Thư viện

Những người Việt ở Hoàng Sa năm 1937-1938

Ghi chép

QĐND-LTS: Đại tá Nguyễn Văn Bính, giảng viên Học viện khoa học Quân sự vừa chuyển cho chúng tôi một ghi chép đề năm 1998 của cha mình là nhà thơ Nguyễn Minh Hiệu (1924-1998), nguyên hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, nguyên Phó trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thanh Hóa về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

“Giáá như gặp được ông bạn kiều bào nào ở Pa-ri về nước lần này, tôi thử gợi ý xem, khi trở sang bên ấy, nhờ bà con ta ở Pháp hỏi xem có biết gia đình, con cháu ông Nguyễn Kỳ, kỹ sư mỏ ở Đông Dương hồi những năm 30, hiện còn những ai? Chắc là những tư liệu riêng của ông ta trong chuyến đi ra Paracels tức đảo Hoàng Sa năm 1938 ấy vẫn còn nhiều đấy.

Mà chẳng riêng gì ông Kỳ và 4 người chúng tôi trong nhóm cán bộ kỹ thuật thuộc sở mỏ Đông Dương (Service des Mines de l’Indochine francaise) cử theo ông ta mới có mặt ở Hoàng Sa từ tháng 4 đến tháng 8-1938. Trước đó, đã có 60 người lính Việt, phần lớn quê ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, ra đóng ở đảo này, dưới quyền của một viên chỉ huy người Pháp lai – nhìn rất “Việt Nam” chỉ có cái mũi là hơi giống người Âu, mà lúc đó thường gọi tắt là ông Môn. Đơn vị quân sự này ra đảo từ năm 1937. Họ xây dựng những công sự ngầm, những kho tàng ngầm chứa lương thực, thực phẩm và cả nước ngọt, đủ dự trữ cho hai, ba năm. Nói chính xác hơn là xây loại kho tàng công sự nửa nổi nửa chìm hoặc một phần nổi hai phần chìm. Tất cả đều khéo nguỵ trang. Chúng tôi ăn chung bếp với lính, ông Nguyễn Kỳ ăn cơm với lão Môn tây lai. Nhưng nhóm kỹ thuật không được phép tò mò quan sát đến các công trình, công sự của họ. Điều đó không chỉ là nguyên tắc mà còn là một kỷ luật nghiêm ngặt lắm. Họ xây cả trụ đèn biển. Và trong số các kho ngầm còn có chứa riêng những vỏ ốc quý trên đảo. Khi chúng tôi trở về đất liền, công việc của nhóm nhà binh này vẫn còn tiếp tục”.

Bác Nguyễn Hựu, 75 tuổi (thời điểm năm 1988-SK&NC), nguyên Giám đốc mỏ Cổ Định, nay đã nghỉ hưu ở Thị xã Thanh Hóa đã kể với tôi như vậy.

Quê gốc bác Hựu cũng chính ở Nam Ngạn, phía Nam cầu Hàm Rồng. Ngày ấy ở Hoàng Sa về được ba năm gì đó, bác lại được cử về khảo sát các mỏ vùng Vĩnh Lộc, Hà Trung (Thanh Hóa). Ở đây bác được đồng chí Nguyễn Văn Huệ (nay đã 80 tuổi), tuyên truyền giác ngộ cách mạng. Sau Tổng khởi nghĩa năm 1945 thành công, Nguyễn Hựu đã từng có thời gian công tác ở Tiểu ban kinh tài của Liên khu 4; họ tổ chức khai thác các mỏ phốt-pho-rít ở Vinh và Thanh Hóa. Sau này đánh Pháp, ông được giao xây dựng và quản lý nhà máy phốt phát Nam Phát Thanh Hoá, rồi mới lên nhận công tác ở Crô-mít Cổ Định.

Bác Hựu kể tiếp:

“Chuyến ra đảo năm 1938 ấy đối với chúng tôi hết sức bất ngờ về tất cả các mặt, từ kỹ thuật nghiệp vụ cũng như nếp sống sinh hoạt và tâm lý, ứng xử, giao tiếp. Một ngày vào hạ tuần tháng ba dương lịch, kỹ sư Nguyễn Kỳ đột ngột triệu tập chúng tôi tới phòng ông ta nói là có lệnh trên cho ra đảo khảo sát. Bốn người được chỉ định có anh Trịnh Đình Hướng quê ở Bắc Ninh, chuyên hóa nghiệm; anh Lê Đức Bảo quê ở Vĩnh Lộc, Thanh Hóa, chuyên về đo đạc; anh Nguyễn Thế Trừ ở vùng cửa sông Ghép và tôi là khảo sát.

Hai giờ chiều hôm sau, chúng tôi xuôi Hải Phòng. Năm giờ sáng hôm sau nữa, cả đoàn đáp chuyến tàu chở hàng của hãng Xô-va (Sauvage), thường gọi là hãng tàu “Tây điếc”, đi Đà Nẵng. Tàu chạy bằng guồng máy. Lênh đênh trên biển mất 5 ngày mới tới nơi. Kỹ sư Nguyễn Kỳ ở khách sạn Tây, 4 chúng tôi được bố trí ở một khách sạn của người Hoa.

Ở Đà Nẵng gần một tuần thì một hôm có hai người đến gặp, đưa cho mỗi chúng tôi một tờ khai theo mẫu thống nhất, cam đoan ra đảo phải làm theo sự hướng dẫn của bộ phận quản lý ngoài đảo, còn phần chuyên môn thì do ông kỹ sư Nguyễn Kỳ phụ trách. Gần sát ngày lên đường, họ mới cho biết nơi đảo sắp đến đã có một cơ đội lính của Nam triều (chính phủ Bảo Đại) ra trước từ gần một năm rồi, các điều kiện sinh hoạt ngoài đó đến lúc này đã được chuẩn bị, không có gì thay đổi lắm so với đất liền.

Hôm sau nữa, chúng tôi được phát giấy tờ tùy thân xem như ngư dân ra đảo đánh cá làm nước mắm. “Nào chúng tôi có biết chút gì về nghề cá mú đâu!”. Họ trả lời: “Đây chỉ là hình thức bên ngoài phải làm như vậy, còn khảo sát thăm dò mỏ vẫn cứ là phần việc riêng của các anh chứ!”. Miễn là phải nhớ, bất cứ có ai hỏi đến, tất cả đều nói là được tuyển mộ ra làm nghề cá cho Nam triều.

Tiếp đó họ phát cho chúng tôi mỗi anh hai bộ quần áo bà ba nâu, hai mảnh vải làm khố, một áo tơi lá và một chiếc nón đan theo kiểu ngư dân miền biển. Chúng tôi mua thêm mỗi người một cái bếp cồn, mua thuốc lá và mấy thứ lặt vặt khác.

9 giờ ngày 2-4-1938, đoàn chúng tôi chính thức khởi hành trên chiếc tàu nhà binh Clốt Sáp (Claude Saf) của Pháp. Hôm đó gió to, sóng lớn, chiều 3-4-1938 mới tới nơi cả nhóm đều say sóng, lên đảo nằm li bì mất hai ngày mới tỉnh táo trở lại.

Trụ sở hành chính của Việt Nam trên đảo Hoàng Sa trước năm 1945.

Căn nhà của 4 chúng tôi ở căng bằng vải bạt. Trước mặt có cột cờ. Lá cờ vàng của Nam triều bay phần phật. Cách đấy dăm chục mét là dãy nhà bạt của bộ phận ra trước đánh cá. Kỹ sư Nguyễn Kỳ ở trên nhà bạt với ông Tây lai chỉ huy (được đóng giả như một ông chủ thầu đánh cá). Chúng tôi không tò mò nhưng rồi cũng biết đó là viên quan Một, những người kia là một cơ lính khố xanh. Thời kỳ này, quân đội Nhật đã chiếm Mãn-Châu (1931), gây sự kiện Lư Cầu Kiều (7-1937), mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược ra cả Trung Quốc và hải quân Nhật đã hoạt động mạnh cả ở vùng biển phía này. Chính quyền Pháp phải tổ chức phòng ngự ở Hoàng Sa, nhưng buổi đầu hãy tạm ngụy trang như đơn vị làm kinh tế của chính phủ Nam triều ở Huế

Cụm Hoàng Sa lúc bấy giờ có khoảng bốn năm chục hòn đảo, nhưng chỉ có đảo Paracel là rộng hơn cả, diện tích quy lại cũng được khoảng một ki-lô-mét vuông. Mặt đảo là bãi cát bồi bằng đá san hô phong hóa, có nhiều ụ con nổi lên cao hơn mặt nước biển ba, bốn mét. Các đảo khác cũng có cát bồi và đá san hô nham nhở, nhưng diện tích đều hẹp. Có đảo chỉ thực sự thấy được khi nước triều rút xuống. Trên hòn đảo Paracel có loại cỏ lá dài, mép lá rất sắc. Có loại cây thân như cây núc nác nhưng lá lại như kiểu tàu chuối rừng. Ngoài mép nước gần bờ có những cụm sú vẹt. Sau này, trong những ngày chúng tôi đã xong công việc, chỉ còn chờ tàu ra đón vào đất liền, mấy anh nấu bếp của cơ lính khố xanh mới thuật kể cho nghe thêm nhiều truyền thuyết và những mẩu chuyện về Hoàng Sa do các cụ vùng quê Quảng Nam, Quãng Ngãi của những ông bạn này từng kể lại. Thì ra từ đời Minh Mạng hay trước và sau đó nữa, các vua nhà Nguyễn đã sai chở nhiều giống cây từ đất liền ra trồng trên đảo làm điểm tiêu cho tàu bè từ xa đã biết có đảo san hô mà lựa tránh khỏi mắc đá ngầm. Nhưng thuyền ra nhỏ, chở được có hạn. Nhiều cây không hợp thủy thổ, lại gió lộng suốt ngày suốt tháng, cây khó trụ nổi.

Ở Hoàng Sa có nhiều loại chim hải âu, màu lông trắng có, đen có, hoặc màu đen nâu như chim két cũng có. Đêm đến hải âu về đảo trú ngụ. Sáng ra, trên bãi có hàng ngàn quả trứng. Chúng tôi đốt bếp cồn luộc lên nếm thử mới biết trứng hải âu vị chát, rất khó ăn. Mùa đồi mồi sinh sản, hàng đêm những con đồi mồi cái cũng tìm lên mép đảo đẻ trứng ấp con. Đặc biệt là ở đây rất nhiều vỏ ốc quý, có hàng trăm loại, nhiều màu sắc xanh, đỏ, tím, vàng. Có nhiều loại chỉ bằng móng tay. Có nhiều loại to bằng quả bưởi, ánh mặt trời chiếu vào nhấp nhánh như kim cương. Có những chiếc vỏ ốc gần như trong suốt, soi lên đèn thấy ánh lên những vân màu khác nhau rất đẹp. Anh em cho biết còn có những loại vỏ trai, vỏ ốc lớn hơn nhiều, nhưng các lớp người đến trước đã thu nhặt mất.

San hô ở đây cũng nhiều màu: Ngà trắng, vàng, xanh xanh… Chung quanh các kẽ đá san hô là nơi ẩn náu của họ hàng cua bể và cá hồng. Khi có giờ rỗi, chỉ cần đem ít gạo rang hay một dúm cơm xuống là hàng đàn cá hồng kéo đến tranh nhau ăn. Chúng tôi lấy kim găm uốn thành lưỡi câu, luyện cơm dẻo làm mồi cũng có bận câu được hàng yến. Cho nên thức ăn cua cá chẳng thiếu mà chỉ thèm rau xanh. Và ở đây cũng còn một nét bất ngờ nữa là cả ngày lẫn đêm lộng gió, vùng đảo không hề có muỗi mà vẫn có đàn dơi khá đông, loại màu nâu, loại màu đen. Anh em quê Nam, Ngãi cho biết loại này cũng từ đất liền ra. Chúng ăn moi biển nên rất béo, có con to bằng con chim sáo. Lúc no mồi cần nghỉ ngơi, chúng náu mình trong các kẽ đá san hô.

Dụ số 10 của Bảo Đại ký ngày 29-3-1938 khẳng định chủ quyền lâu đời của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Kỹ sư Nguyễn Kỳ chỉ huy nhóm chúng tôi khảo sát, thăm dò trữ lượng và chất lượng phân chim ở Hoàng Sa. Nhưng được phép khảo sát ở hòn đảo nào lại do bộ phận quản lý đảo quy định chứ không thể tự do như những chuyến đi thăm dò mở trên đất liền. Anh Bảo đem máy đo đạc, xác định tọa độ kinh vĩ xong là chúng tôi bắt tay vào việc đào hào thám sát. Hào đào rộng mỗi bề một mét, sâu xuống hai đến ba mét, tùy nơi, chỗ cát ào xuống thì đem gỗ chèn. Gặp đá san hô rắn thì dùng búa đục. Trữ lượng phân chim ở đây có tới vài vạn tấn, chất lượng vào loại tốt, trong đó có chất diêm tiêu làm thuốc súng, có nitrat kali đem bón ruộng càng tốt. Phân tích tụ đã từ rất lâu đời, có chỗ dày tới ba mét. Hào đào xuống vài mét đã thấy một thứ nước khoáng rỉ ra, màu hơi vàng vàng. Bộ phận hóa nghiệm cũng phải làm phân tích cả thứ nước khoáng này.

(Xem tiếp số sau)

Minh Hiệu
qdnd.vn

Người Hà Nội đầu tiên

Năm 823, viên quan đô hộ của Nhà Đường là Lý Nguyên Hỷ, đã phải tổ chức một cuộc tế lễ lớn để phong ông là “Đô phủ Thành hoàng”.

Năm 866, võ tướng khát máu, quan cai trị cáo già của Nhà Đường, đồng thời là phù thủy cao tay Cao Biền, cũng đã phải xây đền phụng thờ ông, và gia phong ông là “Đô phủ Thành hoàng thần quân”.

Đến năm 1010 thì chính người khai sinh kinh đô Thăng Long Lý Thái Tổ đã đề bạt vinh danh ông tới đỉnh cao tôn quý trong cõi tâm linh là: “Quốc đô định bang Thành hoàng Đại vương”.

Khởi từ chức thiêng là thần linh của ngôi làng Hà Nội gốc, tọa lạc đầu tiên ở chỗ có ngọn núi Nùng mà sau đấy những kẻ ngoại bang từ phương Bắc đến, lấy đất làng để xây đắp tòa phủ thành đô hộ, có tên là “La Thành” của chúng. Ông đã hiển linh giữa dòng sông-được ông “cho mượn” nhân danh để mà thành thủy danh-chảy ngang qua dãy tường lũy phía Bắc của tòa phủ thành đô hộ. Đúng vào mùa mưa, nước ở mé trong nội đồng dâng cao hơn mực nước ngoài cửa sông, khiến sông không chảy từ cửa vào đồng, mà đổi dòng chảy ngược. Ông đã làm cho kẻ đô hộ Lý Nguyên Hỷ phải hoảng sợ khi tin rằng: Dòng sông mang tên ông, sở dĩ thành “nghịch thủy”-giống như phong trào chống đối của dân chúng khi ấy đang dâng cao-là do oai linh của ông. Cuộc tế lễ long trọng năm 823 để tôn ông làm thần Thành hoàng của tòa phủ thành đô hộ, có lý do từ đó.

Đền Bạch Mã, 76 Hàng Buồm, Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Gần nửa thế kỷ sau, ông lại hiển linh giữa đám mây ngũ sắc. Vẫn ở trên dòng sông mang tên ông, nhưng lần này thì uốn khúc mé ngoài cửa Đông tòa phủ thành đô hộ-bấy giờ đã được viên “Kinh lược sứ” Cao Biền mở mang thành “Đại La” – một lần nữa. Và cuộc chiến huyền kỳ trong cõi tâm linh, giữa ông-đại diện và tượng trưng cho dân chúng cùng văn hóa bản địa-với kẻ đứng đầu thế lực ngoại bang thống trị đã dẫn đến kết cục toàn thắng thuộc về ông khi những trận sấm sét kinh hoàng đã đánh nát vụn như cám đám bùa yểm bằng kim loại mà phù thủy Cao Biền toan dùng để diệt trừ ông. Ngôi đền cổ nhất đất Thăng Long-Hà Nội, về sau và đến tận bây giờ vẫn có tên quen thuộc “Bạch Mã”, do chính kẻ thất trận đã cho xây cất để “chào thua” ở ngay nơi đã diễn ra trận chiến tâm linh năm 866, và để tôn phong ông lên hàng “Thần quân”-đứng đầu các vị thần linh, đã xuất xứ từ hoàn cảnh đó.

Ngôi đền thiêng “Bạch Mã”, có tên lạ này, và trở thành tòa “Đông trấn chính từ” (đền chính, trấn giữ mạn Đông) kinh thành Thăng Long là bởi những lần hiển linh còn quan trọng hơn nữa của ông ở buổi đầu thời định đô Thăng Long. Trong đó đặc sắc nhất là cuộc hóa thân thành hình tượng Ngựa Trắng, để giúp Lý Thái Tổ xây vòng thành lũy bao quanh Kinh thành.

Trong thế giới của ngôn ngữ biểu tượng, Ngựa Trắng chính là hình ảnh của Mặt Trời. Nếu bằng chu kỳ đều đặn của một ngày đêm, Mặt Trời thực hiện một vòng tuần hoàn linh diệu trên vũ trụ: Mọc ở phương Đông, lặn ở phương Tây, để rồi hôm sau lại tái hiện từ phương Đông… Thì Ngựa Trắng trong giấc mơ cầu mộng của Lý Thái Tổ cũng hiện ra từ ngôi “Đông trấn chính từ”. Đi một vòng thần thánh trên vùng đất thiêng “Rồng hiện lên” mới được đặt định là Thành Kinh đô nước Việt từ Đông sang Tây, rồi lại trở về điểm xuất phát, biến mất vào trong ngôi đền cổ, để khoanh lại miền đế đô Kinh kỳ ấy cho thành một vùng “Thánh địa” có “Địa linh nhân kiệt” ở bên trong.

Người định đô Thăng Long, khi cứ nương theo dấu chân Ngựa Trắng mà xây đắp thành công vòng tường lũy bao quanh Kinh thành, thì chính là đã thực hiện được cái “quy hoạch” linh thiêng cho tòa Kinh đô nước Việt, do ông-trong hình tượng Ngựa Trắng-vạch ra. Vì thế, ông phải và xứng đáng được nhận danh hiệu cùng thiên chức thiêng quý nhất: “Quốc đô định bang Thành hoàng đại vương” để ngự tại ngôi đền Bạch Mã đặng bảo trợ cho cái địa bàn mà ông đã là người cắm đất xây ngôi làng-Hà Nội – gốc đầu tiên. Ngôi làng cổ ấy, ngay từ thời gian đầu Công nguyên, đã nhờ “cặp mắt xanh” của ông, mà có thế “Nhìn sông tựa núi” tuyệt hảo.

Sông, ở đây chính là dòng “Nước chảy trong ngần/ Có con buồm trắng chạy gần chạy xa”. Từ hai nghìn năm trước, vốn là một nhánh chính bên bờ phải của dòng sông Mẹ (sông Cái, Hồng Hà) uốn lượn tắm tưới và nối đường đi lại cho cả một miền “ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa Nam, Bắc, Đông, Tây” – Như lời Người định đô Thăng Long nghìn năm sau sẽ nói.

Còn núi, thì vốn là một doi đất cao ở bên và là sản phẩm đắp bồi, từ dòng chảy của nhánh sông rồi sẽ mang tên của ông, có cảnh trí tự nhiên cực kỳ tươi tốt, nên đã thành tên gọi núi Nùng. Những cái nhìn huyền thoại và phong thủy, từ rất lâu trước khi có tên gọi núi Nùng (nghĩa là tươi tốt), đã nhận ra ở đấy có một “huyệt đạo”. Dưới thông sâu đến âm ty địa phủ, trên nối cao tới thiên đường thượng giới. Vì thế gọi đây là núi Long Đỗ (Rốn Rồng).

Ngôi làng-Hà Nội-gốc đầu tiên đã tựa vào ngọn Long Đỗ (Rốn Rồng) ấy mà xây dựng. Vì thế, có tên đầu tiên là Hương Long Đỗ (Làng Rốn Rồng). Và tên của vị thần bảo hộ của làng, vì thế cũng được gọi là Thần Long Đỗ. Chính là vị thần đã hiển linh trong thời chống Bắc thuộc làm khiếp vía những kẻ ngoại bang đã xây phủ đô hộ ở ngay trên đất làng của thần, và trợ giúp Lý Thái Tổ khi Người định đô Thăng Long, cũng lấy ngôi làng của thần làm tiêu điểm để mở rộng ra thành tòa Kinh đô nước Việt.

Đấy là những điều đã được các bộ sách địa chí, sưu tập thần tích: “Tây Hồ Chí” thế kỷ thứ 19, “Lĩnh Nam chích quái” thế kỷ thứ 14, và nhất là “Việt điện u linh” thế kỷ thứ 14 ghi lại theo phương pháp tư duy và bằng bút pháp trung cổ: Phủ mây mù và vàng son huyền thoại lên trên và lẫn vào trong những hạt nhân hiện thực của lịch sử.

Gạn lọc và giải ảo cho những hiện thực lịch sử ấy, đã thấy được mấy câu quý giá trong sách “Việt điện u linh”, nhưng là dẫn lại các sách “Giao châu ký” và “Báo cực truyện” đầu Công nguyên mà viết rằng: “… Có người họ Tô tên Lịch, đời đời ở đất (núi) Long Đỗ, dựng làng bên bờ sông (Tô Lịch), nhà không giàu có lắm, nhưng tề gia lại biết lấy đạo hiếu đễ làm đầu, ba đời biết nhường nhịn mà ở chung với nhau… Gặp năm mất mùa, thóc thiếu, biết đem của cải trong nhà chia cho mọi người trong làng. Vì thế, lấy tên Tô Lịch đặt làm tên làng…”.

Một chuỗi liên hệ dễ dàng nhận ra ở đây, câu sử bút này: Tô Lịch là người “già làng” đứng đầu hương Long Đỗ. Ông đã cho hương Long Đỗ “mượn” nhân danh của mình để thành địa danh làng Tô Lịch. Một tên gọi khác nữa của hương Long Đỗ (Cũng như đã cho con sông chảy bên làng “mượn” tên thành sông Tô Lịch) – làng Tô Lịch, tức hương Long Đỗ, có thần làng là thần Long Đỗ. Thần Long Đỗ là linh khí của người đứng đầu làng Tô Lịch khi đã lìa đời mà thành thần, hóa thánh. Vậy cuối cùng – thần Long Đỗ, chính là ông Tô Lịch.

Cuộc gạn lọc, giải ảo cho hiện thực lịch sử thế là đã đi đến đích: Người họ Tô tên Lịch, chính là nhân vật lịch sử có thật, ở thời gian đầu Công nguyên, đã là người đứng đầu làng (hương) Long Đỗ, dựa vào núi Long Đỗ (núi Nùng) mà cắm đất lập ngôi làng – Hà Nội – gốc đầu tiên, có vị thế “tựa núi nhìn sông”, mà nghìn năm về sau vẫn luôn là ở chỗ chính tâm của tất cả các tòa: từ Phủ thành Đại La, đến Kinh thành Thăng Long.

Ông là người Hà Nội gốc đầu tiên, cũng là người đầu tiên sống, nêu gương và để lại truyền thống nghìn năm văn hiến thi thư, bên cạnh và cùng với truyền thống đấu tranh anh hùng, cũng nghìn năm, cho lịch sử và văn hóa Thăng Long-Hà Nội, bằng phẩm chất sống nhân nghĩa, hiếu thuận của mình.

Giáo sư Lê Văn Lan
qdnd.vn

Hà Nội những đổi thay về hành chính thời thuộc địa

Thống trị về hành chính

Chiếm Hà Nội năm 1883, ngoài các hành động quân sự, việc đầu tiên mà người Pháp quan tâm là tổ chức lại bộ máy cai trị thành phố theo kiểu mới. Một viên công sứ được chỉ định làm công việc quản lý hành chính thành phố. Đó là ông Bon-nan (Bonnal), người đã chọn một ngôi nhà trên phố Hàng Gai làm trụ sở. Trên tấm ảnh chụp năm 1884 ta còn thấy ngôi nhà trước cửa treo tấm biển hình bầu dục ghi tên “Tòa công sứ Pháp” (vị trí nhà này về sau là nhà in Lê Văn Phúc, nay là Công ty sản xuất và xuất khẩu Thủ công mỹ nghệ, 80 Hàng Gai). Công việc của công sứ buổi đầu chủ yếu là việc trị an và ổn định việc chiếm đóng của người Pháp. Về sau tòa công sứ lại được chuyển về phố Nhà Chung, gần với dinh cơ của Tổng đốc Hà Nội. Còn cảnh binh Pháp thì đóng tại hai ngôi nhà xây kiểu Tàu ở phố Hàng Bồ và Hàng Bè. Nhưng các ngôi nhà đó quá đổ nát nên đến năm 1893 lại phải chuyển sang đóng tạm ở phố Cầu Gỗ và trên đất trường thi hương cũ của Hà Nội. Mãi đến tháng 9-1904, doanh trại chính thức của cảnh binh mới được xây dựng trên đất trường thi cũ, để trở thành phố Trường Thi.

Tòa Công sứ Pháp ở phố Hàng Gai. Ảnh tư liệu

Nhưng Hà Nội không thể duy trì lối cai trị như các tỉnh, mà phải được tổ chức như các thành phố ở châu Âu. Vì vậy, ngày 19-7-1888 Thống sứ Bắc Kỳ ký quyết định thành lập Hội đồng thị chính thành phố Hà Nội và chỉ định một viên đốc lý trong thời hạn 3 năm. Cùng lúc đó, chính quyền bảo hộ Pháp yêu cầu triều đình Huế chuyển Hà Nội thành lãnh thổ của Pháp tức là thành khu nhượng địa, do người Pháp trực tiếp cai trị, khác với các tỉnh khác ở Bắc Kỳ là đất bảo hộ (theo dụ ngày 1-10-1888 của vua Đồng Khánh). Địa giới Hà Nội cũng được mở rộng, năm 1899 phần đất còn lại của hai huyện Thọ Xương, Vĩnh Thuận và một số xã thuộc hai huyện Từ Liêm, Thanh Trì được nhập vào thành phố thành khu ngoại thành. Năm 1915, Pháp đổi tên khu này thành huyện Hoàn Long, nhưng lại nhập vào tỉnh Hà Đông. Đến năm 1942, huyện Hoàn Long gồm 8 tổng, 60 xã được nhập lại vào thành phố, gọi là Đại lý đặc biệt Hà Nội, tồn tại cho đến năm 1945.

Viên đốc lý Hà Nội do Thống sứ Bắc Kỳ chỉ định, về sau do chính Toàn quyền Đông Dương quyết. Ông đốc lý gọi theo tiếng Pháp là “công sứ-thị trưởng” (résident-maire), có nghĩa là ông ta chỉ như một viên công sứ cai trị một tỉnh của xứ bảo hộ, không có quyền quyết định về ngân sách, mà phải theo chỉ thị của Thống sứ Bắc Kỳ.

Hội đồng thị chính đầu tiên gồm 12 người Pháp, 2 người Việt và 2 người Tàu. Họ họp 4 lần mỗi năm, và quyết định của nó chỉ có giá trị thực hiện sau khi được Thống sứ chuẩn y. Tòa thị chính tất nhiên có một thành huy với một câu châm ngôn bằng chữ La-tinh rất kỳ quặc, biểu trưng cho tính tự trị của thành bang phương Tây, nhưng lại phụ thuộc chặt chẽ vào chính quyền cấp trên. Châm ngôn của Hà Nội là Dislecta fortitudine prosfera, có thể là tiếng La-tinh của các giáo sĩ Dòng Tên thế kỷ 17, nhưng thực ra nghĩa của nó không rõ ràng, có thể suy diễn theo nhiều cách, hoặc do viết sai chính tả. Có thể hiểu là “Cái ta muốn được phát hiện bằng lòng dũng cảm”, cũng có thể hiểu “Của cải ta mong muốn chỉ đạt được bằng lòng dũng cảm”. Thành huy của Hà Nội là hình tượng hai con rồng quấn hai bên thanh kiếm đâm xuống hồ (truyền thuyết về Lê Lợi), trên có một mặt trời màu đen, có tường thành bao quanh.

Từ năm 1891, hội đồng thị chính được cử tri đoàn bầu lên, được chia thành hai đoàn: Cử tri đoàn người Pháp, bầu ra 10 ủy viên bằng bầu cử phổ thông trực tiếp và một cử tri đoàn “bản xứ”, chỉ những người đóng thuế đến một mức nào đó mới có quyền đi bầu. Cử tri đoàn bản xứ bầu ra 4 ủy viên người Việt, không có người Tàu nữa. Họ không đại diện cho ai vì đều là những người thuộc tầng lớp giàu có mới nổi lên, phần lớn đã Pháp hóa và gắn với hệ thống thuộc địa, bảo đảm sự giàu sang của họ. Cho nên, các ủy viên này không gây trở ngại cho công việc cai trị vì người Pháp vẫn giữ quyền quyết định.

Nhà sử học Pháp Phi-líp Pa-panh (Philippe Papin), khi tìm hiểu lịch sử Hà Nội đã lưu ý đến hình ảnh ông hội đồng thị chính Nguyễn Lễ, sinh năm 1895 ở Bắc Ninh, du học ở Pháp và trở về Việt Nam năm 1914 với tấm bằng kỹ sư cho phép ông ta vào làm ở Hãng rượu Đông Dương. Năm 1926, ông tham gia Hội đồng thị chính thành phố Hà Nội, biểu quyết một cách ngoan ngoãn mọi quyết định do người Pháp đưa ra, rồi nhờ sự ủng hộ của họ, đã trở thành người đứng đầu hướng đạo sinh và ra tờ bán nguyệt san Thẳng Tiến, in đến 1.500 bản. Rõ ràng Nguyễn Lễ và các đồng nghiệp của ông không có cái gì chung với người dân thường thành phố. Có lẽ vì thế mà nhà văn Vũ Trọng Phụng đã dùng hình mẫu này để xây dựng nhân vật trong cuốn tiểu thuyết Giông tố.

Nhà số 80 Hàng Gai ngày nay. Ảnh tư liệu.

Hội đồng thị chính quản lý thành phố Hà Nội trong 60 năm. Nó có phương tiện để đạt tham vọng của mình, vì tòa Thống sứ Bắc Kỳ không muốn mang gánh nặng cai trị thành phố Hà Nội, từ năm 1891 đã giao cho nó quản lý phần thu trực tiếp (thuế đất đai, thuế môn bài và thuế thân). Nhưng các chương trình đô thị hóa, xây dựng và phát triển thành phố rất tốn kém, và tòa thị chính vì thiếu tiền, buộc phải vay mượn, tăng đảm phụ khiến thuế khóa thêm nặng nề. Tăng thuế, khủng hoảng tài chính và các vụ bê bối tạo thành cái nền của lịch sử tòa thị chính Hà Nội.

Bị chiếm đất đai

Trước khi người Pháp đến, 15% đất đai thuộc khu buôn bán của thành phố Hà Nội, cùng với 55% đất đai vùng ngoại vi, đều thuộc sự quản lý của tập thể cộng đồng dân cư địa phương. Sau khi thành lập, Hội đồng thị chính tìm cách chiếm đoạt những đất đai đó nhằm thực hiện chính sách đô thị hóa và xây dựng các công trình công cộng. Được nhà cầm quyền bảo hộ chấp thuận năm 1903, tòa thị chính tuyên bố từ nay sẽ là chủ sở hữu duy nhất những đất công làng xã thuộc thành phố. Đường lối của người Pháp được tiến hành theo ba giai đoạn: Trước hết là tịch thu đất công, rồi cộng đồng người Pháp tìm cách mua lại ồ ạt đất tư, cuối cùng tòa thị chính thi hành chính sách cấm xây dựng đối với người bản xứ, bị coi là làm mất mỹ quan và kém vệ sinh.

Tòa thị chính mở một cuộc “săn lùng đất công” rộng lớn, chỉ trong mấy tháng đã tịch thu gần một phần ba số đất công (2.333 thửa trên 8.528 thửa). Nhưng người dân thành phố đã nhanh chóng phản ứng lại, với sự đồng lõa của chức sắc địa phương. Họ làm giấy chứng nhận các đất công đó thực tế là đất tư, và nộp đơn kiện khiến tòa thị chính lúng túng, không thể trả tiền để chuộc lại và cũng không thể thắng kiện được. Đành phải đi đến thỏa hiệp: Tòa thị chính sẽ thuê những đất công đó, khiến nó trở thành “đất của thành phố”, còn người chiếm hữu vẫn được sử dụng như cũ. Như vậy, người chủ sở hữu có một vị thế hợp pháp và thành phố, ngoài việc được thu tiền thuê đất, còn đảm bảo là trên đất đó sẽ nhanh chóng được xây dựng nhà gạch, nhằm loại bỏ nhà tranh và những kiến trúc tạm bợ. Tiếp đấy, do ngân sách thiếu hụt, thành phố phải không ngừng bán lại những mảnh đất thuộc thành phố cho dân, mà ưu tiên bán cho những người đã thuê sẵn. Năm nhiều năm ít, việc cho thuê đất và bán đất công xưa đã đem lại 5% cho ngân sách hằng năm của thành phố.

Tòa Thị chính thành phố. Ảnh tư liệu

Trong các khu phố nội thành, tình hình có khác vì đất ở đây nằm trong quy chế đất tư. Đến năm 1927, 4.000 người Pháp và Âu đã chiếm hữu một nửa diện tích hiện có, còn lại 120.000 người Việt bị dồn vào trong 45% đất đai. Người Hoa chiếm 5% dân số, nhưng không phải là những chủ đất lớn, vì họ thích đầu tư vào việc buôn bán đem lại nhiều lời lãi hơn. Diện tích trung bình của các chủ sở hữu là 265m2 đối với người Việt, 504m2 đối với người Hoa và 2.037m2 đối với người Âu. Trong số này, gia đình Ê-mi-năng-tơ (Éminente) chiếm 46 mảnh đất và 6ha, gia đình Đờ-măng-giơ (Demange) chiếm 19 mảnh và 2,5ha, nhà Vi-téc-bô (Viterbo) 1,5ha liền một mảnh trên đại lộ Găm-bét-ta (Gambetta) (Trần Hưng Đạo), hiệu tạp hóa Đờ-bô (Debeaux) có 16 mảnh và 2ha, nhà Đờ-lút-xtan (Deloustal) 6,5ha…

Nhưng trong những khu phố khá giả, vẫn có những chủ đất lớn người Việt. Lê Văn Phúc, người đã mở nhà in ở số 80 Hàng Gai đã có 3.000m2 đất, nhà doanh nghiệp Bạch Thái Bưởi có gần 4.000m2, Hoàng Gia Luận có gần 6.000m2 liền một mảnh, và Vũ Thị Tín có hơn một héc-ta ở ngoại ô phía nam thành phố. Trong 6 mảnh đất tư có diện tích hơn một héc-ta, thì một của người Pháp, 2 của người Hoa và 3 của người Việt. Người Pháp chiếm một nửa đất đai thành phố, nhưng không phải chỉ có họ. Cho nên trên bốn con đường tiêu biểu cho khu phố Tây là đại lộ Gambetta (Trần Hưng Đạo) và Gia Long (Hàng Bài), đường Pôn Be (Paul Bert) (Tràng Tiền) và Thợ Nhuộm, những doanh nhân, luật sư, giáo sư, bác sĩ người Việt cũng sở hữu 42 mảnh đất và gần 20% đất đai. Đó là những nhân vật mà người Pháp hy vọng có thể dựa vào để thiết lập nền bảo hộ của mình. Nhìn chung, người Pháp và giới thượng lưu Việt chiếm hai phần ba đất đai thành phố, điều đó minh họa rõ nét bản chất của chế độ thuộc địa.

Nhiều vị ủy viên Hội đồng đã mua đất của thành phố với giá rẻ mạt, rồi chỉ cần một chữ ký để chuyển đổi rồi bán lại đắt hơn vài tuần sau. Hệ thống đó phổ biến dưới thời thuộc địa đã khiến cho nhiều người trở nên giàu có. Năm 1896, viên kế toán tòa thị chính bị tù vì biển thủ. Năm 1905, nhà chức trách cấp trên buộc phải giải tán Hội đồng thị chính và kiểm soát chặt chẽ tòa thị chính. Một vị ủy viên Hội đồng người Pháp là bác sĩ Le Lan đã vạch trần mọi thủ đoạn làm giàu của các nhân viên xung quanh ông đốc lý, bắt đầu từ ông chủ sự lục lộ Ma-la-ba (Malabar), mà tên tuổi đã xuất hiện trong mọi vụ bê bối thời đó.

Mâu thuẫn trong chính sách cai trị

Trong thời gian đầu, chính quyền thuộc địa tiếp tục sử dụng các quan lại người Việt thuộc hai huyện của thành phố, để quản lý công việc thường ngày như thu thuế, điều tra, xử án, giải quyết tranh chấp… Nhóm giúp việc nhỏ đó chỉ có 11 người gồm tri huyện, 4 thư lại và 6 lính. Vị thế của họ thật chông chênh vì họ vừa bị nhà chức trách thành phố kiểm soát, lại nằm dưới sự quản trị của tổng đốc thành phố, mà ông này lại thuộc về triều đình Huế.

Từ tháng ba 1889, Hà Nội trở thành của Pháp, nha môn tỉnh được chuyển đi, kéo theo sự ra đi hàng loạt của các quan và sự lưu tán của tầng lớp nho sĩ. Mãi đến tháng Sáu năm 1896, các nha môn huyện mới được xóa bỏ, thay bằng một quan chức mới gọi là hiệp lý, giữ vai trò liên kết với tòa thị chính Pháp. Nhưng vừa lập ra, các chức trách của hiệp lý đã bị bãi bỏ, vì người ta nhận ra ngay rằng nó không cần thiết, vì từ đây người Việt ở Hà Nội được đặt dưới sự xét xử của tòa án Pháp (tuy họ không có quốc tịch Pháp), cho nên sự can thiệp của pháp luật bản xứ là vô dụng. Cùng lúc, thành phố được áp dụng chế độ pháp lý làm nổi lên đặc tính riêng của nó: Một người Việt ở thành phố không bị xét xử như người dân ở các tỉnh, quyền của họ không được bảo đảm bằng những điều luật như nhau.

Trừ lĩnh vực chính trị, người Hà Nội như vậy đã được pháp luật bảo vệ. Hồ sơ lưu trữ còn đầy những bản khiếu kiện của người dân chống lại người Pháp hay nhà chức trách thành phố. Hà Nội có luật sư của mình, những người này không bỏ qua khách hàng người Việt khi họ trả tiền nhiều và nhanh chóng, tức là tầng lớp thượng lưu bản xứ. Ngoài ra, nhiều người Hà Nội đã biết khai thác sự trì trệ ngập ngừng và những mâu thuẫn nội bộ của chính quyền Pháp đôi khi bị tê liệt. Điều đó thấy rõ ở sự tranh chấp giữa viên cảnh sát, người biết rõ kẻ tình nghi phạm tội, với ông quan tòa, vì không có bằng chứng, vẫn tuyên bố tha bổng. Người Việt Nam đã lợi dụng, dựa vào sự can thiệp của thống sứ, để ngăn chặn việc chiếm đoạt đất đai của tòa thị chính, rồi lại kêu gọi sự giúp đỡ của tòa thị chính khi quyền lợi của họ bị nhà chức trách bảo hộ đe dọa (ở làng quê, ở nông thôn chẳng hạn). Một chân trong thành phố, và chân kia ở ngoài, mối quan hệ chồng chéo đó với chính quyền cho phép khai thác những mâu thuẫn.

Tuy không được như Sài Gòn theo chế độ thuộc địa, nhưng người Hà Nội nếu biết vận dụng luật pháp của chính quốc, vẫn có thể tìm ra những kẽ hở để đấu tranh. Cho nên có một thời việc ra báo và xuất bản ở Hà Nội được tương đối dễ dàng hơn ở các thành phố và tỉnh lỵ khác. Đó cũng là điều kiện để các tổ chức yêu nước tranh thủ quần chúng, vận động thành lập các tổ chức yêu nước, để đấu tranh chống lại chính quyền bảo hộ.

Đào Hùng
qdnd.vn

Tướng Nguyễn Sơn văn võ song toàn

QĐND – Ngày 1-10-1908, Nguyễn Sơn cất tiếng khóc chào đời tại phố Yên Ninh, Ba Đình, Hà Nội với tên khai sinh là Vũ Nguyên Bác. Ông là người con thứ tư trong một gia đình nông dân kiêm tiểu thương gốc ở làng Kiêu Kỵ, Gia Lâm. Trong gia đình sáu anh em (năm trai, một gái), ông là người được học hành chu đáo hơn cả. Tốt nghiệp trung học, ông vào học Trường Cao đẳng Sư phạm Bắc Kỳ. Tuổi học trò thường hay nghịch ngợm, gây gổ đánh nhau. Có một lần, ông rủ đám bạn trường ông cùng với đám bạn bên trường Bưởi đánh học trò trường Tây cho chừa cái thói lên mặt con nhà giàu, thói “chó cậy gần nhà” của lũ hợm. Ông bị cảnh sát làm phiền. Và có lẽ vì thế, ông thôi học. Rồi ông gặp Nguyễn Công Thu, phái viên của Nguyễn Ái Quốc từ Quảng Châu, Trung Quốc về. Bởi đã có sẵn lòng ghét Tây, ông đã bị chinh phục bởi những lời tuyên truyền của phái viên cách mạng. Ông được Nguyễn Công Thu đưa sang Quảng Châu tham dự lớp huấn luyện chính trị của Nguyễn Ái Quốc. Ông mang tên mới là Lý Anh Tự cùng với gia đình họ Lý của những nhà cách mạng Việt Nam tại đây mà tộc trưởng là Lý Thụy, tức Nguyễn Ái Quốc như ta đã biết. Tốt nghiệp, ông được kết nạp vào Việt Nam Thanh niên Cách mạng trước mộ Liệt sĩ Phạm Hồng Thái trong Nghĩa trang Hoàng Hoa Cương, nơi yên nghỉ của 72 chiến sĩ cách mạng Tân Hợi. Tiếp đó, ông được Nguyễn Ái Quốc lựa chọn gửi sang học Khóa IV, Trường Quân chính Hoàng Phố của Chính phủ Cách mạng Quảng Châu do chuyên gia quân sự Xô-viết trực tiếp giảng dạy. Ông học tập rất chăm chỉ trên lớp cũng như ngoài thao trường bởi vì ông ý thức rằng những kiến thức thu nhận được ở đây sẽ rất cần cho sự nghiệp tương lai của ông và dân tộc. A.I. Trê-rê-pa-nốp, một giáo viên Xô-viết của trường đã nhận xét về những học viên Việt Nam, trong đó có ông: “Trong số những học viên của chúng tôi có khoảng 30 người Việt Nam. Họ rất nghiêm chỉnh, cần cù lao động, dốc mọi sức lực để học tập bởi vì họ biết rằng, để giành chính quyền về tay công nông phải cầm lấy vũ khí chiến đấu và chỉ có tri thức quân sự mới giúp họ bảo vệ cách mạng khỏi thù trong giặc ngoài” (A.I. Trerepanop, Ghi chép của một cố vấn quân sự ở Trung Quốc. M. 1976). Cũng có thể nói, dưới mái trường này lần đầu tiên những thanh niên yêu nước Việt Nam, trong đó có ông, tiếp nhận những kiến thức cơ bản về nghệ thuật quân sự theo quan điểm Mác – Lê-nin (Soviet Volunteers in China 1925-1945, Progress Publishers, M.1980). Đang học thì xảy ra chính biến Tưởng Giới Thạch. Nhận rõ bản chất của cánh hữu trong Chính phủ Quảng Châu, ông gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc chiến đấu cho quyền lợi của quần chúng nghèo khổ. Tháng 12-1927, ông tham gia Khởi nghĩa Quảng Châu theo tiếng gọi của những cộng sản Trung Quốc chân chính như Trương Thái Lôi, Diệp Đình, Diệp Kiếm Anh, Nhiếp Vĩnh Trăn. Công xã Quảng Châu bị dìm trong máu. Cánh hữu trong Chính phủ Quảng Châu nhân đó đàn áp khốc liệt Đảng Cộng sản Trung Quốc và tổ chức cách mạng Việt Nam đang hoạt động ở đây. Quảng Châu không còn là miền đất hứa của các nhà cách mạng Việt Nam. Việt Nam Thanh niên Cách mạng phải di chuyển địa bàn hoạt động đến hai nơi: Hồng Công và Xiêm. Nguyễn Sơn về vùng Đông Bắc nước Xiêm hoạt động trong Việt kiều. Ông đã góp phần vào sự ra đời của một số Chi bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng trong Việt kiều yêu nước. Tháng 6-1928, ông trở lại Trung Quốc và được điều về phụ trách công vận của Nghiệp đoàn thủy thủ Hồng Công. Nhưng khi Đệ tứ phương diện quân dưới sự lãnh đạo của Mao Trạch Đông, Chu Đức, Trần Nghị thoát vòng vây, tiến về vùng Đông Giang, Quảng Đông cần được tăng cường những cán bộ quân sự được đào tạo chính quy, ông liền xung phong. Khi đến nơi thì Đệ tứ phương diện quân đã di chuyển, nên ông ở lại Đông Giang, gia nhập Quân đoàn Hồng quân số 11, tham gia chiến tranh du kích ở đây. Câu chuyện đổi tên “Hồng Thủy-Mãnh thú” của ông cũng diễn ra tại đây. Xin được dẫn một đoạn văn khái quát về những năm tháng chiến đấu của Hồng Thủy trên đất Trung Quốc của Lý Linh thay cho sự miêu tả dài dòng:

“Hồng Thủy là một cuốn sách ghi lại toàn bộ quá trình về Trường Quân sự Hoàng Phố, khởi nghĩa Quảng Châu, năm lần chống vây quét, cuộc trường chinh hai vạn năm nghìn dặm và tám năm kháng chiến.

Lưỡng quốc tướng quân Nguyễn Sơn. Ảnh tư liệu

Hồng Thủy là một khối thép không han gỉ trong đói rét cực nhọc, không run sợ trước mọi sự hăm dọa, không ngã gục trong mưa bom bão đạn, không giận hờn bởi sự hiểu lầm hoặc bị xúc phạm. Ánh thép như ngời lên một chân lý sâu xa: Trong lò luyện của những nghịch cảnh và chà xát không loại sáp nào có thể tồn tại, còn gang thép vẫn là gang thép, tôi luyện càng nhiều chất thép càng tinh.

Hồng Thủy là một ngọn đèn, đốt cháy hết mình mà không mảy may tính toán thiệt hơn, chỉ cốt rọi sáng vào thế giới u tịch không cần phân biệt nơi đó là đâu, càng làm tăng thêm giá trị của nguồn sáng. Một người yêu nước chưa hẳn đã là một chiến sĩ quốc tế, còn trong cơ thể của người chiến sĩ quốc tế thì bao giờ cũng dồn dập chảy dòng máu yêu nước.” (Trần Kiếm Qua. Hồng Hà nhớ, Hoàng Hà thương).

Cách mạng Tháng Tám thành công. Nước ta thành nước độc lập, dân ta thành người tự do. Nhưng các lực lượng thù địch không muốn thế – cây muốn lặng, gió chẳng đừng. Dân Sài Gòn đứng dậy chống thực dân Pháp quay trở lại. Theo tiếng gọi của Tổ quốc, ông mang tên mới Nguyễn Sơn trở về giúp nước trong lúc nguy nan. Ông được cử làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Nam Trung Bộ. Ông đã tổ chức chiến đấu dũng cảm bảo vệ những vùng đất chiến lược và tích cực xây dựng lực lượng, đặc biệt là đã mạnh dạn cho ra đời Trường Lục quân Quảng Ngãi nổi tiếng một thời.

Từ năm 1947, ông được điều về đảm nhiệm Tư lệnh Khu IV, đóng tại Nông Cống, Thanh Hóa. Một trong những vấn đề Tư lệnh Nguyễn Sơn quan tâm hàng đầu là bồi dưỡng đội ngũ cán bộ. Các lớp học ngắn ngày được tổ chức, đầu tiên là lớp bồi dưỡng cán bộ trung cấp gồm 50 người, tiếp đến là các lớp bổ túc cán bộ đại đội, lớp bồi dưỡng ngắn ngày cho các ủy viên thường vụ, thường trực ủy ban các tỉnh Liên khu IV, riêng khóa 7 đã có 120 người theo học. Theo sáng kiến của Tư lệnh Nguyễn Sơn, ngày 30-11-1947, Đại hội tập, tức Hội thao quân sự, lần đầu tiên được tổ chức rầm rộ tại núi Nưa, Nông Cống. Học tập lý thuyết quân sự được kết hợp nhuần nhuyễn với thực hành là như vậy. Trên nền tảng đó, Nguyễn Sơn đã viết, dịch và cho xuất bản vào năm 1949 những tác phẩm về lý luận quân sự như: Chiến thuật, Dân quân, một lực lượng chiến lược, Chủ nghĩa Lê-nin, Chiến tranh cách mạng và vấn đề chiến lược của Béc-tôn Phrai-xen và Chiến tranh cách mạng Trung Hoa và vấn đề chiến lược của Mao Trạch Đông. Tư lệnh Nguyễn Sơn còn là cha đẻ của Trường Thiếu sinh quân Liên khu IV ở Thọ Xuân.

Đất Thanh Hóa còn là vườn ươm của đội quân văn hóa tư tưởng mà Mạnh Thường Quân không ai khác, chính là Tư lệnh Nguyễn Sơn. Ông là người đã thành lập Trường Văn hóa Kháng chiến đào tạo nhiều khóa. Và chính ông là người đã giúp đỡ và mạnh dạn sử dụng nhiều nhân sĩ trí thức, văn nghệ sĩ những ngày đầu kháng chiến còn gian khổ và lưỡng lự phân vân quyết tâm đi theo kháng chiến. Chính ông là người đã tập hợp và cộng tác với các nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhà phê bình… cùng nhau bước đầu xây dựng lý luận văn nghệ kháng chiến ở Liên khu IV, đã bảo tồn tuồng chèo, bài hát trữ tình, khôi phục điệu múa Xuân phả đã bị mai một… Là một nhà quân sự, nhưng ông rất mê văn học nghệ thuật. Ông đã từng lên bục thuyết trình say sưa và hấp dẫn về Truyện Kiều của Nguyễn Du suốt một ngày cho học viên Trường Thiếu sinh quân và Trường Văn hóa kháng chiến.

Tháng 1-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh phong quân hàm Thiếu tướng cho Nguyễn Sơn vì công lao to lớn của ông trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp. Ngày 9-10-1948, Thứ trưởng, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, phái viên của Hồ Chủ tịch từ Việt Bắc vào Thanh Hóa chủ trì Lễ thụ phong cho Thiếu tướng Nguyễn Sơn. Nhân chuyến đi này, Phạm Ngọc Thạch chuyển tận tay tướng Nguyễn Sơn bức Thiếp thư của Hồ Chí Minh với 12 chữ Hán được viết nắn nót, ngay ngắn dặn dò ông:

“Đảm dục đại (Mật phải lớn)

Tâm dục tế (Tâm hồn trong sáng, tế nhị)

Trí dục viên (Suy nghĩ phải vẹn toàn, chu đáo)

Hành dục phương” (Hành động phải ngay thẳng, đúng đắn).

Tháng 10-1950, Nguyễn Sơn trở lại Trung Quốc. Ông tốt nghiệp xuất sắc Học viện Quân sự Nam Kinh, sau đó được phân công đảm nhiệm chức Phó cục trưởng Cục Điều lệnh, Giám đốc Tòa soạn tạp chí Huấn luyện chiến đấu. Ông đã viết nhiều bài xã luận, bình luận về các vấn đề quân sự, góp phần vào sự nghiệp hiện đại hóa quân đội Trung Quốc. Năm 1955, Nguyễn Sơn là người nước ngoài duy nhất được Chính phủ Trung Hoa phong quân hàm Thiếu tướng.

Mùa hè năm 1956, do nhiều năm “Bắc chiến Nam chinh” đầy gian khổ, ông mắc bệnh hiểm nghèo. Chính phủ và Quân đội Trung Hoa hết lòng chữa chạy theo Đông y và có ý định đưa ông sang Mát-xcơ-va chữa chạy theo Tây y, nhưng ông cảm thấy không thể vượt qua căn bệnh quái ác này. Ông muốn được trở về Tổ quốc và được trút hơi thở cuối cùng trên mảnh đất “chôn nhau cắt rốn” của mình. Chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã bố trí một chuyến tàu hỏa đặc biệt để ông trở về nước. Buổi tiễn biệt ông tại sân ga Bắc Kinh thật lưu luyến và cảm động. Nguyên soái Diệp Kiếm Anh, các tướng lĩnh cao cấp và các nhà ngoại giao không cầm được nước mắt. Ngày 27 tháng 9 năm 1956, chuyến tàu đặc biệt đưa Lưỡng quốc tướng quân Nguyễn Sơn rời đất nước Trung Hoa về lại Việt Nam, quê hương ông.

Ngày 21 tháng 10 năm 1956, tướng Nguyễn Sơn trút hơi thở cuối cùng trong sự luyến tiếc, đau buồn của gia quyến, bạn bè và những đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước và Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngày 22-10-1956, lễ tang tướng Nguyễn Sơn được tổ chức trọng thể tại Hà Nội. Trong Lời điếu đọc trước linh cữu ông, đồng chí Hoàng Anh, thay mặt Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng, đã khẳng định, tướng Nguyễn Sơn mất “quân đội chúng ta mất một Thiếu tướng có tài, Tổ quốc và Chính phủ, Đảng mất một người cán bộ tốt” .

Và trước linh cữu khói hương nghi ngút tướng Nguyễn Sơn, đồng chí Hoàng Anh, thay mặt Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân xin hứa với ông: “Vĩnh biệt đồng chí hôm nay, chúng tôi biến lòng thương nhớ đồng chí thành sức mạnh trong công việc xây dựng Quân đội nhân dân tiến dần từng bước tới chính quy hóa và hiện đại hóa, góp phần vẻ vang của mình trong công cuộc củng cố hòa bình cho nước nhà”.

Tướng Nguyễn Sơn về với cõi vĩnh hằng không vượt qua tuổi mụ 49. Trong bài thơ khóc tướng Nguyễn Sơn, nhà thơ Hữu Loan, người đã có thời làm việc với tướng quân trên đất Thanh Hóa, tác giả bài thơ nổi tiếng Màu tím hoa sim (vừa mới mất), đã phần nào phác họa được tính cách mạnh mẽ, pha chút ngang tàng của ông:

“Nguyễn Sơn như con tàu biển khổng lồ

Mang giông tố đại dương đi đến đâu

không cho sóng ngủ

Nguyễn Sơn như núi lửa mọc ở đâu

Là gây những đám cháy

Vòng quanh…”.

Con người Nguyễn Sơn là thế. Những nơi Nguyễn Sơn đi qua, những công việc Nguyễn Sơn đã làm đã để lại những dấu ấn không phai mờ. Lưỡng quốc tướng quân Nguyễn Sơn là con người văn võ song toàn. Chiến công của quân dân ta trong hai cuộc trường chinh chống Pháp, chống Mỹ vĩ đại có một phần trải nghiệm của Nguyễn Sơn. Và cuối cùng, bức tượng đài tình hữu nghị Việt – Trung được kết dính bởi một phần máu thịt của Nguyễn Sơn.

PGS.TS Phạm Xanh
qdnd.vn

Bác sĩ Trần Duy Hưng với Hà Nội những năm đầu Độc lập

QĐND – Ngay sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền cách mạng lâm thời Hà Nội đã mời các nhân sĩ Hà Nội như cụ Nguyễn Văn Tố, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện, bác sĩ Trần Duy Hưng… tham gia chính quyền nhân dân. Các “sĩ phu Bắc Hà” đã vui vẻ nhận lời. Khi về Hà Nội, nhận thấy ở bác sĩ Trần Duy Hưng một nhân cách, một tấm lòng son sắt vì nước, vì dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị ông làm Thị trưởng Thành phố Hà Nội. Ông đã đáp lại rằng: “Thưa Cụ, chức Chủ tịch xin Cụ chọn người khác xứng đáng hơn, tôi không quen làm…”. Nghe vậy, Cụ Hồ đã động viên: “Tôi có quen việc làm Chủ tịch nước đâu, chúng ta cứ làm rồi sẽ quen…”. Và từ ngày 30-8-1945, ở tuổi 33, ông đã là Chủ tịch đầu tiên của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội.

Các đại biểu Quốc hội của Hà Nội ra mắt cử tri ngày 12-1-1946, trên sân vận động ở khu Việt Nam Học xá (Trường Đại học Bách khoa hiện nay). Từ trái sang phải: Kỹ sư Nông lâm Hoàng Văn Đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh, bác sĩ Trần Duy Hưng, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện, luật sư Vũ Đình Hòe, nhà giáo Nguyễn Thị Thục Viên.

Bác sĩ Trần Duy Hưng sinh ngày 16-1-1912, là con trưởng trong một gia đình trung lưu và có truyền thống hiếu học. Cha ông là một viên chức quê ở thôn Hòe Thị, nay thuộc xã Xuân Phương, Từ Liêm, Hà Nội, mẹ là con gái họ Phạm, một dòng họ lớn ở làng Ngọc Hà. Sau khi tốt nghiệp Trường Bưởi (nay là Trường Chu Văn An), ông theo học Trường Y khoa Đông Dương. Ngay trong thời kỳ này, ông cùng với Tạ Quang Bửu, Lưu Hữu Phước, Tôn Thất Tùng… là những người sáng lập Hướng đạo sinh ở Việt Nam, một phong trào có uy tín của thanh niên trí thức lúc đó, do Hoàng Đạo Thúy làm thủ lĩnh. Với cây đàn vi-ô-lông và cùng bạn bè, ông đã nhiều lần về các vùng quê đàn hát những bài ca yêu nước.

Sau khi tốt nghiệp, ông và em gái mở phòng khám tại nhà riêng ở số nhà 73 phố Hàng Bông Thợ Nhuộm. Là một bác sĩ đa khoa giỏi, nhưng điều ông được đồng nghiệp và người dân Hà Nội thời đó yêu quý nhiều hơn là ở tấm lòng đức độ của một người thầy thuốc sẵn sàng cưu mang và cứu giúp dân nghèo. Em gái ông, bà Trần Thị Mỹ, lúc đó đã tham gia Việt Minh, nên chính tại cơ sở chữa bệnh này, hai anh em ông đã cứu giúp và chở che cho những cán bộ Việt Minh như Nguyễn Đình Thi, Văn Cao… giữa vòng vây ráp của mật thám Pháp.

Với cương vị là Chủ tịch Ủy ban nhân dân Hà Nội (theo Sắc lệnh ngày 22-11-1945, được đổi thành Ủy ban hành chính) trong những ngày đầu của chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ông đã tập hợp được đông đảo các tầng lớp quần chúng nhân dân Thủ đô ủng hộ cách mạng, bảo vệ chính quyền non trẻ, “diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm”. Ông được nhắc đến với tác phong giản dị, gần gũi, lắng nghe và giải quyết kịp thời các phản ánh và tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Đêm Giao thừa Bính Tuất năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh và bác sĩ Trần Duy Hưng đã đi thăm các gia đình nghèo ở Hà Nội. Là chủ tịch của một thành phố lớn, nhưng ông tự soạn thảo các công văn, diễn văn, thư từ, điện tín và tự lái ô tô.

Ngày 6-1-1946, nhân dân cả nước đi bầu đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Nhân dân Hà Nội đã lựa chọn được 6 đại biểu. Chủ tịch Hồ Chí Minh được số phiếu cao nhất và sau đó là bác sĩ Trần Duy Hưng. Tại cuộc họp Quốc hội thứ nhất vào ngày 2-3-1946 tại Nhà hát Lớn, Hà Nội, ông đã được Quốc hội bầu vào Ban soạn thảo Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Với trọng trách này, bác sĩ Trần Duy Hưng không chỉ chăm lo tới người dân trong nước mà kể cả người Việt Nam ở nước ngoài. Báo Cứu quốc, cơ quan của Tổng bộ Việt Minh số 398, ra ngày 6-11-1946, có tường thuật lại ý kiến của bác sĩ Trần Duy Hưng trong buổi họp Quốc hội góp ý kiến cho bản Hiến pháp 1946: “Công dân Việt Nam ở nước ngoài được Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bảo đảm về quyền lợi” với mục đích “là để nước ngoài nhận cái địa vị của nước Việt Nam và nhận cái chủ quyền của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”.

Chính vì vai trò và sự tận tâm của bác sĩ với Thủ đô nên kẻ thù luôn tìm cách mua chuộc, hãm hại ông, nhằm làm giảm uy tín của chính quyền cách mạng. Nhiều báo những năm đó đã đăng tải vụ kẻ thù tiến hành bắt cóc ông. Báo Dân quốc số ra ngày 21-12-1945 có thuật lại vụ này: “Hồi hơn 12 giờ trưa ngày 19-12-1945, bác sĩ Trần Duy Hưng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội, bị một bọn 3 tên mang súng định bắt cóc ở ngay trước cửa nhà ở phố Hàng Bông Thợ Nhuộm. Một trong 3 tên đó mặc giả lính Trung Hoa, hai tên kia mặc âu phục. Trong khi ông Hưng đang quay xe để vào nhà thì nhân lúc không để ý, 3 tên Việt gian đã ngồi chờ sẵn ở một hàng nước trước cửa, nhảy xổ lên ô tô gí súng vào người và bắt ông lái xe đi. Nhưng ông Hưng vẫn giữ được cấp trí, tắt ngay máy đi và bóp còi lên. Kẻ gian thấy bị lộ bèn xô ông Hưng vào một bên giữ chặt lấy ông và định cầm lấy tay lái nhưng không vặn được xe đi. Trong khi ấy, người nhà bác sĩ Hưng biết có sự biến chạy ra và đồng thời anh em tự vệ trong phố cùng đổ đến. Thấy nguy, 3 tên Việt gian bỏ chạy, ông Hưng được tự do, rút súng bắn chỉ thiên, nhưng bọn bắt cóc cứ chạy, 2 tên tẩu thoát được, còn 1 tên đến đầu phố thì bị anh em tự vệ bắt”.

Cũng trong giai đoạn này, thực hiện Thông cáo của Chính phủ “về việc đặt tên đường phố và công viên tại các thành phố và tỉnh lỵ” đáp ứng mong muốn của nhân dân Thủ đô được sống trong một đất nước độc lập, ngày 1-12-1945, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Trần Duy Hưng đã ký tờ trình về việc đặt tên phố và công viên Hà Nội. Nguyên tắc đặt tên phố là: Giữ nguyên tên cũ của Hà Nội 36 phố phường; đường phố Hà Nội mang tên các “anh quân, danh tướng, văn gia, chiến công, các nhà cách mạng cũ và mới”; các danh nhân ngoại quốc có liên lạc với Việt Nam; các tên phố và vườn hoa trong từng khu vực có liên lạc với nhau; các vĩ nhân danh tiếng nhất đặt phố to nhất, và được chia ra từng khu vực có liên quan đến nhau. Ví dụ: Khu độc lập có vườn hoa Độc lập (nay là quảng trường Ba Đình) và các phố Dân chủ Cộng hòa (nay là Điện Biên Phủ), Tự Do (nay là Bà Huyện Thanh Quan), Hạnh phúc (nay là Tôn Thất Đạm), Dân Quyền (nay là Hoàng Văn Thụ), Hùng Vương (nay vẫn giữ tên cũ); Khu Quốc Tử Giám có các phố như Chu Văn An, Ngô Sĩ Liên…; Khu trường đại học có các phố Lê Thánh Tôn, Trạng Trình, Hàn Thuyên…; Khu quanh thành cổ có tên các phố Phan Đình Phùng, Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu…; Khu bờ sông tên phố là tên các chiến công và các tướng đã đánh các trận Bạch Đằng, Tây Kết, Vạn Kiếp, Vân Đồn, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Nguyễn Khoái… Khu hồ Hoàn Kiếm có Vườn hoa Chí Linh, các phố Lê Thái Tổ, Nguyễn Trãi, Lê Lai, Lê Thạch…; Khu giải phóng có phố Gia Phong, Đô Lương, Thái Nguyên, Tân Trào. Ngoài ra có mấy khu không liên lạc với tên phố nhưng để nhắc lại cảnh đau đớn của ách nô lệ: Cổ Am, Nghĩa Lộ… Theo nguyên tắc trên, tên một số phố thời kỳ bác sĩ Trần Văn Lai (Đốc lý Hà Nội thời chính phủ Trần Trọng Kim) đã cho đổi tên vẫn được giữ.

Tháng 2-1947, sau hai tháng chiến đấu anh dũng chống quân Pháp, Chính quyền Hà Nội rút lên Việt Bắc. Quân Pháp tạm chiếm Hà Nội. Tại chiến khu, bác sĩ Trần Duy Hưng được cử giữ chức Thứ trưởng Bộ Nội vụ (năm 1947), Thứ trưởng Bộ Y tế (năm 1954). Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày 10-10-1954 bác sĩ Trần Duy Hưng, lúc này là Phó chủ tịch Ủy ban Quân chính Hà Nội, đã cùng đoàn quân chiến thắng vào tiếp quản Thủ đô. Sau đó ông trở lại với chức danh Chủ tịch Ủy ban Hành chính, rồi Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội. Năm 1977, ông xin nghỉ hưu. Ông mất ngày 2-10-1988 tại Hà Nội.

Thiếu tướng Vương Thừa Vũ và bác sĩ Trần Duy Hưng (trái) cùng bộ đội tiếp quản Thủ đô trong buổi lễ chào cờ tại sân Cột Cờ Hà Nội. Ảnh: Phan Xuân Thúy

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có nhận xét về ông: “Một con người của nhân dân, vì nhân dân; là một trí thức để lại tấm gương sáng cho các thế hệ trí thức cả hôm nay và mai sau học tập, noi theo”.

Để ghi nhận công lao của ông, năm 2005, Nhà nước đã truy tặng ông Huân chương Hồ Chí Minh. Tháng 1-1999, một con đường đẹp của Thủ đô mới được mở trong thời kỳ đổi mới mang tên ông: phố Trần Duy Hưng. Các đường phố quanh đó mang tên những người đã từng lãnh đạo Hà Nội như Nguyễn Ngọc Vũ, Lê Văn Lương, Nguyễn Khang, Khuất Duy Tiến. Và mới đây, chuẩn bị cho đại lễ 1000 năm Thăng Long, tại cuộc họp chiều 14-7-2010 của Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội, các đại biểu đã nhất trí đặt tên đoạn đường nối dài từ phố Trần Duy Hưng đến Hòa Lạc là Đại lộ Thăng Long.

Ngô Thế Long
qdnd.vn

Nước Trung Hoa của Đặng Tiểu Bình

Sau nhiều tháng chuẩn bị, ngày 8.11, Đại hội toàn quốc của Đảng Cộng sản Trung quốc đã chính thức bắt đầu. 10 năm sau kỳ Đại hội năm 2002, Đại hội lần này được coi là bước chuyển giao quyền lực cho thế hệ lãnh đạo mới của Trung Quốc. Trong bối cảnh quốc gia đang phải đối mặt với nhiều thách thức cả về kinh tế lẫn xã hội, những bài học của Đặng Tiểu Bình, một trong những nhà lãnh đạo có công lớn nhất trong sự phát triển của Trung Quốc ngày hôm nay, lại một lần nữa được nhắc đến.

Chân dung Đặng Tiểu Bình được trưng tại quảng trường ở Thâm Quyến, Quảng Đông, Trung Quốc

Mặc dù chưa bao giờ ở vị trí nguyên thủ quốc gia hay là người đứng đầu Chính phủ, Đặng Tiểu Bình luôn được coi là kiến trúc sư trưởng của mô hình phát triển Trung Quốc từ năm 1978, thời điểm Trung Quốc đang ở đáy sâu của khủng hoảng. 14 năm sau khi ông về nghỉ, 200 triệu người không còn sống trong cảnh nghèo đói, và Trung Quốc đã trở thành một cường quốc kinh tế.

Những năm vừa qua Trung Quốc đã mất đi động lực đó. Tham nhũng đã trở thành vấn nạn. Tốc độ tăng trưởng kinh tế không còn ở mức hai con số và có chiều hướng giảm qua từng năm, trong khi phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc. Rõ ràng, Trung Quốc đang cần những cải cách sâu rộng cả về kinh tế lẫn xã hội. Và để làm được điều đó, học thuyết Đặng Tiểu Bình chưa bao giờ là quá khứ:

Thí điểm từ đó nhân rộng mô hình: để cải cách thành công, cần tiến hành thí điểm chính sách ở địa phương phù hợp trước. Nếu có kết quả, Đặng Tiểu Bình để các cán bộ ở địa phương thí điểm phổ biến mô hình trên toàn quốc, cũng như cho phép các địa phương khác đến học hỏi kinh nghiệm. Một trong những ví dụ thành công nhất chính là mô hình đặc khu kinh tế ở Thâm Quyến. Năm 1979, Thâm Quyến bắt đầu mở cửa để các thương nhân Hong Kong tự do thành lập công ty và tự đặt ra những quy định quản lý riêng. Những quy định này tỏ ra hiệu quả và sau đó được áp dụng ở nhiều nơi.

Trọng nhân tài: chỉ những người có thực tài mới được kết nạp vào Đảng. Để có vị trí cao hơn, họ phải chứng minh được năng lực của mình. Các cán bộ đã có tuổi cần tự nguyện rời nhiệm sở để nhường cho người trẻ hơn.

Hạn chế tối đa mâu thuẫn trong nội bộ chính quyền: vào năm 1978, nhiều cán bộ vẫn phản đối việc giải tán các hợp tác xã, mặc dù chế độ này không thể sản xuất ra đủ thực phẩm cho người dân. Thay vì cố gắng thuyết phục những ý kiến phản đối, Đặng Tiểu Bình ban hành chính sách cho phép các hộ nông dân được giữ lại sản phẩm, sau khi hoàn thành hạn mức sản phẩm cho nhà nước (chính sách khoán ruộng đất). Ngay sau đó, người dân Trung Quốc không những đủ ăn mà nông sản thừa còn được đem ra trao đổi buôn bán. Đặng Tiểu Bình để cho các nhà báo viết về những thành tựu đó và một năm sau thì toàn bộ Trung Quốc thống nhất bãi bỏ chế độ hợp tác xã.

Thiết lập mối quan hệ tốt đẹp với các cường quốc: học thuyết ngoại giao của Đặng Tiểu Bình từng là kim chỉ nam trong chính sách đối ngoại của Bắc Kinh. Ông luôn tỏ thái độ thân thiện với mỗi nhà lãnh đạo trên thế giới, bên cạnh việc thừa nhận những khác biệt giữa Trung Quốc và các quốc gia khác. Trong lịch sử Trung Quốc, ông là nhà lãnh đạo đầu tiên đến thăm và trò chuyện với Nhật hoàng, từ đó đàm phán thành công các thỏa thuận hợp tác với Nhật Bản, thúc đẩy chương trình trao đổi nhân lực, đồng thời mở rộng giao lưu văn hóa hai nước bằng việc nhập khẩu các chương trình TV, phim và tiểu thuyết Nhật. Đặng Tiểu Bình cũng là người có công bình thường hóa mối quan hệ Mỹ – Trung. Chuyến thăm Mỹ năm 1979 và sự kiện một quan chức Trung Quốc đội chiếc mũ cao bồi gửi tới người dân Trung Quốc thông điệp: chẳng có gì là sai khi tiếp nhận tinh hoa văn hóa Mỹ và thế giới. Năm 1989, ông chào đón Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Mikhail Gorbachev đến thăm Trung Quốc, để chứng tỏ rằng mối quan hệ song phương, từng gián đoạn từ năm 1963, đã được nối lại.

Đặng Tiểu Bình thuộc thế hệ những nhà cách mạng đầu tiên của Trung Quốc, đồng chí của Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai. Ngày nay, vẫn còn nhiều điều mà những nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc cần học hỏi từ những di sản mà ông để lại, nhưng quan trọng nhất vẫn là thái độ sẵn sàng thử thách và thay đổi, quan điểm không bài ngoại, đường lối ngoại giao thực dụng, và chính sách trọng nhân tài.

Ngọc Điệp
Theo IHT
daibieunhandan.vn

Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và con đường phát triển của thế giới đương đại

(ĐCSVN) – Cách đây 95 năm, quần chúng lao động nước Nga, dưới sự lãnh đạo của chính Đảng tiền phong do Lênin vĩ đại đứng đầu, đã làm nên một sự kiện làm rung chuyển toàn thế giới: Cách mạng Tháng Mười Nga.

Lênin với Cách mạng Tháng Mười Nga (Ảnh tư liệu)

Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thành công, đánh đổ chế độ quân chủ chuyên chế, đập tan mọi phương án chính trị tiêu cực của các lực lượng tư sản, khai sinh ra chế độ xã hội chủ nghĩa đầu tiên trong lịch sử loài người. Giương cao lá cờ búa liềm thắm hồng sắc màu cách mạng, giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn Nga thực sự nắm quyền làm chủ, xây dựng chính quyền Xô viết, biến chủ nghĩa xã hội từ mơ ước và lý luận thành hiện thực sinh động ở Nga và sau đó trên toàn Liên bang chiếm 1/6 diện tích địa cầu.

95 năm đã trôi qua, thế giới có biết bao đổi thay, đảo lộn; đã xuất hiện rất nhiều sự đánh giá khác nhau về sự nghiệp của những người cộng sản. Tuy nhiên, chính thực tiễn lịch sử thế giới trong gần một thế kỷ qua, với những sự thật không thể thêm bớt, đã khẳng định vai trò và ý nghĩa hết sức to lớn của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga: Là cột mốc mở đầu thời đại ngày nay.

Bắt đầu từ Tháng Mười Nga năm 1917, đã chấm dứt thời đại độc tôn của chủ nghĩa tư bản trong nền kinh tế – chính trị thế giới, mở ra kỷ nguyên mới của phát triển và tiến bộ xã hội. Từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản bộc lộ rõ rệt nhất những hạn chế không thể vượt qua. Nền văn minh vật chất sung mãn do chủ nghĩa tư bản tạo ra đã được xây dựng bằng nước mắt và máu của quần chúng lao động khắp toàn cầu; sự phồn vinh của quốc gia, dân tộc, giai cấp, tầng lớp người này phải được đánh đổi bằng sự bần cùng hoá của nhiều quốc gia, dân tộc, giai cấp, tầng lớp khác; sự hưng thịnh của một nhúm siêu cường phải được đánh đổi bằng hàng loạt cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc, biến hàng trăm quốc gia Á, Phi, Mỹ La tinh thành hệ thống thuộc địa đáng hổ thẹn của chủ nghĩa thực dân…

Hạn chế lịch sử của chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn độc quyền đế quốc cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đặt nhân loại trước một thách thức chung là tìm con đường giải phóng khỏi chế độ bóc lột, áp bức, bất công để thực hiện mục tiêu phát triển. Ở vào điểm giao thời giữa hai thế kỷ, đã xuất hiện nhiều ý tưởng, mô hình, phương án thay thế chế độ tư bản chủ nghĩa, trong đó có tư tưởng Hô-xê Mác-ti (Cuba, 1853-1895) chủ trương chống đế quốc, xây dựng một chế độ xã hội của tất cả và cho mọi dân nghèo trên thế gian; tư tưởng tam dân của Tôn Trung Sơn (Trung Quốc, 1866-1925); tư tưởng dân chủ – xã hội cách mạng châu Âu; tư tưởng yêu nước và giải phóng dân tộc của đông đảo quốc gia Á, Phi, Mỹ La tinh… Như kết tinh của mọi tư tưởng giải phóng và phát triển tiến bộ của thời đại, Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 nổ ra, đáp ứng đầy đủ nhất những yêu cầu bức bách của lịch sử là xoá bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, mở ra chân trời mới cho mục tiêu phát triển và tiến bộ xã hội.

Từ chiếc nôi nước Nga và Liên Xô, cách mạng vô sản và chế độ xã hội chủ nghĩa đã được tiến hành thắng lợi ở nhiều không gian địa chính trị trọng yếu; chủ nghĩa xã hội trở thành một hệ thống thế giới, đối trọng hữu hiệu trên nhiều lĩnh vực với hệ thống tư bản chủ nghĩa. Dưới ánh sáng của ngọn hải đăng Tháng Mười Nga, quần chúng lao động và các lực lượng cách mạng khác đã xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở 15 quốc gia thuộc châu Âu, châu Á và cả ở châu Mỹ; cộng với nhiều quốc gia định hướng xã hội chủ nghĩa ở Á, Phi và Mỹ La tinh. Liên tục trong nhiều thập kỷ, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác đã khôi phục đất nước sau chiến tranh, triển khai các chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và đã đạt hàng loạt thành tựu vĩ đại: vượt chủ nghĩa tư bản về tốc độ tăng trưởng kinh tế; công nghiệp hóa mạnh mẽ, xây dựng được một nền công nghiệp với một số mũi nhọn thế giới; nông nghiệp được quan tâm hiện đại hóa; giáo dục, khoa học, kỹ thuật và văn hóa có bước tiến vượt bậc, đạt đỉnh cao thế giới trên không ít tiêu chí, trở thành tấm gương về ưu việt xã hội mà chính chủ nghĩa tư bản phải tiếp thu để điều chỉnh, thích nghi trong bối cảnh thời đại mới; quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc, Liên Xô đạt thế cân bằng chiến lược với Mỹ vào giữa thập kỷ 70… Cho dù không tránh được một số hạn chế, sai lầm, cách mạng xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa xã hội đã thực sự là lực lượng mở ra và thực thi mục tiêu giải phóng và phát triển cho nhân loại trong những thập kỷ sôi sục đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc và đấu tranh xã hội. Hiểu theo nghĩa đó, rõ ràng chủ nghĩa xã hội đóng vai trò là một trong những nhân tố quyết định xu hướng vận động của thế giới trong thế kỷ XX.

Cách mạng Tháng Mười Nga đã mở ra và tạo động lực mạnh mẽ cho phong trào giải phóng dân tộc trong thời đại mới, thời đại của chủ nghĩa đế quốc bị tấn công và cách mạng vô sản bùng nổ. Theo con đường được ngọn lửa Tháng Mười Nga thắp sáng, các dân tộc trên thế giới đã vùng lên giải phóng khỏi các chế độ quân chủ, phát xít, thực dân, đế quốc; xác lập nền cộng hòa với chủ quyền đối nội, đối ngoại không thể bác bỏ; xây dựng chế độ xã hội mới do người lao động làm chủ. Chỉ tính từ sau chiến tranh thế giới II, liên tiếp xuất hiện những cột mốc và làn sóng giải phóng dân tộc: 1945, 1954 và 1975 của Việt Nam, 1949 của Trung Quốc, 1959 của Cuba, thập kỷ 60 của châu Phi, thập kỷ 70 của Mỹ La tinh, thập kỷ 80 của các thuộc địa cuối cùng được giải phóng. Dưới sức công phá của dòng thác cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới do Cách mạng Tháng Mười Nga mở ra, hệ thống thuộc địa do chủ nghĩa thực dân đế quốc thiết lập trong suốt 5 thế kỷ (từ 1492) đã hoàn toàn sụp đổ trong vòng chưa đầy 5 thập kỷ. Lịch sử thế giới hiện đại không thể không khắc ghi công lao và ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Mười Nga!

Động lực và cảm hứng từ Cách mạng Tháng Mười Nga tiếp tục tạo nên xu hướng phê phán, phủ định và thay thế chủ nghĩa tư bản bằng một chế độ xã hội tiến bộ hơn trong bối cảnh thế giới hiện nay. Ngay cả trong điều kiện chủ nghĩa xã hội bị khủng hoảng, xu hướng chống chủ nghĩa tư bản cũng không suy giảm. Sự hằn học, chống phá quyết liệt hiện nay của các thế lực thù địch đối với Cách mạng tháng Mười và chủ nghĩa xã hội chính là vì cuộc cách mạng vĩ đại ấy tiếp tục tác động mạnh mẽ đến triển vọng của lịch sử loài người trong thế kỷ XXI, thế kỷ của đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản ở tầm cao mới.

Thế kỷ XXI đặt ra nội dung và yêu cầu mới cho mục tiêu phát triển. Đó là sự phát triển trong hoà bình và tự do; phát triển hài hoà giữa vật chất và tinh thần; phát triển trong công bằng và dân chủ; phát triển bền vững và nhân văn; sự phát triển của mỗi người, mỗi nhóm xã hội, mỗi giai cấp, tập đoàn, mỗi quốc gia, dân tộc phải là điều kiện tích cực cho sự phát triển của những người khác và toàn bộ loài người. Khuôn khổ này của sự phát triển không thể tương dung với giới hạn chật hẹp của hình thái kinh tế – xã hội tư bản chủ nghĩa, cái hình thái chỉ có thể tồn tại và vận động được nhờ giá trị thặng dư thông qua bóc lột lao động, nhờ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng lớn, nhờ đầu cơ tài chính và chiến tranh,v.v… Bởi vậy, mục tiêu phát triển hiện đại tự nó đặt ra yêu cầu tiếp tục giải phóng, giải phóng triệt để hơn khỏi con đường và chế độ tư bản chủ nghĩa trong mọi biến thái khác nhau của chúng.

Chủ nghĩa tư bản, dưới hình thức hiện đại nhất của nó là chủ nghĩa tự do mới, đã bị phê phán quyết liệt ngay từ bên trong và ở quy mô toàn cầu. Cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản và khuynh hướng xây dựng một xã hội khác thay thế, bắt đầu từ Cách mạng Tháng Mười Nga cách đây 95 năm, đang và tiếp tục diễn ra một cách không thể phủ nhận trong thời đại ngày nay.

Lô gích của sự phê phán và phủ định chủ nghĩa tư bản được xác lập bởi chính các xu thế phát triển khách quan của thế giới đương đại, trong đó bao gồm cả sự phát triển của bản thân chủ nghĩa tư bản. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã sản xuất ra hàng loạt tư liệu sản xuất, điển hình là mạng in-tơ-nét, không thể tương dung với chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa; đồng thời, đã đẩy trình độ xã hội hoá các tư liệu sản xuất chủ yếu lên nấc thang của quốc tế hoá, toàn cầu hoá, ngày càng không thể chứa đựng nổi trong khuôn khổ hạn hẹp của các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Bên cạnh đó, xu thế toàn cầu hoá tự nó đặt ra đòi hỏi về sự dân chủ, công bằng, bình đẳng giữa các chủ thể đồng hành, về nguyên tắc không thể chấp nhận sự bất bình đẳng mà quá trình toàn cầu hoá tự do tư bản chủ nghĩa gây ra hiện nay.

Kiên định theo con đường và phát huy bài học sáng tạo của Cách mạng Tháng Mười Nga, chủ nghĩa xã hội chứng minh sức sống và tính ưu việt của mình thông qua quá trình cải cách, đổi mới và phát triển. Từ cuối thế kỷ XX đến nay, các nước xã hội chủ nghĩa và các lực lượng cộng sản thế giới tích cực đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức và cải cách chính sách phát triển trên mọi lĩnh vực. Những nguyên lý và các giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác – Lênin được nhận thức đúng đắn hơn; những kinh nghiệm thành công và những hạn chế, vấp váp của chủ nghĩa xã hội được xác định một cách chân thực hơn; những xu thế vận động của thế giới hiện đại được lĩnh hội kịp thời, khách quan hơn. Nhờ vậy, các quốc gia xã hội chủ nghĩa không những thoát khỏi khủng hoảng, mà còn đạt nhiều bước tiến lớn. Trung Quốc liên tục dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng kinh tế suốt hơn 30 năm qua, hiện đứng thứ 2 về GDP trên thế giới. Việt Nam đạt nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, ra khỏi tình trạng kém phát triển, đang trở thành người bạn và đối tác tin cậy của các nước. Cuba kiên định và sáng tạo trong vòng tay ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ của bè bạn khắp năm châu. Phong trào cộng sản quốc tế đã phục hồi và phát triển với gần 80 đảng, trên 90 triệu đảng viên, trong đó có một số đảng chấp chính, hoặc chiếm đa số trong quốc hội, hoặc có vị trí quan trọng trong đời sống đất nước.

Trên không gian Mỹ La tinh rộng lớn, danh từ chủ nghĩa xã hội đang trở thành động lực tập hợp lực lượng và ấp ủ niềm hy vọng lớn lao nhất, không phải là tia hy vọng mỏng manh, trừu tượng, mà là niềm tin công khai của đông đảo nhân dân đang cống hiến sức lực và trí tuệ cho công cuộc xây dựng xã hội mới. Tổng thống Vênêduêla Hugo Chavez nhất quán với tính chất xã hội chủ nghĩa của cuộc cách mạng Bô-li-va ở Vênêduêla, đưa đất nước đi lên “chủ nghĩa xã hội của thế kỷ XXI”. Tổng thống Bôlivia Evo Morales nhiều lần tuyên bố “chủ nghĩa xã hội là niềm hy vọng của Mỹ La tinh”, khẳng định mình là người “chống chủ nghĩa đế quốc từ trong xương tuỷ”. Tổng thống Êcuađo R. Correa giành thắng lợi trong vòng 2 bầu cử Tổng thống năm 2006 nhờ tuyên bố sẽ sửa đổi Hiến pháp theo hướng xây dựng “chủ nghĩa xã hội của thế kỷ XXI”. Trong Lễ nhậm chức đầu năm 2007, Tổng thống Nicaragoa Daniel Ortega tuyên bố “hiến dâng cả cuộc đời cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở đất nước mình”…

Với tính chất là sản phẩm của Cách mạng Tháng Mười Nga, chủ nghĩa xã hội hiện nay vẫn là một lực lượng chính trị, quân sự, kinh tế, tinh thần không thế lực nào có thể bỏ qua trong những tính toán chiến lược toàn cầu. Chính vì chân lý sáng tỏ này, mà nhiều trí tuệ lớn như Jacques Derrida, Noam Chomsky, Joseph Stiglizt, Dinoviev…, giống như Albert Enstein, Paul Satre, Bertral Roussel… trước kia, đều biểu thị sự đồng tình không che dấu với chủ nghĩa cộng sản, công khai đánh giá Mác là nhà tư tưởng của thế kỷ XXI và Cách mạng Tháng Mười Nga là sự kiện vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới hiện đại./.

PGS.TS Nguyễn Viết Thảo
cpv.org.vn

Không thể phủ nhận lý tưởng và những thành tựu vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười

Nói về cuộc Cách mạng Tháng Mười, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”. (Hồ Chí Minh Tuyển tập (bộ 2 tập). TI. NXB ST, HN. 1980. Tr 461).

Lịch sử không thể thay đổi. Người ta chỉ có thể thay đổi cách nhìn nhận về lịch sử tùy theo quan điểm và lợi ích chính trị của mình mà thôi. Cho dù Liên Xô đã tan rã, các thế lực thù địch với CNXH có xuyên tạc, bôi nhọ nhưng người ta không thể phủ nhận được lý tưởng, những giá trị và thành tựu lớn lao của cuộc cách mạng này gắn với sự ra đời và tồn tại trên 70 năm của Nhà nước Xô Viết (1917-1991) và gần một thế kỷ qua (1917- 2012) sự tồn tại của các nhà nước đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười.

Không có thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười và sự tồn tại của chế độ XHCN, thì không thể có sự kiện, từ một quốc gia phát triển trung bình ở châu Âu, chỉ sau hai kế hoạch 5 năm thực hiện công nghiệp hóa (1929 – 1939), nước Nga và Liên bang Cộng hòa XHCN Xô Viết (Liên Xô) đã trở thành một quốc gia có tiềm lực kinh tế, quân sự hùng mạnh, đủ sức đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa phát xít trong chiến tranh thế giới thứ hai. Những năm sau chiến tranh, nhà nước Liên Xô đã phát triển vượt bậc trở thành cường quốc quân sự, đủ sức làm đối trọng với chủ nghĩa đế quốc. Đồng thời Liên Xô trở thành quốc gia đi đầu trong lĩnh vực chinh phục không gian vũ trụ và nhiều lĩnh vực khác.

Không có thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười và sự tồn tại của chế độ XHCN, thì không thể có sự kiện từ một nước Nga lạc hậu trở thành một quốc gia phát triển về nhiều mặt, từ công nghiệp đến nông nghiệp; từ cơ sở hạ tầng kỹ thuật như mạng lưới điện, hệ thống giao thông vận tải, các trung tâm khoa học công nghệ… đến hạ tầng xã hội. Có thể nói dưới chế độ XHCN, Liên Xô đã trở thành một nền văn hóa mới, hiện đại. Cho đến nay những công trình văn hóa, khoa học dưới thời Xô Viết vẫn được nhân loại tôn trọng. Đặc biệt Nhà nước Xô Viết đã thực hiện chính sách xã hội tiên tiến sớm hơn tất cả các nước tư bản phát triển, đó là thực hiện giáo dục, chữa bệnh không phải trả tiền, người già cô đơn được chăm sóc, nuôi dưỡng.

Không có thắng lợi của Cách mạng tháng Mười và thắng lợi của lực lượng Đồng minh, trong đó Liên Xô giữ vai trò trụ cột, thì không thể có được thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam, Trung Quốc, Cuba…

Đối với Việt Nam, Chủ nghĩa Mác Lê-Nin cùng với Cách mạng Tháng Mười Nga là cơ sở tư tưởng, lý luận hình thành Tư tưởng Hồ Chí Minh, và đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười, Đảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, ngay từ khi ra đời, đã giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, lãnh đạo nhân dân làm cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đánh thắng chiến tranh xâm lược của hai cường quốc đế quốc là Pháp và Mỹ, thống nhất đất nước, làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả, đặc biệt là đã cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng, tiến hành công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Sau sự sụp đổ của Liên Xô, Đông Âu, chủ nghĩa đế quốc và bọn tay sai của chúng đã hoan hỷ tuyên bố: “Cách mạng Tháng Mười chỉ là một cuộc phiêu lưu” chính trị, Chủ nghĩa xã hội là “một sự đẻ non”, là sự “lầm lạc của lịch sử”. Cải tổ ở Liên Xô, Đông Âu là “sự cáo chung của Chủ nghĩa cộng sản”, rằng chủ nghĩa tư bản là “Sự tận cùng của lịch sử”…

Những sự kiện “Chiếm phố Uôn” năm ngoái và khủng hoảng nợ công châu Âu hiện nay cho thấy, chủ nghĩa tư bản không phải là giải pháp hữu hiệu để giải quyết những vấn đề kinh tế xã hội đầy bất công ở các nước TBCN. Bởi vậy xã hội đó sẽ phải được thay thế bằng một xã hội khác. Chủ nghĩa tư bản do đó không thể là chế độ xã hội cuối cùng của nhân loại. Đối với chúng ta thì chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản sẽ là tương lai của nhân loại. Tất nhiên, để đến xã hội đó các dân tộc còn phải vượt qua nhiều chặng đường với nhiều khó khăn, thách thức. Con đường đó không đơn giản chỉ là việc loại bỏ “tầng lớp đặc quyền đặc lợi” (Theo chuyên khảo “những nguyên nhân sụp đổ của đảng Cộng sản Liên Xô”. Nhân dân điện tử – Thời nay 16/8/2010) hình thành trong đảng Cộng sản và xã hội Liên Xô, cũng như sự tồn tại của “nhóm lợi ích” mà đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói nhiều lần trong quá trình triển khai Nghị quyết TW4 vừa qua. Thiết nghĩ những vấn đề cần phải giải quyết còn lớn hơn, cơ bản hơn rất nhiều. Đó là xây dựng và hoàn thiện thể chế chính trị, kinh tế xã hội sao cho xã hội XHCN có khả năng ngăn ngừa sự trì trệ, sự suy thoái của chế độ chính trị và của Nhà nước.

Ai đó đã nói rất hay rằng: chính những bài học rút ra từ sự thất bại lại có giá trị hơn những bài học thành công. Sự sụp đổ của Liên Xô, Đông Âu, cũng như cuộc khủng hoảng của Trung Quốc (vụ bạo loạn Bắc Kinh, mùa xuân năm 1989) và cuộc khủng hoảng kinh tế của nước ta cuối thập kỷ 80, đầu 90 thế kỷ XX cho thấy: Mô hình xã hội XHCN cũ mà đặc trưng là sự tập trung quan liêu bao cấp về kinh tế, trong đó, nổi bật là “Mô hình kinh tế thời chiến” – xóa bỏ kinh tế hàng hóa, cơ chế thị trường. Trên lĩnh vực chính trị, đó là xây dựng “nhà nước chuyên chính vô sản” – thiếu dân chủ, bình đẳng…là những ví dụ cụ thể của mô hình CNXH hiện thực đã qua. Sai lầm đó cho thấy cho dù với những mong muốn tốt đẹp và trong điều kiện bị chủ nghĩa đế quốc bao vây, cấm vận những chính sách đó là cần thiết, hơn nữa là vấn đề sống còn của cách mạng, nhưng khi những chủ trương, chính sách đó bị kéo dài quá mức cần thiết, cùng với tư duy giáo điều về lý luận tất yếu sẽ dẫn đến trì trệ và nảy sinh những những mặt tiêu cực của xã hội, như cảnh báo của các nhà khoa học rằng mọi nhà nước, không phân biệt chế độ chính trị đều có khuynh hướng quan liêu hóa.

Đại hội VI, năm 1986 đã phát hiện những sai lầm về đường lối, chính sách do sự lạc hậu về tư duy lý luận. Tại đại hội này, Đảng ta đã quyết định chuyển sang xây dựng xã hội XHCN theo mô hình mới-mô hình mới được hoàn thiện từng bước từ Đại hội VII đến nay. Những thành tố của mô hình đó là: Về chính trị, đó là xã hội do nhân dân làm chủ với nhà nước pháp quyền do Đảng ta lãnh đạo; về kinh tế, đó là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; về xã hội, đó là xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Trong 25 năm đổi mới, mô hình đó đã đem lại những thành tựu to lớn không ai có thể phủ nhận được. Tuy nhiên đã xuất hiện nhiều vấn đề xã hội bức xúc. Trong đó có sự phân hóa giàu – nghèo và sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên.

Phân tích nguyên nhân dẫn đến những hiện tượng nói trên, trong bài phát biểu tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (28/2/2012) (khóa XI), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: “Trong điều kiện Đảng cầm quyền, nhiều đảng viên có chức, có quyền, có điều kiện nắm giữ tài sản, tiền bạc, cán bộ… đất nước lại phát triển kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập, nhiều người lo lắng về Đảng, về bản chất Đảng, lo lắng mặt trái của cơ chế thị trường, của hội nhập quốc tế tác động vào Đảng. Bây giờ trong Đảng cũng có sự phân hóa giàu – nghèo, có những người giàu lên rất nhanh, cuộc sống cách xa người lao động; liệu rồi người giàu có nghĩ giống người nghèo không?”.

Trên lĩnh vực lý luận, công cuộc xây dựng xã hội XHCN không đơn giản chỉ là cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, mà còn là một vấn đề thuộc về thể chế của xã hội, về sự cân bằng và giám sát các nhánh quyền lực… mà chúng ta không được thừa hưởng từ di sản của Chủ nghĩa Mác bao nhiêu. Đây chính là một công việc khó khăn, phức tạp mà thế hệ những người mácxít-lêninnít ngày nay phải tự mình giải quyết.

Lênin đã nói: “cách tốt nhất để kỷ niệm cuộc cách mạng vĩ đại là tập trung sự chú ý vào những nhiệm vụ chưa hoàn thành của cuộc cách mạng đó” (SĐD, Tr 759).

Kỷ niệm cuộc Cách mạng Tháng Mười năm nay, chúng ta một lần nữa ôn lại sự kiện lịch sử lớn nhất thế kỷ XX; một lần nữa khẳng định những lý tưởng cao cả của cuộc cách mạng đó. Đó là giải phóng xã hội, giải phóng con người, đặc biệt là nhân dân lao động; xây dựng một xã hội tốt đẹp, trong đó mọi người đều có cơ hội được hưởng tự do hạnh phúc; các dân tộc được sống trong hòa bình và hữu nghị. Và để thiết thực kỷ niệm cuộc cách mạng vĩ đại này chúng ta đẩy mạnh hơn nữa công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tiến đến xây dựng một xã hội” Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

Phương Nhi
cand.com.vn

Sự đánh lận xuyên tạc sự thật

Bất cứ nhà nước nào cũng phải dựa vào luật pháp để bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự xã hội. Mỹ và các nước châu Âu, các nước tư bản cũng ban hành luật pháp quản lý xã hội theo nguyên tắc đó và thực tế là nhiều trường hợp, cơ quan bảo vệ pháp luật ở Mỹ đã bắt giữ và xét xử đối tượng lợi dụng internet, tự do dân chủ để chống chính quyền…

Ngày 25/9, sau khi TAND TP Hồ Chí Minh mở phiên tòa sơ thẩm xét xử 3 bị cáo phạm tội “Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”, theo Điều 88, Bộ luật Hình sự (gồm bị cáo Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải), trên một số trang mạng gia tăng các bài viết xuyên tạc sự thật, vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, tự do ngôn luận.

Một số tổ chức viện dẫn Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, cũng như các điều khoản của Tuyên ngôn Nhân quyền toàn cầu liên quan đến tự do ngôn luận, từ đó suy diễn vấn đề nhân quyền và tự do ngôn luận trong vụ việc này…

Thực tế, việc một số tổ chức và cá nhân vin cớ khi cơ quan bảo vệ pháp luật khởi tố, truy tố, xét xử các đối tượng có hành vi chống chính quyền nhân dân để vu cáo cái gọi là dân chủ, nhân quyền, tự do báo chí, tự do ngôn luận đã là chiêu thức quá cũ. Trong vụ tòa án xét xử 3 bị cáo nói trên, một số tổ chức, cá nhân tiếp tục trích dẫn Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền để biện hộ cho lý lẽ “tự do ngôn luận”.

Tuy nhiên, đây là sự áp đặt gượng gạo và bản thân các đối tượng do nhận thức yếu kém không hiểu hoặc cố tình không hiểu những quy định của Liên hợp quốc trong bản Tuyên ngôn nói trên. Điều 19 của Tuyên ngôn quy định “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm”. Vấn đề này được làm rõ ở Điều 29 của Tuyên ngôn: “Mọi người đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng là nơi duy nhất người đó có thể phát triển nhân cách của mình một cách tự do và đầy đủ. Khi thực hiện các quyền và tự do của mình, mọi người chỉ chịu những hạn chế do luật định, nhằm mục đích duy nhất là đảm bảo sự công nhận và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và tự do của người khác cũng như đáp ứng những yêu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự xã hội và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.

Rõ ràng, Tuyên ngôn quy định rất rõ quyền tự do ngôn luận của mọi người, được tự do bày tỏ quan điểm, nhưng khi thực hiện quyền tự do của mình phải “chịu những hạn chế do luật định” và “đáp ứng những yêu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự xã hội và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”. Không có bất kỳ điều khoản nào của Tuyên ngôn nói rằng, tự do ngôn luận là mặc sức phá hoại cộng đồng, chà đạp đạo đức, luật pháp, gây rối loạn trật tự xã hội như hành vi của các bị can, bị cáo đã làm. Hành vi của các đối tượng rõ ràng còn xuyên tạc cả Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền.

Thực tế, những nội dung trên của Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền cũng được cụ thể hóa tại Hiến pháp và pháp luật nước ta. Điều 69, Hiến pháp 1992 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”.

Trong khi đó, hành vi của các đối tượng là phạm một tội được quy định trong Bộ luật Hình sự. Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, có tính liên tục, kéo dài, bộc lộ rõ ràng và đã tác động xấu đến an ninh quốc gia cũng như hình ảnh của nước Việt Nam trong cộng đồng quốc tế. Hoạt động phạm tội của các bị cáo có tổ chức chặt chẽ, có sự phân công cụ thể, có sự móc nối, câu kết với các tổ chức phản động người Việt Nam lưu vong và các thế lực thù địch. Các bị cáo đã lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do dân chủ, sử dụng internet tạo dựng ra blog “Câu lạc bộ nhà báo tự do” để liên lạc, trao đổi, viết, phát tán và tàng trữ các tài liệu, xuyên tạc sự thật, nói xấu Đảng, Nhà nước; hòng gây nghi ngờ, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với chế độ; tranh thủ lôi kéo, cổ vũ cho những phần tử có tư tưởng chống đối nhằm gây dựng và chuẩn bị lực lượng, khi có thời cơ sẽ lật đổ chính quyền…

Bất cứ nhà nước nào cũng phải dựa vào luật pháp để bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự xã hội. Mỹ và các nước châu Âu, các nước tư bản cũng ban hành luật pháp quản lý xã hội theo nguyên tắc đó và thực tế là nhiều trường hợp, cơ quan bảo vệ pháp luật ở Mỹ đã bắt giữ và xét xử đối tượng lợi dụng internet, tự do dân chủ để chống chính quyền Mỹ (chẳng hạn, hồi tháng 2/2012, các cơ quan bảo vệ pháp luật ở Mỹ đã bắt giữ 7 thành viên của nhóm Hutaree (tên thổ ngữ mà những người trong nhóm tự đặt ra) vì có hành vi chống lại chính quyền Mỹ, trong đó trên trang website tổ chức này có nhiều bài viết chống lại các chính sách của chính quyền Mỹ)

Trường Đăng
cand.com.vn

Mẹ Anh hùng, con bất tử

QĐND – Sau chiến tranh, Tổ quốc và nền báo chí cách mạng tôn vinh, ghi công 260 nhà báo liệt sĩ Thông tấn xã Việt Nam, trong đó riêng Thông tấn xã giải phóng Khu 8 có tới 21 nhà báo liệt sĩ. Ở Mỹ Tho, có bà má kiên gan cầm súng đánh Pháp, đuổi Mỹ, lặng thầm dìu dắt con trở thành nhà báo từ những năm 1960. Rồi cũng chính người má ấy thắt ruột, thắt gan lần lượt chứng kiến, chôn cất hai con khi họ ngã xuống giữa chiến trường khốc liệt.

Người má ấy là cô Tám Nghiệp (Đoàn Thị Nghiệp), Tỉnh ủy viên, Tỉnh đội phó tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang). Ngày 6-11-1978, má Đoàn Thị Nghiệp được Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và năm 1995 được truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Anh hùng LLVT nhân dân Đoàn Thị Nghiệp.

Dìu dắt hai con làm báo

Má Tám Nghiệp sinh ra, lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo ở làng Hội Cự, huyện Cái Bè giàu truyền thống yêu nước. Ông nội là nghĩa quân của thủ lĩnh Đoàn Trưng nổi dậy chống Tự Đức xây “Vạn niên thành”. Cuộc binh biến “Chày vôi” tại kinh đô Huế bị tàn sát đẫm máu, người ông mang dòng máu họ Đoàn phải chạy loạn, vào ẩn cư tận Đồng Tháp Mười. Người cha của má Tám Nghiệp cũng không cam chịu nô lệ đã theo Nguyễn Trung Trực, Trương Công Định, Thủ Khoa Huân mài gươm chống Pháp. Ngày 23-9-1945, Nam Bộ kháng chiến, thừa hưởng khí tiết bất khuất của ông, cha, ngoài 20 tuổi, má Tám Nghiệp theo hai người anh Đoàn Văn Lệ, Đoàn Hữu Huynh đứng vào đội quân “Nóp với giáo, tầm vông vạt nhọn” đánh giặc. Ngày 18-12-1945, binh đoàn thuộc địa Lê Dương số 3 đánh chiếm huyện Cái Bè, má Tám Nghiệp lúc này làm Bí thư xã đoàn được phân công phối hợp với Chi đội 17 Mỹ Tho cản địch trên Quốc lộ 4. Trong trận chống càn ấy, má Tám Nghiệp được anh vệ quốc đoàn Bùi Văn Thô hướng dẫn gài mìn, ném lựu đạn và sử dụng khẩu súng “Mút-cơ-tông” dài ngoẵng. Má Tám Nghiệp đâu có ngờ về sau nên duyên vợ chồng với người lính quê ở miệt vườn Bình Phú, Cai Lậy. Cưới nhau “năm toàn quốc kháng chiến”, cuối năm 1947, vợ chồng má Tám Nghiệp có Bùi Văn Thưởng và năm 1950, Bùi Văn Tấn chào đời trong căn cứ Mỹ Phước, nơi đặt cơ quan của xứ ủy Nam Bộ, Ủy ban kháng chiến Nam Bộ, rồi Bộ tư lệnh khu 8 sau này.

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ (năm 1954), tiễn chồng đi tập kết với niềm tin chỉ hai năm là gia đình sum họp, má Tám Nghiệp dắt díu hai con về Đồng Tháp Mười. Sắm cái bàn may kiếm sống, má nuôi hai con ăn học và hoạt động công khai, đấu tranh đòi chính quyền Sài Gòn chấp hành Hiệp nghị, tổng tuyển cử, thống nhất nước nhà. Thế nhưng, bè lũ Ngô Đình Diệm được Mỹ hậu thuẫn đã xé bỏ Hiệp nghị, điên cuồng đánh phá thành quả cách mạng, tàn sát, bỏ tù những người kháng chiến cũ, thiết lập bộ máy ngụy quyền, ráo riết bắt lính xây dựng ngụy quân.

Hai anh em nhà báo, liệt sĩ Bùi Văn Thưởng (bên trái), Bùi Văn Tấn. Ảnh tư liệu

Bị vây ráp, kìm kẹp, tổn thất trong chiến dịch “Tố cộng”, “Diệt cộng”, “Ly khai cách mạng”, Tỉnh ủy Mỹ Tho chỉ đạo cơ sở rút vào hoạt động bí mật, xây dựng căn cứ, kháng chiến lâu dài trong bưng biền Đồng Tháp Mười. Vừa len lỏi vượt ấp chiến lược, khâu nối, xây dựng cơ sở cách mạng, má Tám Nghiệp vừa tìm cách lo cho hai con ăn học ở Trường Nguyễn Đình Chiểu. Nhiều tháng, má phải ăn củ chụp, củ bình báng, dành suất gạo ít ỏi cho hai con đang tuổi ăn, tuổi lớn. Đồng Khởi ở Bến Tre được ít lâu, ngày 20-12-1960, Thông tấn xã Giải phóng ra đời. Tỉnh ủy Mỹ Tho cử Tám Thạnh (Hồ Văn Thạnh) phụ trách tiểu ban báo chí tuyên truyền. Mặt trận dân tộc giải phóng Mỹ Tho có tờ báo “Tranh đấu” xuất bản năm 1960, đến tháng 12-1961 thì đổi thành “Giải phóng”. Sau chiến thắng Ấp Bắc, đánh bại chiến thuật “Thiết xa vận”, “Trực thăng vận” của Mỹ, ngụy, để cổ vũ phong trào thi đua với Ấp Bắc giết giặc lập công, tờ “Giải phóng” được mang tên “Ấp Bắc”.

Từng đọc, tuyên truyền cho báo “Liên Việt”, cơ quan của Mặt trận Việt Minh Mỹ Tho-Gò Công từ năm 1951, má Tám Nghiệp mong muốn Bùi Văn Thưởng đánh giặc, giải phóng quê hương bằng cây bút, trang giấy. Năm 1960, Bùi Văn Thưởng vừa học xong chương trình Đệ tứ (tương đương lớp 9 phổ thông ngày nay), má Tám Nghiệp đã xin ông Tám Thạnh cho con mình vào cơ quan Thông tấn xã Mỹ Tho. Thế là ở tuổi 13, cậu bé Bùi Văn Thưởng háo hức làm “chú nhà báo Giải phóng” chuyên quay máy Ra-gô-nô, phát điện truyền tin tức, bài vở về Tổng xã Giải phóng Miền. Cậu còn có nhiệm vụ chép tin đọc chậm từ Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Tiếng nói Giải phóng chuyển cho lãnh đạo và các cơ quan Tỉnh ủy, Mặt trận dân tộc Giải phóng Mỹ Tho. Bùi Văn Thưởng còn học nghề ở các chú, các anh nhà báo cấp miền, cấp khu rồi viết tin, bài cho báo “Tranh đấu”, “Tin tức Mỹ Tho”, “Giải phóng”, “Ấp Bắc”. Thế rồi 3 năm sau, 1963, theo lời khuyên của má Tám Nghiệp, chú em Bùi Văn Tấn cũng vào công tác ở Phân xã Mỹ Tho. Và có một điều trùng lặp đến lạ lùng là Bùi Văn Tấn bước vào nghề báo cũng vừa lúc 13 tuổi và cũng vừa học xong chương trình Đệ tứ.

Tên tuổi hóa thân vào châu thổ Cửu Long

Địa bàn hoạt động của Phân xã Mỹ Tho chỉ cách cơ quan đầu não chính quyền Sài Gòn 70km.

Thời Mỹ, ngụy, Sài Gòn, Mỹ Tho gần như nằm kẹp giữa căn cứ quân sự Vùng 3 và Vùng 4 chiến thuật, trực tiếp đối đầu với những trận càn quét liên miên của các sắc lính: Sư đoàn 1 Thủy quân lục chiến Mỹ, Sư đoàn bộ binh số 9 và số 7 ngụy, chưa kể bọn giang thuyền hải quân, cảnh sát dã chiến, dân vệ…

Ông Tám Thạnh chỉ đạo Phân xã phải “ém quân” an toàn, cơ động “nhảy cóc” linh hoạt để phát tin trong mọi tình huống bị vây ráp. Bùi Văn Thưởng nhỏ con mà gan lì số một. Quanh thắt lưng lúc nào cũng lèn chặt lựu đạn, đụng địch là chủ động đánh mở đường cho phân xã rút an toàn. Túi mìn Cờ-lây-mo của Thưởng bao giờ cũng có tấm vải nhựa. Gặp trận càn đột ngột, Thưởng dùng tấm vải nhựa bọc kín máy phát sóng, máy Ra-gô-nô giấu dưới nước. Phân xã thiếu thiết bị, phụ kiện thay thế phương tiện phát điện, phát sóng, Thưởng nài nỉ chú Tám Thạnh cho theo các đơn vị Giải phóng tập kích căn cứ Mỹ quanh lộ 4, vừa lượm được nhiều tin chiến thắng vừa thu lắm “chiến lợi phẩm ngon”. Có trận, Thưởng mang về máy phát tin 15W, bình ắc quy điện, rồi nào máy ảnh, phim chụp ảnh của Mỹ. Trong trận chống càn tại Ấp Bắc (xã Tân Phú Trung, Cai Lậy, Mỹ Tho) ngày 2-1-1963, Bùi Văn Thưởng bám theo ông Hai Hoàng (Nguyền Văn Điều), Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 261. Ông Hai Hoàng được Bộ tư lệnh khu 8 giao chỉ huy Tiểu đoàn 261, Tiểu đoàn 515, bộ đội địa phương Châu Thành, Cai Lậy, du kích xã Tân Phú Trung đánh phủ đầu chiến thuật “Trực thăng vận” và “Thiết xa vận” của Mỹ, ngụy. Bùi Văn Thưởng có bài tường thuật nóng hổi: “Ấp Bắc, trận đầu đánh thắng chiến thuật Trực thăng vận, thiết xa vận”. Bài báo được phân xã Mỹ Tho phát nhanh sau trận thắng càn. Các Báo Nhân dân, Quân đội nhân dân, Cứu quốc, Thống nhất, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Phát thanh Giải phóng miền Nam đăng và phát vào ngày 3-1-1963 làm nức lòng quân, dân cả nước. Không bao lâu Bộ tư lệnh quân Giải phóng miền, Trung ương cục phát động phong trào “Thi đua Ấp Bắc giết giặc lập công”. Hậu phương miền Bắc xây nhiều công trình, tăng sản phẩm, cánh đồng 5 tấn, xưởng máy năng suất cao, đoàn xe, đoàn tàu an toàn mang tên “Ấp Bắc”.

Để anh trai rảnh rang chân tay làm phóng viên chiến trường, năm 1963, Bùi Văn Tấn thay thế vị trí báo vụ đài CFM truyền tin tức từ Phân xã Mỹ Tho về Tổng xã Giải phóng Miền. Chú bé lấy tin tức toàn miền qua chiếc thu thanh bán dẫn hằng ngày, chép tin đọc chậm Đài Tiếng nói Việt Nam cung cấp tình hình chiến sự cho Tỉnh ủy.

Ngoài phiên trực báo vụ phát tin, Bùi Văn Tấn vui vẻ làm cả phần việc công vụ cho cơ quan Tuyên huấn Mỹ Tho. Chú như con sóc mang tài liệu, công văn băng qua vành đai pháo chụp, pháo bầy, trực thăng quần thảo đến cơ quan Tỉnh đội của má Tám Nghiệp, Tỉnh hội phụ nữ, ban Binh vận, nhiều đợt chèo ghe vượt kênh Cái Xáng vào căn cứ Khu ủy Khu 8.

Tháng 3-1967 trên đường công tác về Tân Phú, Cai Lậy, gặp trực thăng vây bắt, Bùi Văn Tấn tách đoàn công tác, phóng mình ra giữa trảng cát kéo tụi giặc bám theo. Cả đoàn cán bộ an toàn nhưng Bùi Văn Tấn bị trọng thương. Bởi thiếu thuốc, phương tiện cứu chữa, mất máu nhiều quá nên Tấn trút hơi thở cuối cùng ở trạm xá Hưng Thạnh (nay là huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang). Hai năm sau, tháng 6-1969, người anh Bùi Văn Thưởng cũng hy sinh khi anh mở đường máu cứu đồng đội trong trận càn ở Mỹ Đức Tây, Cái Bè của địch.

Ngày 6-4-1972, trong trận phá vây tại kênh Bùi Tường, Phú Nhuận, Cai Lậy, má Tám Nghiệp cùng đội công tác Tỉnh đội Mỹ Tho chiến đấu với một trung đoàn thuộc Sư đoàn 7 ngụy. Má Tám Nghiệp cùng đồng đội đánh trả quyết liệt, bắn tới viên đạn cuối cùng trước khi hy sinh.

Miền Nam giải phóng, đất nước liền một dải. Trong căn nhà của Trung tá Bùi Văn Thô, Chủ tịch Hội cựu chiến binh Cai Lậy, mỗi khi có khách tới thăm, người cha hai nhà báo liệt sĩ, người chồng nữ liệt sĩ Anh hùng Đoàn Thị Nghiệp lại bùi ngùi lật giở tờ báo “Ấp Bắc” đăng bài Bùi Văn Thưởng và cuốn sổ phóng viên đã ngả màu. Kỷ vật của ba người thân yêu chỉ có vậy. Ông day dứt bởi đánh giặc miết không có mấy thời gian gần gũi vợ con, chở che cho cái tổ ấm của mình. Rồi ông chậm rãi nói như với riêng mình: Má mày cùng hai con chắc giờ đã hóa đất đai châu thổ Cửu Long rồi.

Văn Hiền
qdnd.vn

Lời nói cuối và tượng đài bất tử

Uống nước nhớ nguồn

QĐND– Giữa đại ngàn Chiến khu Đ có một nghĩa trang nhỏ, chừng ba chục ngôi mộ liệt sĩ, một đền thờ, linh thiêng và đặc biệt, nổi bật và trang trọng nhất là tượng đài liệt sĩ bằng đá vừa được xây dựng hơn một năm nay. Tượng đài khắc họa người chiến sĩ hy sinh, nụ cười thể hiện niềm tin chiến thắng vẫn nở trên môi, ngã xuống trong vòng tay đồng đội. Nguyên mẫu của nhân vật trong tượng đài là liệt sĩ Phạm Văn Xem. Câu chuyện về người chiến sĩ ấy đẹp giản dị, thiêng liêng và cảm động như một bài thơ về lý tưởng sống và tình yêu Tổ quốc.

“Đóng giùm tôi đảng phí tháng ba”…

Đó là lời nhắn gửi đồng đội, lời trăng trối cuối cùng của chiến sĩ 23 tuổi Phạm Văn Xem, quê ở Tân Uyên, Bình Dương, là chiến sĩ thông tin thuộc căn cứ thông tin 505 trước khi anh ra đi vĩnh viễn vào ngày 16-3-1966. Vào thời điểm này, tình hình chiến sự ở Miền Đông Nam Bộ bước vào giai đoạn căng thẳng, quyết liệt. Quân đội Sài Gòn được sự chi viện và yểm trợ của Mỹ mở cuộc hành quân mang tên “Thành phố Bạc” (SilverCity) đánh mạnh vào Chiến khu Đ. Nắm được ý đồ của địch, ta bố trí lực lượng tập kích nhằm kìm hãm, đẩy lùi, phá tan chiến dịch hành quân của chúng. Một trong những trận tập kích tiêu biểu diễn ra tại khu Bàu Sắn rạng sáng ngày 16-3. Bị đánh tơi tả, địch kêu gọi chi viện. Vài giờ sau đó, địch điều động máy bay B52 đến rải thảm ở Chiến khu Đ. Đơn vị bị tổn thất nặng nề nhất là căn cứ thông tin 505 (Ban thông tin liên lạc Miền Đông). Chiến sĩ Phạm Văn Xem vừa được đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Anh đã chiến đấu anh dũng và bị thương rất nặng. Khi các y tá đến cứu chữa, băng bó vết thương cho anh thì anh xua tay, nói yếu ớt: “Các đồng chí hãy dùng những thứ này để cứu mạng sống cho các chiến sĩ bị thương nhẹ hơn tôi. Tôi biết, mình không qua khỏi được. Nhờ các đồng chí nhắn giùm anh em trong tiểu đội của tôi, lấy tiền sinh hoạt phí tháng ba đóng giùm tôi đảng phí tháng ba”. Nói xong, Phạm Văn Xem ngất lịm vì máu ra quá nhiều. Anh được đồng đội của mình cáng đến dân y viện gần đó. Trên đường đi, Phạm Văn Xem tỉnh lại, kêu khát nước. Hai đồng chí cáng thương, bên lưng vẫn đeo bình tông nước nhưng trả lời trong nước mắt rằng, nước đã hết, bởi các anh biết nếu cho Xem uống nước, cái chết sẽ đến với anh nhanh hơn vì máu càng ra nhiều, không cầm được. Anh Xem nhìn đồng đội mỉm cười với ánh mắt thông cảm và lặp lại: “Các đồng chí nhớ nhắn với tiểu đội lấy tiền sinh hoạt phí đóng giùm tôi đảng phí tháng ba…”. Anh ra đi mãi mãi khi nụ cười chưa kịp tắt trên môi. Thi hài của anh được đồng đội an táng gần vị trí dựng tượng đài hiện nay.

Tượng đài bất tử

Tượng đài ở Chiến khu Đ được xây dựng từ nguyên mẫu liệt sĩ Phạm Văn Xem.

Người có công đầu trong việc xây dựng tượng đài này là đồng chí Bùi Đình Thành, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Đồng Nai. Cảm phục tinh thần, lý tưởng sống và chiến đấu của chiến sĩ Phạm Văn Xem qua lời kể của nhiều đồng đội ngày ấy, đồng chí Bùi Đình Thành đã chỉ đạo ngành văn hóa tỉnh, thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác bảo tồn, phát triển di tích lịch sử, vận động xây dựng công trình mang ý nghĩa tâm linh cao đẹp này. Cái chết của người chiến sĩ đã trở thành bất tử. Tượng đài liệt sĩ là biểu tượng của tình đồng chí, đồng đội, thể hiện lý tưởng sống cao đẹp của một thế hệ thanh niên Việt Nam. Dù đã nằm xuống nhưng súng vẫn chắc trong tay, miệng vẫn cười, lạc quan niềm tin chiến thắng.

Trong khi viết bài này, chúng tôi tình cờ đọc được thông tin trên một tờ báo, Ban thi đua truyền thống – Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam đăng thông báo tìm mộ liệt sĩ Phạm Văn Xem. Các thông tin về liệt sĩ trong bản tin trùng khớp với thông tin về liệt sĩ Phạm Văn Xem chúng tôi nêu trong bài viết này. Vậy, xin kính báo và mời đại diện Ban thi đua truyền thống – Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam liên hệ với Ban quản lý Di tích lịch sử – văn hóa Chiến khu Đ tỉnh Đồng Nai để thực hiện các phần việc uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa với hương hồn liệt sĩ và thân nhân, gia đình liệt sĩ Phạm Văn Xem theo tâm nguyện mà quý cơ quan đã bày tỏ.

Bài và ảnh: Thanh Kim Tùng
qdnd.vn

Thu tin “Ấp chiến lược” từ mật vụ địch

QĐNDLTS: Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng số 220 (tháng 4-2012) đã ghi lại lời kể của Thiếu tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn (bí danh Hai Trung) trong thời gian ông hoạt động dưới vỏ bọc là Phóng viên Tạp chí Time của Mỹ. Kỳ này, chúng tôi tiếp tục giới thiệu với bạn đọc câu chuyện Phạm Xuân Ẩn đã tìm cách tiếp cận được tài liệu nguyên bản về “Kế hoạch ấp chiến lược” của chính quyền Ngô Đình Diệm khi ông đang là phóng viên thường trú của hãng Roi-tơ (Reuters) tại Sài Gòn…

Sau cuộc đảo chính bất thành ngày 11-11-1960 của nhóm Nguyễn Chánh Thi – Vương Văn Đông, Hai Trung nắm được thông tin Mỹ quyết định gây sức ép nhằm buộc Diệm sửa đổi cơ cấu chính quyền, tăng cường củng cố, huấn luyện quân đội, đẩy mạnh hoạt động kiểm soát vùng nông thôn và tổ chức lại guồng máy hành chính tại đây, từng bước “dân chủ hóa” miền Nam Việt Nam theo kiểu Mỹ, trên cơ sở đó quy tụ lực lượng, gia tăng khả năng chống cộng sản. Những diễn biến tiếp theo cho thấy thông tin trên là hoàn toàn chính xác. Tháng 4-1961, ngay sau khi tái đắc cử Tổng thống, Diệm đã thành lập thêm Bộ Xây dựng nông thôn và Bộ Công dân vụ, đồng thời tiến hành một số cải cách về hành chính, khiến Mỹ khá hài lòng. Giữa tháng 5-1961, Mỹ cử Phó tổng thống Giôn-xơn (Johnson) sang thăm Sài Gòn, bày tỏ sự ủng hộ đối với Diệm và thể hiện quyết tâm giữ vững miền Nam Việt Nam nằm trong vòng ảnh hưởng của Mỹ.

Rõ ràng Mỹ – Diệm đang có sự thay đổi lớn về chiến lược. Trong lĩnh vực quân sự, Hai Trung đã thu được nguyên bản tài liệu “Tactics and Technics of Counter Insurgency” (Các chiến thuật và kỹ thuật chống nổi loạn) do Trung tướng L.C Mắc Ga-rơ (Lionel Charles Mc Garr), chỉ huy trưởng Phái bộ cố vấn quân sự Mỹ (Military Assistance Advisory Group – MAAG) tại Sài Gòn soạn thảo, nhưng trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội… thì anh vẫn chưa hiểu rõ ý đồ, kế hoạch của địch ra sao. Đây cũng là yêu cầu điều tra chủ yếu mà Trung tâm đặt ra đối với anh.

Để triển khai tìm hiểu, Hai Trung tới gặp Trần Kim Tuyến (Giám đốc Sở nghiên cứu chính trị – xã hội trực thuộc Phủ tổng thống, trùm mật vụ của chế độ Diệm), Lê Văn Thái (tức Thái trắng, phụ tá của Trần Kim Tuyến). Hai Trung nói với họ rằng sau khi đi tham quan khu trù mật Vị Thanh, khu trù mật Ba Thê và một số khu trù mật khác, ở đâu cũng thấy cả dân chúng lẫn quan chức chính quyền kêu ca, oán thán. Tuyến bèn tiết lộ Diệm sắp ra lệnh ngừng thực hiện kế hoạch khu trù mật. Được đà, Hai Trung hỏi luôn kế hoạch đó sẽ được thay thế bằng kế hoạch nào, bởi chính tướng Mắc Ga-rơ đã xác định nếu không bình định được nông thôn thì không thể chống lại chiến tranh du kích. Tuyến, Thái còn cho biết, Phủ tổng thống chưa có kế hoạch mới nào, song Diệm đã giao cho hai bộ mới thành lập cùng lo việc đó. Mấy hôm sau, nhằm tạo dư luận thuận lợi để tiến hành công việc, Hai Trung đề nghị sếp của mình là Pi-tơ Xmác (Peter Smark – người Ô-xtrây-li-a, Trưởng phân xã Roi-tơ ở Sài Gòn) cho ra một loạt bài viết về sự thất bại của kế hoạch khu trù mật và loan tin chính quyền Sài Gòn đang nghiên cứu xây dựng một kế hoạch mới để thay thế. Pi-tơ Xmác đồng ý ngay vì thấy đề nghị này hết sức hợp lý.

Phạm Xuân Ẩn (ngoài cùng, bên trái) thời kỳ làm cho Tạp chí Time của Mỹ .Ảnh tư liệu.

Cuối tháng 5-1961, Hai Trung tình cờ gặp lại R. Phi-líp (R.Phillips) – người quen cũ từ ngày Hai Trung còn làm ở Bộ tổng tham mưu Quân đội Sài Gòn khi Phi-líp là phụ tá cho Đại tá tình báo Ét-uốt Lên-xđên (Edward Lansdale) – và nghe Phi-líp nói rằng, mới quay trở lại Việt Nam làm việc tại Bộ Công dân vụ, là cố vấn cho Kiều Công Cung (vốn phụ trách Đặc ủy Công dân vụ – cơ quan tiền thân của Bộ Công dân vụ), Hai Trung đoán ra ngay Mỹ – Diệm đang chủ trương tăng cường mạng lưới tình báo ở nông thôn, nhất là các vùng được phía ta bàn giao theo quy định của Hiệp định Giơ-ne-vơ.

Vào một ngày giữa tháng 6-1961, khi tới dự buổi họp báo định kỳ do Bộ Thông tin của chính quyền Sài Gòn tổ chức, Hai Trung rất mừng vì được nghe Sta-lây (Eugene Staley) (Giáo sư kinh tế của Viện nghiên cứu Standford thuộc Trường ĐH Stanford – bang California – Mỹ) giới thiệu khái quát về một bản phúc trình nhằm nâng cao đời sống ở nông thôn mà Sta-lây cho rằng, chắc chắn hữu hiệu hơn kế hoạch khu trù mật. Kết thúc buổi họp báo, Hai Trung lập tức tới gặp Sta-lây. Sau khi trình bày với Sta-lây về sự thất bại của kế hoạch khu trù mật và tán dương bản phúc trình Sta-lây mới đưa ra, Hai Trung khéo léo cài thêm: “Tôi vẫn băn khoăn là liệu chính quyền Sài Gòn có đánh giá đúng mức và thực hiện đầy đủ bản phúc trình tuyệt vời của giáo sư hay không? Giáo sư có thể cho tôi biết rõ hơn một chút về bản phúc trình này và có thể cung cấp một ít tài liệu để tôi viết một bài dài về nó cho Hãng thông tấn Roi-tơ không?”. Sta-lây vui vẻ trình bày thêm một số chi tiết rồi bảo: “Tài liệu nguyên bản thuộc diện tuyệt mật, tôi không thể cung cấp cho anh được. Tuy nhiên, nếu muốn biết rõ hơn, anh có thể tới gặp Giáo sư Vũ Quốc Thúc (Khoa trưởng của Luật khoa ĐH đường, tức giám đốc Trường ĐH Luật Sài Gòn), người cùng tôi chủ trì việc soạn thảo bản phúc trình này”.

Nghe vậy, Hai Trung mừng hơn bắt được vàng. Những tin tức, tài liệu mấy tháng qua anh ra sức tận dụng các mối quan hệ để thu thập mà vẫn chưa có kết quả gì đáng kể, giờ đã xuất hiện manh mối rõ ràng. Về tới nhà, Hai Trung gọi điện báo ngay với Trần Kim Tuyến và Lê Văn Thái rằng Mỹ vừa xây dựng một kế hoạch mới về bình định nông thôn, gợi ý họ nên lấy danh nghĩa Sở nghiên cứu chính trị – xã hội, yêu cầu Vũ Quốc Thúc cung cấp một bản để báo cáo với Ngô Đình Nhu (em ruột, cố vấn chính trị của Diệm). Hai ngày sau, Thái gọi Hai Trung tới rồi cho anh mượn nguyên bản tài liệu trên, đồng thời đề nghị Hai Trung nghiên cứu, tham khảo, góp ý kiến để giúp Tuyến, Thái “ghi điểm” với Ngô Đình Nhu. Hai Trung phấn khởi đem tập tài liệu về đọc và dĩ nhiên là trước khi đem trả đã chụp lại toàn bộ, gửi về Trung tâm. Hai Trung được Trung tâm biểu dương và chỉ thị tập trung theo dõi sát những diễn biến của địch xung quanh việc hoàn chỉnh, phê duyệt, triển khai kế hoạch này.

Được khoảng dăm hôm, Trần Kim Tuyến cùng phụ tá của ông ta lại mời Hai Trung tới gặp và tiết lộ Ngô Đình Nhu đã sơ bộ chấp nhận kế hoạch mới của Mỹ và giao cho Nguyễn Văn Khoa (bạn thân của Nhu) cùng Sở nghiên cứu chính trị – xã hội căn cứ kế hoạch này và tham khảo kế hoạch xây dựng làng chiến đấu (kibbutz) của I-xra-en, kế hoạch bình định Mã Lai Á (Malaysia) của Anh mà soạn thảo một kế hoạch thật sự mang tầm chiến lược. Tuyến, Thái cung cấp cho Hai Trung một số tài liệu, đề nghị Hai Trung đem về đọc rồi cho ý kiến.

Tối hôm ấy, khi tới một sàn nhảy, nơi các công chức cao cấp và sĩ quan ở Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn thường tụ tập, thấy Đặng Đức Khôi ngồi một mình để chờ cô vũ nữ mà hắn mê tít, Hai Trung bèn tới bắt chuyện vì biết Khôi rất thân với Vũ Quốc Thúc và trước khi chuyển sang Bộ Ngoại giao, Khôi từng làm việc cho Trường Đại học Michigan State. Do đã quen biết Khôi nên sau vài câu tán gẫu, anh vào chủ đề chính luôn: “Cậu làm ngoại giao, đi nhiều, vậy có để ý tới kế hoạch xây dựng làng chiến đấu của I-xra-en và kế hoạch bình định Mã Lai Á của Anh không? Tớ không hiểu sao chúng được rất nhiều người khen ngợi trong khi kế hoạch khu trù mật ở Việt Nam lại phá sản. Tớ còn nghe nói Mỹ mới đưa ra bản phúc trình Sta-lây – Vũ Quốc Thúc có nội dung rất hấp dẫn. Cậu đã nghiên cứu nó chưa?”. Khôi cười, đáp: “Bản phúc trình ấy, tớ đọc rồi. Tớ còn đọc cả cuốn “Modern Warfare: A French View of Counterinsurgency” (Chiến tranh hiện đại: Một cách nhìn của Pháp về chống nổi dậy) vừa mới được xuất bản của cựu Đại tá Pháp Roger Trinquier nữa cơ. Đọc xong, tớ có nảy ra mấy ý tưởng mới mẻ về việc bình định vùng nông thôn Việt Nam. Tớ mới thảo luận chúng với tướng Chác-lít Tim-mít (Charles J. Timmes) ở MAAG để thu thập thêm ý kiến bổ sung của giới quân sự Mỹ. Cha đó rất đồng quan điểm với tớ. Kế hoạch xây dựng làng chiến đấu của I-xra-en và kế hoạch bình định Mã Lai Á của Anh thì tớ thấy khó mà áp dụng ở Việt Nam”.

Hai Trung cẩn thận tổng hợp ý kiến của mình và các ý kiến thu thập được, viết thành một văn bản khá rành mạch rồi đưa cho Thái để Thái đem trình bày trong các buổi làm việc với Tuyến và Nhu. Ít bữa sau, Thái gọi điện mời anh tới ngay, nói là có việc gấp. Anh vừa bước vào cửa văn phòng của Thái thì Thái đã chìa ra một tập tài liệu dày viết bằng tiếng Việt có tiêu đề “Kế hoạch ấp chiến lược” và khoe rằng Nhu đã thông qua. Thái nhờ anh khẩn trương dịch tập tài liệu này ra tiếng Anh để Nhu đưa cho các cố vấn Mỹ và Anh đọc.

Vậy là một kế hoạch chiến lược tuyệt mật của đối phương đã được Hai Trung chuyển về Trung tâm tình báo của ta. Ngoài tập tài liệu trên, cuối năm 1962, Hai Trung còn thu thập nguyên bản tài liệu “Kế hoạch chiêu hồi” do Bộ Công dân vụ soạn thảo để bổ trợ, tăng cường cho “Kế hoạch ấp chiến lược” của chính quyền Sài Gòn.

Vũ Sáng
qdnd.vn