Thư viện

Ngày 14-6: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Bác Hồ thăm HTX Hùng Sơn, H. Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên năm 1954. Ảnh: T.L

Ngày 14-6-1911, Nguyễn Tất Thành tiếp tục hải trình đầu tiên trên con tàu “Đô đốc La Touche Tréville” sang Pháp, ghé qua cảng Colombo của Sri Lanka.

Ngày 14-6-1922, Nguyễn Ái Quốc được chấp nhận vào Hội Tam Điểm (Franc-Maconnerie), một tổ chức có tư tưởng chống quân chủ, ra đời tại Pháp từ thời kỳ cách mạng tư sản. Lễ chấp nhận được tổ chức tại Trụ sở Liên hội Quốc tế ở Paris. Tuy nhiên đến tháng 12 năm đó, Nguyễn Ái Quốc rút khỏi tổ chức này vì nó không phù hợp với lý tưởng đang theo đuổi.

Ngày 14-6-1946, tại thành phố Biarritz, trong khi chờ đợi Chính phủ Pháp thành lập, Bác tiếp đại diện nhiều đoàn thể của Pháp, trong đó có Hội Pháp-Việt Hữu nghị, mới được thành lập với sự tham gia của nhiều nhân vật nổi tiếng như ông Justin Godart, bà Marie Curie, nữ nhà báo André Viollis, bà Braun – Phó Chủ tịch Quốc hội Pháp…Cùng ngày, Bác từ chối trả lời chính thức phỏng vấn của Hãng Thông tấn Pháp AFP vì lý do Chính phủ Pháp chưa thành lập, nhưng đưa ra quan điểm: “Dùng văn minh chinh phục người ta thì bền vững hơn dùng súng đại bác”.

Ngày 14-6-1946, ở trong nước, Báo Cứu Quốc đăng bài “Noi gương anh em Tự vệ chiến đấu thành Hoàng Diệu” của Bác (ký bút danh Q.T), biểu dương những đóng góp to lớn của lực lượng tự vệ thủ đô xứng đáng với lời khen ngợi: “Anh em Tự vệ chiến đấu thành Hoàng Diệu thật đáng làm khuôn mẫu cho tất cả anh em tự vệ các nơi về mọi phương diện”.

Tiếp tục loạt bài giới thiệu “Binh pháp Tôn Tử”, Báo Cứu Quốc cùng ngày còn đăng bài “Phương pháp tác chiến”, trong đó Bác đưa ra nhận định: “Cho nên người làm tướng có mưu trí bao giờ cũng lo lắng đến lợi, đến hại. Lo đến lợi mới có đủ tin tưởng làm trọn được nhiệm vụ. Lo đến hại mới tìm mưu kế để giải trừ được gian nguy”.

Ngày 14-6-1958, với bài viết “Những người Mỹ biết điều”, Bác (ký tên T.L.) trích dẫn ý kiến của Thượng nghị sĩ Mỹ Menxphin phát biểu tại Thượng nghị viện và đánh giá rằng: “Thế là những chính khách biết điều cũng tán thành chủ trương đúng đắn của Chính phủ ta. Nếu Ngô Đình Diệm còn có lương tâm, không muốn mang tiếng xấu muôn đời là kẻ phản nhân dân, phản Tổ quốc thì phải làm theo mong muốn thiết tha của đồng bào và thực hiện những điều Chính phủ ta đã đề nghị”.

Ngày 14-6-1961, Bác đi thăm một hợp tác xã ở ngoại thành Hà Nội. Hòa cùng bà con trên đồng ruộng, Bác căn dặn: “Muốn phát triển sản xuất tốt, trước hết xã viên phải đoàn kết như anh em một nhà. Đoàn kết là sức mạnh. Đoàn kết thì khó khăn mấy cũng làm được, cũng vượt qua được. Cán bộ phải chí công vô tư, sổ sách tài chính phải minh bạch…”.

Ngày 14-6-1966, Bác gửi thư khen quân dân tỉnh Quảng Bình với lời biểu dương: “Trước đây Quảng Bình là tỉnh đầu tiên bắn rơi 100 máy bay Mỹ. Nay Quảng Bình lại là tỉnh đầu tiên bắn rơi 200 máy bay Mỹ”.

Ngày 14-6-1969, tại Hội trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh tham gia Đoàn Chủ tịch cuộc mít tinh chào mừng sự ra đời của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Đây cũng là lần cuối cùng Bác xuất hiện trong một cuộc mít tinh tại Hội trường Ba Đình lịch sử./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 15-6: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 15-6-1924, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội IV của Quốc tế Cộng sản Thanh niên tại Mát-xcơ-va. Cùng ngày, nhà cách mạng Việt Nam cũng tham dự cuộc gặp mặt giữa nhân dân thủ đô của Liên bang Xô Viết với các đại biểu dự Đại hội Quốc tế Cộng sản diễn ra trên Đồi Lê-nin.

Ngày 15-6-1950, Báo Sự Thật đăng bức thư “Gửi đồng báo các tỉnh có đê”, trong đó Bác nhấn mạnh: “Mấy năm nay, ta đã thắng luôn giặc lụt. Năm nay, ta cũng phải thắng, vì toàn thể đồng bào, từ các cụ phụ lão cho đến các cháu nhi đồng đều kiên quyết chống giặc lụt cũng như kiên quyết chống giặc ngoại xâm. Đồng bào hãy cố gắng lên!”.

Cũng vào thời gian này, Bác còn viết thư “Gửi đồng bào Thanh Hóa”, biểu dương việc các tầng lớp nhân dân trong tỉnh đã quyên góp được 84 triệu đồng cùng nhiều trâu bò, ruộng đất ủng hộ kháng chiến và động viên rằng Thanh Hóa “sẽ cố gắng tranh cho được địa vị vẻ vang là tỉnh kiểu mẫu…”. Nhưng Bác cũng nhắc nhở phải “quản lý hẳn hoi những tiền và của đồng bào đã ủng hộ. Tài chính phải hoàn toàn công khai, hết sức tiết kiệm. Cần phải dùng số tiền và của ấy làm vốn mà tăng gia sản xuất để cấp dưỡng bộ đội địa phương, sổ sách phải rất cẩn thận và minh bạch…”.

Giữa tháng 6-1950, Bác viết thư “Gửi đồng bào Liên khu IV” nhân nảy sinh một số hiện tượng “cán bộ làm sai chỉ thị của Chính phủ và đường lối của đoàn thể. Họ xa rời nhân dân, không hiểu biết nhân dân. Làm việc thì dùng mệnh lệnh, chứ không biết tuyên truyền cổ động…thậm chí họ dùng những cách ép uổng, cưỡng bức, bắt bớ dân. Nghe các ông thanh tra báo cáo lại những việc đó, tôi rất đau lòng. Dù Chính phủ đã ra lệnh trừng trị những cán bộ đó, tôi phải thật thà xin lỗi những đồng bào vì những cán bộ sai lầm mà bị oan ức. Tôi thật thà tự phê bình khuyết điểm của tôi – là giáo dục và lựa chọn cán bộ chưa được chu đáo vì thiếu sót sự kiểm tra chặt chẽ các cán bộ cấp dưới…Tôi lại xin nói với đồng bào: Nước ta là một nước dân chủ. Mọi công việc đều vì lợi ích của dân mà làm…Khi ai đó có điều oan ức thì có thể nhờ các đoàn thể tố cáo lên cấp trên. Đó là tất cả quyền dân chủ của tất cả các công dân Việt Nam. Đồng bào cần hiểu rõ và khéo dùng cái quyền ấy…Cán bộ cấp trên phải luôn luôn đôn đốc và kiểm tra cấp dưới. Nhân dân thì giúp Chính phủ và đoàn thể kiểm tra công việc và hành vi của các cán bộ…”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 20-6: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Bác Hồ nói chuyện với cán bộ và sinh viên Bách khoa

Ngày 20-6-1939, với bí danh là Hồ Quang, Nguyễn Ái Quốc đang có mặt tại Trung Quốc, tham gia khóa 2 lớp huấn luyện cán bộ du kích ở Nam Nhạc, từ đây có thể liên hệ với Văn phòng Bát Lộ Quân đóng ở Quế Lâm và theo dõi thời cuộc qua các phương tiện điện đài được trang bị.

Ngày 20-6-1946, trong thời gian phải lưu lại thành phố Biarritz chờ Chính phủ Pháp tổ chức đón tiếp, Bác đã đi thăm làng chài và ra biển câu cá với dân địa phương. Tối hôm đó, Bác tiếp Bộ trưởng Bộ Quân vụ và 3 nghị sĩ Pháp đến chào để bày tỏ sự thân thiện.

Ngày 20-6-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi gửi nhân dân thế giới”, nhân dịp nửa năm kháng chiến, nhằm tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế. Với nhân dân Pháp, thư viết: “Nhân dân Việt Nam và nhân dân Pháp đều chung một lý tưởng: Tự do, bình đẳng, bác ái…, có một mục đích chung: Cộng tác thân thiện và bình đẳng giữa hai dân tộc. Vận mệnh của nhân dân Việt Nam và vận mệnh của nhân dân Pháp rất quan hệ với nhau… Chúng tôi rất mong các bạn cùng chúng tôi hành động để ngăn trở bọn thực dân phản động phá hoại cái lý tưởng chung, lợi ích chung và tình nghĩa giữa hai dân tộc chúng ta…”. Với nhân dân châu Á, thư viết: “Việt Nam là một bộ phận trong đại gia đình châu Á. Tranh đấu cho tự do độc lập của Việt Nam tức là tranh đấu cho tự do, độc lập của đại gia đình châu Á”. Còn với “các nhân sĩ dân chủ trên thế giới”, thư kêu gọi: “Mong các bạn lên tiếng ủng hộ hòa bình, ủng hộ chính nghĩa, ủng hộ dân chủ, ủng hộ Việt Nam!”.

Ngày 20-6-1949, với bút danh Lê Quyết Thắng, Bác tập hợp những bài viết đăng trên Báo Cứu Quốc thành một cuốn sách mang tên là “Cần kiệm liêm chính”. Cuối sách, Bác viết: “Ai chẳng muốn cho tự mình thành một người tốt, con cháu mình sung sướng, gia đình mình ấm no, làng xóm mình thịnh vượng, nòi giống mình vẻ vang, nước nhà mình mạnh giàu. Mục đích ấy tuy to lớn nhưng rất thiết thực. Thiết thực vì chúng ta nhất định đạt được. Chúng ta nhất định đạt được, vì mỗi người và tất cả dân ta đều thi đua: Cần, Kiệm, Liêm, Chính”.

Ngày 20-6-1954,nghe tin phu nhân của bác sĩ Đặng Văn Ngữ, một trí thức Việt kiều ở Nhật về nước phục vụ kháng chiến từ trần, Bác viết thư chia buồn: “…Nhưng sinh tử là lẽ thường của tạo hóa. Bác khuyên chú chớ quá buồn rầu, lấy công tác mà khuây khỏa…”.

Ngày 20-6-1960, Bác đến dự và nói chuyện với Đại hội Đảng bộ Hà Nội, vạch rõ: “Phải đánh bạt những tư tưởng công thần, địa vị, danh lợi của chủ nghĩa cá nhân, làm cho chủ nghĩa tập thể thắng lợi, tức là phát huy tinh thần cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ của công, chống tham ô, lãng phí… Muốn uống nước thì phải đào giếng, đào giếng thì phải đổ mồ hôi, nhưng càng khó nhọc vất vả thì giếng càng sâu, càng nhiều nước”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 22-6: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 22-6-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm chính thức nước Cộng hòa Pháp. Từ Biarritz, máy bay hạ cánh xuống sân bay Le Bourget của Thủ đô Paris – nơi diễn ra lễ đón tiếp trọng thể với những nghi thức quốc gia. Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại cùng nhiều thành viên trong Chính phủ, đông đảo nhân dân Pháp và bà con Việt kiều đã nghênh tiếp. Đoàn lưu lại tại Khách sạn Royal Monceau.

Ngay tại sân bay, Bác đã tuyên bố: “Tôi rất lấy làm bằng lòng được đặt chân lên đất của một nước đã chịu đau khổ nhiều vì lý tưởng và tự do. Cảm ơn Chính phủ và dân chúng Pháp tiếp đãi tôi một cách long trọng. Mong sau này hai dân tộc Pháp và Việt Nam cộng tác một cách bình đẳng, thật thà và thân thiện”.

Ngày 22-6-1947, trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài, Bác khẳng định: “Một là Chính phủ Việt Nam gồm rất nhiều đảng phái, hai là chính sách Việt Nam rất rõ rệt: Cốt làm cho nước Việt Nam thống nhất và độc lập, làm cho dân được tự do và khỏi khổ, khỏi dốt. Bao giờ nước Việt Nam được thật thà thống nhất và độc lập thì chiến tranh sẽ kết liễu” và “rất hoan nghênh tư bản Pháp và tư bản các nước cộng tác thật thà với chúng tôi”. Về vai trò của trí thức, Bác khẳng định: “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc. Ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế… Địa vị những người trí thức ái quốc Việt Nam là cùng với toàn thể đồng bào, kiến thiết nước Việt Nam mới, một nước Việt Nam thống nhất, độc lập, dân chủ, tự do, hạnh phúc”.

Ngày 22-6-1948, Báo Cứu Quốc đăng thư của Bác gửi các khu thông báo: “Ngày 23-9-1945, đồng bào toàn quốc đã đứng dậy thành một khối sau lưng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để chống lại bọn thực dân Pháp xâm lăng vào bờ cõi miền Nam đất nước ta. Để tưởng nhớ đến bao nhiêu chiến sĩ và đồng bào Nam bộ và miền Nam Trung bộ đã bỏ mình vì nước trên bãi chiến trường hoặc dưới sự tàn sát của quân giặc; để ghi công chiến sĩ đã tiên phong giữ vững nền độc lập và thống nhất của nước nhà, toàn quốc sẽ long trọng kỷ niệm 1.000 ngày chiến đấu của đồng bào miền Nam”.

Ngày 22-6-1955, rời Hà Nội đi thăm chính thức Liên Xô và Trung Quốc, Bác tuyên bố: “Tin chắc rằng cuộc đi thăm này sẽ thắt chặt thêm tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với nhân dân và chính phủ hai nước bạn”.

Báo Nhân Dân ra ngày 22-6-1954 đăng bài “Cần phải xem báo Đảng”, trong đó Bác nhắc nhở: “Đảng ta mạnh vì Đảng ta tư tưởng nhất trí, hành động nhất trí suốt từ trên xuống dưới. Tờ báo của Đảng có nhiệm vụ làm cho tư tưởng và hành động thông suốt và thống nhất…Tờ báo Đảng như những lớp huấn luyện giản đơn, thiết thực và rộng khắp. Nó dạy bảo chúng ta những điều cần biết làm về tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo và công tác. Hằng ngày nó giúp nâng cao trình độ chính trị và nâng cao năng suất công tác của chúng ta. Nếu cứ cắm đầu làm việc mà không xem, không nghiên cứu báo Đảng, vấp váp, hỏng việc thì khác nào nhắm mắt đi đêm; nhất định sẽ lúng túng”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 23-6: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 23-6-1924, đại biểu Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại diễn đàn của phiên họp thứ 8 của Đại hội V Quốc tế Cộng sản: “Tôi đến đây để không ngừng lưu ý Quốc tế Cộng sản đến một sự thật là: Thuộc địa vẫn đang tồn tại và vạch ra để Quốc tế Cộng sản thấy rằng: Cách mạng, ngoài vấn đề tương lai của các thuộc địa còn có cả nguy cơ của các thuộc địa. Song tôi thấy rằng hình như các đồng chí hoàn toàn thấm nhuần tư tưởng rằng vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp áp bức ở các thuộc địa. Vì vậy, tôi sẽ tận dụng mọi cơ hội có được, gợi ra những vấn đề và nếu cần tôi sẽ thức tỉnh các đồng chí về vấn đề thuộc địa”.

Với một tinh thần thẳng thắn, Nguyễn Ái Quốc đã vạch rõ sai lầm là: “Muốn đánh chết rắn đằng đuôi. Tất cả các đồng chí đều biết rằng, hiện nay nọc độc và sức sống của con rắn độc chủ nghĩa tư bản đang tập trung ở thuộc địa hơn là chính quốc… Thế mà các đồng chí khi nói về cách mạng, các đồng chí lại khinh thường thuộc địa?… Chính vì thế, tôi hết sức kêu gọi các đồng chí: Hãy chú ý!”. Tại diễn đàn Đại hội, nhiều lần Nguyễn Ái Quốc kiên trì đề cập tới vấn đề này.

Ngày 23-6-1939, dưới bút danh P.C Lin, Nguyễn Ái Quốc viết bài “Về chủ nghĩa Tơrôtxki” trong loạt bài “Thư từ Trung Quốc”, gửi về nước đăng trên tờ “Notre Voix”, cơ quan hoạt động công khai của Đảng tại Hà Nội nhằm phân tích một khuynh hướng chính trị “không chỉ là kẻ thù của chủ nghĩa cộng sản, mà còn là kẻ thù của dân chủ và tiến bộ”.

Ngày 23-6-1946, tiếp tục cuộc thăm nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Tổng tham mưu trưởng Quân đội Pháp, tiếp bà con Việt kiều, trong đó có nhiều nhi đồng.

Ngày 23-6-1953, thăm Trường Chính trị trung cấp Quân đội tại Việt Bắc, Bác căn dặn: “Dù có bao nhiêu khí giới tinh xảo mà con người không có lập trường vững, quan điểm đúng, thiếu tinh thần trong sạch, một lòng một dạ phục vụ nhân dân thì súng đó cũng bỏ đi…”.

Ngày 23-6-1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện mừng tới Quốc trưởng Cam-pu-chia Norodom Sihanouk, nhân dịp nước ta và Vương quốc Cam-pu-chia chính thức lập quan hệ ngoại giao. Bác đánh giá: “Đó là một sự kiện lịch sử trong quan hệ giữa Việt Nam và Cam-pu-chia, một nhân tố tích cực trong việc giữ gìn hòa bình ở Đông Dương và Đông Nam Á”.

Ngày 23-6-1969, Bác gửi thư tới Đại sứ quán Liên Xô nhờ chuyển lời cảm ơn tới nữ Anh hùng Liên Xô Irina Levtchenko đã tặng sách và qua Tổng Lãnh sự Ấn độ cảm ơn Bà Indira Gandhi đã gửi biếu Bác một quả xoài Ấn Độ. Buổi chiều ngày hôm đó, mặc dù sức khỏe đã yếu, Bác đến thăm tận nơi ở của Phái đoàn Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình miền Nam Việt Nam ra thăm miền Bắc. Trong câu chuyện thân tình với Hòa thượng Thích Đôn Hậu, Bác cho biết: “Tôi đã bỏ thuốc lá rồi, cụ ạ… Tôi cũng phải đấu tranh với bản thân ghê gớm lắm mới bỏ được, thưa cụ”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 24-6: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 24-6-1922, tờ “L’ Humanité” (Nhân đạo) đăng bài “Lời than vãn của Bà Trưng Trắc” của Nguyễn Ái Quốc. Đây là một truyện ngắn hư cấu giấc mơ của Vua Khải Định (lúc này đang “xa giá” đến Pháp) và mượn lời của vị nữ anh hùng dân tộc chống ngoại xâm, tác giả lên án nặng nề chế độ phong kiến Nam triều và chính vua Khải Định đã để mất nước, ươn hèn cam tâm làm tay sai cho ngoại bang.

Ngày 24-6-1931, Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh Pháp trong thư gửi Bộ trưởng Bộ Ngoại giao có viết: “Thực ra từ hơn 10 năm nay, Nguyễn Ái Quốc là một chiến sĩ vô địch vì sự nghiệp độc lập của Đông Dương. Lúc đầu là một người dân tộc chủ nghĩa, ông ta sớm đi theo chủ nghĩa cộng sản và từ nhiều năm nay những người cách mạng bản xứ xem ông ta như một Lê-nin của Đông Dương…”.

Ngày 24-6-1942, leo lên vùng núi Lũng Dẻ thuộc khu núi đá Lam Sơn (Cao Bằng), Bác tức cảnh làm bài thơ “Thướng sơn” (Leo núi):

“Lục nguyệt nhị thập tứ
Thướng đáo thử sơn lai
Cử đầu hồng nhật cận
Đối ngạn nhất chi mai”
(Tố Hữu dịch: “Hai mươi tư tháng Sáu
Lên ngọn núi này chơi
Ngẩng đầu mặt trời đỏ
Bên suối một nhành mai”).

Ngày 24-6-1946, tại Paris, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp hơn 100 anh em đại biểu Nam bộ đến chào và bày tỏ tinh thần thống nhất quốc gia. Cùng ngày, Bác tiếp Bộ trưởng Hải ngoại M.Moutet và Đô đốc D’ Argenlieu cùng Ban Trị sự Hội Pháp – Việt hữu nghị mới thành lập…Trong số những Việt kiều đến chào Bác có triết gia Trần Đức Thảo.

Ngày 24-6-1959, Bác đón tiếp Tổng thống In-đô-nê-si-a sang thăm Việt Nam. Trong diễn văn chào đón tại sân bay Gia Lâm (Hà Nội), Bác chân tình nói: “Được đón tiếp Tổng thống Sukarno, nhân dân Việt Nam có cảm tưởng vui sướng như được ôm ấp vào lòng mình 88 triệu anh em In-đô-nê-si-a anh dũng. Có mối tình thương yêu ấy, vì hai dân tộc ta cùng có một hoàn cảnh giống nhau, cùng có một lịch sử vẻ vang kháng chiến oanh liệt chống bọn thực dân cướp nước, giành độc lập tự do. Hai dân tộc chúng ta đều phải tiếp tục đấu tranh để giải phóng hoàn toàn đất nước và trong cuộc đấu tranh đó, hai dân tộc ta thông cảm lẫn nhau, ủng hộ lẫn nhau”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

K9 – KHU DI TÍCH LỊCH SỬ VỀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài của Đảng và nhân dân ta, Người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất. Chủ tịch Hồ Chí Minh tượng trưng cho tinh hoa của dân tộc Việt Nam, là tấm gương sáng ngời về phẩm chất đạo đức của người chiến sỹ cộng sản yêu nước. Cuộc đời và sự nghiệp của Người gắn liền với những sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc ta trong thế kỷ XX. Những miền quê đất nước Người đã từng sống và làm việc đã trở thành địa danh lịch sử, văn hoá Việt Nam. Khu Di tích K9 nằm bên bờ sông Đà, thuộc Đá Chông, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội là một trong những địa danh lịch sử, văn hoá đó. Đây là di tích đặc biệt gắn liền với Chủ tịch Hồ Chí Minh kể từ khi Người còn sống đến khi Người đã qua đời.

Khu Di tích K9 (Khu Di tích Đá Chông, trước đây gọi là K84) nằm trong hệ thống đồi gò có diện tích 234 ha, giáp địa giới hành chính với ba xã Minh Quang, Ba Trại, Thuần Mỹ thuộc huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội và xã Đồng Luận, huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ. Xưa kia, đây là khu đồi thông yên tĩnh, xen kẽ với các loài cây gỗ lớn, tán lá rộng tạo thành khu rừng nguyên sinh đầy sức quyến rũ. Trên đồi có những tảng đá to đứng lô nhô, sắc nhọn như những mũi chông, ngọn mác nên gọi là Đá Chông. Truyền thuyết kể lại rằng đây là bãi chông chà, dấu tích của những trận chiến dữ dội giữa Sơn Tinh và Thuỷ Tinh thời tiền sử. Theo trí tưởng tượng dân gian, khu vực này mang dáng dấp một con rồng, đầu đang cúi xuống uống nước sông Đà, U Rồng là đỉnh cao nhất của khu đồi. Địa danh này có đặc điểm rất kỳ lạ là sông Đà chảy qua Lai Châu về Hoà Bình, chảy xuôi qua đằng Khê Thượng, đến đây đột ngột chuyển dòng ngược về hướng Bắc, tạo thành một khúc gầy, đến ngã ba Bạch Hạc (Việt Trì) gặp sông Hồng, sông Thao để rồi cùng chầu về Đền Hùng, đất Tổ.

Trong “Diễn ca Thánh Tản Viên – Sơn Tinh” có đoạn viết:

Chúng thủy giai Đông tẩu
Đà giang độc Bắc lưu

Dịch là:

Các sông đều chảy về Đông
Sông Đà riêng một, ngược dòng Bắc lưu.

Vùng đất này đã có một sự kiện đặc biệt để rồi sau này trở thành một địa danh lịch sử. Đó là vào một ngày của tháng 5 năm 1957, Bác đến thăm Trung đoàn 36 – Sư đoàn 308 diễn tập bên sông Đà. Bác đã dừng chân nghỉ, ăn cơm trưa trên đồi, nơi có 3 mỏm đá nhọn như hình mũi chông, ngọn mác xếp liền kề nhau. Bác đứng ở vị trí Đá Chông, nhìn ra sông Đà trước mặt thấy đây là nơi sơn thuỷ hữu tình, dòng sông uốn khúc, cảnh vật tươi đẹp, gần dân mà xa đường quốc lộ. Với tầm nhìn của nhà chiến lược thiên tài, Người đã ngỏ ý với các đồng chí cùng đi xây dựng ở đây một nhà làm việc của Bác và Trung ương, đề phòng đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc.

Sáng ngày 23 tháng 2 năm 1958, Bác Hồ lên thăm và xem xét lại địa bàn khu vực Đá Chông. Cùng đi với Bác có đồng chí Nguyễn Lương Bằng – Uỷ viên Trung ương Đảng và một số đồng chí khác của Phủ Chủ tịch và lãnh đạo tỉnh Sơn Tây. Sau chuyến đi của Bác, Tổng cục Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam được giao nhiệm vụ xây dựng một số ngôi nhà cấp bốn trong khu vực Đá Chông.

Bước sang năm 1959, trước nguy cơ của một cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc của đế quốc Mỹ đã rõ ràng. Cục Doanh trại, Tổng cục Hậu cần được lệnh tiếp tục lên xây dựng khu căn cứ của Trung ương. Đồng chí Hoàng Linh, Cục trưởng Cục Doanh trại phụ trách được giao vẽ thiết kế ngôi nhà 2 tầng, phỏng theo kiểu nhà sàn. Đặc biệt, Bác đã trực tiếp duyệt thiết kế, cắm cọc, nhắm hướng cho ngôi nhà chính làm nơi hội họp, nghỉ ngơi của Bác và Trung ương. Công trình được chuẩn bị từ tháng 6 và đến tháng 9 năm 1959 bắt đầu khởi công xây dựng. Bộ đội Công binh xây dựng một hệ thống công sự kiên cố. Quá trình xây dựng, khu vực này mang mật danh “Công trường 5”, (gọi tắt là KV). Theo gợi ý của Bác, khu căn cứ của Trung ương chia làm 3 khu vực. Khu A dành cho Bộ Chính trị họp và tiếp khách; khu B dành cho các đồng chí lãnh đạo nghỉ; khu C dành cho các đồng chí bảo vệ và phục vụ. Quá trình thi công, Bác Hồ đã lên thăm và trực tiếp kiểm tra nhiều lần. Ngày 15 tháng 3 năm 1960 ngôi nhà 2 tầng được hoàn thành, Bác đã đi máy bay trực thăng lên dự buổi khánh thành. Từ lúc này nơi đây được đổi tên thành “Khu căn cứ K9” (gọi tắt là K9).

Trong 9 năm (từ 1960 – 1969) Bác Hồ và một số đồng chí trong Bộ Chính trị, chỉ huy Quân đội đã nhiều lần đến làm việc tại đây. Đặc biệt, ngày 20 tháng 9 năm 1964, Bác Hồ cùng đồng chí Phạm Văn Đồng và một số đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị đã lên họp tại K9. Bác và các đồng chí cùng đi đã trao đổi về tình hình quốc tế và trong nước từ sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ (ngày 5 tháng 8 năm 1964) và một số vấn đề về công tác phòng không nhân dân. Cũng tại nơi này, Bác đã từng tiếp đón bà Đặng Dĩnh Siêu- phu nhân Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai, ông Hà Vĩ – Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam và Đoàn cán bộ Quân đội Liên Xô do Anh hùng phi công vũ trụ G.M Ti-tốp dẫn đầu.

9 giờ 47 phút ngày 2 tháng 9 năm 1969, Hồ Chủ tịch qua đời. Thể theo nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã quyết định giữ gìn lâu dài thi hài Bác. Từ cuối năm 1969, cuộc kháng chiến của nhân dân ta bước vào giai đoạn quyết định. Đề phòng chiến tranh có thể xảy ra trên phạm vi cả nước, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương quyết định tìm một vị trí thật yên tĩnh, bí mật, xa Hà Nội, thuận tiện cho di chuyển thi hài Bác khi chiến tranh lan rộng. K9 đã được quyết định chọn là nơi giữ gìn thi hài Bác. Lúc này K9 được mang mật danh “Khu căn cứ K84”.

Trong 6 năm chiến tranh chống Mỹ cứu nước (1969 – 1975), thi hài Bác được giữ gìn bảo quản tại K9 ba lần với tổng thời gian là 4 năm 4 tháng 19 ngày. Đó là các thời gian sau:

– Đợt 1: Từ ngày 23 tháng 12 năm 1969 tới ngày 03 tháng 12 năm 1970, vì lúc đó cả nước có chiến tranh nên lưu giữ Bác ở căn cứ K84 an toàn hơn ở Hà Nội. Cuối năm 1970 do Mỹ – Nguỵ tập kích bằng máy bay trực thăng xuống một vị trí ở gần thị xã Sơn Tây, cho nên thi hài Bác lại được chuyển về Viện Quân y 108.

– Đợt 2: Từ ngày 19 tháng 8 năm 1971 tới ngày 11 tháng 7 năm 1972, khi đó ở miền Bắc mưa to liên tiếp 10 ngày, nước sông Hồng dâng cao 12m80, có nguy cơ vỡ đê nên thi hài Bác lại được đưa trở về bảo quản tại khu căn cứ K84. Cuối năm 1972 ta nhận định có nguy cơ Mỹ dùng máy bay B52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng, mà K84 nằm trên đường bay của địch từ Thái Lan sang, cho nên thi hài Bác lại được chuyển sang bảo quản tại H21.

– Đợt 3: từ ngày 08 tháng 02 năm 1973 tới ngày 17 tháng 7 năm 1975, sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, thi hài Bác lại được đưa trở lại K84 để bảo quản, vì nơi đây có điều kiện kỹ thuật tốt hơn ở H21.

Tại K84 không chỉ là nơi giữ gìn bảo quản thi hài Bác một cách đơn thuần, mà còn diễn ra nhiều sự kiện chuyên môn rất quan trọng như tiến hành chỉnh hình thi hài Bác. Hội đồng khoa học liên quốc gia Liên Xô – Việt Nam đánh giá trạng thái thi hài Bác. Cũng tại nơi đây chúng ta không chỉ giữ gìn an toàn thi hài Bác mà còn tổ chức nhiều buổi viếng Bác rất trọng thể cho nhiều đoàn đại biểu khác nhau. Tiêu biểu nhất là đoàn Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương do đồng chí Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng dẫn đầu viếng Bác vào ngày 23 tháng 8 năm 1970; đoàn cán bộ Trung ương Cục miền Nam do đồng chí Nguyễn Văn Linh dẫn đầu viếng Bác (tháng 2 năm 1974). Cũng tại nơi đây chúng ta cùng với các chuyên gia Liên Xô đã nghiên cứu một số vấn đề để chuẩn bị cho việc phục vụ lễ viếng thường xuyên sau này tại Lăng Bác ở Quảng trường Ba Đình lịch sử. Ngoài ra còn nhiều cuộc trao đổi kinh nghiệm giữa các chuyên gia Bạn và cán bộ y tế của ta để học tập kinh nghiệm của Bạn, cũng là nơi để thử thách rèn luyện cả về ý chí lý tưởng cách mạng cho tất cả các lớp cán bộ, cũng là nơi tích luỹ kinh nghiệm thực tiễn trong chuyên môn nghiệp vụ về y tế, kỹ thuật, phương án bảo vệ an ninh trong điều kiện đất nước có chiến tranh.

Sau chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (ngày 30 tháng 4 năm 1975), miền Nam hoàn toàn được giải phóng, Tổ quốc thống nhất, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta mong đợi được đón Bác về Lăng. Đúng 16 giờ ngày 18 tháng 7 năm 1975, đoàn xe đặc biệt chở thi hài Bác được lệnh xuất phát rời K84 về Lăng của Người tại Ba Đình lịch sử. Lúc này Khu căn cứ K84 trở thành căn cứ dự phòng cho Lăng Bác.

Cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã in dấu khắp năm châu bốn biển, ở đâu Người cũng hiện thân của sự hoà đồng giữa con người với thiên nhiên. Bác ở Khu căn cứ K9 cũng vậy, ngay khi xây dựng ngôi nhà, làm đường sá, Người đã yêu cầu giữ lại tất cả các cây trồng lấy gỗ. Các ngôi nhà, đường sá đều được làm trên những khoảng đất trống không có cây trồng. Bác còn tạo những mảnh vườn nhỏ để trồng các loại cây nhãn, quế, vải, bưởi, trồng rau xanh và trồng hoa. Hai loại cây được trồng ở những nơi thường xuyên Người có thể nhìn thấy được đó là cây vú sữa của miền Nam thân yêu và cây hoa râm bụt của quê hương. Cây vú sữa được trồng ngay trước cửa sổ bàn làm việc; cây hoa dâm bụt trồng ở con đường bậc thang ngày ngày Bác vẫn đi dạo rèn luyện sức khoẻ.

Có thể nói, với tư cách là chủ thể, Bác đã không chỉ giữ gìn vẻ đẹp tự nhiên nguyên sơ mà còn cải tạo, điểm tô cho thiên nhiên trở lại phục vụ con người, biến thiên nhiên trở thành đối tượng của cái đẹp dành cho con người thưởng thức, hưởng thụ. Bởi thế cho đến hôm nay các công trình đều được ẩn mình trong một không gian xanh của những tán rừng nguyên sinh. Tất cả những gì của thiên nhiên vẫn còn nguyên vẹn. Những con đường sỏi, những bậc đá trên đường dẫn xuống sông, hòn non bộ vẫn được lưu giữ như thuở nào. Bởi lẽ, bảo tồn nguyên vẹn di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại K9 chính là bảo tồn một không gian thiêng liêng, một không gian thể hiện tư tưởng, đạo đức tác phong của Người. Đã qua một thời gian dài trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt nhưng tất cả cảnh quan, kiến trúc, các di vật liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh ở đây vẫn được giữ gìn nguyên vẹn. Từ những vườn cây tự tay Người trồng tỉa đến phòng họp của Bộ Chính trị ở ngôi nhà hai tầng, phòng ở của Bác Hồ, phòng nghỉ của khách, nơi làm việc của các đồng chí bảo vệ, cơ quan văn phòng…

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành biểu tượng cho tinh hoa của dân tộc Việt Nam, lương tâm của thời đại. Chính vì vậy, những địa danh gắn với cuộc đời và sự nghiệp của Người đã trở thành di tích văn hoá, lịch sử vô giá, được các tầng lớp nhân dân và bạn bè quốc tế ngưỡng mộ, thành kính thăm viếng. Khu Di tích K9 là một trong số trên 600 địa điểm như vậy trong cả nước.

Đầu năm 1995, thực hiện ý kiến chỉ đạo của đồng chí Đỗ Mười, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá VIII), sau khi báo cáo Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức tổ chức đón tiếp các cơ quan, đơn vị, đoàn thể địa phương trong cả nước đến dâng hương tưởng niệm Bác, sinh hoạt chính trị và tham quan Khu di tích. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước khi lên tham Khu di tích đã trồng cây lưu niệm. Chỉ tính từ năm 1999 đến nay, từ chỗ có gần 300 đoàn đến Khu di tích trong một năm; năm 2010 đã có 4.293 đoàn với hơn 120 nghìn lượt người. Đến đây ai cũng xúc động trước những hiện vật, những công trình liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của Bác, khi người còn sống và lúc đã đi xa.

Trong số các Khu di tích, điểm lưu niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cả nước, Khu Di tích K9 có một giá trị đặc biệt về ý nghĩa lịch sử, văn hoá đó là nơi Bác Hồ và các đồng chí thân thiết của Người đã làm việc và nghỉ ngơi; nơi thể hiện tình cảm cao cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh với bầu bạn quốc tế; nơi bảo vệ, giữ gìn tuyệt đối an toàn thi hài Bác trong những năm chiến tranh ác liệt; nơi thể hiện tình cảm của nhân dân ta đối với Bác Hồ kính yêu và cũng là một căn cứ dự phòng của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là nơi tiếp nối mạch nguồn lịch sử – văn hoá của thời đại Hồ Chí Minh. Địa danh Đá Chông nằm ở nơi bắt nguồn, nơi tiếp nối của mạch nguồn lịch sử – văn hoá, bắt đầu từ thời Hùng Vương. Đứng trên núi tổ Ba Vì ta có thể thấy Đền Thượng, Đền Trung, Đền Hạ, phóng xa tầm mắt về phía Bắc là miền trung du đất tổ Vua Hùng, phía sau là đồng bằng Bắc Bộ, Thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến. Trên vùng đất địa linh nhân kiệt này có biết bao huyền thoại, tồn tại rất nhiều di chỉ khảo cổ, di tích lịch sử – văn hoá. Chắc chắn vùng đất này chứa đựng những trầm tích lịch sử – văn hoá đặc biệt, mà một linh cảm đặc biệt mà Bác đã phát hiện ra và để lại dấu ấn của mình. Khu Di tích K9, thể hiện dấu ấn của một con người có đạo đức, phong cách sống giản dị, hiện thân của nhà văn hoá Hồ Chí Minh với tư tưởng “con người sống hoà hợp với thiên nhiên”.

Di sản của Người để lại nơi đây chính là đạo đức, tác phong sống cao đẹp, giản dị, cùng một cảnh quan thiên nhiên đã được Người chăm sóc và gìn giữ. Vì thế chúng ta cần phải giữ gìn, phát huy ý nghĩa chính trị, văn hoá của Khu di tích lịch sử này để góp phần thực hiện thắng lợi Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; giáo dục truyền thống cách mạng, tự hào dân tộc cho các thế hệ hôm nay và mai sau để chúng ta vững vàng, có niềm tin thực hiện thắng lợi mong muốn của Bác lúc sinh thời là xây dựng nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh./.

Thượng tá Nguyễn Thanh Huống
Chính uỷ Đoàn 285 Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng
Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Ngày 1-7: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

https://i0.wp.com/www.bqllang.gov.vn/imagesnews/1.7.jpgNgày 1-7-1924, tham dự Đại hội V của Quốc tế Cộng sản, tại phiên họp thứ 22, Nguyễn Ái Quốc lại đăng đàn thẳng thắn phê bình các đảng của các nước có thuộc địa chưa thi hành một chính sách tích cực. Nguyễn Ái Quốc kết luận: “Thưa các đồng chí, vì chúng ta tự coi mình là học trò của Lê-nin, cho nên chúng ta cần phải tập trung tất cả sức lực và nghị lực để thực hiện trên thực tế những lời di huấn quý báu của Lê-nin đối với chúng ta về vấn đề thuộc địa cũng như các vấn đề khác”.

Ngày 1-7-1942, Báo Việt Nam Độc lập, xuất bản tại Chiến khu Cao Bằng, đăng một bài thơ ngụ ngôn của Bác với nhan đề “Con cáo và tổ ong”. Sau khi kể lại việc đàn ong đã đoàn kết chống trả cáo để bảo vệ tổ của mình, Bác kết luận:

“Bây giờ ta thử so bì
Ong còn đoàn kết huống chi là người
Nhật Tây áp bức giống nòi
Ta nên đoàn kết để đòi tự do”

Ngày 1-7-1946, tại Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đón tiếp nhiều Việt kiều đến thăm. Họa sĩ Vũ Cao Đàm xin vẽ và nặn tượng Bác. Cùng ngày, nhiều nhà văn, trí thức tiến bộ Pháp đến chào Bác như Louis Aragon, Jean Richard Bloch, Pierre Emmanuel…

Ngày 1-7-1947, Bác viết thư gửi một số nhân sĩ họ Đinh ở Hòa Bình đã vận động đồng bào Mường ở địa phương tham gia kháng chiến.

Cùng ngày, Bác viết thư động viên nhà thơ Huyền Kiêu đã viết bản trường ca “Hồ Chí Minh – Tinh hoa dân tộc”: “…Tôi mong chú và anh chị em văn nghệ sĩ trong Hội Văn hóa cứu quốc đi sâu hơn nữa vào cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, sáng tác được nhiều tác phẩm phục vụ cuộc kháng chiến lâu dài và gian khổ nhưng nhất định thắng lợi của nhân dân ta”.

Ngày 1-7-1954, viết trên Báo Nhân Dân, trong bài “Những việc vô lý”, Bác bình luận về những bài viết trên báo chí Pháp đề cập tới tội ác của quân viễn chinh Pháp để đi đến nhận định, với nước Pháp và binh sĩ Pháp, “cuộc chiến tranh này thật là vô nghĩa… Nó đã đưa thực dân Pháp đến Điện Biên Phủ và sẽ đưa chúng đến nhiều Điện Biên Phủ khác nữa”.

Ngày 1-7-1958, Báo Nhân Dân đăng bài viết “Mấy kinh nghiệm Trung Quốc”, trong lời kết Bác lưu ý: “Chúng ta phải học kinh nghiệm quý báu của các nước anh em. Cố nhiên phải vận dụng những kinh nghiệm ấy một cách sáng tạo, hợp với hoàn cảnh thực tế của nước ta, chứ không nên học một cách máy móc”.

Ngày 1-7-1960, nói chuyện tại Đại hội Đảng bộ và các cơ quan dân chính Đảng Trung ương, Bác vạch rõ: “Tuy cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đã xong, nhưng chúng ta còn phải tiếp tục kháng chiến chống một thứ giặc khác, đó là giặc nghèo nàn, lạc hậu… Cho nên đảng viên ta cũng phải có thêm tinh thần như thanh niên “đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 7-7: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Đoàn Dũng sĩ Quân Giải phóng miền Nam vinh dự được đến thăm, chúc thọ Bác Hồ (5/1969) Ảnh: TL

Ngày 7-7-1946, tại Paris, Bác tiếp tục gặp gỡ nhiều bà con Việt kiều, tiếp và mời cơm gia đình tướng Raoul Salan, đồng thời dự những hình thức lễ nghi và hội pháo hoa tại cung điện Versailles để chào mừng khách quý từ Việt Nam.

Tháng 7-1952, nói chuyện tại Hội nghị Chiến tranh du kích Bắc bộ, Bác phân tích: “Cuộc kháng chiến của ta là trường kỳ gian khổ nhưng nhất định thắng lợi. “Trường” là “dài”, tức là đánh bao giờ địch bại, địch cút, thế mới là “trường”…Chớ có vội vàng muốn đánh ngay thắng ngay, thế là chủ quan. Trường kỳ thì phải gian khổ nhưng nhất định thắng lợi…Kháng chiến trường kỳ gian khổ đồng thời lại phải tự lực cánh sinh. Cố nhiên sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác. Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”.

Sau khi phân tích những khuyết điểm cần phải sửa chữa, Bác nói đến những công việc phải làm: “Điểm trọng yếu là bất kỳ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích đều phải bám sát lấy dân, rời dân ra nhất định thất bại. Bám lấy dân là làm sao cho được lòng dân, dân tin, dân mến, dân yêu. Như vậy thời bất kể việc gì khó cũng làm được cả và nhất định thắng lợi”.

Ngày 7-7-1954, Báo Nhân Dân đăng bài “Công giáo Pháp chống chiến tranh xâm lược Việt Nam”, trong đó Bác bình luận về việc nhiều giáo dân, giáo chức và tờ báo lớn của Thiên Chúa giáo ở Pháp lên tiếng chống chiến tranh, kêu gọi đình chiến, để từ đó đưa ra lời kêu gọi: “Trước thái độ đúng đắn của những người Công giáo Pháp, thì những người Công giáo Việt Nam ai lầm đường theo giặc, phản nước, phản Chúa, cần phải mau mau hối cải, mau mau quay về với chính nghĩa, với Tổ quốc yêu mến của chúng ta”.

Ngày 7-7-1958, Bác tham dự Đại hội Anh hùng và Chiến sĩ thi đua công, nông, binh toàn quốc lần thứ II và biểu dương: “Anh hùng, chiến sĩ thi đua là những người tiên phong trong sản xuất mà cũng là gương mẫu về đạo đức cách mạng…Họ toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân chứ không nửa tâm, nửa ý… không suy bì hơn thiệt cá nhân, không ganh tị về địa vị và hưởng thụ, không giấu nghề, không dìm những anh em chung quanh mình, không tự kiêu, tự mãn, tự tư, tự lợi”.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh tặng danh hiệu Anh hùng Lao động cho 26 tấm gương xuất sắc nhất trong phong trào thi đua yêu nước.

Ngày 7-7-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự phiên họp khai mạc kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa II. Tại kỳ họp này, Bác được tái tín nhiệm đảm nhận cương vị Chủ tịch nước./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 15-7: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 15-7-1911, từ cảng Marseille, theo tàu Amiral Latouche Tréville, Nguyễn Tất Thành kết thúc hải trình đầu tiên khi cập bến cảng Le Havrre ở miền Bắc nước Pháp.

Ngày 15-7-1948, Bác gửi thư đến Hội nghị Văn hóa Toàn quốc lần thứ hai họp tại Phú Thọ, nêu rõ: “Trong sự nghiệp vĩ đại kháng chiến kiến quốc của dân tộc ta, văn hóa gánh một phần rất quan trọng… Nhiệm vụ của văn hóa chẳng những để cổ động tinh thần và lực lượng kháng chiến kiến quốc của quốc dân, mà còn phải nêu rõ những thành tích kháng chiến kiến quốc vĩ đại của ta cho thế giới. Các nhà văn hóa phải có những tác phẩm xứng đáng, chẳng những để biểu dương sự nghiệp kháng chiến kiến quốc bây giờ, mà còn để lưu truyền lịch sử oanh liệt kháng chiến kiến quốc cho hậu thế”.

Ngày 15-7-1950, Báo Sự Thật đăng bài “Phải sửa chữa căn bệnh cấp bậc” của Bác (ký tên XYZ), trong đó nêu rõ căn bệnh này có nguyên nhân: “Vì cán bộ chưa gột sạch óc quan liêu ngôi thứ; vì còn mang nặng chứng “quan cách mạng”; vì không hiểu rằng trong công việc cách mạng, công việc kháng chiến kiến quốc không so việc sang, việc hèn, mọi việc đều quan trọng… Thang thuốc hay nhất để chữa căn bệnh ấy là: Dùng cách phê bình và tự phê bình để rửa sạch đầu óc ngôi thứ, địa vị và chủ nghĩa cá nhân. Đặt công việc chung, lợi ích chung lên trên hết, trước hết”.

Ngày 15-7-1960, Bác tham dự kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa II và được toàn thể Quốc hội tín nhiệm tái giữ chức Chủ tịch nước. Trong lời phát biểu kết thúc kỳ họp, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Để xứng đáng với vinh dự to lớn là người đầy tớ tuyệt đối trung thành của nhân dân, các đại biểu Quốc hội và cán bộ chính quyền cần phải thực hành: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; gương mẫu về mọi mặt: Đoàn kết, công tác, học tập, lao động; luôn giữ vững tác phong khiêm tốn, chất phác hòa mình với quần chúng thành một khối”.

Ngày 15-7-1969, tiếp và trả lời phỏng vấn của nhà báo Charles Fourniau, đại diện thường trú của Đảng Cộng sản Pháp tại Hà Nội, Bác bày tỏ: “Lúc đầu, chính là do chủ nghĩa yêu nước mà tôi tin theo Lê-nin. Rồi từng bước một, tôi đi đến kết luận rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân toàn thế giới… Về phần chúng tôi, chính là do cố gắng vận dụng những lời dạy của Lê-nin, nhưng vận dụng một cách sáng tạo và phù hợp với thực tế Việt Nam ngày nay, mà chúng tôi đã chiến đấu và giành được những thắng lợi như đồng chí đã biết…”. Đây cũng là cuộc trả lời phỏng vấn trực tiếp cuối cùng của Bác./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 25-7: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 25-7-1922, “Bức thư ngỏ” của Nguyễn Ái Quốc gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp Albert Sarraut được công bố trên báo “L’Humanité”(Nhân Đạo). Ngày 25-7-1945, từ Chiến khu Việt Bắc, thông qua viên chỉ huy đơn vị Tình báo Chiến lược Mỹ OSS A.Thomas, lãnh tụ Hồ Chí Minh đưa ra thông điệp đối với Chính phủ Pháp về nền độc lập của nhân dân Việt Nam sau khi đánh đổ phát xít Nhật ở Đông Dương, gồm 5 điểm: Xây dựng một nghị viện hỗn hợp Pháp – Việt trong quá trình hướng đến một nền độc lập hoàn toàn; quá trình đó xác định khoảng 5 năm và tối đa 10 năm; các nguồn lợi thiên nhiên phải được trả lại cho nhân dân; Việt Nam được hưởng mọi quyền tự do mà Liên hiệp quốc đã ban bố; cấm chỉ việc bán thuốc phiện.

Ngày 25-7-1949, kết thúc phiên họp của Chính phủ, khi đề cập đến nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc, Bác nhận định: “Cũng như chim muốn bay cần phải có hai cánh, một cuộc chiến tranh muốn thắng lợi cần phải có hai lực lượng chính: Quân sự và chính trị. Ông Tôn Tử là một người thao lược giỏi nhất trong lịch sử và trong thế giới, có nói: Biết địch, biết ta, trăm trận, trăm thắng. Vậy ta cần phải biết Pháp, biết ta… Giặc Pháp mù quáng về chính trị, thoái bộ về quân sự. Cả hai cánh của họ đã yếu và chỉ có thể đưa họ đến thất bại. Bên ta, chính trị rõ ràng, quân sự tiến bộ mãi. Hai cánh của ta rất mạnh, ngày càng mạnh thêm, cho nên ta nhất định thắng lợi. Thêm vào đó, tình hình thế giới rất có lợi cho ta. Cánh ta đã vững, gió lại thuận chiều, quân và dân ta hãy cố gắng lên. Thắng lợi vẻ vang đã gần trước mắt”.

Ngày 25-7-1956, nói chuyện tại Liên hoan Thanh niên tích cực ngành Đường sắt, Bác khuyên: “Nếu không học văn hóa, không có trình độ văn hóa thì không học tập được kỹ thuật. Không học tập được kỹ thuật thì không theo kịp được nhu cầu kinh tế nước nhà. Nhưng phải chú ý học tập chính trị vì nếu chỉ học văn hóa, kỹ thuật mà không có chính trị thì như người nhắm mắt mà đi”.

Ngày 25-7-1963, kỷ niệm 10 năm ngày Khởi nghĩa Moncada, Bác gửi điện mừng tới các nhà lãnh đạo Cuba, khẳng định: “Nhân dân Việt Nam rất tự hào có người bạn chiến đấu là nhân dân Cuba anh hùng và coi những thắng lợi của nhân dân Cuba cũng như những thắng lợi của bản thân mình”.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 5-8: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 5-8-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục nỗ lực để cứu vãn sự bế tắc của Hội nghị Fontainebleau bàn về quan hệ Việt – Pháp bằng các cuộc tiếp xúc với Chủ tịch Quốc hội, lãnh tụ Đảng Xã hội Vincent Auriol, Chủ tịch Hội Nhân quyền Pháp, GS. Emile Kalm, cùng một số nghị sĩ…

Tài liệu “Nhật ký hành trình” thuật lại công việc vị Chủ tịch nước Việt Nam đã làm: “Mỗi ngày, Cụ xem chừng 25 tờ báo, báo sáng, báo chiều, báo hàng tuần, báo ngoại quốc. Báo có tin tức gì hay, Cụ lấy bút chì đỏ làm dấu, rồi bảo anh em xem. Hôm nào nhiều khách thì Cụ thường thức xem báo đến hai giờ sáng. Anh em tùy tùng và các bác sĩ, cho đến cả vợ chồng ông Aubrac (chủ nhà) thấy Cụ thức khuya dậy sớm quá, ra sức khuyên Cụ đi nghỉ sớm. Nhưng không có kết quả mấy!”.

Ngày 5-8-1947, nhân dịp Đại hội Báo giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư chúc mừng và khích lệ: “Từ ngày kháng chiến, tuy hoàn cảnh khó khăn, các bạn đã cố gắng làm tròn nhiệm vụ. Thế là tốt lắm, nhưng các bạn cần phải cố gắng thêm”. Rồi Bác nhắc nhở: “Lời lẽ phải phổ thông, dễ hiểu, đường hoàng, vui vẻ, làm cho người xem báo có thú vị mà lại có bổ ích. Chiến sĩ ngoài mặt trận thì dùng súng chống địch, các bạn thì dùng bút chống địch. Kháng chiến nhất định thắng lợi và thành công”.

Cùng ngày, Bác ký sắc lệnh quy định chức Tổng Chỉ huy Quân đội Quốc gia (lúc này là Võ Nguyên Giáp) có quyền hạn và chức vụ như một bộ trưởng và là một thành viên trong Hội đồng Chính phủ.

Tháng 8-1948, Bác viết thư gửi ông Trưởng ty Bình dân học vụ Hà Tĩnh khen việc “tỉnh Hà Tĩnh đã có mấy làng thanh toán nạn mù chữ”. Bác cũng có thư gửi đồng bào Quỳnh Côi (Thái Bình), huyện đầu tiên trong cả nước đã thanh toán nạn mù chữ, trong đó Bác khẳng định: “Đó là một thắng lợi vẻ vang. Thắng lợi đó là do sự săn sóc của các vị phụ lão, thân hào, thân sĩ; do sự giúp đỡ của các cơ quan đoàn thể; do sự tận tụy của nam nữ giáo viên; do lòng hăng hái của toàn thể đồng bào trong huyện. Chúng ta cũng phải nhắc đến sự đôn đốc của Nha và Ty Bình dân học vụ”.

Ngày 5-8-1965, nhân kỷ niệm 10 năm ngày thành lập Quân chủng Hải quân của Quân đội Nhân dân Việt Nam, Bác viết thư bày tỏ: “Bác rất vui lòng khen ngợi thành tích vẻ vang về xây dựng và chiến đấu của các chú. Tuy còn non trẻ, Hải quân ta đã anh dũng chiến đấu, tích cực tiêu diệt địch, bắn rơi máy bay và đánh đuổi tàu chiến Mỹ, đoàn kết lập công, bảo vệ nhân dân, bảo vệ vùng trời và vùng biển của Tổ quốc. Các chú đã nêu cao truyền thống anh hùng của dân tộc ta…”.

Ngày 5-8-1968, nhân ngành Hậu cần Quân đội tổ chức hội nghị lái xe giỏi và thợ sửa chữa xe giỏi toàn quân, Bác gửi tặng lá cờ thêu mấy dòng đề từ:

“Yêu xe như con
Quý xăng như máu
Vượt mọi khó khăn
Hoàn thành nhiệm vụ”.

Ngày 5-8-1969, Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến thăm ông bà Trịnh Đình Thảo và Đoàn cán bộ của Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình miền Nam Việt Nam vừa ra thăm miền Bắc./.

Huyền Trang (st)
Theo tvad.com.vn

bqllang.gov.vn