Thư viện

Bài thơ của mối giao cảm đặc biệt

Từ bài thơ “Gửi Nêru” và những lời nói của Bác Hồ về Nêru, ta có thể rút ra một nhận xét: Trên đời này, trong thế giới này, thấu hiểu nhau như Bác Hồ với Nêru là một trong những điển hình của các đại nhân, nó mãi mãi làm đẹp cho nét văn hóa chung của con người, cho toàn thể nhân loại. 

Tiếp tục đọc

Hồ Chí Minh – Tượng đài vĩnh cửu của nhân dân Việt Nam và bè bạn quốc tế

VN-HCM

Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của giai cấp công nhân, nhân dân Việt Nam, người con ưu tú của dân tộc Việt Nam. Người đã hiến dâng trọn cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp công nhân, giải phóng loài người bị áp bức bóc lột. Người đấu tranh cho sự nghiệp vì độc lập, vì tự do cho dân tộc Việt Nam và người dân bị áp bức trên toàn thế giới. Cuộc đời cao đẹp, tấm gương đạo đức cách mạng của Người là tấm gương sáng, bình dị và là niềm tự hào của mỗi người dân Việt Nam. Tiếp tục đọc

Tổng thống Đại Hàn Dân quốc đặt hoa tưởng niệm tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

han-quoc-aNhận lời mời của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trương Tấn Sang, Tổng thống Đại Hàn Dân quốc Park Geun Hye sang thăm chính thức Việt Nam từ ngày 7 – 11/ 9 /2013.

Tiếp tục đọc

Gặp người cựu binh Ca-dắc-xtan từng giúp đỡ Việt Nam

Gần 50 năm mới có dịp trở lại Việt Nam, người cựu binh Ca-dắc-xtan không thể ngờ ở tuổi “xưa nay hiếm” lại có dịp được đặt chân lên mảnh đất nơi ông từng một thời trai trẻ kề vai, sát cánh cùng các chiến sỹ và người dân nơi đây chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Ông chính là cựu chiến binh Ca-dắc-xtan I-xa Bi-xê-nốp (Issa Bissenov), cựu chuyên gia cố vấn quân sự thuộc Liên Xô trước đây đã sang giúp đỡ Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Tiếp tục đọc

Thủ tướng nước Cộng hòa Dân chủ Ti-mo Lét-xtê đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhận lời mời của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng nước Cộng hòa Dân chủ Ti-mo Lét-xtê (Timor-Leste) Cay Ra-la Xa-na-na Gút-xmao đã đến thăm chính thức Việt Nam. Đây là chuyến thăm Việt Nam đầu tiên của ông Cay Ra-la Xa-na-na Gút-xmao trên cương vị Thủ tướng. Tháng 8-2005, ông Cay Ra-la Xa-na-na Gút-xmao đã thăm Việt Nam trên cương vị Tổng thống Ti-mo Lét-xtê. Chuyến thăm của Thủ tướng Ti-mo Lét-xtê Cay Ra-la Xa-na-na Gút-xmao lần này là sự kiện quan trọng, nhằm tăng cường quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác nhiều mặt giữa hai nước.
Tiếp tục đọc

Toàn quyền New Zealand và Phu nhân đặt hoa tưởng niệm và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhận lời mời của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Trung tướng Gie-ri Ma-pa-rê (Jerry Mateparae), Toàn quyền New Zealand và Phu nhân thăm cấp Nhà nước Việt Nam (từ ngày 3/8/2013 đến 8/8/2013).

Tiếp tục đọc

Bác Hồ và các chính khách Việt trong ký ức một người Nga

Từng là sinh viên Liên Xô học tiếng Việt khóa đầu tiên ở Hà Nội, phóng viên Hãng Thông tấn TASS ở Việt Nam, cán bộ Ban Quốc tế T.Ư Đảng Cộng sản Liên Xô chuyên trách Việt Nam, một nhà Việt Nam học uy tín, ông Kobelev E.V. (SN 2/5/1938) có nhiều dịp gặp gỡ, phục vụ, làm việc với Bác Hồ và các nhà lãnh đạo Việt Nam.

Tiếp tục đọc

Thống nhất chương trình hợp tác giữa Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung tâm Nghiên cứu Y sinh Matxcơva

Thực hiện kế hoạch công tác năm 2013, triển khai một số nội dung trong thực hiện Đề án “Giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát huy ý nghĩa chính trị, văn hóa của Công trình Lăng trong giai đoạn mới”, từ ngày 12/6/2013 đến ngày 26/6/2013, Đoàn cán bộ Ban Quản lý Lăng do Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương, Trưởng ban Ban Quản lý Lăng làm Trưởng đoàn đã sang công tác, làm việc tại Liên bang Nga. Chương trình làm việc của Lãnh đạo Ban Quản lý Lăng tập trung trao đổi thống nhất nội dung hợp tác trong công tác y tế, những nội dung tiếp theo trong triển khai dự án VN01, công tác kỹ thuật trong cải tạo nâng cấp Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ, tìm hiểu công tác kỹ thuật và công tác nghi lễ tại Lăng Lê-nin và Điện Kremli.

Tiếp tục đọc

Đoàn đại biểu cấp cao Bộ Truyền thông Cuba vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sáng 10/7/2013, tại Nhà khách số 8 Hùng Vương, đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương, Trưởng ban Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp Đoàn đại biểu cấp cao Bộ Truyền thông Cuba do Thứ trưởng Wilfredo Gonzalez Vidal làm Trưởng đoàn, sang thăm chính thức Việt Nam và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tiếp tục đọc

Gặp Nhạc sĩ Lào viết bài hát hay nhất về Bác Hồ

Bài hát “Hồ Chí Minh kính yêu muôn đời”, một trong những bài hát được yêu thích ở Lào bằng song ngữ Việt – Lào, do nhạc sĩ Lào sáng tác, thường được biểu diễn trong các buổi sinh hoạt văn nghệ, giao lưu nghệ thuật Việt Nam – Lào. Và đây cũng là bài hát về Bác Hồ hay nhất xứ Lào. Người sáng tác bài hát này là Nghệ sĩ Quốc gia, nhạc sĩ Bua-ngơn-Sa-phu-vông (Buangeun Saphouvong).

nhac-sy-lao
Nhạc sĩ Bua- ngơn – Sa – phu- vông

Gặp nhạc sĩ, ông cho biết ông viết về Bác Hồ với tâm huyết của một người con ngưỡng vọng một lãnh tụ. “Bác Hồ là của chúng ta, không chỉ là Bác Hồ của nhân dân Việt Nam, mà cũng là của nhân dân Lào chúng tôi”, ông nói. Với ông, Bác Hồ là tấm gương sáng suốt đời cho các thế hệ người Lào học tập, nên khi viết xong bài hát về Người ông mới cảm thấy thanh thản.

Âm hưởng bài hát “Hồ Chí Minh kính yêu muôn đời” được ông sáng tạo giữa hai miền âm nhạc dân ca Việt Nam và dân ca Lào, theo nhịp lăm–vông, dành cho hợp xướng và đồng ca. Theo điệu nhạc, mọi người có thể múa lăm-vông tập thể theo phong tục Lào. Ca từ nhẹ nhàng như một lời kể, tâm sự đầy ngưỡng vọng, đề cao công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. “Hồ Chí Minh kính yêu muôn đời”, một con người rất vĩ đại mà rất đỗi giản dị, cả nhân loại tiến bộ trên thế giới đều yêu kính Người. Chân lý của Người là “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, Buangeun đã dùng chủ đề này xuyên suốt bài hát.

Bài hát “Hồ Chí Minh kính yêu muôn đời” được Nghệ sĩ Buangeun sáng tác cách đây 5 năm, hưởng ứng phong trào sáng tác bài hát về Bác Hồ do Trung tâm Văn hóa Việt Nam tại Lào phát động. Ngay sau khi được công bố, bài hát đã được công chúng Lào trân trọng đón nhận, được bà con Việt kiều yêu thích; tại các hội diễn nghệ thuật toàn quốc Lào hay giao lưu của cộng đồng người Việt tại Lào đều được đem biểu diễn. Mỗi lần tham gia hội diễn, tiết mục thường đoạt giải cao. Năm ngoái, tại hội diễn kỷ niệm Ngày sinh nhật Bác do Đại sứ quán Việt Nam tại Lào tổ chức, Đội văn nghệ Câu lạc bộ đồng hương Việt kiều Xiêng Khoảng đã đoạt giải đặc biệt xuất sắc. Không chỉ trong các hội diễn, mỗi lần sinh hoạt giao lưu, đón khách hay lễ hội, bài hát đều được đem biểu diễn.

Nghệ sĩ Bua Ngơn-Sa-phu-vông sinh năm 1949, là một nghệ sĩ nổi tiếng và đa tài, quê ở bản Tôn-muồng (Tonmuang), huyện Na-xai-thong (Naxaithong), thủ đô Viêng chăn (Vientiane).Ông vừa là một nhạc sĩ, lại vừa là ca sĩ nổi tiếng, không một người dân Lào nào không biết tên ông và những bài hát do ông sáng tác. Ông đến với công chúng Lào trước tiên bằng giọng hát đằm thắm, trẻ trung, mềm mại, say đắm lòng người. Đã sang lứa tuổi “lục tuần” (60 tuổi) nhưng giọng hát và phong cách biểu diễn của ông vẫn trẻ trung không có tuổi. Nhiều bài hát ông sáng tác đã trở thành những tác phẩm đi cùng năm tháng, được công chúng Lào yêu thích như “Nhớ ơn Đảng Lào”, “Quê mẹ ta”, “Si-phan-đon xinh đẹp”, “Yêu lắm Át-ta-pư”…

Tôi còn nhớ, một Lào kiều sống ở Mỹ hơn 30 năm, tìm đến ông chỉ để được nghe ông hát “Si-phan-đon xinh đẹp”, là mãn nguyện cho chuyến trở về. Hay một buổi giao lưu thắm tình Việt – Lào giữa các đồng chí lãnh đạo cấp cao hai nước, Phó thủ tướng Lào Sổm-sa-vạt-leng-sa-vát (Somsavat Lengsavad) đã hát tặng các đại biểu bài hát “Quê mẹ ta” của ông. Đại ý bài hát, dù ở đâu, nơi nào trên thế giới cũng không bằng quê mẹ, nơi ta được sinh ra, trưởng thành. Về quê ta,  ăn xôi chấm mắm cá ngon hơn mọi cao lương mĩ vị…

Một lợi thế dẫn đến thành công của bài hát “Hồ Chí Minh kính yêu muôn đời” là Nhạc sĩ Bua-ngơn-Sa-phu-vông đã có thời gian học tại Trường Âm nhạc Việt Nam (từ 1966-1969), sau đó về công tác tại Đài Phát thanh Quốc gia Lào, sơ tán về Ninh Bình – Việt Nam cùng với Đài Tiếng nói Việt Nam (từ 1969- 1972), sau đó đi học tiếp ở Nga. Ông hiện là Thứ trưởng Bộ Thông tin – Văn hóa và Du lịch Lào. Dù ở cương vị nào, nghệ sĩ Bua-ngơn-Sa-phu-vông vẫn là người nghệ sĩ của nhân dân, gần gũi và giản dị.

Theo Quốc Khánh (VOV/Vientiane)

Thanh Huyền (st)

Hồ Chí Minh – nguồn cảm hứng cho toàn thể dân tộc Việt Nam

Uyn-phơ-ret Bơ-xet (1911-1983) – nhà báo Ô-xtrây-li-a nổi tiếng và là người bạn thân thiết của nhân dân Việt Nam, ông đã tới nhiều điểm nóng trên thế giới. Tháng 3-1954, tại chiến khu Việt Bắc, lần đầu tiên ông được tiếp kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh; từ đó, ấn tượng sâu sắc sau nhiều lần gặp gỡ Người đã thôi thúc ông viết tiểu luận Ho Chi Minh an appreciation (tạm dịch: Giá trị Hồ Chí Minh) và năm 1972 đã được Quỹ Wilfred Burchett và Báo The Guardian xuất bản thành sách. Nhân kỷ niệm 123 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Báo Nhân Dân xin giới thiệu với bạn đọc một trích đoạn từ tiểu luận này (đầu đề là của tòa soạn).

“… Thực tế là người nông dân Việt Nam rất đỗi nhỏ bé, thậm chí mù chữ, nhưng nếu xét về văn hóa và đạo đức thì họ lại tỏ ra ưu việt hơn so với đối thủ của họ là người Mỹ. Hồ Chí Minh thấu hiểu truyền thống và lịch sử của đất nước mình không chỉ qua chiều dài mấy ngàn năm, mà theo đúng nghĩa đen là ông đã hấp thụ nó qua nguồn sữa mẹ. Ngay từ những năm đầu đời, bao quanh ông là di sản lịch sử của tổ tiên, thấm sâu vào tâm hồn ông tự lúc nào. Ðó có thể là điệu hát ru, là câu chuyện cổ tích hoặc những cảnh trí trên sân khấu của một gánh hát lưu động diễn lại lịch sử hai ngàn năm chống giặc ngoại xâm đậm chất anh hùng. Ðó cũng có thể là sự tò mò về nguồn gốc của vị thành hoàng làng – thường là một anh hùng trong truyền thuyết. Ðó còn là những câu chuyện mà người trong gia đình thường kể cho nhau nghe về chiến công dũng cảm của tổ tiên trong bảo vệ Tổ quốc, về những đau khổ bất công dưới sự áp bức của nước ngoài và lời kêu gọi đòi trả thù. Tri thức về hai nghìn năm đấu tranh chống kẻ xâm lược đã in sâu trong dòng máu của những người nông dân nhỏ bé, chân lấm tay bùn. Chỉ riêng điều này đã là nguồn lực vô tận cho lòng dũng cảm, sức chịu đựng, niềm tin vào tương lai và coi thường những kẻ cố gắng phá hoại những giá trị hiện tại, điều mà các chuyên gia “cố vấn” (“cố vấn” Hoa Kỳ tại miền Nam Việt Nam ở thời điểm tác giả viết bài – ND) không thể hiểu được. Hồ Chí Minh là hình ảnh thu nhỏ của tất cả những điều này. Dường như có một cái gì đó của mỗi người Việt Nam trong Hồ Chí Minh, cũng như có một cái gì đó của Hồ Chí Minh trong đại đa số những người Việt Nam hôm nay. Dấu ấn của ông đối với dân tộc Việt Nam mới mạnh mẽ làm sao!

Cuộc gặp gỡ đầu tiên đáng nhớ của tôi với Chủ tịch Hồ Chí Minh diễn ra vào đầu tháng 3-1954. Người ta thông báo rằng một Hội nghị sẽ được tổ chức tại Giơ-ne-vơ để thảo luận về việc chuyển đổi thỏa thuận ngừng bắn Triều Tiên thành một giải pháp hòa bình lâu dài. Ðúng lúc đó, một ý tưởng muộn màng dường như xuất hiện đồng thời, câu hỏi về ngừng bắn ở Ðông Dương dấy lên. Tôi biết khá rõ về vấn đề Triều Tiên, nhưng lại chẳng biết gì về chiến tranh Ðông Dương. Trước khi đến Giơ-ne-vơ, tôi quyết định đến Việt Nam để tìm hiểu về tình hình thực tế. (Trong hai năm rưỡi trước đó tôi đã ở Kaesong-Panmunjom tường thuật các cuộc đàm phán ngừng bắn của Triều Tiên và các vấn đề liên quan, tôi không được thông tin đầy đủ về những gì đang diễn ra trong thế giới bên ngoài). Thông qua Ðại sứ quán Việt Nam Dân chủ cộng hòa tại Bắc Kinh, tôi có thị thực và cùng với nhà báo người I-ta-li-a là Phran-cô Ca-la-man-drây của L’Unita, chúng tôi bắt đầu chuyến đi bằng tàu hỏa kéo dài năm ngày đến biên giới Trung Quốc – Việt Nam. Từ đó, chúng tôi đi tiếp bằng xe tải vào ban đêm và bằng ngựa vào ban ngày, tới một Sở Chỉ huy trong rừng rậm của Việt Minh.

Trong chuyến hành trình của tôi đến Việt Bắc, Đài Phát thanh phát rất nhiều tin tức về một địa danh gọi là Ðiện Biên Phủ. Các bản tin phát thanh phương Tây cho biết, người Pháp đã xây dựng một căn cứ lớn ở đó và đã bắt đầu các hoạt động tiến công “để quét sạch Việt Minh” khỏi toàn bộ vùng Tây Bắc Việt Nam và bao vây họ trong một chiến dịch gọng kìm lớn kéo dài từ Ðiện Biên Phủ đến đồng bằng sông Hồng. Và đây là nơi mà chiếc mũ đi vào câu chuyện. Vì chiếc mũ đó là của Chủ tịch Hồ Chí Minh, và người ngồi cạnh chiếc mũ chính là vị Chủ tịch.

Sự quan tâm tỉ mỉ đến từng chi tiết mà tôi thấy sau đó chính là đặc trưng của vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam. Ngay sau khi chúng tôi đến, ông đã cho gặp ngay để bảo đảm chúng tôi còn sống sót sau cuộc hành trình gian nan và vẫn có sức khỏe tốt. Thật khó tin, chỉ sau mấy giờ đồng hồ từ khi đặt chân đến đây, chúng tôi đã được ngồi đối diện với nhà lãnh đạo cách mạng huyền thoại. Nhưng ông ấy ở đó, với khuôn mặt nhân hậu không thể nhầm lẫn được, đôi mắt sâu mầu nâu lấp lánh, chòm râu thưa, đó đúng là khuôn mặt mà chúng tôi đã biết qua các tấm ảnh và chân dung trong các năm qua. Ông đột nhiên bước ra khỏi bóng tối của rừng già mà không báo trước, trên vai vắt một chiếc áo khoác, bước đi nhanh nhẹn với một cây gậy tre dài, chiếc mũ nhô cao trên vầng trán rộng. Ông làm cho chúng tôi thấy hoàn toàn thoải mái khi trao đổi bằng tiếng Pháp và tiếng Anh trôi chảy, ông còn giới thiệu đôi lời bằng tiếng I-ta-li-a với người đồng nghiệp của tôi.

Chúng tôi hỏi Hồ Chủ tịch tại sao Đài Phát thanh lại đưa tin về Ðiện Biên Phủ ầm ĩ như thế, ở đó thật sự đang xảy ra điều gì? “Ðây là Ðiện Biên Phủ”, ông nói và lật ngửa chiếc mũ của mình trên mặt bàn. “Ðây là những rặng núi”, ông lướt những ngón tay thon dài, khỏe khoắn theo rìa chiếc mũ. “Và đó là nơi chúng tôi đang có mặt. Còn dưới này”, ông dằn mạnh nắm tay xuống đáy mũ, “là thung lũng Ðiện Biên Phủ. Người Pháp đang ở đó. Họ sẽ không thể ra khỏi đó. Việc này có thể mất nhiều thời gian, nhưng họ sẽ không thể ra khỏi đó”, ông nhắc lại “đó là trận chiến Ðiện Biên Phủ trong một chiếc mũ”. Sau này chúng tôi được biết hôm trước, ngày 13-3-1954, Tướng Giáp đã tung ra cú đánh đầu tiên ở Ðiện Biên Phủ và trong bốn ngày đã thâu tóm được ba vị trí trọng yếu bảo vệ các con đường vào cứ điểm Ðiện Biên Phủ từ phía bắc.

Ấn tượng đầu tiên của tôi như tôi đã viết trong cùng một cuốn sách, là tất cả đều vô cùng thân mật, ấm cúng, giản dị. Hồ Chí Minh có khả năng làm cho người khác cảm thấy thoải mái ngay từ giây phút đầu tiên và trả lời những câu hỏi phức tạp nhất chỉ bằng một vài từ và cử chỉ rõ ràng. Trong những cuộc gặp gỡ sau đó với nhân cách vĩ đại này, sự cởi mở, giản dị và diễn đạt rõ ràng của ông đi kèm với trí thông minh đặc biệt và khả năng nắm bắt đầy đủ đối tượng đã tạo nên ấn tượng sâu sắc. Bất cứ ai tiếp xúc với Hồ Chí Minh đều có chung nhận xét về những đặc điểm này, và trên hết là cảm giác như đang được “ở nhà” với ông ùa đến tức thì…

Khả năng làm đơn giản các tình huống phức tạp bằng hình ảnh dễ hiểu, sinh động như dùng cái mũ để minh họa là điển hình trong phong cách giản dị của ông. Mười một năm sau, tôi hỏi ông nghĩ gì về khả năng người Mỹ xâm lược miền Bắc. Ðó là giai đoạn mà Mỹ tiếp tục xây dựng lực lượng ở miền Nam, báo chí đã nói về kế hoạch mở rộng xâm lược ra miền Bắc. “Tất nhiên chúng tôi cân nhắc rất kỹ điều này”, ông trả lời, “nhưng nó làm tôi nhớ tới một con cáo bị mắc một chân trong bẫy. Nó bắt đầu giãy giụa tìm cách thoát ra, nhưng đáng thương thay, cái chân còn lại mắc nốt vào một cái bẫy khác. Ðó là những gì sẽ xảy ra nếu người Mỹ xâm lược miền Bắc”.

Ngược lại với các “thầy tu” cao siêu của khoa học chính trị Mỹ, những người ngày càng thích thú diễn đạt các ý tưởng bằng thứ ngôn ngữ máy móc vô nhân đạo và công thức kiểu toán học thay vì hình ảnh con người, thích trầm trọng hóa vấn đề bằng ngôn ngữ mà quảng đại công chúng cảm thấy vô cùng khó hiểu; thì khoa học chính trị đầy sức thuyết phục của Hồ Chí Minh được thể hiện trong ngôn ngữ đơn giản và sinh động, những hình ảnh mộc mạc mà người nông dân hoặc công nhân bình thường nhất cũng có thể hiểu được. Khi chuẩn bị các bài báo hoặc các văn bản tuyên cáo, thậm chí cả những văn bản chính sách quan trọng, Hồ Chí Minh thường cho nông dân đọc thử, điều chỉnh từ ngữ cho đến khi chắc chắn rằng toàn bộ văn bản là dễ hiểu đối với quảng đại quần chúng. (Hen-ri Kit-xinh-gơ, Cố vấn của Tổng thống Ni-xơn hẳn sẽ thấy ngôn ngữ của mình được cải thiện nếu ông làm điều tương tự!). Người ta thậm chí có thể nghi ngờ các nhà khoa học chính trị, những người đã bán tài năng của mình cho giới quyền uy, phát minh ra công thức ngôn ngữ chỉ dễ hiểu đối với nhóm những người thuê mướn họ trong khi những người dân thường chắc chắn không thể hiểu nổi. Giống như ngôn ngữ của nhà thờ thời trung cổ, nó phải được cách ly khỏi công chúng. Còn Hồ Chí Minh lại khai mở niềm tin từ quần chúng. Trong suốt sự nghiệp của mình, ông luôn luôn khẳng định quần chúng, chứ không phải các nhà lãnh đạo, mới là người làm nên lịch sử. Do đó ngôn ngữ của ông, phong cách làm việc và phong cách sống của ông luôn hướng tới làm sao giữ mối liên hệ gần gũi nhất với quần chúng để biết khát vọng sâu xa của quần chúng và đề ra chính sách phù hợp.

… Một vấn đề mà Tổng thống Ni-xơn và những người tiền nhiệm của ông ta không nhận thấy nhưng chắc chắn nhân dân Việt Nam thì khác, đó là Hồ Chí Minh thuộc về toàn thể dân tộc Việt Nam. Không có ranh giới tùy tiện nào dọc theo vĩ tuyến 17 có thể chia ly người dân miền Nam với Hồ Chí Minh vì Thủ đô của họ ở phía bắc của ranh giới. Hồ Chí Minh là nhà lãnh đạo được chấp nhận và là nguồn cảm hứng cho toàn thể dân tộc Việt Nam, ngoại trừ số ít người lần lượt phục vụ các quan thầy Nhật Bản, Pháp và Mỹ. Phong cách làm việc và chiến đấu của ông là phong cách dành cho người Việt Nam ở miền Nam cũng như ở miền Bắc…”.

Anh Khôi (Biên dịch)
Theo Báo Nhân Dân
Kim Yến (st)