nhiều tư cách: Người là nhà yêu nước vĩ đại, anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam, chiến sĩ tiên phong của phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới; nhà hoạt động xuất sắc của phong trào cộng sản và công nhân trong thế kỷ XX; vị sứ giả của hoà bình và hữu nghị giữa các dân tộc; nhà ngoại giao, nhà thương thuyết mềm mỏng, luôn luôn chủ trương giải quyết mọi xung đột bằng đối thoại hoà bình.

Hồ Chí Minh để lại một sự nghiệp trước tác có thể nói là đồ sộ và phong phú về nhiều mặt. Người là nhà tư tưởng, nhà lý luận xuất sắc về chủ nghĩa thực dân và cách mạng giải phóng dân tộc, đồng thời có những cống hiến đặc sắc vào sự phát triển và làm phong phú chủ nghĩa Mác – Lênin trên nhiều lĩnh vực cụ thể. Người được tôn vinh là nhà vǎn hoá lớn, vừa kết tinh truyền thống vǎn hoá hàng ngàn nǎm của dân tộc mình vừa là sự thể hiện cho khát vọng của các dân tộc khác về nhân đạo và hoà bình. Hồ Chí Minh còn được coi là nhà thơ lớn của dân tộc, nhà vǎn sớm có những tìm tòi, đổi mới về thể loại và bút pháp; nhà báo cách mạng với hàng nghìn bài được công bố trên diễn đàn trong nước và nước ngoài, ở cả phương Đông lẫn phương Tây. Trên bình diện nhà tư tưởng, Hồ Chí Minh đã thể hiện tư tưởng của mình như một hệ thống, bao quát nhiều lĩnh vực: tư tưởng nhân vǎn, tư tưởng vǎn hoá, tư tưởng kinh tế, tư tưởng chính trị, tư tưởng quân sự, tư tưởng vǎn hoá – đạo đức,… trong mỗi lĩnh vực có thể tìm thấy những hệ thống nhỏ.

Trước một đối tượng nghiên cứu đa dạng và phong phú nhiều mặt như vậy, không một tập thể và cá nhân nào có đủ nǎng lực bao quát hết để có thể riêng mình đưa ra được một bức tranh tổng thể về con người và tư tưởng Hồ Chí Minh. Nghiên cứu Hồ Chí Minh ở trình độ lý luận cao đòi hỏi chúng ta còn phải phấn đấu nhiều hơn nữa, sâu hơn nữa. Có những vấn đề cảm giác rằng ai cũng có thể bàn đến được, nhưng có những lĩnh vực chuyên sâu, nếu người nghiên cứu không có trình độ lý luận, không có tư duy ở chiều sâu của lĩnh vực đó, không thể nghiên cứu có kết quả, ví như lĩnh vực tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Do đó, chỉ có đầu tư của toàn xã hội, có sự kết hợp nghiên cứu liên ngành, tập hợp những chuyên gia giỏi, có trình độ cao ở nhiều lĩnh vực cùng làm việc với nhau, sự nghiệp nghiên cứu về Hồ Chí Minh mới có thể nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả khoa học của mình.

2. Khả nǎng và điều kiện nghiên cứu liên ngành

Phương pháp liên ngành thuộc loại phương pháp khoa học hiện đại, mới phát triển mạnh ở phương Tây từ những nǎm 50 trở lại đây. ở phương Đông và Việt Nam, xét trên bình diện lý thuyết tuy nó là mới, nhưng trong thực tế vận dụng thì nó đã xuất hiện từ thời rất xa xưa. Như trên đã trình bày, thuyết “thiên – địa – nhân nhất thể” của Kinh Dịch đã chi phối tư duy phương Đông, làm cho quá trình phân ngành khoa học của phương Đông diễn ra rất chậm chạp. Tình trạng “vǎn – sử – triết bất phân” kéo dài làm cho tư duy khoa học của phương Đông cơ bản là tổng hợpvà liên ngành. ở Việt Nam, quan điểm “tam giáo đồng nguyên” (Nho, Phật, Lão) ngự trị trong suốt thời kỳ trung đại, đã chi phối cả tư duy bác học và tư duy dân gian cổ truyền, tạo thành truyền thống dung hoà vǎn hoá như là một hằng số lịch sử của tư duy Việt Nam trong quá khứ. Vì vậy, phương pháp liên ngành không phải là cái gì quá mới mẻ đối với chúng ta.

Truyền thống bất phân đó có mặt trái là kìm hãm sự phát triển của khoa học nước ta – chủ yếu là khoa học xã hội và nhân vǎn – nó kéo dài tình trạng đào tạo theo hướng tổng hợp, người làm nghiên cứu có thể biết nhiều thứ nhưng không biết cái gì thật tỏ tường. Dù sao, tình trạng đó lại đồng cấu trúc (ở trình độ thấp) với khoa học hiện đại phương Tây, về liên hợp cũng như tích hợp khoa học. Do đó, xét về khả nǎng tổ chức nghiên cứu liên ngành là thuận lợi, sẽ không có tình trạng không hiểu nhau như các nhà khoa học ở phương Tây, cả về ngôn ngữ lẫn tri thức khoa học. Tuy nhiên, để tiến hành công việc trên, cần phải có một số điều kiện nhất định – dù mới chỉ ở mức liên ngành vì một ngành, liên ngành để nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Như trên đã nói, muốn liên ngành (vì một ngành) thì ngành đó phải đóng được vai trò trung tâm trong tổ chức nghiên cứu liên ngành, từ điểm xuất phát đến bước hồi quy. Hiện nay chúng ta vừa có lại vừa chưa có chuyên ngành nghiên cứu về Hồ Chí Minh.

Công tác nghiên cứu về Hồ Chí Minh đã manh nha từ đầu những nǎm 50 với các bài viết của các đồng chí Trường-Chinh, Phạm Vǎn Đồng và một số người khác, trong đó bài “Hồ Chủ tịch, người sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo Đảng ta” của đồng chí Trường-Chinh, đǎng trên báo Nhân Dân, số 1, ra ngày 11-3-1951, có thể coi là bài dẫn luận, định hướng cả về nội dung và phương pháp cho việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh phát triển về sau. Từ sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, công tác nghiên cứu giới thiệu về Người ngày càng được mở rộng cả ở trong nước và nước ngoài. Như vậy, việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh được bắt đầu từ khá sớm, đến khi được đặt ra như một bộ môn khoa học cũng đã trên 1/4 thế kỷ. Song đến nay, chưa thể nói chúng ta đã hoàn toàn có một bộ môn mới, môn Hồ Chí Minh học. Mỗi bộ môn mới ra đời, muốn trở thành một chuyên ngành khoa học độc lập, cần phải có những điều kiện sau đây:

– Phải xác định rõ đối tượng nghiên cứu, trên cở sở đó phải xây dựng được chủ thuyết khoa học về đối tượng ấy.

– Phải xây dựng được một hệ thống phương pháp nghiên cứu xuất phát từ đối tượng, phản ánh tính đặc thù của bộ môn (có vậy mới đủ khả nǎng tham gia vào nghiên cứu liên ngành).

– Phải có một hệ thống khái niệm và phạm trù của bộ môn như là công cụ riêng, ngôn ngữ riêng để chiếm lĩnh đối tượng.

– Sau cùng, phải có một trung tâm nghiên cứu, đào tạo, với những thiết chế phù hợp, tạo điều kiện cho nó hoạt động và phát triển.

Ở Chương I và rải rác trong các chương tiếp theo, đã trình bày những nét tổng quan về đối tượng nghiên cứu như là sự đúc kết lý luận về con người – sự nghiệp, tư tưởng – lý luận, đạo đức – lối sống, phương pháp – phong cách Hồ Chí Minh.

Tuy còn những nét dị biệt khác nhau, nhưng trải qua nhiều cuộc hội thảo, giới nghiên cứu về Hồ Chí Minh đã bước đầu thống nhất được với nhau những nội dung cơ bản, đặt cơ sở cho việc tiến tới xây dựng một lý luận khoa học về đối tượng, nhằm phản ánh chính xác bản chất và quy kuật của đối tượng. Cũng từ những thành tựu nghiên cứu đạt được trong những nǎm qua, chúng ta đã sơ bộ dựng lên được một hệ thống khái niệm và phạm trù của bộ môn, giúp cho người nghiên cứu có phương tiện chiếm lĩnh đối tượng. Những điều đang bàn về phương pháp ở đây là nỗ lực đầu tiên trên con đường khai phá, tìm tòi những nguyên tắc chung và những nguyên tắc phương pháp luận chuyên biệt chỉ đạo việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Việc chính thức đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào giảng dạy trong hệ thống các trường đảng và trường đại học đã khẳng định sự ra đời của một bộ môn mới, đánh dấu một giai đoạn mới của việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh.

Tóm lại, đối chiếu những tiêu chuẩn nói trên, ở mỗi mặt chúng ta đều thấy đã xuất hiện những nhân tố nhất định, song còn mỏng mảnh và chưa thật chín, nên chưa thể nói, đến nay, đã có đủ điều kiện thực sự cho việc hình thành một chuyên ngành mới, chuyên ngành nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Hiện nay, cái yếu nhất của chuyên ngành này là sự đầu tư của xã hội vào công tác đào tạo, bồi dưỡng để hình thành một đội ngũ chuyên gia khoa học, đủ về số lượng, cao về chất lượng, đáp ứng được yêu cầu phát triển của bộ môn. Thiếu hụt nghiêm trọng nhất là không có nhiều chuyên gia giỏi. Nguyên nhân kém phát triển của một số ngành khoa học xã hội và nhân vǎn, bao gồm cả khoa học Mác – Lênin, đương nhiên là có nhiều, song xét từ góc độ phương pháp liên ngành, thì nguyên nhân chính là vì thiếu những chuyên gia đầu ngành thật giỏi, có kiến thức khoa học rộng lớn, có phương pháp và khả nǎng tổ chức hợp tác liên ngành. Điều kiện cho nghiên cứu liên ngành có nhiều, song đòi hỏi cơ bản ở tổ chức trung tâm và người chủ trì liên ngành phải có những khả nǎng nhất định. Một là, phải có khả nǎng tập hợp, đoàn kết các nhà khoa học nhiều ngành tham gia cùng hợp tác nghiên cứu. Hai là, người chủ trì, tuy chỉ là chuyên gia của một ngành, nhưng phải có những hiểu biết cần thiết về các ngành có liên quan, để từ kết quả nghiên cứu của từng ngành mà tổng hợp được thành kết quả chung, thành trí tuệ chung của bộ môn. Đó là chỗ khó, nhưng cũng là điều kiện thành công của việc tổ chức nghiên cứu liên ngành.

3. Phương pháp vận dụng phương pháp liên ngành trong nghiên cứu Hồ Chí Minh

Chương trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước về tư tưởng Hồ Chí Minh (KX. 02) là một chương trình nghiên cứu liên ngành. Trong toàn bộ 13 đề tài của Chương trình KX.02, không đề tài nào chỉ do một viện nghiên cứu chuyên ngành tự mình có thể giải quyết được trọn vẹn, sâu sắc mà không có những sự tham gia hợp tác của chuyên gia các ngành hữu quan. Thí dụ, đề tài số 1 là đề tài tổng quan về “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam”. Những nội dung lớn mà đề tài phải giải quyết như: nguồn gốc và quá trình hình thành của tư tưởng Hồ Chí Minh; tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng hệ thống chính trị (Đảng, Mặt trận, Quân đội, Nhà nước); về chiến lược và sách lược cách mạng, v.v. đều là những vấn đề lớn, mang tính tổng hợp, quan hệ đến nhiều ngành, triết học, sử học, vǎn hóa học, chính trị học, khoa học quân sự, v.v.. Chỉ có trên cơ sở hội thảo chuyên gia, tiến đến tổ chức nghiên cứu liên ngành thì mới làm sáng tỏ, có chiều sâu về mỗi nội dung lớn của đề tài nói trên. Từ thực tiễn nghiên cứu những nǎm qua, chúng tôi sơ bộ rút ra hai phương thức chính trong việc vận dụng phương pháp liên ngành vào nghiên cứu về Hồ Chí Minh.

3.1. Hợp tác chuyên gia nhiều ngành cùng nghiên cứu một đề tài cụ thể Đây là phương thức phổ biến, được hầu hết các đề tài vận dụng và đã đạt được kết quả nhất định. Thí dụ, để nghiên cứu đề tài “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh”, trước hết cần tìm hiểu xem những nhân tố nào đã góp phần hình thành nên tư tưởng đó: truyền thống đạo đức dân tộc, tư tưởng đạo đức phương Đông (như đạo đức Nho giáo, Phật giáo, …) Trước khi đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh có nhiều nǎm sống ở các nước phương Tây, tiếp thu học thuyết đạo đức mácxít, Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh có chịu ảnh hưởng gì của tư tưởng đạo đức phương Tây ? (lòng thương người của Chúa Jésus, những yếu tố nhân đạo và dân chủ trong tư tưởng đạo đức của các nhà Khai Sáng,…).

Ngoài ra, Người còn học hỏi và tiếp thu những gì trong nhân cách, đạo đức của những nhân vật lỗi lạc khác như Lênin, Gandhi, Tôn Dật Tiên,.. Để trả lời sáng tỏ những câu hỏi đó, cần có sự nghiên cứu, tìm hiểu và giải đáp bằng những cǎn cứ cụ thể, có sức thuyết phục của chuyên gia nhiều ngành, chứ không thể khẳng định một cách chung chung, võ đoán. Nghiên cứu tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là để vận dụng vào việc xây dựng, giáo dục đạo đức mới, khắc phục những vấn đề nóng bỏng đang đặt ra trong đời sống đạo đức của xã hội ta hiện nay, khi mặt trái của cơ chế thị trường đang tác oai, tác quái, đang xâm nhập lũng đoạn, làm bǎng hoại không ít những giá trị truyền thống vǎn hóa – đạo đức – tinh thần của xã hội ta.

Muốn đề xuất, kiến nghị được những phương án giải quyết hữu hiệu, khả thi về những vấn đề trên cần phải tiến hành điều tra cơ bản tình hình đạo đức trong một số tầng lớp xã hội cơ bản (cán bộ, đảng viên, thanh niên, công nhân, người buôn bán và dịch vụ, …), ở một số địa bàn khác nhau (thành phố lớn, khu công nghiệp, nông thôn, miền núi, vùng có đạo,…), tức là phải vận dụng phương pháp xã hội học kết hợp với phương pháp của khoa học hình sự.

Để hình thành đạo đức mới, ngoài phát triển kinh tế là điều kiện cơ bản, phải nhấn mạnh đến vai trò rất quan trọng của các nhân tố ngoài kinh tế, phải kết hợp đồng bộ giữa kinh tế với luật pháp và giáo dục, tức là cần vận dụng các phương pháp của luật học, vǎn hóa học, của tổ chức và quản lý hành chính. Tóm lại, đạo đức là một nội dung lớn của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, hướng vào mục tiêu xây dựng xã hội công bằng, vǎn minh. Đó là một chiến lược tổng hợp, chỉ riêng các nhà nghiên cứu đạo đức học không đủ sức giải quyết nổi, mà cần có sự hợp tác liên ngành.

3.2. Hợp tác chuyên gia để cùng nghiên cứu một tác phẩm cụ thể Trong các tác phẩm của Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta, Bản án chế độ thực dân Pháp là một tác phẩm lớn, đánh dấu một mốc lớn trong sự nghiệp trước tác của Người. Cuốn sách được viết bằng tiếng Pháp, gồm 12 chương và phần phụ lục Gửi thanh niên Việt Nam, do hiệu sách Lao động xuất bản, ở Paris, khoảng đầu nǎm 1926.

Trần Dân Tiên kể lại rằng: “Ông Nguyễn chỉ viết một quyển sách duy nhất là quyển: Bản án kết tội chế độ thực dân Pháp; quyển này gồm những tài liệu chống thực dân Pháp, trích trong những sách của người Pháp viết để ở thư viện quốc gia”. Đứng về phương pháp nghiên cứu, biên soạn mà xét, tác giả đã vận dụng phương pháp đa ngành. Trước hết là phương pháp điều tra xã hội học. Để chuẩn bị luận cứ vững chắc cho bản án, tác giả đã tiến hành khảo sát, thu thập, chắt lọc thông tin từ một khối tư liệu khổng lồ, chủ yếu lại là những tài liệu, sách báo do chính người Pháp viết ra, đặc biệt là các số liệu cụ thể, những vǎn bản chính thức mà chủ nghĩa thực dân Pháp không thể chối cãi được. Không dừng lại ở các hiện tượng bề ngoài, tác giả đã đi sâu phân tích, so sánh, đối chiếu với nhiều nguồn tài liệu khác nhau để rút ra những thuộc tính bản chất của chủ nghĩa thực dân Pháp, giúp cho người đọc nhìn thấy hiển hiện cái địa ngục trần gian ở thuộc địa được che đậy dưới chiêu bài “khai hóa vǎn minh”.

Tác phẩm trên còn là hình mẫu của việc vận dụng phương pháp hệ thống, được thể hiện trong cách xem xét xã hội thực dân – thuộc địa như là một cơ cấu tổng thể, từ các quan hệ kinh tế đến tổ chức chính trị – xã hội và vǎn hóa – tư tưởng. Chủ nghĩa thực dân cũng không được xem xét như là một hiện tượng đơn nhất, chỉ diễn ra ở Việt Nam, ở Đông Dương, mà còn là vấn đề của thời đại. Tác giả đã bóc trần tội ác của chúng ở khắp các thuộc địa khác trên thế giới như ở Angiêri, Tuynidi, Marốc, Xyri, Đahômây, Xuđǎng, Mađagátxca,… và cho thấy ở đâu những người lao động mất nước cũng cùng chung số phận, vì vậy tự nhiên là họ cùng đứng trong một chiến tuyến chống chủ nghĩa thực dân.

Ngoài ra, chúng ta còn thấy tác giả sử dụng rất thành thạo các phương pháp lịch sử, trong việc mô tả các hiện tượng xã hội; phương pháp điển hình hóa của vǎn học trong việc khắc họa chân dung của những tên quan cai trị thực dân khét tiếng. Xét về nội dung, Bản án chế độ thực dân Pháp là bản cáo trạng đanh thép về tội ác của chế độ thực dân Pháp đối với các thuộc địa về các mặt kinh tế, chính trị, vǎn hóa, tư tưởng, … Tác phẩm cũng đề cập đến cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa và mối quan hệ của nó đối với cách mạng vô sản ở chính quốc.

Tóm lại, tác phẩm này là sự tổng hòa các tri thức chính trị, triết học, xã hội, lịch sử, vǎn học cùng với kinh nghiệm thực tiễn phong phú mà Nguyễn ái Quốc đã rút ra được trong suốt 15 nǎm đấu tranh của Người. Một tác phẩm có nội dung toàn diện và phong phú như thế, muốn lĩnh hội và kiến giải được đầy đủ, sâu sắc về nó, cần có tổ chức hợp tác nghiên cứu liên ngành. Trên thực tế, trong những nǎm qua đã từng có một cuộc hội thảo như vậy. Từ giác độ tri thức và phương pháp của ngành mình, các nhà nghiên cứu đã bước đầu đi vào tìm hiểu những giá trị từng mặt của tác phẩm: giá trị tố cáo, giá trị nhân đạo, giá trị ngôn ngữ và vǎn học,… hoặc đi vào từng nội dung khác nhau của như vấn đề nông dân, số phận người phụ nữ thuộc địa, vấn đề sử dụng nguồn tư liệu và vǎn bản của tác giả, v.v..

Tuy nhiên, đây mới chỉ là một cuộc hội thảo để kỷ niệm 60 nǎm ngày ra đời của tác phẩm. Một tác phẩm có giá trị về nhiều mặt như vậy cần được phối hợp tổ chức nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc hơn trên cơ sở vận dụng phương pháp liên ngành. Nghiên cứu liên ngành không phải là một hiện tượng mới, nhưng liên ngành như là cộng ngành và liên ngành như là một cấu trúc tổng thể, có quan hệ tương tác chặt chẽ về mặt phương pháp, thì vẫn còn là một hiện tượng mới. Vì vậy, những điều trình bày trên đây mới chỉ là những kinh nghiệm bước đầu rút ra từ thực tiễn nghiên cứu về Hồ Chí Minh trong thời gian qua. Hy vọng rằng, với sự trưởng thành dần lên của chuyên ngành nghiên cứu này, một sự lý giải đầy đủ và khoa học hơn về phương pháp liên ngành trong nghiên cứu Hồ Chí Minh sẽ sớm được bổ sung và hoàn thiện trong tương lai.

PGS, PTS. Hoàng Chí Bảo; GS. Nguyễn Đǎng Mạnh;

cpv.org.vn

Vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân trong giai đoạn hiện nay

Chống chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng được xem như một nội dung liên quan trực tiếp tới vận mệnh của Đảng và quyết định đến thành công của sự nghiệp cách mạng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Vấn đề đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân vừa là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, vừa là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách trước mắt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

Do tính chất đặc biệt nguy hại của chủ nghĩa cá nhân, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập nhiều biện pháp kiên quyết phòng trừ “thứ cỏ dại” và cần “phải diệt tận gốc” này. Từ tác phẩm “Đường kách mệnh” viết năm 1927, đến tác phẩm cuối cùng “Di chúc”, Người đã có gần 200 bài nói, viết về công tác xây dựng đảng, về rèn luyện, giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên – Đó là hệ thống những quan điểm, biện pháp hữu hiệu để chống chủ nghĩa cá nhân, nâng cao uy tín, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng.

Theo Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên không phải cứ viết trên trán mình 2 chữ “cộng sản” là được nhân dân yêu mến, mà phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện và thực hành đạo đức cách mạng, chống sa vào chủ nghĩa cá nhân, góp phần làm cho Đảng ta thật sự “là đạo đức, là văn minh”. Hồ Chí Minh coi chủ nghĩa cá nhân là “địch nội xâm”, một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng. “Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá từ trong phá ra”(1).

Chủ nghĩa cá nhân luôn biến hóa “muôn hình vạn trạng”, bởi thế có nhiều người mơ hồ (hoặc cố ý mơ hồ), cho rằng đó là căn bệnh người khác mắc phải, còn mình thì không. Tuy nhiên, dù biến tướng thế nào, vẫn có thể nhận diện được nếu hiểu nguồn gốc, bản chất căn bệnh này: “Chủ nghĩa cá nhân là một loại giá trị và nguyên tắc đạo đức, là hệ thống lý luận chính trị, kinh tế và đạo đức của giai cấp tư sản”(2). Chủ nghĩa cá nhân là sản phẩm của xã hội cũ dựa trên chế độ tư hữu, là sự đối lập giữa lợi ích cá nhân với lợi ích xã hội, đặt quyền lợi của cá nhân trên quyền lợi tập thể. Trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, Hồ Chí Minh chỉ ra 10 loại bệnh nảy sinh từ chủ nghĩa cá nhân cần nhận diện và phòng chống: bệnh quan liêu; bệnh tham lam; bệnh lười biếng; bệnh kiêu ngạo; bệnh hiếu danh; bệnh “hữu danh vô thực” (loại bệnh có biểu hiện là làm được ít nhưng báo cáo, khoe khoang thì nhiều); bệnh cận thị (loại bệnh có biểu hiện là chỉ để ý đến cái nhỏ, vụn vặt, không thấy cái lớn, cái quan trọng); bệnh tỵ nạnh; bệnh xu nịnh, a dua và bệnh kéo bè, kéo cánh. Chừng nào còn chủ nghĩa cá nhân nó sẽ “ngăn trở” người cán bộ, đảng viên phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của dân tộc, làm mất lòng tin cậy của dân với Đảng. “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định ngày hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(3).

Khi cán bộ, đảng viên sa vào chủ nghĩa cá nhân, đồng nghĩa với việc họ làm biến chất, suy thoái Đảng. Do đó, thực hiện những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa cá nhân, chống những căn bệnh của chủ nghĩa cá nhân, chính là giữ vững bản chất, sinh mệnh chính trị của một Đảng cách mạng chân chính. Rèn luyện, bồi dưỡng đạo đức cách mạng song hành với cuộc đấu tranh loại bỏ chủ nghĩa cá nhân bên trong mỗi người đảng viên. Đó là cuộc đấu tranh quyết liệt, phức tạp, gian khổ, lâu dài bằng nhiều hình thức phong phú gắn với những điều kiện về chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội. Hồ Chí Minh đã ví một cách hình ảnh “Tư tưởng cộng sản với tư tưởng cá nhân ví như lúa với cỏ dại. Lúa phải chăm bón rất khó nhọc thì mới tốt được. Còn cỏ dại không cần chăm sóc cũng tốt lu bù. Tư tưởng cộng sản phải rèn luyện gian khổ mới có được. Còn tư tưởng cá nhân thì cũng như cỏ dại, sinh sôi, nảy nở rất dễ”(4). Vì vậy, đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào cũng phải quyết tâm đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân.

Hiện nay, nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bên cạnh những thuận lợi, đang chịu sự chi phối từ những mặt trái của cơ chế thị trường, những tiêu cực nảy sinh trong quá trình hội nhập, toàn cầu hóa. Chủ nghĩa cá nhân có nhiều điều kiện phát triển với những biểu hiện phức tạp, tinh vi. Nghị quyết Đại hội XI nhận định: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp”(5). Chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đang trở thành vấn đề bức xúc của toàn xã hội nhưng chậm được phát hiện và ngăn chặn kịp thời hoặc có ngăn chặn nhưng hiệu quả chưa cao. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thiếu ý thức tu dưỡng, rèn luyện; ở một số cấp uỷ việc giáo dục đạo đức, lối sống còn bị xem nhẹ hoặc hình thức. “Trong nội bộ, những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” có những diễn biến phức tạp”(6). Do thoái hoá về lý tưởng chính trị, biến chất về đạo đức, lối sống, để cho chủ nghĩa cá nhân phát triển đã làm ảnh hưởng xấu đến lòng tin của nhân dân đối với Đảng, gây trở ngại lớn đến sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Đảng ta xác định, chống chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng được xem như một nội dung liên quan trực tiếp tới vận mệnh của Đảng và quyết định đến thành công của sự nghiệp cách mạng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Vấn đề đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân vừa là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, vừa là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách trước mắt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

Quán triệt Tư tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân trong giai đoạn hiện nay cần chú trọng một số nội dung sau:

Một là, tiếp tục giáo dục, nâng cao giác ngộ lý tưởng cách mạng, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trang bị kiến thức toàn diện cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, trọng tâm là nâng cao trình độ nhận thức lý luận Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh. Tuyên truyền rộng rãi trong toàn Đảng, toàn dân ta về tác hại và những biểu hiện mới của chủ nghĩa cá nhân, để từ đó nhận diện và có biện pháp ngăn chặn. Đẩy mạnh “Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên, lâu dài của cán bộ, đảng viên, của các chi bộ, tổ chức đảng và các tầng lớp nhân dân”(7). Qua đó tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động trong toàn Đảng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, thực sự là tấm gương về phẩm chất đạo đức, lối sống.

Hai là, phát huy, mở rộng dân chủ trong Đảng, trong toàn xã hội để đoàn kết, động viên và phát huy hết tiềm năng trí tuệ, sự ủng hộ cả tinh thần và vật chất của các tầng lớp nhân dân vì sự nghiệp cách mạng. Muốn vậy, Đảng và Nhà nước tiếp tục ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, văn bản quy phạm pháp luật nhằm phát huy hơn nữa quyền làm chủ, bảo đảm lợi ích của nhân dân, vai trò giám sát của nhân dân đối với hoạt động của các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức.

Ba là, phát huy vai trò của các cơ quan dân cử, của mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các phương tiện thông tin đại chúng và của nhân dân trong việc giám sát cán bộ, công chức. Để thực hiện chủ trương đó, cần quy chế hóa, thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm. Triển khai thực hiện tốt Quy chế dân vận trong hệ thống chính trị; đổi mới và nâng cao chất lượng công tác vận động nhân dân. “Định kỳ lấy ý kiến nhận xét của nhân dân về tư cách, đạo đức của cán bộ, đảng viên”(8). Qua đó, phát huy vai trò của mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và các cơ quan thông tin đại chúng trong việc phát hiện, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, phòng chống những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân.

Bốn là, nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, duy trì chặt chẽ chế độ tự phê bình và phê bình, kết hợp xử lý nghiêm minh những trường hợp vi phạm về đạo đức, lối sống. Nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng là nâng cao tính lãnh đạo, tính giáo dục, tính chiến đấu, bảo đảm cho cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng sau mỗi lần sinh hoạt trưởng thành hơn về năng lực lãnh đạo, về nhận thức tư tưởng, tinh thần đoàn kết, ý thức đấu tranh chống những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng. Công khai hoá chế độ, tiêu chuẩn; tổ chức kê khai thu nhập, tài sản của cán bộ, đảng viên.

Năm là, coi trọng xây dựng quy chế làm việc, xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức. Xây dựng quy chế kiểm tra, giám sát có hiệu quả; phương pháp kiểm tra phải đồng bộ từ trên xuống và từ dưới lên nhằm mục đích phát hiện những sai lầm trong tư tưởng và hành động để kịp thời sửa chữa. Hồ Chí Minh nói: “Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định ít đi”(9). Có chế tài xử lý nghiêm những trường hợp chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy tội, chạy tuổi, chạy bằng cấp, chạy huân chương,… Thực hiện tốt công tác sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả trong các hoạt động lãnh đạo, quản lý của mỗi tổ chức, mỗi cá nhân.

Các cấp ủy đảng, chính quyền và đoàn thể xã hội cần quán triệt và tổ chức thực hiện một cách tích cực, sâu sắc, hiệu quả tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, đưa tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng nhanh chóng đi vào cuộc sống, làm cho Đảng ta ngày càng vững mạnh ngang tầm với nhiệm vụ, lãnh đạo thành công sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới.

……………………………………..

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, T5, tr.238 – 239.
2. Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng: Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng dân tộc và chấn hưng đất nước, Nxb LLCT, H, 2006, tr.318.
3. Hồ Chí Minh. Sđd, t12, tr.557-558.
4. Hồ Chí Minh.Sđd, t9, tr.448
5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H, 2011, tr.173.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd, tr.185.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd, tr.257.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd, tr.258.
9. Hồ Chí Minh: Sđd, T5, tr.287.

ThS. Đàm Trọng Tùng
Khoa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Học viện Kỹ thuật Quân sự

xaydungdang.org.vn

Nhận thức khái niệm “Đảng lãnh đạo”, “Đảng cầm quyền” theo Tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng trong các bài viết, bài nói của mình các khái niệm “Đảng lãnh đạo”, “Đảng cầm quyền”. Việc nhận thức rõ các vấn đề đó trong tư tưởng của Người trong giai đoạn hiện nay là vấn đề hết sức cần thiết, làm cơ sở cho Đảng ta tiếp tục đổi mới về phương thức lãnh đạo. Trong phương hướng, giải pháp xây dựng Đảng của nhiệm kỳ Đại hội X, Đảng ta đã xác định: “Nghiên cứu, tổng kết, tiếp tục làm rõ quan điểm về Đảng lãnh đạo và Đảng cầm quyền làm cơ sở đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng một cách cơ bản, toàn diện”(1). Tại Đại hội XI, trong phương hướng, giải pháp xây dựng Đảng những năm tới, Đảng ta tiếp tục xác định: “Tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm sáng tỏ một số vấn đề về đảng cầm quyền”(2).

1. Đảng lãnh đạo là một khái niệm được các nhà kinh điển Mác-Lênin nêu ra vào những năm cuối của thế kỷ XIX, đánh dấu sự trưởng thành về mặt tổ chức với sự ra đời các đảng của giai cấp công nhân, lực lượng tiên phong thực hiện sứ mệnh lịch sử lãnh đạo quần chúng nhân dân lao động thủ tiêu chế độ bóc lột, xây dựng một xã hội mới tiến bộ vì con người, không còn bóc lột, áp bức, bất công. Từ những phân tích của V.I.Lênin về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Nga đối với quần chúng nhân dân lao động trong cách mạng vô sản đã cho thấy, nội hàm khái niệm “Đảng lãnh đạo” được hiểu là một hình thức của cuộc đấu tranh giai cấp, là giai cấp công nhân – thực hiện vai trò tiên phong, gương mẫu, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân để làm sao có được sự đồng tình, ủng hộ một cách tự nguyện của đại đa số nhân dân lao động đối với đảng, kể cả khi đảng chưa giành được chính quyền, nhằm xây dựng một xã hội tiến bộ theo mục tiêu của đảng. V.I.Lênin viết rằng: “Không có sự đồng tình và ủng hộ của đại đa số nhân dân lao động đối với đội tiên phong của mình, tức đối với giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được. Nhưng sự đồng tình và ủng hộ đó không thể có ngay được và không phải do những cuộc bỏ phiếu quyết định, mà phải trải qua một cuộc đấu tranh giai cấp lâu dài, khó khăn, gian khổ mới giành được. Cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản để giành lấy sự đồng tình, để giành lấy sự ủng hộ của đa số nhân dân lao động không phải kết thúc khi giai cấp vô sản đã cướp được chính quyền. Sau khi giành được chính quyền, cuộc đấu tranh đó vẫn tiếp tục như trước, có điều là với hình thức khác mà thôi”(3).

Trên cơ sở quan điểm của V.I.Lênin về đảng lãnh đạo, Hồ Chí Minh không chỉ bằng hành động thực tiễn là sáng lập ra một đảng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc để lãnh đạo toàn dân trong công cuộc giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam mà đã góp phần làm rõ cả nhận thức khái niệm về Đảng lãnh đạo. Theo Người: “Lãnh đạo là làm đày tớ nhân dân và làm cho tốt”(4); “Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ cấp nào và ngành nào – đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân”(5).

Với các luận điểm trên, nội hàm khái niệm “Đảng lãnh đạo” trong quan điểm của Hồ Chí Minh đã được làm rõ qua các nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, “Đảng lãnh đạo” là một khái niệm chỉ sự tác động, ảnh hưởng của Đảng (qua các tổ chức đảng và đảng viên) đối với quần chúng nhân dân. Tức chủ yếu chỉ nói đến sự lãnh đạo của Đảng đối với quần chúng nhân dân. Hồ Chí Minh không bao giờ sử dụng các khái niệm “Đảng lãnh đạo Nhà nước” hay “Đảng lãnh đạo Chính quyền”, kể cả sau khi Đảng đã lãnh đạo nhân dân giành được chính quyền. Đảng lãnh đạo quần chúng nhân dân có nghĩa là Đảng phải làm sao trở thành lực lượng tiên phong trong dân chúng, vạch hướng, xác định được mục tiêu đúng đắn đáp ứng được lợi ích và nguyện vọng cơ bản của đông đảo quần chúng nhân dân; đồng thời phải có được uy tín cao do làm tốt sứ mệnh “người đày tớ trung thành của nhân dân” từ đó mà vận động, thuyết phục được quần chúng nhân dân ủng hộ, đi theo Đảng.

Thứ hai, Đảng lãnh đạo là một khái niệm không gắn với quyền lực. Tức Đảng không dựa vào quyền lực (quyền lực được hiểu theo nghĩa có sự cưỡng bức, ép buộc) trong sự ảnh hưởng, trong quá trình tác động của chủ thể lãnh đạo là Đảng đến đối tượng lãnh đạo là quần chúng nhân dân. Sự lãnh đạo của Đảng đối với quần chúng nhân dân có đặc điểm là sự vận động mang tính thuyết phục. Đảng lấy uy tín của mình là một Đảng có “đạo đức và văn minh” để thuyết phục quần chúng nhân dân đi theo, ủng hộ, thực hiện các cương lĩnh, đường lối, nghị quyết của Đảng. Điều đó diễn ra cả trước và sau khi Đảng lãnh đạo nhân dân giành được chính quyền.

Thứ ba, khái niệm Đảng lãnh đạo được hiểu như một hình thức của cuộc đấu tranh giai cấp cả trong cách mạng giải phóng dân tộc và trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chính từ trong cuộc đấu tranh đó, Đảng đã tỏ ra là lực lượng “có sức hấp dẫn lớn”, được quần chúng nhân dân tin yêu, ca ngợi, tự nguyện suy tôn là lực lượng giữ địa vị lãnh đạo. Sau khi Đảng lãnh đạo nhân dân giành được chính quyền, sự suy tôn đó được kiểm chứng chủ yếu qua các đợt bầu cử dân chủ và khi mà có đa số đảng viên của Đảng được bầu vào các cơ quan quyền lực nhà nước các cấp. Tuy nhiên, nhân dân tự nguyện suy tôn địa vị lãnh đạo của Đảng không có nghĩa là Đảng có thể giữ mãi địa vị đó nếu Đảng đánh mất niềm tin của nhân dân, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay nếu Đảng không chiến thắng được trong cuộc đấu tranh gian khổ chống chủ nghĩa cá nhân. Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ rằng: “Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hằng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo”(6); rằng: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(7).

2. Đảng cầm quyền là một khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các nước phương Tây ngay khi xã hội bắt đầu hình thành các đảng chính trị. Ở nước Nga Xô-viết trước đây, V.I.Lênin cũng đã đề cập nhiều các vấn đề liên quan đến đảng cầm quyền. Theo V.I.Lênin, đảng cầm quyền được hiểu là “đảng nắm chính quyền” bằng những người đại diện của đảng trực tiếp thực hiện công việc quản lý trong bộ máy nhà nước. Theo V.I.Lênin, những cán bộ, đảng viên trong bộ máy nhà nước phải hoạt động làm sao bảo đảm vừa với tư cách là người đại diện cho đảng thực hiện việc tuyên truyền, vận động nhân dân đi theo đảng, tức là hoạt động “lãnh đạo”, vừa với tư cách là người đại diện cho đảng, đồng thời là đại biểu của nhân dân thực hiện công việc quản lý nhà nước, tức là hoạt động “cầm quyền”. Trong diễn văn tại Hội nghị II toàn Nga các cán bộ tổ chức (6-1920), V.I.Lênin đã viết: “Người cán bộ ấy phải nhớ rằng anh ta không những là người tuyên truyền bằng lời nói, không những phải giúp đỡ những tầng lớp nhân dân mê muội nhất; đó là nhiệm vụ chủ yếu của anh ta và không làm như vậy anh ta không thể tự coi mình là người cộng sản được. Nhưng ngoài ra, anh ta phải là người đại diện Chính quyền Xô- viết… người đại diện cho đảng nắm chính quyền hiện đang thông qua một bộ phận giai cấp vô sản mà điều khiển toàn bộ nước Nga”(8). Điều đó cho thấy, đảng cầm quyền là một khái niệm gắn với quyền lực. Tức đảng có quyền lực chính trị mà cụ thể là ở việc “nắm chính quyền” hay “nắm quyền lực nhà nước”. Không những thế, theo V.I.Lênin, khi đảng nắm được chính quyền thì đảng không chỉ có quyền lực chính trị, mà “với tư cách nhà nước, còn có thêm được quyền lực kinh tế”(9).

Ở nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những nhận thức sớm về Đảng cầm quyền. Tuy không nêu rõ khái niệm “Đảng cầm quyền” là như thế nào, nhưng qua những bài viết, bài nói của Người cho thấy rằng, “Đảng cầm quyền” là khái niệm có những điểm khác với “Đảng lãnh đạo”. Đảng cầm quyền là một khái niệm gắn với quyền lực. Theo Người, Đảng cầm quyền cũng tức là Đảng nắm chính quyền, nghĩa là Đảng có quyền lực trong thực tế. Tuy nhiên, Đảng ta là đội tiên phong không chỉ của giai cấp công nhân mà là của cả dân tộc, “Đảng là đảng của giai cấp lao động, mà cũng là đảng của toàn dân”(10); đồng thời, những cán bộ, đảng viên của Đảng trực tiếp thi hành những nhiệm vụ quản lý trong bộ máy nhà nước đều chỉ là những người được nhân dân “ủy thác”, bầu ra để phục vụ nhân dân. Do vậy, ở nước ta, Đảng nắm chính quyền cũng tức là nhân dân nắm chính quyền, bởi Đảng chỉ là lực lượng tiêu biểu, đại diện cho toàn dân nắm chính quyền. Cán bộ, đảng viên trong bộ máy nhà nước có quyền lực nhưng quyền lực đó là thuộc về nhân dân. Người viết: “Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy”(11). Có thể thấy, đây là một nét đặc thù của Đảng cầm quyền ở Việt Nam hiện nay. Điều này không có được đối với các đảng cầm quyền ở nhiều nước trên thế giới, khi mà đảng cầm quyền chỉ là đảng đại diện cho một lực lượng trong nhiều lực lượng khác nhau của các giai cấp, tầng lớp dân chúng trong xã hội.

3. Những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “Đảng lãnh đạo”, “Đảng cầm quyền” nêu trên có ý nghĩa rất lớn đối với chúng ta hiện nay trong việc nhận thức đúng đắn nội hàm của các khái niệm đó làm cơ sở để đổi mới phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền của Đảng một cách đúng hướng.

Trước hết, trong mối quan hệ, tác động của Đảng đối với Nhà nước mà từ trước đến nay chúng ta coi là quan hệ “lãnh đạo”, “Đảng lãnh đạo Nhà nước” cần phải có sự nhận thức lại rõ hơn. Đây phải được coi là quan hệ gắn với quyền lực, do sự “cầm quyền” của Đảng. Tức Đảng có quyền lực, “Đảng cầm quyền”, nắm quyền lực nhà nước bằng cách “Đảng “hóa thân” sự lãnh đạo của mình trong sự quản lý của Nhà nước, trên từng phương diện của đời sống kinh tế-xã hội”(12). Do vậy, hoạt động của Đảng hiện nay vừa có sự lãnh đạo, vừa có sự cầm quyền với các phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền của Đảng.

Phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền của Đảng có những điểm giống nhau và khác nhau. Điểm giống nhau chủ yếu ở chỗ: Sự tác động, ảnh hưởng của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội đều nhằm hướng tới thực hiện các cương lĩnh, mục tiêu do Đảng đề ra; Đảng phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Điểm khác nhau chủ yếu ở chỗ: Phương thức lãnh đạo của Đảng tập trung ở việc xác định đúng đắn đường lối, mục tiêu thể hiện trong các cương lĩnh, nghị quyết của Đảng; ở tính thuyết phục của công tác tư tưởng, tuyên truyền, giáo dục của Đảng; ở việc toàn Đảng, mỗi đảng viên luôn tự rèn luyện, nêu cao tính tiên phong, gương mẫu về mọi mặt, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, thực sự là “người đày tớ trung thành của nhân dân”, trở thành ngọn cờ dẫn đường, vận động, thuyết phục nhân dân tự nguyện đi theo, ủng hộ Đảng, phấn đấu thực hiện thắng lợi đường lối, mục tiêu của Đảng. Phương thức cầm quyền của Đảng tập trung ở việc thực hiện công tác cán bộ, cắt cử và nắm chắc, kiểm tra, giám sát những cán bộ ưu tú của Đảng giữ những vị trí chủ chốt của bộ máy nhà nước để trực tiếp và độc lập với những thẩm quyền nhất định trong việc điều hành quá trình hoạch định và thực thi các quyết định, chính sách của chính quyền nhà nước các cấp trên cơ sở pháp luật và các cơ chế đã được thể chế hóa nhằm thực hiện các định hướng mục tiêu của Đảng.

Sự lãnh đạo và cầm quyền của Đảng là hai mặt hoạt động có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau. Một mặt, để có và giữ vững địa vị cầm quyền, đòi hỏi Đảng phải có và giữ vững địa vị lãnh đạo, tức Đảng phải luôn có được vị trí tiên phong trong toàn xã hội, luôn được nhân dân tin yêu, đồng tình ủng hộ. Mặt khác, để có và giữ vững địa vị lãnh đạo, thì ngoài việc Đảng phải thường xuyên nâng cao năng lực lãnh đạo, tức nâng cao năng lực hoạch định đường lối, chính sách đảm bảo đúng đắn, hợp lòng dân; làm tốt công tác tư tưởng tạo sự đồng thuận cao trong Đảng và toàn xã hội; làm tốt sứ mệnh “người đày tớ trung thành của nhân dân”, Đảng còn phải thường xuyên nâng cao năng lực cầm quyền của mình, tức làm tốt công tác tổ chức cán bộ, bảo đảm hiệu quả cao trong quản lý của Nhà nước bởi đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng ở các cơ quan quyền lực nhà nước và trên mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại… Chính từ việc thực hiện tốt các mặt hoạt động nêu trên sẽ là điều kiện tiên quyết để Đảng luôn giữ vững được lòng tin yêu của nhân dân đối với Đảng, từ đó nhân dân mới dành nhiều lá phiếu tiến cử các cán bộ thay mặt Đảng vào các cơ quan quyền lực nhà nước từ trung ương đến địa phương trong những đợt bầu cử, trưng cầu ý kiến nhân dân, như bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp vừa qua.

—————————————

1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 306.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 255.
3. V.I.Lênin: Toàn tập, t. 39, NXB Tiến bộ, Mat-xcơ-va, 1979, tr. 251.
4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 12, tr. 222.
5. Hồ Chí Minh. Sđd, t. 10, tr. 323.
6. Hồ Chí Minh, Sđd, t. 3, tr. 139.
7. Hồ Chí Minh, Sđd, t. 12, tr. 557-558.
8. V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t. 41, tr. 181.
9. V.I.Lênin: Sđd, t. 43, tr. 75.
10. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr.231.
11. Hồ Chí Minh. Sđd, t. 7, tr. 218-219.
12. Nhị Lê, Về sự cầm quyền của Đảng, Tạp chí Cộng Sản, số 16, 8-2006, tr. 44; Nguyễn Hữu Đổng (chủ biên), Đảng và các tổ chức chính trị – xã hội trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2009, tr. 154, 166.

PGS, TS. Nguyễn Hữu Đổng và TS. Ngô Huy Đức
Viện Chính trị học, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

xaydungdang.org.vn

Kiên định và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh

(ĐCSVN) – Một trong những bài học lớn Đảng ta đã rút ra từ thực tiễn 76 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam và 20 năm lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng XHCN đó là: Trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng Chủ nghĩa Mác- Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh. 

Trong điều kiện hiện nay khi chế độ XHCN bị tan rã ở Liên Xô và Đông Âu, khi các thế lực thù địch đang điên cuồng tấn công phủ định Chủ nghĩa Mác- Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, vì sao Đảng ta tiếp tục khẳng định phải kiên định và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác- Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh.

Đến Đại hội VII (1991), tư duy lý luận của Đảng ta đã có bước phát triển quan trọng, khi trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Đảng ta khẳng định: Chủ nghĩa Mác- Lê nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam.
Những căn cứ chủ yếu của sự khẳng định này là gì?

1- Xin được bắt đầu từ luận điểm nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Muốn có cách mạng phải có Đảng cách mạng. Đảng có vững, cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt. Trong Đảng ai cũng phải hiểu, phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có kim chỉ nam. Trong thời đại hiện nay chủ nghĩa nhiều, học thuyết lắm nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất là Chủ nghĩa Mác- Lênin.

Không phải ngẫu nhiên, ngay sau sự kiện CNXH ở Liên Xô, Đông Âu sụp đổ, tại cuộc Hội thảo khoa học về Mác tại Pari, các nhà tư tưởng lớn của thế giới vẫn khẳng định: Tư tưởng của Mác đã làm nên lịch sử thế kỷ 20, Tư tưởng của Mác vẫn là tư tưởng của thế kỷ 21, nhân loại không có tương lai nếu không có tư tưởng của Mác.

Thực tiễn lịch sử trên l50 năm qua đã khẳng định Chủ nghĩa Mác – Lê nin là đỉnh cao trí tuệ của nhân loại. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã cung cấp cho chúng ta một thế giới quan khoa học và cách mạng. Với thế giới quan khoa học và cách mạng này chúng ta đã khám phá ra những quy luật phổ biến về sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy con người; quan hệ và vị trí của con người trong thế giới đó. Chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết duy nhất từ trước đến nay đã nêu rõ mục tiêu, chỉ rõ lực lượng, điều kiện và phương thức đấu tranh giải phóng triệt để giai cấp vô sản, nhân dân lao động và các dân tộc thoát khỏi mọi sự tha hóa, có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc và có điều kiện phát triển toàn diện, thực hiện được vai trò làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ cuộc sống của bản thân mình. Chỉ có trong Chủ nghĩa Mác-Lênin mới có sự thống nhất cao độ giữa lý tưởng chính trị cao cả với lý tưởng đạo đức, nhân văn và nhân đạo chân chính cùng khả năng thực hiện lý tưởng đó.

2- Trên 150 năm qua, lý tưởng của Chủ nghĩa Mác-Lênin đã thức tỉnh và lôi cuốn hàng triệu triệu người trên thế giới vào cuộc đấu tranh giải phóng triệt để giai cấp, xã hội và con người. Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng 10 Nga đã mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại: thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội.

Sự tồn tại và phát triển của Chủ nghĩa xã hội hiện thực trong 70 năm của thế kỷ 20 đã có những cống hiến vĩ đại cho nhân loại. Đó là: giải phóng hơn 1 tỷ người thoát khỏi áp bức bóc lột bất công có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc, đánh bại chủ nghĩa phát xít cứu nhân loại thoát khỏi bọn diệt chủng và đối mặt với những ưu việt của CNXH hiện thực, buộc chủ nghĩa tư bản phải có những điều chỉnh. Nếu một số quyền dân sinh, dân chủ nào đó có được ở các nước tư bản cũng chính là đóng góp của CNXH hiện thực.

Sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu không phải do Chủ nghĩa Mác – Lênin lỗi thời. Trên thế giới ngày nay có hàng chục vạn ngôi chùa, vậy vài ngàn ngôi chùa đổ đâu phải bởi tại Kinh hỏng mà thực chất do đám sư phá giới ở đó đã đập phá chùa.

Nói cách khác nguyên nhân sụp đổ của CNXH ở Liên Xô, Đông Âu chính là do những người cầm đầu các Đảng này đã đi theo con đường phản bội CN Mác -Lê nin, họ thực hiện chủ nghĩa cơ hội, giáo điều, bảo thủ và bị sự tấn công điên cuồng của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế thông qua chiến lược diễn biến hoà bình và bạo loạn lật đổ rất thâm độc và nguy hiểm.

Ngày nay trước sự thăng trầm của lịch sử hơn 100 năm qua, những người cộng sản chân chính, những nhà khoa học trung thực, những lực lượng tiến bộ trên toàn thế giới vẫn khẳng định những giá trị bền vững của những nguyên lí cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin, vẫn coi Chủ nghĩa Mác – Lê nin là ngọn cờ tư tưởng của thế kỷ 21 và là tương lai của nhân loại.

3- Vai trò quan trọng đặc biệt của Chủ nghĩa Mác – Lênin đối với cách mạng Việt Nam.
Năm l858 khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược và đặt ách nô dịch lên đất nước ta. Phát huy truyền thống quật cường dân tộc từ 1858 đến đầu những năm 30 của thế kỷ 20, các tầng lớp nhân dân liên tiếp vùng dậy đấu tranh chống Pháp cứu nước. Tất cả các phong trào cứu nước từ Cần Vương đến hàng trăm các cuộc khởi nghĩa, rồi phong trào Duy Tân, Đông Du… đều tràn đầy lòng yêu nước, đức hy sinh cao thượng, nhưng tất cả đều thất bại. Cách mạng Việt Nam thời kỳ này chìm trong cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước.

Năm 1911, Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, với lòng yêu nước nồng nàn, với thiên tài trí tuệ, thông qua khảo sát cuộc đấu tranh của nhiều dân tộc và nhất là trực tiếp thông qua hoạt động của nhiều tổ chức cách mạng quốc tế đã dẫn đến cuộc gặp gỡ kỳ diệu – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh gặp Lênin qua tác phẩm của Người: Luận cương về vấn đề các dân tộc và thuộc địa. Sau cuộc gặp gỡ kỳ diệu này, Bác Hồ đã tiếp nhận được bản chất cách mạng và khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Từ đây Bác đã tìm ra con đường duy nhất đúng đắn để cứu nước, cứu dân. Quá trình tiếp thu và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin để lãnh đạo cách mạng Việt Nam là quá trình chủ yếu, nguồn gốc chủ yếu hình thành Tư tưởng Hồ Chí Minh – đó là hệ thống các quan điểm chính trị sâu sắc, toàn diện về cách mạng Việt Nam.

Dưới ánh sáng soi đường của Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, Cách mạng Việt Nam đã liên tiếp giành được những thắng lợi vĩ đại. Cách mạng tháng 8 thành công, tiến hành thắng lợi 2 cuộc kháng chiến vĩ đại đánh thắng 2 đế quốc to, giải phóng miền Nam thống nhất tổ quốc, đưa cả nước vào kỷ nguyên xây dựng chủ nghĩa xã hội và tiến hành thắng lợi sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam 76 năm qua đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Bác Hồ và của Đảng ta. 76 năm qua, Bác Hồ và Đảng ta đã kiên định và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh.

Ngày nay đất nước ta đã bước vào thời kỳ mới với những nhiệm vụ lịch sử nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, tiến hành đồng bộ sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đưa nước ta sớm thoát khỏi tình trạng kém phát triển và đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Chỉ có kiên định và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh mới đảm bảo cho Đảng ta có lập trường vững chắc, có phương pháp cách mạng và khoa học để xử lý đúng đắn những vấn đề mới nảy sinh, đưa ra đường lối, chiến lược và chính sách đúng đắn để lãnh đạo nhân dân ta nắm lấy thời cơ, vận hội, vượt qua thách thức tiến tới thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị lịch sử trong thời kỳ mới.

4. Trong điều kiện hiện nay, chỉ có kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh mới góp phần củng cố vững chắc sự thống nhất ý chí trong toàn Đảng, sự đồng thuận trong xã hội, mới có cơ sở và điều kiện chính trị vững chắc để đẩy lùi nguy cơ suy thoái về chính trị tư tưởng trong một bộ phận cán bộ đảng viên hiện nay.

5. Cần phải làm gì để kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh.

– Trước hết, phải thực hiện nghiêm túc có hiệu quả lời dạy của Bác: Ai cũng phải hiểu và làm theo Chủ nghĩa Mác-Lênin. Muốn mọi cán bộ đảng viên phải hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi phải tăng cường và đổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị trong các trường chính trị, trong các trường đại học và cao đẳng cũng như đổi mới giáo dục công dân trong các trường phổ thông.

Trên cơ sở bộ giáo trình chuẩn (Triết học Mác-Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Lịch sử Đảng) để biên soạn các bộ giáo trình phù hợp với từng đối tượng. Phải đổi mới và tăng cường bồi dưỡng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị, đảm bảo đội ngũ này thực sự kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm vững bản chất cách mạng, khoa học, hiểu sâu sắc phương pháp luận Mác-Lênin, nắm vững sự vận dụng sáng tạo của Bác Hồ và Đảng ta vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, có tâm huyết, có nghệ thuật truyền đạt, giảng dạy Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự có hiệu quả.

Phải có quy định chặt chẽ tiêu chuẩn đảng viên, cán bộ các cấp về việc học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh. Phải chỉ đạo để các phương tiện thông tin đại chúng có nhiều hình thức truyền bá sâu rộng chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh trong toàn xã hội.

– Cần xác định rõ tiêu chí của việc kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cán bộ, đảng viên đó là phải hiểu và nắm vững bản chất cách mạng, khoa học và nhân văn của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện tập trung ở những vấn đề cơ bản sau:

– Nhận thức rõ mục tiêu lý tưởng, con đường, lực lượng cách mạng, phương pháp cách mạng để giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người.

– Nắm vững cả ba bộ phận cấu thành Chủ nghĩa Mác-Lênin là triết học Mác-Lênin, Kinh tế chính trị học Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học và quan trọng nhất là thấu triệt phép biện chứng duy vật mà từ bản chất của nó là “có tính phê phán và cách mạng”. Phép biện chứng duy vật là linh hồn sống của Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, là hạt nhân thế giới quan khoa học và cách mạng để từ đó có phương pháp đúng đắn khi xem xét giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra. Mỗi sự vật, hiện tượng phải được xem xét theo quan điểm toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển.

– Phải nắm chắc chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin mà cốt lõi là học thuyết hình thái kinh tế – xã hội, đó là cơ sở khoa học để củng cố niềm tin vào quy luật diệt vong của chủ nghĩa tư bản và sự thắng lợi tất yếu của chủ nghĩa xã hội. Từ đó kiên định con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

– Phải nắm chắc học thuyết kinh tế của Mác mà hạt nhân là học thuyết giá trị thặng dư để không mơ hồ, bản chất bóc bột của chủ nghĩa tư bản dù hiện nay được biểu hiện tinh vi hơn và có vẻ ”văn minh” hơn.

– Phải nắm chắc học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Không được mơ hồ dao động trước những quan điểm lý luận nhằm công kích bác bỏ vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân và đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản. Đồng thời tôn trọng và đề cao vai trò của trí thức nhưng không lầm lẫn vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân.

– Nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin là phải thấu hiểu khả năng tinh thần tự phê phán và tự điều chỉnh, bổ sung để phát triển. Do đó kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi phải gắn chặt với các điều kiện lịch sử mới để vận dụng sáng tạo, bổ sung, phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh.

– Nắm vững và kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi phải nắm vững và kiên định hệ thống nguyên lý lý luận cơ bản còn nguyên giá trị và phương pháp luận Mácxít. Đây chính là sự thống nhất biện chứng giữa thế giới quan và phương pháp luận Mác-Lênin. Không được phép coi Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ còn là phương pháp còn nguyên lý là lỗi thời.

– Khẳng định Tư tưởng Hồ Chí Minh phải nắm vững và kiên định cả ba nguồn gốc hình thành Tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là Chủ nghĩa Mác-Lênin, truyền thống tư tưởng tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa thế giới. Thấu triệt Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ nắm vững các tác phẩm của Người mà phải hiểu sâu sắc cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi, phong phú của Người.

– Nắm vững Tư tưởng Hồ Chí Minh phải nắm vững những nội dung cơ bản trong tư tưởng của Người, đó là tư tưởng của Người về mục tiêu lý tưởng của cách mạng Việt Nam, dân tộc Việt Nam trong thời đại mới: Độc lập cho dân tộc, ấm no hạnh phúc cho nhân dân. Đó là con đường thực hiện mục tiêu lý tưởng: con đường độc lập dân tộc gắn chặt với chủ nghĩa xã hội. Đó là hệ thống các quan điểm Tư tưởng của Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng Cách mạng như: Tư tưởng của Người về Đảng và xây dựng Đảng; về Nhà nước và xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân, về Mặt trận dân tộc thống nhất và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Về lực lượng vũ trang nhân dân, về xây dựng tổ chức công đoàn, nông hội, phụ nữ, thanh niên, Tư tưởng của Người về phương pháp cách mạng và Tư tưởng của Người về đạo đức cách mạng.

Kiên định và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân ta phải mài sắc cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội, xét lại, đấu tranh, bác bỏ mọi luận điệu của các thế lực thù địch trong chiến lược diễn biến hòa bình, bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ cương lĩnh, đường lối, bảo vệ vững chắc chế độ xã hội chủ nghĩa và Tổ quốc Việt Nam.

PGS.TS Đào Duy Quát
Phó Trưởng Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương

cpv.org.vn

Tư tưởng vì nhân dân, vì con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Bộ đội Cụ Hồ”

Sáu mươi năm đã trôi qua, kể từ ngày Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời theo chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh tại khu rừng Sam Cao thuộc tổng Hoàng Hoa Thám, châu Nguyên Bình (nay thuộc xã Cẩm Lý, huyện Hòa An), tỉnh Cao Bằng.

”Bộ đội Cụ Hồ” đã trở thành một biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của nhân cách và tâm hồn Việt Nam, sống mãi trong trái tim khối óc mỗi con người Việt Nam, vĩnh hằng cùng lịch sử dân tộc. ”Bộ đội Cụ Hồ” trong phẩm chất nhân cách của mình, trong sâu thẳm tâm hồn mình, luôn luôn quán triệt và thấm nhuần sâu sắc tư tưởng vì nhân dân, vì con người trong văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh.

Trong những ngày này, dân tộc ta, mỗi con người Việt Nam chúng ta rất tự hào và xúc động khi từ các diễn đàn trong cả nước đang vang lên những lời ngợi ca về hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, những con người mang đậm cốt cách tư tưởng, tác phong, đạo đức, văn hóa Hồ Chí Minh.

Càng tự hào và xúc động, chúng ta càng thấm thía công ơn trời biển của Bác Hồ, bởi chính Người đã sáng lập, giáo dục và rèn luyện bộ đội ấy, để bộ đội ấy thực sự là bộ đội vì nhân dân, vì con người, bộ đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà hy sinh chiến đấu không ngừng, không mệt mỏi. Có thể nói, sự thấm nhuần tư tưởng vì nhân dân, vì con ngưới trong văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh của ”Bộ đội Cụ Hồ” được thể hiện sâu sắc và phong phú trên nhiều phương diện, trong đó không thể không kể đến một số phương diện độc đáo và nổi bật.

Tư tưởng chỉ đạo thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân của lãnh tụ Hồ Chí Minh là tư tưởng vì nhân dân, vì con người, thể hiện sâu sắc trong ”Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân” do Người trực tiếp khởi thảo. Ngay trong mục ”Tên và phương châm hoạt động” của Đội, Người đã nêu rõ: Tên, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền. Đây là tư tưởng rất cơ bản về vận động, giác ngộ quần chúng, vận động nhân dân trong quá trình tiến hành cách mạng. Ngay từ tháng 12 năm 1944, Người đã xác định: Cuộc kháng chiến của ta là kháng chiến toàn dân, động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, nên khi tập trung xây dựng đội chủ lực vẫn cần duy trì lực lượng vũ trang các địa phương, cùng phối hợp hành động và giúp đỡ nhau về mọi mặt. Đội chủ lực có nhiệm vụ dìu dắt các đội vũ trang địa phương, giúp đỡ về huấn luyện, vũ khí làm cho lực lượng địa phương không ngừng trưởng thành.

Về quan hệ giữa đội chủ lực với các đội vũ trang địa phương, Người chỉ rõ: Đưa cán bộ địa phương về huấn luyện, tung các cán bộ đã huấn luyện đi các địa phương, trao đổi kinh nghiệm, liên lạc thông suốt, phối hợp tác chiến. Về chiến thuật, Người nhấn mạnh: Vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, ẩn hiện bất thường, làm cho kẻ địch luôn bị bất ngờ, khó truy tìm và chịu thất bại. Khi xác định vai trò của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ”là đội quân đàn anh”, là đội chủ lực, Người cũng đã chỉ ra tiền đồ phát triển của Đội: ”Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”. Để thực hiện được vai trò và tiền đồ đó, Người đã căn dặn cán bộ và chiến sĩ của Đội: Phải dựa vào dân, dựa chắc vào dân thì kẻ địch không thể nào tiêu diệt được, tổ chức của Đội phải lấy chi bộ Đảng làm hạt nhân lãnh đạo.

Quán triệt tư tưởng vì nhân dân, vì sự nghiệp giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến trong ”Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân” của lãnh tụ Hồ Chí Minh, tại buổi lễ thành lập Đội, trước đại diện của Liên tỉnh ủy Cao – Bắc Lạng, đại biểu nhân dân các dân tộc Tày, Nùng, Dao… và 34 cán bộ, đội viên được chọn lọc từ các đội du kích địa phương, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã đọc diễn từ nêu bật ý nghĩa thành lập Đội và khẳng định: ”Nhiệm vụ mà đoàn thể ủy thác cho chúng ta là một nhiệm vụ quan trọng nặng nề. Chính trị trọng hơn quân sự tuyên truyền trọng hơn tác chiến, nhiệm vụ ấy có tính chất là một nhiệm vụ giao thời…, để kêu gọi toàn dân đứng dậy, chuẩn bị cơ sở cnính trị và quân sự cho cuộc khởi nghĩa sau này… Thế là từ giở phút này trở đi, chúng ta cùng nhau tiến lên trên con đường vũ trang tranh đấu. Chúng ta… quyết tiến tới để làm tròn nhiệm vụ. Bao nhiêu oán hờn của dân tộc, bao nhiêu sự tàn khốc thê thảm đang chờ một cuộc thanh toán. Chúng ta nguyện đem xương và máu để làm việc đó. Chúng ta sẽ vạch rõ cho toàn dân rằng con đường sống duy nhất là con đường đoàn kết để vũ trang đứng dậy, Quân giải phóng sẽ tỏ rằng mình là một đội quân của dân, của nước, đi tiên phong trên con đường giải phóng dân tộc… Từ giờ phút này, các đồng chí sẽ noi theo ngọn cờ mà tiến lên trên con đường máu. Chúng ta tiến tiến mãi cho đến ngày giải phóng của toàn dân”.

Hồi tưởng lại những ngày đầu quân đội ta mới ra đời cách đây tròn sáu mươi năm, chúng ta càng thấm thía sâu sắc rằng: Bác Hồ quan tâm chăm sóc quân đội với một trái tim thương yêu vô bờ bến ngay từ những ngày quân đội mới chập chững vào đời. Đấy chính là cội rễ kiến tạo nên một quân đội ngay từ khi ra đời đã là quân đội của nhân dân, một quân đội vì dân, vì con người trong cả tâm hồn, tình cảm, lý tưởng, đạo đức, văn hóa và cả mọi mặt hoạt động chiến đấu, công tác và lao động sản xuất.

Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử văn hóa nhân loại và trở thành một danh nhân văn hóa thế giới. Ngôi sao văn hóa Hồ Chí Minh trong bầu trời văn hóa nhân loại toả chiếu khắp các châu lục và rọi chiếu cả đến nền văn hoá tương lai. Bởi văn hóa Hồ Chí Minh là văn hóa vì dân, vì con người. Vì văn hóa xét đến cùng là do con người và vì con người. Mà Hồ Chí Minh là một con người cả tâm hồn và cuộc sống vốn lúc nào và bao giờ cũng vì nhân dân, vì con người. Đạo đức Hồ Chí Minh là chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo cao cả, sáng ngời lòng nhân ái, sự quên mình, luôn luôn sống vì đồng loại, vì đồng bào và vì nhân dân. Được tắm mình trong ánh sáng văn hóa, đạo đức đó, được học tập, rèn luyện và noi theo tấm gương văn hóa, đạo đức đó, ”Bộ đội Cụ Hồ” trong sáu mươi năm qua đã mang đậm nét cốt cách, phong thái, tâm hồn Hồ Chí Minh. Đạo đức, văn hóa Hồ Chí Minh được kết tinh sâu đậm trong những đức tính, phẩm chất tốt đẹp của «Bộ đội Cụ Hồ”.

Ngày nay, trong khi nền văn hóa vật chất của thế giới đang đạt được những bước phát triển phi thường, thì loài người lại đang lo ngại cho nền văn hóa của mình, bởi nguy cơ suy thoái về tinh thần có chiều hướng phát triển gia tăng ở quy mô thế giới. Ở nước ta, trước tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường, trước sự tấn công thâm độc và xảo quyệt của các thế lực thù địch trên mọi mặt đời sống xã hội, nhất là trên lĩnh vực văn hóa, đạo đức, lối sống, nền văn hóa, đạo đức của chúng ta cũng đang đứng trước những thách thức nghiêm trọng. Người ta hồ nghi một nền văn hóa lành mạnh, mang bản sắc dân tộc sâu sắc sẽ không có khả năng chiếm lĩnh trận địa tư tưởng – văn hóa, không thể mang tính trội trong đời sống xã hội trước sự xâm thực của các loại ấn phẩm văn hóa xấu độc. Bao nhiêu lo toan, trăn trở trước lối sống thực dụng chỉ biết bản thân mình, chỉ sống cho mình mà không mảy may chăm lo đến lợi ích của cộng đồng, của xã hội đang thường trực trong suy nghĩ của những người đã từng hiến dâng cả quãng đời thanh xuân tươi đẹp của mình cho lý tưởng của Đảng và hạnh phúc của nhân dân.

Bao nhiêu hệ thống giá trị đang bị đảo lộn, lẫn lộn và mơ hồ. Bao nhiêu vấn đề trớ trêu về đạo đức, lối sống đang nảy nở tràn lan tha hóa về nhân phẩm, trống rỗng về tâm hồn, cạn kiệt về lý tưởng bởi sự tác động của xu hướng phi chính trị hóa, phi lý tưởng, sự quay trở về lợi ích cá nhân ích kỷ tầm thường nhỏ nhen.

Làm sống lại hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” thấm nhuần tư tưởng vì nhân dân, vì con người trong văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, sẽ có ý nghĩa to lớn và tác dụng thiết thực! Ngày nay, trong bối cảnh mới, trước yêu cầu mới của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, ”Bộ đội Cụ Hồ” không chỉ phát huy và phát triển bản chất, truyền thống vẻ vang của quân đội lên một trình độ mới, làm cho tư tưởng vì nhân dân, vì con người trong văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh ngày càng nở rộ trong cán bộ, chiến sĩ quân đội, mà còn phải tuyên truyền, vận động mọi người quán triệt sâu sắc tư tưởng đó để xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần đẩy lùi những tác nhân làm vẩn đục hay hoen ố nền văn hóa, đạo đức dân tộc. Đó là một nhiệm vụ to lớn và vẻ vang của quân đội ta trong tình hình hiện nay.

Tư tưởng vì nhân dân, vì con người trong văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh thấm nhuần trong ”Bộ đội Cụ Hồ” còn được thể hiện ở phương diện ”Bộ đội Cụ Hồ” luôn luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, luôn luôn được nhân dân nuôi nấng, chở che, đùm bọc.

Hồ Chí Minh là một con người vĩ đại nhưng không bao giờ Người tách mình ra khỏi nhân dân. Người khiêm tốn, giản dị, gắn bó, hoà mình cùng mọi người, bất cứ lúc nào cũng đến với đồng bào, đồng chí, đến với nhân dân như một người bạn, người thân, người ruột thịt. Trong sự bình dị ấy, Người nâng mọi người lên ngang tầm cái thiện, cái cao cả: ”Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta. Ta bỗng lớn ở bên Người một chút”. Với Hồ Chí Minh:

”Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân.

Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân
Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân.
“Trong ba yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa thì nhân hoà là hơn tất cả”.
”Hết lòng hết sức phục sự nhân dân, bất kỳ việc to việc nhỏ cũng nhằm mục đích ấy”.

Đó là tư tưởng vì nhân dân nhất quán trong văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh. Qua sáu mươi năm lịch sử, tư tưởng đó thấm vào máu thịt ”Bộ đội Cụ Hồ”, trở thành nét đặc trưng tiêu biểu cho phẩm chất nhân cách ”Bộ đội Cụ Hồ”. Và cũng chính vì vậy mà ”Bộ đội Cụ Hồ” trở thành một bộ đội vì dân, thực sự của dân. Bởi “Bộ đội Cụ Hồ” là bộ đội được giáo dục, rèn luyện theo văn hóa, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh. Phẩm chất hàng đầu của bộ đội ấy là tính nhân dân sâu sắc. Đó là cội nguồn làm nên sức mạnh bách chiến bách thắng của quân đội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cho quân đội ta một sự ưu ái đặc biệt, nhất là đối với người chiến sĩ. Người chiến sĩ chính là hình ảnh nhân dân trong ”Bộ đội Cụ Hồ”. Vì vậy, kỷ niệm sáu mươi năm Ngày thành lập quân đội, chúng ta không thể không coi trọng xây dựng ngày càng tốt hơn mối quan hệ giữa cán bộ và chiến sĩ, nhất là ở các phân đội. Chúng ta phải nghiên cứu tìm hiểu thật sự sâu sắc và đầy đủ hơn nữa về người chiến sĩ hiện đại, để đổi mới toàn diện công tác đối với chiến sĩ. Phải đến với chiến sĩ bằng văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh. Phải nâng tầm người chiến sĩ hiện đại lên ngang tầm văn hoá, đạo đức Hồ Chí Minh. Phải làm sao cho nhân dân nhìn vào chiến sĩ thấy mình, thấy dân tộc và thấy được cả tương lai của quân đội. Phát huy nhân tố con người – người chiến sĩ ”Bộ đội Cụ Hồ”, đang trở thành một vấn đề cấp bách, nóng hổi trong xây dựng quân đội hiện nay. Đó là nhiệm vụ nặng nề và hệ trọng của công tác đảng, công tác chính trị của quân đội trong những năm tới.

Theo Nguyễn Quang Hoài, Tạp chí Dân vận, tháng 12/2004

cpv.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc

Một trong những di sản quý báu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho cách mạng Việt Nam là phong cách làm việc. Phong cách làm việc đó được coi là một nét đặc sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã trở thành một trong những nhân tố quan trọng nâng cao địa vị lãnh đạo của Đảng.

PHONG CÁCH QUẦN CHÚNG

Phong cách này bắt nguồn từ sự thấm nhuần sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin: quần chúng là người sáng tạo ra lịch sử, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Bác có lòng tin vô tận đối với quần chúng. Bác luôn luôn chăm lo tăng cường mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng, và coi đó nguồn sức mạnh tạo nên mọi thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Bác nói: “Nước lấy dân làm gốc”, “gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”. Bác thường xuyên căn dặn các tổ chức Đảng , cán bộ, đảng viên phải coi trọng mối liên hệ chặt chẽ với quần chúng và phải thể hiện tinh thần phụ trách trước nhân dân. Bác nói: “Bao nhiêu cách tổ chức và cách làm việc đều vì lợi ích của quần chúng. Vì vậy, cách tổ chức và cách làm việc nào không phù hợp với quần chúng, thì ta phải bỏ đi hoặc sửa lại…”.

Với lòng nhân ái bao la đối với quần chúng, Bác Hồ thâm nhập vào quần chúng bằng phong cách thật sự của người cán bộ quần chúng, với nụ cười hiền hậu, giọng nói ấm áp và vòng tay rộng mở.

Bác nói: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”.

Một vấn đề quan trọng trong phong cách quần chúng của Bác Hồ là phải chống chủ nghĩa cá nhân. Bác đã kịch liệt phê phán chủ nghĩa cá nhân, cho đó là một thứ vi trùng phá hoại cơ thể người cán bộ, đảng viên làm cho họ không thể làm việc gì cho sự nghiệp cách mạng, dù người đó tài giỏi mấy.

PHONG CÁCH LÀM VIỆC KHOA HỌC

Bác Hồ dạy: “Gặp mỗi vấn đề phải suy tính kỹ lưỡng, chớ hấp tấp, chớ làm bừa, chớ làm liều, chớ gặp sao làm vậy”.

Muốn quyết định đúng mọi vấn đề, trước hết phải “điều tra nghiên cứu rõ ràng”. Có nắm chắc tình hình thì đề ra chính sách mới đúng. Và mỗi khi làm xong một công việc, dù thành công hay thất bại, phải biết tổng kết rút kinh nghiệm để làm “khuôn phép” cho những công việc khác, coi đó là “chìa khóa phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới”.

Để tổ chức thực hiện các nhiệm vụ công tác, Bác dạy phải biết lựa chọn cán bộ và sử dụng cán bộ. Bác căn dặn phải chí công vô tư trong tuyển chọn, xem xét cán bộ, bố trí cán bộ. Bác phê phán gay gắt những bệnh ưa nịnh hót, ghét những người chính trực…Khi giao công tác cho cán bộ thì phải làm cho họ yên tâm công tác, vui thú công tác. Quá trình người cán bộ thực hiện nhiệm vụ thì phải tổ chức kiểm tra, kiểm soát thường xuyên từ trên xuống và từ dưới lên một cách có hệ thống. Có như vậy mới đánh giá được hoạt động của cán bộ, đảng viên và còn đánh giá được những chủ trương, chính sách đề ra có đúng hay không?

PHONG CÁCH LÀM VIỆC THIẾT THỰC,CỤ THỂ

Bác Hồ nghiêm khắc lên án bệnh “hữu danh vô thực”, bệnh hình thức, khi ra chỉ thị, nghị quyết thì không gắn với điều kiện thực tế, không gắn với quần chúng và cơ sở. Trong chỉ đạo thực hiện thì không có kế hoạch cụ thể, biện pháp cụ thể, không kiểm tra, kiểm soát, không tổng kết rút kinh nghiệm.

Bác chỉ rõ: Khi ra quyết định công tác hay khi định ra cách tổ chức thực hiện, không được ngồi trên bàn giấy, nghe người dân báo cáo rồi vẽ vời, do chủ quan tưởng tượng mà không đi sâu sát thực tế. Người kịch liệt phê phán những lối làm việc không thiết thực, làm cho có chuyện, làm được ít suýt ra nhiều, “để làm một bản báo cáo cho oai, nhưng xét kỹ lại rỗng tuếch”.

PHONG CÁCH NÊU GƯƠNG

Bác Hồ nói: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông giàu tình cảm và đối với họ, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Người đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải làm kiểu mẫu trong công tác và lối sống, trong mọi lúc mọi nơi, nói phải đi đôi với làm để quần chúng noi theo. Thực tế cho thấy, nếu một cán bộ, đảng viên “nói một đằng, làm một nẻo” thì trước con mắt của nhân dân, họ không còn là người chiến sĩ tiên phong nữa, họ tuyên truyền sẽ chẳng ai nghe nữa. Và thực chất, họ đã tự tước mất vai trò của người lãnh đạo.

Bác Hồ còn rất coi trọng việc xây dựng làng, xã, huyện, tỉnh kiểu mẫu, những “người tốt, việc tốt”. Từ những nhân tố mới làm gương mẫu nhân rộng ra, dấy lên phong trào thi đua học tập và làm theo, tạo nên khí thế cách mạng hào hùng trong sản xuất công tác. . . rộng khắp trong cả nước.

Bác Hồ, ngay từ những ngày đầu hoạt động cách mạng, rất quan tâm rèn luyện cho cán bộ, đảng viên không những về mặt phẩm chất, đạo đức mà còn rèn luyện về phong cách làm việc.

Trong tác phẩm “Đường kách mệnh” (năm 1927) và “Sửa đổi lối làm việc” (10-1947), Bác Hồ đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải là người có phẩm chất đạo đức cách mạng, vừa phải có năng lực mới đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng, trong đó phong cách làm việc là một nhân tố quan trọng cấu thành phẩm chất và năng lực cán bộ. Và suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Bác Hồ nêu tấm gương sáng ngời về phong cách làm việc. Phong cách và đức độ của Người đã làm cho quần chúng nhân dân tự đáy lòng mình , đã đặt cho Người cái tên gọi hết sức thân thương người Bác, người Cha.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cống hiến tất cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng. Chính phẩm chất cao đẹp đó, Người đã xây dựng cho mình phong cách làm việc mà Đảng ta đã trân trọng gọi là phong cách Hồ Chí Minh.

Nguyễn Xuyến

cpv.org.vn

Những nội dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc ta một di sản vô giá, đó là tư tưởng của Người, trong đó có tư tưởng về đạo đức. Bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng ngời về đạo đức. Người để lại rất nhiều tác phẩm, bài nói, bài viết chuyên về đạo đức. Ngay trong tác phẩm lý luận đầu tiên Người viết để huấn luyện những người yêu nước Việt Nam trẻ tuổi, cuốn Đường Kách mệnh, vấn đề đầu tiên Người đề cập là tư cách người cách mệnh. Tác phẩm sau cùng bàn sâu về vấn đề đạo đức được Người viết nhân dịp kỷ niệm 39 năm ngày thành lập Đảng (3-2-1969), đăng trên báo Nhân dân là bài Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Trong Di chúc thiêng liêng, khi nói về Đảng, Bác cũng căn dặn Đảng phải rất coi trọng giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam đã được hình thành, phát triển trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước; là sự vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng đạo đức cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Đó là sự tiếp thu có chọn lọc và phát triển những tinh hoa văn hóa, đạo đức của nhân loại, cả phương Đông và phương Tây, mà Người đã tiếp thu được trong quá trình hoạt động cách mạng đầy gian lao, thử thách và vô cùng phong phú vì mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một hệ thống các quan điểm cơ bản và toàn diện về đạo đức, bao gồm: vị trí, vai trò, nội dung của đạo đức; những phẩm chất đạo đức cơ bản và những nguyên tắc xây dựng nền đạo đức mới; yêu cầu rèn luyện đạo đức với mỗi người cách mạng.

1. Về vị trí, vai trò của đạo đức trong xã hội và trong đời sống của mỗi người

– Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã khẳng định đạo đức là gốc của người cách mạng. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Người đã nêu lên 23 điểm thuộc “tư cách một người cách mệnh”, trong đó chủ yếu là các tiêu chuẩn về đạo đức, thể hiện chủ yếu trong 3 mối quan hệ: với mình, với người và với việc. Người viết: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” .

– Với mỗi người, Hồ Chí Minh ví đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người, như gốc của cây, như ngọn nguồn của sông suối. Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” .

Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng giúp cho con người vững vàng trong mọi thử thách. Người viết : “có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn, gian khổ, thất bại không rụt rè, lùi bước”; “khi gặp thuận lợi, thành công vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn”, mới “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”; “lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ; không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa” .

– Với yêu cầu đó, Hồ Chí Minh nêu ra năm điểm đạo đức mà người đảng viên phải giữ gìn cho đúng, đó là:

+ Tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân.
+ Ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu của Đảng.
+ Vô luận trong hoàn cảnh nào cũng quyết tâm chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu.
+ Vô luận trong hoàn cảnh nào cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết.
+ Hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng.

– Đối với Đảng, tổ chức tiền phong chiến đấu của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh yêu cầu phải xây dựng Đảng ta thật trong sạch, Đảng phải “là đạo đức, là văn minh”. Người thường nhắc lại ý của V. I. Lênin: Đảng Cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại.

– Vấn đề đạo đức được Hồ Chí Minh đề cập một cách toàn diện. Người nêu yêu cầu đạo đức đối với các giai cấp, tầng lớp và các nhóm xã hội, trên mọi lĩnh vực hoạt động, trong mọi phạm vi, từ gia đình đến xã hội, trong cả ba mối quan hệ của con người: đối với mình, đối với người, đối với việc. Tư tưởng Hồ Chí Minh đặc biệt được mở rộng trong lĩnh vực đạo đức của cán bộ, đảng viên, nhất là khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền. Trong bản Di chúc bất hủ, Người viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” .

2. Những phẩm chất đạo đức cơ bản của con người Việt Nam trong thời đại mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh

a. Trung với nước, hiếu với dân

Trung, hiếu là đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam và phương Đông, được Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển trong điều kiện mới.

– Trung với nước là trung thành vô hạn với sự nghiệp dựng nước, giữ nước, phát triển đất nước, làm cho đất nước “sánh vai với cường quốc năm châu”. Nước là của dân, dân là chủ đất nước, trung với nước là trung với dân, vì lợi ích của nhân dân, “bao nhiêu quyền hạn đều của dân”; “bao nhiêu lợi ích đều vì dân”…

– Hiếu với dân nghĩa là cán bộ đảng, cán bộ nhà nước “vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ trung thành của dân”.

– Trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất hàng đầu của đạo đức cách mạng. Người dạy, đối với mỗi cán bộ đảng viên, phải “tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân”, và hơn nữa, phải “tận trung với nước, tận hiếu với dân”.

– Trung với nước, hiếu với dân là phải gắn bó với dân, gần dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc. Phải nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, quan tâm cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, làm cho dân hiểu rõ nghĩa vụ và quyền lợi của người làm chủ đất nước.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về trung với nước, hiếu với dân thể hiện quan điểm của Người về mối quan hệ và nghĩa vụ của mỗi cá nhân với cộng đồng, đất nước.

b. Yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình

Yêu thương con người trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh xuất phát từ truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, kết hợp với chủ nghĩa nhân văn của nhân loại, chủ nghĩa nhân đạo cộng sản. Hồ Chí Minh coi yêu thương con người là phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất. Yêu thương con người thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân trong quan hệ xã hội.

– Tình yêu thương con người thể hiện trước hết là tình thương yêu với đại đa số nhân dân, những người lao động bình thường trong xã hội, những người nghèo khổ, bị áp bức, bóc lột. Yêu thương con người phải làm mọi việc để phát huy sức mạnh của mỗi người, đoàn kết để phấn đấu cho đạt được mục tiêu “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.

– Thương yêu con người phải tin vào con người. Với mình thì chặt chẽ, nghiêm khắc; với người thì khoan dung, độ lượng, rộng rãi, nâng con người lên, kể cả với những người lầm đường, lạc lối, mắc sai lầm, khuyết điểm.

– Yêu thương con người là giúp cho mỗi người ngày càng tiến bộ, tốt đẹp hơn. Vì vậy, phải thực hiện phê bình, tự phê bình chân thành, giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm để không ngừng tiến bộ.

– Yêu thương con người phải biết và dám dấn thân để đấu tranh giải phóng con người.
Đối với những người cộng sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: học tập chủ nghĩa Mác – Lênin để thương yêu nhau hơn. Người viết: “Hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin được”

c. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư

Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư là nền tảng của đời sống mới, là phẩm chất trung tâm của đạo đức cách mạng trong tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh, là mối quan hệ “với tự mình”.

– Hồ Chí Minh quan niệm cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức tính của con người, như trời có bốn mùa, đất có bốn phương và Người giải thích cặn kẽ, cụ thể nội dung từng khái niệm.

+ Cần là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm. Phải thấy rõ “lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của mỗi chúng ta”.

+ Kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của dân, của nước, của bản thân mình, tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ; “không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi, không phô trương, hình thức…”.

Cần, kiệm là phẩm chất của mọi người lao động trong đời sống, trong công tác.
+ Liêm là trong sạch, là “luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của dân”, “không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân”; “không tham địa vị, không tham tiền tài…, không tham tâng bốc mình…”.

+ Chính là ngay thẳng, không tà, là đúng đắn, chính trực. Đối với mình không tự cao, tự đại; đối với người không nịnh trên, khinh dưới, không dối trá, lừa lọc, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết. Đối với việc thì để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà. Được giao nhiệm vụ gì quyết làm cho kỳ được, “việc thiện dù nhỏ mấy cũng làm; việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh”.

Liêm, chính là phẩm chất của người cán bộ khi thi hành công vụ.

– Chí công là rất mực công bằng, công tâm; vô tư là không được có lòng riêng, thiên tư, thiên vị “tư ân, tư huệ, hoặc tư thù, tư oán”, đem lòng chí công, vô tư đối với người, với việc. “Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Muốn “chí công, vô tư” phải chiến thắng được chủ nghĩa cá nhân.

Đây là chuẩn mực của người lãnh đạo, người “giữ cán cân công lý”, không được vì lòng riêng mà chà đạp lên pháp luật.

– Cần, kiệm, liêm, chính có quan hệ chặt chẽ với nhau và với chí công, vô tư. Cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công, vô tư. Ngược lại, đã chí công vô tư, một lòng vì nước, vì dân, vì Đảng thì nhất định sẽ thực hiện được cần, kiệm, liêm, chính.

d. Tinh thần quốc tế trong sáng

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế là sự mở rộng những quan niệm đạo đức nhân đạo, nhân văn của Người ra phạm vi toàn nhân loại, vì Người là “người Việt Nam nhất” đồng thời là nhà văn hóa kiệt xuất của thế giới, anh hùng giải phóng dân tộc, chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế.
Quan niệm đạo đức về tình đoàn kết quốc tế trong sáng của Hồ Chí Minh thể hiện trong các điểm sau:

– Đoàn kết với nhân dân lao động các nước vì mục tiêu chung đấu tranh giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột.

– Đoàn kết quốc tế giữa những người vô sản toàn thế giới vì một mục tiêu chung, “bốn phương vô sản đều là anh em”.

– Đoàn kết với nhân loại tiến bộ vì hoà bình, công lý và tiến bộ xã hội.

– Đoàn kết quốc tế gắn liền với chủ nghĩa yêu nước. Chủ nghĩa yêu nước chân chính sẽ dẫn đến chủ nghĩa quốc tế trong sáng, chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa sô vanh, vị kỷ, hẹp hòi, kỳ thị dân tộc…

3. Những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới

Hồ Chí Minh nêu lên những nguyên tắc xây dựng nền đạo đức mới trong xã hội và chính Người đã suốt đời không mệt mỏi tự rèn mình, giáo dục, động viên cán bộ, đảng viên, nhân dân cùng thực hiện. Đó là:

a. Nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức

– Đối với mỗi người, lời nói phải đi đôi với việc làm.

– Nói đi đôi với làm trước hết là sự nêu gương tốt. Sự làm gương của thế hệ đi trước với thế hệ đi sau, của lãnh đạo với nhân viên… là rất quan trọng. Người yêu cầu, cha mẹ làm gương cho các con, anh chị làm gương cho em, ông bà làm gương cho con cháu, lãnh đạo làm gương cho cán bộ, nhân viên…

– Đảng viên phải làm gương trước quần chúng. Người nói: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến.

Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước” .

b. Xây đi đôi với chống

– Cùng với việc xây dựng đạo đức mới, bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, nhất thiết phải chống những biểu hiện phi đạo đức, sai trái, xấu xa, trái với những yêu cầu của đạo đức mới, đó là “chủ nghĩa cá nhân”. Xây đi đôi với chống là muốn xây phải chống, chống nhằm mục đích xây. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải chống chủ nghĩa cá nhân.

– Xây dựng đạo đức mới trước hết phải được tiến hành bằng giáo dục, từ gia đình đến nhà trường, tập thể và toàn xã hội. Những phẩm chất chung nhất phải được cụ thể hoá sát hợp với các tầng lớp, đối tượng. Hồ Chí Minh đã cụ thể hoá các phẩm chất đạo đức cơ bản đối với từng giai cấp, tầng lớp, lứa tuổi và nhóm xã hội. Trong giáo dục, vấn đề quan trọng là phải khơi dậy ý thức đạo đức lành mạnh của mọi người, để mọi người nhận thức được và tự giác thực hiện.

– Trong đấu tranh chống lại cái tiêu cực, lạc hậu trước hết phải chống chủ nghĩa cá nhân, phải phát hiện sớm, phải chú ý phòng ngừa, ngăn chặn.

– Để xây và chống cần phát huy vai trò của dư luận xã hội, tạo ra phong trào quần chúng rộng rãi, biểu dương cái tốt, phê phán cái xấu. Người đã phát động cuộc thi đua “ba xây, ba chống”, viết sách “Người tốt, việc tốt” để tuyên truyền, giáo dục về đạo đức, lối sống.

c. Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời

– Hồ Chí Minh khẳng định, đạo đức cách mạng phải qua đấu tranh, rèn luyện bền bỉ mới thành. Người viết: “đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” .

– Phải rèn luyện, tu dưỡng đạo đức suốt đời. Người dạy: “ Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân” .

– Tự rèn luyện có vai trò rất quan trọng. Người khẳng định, đã là người thì ai cũng có chỗ hay, chỗ dở, chỗ xấu, chỗ tốt, ai cũng có thiện, có ác ở trong mình. Vấn đề là dám nhìn thẳng vào con người mình, không tự lừa dối, huyễn hoặc; thấy rõ cái hay, cái tốt, cái thiện để phát huy và thấy rõ cái dở, cái xấu, cái ác để khắc phục. Tu dưỡng đạo đức phải được thực hiện trong mọi hoạt động thực tiễn, trong đời tư cũng như trong sinh hoạt cộng đồng, trong mọi mối quan hệ của mình.

Theo Tài liệu học tập trong cuộc vận động
“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”

cpv.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng (Từ tác phẩm Đường Kách Mệnh đến bản Di chúc cuối cùng)

(ĐCSVN) – Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, từ bài giảng đầu tiên trong tác phẩm Đường Kách Mệnh[1] đến bản Di chúc cuối cùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức và việc tu dưỡng đạo đức, coi đạo đức là “cái gốc” của người cách mạng.

Vấn đề đạo đức cách mạng trong tư tưởng của Hồ Chí Minh luôn có sự nhất quán và tính lôgic cao về tinh thần cách mạng cũng như phương pháp tư duy, nhất là phương pháp tư duy khoa học, tư duy biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin, trên cơ sở truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, chắt lọc tinh hoa đạo đức của nhân loại, Người còn phát triển và sáng tạo những giá trị tư tưởng đạo đức mới phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Tầm quan trọng của đạo đức bao giờ cũng được Người đặt ở vị trí hàng đầu. Ngay từ khi Đảng ta chưa ra đời, không phải ngẫu nhiên những bài giảng đầu tiên của Người cho thế hệ thanh niên yêu nước đầu tiên ở nước ta theo con đường cách mạng vô sản là những bài giảng về tư cách của người cách mạng. Trong trang đầu cuốn Đường Kách Mệnh – Người đã ghi 23 nét tư cách của một người cách mạng trong ứng xử với mình, với người, với đời, với việc. Đó là những chuẩn mực: “Tự mình phải:

Cần kiệm.
Hòa mà không tư.
Cả quyết sửa lỗi mình.
Cận thận mà không nhút nhát.
Hay hỏi.
Nhẫn nại (chịu khó).
Hay nghiên cứu, xem xét.
Vị công vong tư.
Không hiếu danh, không kiêu ngạo.
Nói thì phải làm.
Giữ chủ nghĩa cho vững.
Hy sinh.
Ít lòng ham muốn về vật chất.
Bí mật.
Đối với người phải:
Với từng người thì khoan thứ.
Với đoàn thể thì nghiêm.
Có lòng bày vẽ cho người.
Trực mà không táo bạo.
Hay xem xét người.
Làm việc phải:
Xem xét hoàn cảnh kỹ càng.
Quyết đoán.
Dũng cảm.
Phục tùng đoàn thể”[2].

Trên cơ sở nhận thức về nền tảng của việc hình thành đạo đức mới, vấn đề đạo đức cách mạng được Người nhắc lại nội dung tương tự khi nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa, năm 1947, nhưng cụ thể hơn[3], gồm 5 điểm: một, Mình đối với mình; hai, Đối với đồng chí mình phải thế nào?; ba, Đối với công việc phải thế nào?; bốn, Đối với nhân dân; và năm, Đối với đoàn thể. Với những lời căn dặn này cho thấy, Người đã đặt vấn đề đạo đức cách mạng một cách rất lôgic và có cơ sở khoa học về các quan hệ lợi ích. Hầu như các nguyên tắc đạo đức Người đề ra trước hết cho mình thực hiện, sau đó mới để giáo dục người khác, có thể nêu ra một số chuẩn mực cơ bản về đạo đức cách mạng theo tư tưởng của Người, như sau:

1/ Nếu bài học về đạo đức cách mạng đầu tiên trong cuốn Đường Kách Mệnh, Người chỉ đề ra những nguyên lý chung thể hiện mối quan hệ giữa ba khía cạnh, phản ánh mối quan hệ đạo đức mới, đạo đức cách mạng mà người cách mạng cần quán triệt trước tiên, đồng thời nêu cao việc tu dưỡng đạo đức cách mạng; thì ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Người đã đề ra những nguyên tắc về hành vi đạo đức cách mạng đối với người có chức, có quyền trong Chính phủ từ toàn quốc đến các làng, Người đề nghị: “Mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: Cần, kiệm, liêm, chính” để “làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động”.

Người coi cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là phẩm chất đạo đức cơ bản nhất của con người mới, đồng thời là chuẩn mực cơ bản của nền đạo đức mới của dân tộc ta. Đây là phẩm chất được Người đề cập đến nhiều nhất, thường xuyên nhất với một nội dung đạo đức mới rất cách mạng mà vẫn giữ được nền tảng của các khái niệm đạo đức cũ rất quen thuộc với mọi người. Phẩm chất này gắn liền với họat động hàng ngày của mỗi con người và có quan hệ mật thiết với tư tưởng trung với nước, hiếu với dân. Chí công vô tư về thực chất là nối tiếp cần, kiệm, liêm, chính. Cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công vô tư và ngược lại. Người có tinh thần chí công vô tư là người ham làm những việc ích nước, lợi dân, không ham địa vị, công danh, phú quý, không nghĩ đến quyền lợi cá nhân. Người cho rằng những cán bộ, đảng viên có đầy đủ đức tính nêu trên sẽ đứng vững trước mọi thử thách, hơn nữa yêu cầu họ phải thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đối với người, với việc và với chính mình.

Người từng nói: “Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công, vô tư. Mình đã chí công, vô tư thì khuyết điểm sẽ càng ít, mà những tính tốt như sau, ngày càng thêm. Nói tóm tắt, tính tốt ấy gồm có 5 điều: Nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm” [4]. Có thể thấy rằng từ các khái niệm đạo đức cũ như: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm, Người đã đưa vào đây nội dung đạo đức mới bằng cách giải thích nó theo quan niệm mới, với một nội dung hoàn toàn khác, rất cách mạng, phản ánh các mối quan hệ một cách rõ ràng, cụ thể và dễ hiểu.

2/ Từ nội dung hẹp của các phạm trù đạo đức cũ, Người mở rộng, đưa vào đây một nội dung rất mới, tiến bộ, cách mạng, vượt qua những hạn chế của tư tưởng đạo đức truyền thống và nâng lên thành tư tưởng đạo đức mới, mà tiêu biểu nhất là các khái niệm: trung, hiếu, nhân, nghĩa… “Từ trung với vua thành trung với nước; từ hiếu với cha mẹ mình thành hiếu với dân; từ nhân chỉ là nhân ái thành nhân dân, từ cần cho riêng mình thành cần cho cả xã hội; từ kiệm cho riêng mình thành tiết kiệm chung phục vụ cho đất nước; từ liêm nghĩa là liêm khiết, không tham nhũng, nghĩa là chỉ giữ cho bản thân mình trong sạch, Người mở rộng thành vấn đề liêm khiết mang tính xã hội; từ chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đúng đắn, Người chuyển sang vấn đề thiện, ác; làm việc chính, là người thiện; làm việc tà là người ác”[5]. Người nhấn mạnh: “Người cán bộ phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính. Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là: Nhận rõ phải trái, giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân”[6]. Trung vơí nước, hiếu với dân được coi là nội dung cơ bản nhất, bao trùm nhất trong tư tưởng đạo đức cách mạng của Người, thể hiện mối quan hệ giữa con người với Tổ quốc và nhân dân. “Trung với nước” là trung thành với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc, nước ở đây là nước của dân, dân là chủ nhân của đất nước. Người cho rằng bao nhiêu quyền hạn đều là của dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. Xuất phát từ quan niệm như vậy, nên “hiếu” trong tư tưởng của Người chính là “Hiếu với dân”. Hiếu với dân không chỉ là xem người dân như đối tượng dạy dỗ, ban ơn mà là đối tượng phải phục vụ hết lòng. Ở người, lý luận luôn gắn chặt với thực tiễn, lời nói luôn đi đôi với việc làm. Cuộc đời của Người là minh chứng sinh động về tư tưởng tận trung với nước, tận hiếu với dân.

3/ Nếu như trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất của mỗi con người – công dân đối với Tổ quốc, đối với nhân dân, thì yêu thương con người là trách nhiệm của mỗi con người đối với con người. Người cho đây là phẩm chất cao đẹp nhất của con người. Yêu thương con người trước hết là tình cảm dành cho những người bị áp bức, bóc lột, những người cùng khổ. Yêu thương con người còn được thể hiện trong mối quan hệ hàng ngày với những người đồng chí xung quanh, trong cuộc sống bình thường. Phải luôn nghiêm khắc với bản thân, nhưng rộng rãi độ lượng với ngươì khác. Điều đặc biệt là ở Người, yêu thương con người luôn luôn gắn với niềm tin vào con người, tin vào lương tri, tin vào lòng dũng cảm, tin vào sức sáng tạo của họ trong hành trình con người tự giải phóng lấy mình, để con người làm chủ xã hội, làm chủ bản thân mình.

4/ Người đã có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cá nhân và giai cấp, giữa dân tộc và quốc tế, giữa truyền thống và hiện đại tạo ra trong quan niệm về đạo đức cách mạng sự hài hòa về các mối quan hệ lợi ích. Theo Người, tinh thần quốc tế trong sáng thực chất là chủ nghĩa yêu nước gắn liền với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Người cho rằng nếu tinh thần yêu nước không chân chính, tinh thần quốc tế không trong sáng thì có thể dẫn tới tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, hẹp hòi, sô vanh, biệt lập, kỳ thị chủng tộc. Từ rất sớm, Người đã chủ trương quan hệ với các quốc gia dân tộc và các tổ chức trên thế giới để thêm bạn, bớt thù. Quan điểm dân tộc đã được thổi vào thời đại, đã vượt qua biên giới quốc gia, hướng tới mục tiêu độc lập, dân chủ, hòa bình, hữu nghị và hợp tác.

Cần nhấn mạnh là tuy có những cách định nghiã khác nhau về nội hàm các khái niệm đạo đức cách mạng, nhưng nhìn chung ở Người đều có sự nhất quán về tinh thần cách mạng và phương pháp tư duy. Từ các khái niệm, phạm trù của các tư tưởng đạo đức đã có từ trước như: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm, đến cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; từ trung, hiếu, đến thiện, ác… bao giờ Người cũng có cách giải thích riêng về những chuẩn mực đạo đức phù hợp dễ hiểu, dễ chấp nhận với từng đối tượng, với mọi tầng lớp nhân dân: trí thức, quân đội, công an, công nhân, nông dân, phụ nữ, phụ lão, các cháu thiếu niên và nhi đồng… Đề cao đạo đức mới, Người đã thể hiện một tầm nhìn xa trông rộng về nhân cách con người. Những phẩm chất mà Người nêu ra là nhằm hướng con người tới cái thiện, cái tốt, cái cao cả, đồng thời ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện thoái hóa, biến chất có thể xảy ra, đặc biệt là chống khuynh hướng lạm dụng quyền lực để tham nhũng, lãng phí. Ngay cả trước khi qua đời, việc đầu tiên được đề cập đến trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân là nói về Đảng, việc đầu tiên khi đề cập đến Đảng là đạo đức, Người viết: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”[7].

Tóm lại, từ bài viết đầu tiên trong tác phẩm Đường Kách Mệnh đến bản Di chúc cuối cùng, dù ở những thời điểm lịch sử khác nhau nhưng tư tưởng của Người về đạo đức cách mạng đều có sức thuyết phục rất cao, có sức sống mạnh mẽ và có giá trị lâu bền. Bởi đó là sự thống nhất giữa lời nói, tư tưởng và hành động. Người đặt vấn đề đạo đức cách mạng từ lĩnh vực lý luận sang lĩnh vực thực tiễn, đưa đạo đức cách mạng vào chính sự nghiệp cách mạng, coi đó là một trong những nguyên tắc hoạt động cách mạng, phản ảnh các quan hệ mới về lợi ích tạo ra nền tảng vững chắc của chính quyền cách mạng nói chung và người cách mạng nói riêng./.
Tùng Khánh


[1] Đường Kách Mệnh, xuất bản năm 1927 – đây là một tác phẩm lý luận và chính trị vô cùng quan trọng, gồm những đề cương bài giảng của Nguyễn Ái Quốc, tức Chủ tịch Hồ Chí Minh giảng cho các lớp huấn luyện chính trị được tổ chức bí mật ở Quảng Châu, Trung Quốc từ đầu năm 1925 nhằm đào tạo cán bộ cách mạng nước ta, chuẩn bị về tư tưởng, đường lối và tổ chức cho việc thành lập một chính đảng mác xít của giai cấp công nhân Việt Nam.
[2] Nguyễn Ái Quốc. Đường Cách Mệnh. Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1982, tr..22-23.
[3] Xem thêm: Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 5. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 54-55.
[4] Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 5. Sđd, tr. 251.
[5] Thành Duy, Văn hóa đạo đức: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2004, tr. 35.
[6] Hồ Chí Minh. Toàn tập, Tập 7, Sđd, tr. 480.
[7] Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 12, Sđd, tr. 510.

cpv.org.vn

Đường Kách mệnh – ngọn đuốc soi đường của cách mạng Việt Nam

Kỷ niệm 85 năm tác phẩm “Đường Kách mệnh” của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1927-2012)

Tác phẩm Đường Kách mệnh xuất bản năm 1927.

(TCTG) – Trong cuộc đời mình, Hồ Chí Minh đã soạn thảo nhiều văn kiện lịch sử quan trọng, nhưng có thể khẳng định rằng Đường Kách mệnh là một trong số các tác phẩm, mà những ý tưởng hàm chứa trong đó, không chỉ được thực tiễn chứng minh là đúng đắn, độc đáo, sáng tạo mà còn có sức sống mãnh liệt, có sức lay động sâu xa trái tim hàng triệu triệu người.

Sinh ra và lớn lên khi phong trào đấu tranh yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của tầng lớp sĩ phu thời đó, dường như vẫn “đang ở trong đêm tối mà không có đường ra”, người thanh niên Nguyễn Tất Thành dù khâm phục ý chí và tấm gương cứu nước của các vị tiền bối cách mạng, song khác họ, Người đã chọn hành trình “tìm đường đi cho dân tộc” bằng một cuộc khảo nghiệm đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của nhiều quốc gia, qua nhiều châu lục. Sau gần 10 năm (1911-1920) bôn ba tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã từ một người yêu nước trở thành một người cộng sản. Khi đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, đến với con đường cứu nước theo quỹ đạo cách mạng vô sản, với một khát khao cháy bỏng về độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào, Hồ Chí Minh đã tin tưởng chắc chắn rằng: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An nam”[1].

Chọn Quảng Châu, Trung Quốc là điểm dừng chân để hoạt động cách mạng, tại đây, Người đã thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, mở lớp Huấn luyện chính trị, ra báo Thanh niên, truyền giảng cho đội ngũ cán bộ cốt cán, đầu tiên của Việt Nam những nội dung cơ bản của học thuyết Mác – Lênin, để chuẩn bị cho sự ra đời một chính Đảng vô sản kiểu mới ở Việt Nam.

Đường Kách mệnh tập hợp những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã giảng tại lớp Huấn luyện chính trị trong những năm 1925-1927, do Bộ tuyên truyền của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông ấn hành và bí mật được chuyển về trong nước theo nhiều ngả đường khác nhau (1927-1930). Trong bối cảnh Việt Nam đang khủng hoảng trầm trọng về đường lối cách mạng, về phương pháp cách mạng và đặc biệt hơn là sự khủng hoảng về tổ chức cách mạng, hơn nữa, trong khi phong trào cách mạng của các dân tộc thuộc địa phát triển, hướng theo khẩu hiệu của Lênin vĩ đại: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại!”, và ở Việt Nam với chính sách đàn áp hà khắc của thực dân Pháp: dư luận bị bưng bít thông tin, nhân dân bị đầu độc bởi văn hoá thực dân, thì những nội dung quan trọng của Đường Kách mệnh góp phần trang bị cho nhân dân tư tưởng mới của thời đại, đưa thế giới hội nhập với Việt Nam và đưa cách mạng Việt Nam hoà nhập cùng dòng chảy chung của cách mạng thế giới, càng trở nên có ý nghĩa lớn lao.

Cuốn Đường Kách mệnh do lão đồng chí Nguyễn Văn Hoan, nguyên Viện trưởng Viện công tố phúc thẩm Hà Nội sưu tầm được và tặng cho Bảo tàng Cách mạng Việt Nam ngày 26/7/1959 (ông Đặng Xuân Thiều Vụ trưởng Vụ bảo tồn – Bảo tàng đã ký nhận trong hồ sơ). Cũng theo “Hồi ký của đồng chí Nguyễn Lương Bằng”, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.182, cuốn sách này do chính ông đem về Việt Nam vào khoảng mùa thu năm 1927, và phát cho nhiều đồng chí của ta đang hoạt động ở khắp nơi, trong đó có mấy đồng chí tỉnh Hải Dương- quê hương của đồng chí.

2. Đường Kách mệnh hàm chứa những tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh, trong đó học thuyết Mác – Lênin được Người đưa vào Việt Nam theo cách của riêng mình thật giản dị, dễ hiểu, làm cho lý luận Mác – Lênin đến với Việt Nam như hạt giống tốt gặp mảnh đất mầu mỡ đã được chuẩn bị sẵn sàng. Đúng như Người đã viết: “Văn chương và hy vọng sách này chỉ ở trong hai chữ: Cách mệnh? Cách mệnh?! Cách mệnh !!!”[2].

Đường Kách mệnh đề cập trước tiên vấn đề Tư cách người cách mạng: Trong mục này, thông qua 23 điều răn, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Người cách mạng phải rèn luyện đạo đức cách mạng. Đảng Cộng sản – Bộ tham mưu tối cao của dân tộc chỉ kiên cường và hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình khi được trang bị lý luận cách mạng tiên tiến, và bao gồm những con người có trí tuệ, có đạo đức cách mạng và trung kiên nhất. Đánh giá cao vai trò, vị trí của đạo đức, coi đạo đức là gốc, là nền tảng của người cách mạng, liên quan đến sự thành bại của cách mạng, với một quan niệm mới, Hồ Chí Minh đã đưa vào nội dung đạo đức cách mạng bao hàm những vấn đề cơ bản về nhân sinh quan, thế giới quan cách mạng, về ý thức và phương pháp tư tưởng của giai cấp công nhân.

Hồ Chí Minh đã coi việc giáo dục đạo đức cách mạng là một trong những nguyên tắc cơ bản, nhằm xây dựng những con người cách mạng chân chính, tiến tới xây dựng một Đảng cách mạng chân chính của giai cấp công nhân Việt Nam. Đây cũng là một bài học quan trọng hàng đầu đối với tổ chức tiền thân của Đảng – Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, vì số đông lớp cán bộ khi đó, thuộc thành phần tiểu tư sản trí thức. Có đạo đức cách mạng, những thanh niên tiểu tư sản trí thức đó, mới tiếp thu được tinh thần và bản chất của chủ nghĩa Mác – Lênin, mới tự nguyện phấn đấu, quyết tâm hy sinh suốt đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp. Có thể nói, việc lấy tiêu chuẩn đạo đức làm một trong hai tiêu chuẩn (đức và tài) của người cán bộ cách mạng, người đảng viên cộng sản, ngay từ khi chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là một sáng tạo độc đáo, mang đậm dấu ấn Hồ Chí Minh.

Đường Kách mệnh xác định rõ mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, khẳng định con đường cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn: Đó là quan điểm cốt lõi của chủ nghĩa Mác – Lênin về con đường cách mạng Việt Nam, con đường: Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Tác phẩm nêu rõ cách mạng Việt Nam phải làm thành hai giai đoạn trên một nền tảng chung: Cách mạng dân tộc (quốc gia) và cách mạng xã hội chủ nghĩa (quốc tế). Mục đích của cuộc cách mạng thứ nhất là giải phóng dân tộc. Mục đích, đối tượng, tên gọi, lực lượng của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam được chỉ ra rất cụ thể, đó là: “Bọn cường quyền này bắt dân tộc kia làm nô lệ như Pháp với An Nam. Đến khi dân nô lệ ấy chịu không nổi nữa, tỉnh ngộ lên, đoàn kết lại, biết rằng thà chết được tự do hơn sống làm nô lệ, đồng tâm hiệp lực đánh đuổi tụi áp bức mình đi; ấy là dân tộc cách mệnh”[3]. Cùng với việc chỉ ra tên gọi của các cuộc cách mệnh (Tư bản cách mệnh, Dân tộc cách mệnh, Giai cấp cách mệnh), Hồ Chí Minh nhấn mạnh, trước hết chúng ta phải tập trung vào nhiệm vụ “dân tộc cách mệnh” để “giành lấy quyền tự do bình đẳng của dân nước mình” và khẳng định: Cuộc cách mạng thứ nhất (dân tộc cách mệnh) chuẩn bị những tiền đề cho cuộc cách mạng thứ hai (thế giới cách mệnh) về chính trị, tổ chức, kinh tế, văn hoá.

Đối tượng của “dân tộc cách mệnh” là đánh đổ chính quyền thuộc địa của Pháp. Chủ thể là toàn dân tộc, lấy quần chúng công nông làm nền tảng, vì công nông là những người bị tư bản áp bức “cho nên công nông là người chủ cách mệnh”, còn “học trò, nhà buôn nhỏ cũng bị tư bản áp bức, song không cực khổ bằng công nông; 3 hạng ấy chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nông thôi”[4]. Làm rõ vấn đề lực lượng cách mạng và mối liên minh chiến lược giữa công nhân – nông dân và bầu bạn của họ trong khi thực hiện nhiệm vụ “dân tộc cách mệnh”, Đường Kách mệnh đã tập hợp được tất cả những người Việt Nam yêu nước vào cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Điều này đã được lịch sử cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong 82 năm qua chứng minh là hoàn toàn đúng đắn.

Đường Kách mệnh nhấn mạnh vai trò quan trọng hàng đầu của Đảng – nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam và việc lựa chọn mô hình nhà nước trong tương lai: Trên cơ sở nhận thức sâu sắc bản chất của thời đại mới, về nhiệm vụ và sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, về vai trò của những nhân tố đảm bảo cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc theo quỹ đạo của cách mạng vô sản đi đến thắng lợi cuối cùng, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Trước hết phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt… Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”[5] . Cùng với những định hướng cụ thể về mục đích, đối tượng, nhiệm vụ, lực lượng và tổ chức tiền phong lãnh đạo cuộc cách mạng, Đường Kách mệnh cũng đồng thời nêu rõ vấn đề mô hình nhà nước trong tương lai khi cách mạng thành công, theo tinh thần: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”[6].

Đường Kách mệnh khẳng định cách mạng giải phóng dân tộc phải đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga với một phương pháp cách mạng mới: Đó là, để tiến hành một cuộc cách mạng mà khi chính quyền được thành lập là của dân chúng số nhiều, Hồ Chí Minh đã hướng về một cuộc cách mệnh “đến nơi”, đó là, cách mạng Nga cũng dạy chúng ta rằng: “Muốn cách mệnh thành công thì dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất”[7]. Như vậy, cùng với việc nhận thức được mối quan hệ chặt chẽ giữa yêu cầu giải phóng dân tộc và giải phóng con người là nhu cầu của thời đại và nắm bắt được tinh thần của học thuyết Mác – Lênin để giải quyết một cách triệt để nhu cầu ấy, Hồ Chí Minh đã đứng trên lập trường của giai cấp vô sản, để giải phóng dân tộc và giải phóng con người bằng một cuộc cách mạng vô sản và bước phát triển tiếp theo là xây dựng CNXH.

Nhận thức chính trị này đã đưa Hồ Chí Minh đến với định hướng cơ bản về con đường giải phóng dân tộc Việt Nam theo quỹ đạo cách mạng vô sản và thiết lập một thể chế quyền lực thuộc về nhân dân theo mô hình nhà nước Xô – Viết. Đó chính là con đường: Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, để đi tới xã hội cộng sản chủ nghĩa. Như vậy, khác với cuộc cách mạng vô sản ở các nước chính quốc: giai cấp công nhân giải phóng mình, đi tới (giúp đỡ) giải phóng các dân tộc bị áp bức và sau đó là giải phóng nhân loại, theo Hồ Chí Minh, khi tiến hành Dân tộc cách mệnh để giành lại độc lập cho Tổ quốc và tự do cho nhân dân, cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa đã giải quyết được một phần của nhiệm vụ giải phóng giai cấp, tạo cơ sở để đi tới giải phóng giai cấp hoàn toàn.

Không dừng lại ở đó, Đường Kách mệnh còn đồng thời chỉ ra phương pháp cách mạng: vận động quần chúng, tổ chức đấu tranh cách mạng, cách thức xây dựng các tổ chức quần chúng, v.v.. và thông qua đó tuyên truyền, giảng giải lý luận chủ nghĩa cho dân hiểu, để mọi người đồng chí, đồng đích, đồng lòng. Thông qua việc nêu rõ vai trò và cách thức tổ chức Công hội, Dân cày và Hợp tác xã, Đường Kách mệnh nhấn mạnh rằng: muốn tập hợp lực lượng của toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và đi lên CNXH, nhất định và không thể không tổ chức, phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng đó. Quần chúng tạo nên nguồn sức mạnh của Đảng và nếu không tập hợp, huy động được nguồn sức mạnh vô địch đó, Đảng sẽ không thể lãnh đạo cách mạng đi đến thành công được và điều này đã được tiến trình cách mạng Việt Nam chứng minh một cách sinh động.

Đường Kách mệnh xác định cách mạng Việt Nam nằm trong dòng chảy của cách mạng thế giới: Theo đó, thông qua việc trình bày lịch sử Đệ nhất quốc tế, Đệ nhị quốc tế, Đệ tam quốc tế (Quốc tế cộng sản), phân tích sự giống nhau và khác nhau giữa Đệ nhất quốc tế, Đệ nhị quốc tế với Đệ tam quốc tế; thực hiện khẩu hiệu của Đệ tam quốc tế: “Vô sản giai cấp và các dân tộc bị áp bức trong thế giới liên hợp lại!”, yêu cầu các Đảng cộng sản “phải hết sức giúp dân thuộc địa làm cách mạng” và đặt riêng một Ban chuyên nghiên cứu và giúp đỡ cho cách mạng bên Á Đông (Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản), Đường kách mệnh giáo dục cho các chiến sĩ cách mạng Việt Nam về chủ nghĩa quốc tế vô sản, và kết luận: “Xem những việc ấy thì đủ biết rằng An Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế”[8]. Chỉ rõ mối quan hệ mật thiết giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới, vấn đề đoàn kết dân tộc, giai cấp và quốc tế trong cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam, Hồ Chí Minh mở rộng tầm tư tưởng của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam bằng quan điểm chủ nghĩa yêu nước chân chính không thể tách rời chủ nghĩa quốc tế vô sản và khẳng định: “Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của nhân dân An Nam cả”[9]. Ngoài ra, Đường Kách mệnh cũng giới thiệu về lịch sử, tổ chức của: Phụ nữ quốc tế, Công nhân quốc tế, Cộng sản thanh niên quốc tế, Quốc tế giúp đỡ (tổ chức Giúp đỡ của công nhân quốc tế), Quốc tế cứu tế đỏ, đồng thời khẳng định đó là nơi quy tụ, tập hợp và phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng của Quốc tế cộng sản.

3. Với một số trang không nhiều được trình bày trong 15 đầu mục lớn (cuốn sách hiện lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, dày 100 trang, số trang được đánh theo từng phần, không đánh số liên tục và sau đó được Nxb. Sự Thật nay là Nxb. Chính trị Quốc gia in trong Tuyển tập Hồ Chí Minh 5/1980, tái bản 4/1982, dày 146 trang, khổ nhỏ và sau đó in trong Hồ Chí Minh Toàn tập, xuất bản năm 1995- tập 2, bộ 12 tập; tập 2- bộ 15 tập, xuất bản năm 2010-2011), Đường Kách mệnh thực sự là văn kiện nền tảng lý luận đầu tiên, là cơ sở cho sự ra đời của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930.

85 năm đã trôi qua, những nội dung cơ bản mà Đường Kách mệnh đề cập đến như: Cách mạng, con đường cách mạng, lực lượng cách mạng, Đảng Cộng sản, và các tổ chức quần chúng của Quốc tế cộng sản, của Đảng Cộng sản, về phương pháp cách mạng, về đoàn kết, v.v.. đóng vai trò quan trọng như cuốn Làm gì của V.I. Lê-nin, vẫn luôn là chiếc cẩm nang, là bó đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi qua những năm đấu tranh giành chính quyền, qua hai cuộc trường chinh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, trong những năm cả nước cùng đi lên CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, đặc biệt là trong 25 năm chúng ta tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, vì một nước Việt Nam: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Được viết rất ngắn gọn, nhưng cụ thể, rõ ràng, dễ hiểu, sau 85 năm,Đường Kách mệnh vẫn còn nguyên giá trị thời sự lớn lao. Không thể phủ nhận rằng, để có một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh đang ngày một phát triển, hội nhập cùng bạn bè quốc tế như hôm nay, cách mạng Việt Nam đã phải trải qua nhiều khúc ngoặt, nhưng vẫn giành được thắng lợi, vẫn kiên định con đường đã lựa chọn: Độc lập dân tộc và CNXH, ấy là vì, chúng ta có Đường Kách mệnh của Hồ Chí Minh soi đường, chỉ lối.

Trong cuộc đời mình, Hồ Chí Minh đã soạn thảo nhiều văn kiện lịch sử quan trọng, nhưng có thể khẳng định rằng Đường Kách mệnh là một trong số các tác phẩm, mà những ý tưởng hàm chứa trong đó, không chỉ được thực tiễn chứng minh là đúng đắn, độc đáo, sáng tạo mà còn có sức sống mãnh liệt, có sức lay động sâu xa trái tim hàng triệu triệu người. Không chỉ đem đến cho những người cách mạng Việt Nam trong những năm 20-30 của thế kỷ XX những vấn đề cốt lõi của học thuyết Mác – Lênin – ánh sáng tư tưởng của thời đại, 85 năm sau, dù thế giới đã nhiều đổi thay, thì những nội dung Đường Kách mệnh nêu ra, vẫn mang hơi thở của dân tộc và thời đại. Đó là con đường phát triển của nhân loại; là độc lập dân tộc và CNXH; là xây dựng một chính Đảng trong sạch vững mạnh về cả chính trị, tư tưởng và tổ chức, làm cho hệ thống lý luận của học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta…

Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng viết: Dù thế giới có đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh thì sống mãi, vì vậy, hiểu đúng, nắm vững và vận dụng sáng tạo những gì Hồ Chí Minh đã từng viết cách đây 85 năm, cũng chính là nhận thức đúng về chủ nghĩa Mác – Lênin trên mọi phương diện và không đi chệch mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Tuy nhiên, do đặc điểm và xu thế của thời đại ngày nay, từ những gì Hồ Chí Minh đã căn dặn trong Đường Kách mệnh, thì mỗi nước đều phải có con đường riêng để hướng tới một mục đích chung, làm đúng thì thắng lợi, làm sai thì thất bại. Nhưng để kiên định mục tiêu và “làm cho đến nơi” trong bối cảnh vừa có thuận lợi vừa có thách thức khôn lường, trong khi quán triệt nguyên tắc phải giữ vững độc lập về lãnh thổ, độc lập về chính trị, kinh tế, an ninh và quốc phòng, thì càng phải nhận thức một cách sâu sắc hơn tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn của công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Vì vậy, để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh” – xứng đáng với vai trò tiền phong và đưa sự nghiệp đổi mới của chúng ta đi đến thắng lợi hoàn toàn thì một trong những nhiệm vụ cấp bách là phải thực hiện thắng lợi Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Ðảng hiện nay” được thông qua ở Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI vừa qua ./.

TS. Văn Thị Thanh Mai

——————–

Chú thích:

[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t. 2, tr 280
[2]Hồ Chí Minh, Sđ d, t.2, tr. 262
[3] Hồ Chí Minh, Sđd, t.2, tr 265
[4] Hồ Chí Minh, Sđd, t.2, tr 266
[5] Hồ Chí Minh, Sđd, t.2, tr 267, 268
[6] Hồ Chí Minh, Sđd , t.2, tr. 270
[7]Hồ Chí Minh, Sđd , t.2, tr. 280
[8] Hồ Chí Minh, Sđd , t.2, tr. 287
[9] Hồ Chí Minh, Sđd , t.2, tr.301

Theo Tạp chí Tuyên giáo
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn