Thư viện

Những điều ít biết về công tác bảo vệ Bác Hồ: Người cận vệ đầu tiên của Bác Hồ

Giadinh.net – Ông là người cận vệ đã bảo vệ Bác Hồ khi từ Côn Minh (Trung Quốc) về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Ông vinh dự và tự hào được Bác Hồ đặt tên, từng là Tư lệnh đầu tiên của Quân chủng Phòng không – Không quân và 23 năm liền giữ cương vị Phó Tổng tham mưu trưởng.

Kế hoạch bảo vệ an toàn đón Bác Hồ về nước

Ông là Thượng tướng Phùng Thế Tài, nguyên Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Từ đứa trẻ lang lang ở Côn Minh

Tên thật của ông là Phùng Văn Thụ, sinh ra trong một gia đình nghèo tại xã Văn Nhân, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây (cũ). Nhà đông anh em nên làm ruộng quanh năm mà không đủ ăn. Thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên mấy bà con đi buôn bán bên Trung Quốc bảo ông sang xin việc làm để kiếm sống.

Thượng tướng Phùng Thế Tài.

Năm 1933, khi đó mới 13 tuổi, ông theo một người làng đi kiếm sống. Điểm dừng chân đầu tiên của ông là thị trấn Chỉ Thôn, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Thị trấn này là một trạm hoả xa trung chuyển tất cả đầu máy từ Vân Nam về, từ Lào Cai của Việt Nam sang. Vì nhỏ tuổi nên ông không xin được việc của người lớn. Một gia đình bản địa nhận ông về làm giúp việc nhà.

Nhưng ở được một thời gian, vì không chịu được cảnh hống hách bắt nạt của con chủ nhà nên ông bỏ lên Côn Minh, thủ phủ của tỉnh Vân Nam. Suốt một tuần lễ không xin được việc gì. Giữa trời đông lạnh giá, bụng đói meo, quần áo tơi tả không có một bộ mang theo, ông lang thang rồi mệt ngủ luôn trên ghế đá công viên Hạ Lầu, ngoại thành Côn Minh. Đang thiu thiu, có một người đàn ông đánh thức dậy và nói bằng tiếng Việt: “Em từ đâu đến mà nằm ngủ ở đây?”

Sau khi trình bày hoàn cảnh của bản thân, ông được người đàn ông này đưa về hãng dầu cù là Nhị Thiên Đường. Qua một thời gian thử thách và được giác ngộ, ông được tham gia các đoàn thể và đi theo cách mạng.

Người gặp ông buổi tối ở công viên Hạ Lầu chính là đồng chí Vũ Anh (bí danh Trịnh Đông Hải). Thời gian đó đồng chí Vũ Anh được Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương cử sang Trung Quốc hoạt động cách mạng, làm Biện sự sứ, xây dựng cơ sở trong công nhân lao động. Năm 1939, chính đồng chí Vũ Anh đã dìu dắt, giúp đỡ và giới thiệu kết nạp ông vào Đảng Cộng sản Đông Dương (đồng chí Vũ Anh đã nhận ông làm con nuôi). Người thứ hai giới thiệu kết nạp ông là đồng chí Thanh Bình (sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đồng chí Thanh Bình là thứ trưởng Bộ Nội Vụ).

Thành cận vệ đầu tiên của Bác Hồ

Một buổi sáng đầu năm 1940, có người khách đến hãng Nhị Thiên Đường tìm gặp đồng chí Vũ Anh. Hai người đến địa điểm khác trao đổi công việc. Đến chiều, đồng chí Vũ Anh cho biết người đến tìm gặp là ông Trần và giao Phùng Thế Tài bảo vệ người này. Nhìn thái độ và nghe đồng chí Vũ Anh dặn dò cẩn thận, ông biết đây là một người rất quan trọng. Sau này, ông mới biết ông Trần chính là bí danh của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Và ông đã trở thành cận vệ đầu tiên của Bác Hồ từ thời khắc ấy. Sau này ông được Bác đặt tên là Phùng Hữu Tài (một thời gian sau ông xin Bác cho đổi tên là Phùng Thế Tài).

Bác Hồ tặng quà Tết và nói chuyện với các chiến sỹ Đoàn không quân Sao Vàng.

Về kỷ niệm ngày đầu bảo vệ Bác Hồ, Thượng tướng Phùng Thế Tài kể: “Sau khi đồng chí Vũ Anh giới thiệu tôi là cận vệ, ông Trần nhìn tôi tỏ ý hài lòng. Tuần lễ đầu, ông Trần và tôi nói chuyện với nhau bằng tiếng Trung Quốc, sau mới dùng tiếng Việt. Do nguyên tắc hoạt động bí mật nên cả ông Trần và tôi làm như không quen biết nhau. Gọi là đi bảo vệ nhưng thực ra tôi có súng ống gì đâu. Tôi vốn hiếu động, dạo trước đã làm một quả đấm sắt, một con dao. Vậy là giờ đây nó hữu ích. Tôi không được phép vào nhà ở của ông Trần, mà chỉ được đứng chếch ở bên phải hoặc bên trái lề đường để quan sát. Thấy ông Trần đi là tôi đi theo cách 5 đến 10 mét”.

Trong dịp Tết Tân Tỵ (năm 1941), ông cũng nằm trong số những cán bộ đi cùng để bảo vệ Bác Hồ về nước. Khi về đến cột mốc 108, ông Phùng Thế Tài được tổ chức phân công ở lại Côn Minh hoạt động. Vì thạo tiếng Trung Quốc nên quân đội Tưởng tuyển ông làm cho cơ quan tình báo để chuẩn bị cho kế hoạch “ Hoa quân nhập Việt” và cho ông vào học lớp quân chính về nghiệp vụ tình báo của trường quân sự Hoàng Phố.

Là ngưòi thông minh, tiếp thu nhanh, chỉ sau khóa học ông được phong cấp Thiếu Hiệu (ngang với Thiếu Tá). Chúng cấp cho ông một số giấy chứng nhận đặc biệt, có đóng dấu Tưởng Thống chế. Giấy này cho phép được đi lại trong toàn quốc. Lợi dụng sự ưu đãi này, ông đã tranh thủ hoạt động có lợi cho phía ta. Những giấy tờ đó cũng đã thực sự trở thành “bảo bối” cứu nguy cho những chuyến công tác bảo vệ lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sang Trung Quốc sau này.

Đầu năm 1942, ông được tổ chức giao nhiệm vụ phụ trách đợt chuyển vũ khí về nước. Sau đó, được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và đồng chí Vũ Anh cho ở lại Pác Bó tiếp tục làm nhiệm vụ bảo vệ Bác. Dạo đó, tổ bảo vệ “Ké Thu” (bí danh của Bác Hồ ở Pác Bó) gồm có: Phùng Chí Kiên, Lê Quảng Ba, Đinh Đại Toàn, Đặng Văn Cáp, Dương Đại Lâm, Phùng Thế Tài… Thời gian này cuộc sống của Ké Thu và tổ bảo vệ rất thiếu thốn. Lúc rảnh rỗi anh em trong tổ bảo vệ đi mò cua bắt ốc, đào củ mài. Thấy lãnh tụ Nguyễn ái Quốc gầy yếu anh em ưu tiên dành gạo nấu riêng. Người không cho làm như vậy và bảo: “Các chú chịu khổ được, Bác cũng chịu được”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm và chúc Tết Đoàn không quân Sao Vàng và các đơn vị bảo đảm kỹ thuật đường băng thuộc quân chủng Phòng không Không quân vào sáng mồng 1 Tết Đinh Mùi (9/2/1967). Cùng đi có Thượng tướng Văn Tiến Dũng-Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (người đi bên trái Bác) và Đại tá Phùng Thế Tài-Tư lệnh quân chủng Phòng không Không quân (người đi bên phải Bác).

Một mình bảo vệ Bác trở lại Trung Quốc

Tháng 8/1944, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lấy tên là Hồ Chí Minh và quyết định sang Trung Quốc gặp đại diện quân đồng minh để tranh thủ sự giúp đỡ. Đồng chí Phùng Thế Tài được giao nhiệm vụ bảo vệ Bác trong chuyến đi này.

Thượng tướng Phùng Thế Tài kể: “Lần ấy chỉ có một mình tôi đi bảo vệ Bác. Tôi mặc bộ dạ sỹ quan Tưởng oai lắm, nói thạo tiếng Trung Quốc, lại có sẵn giấy thông hành đặc biệt của chính quyền Tưởng Giới Thạch cấp hồi còn học ở trường quân sự Hoàng Phố nên yên trí. Bác mặc bộ quần áo của quân đội Tưởng, người ngoài nhìn chẳng khác anh lính trẻ đi với ông lính già. Khi đến Tĩnh Tây, cơm nước xong, Bác vào làm việc tại trụ sở của Quốc dân đảng Trung Hoa và là tổng hành dinh của Trung tướng Trần Bảo Xương.

Tối hôm đó, Bác ngủ ngay ở chỗ làm việc. Tôi không rõ Bác liên lạc với Trần Bảo Xương để làm gì, không dám hỏi vì nguyên tắc bí mật. Trên đường về phòng nghỉ, Bác nói bỏ quên mũ ở phòng khách bảo tôi quay lại lấy. Nhờ thế, tôi vô tình nghe lỏm được bọn Trần Bảo Xương đang bàn trong phòng kín tìm cách bắt giữ hai Bác cháu tôi. Tôi nghe thế rất lo, vội quay báo ngay với Bác. Bác rất bình tĩnh, chỉ thoáng một chút đăm chiêu. Suy nghĩ một lúc, Bác quyết định quay về Việt Nam ngay trong đêm hôm đó”.

“Nhưng làm sao mà ra khỏi hai cánh cổng sắt có lính gác của tổng hành dinh Trần Bảo Xương được? Như hiểu được ý tôi, Bác khẽ nói: “Ta đi ngay, không mang hành lý gì, đi người không, giả bộ với lính gác ra ngoài mua bao thuốc lá!”. Thoát khỏi được tổng hành dinh của Trần Bảo Xương, hai Bác cháu quên cả mệt, đi như chạy ra khỏi Tĩnh Tây và cuốc bộ một mạch không nghỉ. Sáng hôm sau trông thấy Bác quá mệt, người phờ phạc, lòng tôi quặn lại”.

Thời gian sau thấy năng khiếu chỉ huy quân sự và nguyện vọng của ông Phùng Thế Tài được đi chiến đấu ngoài mặt trận, Bác đồng ý. Trước khi ra mặt trận, Bác dặn ông: “Chú sẵn sàng đi chiến đấu, thế là tốt, nhưng nhớ đừng có “hữu dũng, vô mưu” đó nhé…”. Những lời Bác dạy, ông luôn thấm thía và là hành trang luôn theo ông, giúp ông vượt qua mọi khó khăn, gian khổ trong suốt cuộc đời. Ông đã trở thành vị tướng mà nói đến ai cũng biết: “Tướng Tài”.

Nguyễn Đức Quý

giadinh.net.vn

Những chuyện ít biết về công tác bảo vệ Bác Hồ: Kế hoạch bảo vệ an toàn đón Bác Hồ về nước

Giadinh.net – Cuối tháng 2/1940, được tin lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về đến Côn Minh (Vân Nam, Trung Quốc), Trung ương Đảng đã cử một số cán bộ như: Phạm Văn Đồng (bí danh là Lâm Bá Kiệt), Võ Nguyên Giáp (bí danh là Dương Hoài Nam), Đặng Văn Cáp (bí danh là Đặng Văn Linh), Hoàng Văn Lộc và một số đồng chí khác sang Trung Quốc để tìm gặp, báo cáo tình hình trong nước và xin chỉ thị của Người.

Sau gần 3 tháng, đến tháng 5/1940 đồng chí Phùng Chí Kiên dẫn đồng chí Đặng Văn Cáp đến Côn Minh gặp Bác.

Những người bảo vệ Bác về nước

Sau khi trao đổi, Bác đồng ý phương án về nước bằng đường Côn Minh – Lào Cai, qua huyện Khai Viễn. Bác phái đồng chí Bùi Thanh Bình, Hoàng Văn Lộc về Hồ Kiều (một thị trấn của tỉnh Vân Nam sát địa phận tỉnh Lào Cai nước ta) để thăm dò đường sá. Người chịu trách nhiệm nhóm công tác bảo vệ Bác trong thời gian chuẩn bị về nước là đồng chí Phùng Thế Tài.

Hưởng ứng cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và tiến tới kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của Người, Báo GĐ&XH khởi đăng loạt tư liệu đặc biệt về công tác bảo vệ an ninh cho Bác.

Báo GĐ&XH cảm ơn Trung tá Nguyễn Đức Quý – Đội trưởng đội Nghiên cứu khoa học, Phòng Tham mưu, Bộ Tư lệnh Cảnh vệ –  người đã trực tiếp chắp bút cho loạt bài này. Chúng tôi cũng trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo và cán bộ, chiến sỹ Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đã giúp đỡ để hoàn thành loạt tư liệu này. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Nhưng bất ngờ cuối tháng 6/1940 đường giao thông Côn Minh- Lào Cai bị tắc nghẽn nên kế hoạch không thực hiện được. Bác chỉ thị cho đồng chí Hoàng Văn Lộc phải trở lại ngay Côn Minh.

Ngày 5/1/1941, đồng chí Hoàng Văn Thụ, Thường vụ Trung ương Đảng từ Việt Nam sang Tân Khư (Tĩnh Tây- Quảng Tây- Trung Quốc) gặp Bác để báo cáo kết quả thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng về xây dựng và củng cố an toàn khu Cao Bằng và việc tổ chức thành lập Ban Công tác đội cũng như phong trào cách mạng ở đây.

Sau khi báo cáo kết quả việc chuẩn bị Hội nghị Trung ương lần thứ 8, đồng chí Hoàng Văn Thụ nêu nguyện vọng của Trung ương Đảng, đề nghị Bác về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đồng chí cũng đề nghị Bác về qua ngả Cao Bằng, vì trình độ giác ngộ cách mạng của nhân dân dọc biên giới tương đối cao và cán bộ ở đây vững vàng.

Ngày 6/1/1941, Bác Hồ cùng các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên, Đặng Văn Cáp… được đồng chí Hoàng Sâm dẫn đi qua Nậm Bo xuống Nậm Quang (Tĩnh Tây- Trung Quốc) để chuẩn bị lập kế hoạch cụ thể cho việc về nước. Tại đây, Bác Hồ đang mở lớp học và trực tiếp huấn luyện chính trị cho 43 đồng chí trong Ban công tác đội do Trung ương cử sang. Thời gian lớp học kéo dài khoảng 20 ngày, kết thúc vào dịp gần Tết Âm lịch năm 1941 (Tân Tỵ).

Bức họa bảo vệ Bác về đến cột mốc 108, ngày 28/1/1941 tại Pác Bó (Cao Bằng).

Sau khi kết thúc lớp học, Bác mới chỉ đạo kế hoạch về nước. Người quyết định qua cột mốc 108 về Pác Bó (Cao Bằng). Đoàn về nước được chia làm 3 nhóm. Nhóm thứ nhất do đồng chí Hoàng Sâm phụ trách về nước bằng đường Xuyên Sơn tới Pác Bó.

Nhóm thứ hai do đồng chí Phùng Chí Kiên phụ trách đi qua cột mốc 108, rồi theo đường 203 về Pác Bó. Hai nhóm này về trước nắm tình hình hoạt động của địch, và tổ chức khảo sát đường đi để Bác về nước. Ngay khi hai nhóm đầu lên đường về nước thì nhóm thứ ba, trực tiếp bảo vệ Bác cũng đi về bản Nậm Tẩy (Quảng Tây-Trung Quốc) để chờ tin trong nước, sẵn sàng xuất phát khi điều kiện thuận lợi. Khi về nước, hành lý mà Bác mang theo hầu như chẳng có gì. Chỉ có một chiếc vali nhỏ quần áo cũ và một chiếc máy chữ xách tay hiệu “Ba Bi”. Chiếc máy chữ này là vật dụng cá nhân quý giá mà Bác luôn mang theo bên mình.

Sau một thời gian nắm tình hình, thời cơ đến, Bác Hồ quyết định lên đường về nước. Nhóm bảo vệ trực tiếp và đi theo Bác Hồ lúc này ngoài đồng chí Phùng Thế Tài, còn có những người sau: Hoàng Văn Lộc- một cán bộ người dân tộc Tày, có  kinh nghiệm hoạt động bí mật ở vùng Cao Bằng; Đặng Văn Cáp  là thanh niên rất khoẻ, giỏi võ, bắn súng cũng rất giỏi và biết chữa bệnh bằng thuốc nam; Thế An cũng là một người dân tộc Tày, rất thông thạo đường rừng, đặc biệt là những đường đi tắt; Lê Quảng Ba cũng là một cán bộ người dân tộc Tày, rất am hiểu phong tục của đồng bào dân tộc ít người, thông thạo tiếng  Dao, Mán, Nựng và tiếng Quan Hoả (Trung Quốc). Nhóm trực tiếp bảo vệ Bác Hồ do đồng chí Lê Quảng Ba phụ trách, tuy nhiên Bác Hồ chỉ đạo trực tiếp.

Cái Tết quê hương đầu tiên sau 30 năm xa Tổ quốc

Bác Hồ đã thống nhất kế hoạch hóa trang và phân công nhiệm vụ cho từng người. Về hóa trang, Bác phân tích: Vùng này có nhiều người dân tộc Nùng. Họ có phong tục, cứ đến Tết là các chàng rể (già cũng như trẻ) đều phải mang đồ lễ về “cúng ma” ở nhà bố mẹ vợ. Vì vậy, cả nhóm ăn mặc như những chàng rể người Nùng đang trên đường về nhà bố mẹ vợ. Bác Hồ cũng mặc một bộ quần áo đặc trưng của đàn ông Nùng thường mặc trong dịp Tết: quần áo chàm, đầu đội mũ kiểu bê-rê cũng may bằng vải màu chàm, chân đi đôi giày vải đen, quàng khăn để vừa ấm vừa che kín bộ râu.

Khu vực Bác làm việc trước đây.

Sáng sớm 28/1/1941, tức ngày mồng 2 Tết (Tân Tỵ), nhận được tin từ trong nước báo sang tình hình thuận lợi, cả đoàn xuất phát từ bản Nậm Quang từ rất sớm. Sau 8 giờ đi đường, khoảng 12h trưa thì cả đoàn đến dãy núi Phia Sum Khảo, nơi có cột mốc biên giới số 108 trên biên giới Việt – Trung, thuộc xã Trường Hà, châu Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.

Cùng lúc đó, nhóm được cử nhiệm vụ đi đón Bác do đồng chí Hoàng Sâm từ trong nước cũng có mặt tại cột mốc 108. Tất cả đều xúc động khi thấy Bác đứng lặng đi bên cột mốc số 108, ngắm nhìn núi rừng trùng điệp của tỉnh Cao Bằng- mảnh đất địa đầu của Tổ quốc. Sau 30 năm xa Tổ quốc, bôn ba đi tìm đường cứu nước, đúng vào dịp Tết cổ truyền của dân tộc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã trở về đất nước. Người cúi xuống cầm nắm đất lên hôn. Sau đó Bác vui vẻ bắt tay chúc Tết mọi người.

Rời cột mốc 108, cả đoàn theo con đường mòn xuống thung lũng Pắc Bó. Tại đây đoàn công tác bảo vệ bố trí Bác ở gia đình nhà ông Máy Lỳ, dân tộc Nùng, một cơ sở cách mạng tin cậy.  Gia đình ông Máy Lỳ chỉ có hai vợ chồng và một người con gái. Đây là địa điểm thường được Trung ương Đảng chọn làm nơi hội họp và trạm dừng chân cho cán bộ đi công tác qua lại. Gia đình ông Máy Lỳ rất nghèo nhưng lại có tinh thần yêu nước nồng nàn. Căn nhà của ông nằm độc lập ở dưới một quả đồi nhưng thoáng đãng. Từ sân nhà nhìn ra có thể thấy toàn cảnh thung lũng ở phía trước. Sau nhà là một con suối, kế đến là một khu rừng rậm rất tiện cho yêu cầu bảo vệ khi có tình huống bất trắc có thể xảy ra.

Gia đình ông Máy Lỳ hầu như đã quen mặt biết tên hết các cán bộ trong đoàn nhưng không biết Bác là ai. Khi đến nhà ông Máy Lỳ, Bác mặc áo chàm, đi dép rơm, tay cầm gậy. Mọi người gọi Bác là ông Ké và giới thiệu là cán bộ dưới xuôi lên. Ông Máy Lỳ gọi con gái mang ra một thau nước nóng, mời ông Ké rửa trước.

 Nghỉ ngơi một lát, ông Máy Lỳ lại sai con gái bưng một mâm cỗ Tết ra mời ông Ké và đoàn cán bộ dùng. Bên mâm cỗ Tết, mọi người trò chuyện râm ran, riêng Bác cứ lặng yên, nét mặt rất xúc động. Ông Máy Lỳ nâng bát rượu mời Bác và anh em cán bộ cùng đi. Bác chúc sức khoẻ ông Máy Lỳ. Ông Máy Lỳ rất vui, gọi vợ và con gái ra tiếp khách để tỏ lòng mến khách.

Đến ngày 8/2/1941, đoàn cán bộ bảo vệ tiếp tục đưa Bác vào ở và làm việc trong hang Cốc Bó.

(Còn nữa)

Nguyễn Đức Quý

giadinh.net.vn

“Dân là gốc, dân là chủ”

Bác Hồ với Nhân dân. Ảnh: Tuấn Anh

Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy “nước ta là nước dân chủ; nước lấy dân làm gốc; dân là chủ, dân làm chủ; dân chúng đồng lòng việc gì cũng làm được; dân chủ không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”. Theo Người “tiếng dân chính là truyền lại ý trời”[1]. “Dân muốn gì ta phải làm nấy”[2]. “Dân oán, dù tạm thời may có chút thành công, nhưng về mặt chính trị, là thất bại”[3].

1. Ý nghĩa lớn nhất của Cách mạng Tháng Tám 1945 là là lập nên một chính thể Dân chủ Cộng hòa

Khi Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước thì dân tộc Việt Nam đang chìm đắm trong chế độ thực dân – phong kiến chuyên chế. Chúng ta không có Hiến pháp và nhân dân không được hưởng quyền tự do dân chủ. Vì vậy, chỉ một ngày sau khi tuyên bố với nhân dân Việt Nam và thế giới rằng nhân dân Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do và độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ. Tại phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 3-9-1945, Người đã đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế đọ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống. Đối với các Ủy ban nhân dân làng, huyện, tỉnh, thành phố là hình thức Chính phủ trong các địa phương thì toàn thể nhân dân Việt Nam cũng có quyền như vậy. Trừ bọn Việt gian bị tước công quyền, mọi người từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt trai gái, giàu nghèo, Việt Minh hay ngoài Việt Minh, ai cũng có quyền ứng cử hay bầu cử vào các Uỷ ban này.

Ngày nay, để hiểu ý nghĩa to lớn của Cách mạng Tháng Tám, điều quan trọng nhất là phải phân tích, đánh giá giá trị tinh thần của cuộc cách mạng đó trên cơ sở toàn dân Việt Nam đã đập tan ách nô lệ của Pháp Nhật, xóa đi một trở lực, vết nhơ trên con đường tiến bộ, văn minh của nhân loại. Với tinh thần đó, trong Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà, Hồ Chí Minh nhấn mạnh ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám: “Trong một thời gian rất vắn, chúng ta đã phá tan chế độ quân chủ chuyên chế mấy nghìn năm nay. Chúng ta đã đánh đổ cái nền thống trị của hai đế quốc chủ nghĩa: Pháp và Nhật. Chúng ta đã lập nên một chính thể Dân chủ Cộng hòa. Đó là một cuộc thắng lợi xưa nay chưa từng thấy trong lịch sử nước ta”[4].

Vấn đề có ý nghĩa là ở chỗ từ một thắng lợi xưa nay chưa từng thấy trong lịch sử nước ta như vậy dẫn tới “lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”. Và từ đó, điều gì sẽ đến với Đảng ta trong điều kiện Đảng cầm quyền? Một là, công việc sẽ khó khăn, phức tạp hơn gấp nhiều lần. Hồ Chí Minh nói rõ: “Việc này mới khó chứ! Trong việc phá hoại chống kẻ thù đòi độc lập thì dễ dàng kéo cả toàn dân. Trong việc kiến thiết thì khó kéo hơn, vì nó đụng chạm đến quyền lợi riêng của một đôi giai từng trong nước. Vả lại, chúng ta phải thật thà thừa nhận rằng kinh nghiệm chúng ta còn ít, tài năng chúng ta còn kém, mà công việc thì nhiều”[5]. Sau này, Hồ Chí Minh nói rõ hơn: “Thắng đế quốc và phong kiến là tương đối dễ; thắng bần cùng và lạc hậu còn khó hơn nhiều”[6]. Hai là, dân tín nhiệm, ủy thác việc cầm quyền cho Đảng, nên Đảng phải có trách nhiệm với dân, xứng danh là một Đảng đạo đức và văn minh. Đảng, Chính phủ, cán bộ, đảng viên phải thật sự coi dân là gốc, dân là chủ, chứ không thể “miệng thì nói dân chủ nhưng làm việc thì họ theo kiểu “quan” chủ”[7]. Ba là, ở các địa phương nhiều khuyết điểm to như “khuynh hướng chật hẹp, bao biện, không biết đem những người có danh vọng hoặc có tài cán ở địa phương vào giúp việc. Có người hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành độc đoán, dĩ công dinh tư, dùng pháp công để báo thù tư”. Những khuyết điểm đó làm cho dân chúng hoang mang, oán Chính phủ và Đảng, làm cho nền đoàn kết lay động.

Vấn đề đặt ra là “sao cho được lòng dân”; “Chính phủ là công bộc của dân”, “Đảng cầm quyền nhưng dân là gốc, dân là chủ”. Chính phủ là Chính phủ nhân dân nên các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do, dân chủ, hạnh phúc cho mọi người. Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải lấy dân làm gốc, coi dân là chủ, đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh.

2. Nhận thức khoa học vị trí, vai trò “dân là gốc, dân là chủ”

Trong di sản Hồ Chí Minh, nhiều lần chúng ta bắt gặp các cụm từ “dân là gốc”; “nước lấy dân làm gốc”; “dân là chủ, dân làm chủ”, “Nhà nước của dân, do dân, vì dân”; “bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân, chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương đều do dân cử ra”; “công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân”; “đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”; “nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”; v.v..

Vậy dân ở đây là ai? Trả lời câu hỏi này không chỉ liên quan tới vị trí, vai trò của người dân, mà quan trọng hơn là liên quan tới vận mệnh quốc gia. Bởi vì, nước lấy dân làm gốc; Đảng cầm quyền nhưng dân là chủ.

Những cách diễn đạt về “dân” trong di sản Hồ Chí Minh tựu trung có thể nhìn nhận theo các lát cắt sau đây: Một là, toàn dân, tất cả công dân Việt Nam, cử tri. Trong Hiến pháp 1946, khi nói tới chính thể nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ghi rõ “tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Hai là, các nghị viên (nay gọi là đại biểu Quốc hội). Ở lát cắt này, nhân dân là nghị viên trong Nghị viện (nay gọi là Quốc hội) là những người được cử tri bầu, thay mặt toàn thể nhân dân giải quyết những vấn đề chung cho toàn quốc.

Từ trong di sản Hồ Chí Minh và Hiến pháp Việt Nam, nhận thức có chất lượng khoa học về vị trí, vai trò là gốc, là chủ của dân như thế nào?

Thứ nhất, dân là gốc, dân là chủ tiếp cận theo góc độ Nghị viện nhân dân là cách tiếp cận gián tiếp, đại diện. Nói gián tiếp, đại diện không có nghĩa là không quan trọng, ngược lại có nhiều vấn đề duy nhất chỉ giải quyết theo cách gián tiếp. Đó là “đặt ra các pháp luật, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài (Điều thứ 23 Hiến pháp 1946). Có quyền bãi miễn các đại biểu mình bầu ra (Điều thứ 20 Hiến pháp 1946). Tuy nhiên, ở Điều 20 này, “dân Nghị viện” phải phụ thuộc vào toàn dân như Điều 41 Hiến pháp 1946 quy định: “Nghị viện phải xét vấn đề bãi miễn một nghị viên khi nhận được đề nghị của một phần tư tổng số cử tri tỉnh hay thành phố đã bầu ra nghị viên đó”.

Thứ hai, dân là gốc, dân là chủ tiếp cận dưới góc độ toàn dân. Trong Hiến pháp 1946 có nói tới “nhân dân phúc quyết”, “toàn dân phúc quyết”. Vấn đề này, cho tới nay, trong nhận thức vẫn còn những cách hiểu khác nhau và vì vậy, trên thực tế, chưa được thực hiện. Hiến pháp 1946 cũng nói rõ “cách thức phúc quyết sẽ do luật định”. Vì luật chưa định nên chưa thực hiện được. Hơn nữa, khi nói toàn dân, Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: “Bất kỳ nơi nào có quần chúng, thì nhất định có ba hạng người: Hạng hăng hái, hạng vừa vừa, và hạng kém. Mà trong ba hạng đó, hạng vừa vừa, hạng ở giữa, nhiều hơn hết, hạng hăng hái và hạng kém đều ít hơn”[8]. Người lại nói, “cố nhiên, không phải dân chúng nói gì, ta cũng cứ nhắm mắt theo”[9]. Và “chúng ta tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng”. Nhận thức và thực hiện điều này là tương đối khó, nhưng theo tinh thần Hồ Chí Minh, khó dễ là ở mình. Nếu lấy lòng chí công vô tư, vì dân phục vụ mà xử sự thì chắc chắn sẽ vượt qua được khó khăn.

Trở lại Hiến pháp 1946, Điều 21 ghi rõ: Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia”. Điểm c) Điều thứ 70 ghi: “Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết”. Ở đây có ba điểm cần có sự thống nhất trong nhận thức. Một là, nhân dân ở đây rõ ràng cần được hiểu một cách dứt khoát là toàn dân, không phải là Nghị viện. Hai là, Điều thứ 32 nói rõ, nếu được hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý thì mới đưa ra nhân dân phúc quyết. Như vậy, không phải mọi thứ liên quan tới vận mệnh quốc gia là “tự nhiện, tự động” đưa ra nhân dân phúc quyết, mà toàn dân phải phụ thuộc vào hai phần ba “nhân dân Nghị viện” (nghị viên). Ba là, cách thức phúc quyết thế nào thì chưa có một quy định cụ thể, và chỉ khi nào có luật định cụ thể thì mới thực hiện được việc “toàn dân phúc quyết”. Điều này, trước đây do chiến tranh chưa làm được thì nay trách nhiệm thuộc về Quốc hội. Nếu không làm được điều này thì “toàn dân phúc quyết”, trưng cầu dân ý, dân chủ trực tiếp chỉ là hình thức.

Thứ ba, để nhận thức có chất lượng khoa học vai trò “dân là gốc, dân là chủ” cần khám phá tư duy so sánh của Hồ Chí Minh. Người thường so sánh cán bộ với dân, và chỉ có đặt cạnh dân thì mới hiểu đúng cán bộ. Ví dụ, so với dân thì tất cả cán bộ, công chức đều có quyền, và chỉ có quyền thì mới thực hiện được hành vi tham nhũng, nhũng lạm (lạm dụng quyền để nhũng nhiễu, đục khoét dân). Người viết: “Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”[10]. “Cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”[11].

Người cũng hay so sánh người chủ với đày tớ. Đây là những khái niệm hẹp, thường dùng trong gia đình. Hồ Chí Minh sử dụng khái niệm này trong phạm vi rộng, quốc gia, quản lý đất nước. Biên độ rộng hẹp khác nhau nhưng tính chất và chức năng là giống nhau, tức là đều bàn tới vai trò, vị trí của từng đối tượng trong mối quan hệ với nhau. Trong phạm vi gia đình, địa vị người chủ quyết định mọi việc. Trong phạm vi đất nước, nhân dân (cả hai cách tiếp cận Nghị viện và toàn dân) – với địa vị người chủ – cũng quyết định mọi việc, theo tinh thần “toàn dân phúc quyết”. Còn Chính phủ là công bộc – đày tớ của dân. Đảng ta phải “xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” (Di chúc) theo tinh thần “cúi đầu làm ngựa các nhi đồng”. Người nói: “Dân làm chủ thì Chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, ủy viên này khác làm gì? Làm đày tớ. Làm đày tớ cho nhân dân, chứ không phải là làm quan cách mạng”[12]. So với quan niệm hẹp trong gia đình thì ở phạm vi quốc gia, Chính phủ, Đảng, cán bộ vừa là người phục vụ (đày tớ) vừa là người lãnh đạo. Ở đây, có hai khía cạnh liên quan cần được làm rõ: Thế nào là cán bộ? Thế nào là lãnh đạo? Nếu tách khái niệm “cán bộ” và “lãnh đạo” khỏi “đầy tớ” thì sẽ không bao giờ nhận thức có chất lượng khoa học vị trí, vai trò của dân. Hồ Chí Minh dạy: “Làm cán bộ tức là suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân. Mấy chữ a, b, c này không phải ai cũng thuộc đâu, phải học mãi, học suốt đời mới thuộc được”[13]. Và Người giải thích thế nào là lãnh đạo: “Lãnh đạo là làm đày tớ nhân dân và phải làm cho tốt”[14].

Thế là đã rõ. Tuy có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng xét dưới nhiều phương diện thì vị trí, vai trò của toàn dân là quyết định mọi việc, không gì có thể thay thế. Đây chính là chất lượng khoa học trong nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về dân. Trong công cuộc đổi mới, Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Có những việc chúng ta nhận thức và thực hiện tốt, nhưng cũng có những việc chúng ta nhận thức và làm chưa đúng theo di huấn của Người.

Trong nhận thức về vai trò, vị trí của dân có những khía cạnh ta làm chưa tốt, trong đó có vấn đề dân là gốc, dân là chủ theo tinh thần dân quyết. Nếu bàn tới dân là gốc, dân là chủ mà chỉ dừng lại ở Quốc hội (dân là nghị viên) theo tinh thần dân chủ gián tiếp, dân chủ đại diện thì chúng ta bỏ rơi, quên đi một phần rất quan trọng, có ý nghĩa to lớn, liên quan tới vận mệnh quốc gia là dân chủ trực tiếp (dân là toàn dân). Toàn dân đang kỳ vọng ở Quốc hội phải có luật định không chỉ để dân (toàn dân) làm mà còn là dân nói, dân bàn, dân kiểm tra, dân giám sát và dân quyết. Chỉ có như vậy thì mới có được dân tin, dân phục, dân yêu, giữ được lòng tin của dân với Đảng và Chính phủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh./.

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.79.
[2] Hồ Chí Minh, Sdd, t.4, tr.148.
[3] Hồ Chí Minh, Sdd, t.5, tr.293.
[4] Hồ Chí Minh: Sdd, t.4, tr.19.
[5] Hồ Chí Minh: Sdd, t.4, tr.20
[6] Hồ ChÍ Minh: Sdd, t.10, tr.4.
[7] Hồ Chí Minh: Sdd, t.6, tr.292.
[8] Hồ Chí Minh: Sdd, t.5, tr.289.
[9] Hồ Chí Minh: Sdd, t5, tr.297.
[10] Hồ Chí Minh: Sdd, t.5, tr.104.
[11] Hồ Chí Minh: Sdd, t.5, tr.641.
[12] Hồ Chí Minh: Sdd, t.8, tr.375.
[13] Hồ Chí Mih: Sdd, t.12, tr.555.
[14] Hồ Chí Minh: Sdd, t.12, tr.222.

Theo PGS.TS Bùi Đình Phong
(hochiminhhoc.com)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chính phủ là công bộc của dân

Phát biểu trong buổi lễ ra mắt ứng cử viên tổ chức tại Việt Nam học xá ngày 5- 1- 1946 Người nói: “Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không bầu. Ngày mai, không ai ép, không ai mua, toàn dân sẽ thực hiện cái quyền dân chủ ấy”.

1. Giữ gìn, kiến thiết là một công việc khó khăn, phức tạp

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ từ nhân dân, của nhân dân, vì nhân dân phục vụ. Khi đất nước còn đắm chìm trong đêm dài nô lệ, Người quyết chí ra đi tìm đường cứu nước, không sợ hy sinh, không ngại khó khăn, gian khổ với mục đích cao nhất là giải phóng đồng bào. Sau khi tìm được con đường cứu nước đúng đắn, khoa học, cách mạng và nhân văn, Người đã tổ chức và lãnh đạo toàn dân đứng lên xóa bỏ chính quyền bóc lột của thực dân – phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân.

Chỉ một ngày sau khi giành được chính quyền ở Hà Nội, Hồ Chí Minh đã nhắc lại ý kiến của Lê-nin với các học trò của mình, rằng “giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn”. Người tiên tri, tiên lượng cái khó của chính quyền mới trên nhiều phương diện. Đó là thù trong giặc ngoài, nạn đói, nạn dốt. Dưới chế độ quân chủ cai trị rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, người dân bị đầu độc nhiều thói xấu như lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác; nước ta không có Hiến pháp, nhân dân không được hưởng quyền tự do dân chủ. Đặc biệt là những khó khăn của đội ngũ cán bộ, công chức do hạn chế về tài năng, sự hiểu biết và điều hành, quản lý một xã hội mới – xã hội do dân làm chủ.

Chỉ một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập, khi trình bày những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Sau tám mươi năm bị áp bức, bị bóc lột, và dưới chính sách ngu dân của thực dân Pháp, các bạn và tôi, chúng ta đều chưa quen với kỹ thuật hành chính. Nhưng điều đó không làm cho chúng ta lo ngại. Chúng ta vừa làm vừa học. Chắc rằng chúng ta sẽ phạm khuyết điểm, nhưng chúng ta sẽ sửa chữa, chúng ta có can đảm sữa chữa khuyết điểm”(1). Người thấy rõ và hình dung những khó khăn của việc kiến thiết đất nước: “Công việc phá hoại xong rồi. Nay bước đầu công việc dọn dẹp, sắp đặt, giữ gìn, kiến thiết. À! Việc này mới khó chứ. Trong việc phá hoại chống kẻ thù đòi độc lập, thì dễ dàng kéo cả toàn dân. Trong việc kiến thiết thì khó kéo hơn, vì nó đụng chạm đến quyền lợi riêng của một đôi giai từng trong nước. Vả lại, chúng ta phải thật thà thừa nhận rằng kinh nghiệm chúng ta còn ít, tài năng chúng ta còn kém, mà công việc thì nhiều: nào quân sự, nào ngoại giao, nào tài chính…, trăm đầu nghìn mối, đều những việc mới lạ cho chúng ta. Lại thêm nguy hiểm ngoại xâm và tình hình nội trị”(2). Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất là một bộ phận cán bộ bắt đầu có biểu hiện thoái hóa biến chất, lên mặt làm quan cách mạng, hủ hóa, không quan tâm gì đến đời sống của nhân dân.

Trăn trở, chăm lo xây dựng chính quyền vững mạnh, thật sự của dân, do dân, vì dân, Chính phủ là công bộc của dân, chính quyền “sao cho được lòng dân”, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm cảnh báo những căn bệnh của cán bộ và sự quan liêu hóa của bộ máy nhà nước. Đúng nửa tháng sau ngày đọc Tuyên ngôn độc lập tại vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), ngày 17- 9- 1945, trong Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà, Hồ Chí Minh đã nói tới việc “đề phòng hủ hóa”. Người chỉ rõ “cán bộ ta nhiều người “cung cúc tận tụy”, hết sức trung thành với nhiệm vụ, với Chính phủ, với quốc dân. Nhưng cũng có người hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư. Thậm chí dùng pháp công để báo thù tư, làm cho dân oán đến Chính phủ và Đoàn thể”(3). Người nhấn mạnh “những khuyết điểm trên, nhỏ thì làm cho dân chúng hoang mang, lớn thì làm cho nền đoàn kết lay động”. Vì vậy, “chúng ta phải lập tức sửa đổi ngay. Chúng ta không sợ có khuyết điểm, chúng ta chỉ sợ không có quyết tâm sửa đổi. Chúng ta phải lấy lòng chí công vô tư”. Hồ Chí Minh nghĩ tới những kế sách xây dựng một nhà nước thật sự trong sạch, vững mạnh, được lòng dân.

2. “Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu”(4)

Để khắc phục những khó khăn và hạn chế đó, Hồ Chí Minh đã đặt lên hàng đầu việc củng cố sự đoàn kết toàn dân, mà một trong những biện pháp quan trọng hàng đầu vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu dài là chính sách dùng người, “đem những người có danh vọng hoặc có tài cán ở địa phương vào giúp việc”, tìm người tài đức, chiêu hiền đãi sĩ, cầu người hiền tài. Theo Người, “việc dùng nhân tài, ta không nên căn cứ vào những điều kiện quá khắt khe. Miễn là không phản lại quyền lợi dân chúng, không là Việt gian, thân Pháp, thân Nhật, có lòng trung thành với Tổ quốc là có thể dùng được. Tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy”(5).

Ngày 19 – 9 – 1945, với bút danh Chiến Thắng, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài Chính phủ là công bộc của dân, đăng báo Cứu quốc số 45 phân tích rõ sự đảo lộn cách mạng giữa Chính phủ trước và sau cuộc khởi nghĩa 19-8-1945. Trước, nói tới hai chữ Chính phủ, người ta nghĩ ngay tới một bọn đầu đảng cướp nguy hiểm, xảo quyệt. Sau, nói tới Chính phủ, ai ai cũng đều có một cảm tình thân mật xen lẫn với một tôn kính sâu xa: Chính phủ đối với ta như người “anh cả” trong gia đình, một đồng chí phụ trách trong một địa phương, một người đứng mũi chịu sào ta có thể vững lòng trông cậy và gửi số mệnh vào.

Với quan điểm xuyên suốt “Chính phủ là công bộc của dân”, Hồ Chí Minh chỉ rõ “các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do hạnh phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”. Người khẳng định: “Các Ủy ban nhân dân làng, phủ là hình thức Chính phủ địa phương phải chọn trong những người có công tâm, trung thành, sốt sắng với quyền lợi dân chúng, có năng lực làm việc, được đông đảo nhân dân tín nhiệm. Không thể nhờ tiền tài hay một thế lực gì khác mà chui lọt vào các Ủy ban đó”(6).

Ngày 17-10-1945, Hồ Chí Minh viết bài “Bỏ cách làm tiền ấy đi” đăng trên báo Cứu quốc, số 69. Nội dung bài báo là đề cao Ủy ban nhân dân tổ chức theo một tinh thần dân chủ mới, khoa học, rất cấp tiến nên không thể “đè đầu bóp cổ”, hay dùng những thủ đoạn không chính đáng như làm tiền bằng cách bán ngôi thứ. Người viết: “Làm tiền bằng cách bán ngôi thứ tức là gây cho dân chúng có óc hiếu danh, trong khi cần phải trừ tiệt óc đó để gây cho mọi người có óc thiết thực, góp sức vào công cuộc giữ gìn và xây dựng đất nước… Bán ngôi thứ làm cho óc người ta đen tối thêm! Tiền lấy như vậy cũng là một thứ tiền phi nghĩa… Cách làm tiền đó có hại cho sự tiến hóa của dân, cần phải bỏ ngay đi, cũng như cần phải phủi đi hết những hủ tục khác như làm rượu ăn mừng được bầu vào Ủy ban”(7).

Cùng với việc phê phán việc mua chức bán quyền, đồng thời Hồ Chí Minh cũng chỉ ra những lỗi lầm khác rất nặng nề như “cậy mình ở trong ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao được vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân. Quên rằng dân bầu ra mình là để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế với dân… Ông ủy viên đi xe hơi, rồi bà ủy viên, cho đến các cô các cậu ủy viên, cũng dùng xe hơi của công. Thử hỏi những hao phí đó ai phải chịu?”(8).

Với một nhãn quan văn hóa chính trị sáng suốt, Hồ Chí Minh thấu suốt sự nghiệp kiến thiết cần phải có nhân tài. Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà. Chính phủ mới cần phải có những người có đức có tài để quản lý đất nước. Chế độ dân chủ cộng hòa phải khác hẳn về chất so với chế độ vua quan, thực dân đế quốc. Một trong những cái khác căn bản là quyền làm chủ, quyền dân chủ và quyền bầu cử của nhân dân để nhân dân lựa chọn ra những người thật sự có đức có tài để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Một ngày trước khi tổ chức Tổng tuyển cử để bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh có lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu. Người nói: “Ngày mai, là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ… Ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình… Ngày mai, dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình, và gánh vác việc nước… Ngày mai, mỗi người nên vui vẻ hưởng quyền lợi của một người dân độc lập, tự do”(9).

Phát biểu trong buổi lễ ra mắt ứng cử viên tổ chức tại Việt Nam học xá ngày 5- 1- 1946 Người nói: “Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không bầu. Ngày mai, không ai ép, không ai mua, toàn dân sẽ thực hiện cái quyền dân chủ ấy”(10).

Sau khi nước nhà được độc lập, nỗi quan tâm lớn nhất của Hồ Chí Minh là dân được hưởng tự do, hạnh phúc. Hạt nhân trong di sản của Người là chữ “DÂN”: “Đối với dân, ta đừng làm gì trái ý dân. Dân muốn gì, ta phải làm nấy”(11). Dân muốn có những cán bộ, đảng viên quyết tâm, suốt đời hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Dân muốn cán bộ phải đủ phẩm chất đạo đức, năng lực trí tuệ, bản lĩnh chính trị, phong cách công tác quần chúng, có như vậy thì mới làm tròn bổn phận là công bộc của dân. Dân muốn những cán bộ khi đạo đức và năng lực trí tuệ không tương thích với chức vụ, quyền hạn, không còn được dân tín nhiệm thì phải sẵn sàng, vui vẻ từ chức. Dân không muốn có những cán bộ “chỉ biết lên mà không biết xuống. Chỉ chịu được sướng mà không chịu được khổ. Chỉ ham làm chủ tịch này, ủy viên nọ, chớ không ham công tác thiết thực”(12).

3. Quản lý, điều hành đất nước cần phải có lớp trẻ

Hồ Chí Minh luôn luôn nói đi đôi với làm. Người là tấm gương sáng về người lãnh đạo, người đứng đầu ở vị trí cao nhất nhưng không tham quyền cố vị, luôn luôn đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết. Người tâm sự khi phải giữ trọng trách Chủ tịch nước: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá, trồng hoa. Sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”(13).

Tư tưởng và tấm gương “tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào” một lần nữa lại được Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố trước Kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I (31-10-1946): “Lần này là lần thứ hai Quốc hội giao phó cho tôi phụ trách Chính phủ một lần nữa. Việt Nam chưa được độc lập, chưa được thống nhất thì bất kỳ Quốc hội ủy cho tôi hay cho ai cũng phải gắng mà làm. Tôi xin nhận. Giờ tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới rằng: Hồ Chí Minh không phải là kẻ tham quyền cố vị, mong được thăng quan phát tài”(14).

Trong lời tuyên bố của Hồ Chí Minh, chúng ta chú ý rằng Người nhấn mạnh việc đảm nhận chức vụ trong một hoàn cảnh đất nước khó khăn, đầy gian khổ, hy sinh khi “Việt Nam chưa được độc lập, chưa được thống nhất”. Chức vụ đó là do Quốc hội (nhân dân) ủy thác thì phải gắng sức làm. Còn khi đồng bào đã cho lui thì lại vui vẻ trở về cuộc sống của một người dân bình thường, vui thú trong một “căn nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc, câu cá trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”.

Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về việc không tham quyền cố vị. Người thấy trước công việc xây dựng, tạo ra những cái mới mẻ tốt tươi là cả một cuộc chiến đấu khổng lồ; thắng bần cùng lạc hậu khó hơn nhiều so với thắng đế quốc phong kiến. Vì vậy, cần phải có lớp trẻ. Người nói: “Thế hệ già thua thế hệ trẻ mới là tốt. Các cháu không hơn là bệt. Bệt là không tốt. Người ta thường nói: “Con hơn cha là nhà có phúc”(15). Tất nhiên phải là lớp trẻ có đức có tài. Người phê phán quan điểm đưa lớp trẻ vào nhưng lại mong muốn là con cháu của mình. Người nói: “Con cháu mình là ai? Con cháu mình là tất cả, là thanh niên Việt Nam. Chứ không phải như thời phong kiến: Cha làm quan, con là cậu ấm. Con mình xấu thì đề bạt sao được”(16).

Nói chuyện với những đảng viên hoạt động lâu năm ở Nghệ An trong lần về thăm quê năm 1961, Người tâm sự: “Còn vấn đề lo cho con cháu các đồng chí. Cái đó là đúng. Nhưng, nếu là con tôi – à, tôi không có con – mà nó không có khả năng, nó xấu cũng phải dẹp lại. Không phải hễ cứ bố là cán bộ thì con là “cậu ấm”. Bố có việc của bố, con có việc của con. Cố nhiên, con của những đồng chí đã mất đi, Đảng phải lo. Nhưng bố mẹ nó đang còn, nó xấu, mà đòi hỏi đặc biệt chú ý, thì chú ý cái gì?”(17).

Để Chính phủ được lòng dân thì Chính phủ phải là công bộc, thật sự công bộc của dân theo nghĩa là hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Nhưng đồng thời Chính phủ cũng phải chọn được người có phẩm chất đạo đức, có năng lực trí tuệ, có bản lĩnh chính trị và phong cách làm việc quần chúng. Không thể chấp nhận trong Chính phủ có những người thiếu tâm, dưới tầm, nói nhiều làm ít, nói hay làm dở, có khuyết điểm nhưng không nhận, không dám chịu trách nhiệm, lại tham quyền cố vị. Cách đây hơn nửa thế kỷ, Hồ Chí Minh thấy trước được trong bộ máy quản lý đất nước, cần những người có tài năng thật sự, nếu kém thì phải loại ra. Người chỉ rõ: “Có người nay còn lãnh đạo đó, nhưng sau này tiến lên máy móc, nếu không biết kỹ thuật, có lãnh đạo được không? Nếu không biết, phải mời anh ra, cho người khác giỏi hơn vào làm chớ không phải như ngày xưa mà tưởng rằng: “sống lâu lên lão làng”(18).

65 năm trước, theo tiếng gọi của Hồ Chí Minh, cuộc bầu cử Quốc hội khóa I thành công tốt đẹp. Chúng ta đã tìm ra được những người thật sự có tài có đức, vì dân vì nước vào Quốc hội và Chính phủ. Hy vọng dưới ánh sáng Đại hội XI, học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tinh thần dân chủ, trách nhiệm và sáng suốt đó lại được thể hiện rõ nét ở kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 để đất nước có được những người thật sự có tài, có đức quản lý đất nước, tạo được niềm tin của nhân dân, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững, vững bước tiến vào thập niên thứ hai của thế kỷ XXI./.

1), (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (10), (11), (13), (14), Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1995, t.4, 7, 20, 21, 147, 39, 22, 54-55, 57, 145-146, 147, 148, 161, 427
12) Sđd, t.5, tr.255
(15) (16), (17), (18), Sđd, t.10, tr.465, 465, 469, 469

Theo tuyengiao.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

“Vào Quốc hội không phải để làm quan…”

Các ứng cử viên ĐBQH khóa I trong lễ ra mắt cử tri tại Việt Nam học xá (nay là trường Đại học Bách khoa Hà Nội). (Ảnh tư liệu trong sách ảnh 60 năm chính phủ Việt Nam của Nhà xuất bản Thông Tấn).

Là người kiến tạo ra nền chính trị Việt Nam hiện đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh ý thức được tầm quan trọng của Quốc hội trong một thể chế dân chủ – cộng hòa được khẳng định từ rất sớm trong cương lĩnh Cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam.

Người lãnh đạo càng phải gương mẫu

Có thể nói không chỉ những vấn đề lý luận mà ngay cả kỹ năng tổ chức Quốc hội và kỹ năng thực thi trách nhiệm của một Đại biểu Quốc hội cũng được Bác rất quan tâm. Bác đặc biệt quan tâm đến việc làm sao một tổ chức chính trị của một đảng cách mạng và một quần chúng mới thoát ra khỏi thân phận là thần dân của chế độ phong kiến, thuộc dân của chế độ thuộc địa có thể bắt kịp với một cuộc bầu cử và đưa vào vận hành một thể chế chính trị tiên tiến như Quốc hội. Bác rất ý thức được tâm thế của người phương Đông là tính gương mẫu của người cầm quyền của các nhà lãnh đạo. Vì thế Bác luôn tự mình làm gương cho mọi người.

Để bảo đảm mối đoàn kết toàn dân, tháng 11-1945, theo chủ trương của Bác, Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố “tự giải tán”, thực chất là rút vào hoạt động không công khai, chỉ có một bộ phận công khai mang tên tổ chức “Hội Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác”. Khi ra ứng cử Bác cũng không lấy danh nghĩa này mà ứng cử với danh nghĩa “Đảng Quốc dân”. Thực chất chưa hề thành lập một tổ chức chính trị như thế nhưng có thể đấy là cách Bác cụ thể hóa tư tưởng đã từng tuyên bố công khai: “Đối với tôi chỉ có một đảng là Đảng Việt Nam tập hợp tất cả mọi người Việt Nam chỉ trừ hai hạng người là kẻ phản quốc và tham nhũng…”.

Nhà sử học Dương Trung Quốc.

Bác dạy ta “bài học vỡ lòng” về dân chủ

Chủ tịch Hồ Chí Minh ứng cử tại Hà Nội. Khi ấy, 118 vị chủ tịch UBND và tất cả các đại biểu làng xã tại Hà Nội đề nghị Bác “miễn phải ứng cử” và suy tôn làm chủ tịch vĩnh viễn nhưng Bác đã từ chối. Đấy là bài học vỡ lòng về “dân chủ” mà Bác muốn truyền cho nhân dân về nguyên lý: Mọi công dân đều bình đẳng và tuân thủ pháp luật. Nó cũng biểu hiện tính gương mẫu của người lãnh đạo vì lúc này Bác đang là chủ tịch Chính phủ lâm thời cũng được bầu ra từ một “Quốc dân đại hội” (họp trên Tân Trào) – là một hình thức sơ khai, tiền thân của Quốc hội.

Tôi muốn trích lại một đoạn trong thư trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ngày 15-12-1945: “Tôi rất cảm động thấy toàn thể đồng bào ngoại thành Hà Nội đã có lòng quá yêu tôi… Nhưng tôi là một công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên không thể vượt qua thể lệ tổng tuyển cử đã định. Tôi đã ứng cử ở Thành phố Hà Nội nên không thể ra ứng cử ở nơi nào khác nữa…”.

Tại kỳ họp thứ hai (từ ngày 23-10 đến 9-11-1946), trong buổi khai mạc, Đại biểu Quốc hội tỉnh Rạch Giá là ông Nguyễn Văn Tạo (sau này từng làm Bộ trưởng Bộ Lao động) đã thay mặt các đại biểu Nam Bộ đưa ra đề nghị Quốc hội suy tôn Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Người công dân số 1” của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Đây là cách vinh danh mà nhiều nước tiên tiến đã sử dụng và được toàn thể Quốc hội đồng tình tán thành. Đó cũng là sự xác nhận một sự thực lịch sử là Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là người đã lựa chọn và xác lập thể chế cộng hòa – dân chủ của nước Việt Nam độc lập.

Đặt mục tiêu đại đoàn kết lên hàng đầu

Ta có thể đọc rất nhiều bài viết hay và sâu sắc của Bác về Quốc hội và vai trò Đại biểu Quốc hội. Tôi muốn nhấn mạnh đến sự lựa chọn và thiết lập một thể chế chính trị phù hợp với Việt Nam của Bác, khi cách mạng đã giành được chính quyền.

Bác đã từng say mê với lý tưởng “tự do-bình đẳng-bác ái” của cách mạng Pháp; Bác cũng từng khâm phục tư tưởng về một nhà nước “của dân, do dân, vì dân” của A. Lincohn và thể chế nghị viện của Mỹ; Bác cũng từng trải nghiệm chế độ Xô Viết ở Liên Xô và thời Quảng Châu công xã ở Trung Quốc. Cuối cùng Bác lựa chọn chế độ cộng hòa dân chủ. Đây là một thể chế chính trị gắn với học thuyết “Tam Dân” của Tôn Trung Sơn, một nhà dân chủ Trung Hoa đã tiếp thu và phương Đông hóa những tư tưởng chính trị phương Tây mà hạt nhân là của Mỹ. “Tam Dân” gắn với ba mục tiêu: dân tộc độc lập, dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc.

Tuy nhiên, Bác cũng vận dụng phù hợp với hoàn cảnh của dân tộc Việt Nam khi đặt mục tiêu đại đoàn kết lên hàng đầu. Do vậy mà Quốc hội Việt Nam luôn coi trọng tính đại diện của mọi tầng lớp nhân dân. Bác chủ động mời hay vận động nhiều đối tượng mà sự có mặt của họ trong Quốc hội có lợi hơn là để họ đứng ngoài, ví như Cựu hoàng Bảo Đại, nhiều vị quan lại cao cấp của chế độ cũ, các trí thức tiêu biểu… Thậm chí những người đối lập Bác cũng tìm mọi cách vận động tham gia Quốc hội.

Nhiều người hay nhắc đến việc tại kỳ họp đầu tiên, 70 đại biểu một số đảng phái đối lập từng chống phá Việt Minh tham gia Quốc hội. Đúng là họ đòi chia quyền, tẩy chay bầu Quốc hội. Nhưng Quốc hội bầu rồi Bác vận động họ tham gia và vận động cả Quốc hội cho phép họ tham gia. Thực tế cho thấy họ tham gia trong khuôn khổ hoạt động Quốc hội khiến họ khó chống đối hơn, thậm chí có một số vị đã ngả dần theo nhân dân. Đến kỳ họp sau (tháng 10 và 11-1946), khi quân Tưởng đã rút và ta đã ký Hiệp định Sơ bộ thì tự động họ bỏ cuộc… Đó không chỉ là nước cờ cao tay mà thực sự là một cách làm chính trị chính nghĩa.

Vào QH để đóng góp, hy sinh

Tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa I, người điều khiển do một vị nhân sĩ Thiên Chúa giáo đảm nhiệm vì là người cao tuổi nhất; dân chúng được vào xem Quốc Hội (ngồi trên tầng trên cùng của Nhà hát Lớn)… Tức là đúng như những tập quán của các nước dân chủ tiên tiến khi đó.

Bầu cử với số dư rất lớn, Hà Nội chọn có sáu đại biểu từ 72 ứng cử viên. Người được bầu làm trưởng Ban Thường trực (Chủ tịch) cũng là một nhân sĩ, một nhà sử học – cụ Nguyễn Văn Tố. Chính cụ đã nêu tấm gương kiên cường chấp nhận hy sinh khi giặc Pháp bắt được (1947). Và trước đó, ngay trong ngày mở đầu Toàn quốc kháng chiến, bác sĩ Nguyên Văn Luyện, cũng là một Đại biểu Quốc hội đã bị Pháp sát hại ngay tại Thủ đô… Quốc hội có sức mạnh, có uy tín vì như Bác nhắc nhở và kỳ vọng rằng “Vào Quốc hội không phải để làm quan, để phát tài mà là để đóng góp, hy sinh, thực sự làm đầy tớ nhân dân…”.

Theo phapluattp.vn
Phương Thúy (st).

bqllang.gov.vn

Nhân cách người cán bộ lãnh đạo quân đội

Trong cuộc đời hoạt động và lãnh đạo cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm đặc biệt đến vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, cán bộ lãnh đạo, nhất là cán bộ lãnh đạo quân đội. Hệ thống quan điểm và tư tưởng của người về xây dựng phẩm chất và năng lực, nhân cách cho đội ngũ cán bộ nói chung, đội ngũ cán bộ quân đội nói riêng chứa đựng những nội dung lý luận sâu sắc và ý nghĩa thực tiễn lớn lao. Trong đó tư tưởng và quan điểm của người về vấn đề năng lực luôn có tác dụng định hướng và chỉ đạo việc bồi dưỡng nâng cao năng lực của cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ quân đội nhất là trong giai đoạn hiện nay. Nhân cách của người cán bộ trong hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay là sự tổng hòa các yếu tố về phẩm chất và năng lực, trong đó nổi lên là vấn đề năng lực và đạo đức. Việc rèn luyện nhân cách người cán bộ lãnh đạo, quản lý là một nhiệm vụ then chốt, thường xuyên của công tác cán bộ.

Như mọi người cán bộ trong toàn bộ hệ thống chính trị của đất nước, người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy trong lĩnh vực quân sự, lĩnh vực luôn đòi hỏi phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc, quy định, chế độ của quân đội, lĩnh vực bao gồm những cán bộ, đảng viên, chiến sĩ tiêu biểu trên mặt trận củng cố quốc phòng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ nhân dân, thì càng phải thể hiện đầy đủ những phẩm chất nhân cách cần thiết đó. Cán bộ lãnh đạo, chỉ huy trong lĩnh vực quân sự còn phải thể hiện là những người tiêu biểu cho “nhân, trí, dũng, tín, liêm, trung”; thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, tư cách của người cầm quân; coi trọng giữ gìn, phát huy bản chất, truyền thống của quân đội cách mạng; không ham danh lợi, chức quyền.

Theo chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân cách người cán bộ thể hiện trước hết ở lòng “trung với nước, hiếu với dân”.Người coi trung với nước, hiếu với dân là một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất của đạo đức cách mạng và là yếu tố cơ bản của nhân cách người cán bộ, đảng viên. Trong điều kiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, trung với nước là dám xả thân vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, dẫu biết rằng đi làm cách mạng thì có thể bị tù đày, nhiều gian khổ, thậm trí hi sinh cả tính mạng. Ngày nay, trong hòa bình xây dựng, những điều kiện ấy không còn, nhưng những thử thách không kém phần nghiệt ngã vẫn còn đó đối với người cán bộ lãnh đạo. Có người không hy sinh bởi mũi tên, hòn đạn trong cuộc chiến đấu khốc liệt để bảo vệ Tổ quốc, nhưng trong hòa bình xây dựng lại bị “chết” bởi những “viên đạn bọc đường”, sa vào tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu – những căn bệnh mà Hồ Chí Minh coi là “giặc nội xâm”, thứ giặc ở trong lòng, nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm.

Trung với nước là phải đặt quyền lợi của Tổ quốc, của Đảng lên trên hết, trước hết. Người cán bộ lãnh đạo là người giữ trọng trách trong bộ máy của hệ thống chính trị càng cần có đức tính hy sinh cho lợi ích của Đảng, của Tổ quốc. Điều này càng đặc biệt quan trọng trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khi các lợi ích đặt ra cho mọi người, trong đó có lợi ích cá nhân trong mối quan hệ với lợi ích của tập thể và lợi ích của Tổ quốc. Theo Hồ Chí Minh cho rằng, không có chế độ nào tôn trọng con người, chú ý đến lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thỏa mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Trong lợi ích của Đảng, của Tổ quốc, có lợi ích của cá nhân mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: vào Đảng là tự nguyện; nếu vào Đảng mà sợ hy sinh thì đừng vào Đảng hoặc khoan hẵng vào, để khi nào rèn được đức tính hy sinh rồi hãy vào. Mọi người, kể cả những cán bộ lãnh đạo, quản lý được khuyến khích làm giàu, nhưng đó là làm giàu chính đáng, chứ không phải làm giàu với bất cứ giá nào, làm giàu bất chấp đạo lý, làm giàu bằng tham nhũng, dùng mọi biện pháp kể cả vi phạm pháp luật để làm giầu, lấy của công làm của riêng đặt lợi ích của riêng mình lên trên tập thể.

Thực hiện đúng quan điểm của Hồ Chí Minh: “Đảng, Chính phủ, cán bộ, đảng viên là công bộc của dân, vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”. Sức mạnh của Đảng, của cả hệ thống chính trị là lấy từ nơi dân, cho nên dân luôn luôn là gốc của cách mạng, đúng như Hồ Chí Minh đã nêu và sau này, Đại hội VI của Đảng năm 1986 đã tổng kết. Chúng ta không thể chấp nhận tình trạng hiện nay ở không ít nơi, không ít người trong bộ máy của hệ thống chính trị xa dân, không tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, mị dân, theo đuôi quần chúng. Người cán bộ phải luôn thấm nhuần quan điểm của Hồ Chí Minh: “việc gì có lợi cho dân dù nhỏ cũng cố làm; việc gì có hại cho dân dù nhỏ cũng cố tránh”; phải làm cho dân giác ngộ; chớ có “vác mặt quan cách mạng” để “đè đầu cưỡi cổ nhân dân”; đừng có tưởng cứ “dán lên trán hai chữ cộng sản” là dân tin, dân yêu, dân kính, dân phục mà phải thực sự yêu dân, kính dân.

Còn “hiếu với dân” là bao hàm cả hiếu với cha mẹ, có tình yêu thương trong gia đình, nghĩa là có một “đời tư trong sáng”. Trong khái niệm “nhân cách” của một con người, thường người ta hiểu có điểm nhấn về mặt này nhiều hơn. Đứng trước dân, đang ở vị trí lãnh đạo, quản lý mà người cán bộ, đảng viên nêu gương xấu, gương mờ trong đời tư (chẳng hạn như tư cách đạo đức, lối sống không tốt; tác phong, phong cách chưa tốt; con cái hư; bản thân thì chưa đối xử tốt với vợ (chồng) con, với ông bà, cha mẹ, với anh em, v.v.) thì tất yếu sẽ dẫn đến tình trạng không lãnh đạo, quản lý được ai một cách thực chất; nói không ai nghe, làm không ai theo, là đạo đức giả, gây phản cảm. Hiếu với dân không ở đâu xa, mà trước hết chính ngay ở trong gia đình, họ tộc, xóm giềng của bản thân người cán bộ lãnh đó.

Nhân cách của người cán bộ lãnh đạo, quản lý còn biểu hiện ở đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư – điều mà Hồ Chí Minh rất coi trọng trong việc rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.

Cần, theo quan điểm của Hồ Chí Minh ngoài việc đòi hỏi người cán bộ phải cần cù, siêng năng, chịu khó, biết vượt qua khó khăn, gian khổ để làm việc, còn là yêu cầu tăng năng suất lao động. Đây là một quan điểm hợp với nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lê-nin khi coi năng suất lao động chính là một điều kiện cốt yếu để chủ nghĩa xã hội chiến thắng chủ nghĩa tư bản. Năng suất lao động của mỗi cá nhân là điều kiện để tạo thành năng suất lao động xã hội, nhưng điều đó mới chỉ nói lên phần nào sự phát triển kinh tế, chứ chưa phản ánh được nhiều tăng năng suất lao động xã hội. Đức tính “cần” của người cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay là phải chú ý tới hiệu quả, chất lượng công tác, phải đo được bằng kết quả cụ thể của từng người, từng ngành, từng địa phương, từng đơn vị.

Kiệm, theo Hồ Chí Minh, đó là tiết kiệm. Đáng chú ý là tình trạng lãng phí ở nước ta hiện nay diễn ra khá nặng và đang có chiều hướng nghiêm trọng hơn. Hồ Chí Minh chỉ rõ: cần phải đi đôi với kiệm; cần mà không kiệm thì tiền như “gió vào nhà trống”. Thực tế hiện nay, lãng phí biểu hiện ở nhiều mặt: lãng phí tiền của trong đầu tư; lãng phí trong chi tiêu; lãng phí thì giờ, v.v.. Điều đáng chú ý nhất, đáng nhấn mạnh nhất trong quan điểm này của Hồ Chí Minh là ở chỗ, kiệm không có nghĩa là bủn xỉn, mà là việc gì đáng chi thì phải chi, việc gì chưa đáng chi thì khoan hẵng chi, việc gì không đáng chi thì dứt khoát không chi. Đây chính là bài học cơ bản nhất, lâu dài nhất, cần phải học cả đời người, đối với mọi đối tượng, từ con người bình thường và càng đặc biệt hơn đối với người cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước và Quân đội. Ngày nay, đời sống đã được cải thiện đáng kể so với trước đây, nhưng những nội dung cơ bản mà Hồ Chí Minh nêu ra trên đây còn nguyên giá trị, kể cả sau này khi nước ta đã trở nên giàu có, mỗi người, mỗi gia đình đều khá giả hơn. Người cán bộ lãnh đạo, quản lý là những người nắm quyền, nắm tiền, nếu không chịu rèn luyện đức tính tiết kiệm theo quan điểm và tấm gương của Hồ Chí Minh thì rất dễ bị tha hoá nhân cách.

Liêm, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đức “liêm” của con người ta là điểm để phân biệt con người với con vật. Liêm là liêm khiết, là trong sạch, không tham ô, tham lam (cả tiền bạc, địa vị,v.v..). Đức tính liêm khiết là một biểu hiện rất rõ của nhân cách con người. Trong hoàn cảnh hiện nay, người cán bộ không những cần rèn cho mình đức tính không tham lam, không tham nhũng mà còn phải đấu tranh không khoan nhượng chống lại những biểu hiện tham nhũng. Hồ Chí Minh gọi tham ô, lãng phí, quan liêuvới đúng nghĩa của nó là “giặc nội xâm”. Chúng ta cần chú ý cách gọi của Người; nếu coi tham nhũng là “nạn” hay mạnh hơn là “quốc nạn”, thì phải dùng phương pháp chống nạn, quốc nạn; còn đã gọi đó là giặc thì phải dùng phương pháp chống giặc. Điều chú ý nữa trong vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề này là phải đề phòng và khắc phục bệnh tham danh vọng, địa vị. Trong thực tế, đã có không ít người tìm mọi cách “hạ bệ” nhau, nói xấu nhau, kèn cựa, níu kéo nhau, nịnh bợ, cơ hội,… trong công tác cán bộ, công tác nhân sự để kiếm chác chức vụ. Với những biện pháp, thủ đoạn để có được chức vụ này nọ hay gọi là “chạy chức, chạy quyền”, thì đó là điều đáng báo động về nhân cách người cán bộ, đảng viên.

Chính, theo quan điểm của Hồ Chí Minh là không tà, là thẳng thắn; việc thiện dù nhỏ cũng cố làm, việc ác dù nhỏ cũng cố tránh. Rèn luyện đức tính “chính” theo quan điểm của Hồ Chí Minh cũng có nghĩa là người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có thái độ rõ ràng, trong cuộc sống và công tác luôn yêu cái thiện, ghét cái ác; luôn hành động, làm gương cho mọi người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính. Mình không chính mà muốn người khác chính là vô lý”.

Chí công vô tư là một đức tính nữa của nhân cách người cán bộ, đảng viên mà Hồ Chí Minh đề cập. Chí công vô tư là chống chủ nghĩa cá nhân – một thứ bệnh mà Hồ Chí Minh cho đó là “bệnh mẹ” đẻ ra muôn vàn “bệnh con”. Rèn đức tính này theo gương Hồ Chí Minh, người cán bộ phải luôn có ý thức và hành động chăm lo đến lợi ích của Đảng, của Tổ quốc. Với bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ coi chức Chủ tịch nước của mình là do dân uỷ thác và mình phải có bổn phận làm tròn cái sự uỷ thác đó. Trong điều kiện hiện nay, người cán bộ phải vừa tôn trọng tập thể, bảo đảm dân chủ, người cán bộ phải dám làm, dám chịu trách nhiệm, có tính quyết đoán mới có thể hoàn thành tốt mọi công việc và nhiệm vụ được giao.

Người cán bộ thể hiện ở thường xuyên nói đi đôi với làm. Đạo đức cách mạng không phải cứ tự nhiên mà có, mà phải là kết quả của sự rèn luyện thường xuyên trong suốt cuộc đời. Tự giác, tự nguyện, tự tu dưỡng nhân cách phải trở thành nếp sống hằng ngày của người cán bộ. Hồ Chí Minh quan niệm: “một con người hôm qua là vĩ đại, được mọi người yêu mến thì hôm nay không còn là vĩ đại nữa, nếu lòng mình không trong sáng”.

Nhân cách của người cán bộ còn biểu hiện ở mối quan hệ thống nhất giữa nói và làm, điều mà trong tác phẩm Đường cách mệnh, Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Nói thì phải làm”. Hiện nay, có không ít cán bộ chỉ nói mà không làm, nói nhiều làm ít, nói một đằng làm một nẻo. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về nói đi đôi với làm; Người còn làm nhiều hơn nói. Là người cán bộ mà nói không đi đôi với làm thì sẽ bị sa vào lối đạo đức giả, phản tác dụng trong việc thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị.

Đảng, Nhà nước, nhân dân ta đang tiến hành sự nghiệp đổi mới đất nước. Đất nước ta đang cần những tấm gương mẫu mực, luôn biết học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và chỉ có như vậy người cán bộ lãnh đạo nói chung, cán bộ lãnh đạo quân đội nói riêng sẽ tạo nên sức mạnh của toàn hệ thống chính trị thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Người giữ chức vụ càng cao, trọng trách càng lớn càng phải đòi hỏi nhiều hơn về nhân cách, tư tưởng, phong cách. Nếu không là tấm gương sáng thì người cán bộ không thể nào lãnh đạo được quần chúng, đó là sự thật, là những điều đơn giản mà ai cũng có thể nhìn thấy.

Tâm Trang

bqllang.gov.vn

Một danh nhân văn hoá có tầm nhân loại

Đã có nhiều cuốn sách viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng tác phẩm “Hồ Chí Minh – danh nhân văn hóa” của Đào Phan (NXB Văn hóa Thông tin, 2005) có vị trí khá đặc biệt, trước hết vì “xuất xứ” của nó. Chính đồng Vũ Kỳ, thư ký riêng của Hồ Chủ tịch, đã tin cậy chọn Đào Phan là người viết công trình “Hồ Chí Minh – Danh nhân văn hóa” để kịp công bố vào dịp UNESCO tổ chức Hội thảo về “Danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh” tại Hà Nội. (Theo hồi ký của Phan Bội Hoàn, người bạn đời của Đào Phan).

Có lẽ cũng nên giới thiệu đôi dòng về tác giả cuốn sách. Đào Phan tên thật là Đào Duy Dếnh, sinh ngày 10/7/1920, quê quán Khúc Thuỷ, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống yêu nước. Anh ruột của ông là học giả Đào Duy Anh, tham gia Đảng Tân Việt – tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam – đã được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh; chị Đào Thị Quyền, là cơ sở của cách mạng, các đồng chí Nguyễn Văn Linh, nguyên Tổng Bí thư, Trần Đình Tri nguyên Thường trực Quốc Hội… từng được gia đình chị che chở; anh Đào Duy Kỳ vào Đảng Cộng sản từ năm 1936, từng làm việc trực tiếp với các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Trường Chinh…, có lúc là Quyền Bí thư Xứ uỷ Bắc kỳ, từng bị tù ở Hoả Lò, Sơn La, Côn Đảo, sau làm Trưởng ban Huấn học Trung ương…; cô em út Đào Thị Đính hoạt động bí mật cùng đồng chí Tố Hữu, từng ngồi tù 5 năm tại Huế, sau 1945 là Thành uỷ viên Huế, rồi Trưởng ban Tổ chức TW Hội Phụ nữ Việt Nam… Từ trước Cách mạng Tháng Tám, lúc 16 tuổi, ông đã tham gia chống Pháp trong phong trào thanh niên, học sinh ở Huế; năm 1937 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam; năm 1941 là Bí thư Hà Nội, từng bị thực dân Pháp bắt và lưu đày tại nhiều nhà tù ở Thừa Thiên, Phan Rang, Hỏa Lò, Sơn La, Côn Đảo. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, thoát khỏi ngục tù đế quốc, ông được đồng chí Nguyễn Chí Thanh cử làm Đội trưởng Đội Tuyên truyền xung phong Việt Minh Trung Bộ, tập hợp những thanh niên trí thức đi đến tận những vùng rừng núi, những thôn xóm xa xôi hẻo lánh diễn thuyết, diễn văn nghệ tuyên truyền cho chính phủ Cụ Hồ…Từng viết báo “Suối Reo” – tờ báo của các chiến sĩ cộng sản trong nhà tù Sơn La, năm 1947, ông được Trung ương điều ra phụ trách Nhà xuất bản và báo “Quân du kích” – tiền thân của NXB và báo “Quân đội nhân dân” hôm nay…
Năm 2005, cùng một lúc, cả 3 công trình nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh của ông được xuất bản nhân kỷ niệm 115 năm ngày sinh của Người. (Ngoài tác phẩm kể trên, là 2 cuốn “Hồ Chí Minh – một nhân cách lớn” – NXB Văn hóa thông tin, 510 trang và “Đạo Khổng trong văn Bác Hồ”, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 375 trang).

Về tác phẩm “Hồ Chí Minh – danh nhân văn hóa” đồng Vũ Kỳ đã trân trọng viết Lời giới thiệu như sau:

“…Cuốn “Hồ Chí Minh – Danh nhân văn hóa” đã được viết bằng công phu nghiên cứu của tác giả trong hai chục năm qua…Là một người phục vụ Bác Hồ lâu năm, tôi càng sung sướng khi thấy cuốn sách đã nêu được những đường nét sống động và chân thật của Người…” 

Nhận xét nêu trên đã nói lên phần nào giá trị của công trình. Cuốn sách gồm có 5 chương: Hồi tưởng về một dự báo; Nền văn hoá mới; Triết nhân và nghệ sĩ; Chiến lược con người – nhà giáo dục; Truyền thống và hiện đại. Qua 5 chương sách, với hàng trăm dẫn chứng cụ thể và sinh động – trong đó có ý kiến của nhiều trí thức, văn nghệ sĩ nổi tiếng thế giới nhận xét, ca ngợi những phẩm cách đặc biệt về nhiều phương diện của Hồ Chí Minh, từ khi Người còn là chàng trai Nguyễn Ái Quốc đi tìm đường cứu nước đến lúc trở thành vị lãnh tụ tối cao của dân tộc – tác giả đã chứng minh một cách thuyết phục Hồ Chí Minh thật sự là một danh nhân văn hoá có tầm nhân loại. Đạt được điều đó, trước hết là nhờ công phu sưu tầm tài liệu của tác giả, nhưng quan trọng hơn là nhờ tác giả có cách nhìn mới mẻ và đúng đắn, xứng tầm với vĩ nhân, vượt qua được cách nghĩ hạn hẹp, công thức khi nêu gương một nhà cách mạng. Chỉ cần đọc mấy trang đầu, khi tác giả dẫn bài viết của nhà thơ Liên Xô Ô-xíp Man-đen-xtam sau khi gặp Người năm 1923 đủ rõ: “…Cả diện mạo của Nguyễn Ái Quốc toát lên sự lịch thiệp và sự tế nhị. Từ Nguyễn Ái Quốc toả ra một nền văn hoá, không như văn hoá châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hoá tương lai…Qua cử chỉ cao thượng và tiếng nói trầm lắng của Nguyễn Ái Quốc, tôi thấy được ngày mai, thấy được viễn cảnh trời yên bể lặng của tình hữu ái toàn thế giới bao la như đại dương…”. Tác giả Đào Phan đã nhấn mạnh: Quả rất đáng ngẫm nghĩ khi nhà thơ nước Nga vốn chủ định tới thăm một “Chiến sĩ quốc tế” nhưng“vừa gặp gỡ đã nhận diện được ngay một con người Việt Nam, ở sự giản dị và thanh lịch, chuộng nếp điều độ và ghét thói thái quá…những nét truyền thống văn hoá lâu đời của một diện mạo dân tộc…” 

Và gần 10 năm sau, trước sự kiện vị luật sư và bà vợ Tổng đốc nước Anh tư bản ở Hương cảng (Hồng Công) cùng góp sức cứu “Ông Nguyễn”, tác giả đã viết: “…Trong những trường hợp như thế không ai nhìn nhận con người qua những dáng dấp giai cấp. Lòng tin của nhà cách mạng quốc tế đối với một vị luật sư Hoàng gia, và ngược lại, lòng tin của vị luật sư Hoàng gia đối với nhà cách mạng quốc tế, phải chăng đều đã bắt nguồn từ “nhân tính” hoặc “nhân tình”?… Nếu không do những tín hiệu nào đó của nền văn hoá toả ra từ một con người mắc cạn, thì điều gì đã thuyết phục cả người phụ nữ sang trọng ấy có thể dùng ngay chiếc ca-nô của chồng mình để bí mật đưa nhà cách mạng Việt Nam đi thoát khỏi vòng vây của mật thám Đông Dương…” 
Một điểm đáng chú ý nữa của tác phẩm là tác giả đã phân tích những giá trị văn hoá, truyền thống tốt đẹp của dân tộc từ Nguyễn Trãi, đến Phan Bội Châu…, cũng như những giá trị văn hoá của nhân loại đã thể hiện trong danh nhân văn hoá Hồ Chí Minh như thế nào; nói cách khác, chính nhờ Người biết tiếp thu và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc và biết thu nhận, kết hợp những tinh hoa văn hoá của nhân loại, chứ không độc tôn thờ một “Ông Thánh” nào, nên mới trở thành “danh nhân văn hoá Hồ Chí Minh”.

Tác giả cũng đã nêu bật được nét đặc sắc của “văn hoá” Hồ Chí Minh là nói đi đôi với làm; bằng những hoạt động và cách cư xử hàng ngày, Người đã nêu một tấm gương cụ thể và sinh động. Chỉ xin dẫn một ví dụ: Nhân Quốc khánh 2/9/1955, một thương binh từ miền Nam ra, được mời dự chiêu đãi tại Phủ Chủ tịch. Tên thật của anh là Nguyễn Trản, bị cụt mất hai tay khi phụ trách một xưởng quân giới rất thô sơ tại Nam Bộ thời chống Pháp, nên còn có bí danh là Vương Nhị Chi. Trong lúc chờ đợi, anh hỏi thăm lối đi tới nhà vệ sinh. Với hai cánh tay cụt, anh đang loay hoay chưa biết tính sao thì bỗng nghe tiếng hỏi nhẹ nhàng sau lưng: “Chú làm sao cởi khuy?…” Anh còn lúng túng chưa biết trả lời ra sao thì một ông già bước tới cởi khuy giúp anh rồi đứng tránh sang một bên, chờ anh tiểu tiện xong rồi lại lặng lẽ đến cài khuy giúp. Ông già ấy là vị Chủ tịch Nước. Thì ra đúng lúc anh hỏi thăm lối vào nhà vệ sinh đã tình cờ gặp Người. Sau khi dẫn anh trở lại phòng lễ tân, Hồ Chủ tịch liền nghiêm khắc quở trách mấy cán bộ hồi nãy “chỉ trỏ” bàn tán khi anh đi vào nhà vệ sinh: “Người ta mất cả hai cánh tay, mà không ai đi theo giúp đỡ…” 

Không chỉ nêu gương, Người đã tổ chức, phát động mọi người cùng làm theo, tạo nên diện mạo một nền “văn hoá mới” của đất nước. Vì thế, tuy Người “đi xa” đã mấy chục năm qua, những giá trị văn hoá Người để lại không chỉ hiện diện trên những trang sách của Đào Phan mà còn toả sáng trên mỗi bước đường cách mạng của dân tộc, của đất nước Việt Nam đang không ngừng đổi mới, “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như Người đã từng mong đợi.

Nguyễn Khắc Phê

cpv.org.vn

Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng

Ngày 4-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định về thực trạng nhân sự hành chính của chính quyền Nhà nước lúc đó như sau: “Về cán bộ hành chính ta phải thú nhận là thiếu rất nhiều, người đi tiền tuyến, người chiến đấu thì có, người ngồi bàn giấy làm việc thì rất hiếm”. Người cho rằng: “Vô luận việc gì đều do người làm ra”. Từ quan niệm này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi tới kết luận: “Có cán bộ tốt việc gì cũng xong. Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý. Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”.

Hiện nay, thực trạng nhân sự hành chính vẫn còn nhiều bất cập. Tại phiên thảo luận về tình hình kinh tế – xã hội của Quốc hội khóa XII vừa qua, nhiều đại biểu Quốc hội đã tỏ ra bức xúc với những vướng mắc trong việc bổ nhiệm, đề bạt hay thuyên chuyển cán bộ. Một đại biểu cho biết: “Thực tế để bổ nhiệm được một cán bộ vào vị trí lãnh đạo phải qua nhiều bước, nhiều cấp xem xét, nhưng con voi vẫn lọt qua lỗ kim, cũng chính vì thế nên việc thuyên chuyển kỷ luật, cách chức một cán bộ công chức vô cùng khó khăn, phức tạp, mặc dù sai phạm và trì trệ của họ đã quá rõ ràng. Có nhiều trường hợp cấp trên đã chỉ đạo bằng văn bản, nhất là trong lĩnh vực giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân nhưng cấp dưới không thực hiện để công dân phải khiếu kiện vượt cấp, thử hỏi tại sao trên nói dưới không nghe, nhưng vẫn không bị xử lý?”.

Cũng tại phiên thảo luận, một số đại biểu cùng chung ý kiến cho rằng, một bộ máy hành chính mạnh là khi người đứng đầu có đủ mọi quyền hành để xử lý kỷ luật cấp dưới của mình. Như vậy thì người làm được việc sẽ nhanh chóng được cất nhắc đề bạt và những người sai phạm mới kịp thời bị thay thế. Quốc hội cần xem xét bổ sung sửa đổi các luật có liên quan đến bộ máy Nhà nước. Trong đó thể chế hoá thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu các cấp được quyền giới thiệu, cất nhắc, bổ nhiệm và xử lý cán bộ dưới quyền kèm theo đó là một hệ thống giám sát chặt chẽ có hiệu quả của Quốc hội và Hội đồng nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói rằng, muốn dùng cán bộ đúng, người cán bộ lãnh đạo cần có “5 phải”: “Phải có độ lượng vĩ đại thì mới có thể đối với cán bộ một cách chí công vô tư, không có thành kiến, khiến cho cán bộ không bị bỏ rơi; Phải có tinh thần rộng rãi mới có thể gần gũi với người mình không ưa; Phải có tính chịu khó dạy bảo mới có thể nâng đỡ những đồng chí còn kém, giúp họ tiến bộ; Phải sáng suốt mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây mà cách xa cán bộ tốt; Phải có thái độ vui vẻ thân mật, các đồng chí mới vui lòng gần gũi mình”.

Bác từng dạy, muốn có cán bộ tốt thì phải có chế độ đãi ngộ, quan tâm xứng đáng. Thế nhưng, hiện nay lại có không ít ý kiến bức xúc trước những bất cập về chế độ, chính sách đối với cán bộ cơ sở, về kinh phí, phương tiện và điều kiện làm việc. Tại phiên thảo luật về tình hình kinh tế-xã hội của Quốc hội ngày 29-10, một đại biểu đã nói: “Hiện không ít cán bộ không chuyên trách ở cơ sở giữ nhiều vị trí quan trọng nhưng chỉ được hưởng chế độ phụ cấp ở mức rất thấp, không đủ nuôi sống bản thân. Chế độ chính sách như vậy không động viên khuyến khích được cán bộ công tác ở cơ sở. Anh chị em tâm tư, thắc mắc, gây khó khăn cho việc điều hành bố trí cán bộ, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hiệu quả hoàn thành công việc, nhiệm vụ ở cơ sở”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn cán bộ tốt thì cơ quan phải quản lý “phải nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu”. Đồng thời, phải thường xuyên huấn luyện cán bộ để nâng cao trình độ giác ngộ, phương pháp tư tưởng, phẩm chất đạo đức và năng lực làm việc cho cán bộ, làm cho cán bộ ngành nào thành thục về chuyên môn của ngành ấy; làm sao cho bất cứ cán bộ nào cũng đều phải “vững về chính trị, giỏi về chuyên môn”. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi “cán bộ là gốc của mọi việc. Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”.

Linh An

bqllang.gov.vn

Nguồn lực con người – từ tư tưởng Hồ Chí Minh đến quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

(TCTG) – Trong sự nghiệp cách mạng từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã nhiều lần khẳng định: Con người là vốn quý nhất, chăm lo cho hạnh phúc của con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta. Trên thực tế, Đảng ta đã luôn luôn cố gắng thực hiện mục tiêu đó. Sự nghiệp chăm lo cho hạnh phúc con người tuy chưa có nhiều thành công như mong muốn, song phần nào đã đáp ứng nguyện vọng của nhân dân.

Trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học – công nghệ phát triển như vũ bão, toàn cầu hoá trở thành xu thế tất yếu, kinh tế tri thức trở thành một đặc trưng của nền kinh tế thế giới thì vai trò động lực, vị trí trung tâm của con người trong quá trình phát triển đã thực sự được khẳng định. Con người và phát huy nhân tố con người thu hút sự quan tâm, chú ý, được thảo luận rộng rãi trên các diễn đàn trong nước và quốc tế. Trong tiến trình phát triển, cả lý luận và thực tiễn đều chứng minh: nhân tố con người đóng vai trò quyết định xu hướng vận động của thế giới đương đại. Luôn theo sát sự biến động của thời cuộc, đánh giá đúng đắn vị trí, vai trò của nhân tố con người, Nghị quyết Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: “Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh và bền vững đất nước”(1); nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển”(2). Con người thực sự là nguồn lực của mọi nguồn lực, tài nguyên của mọi tài nguyên, là nguồn lực nội sinh quan trọng nhất quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.

Xây dựng và chăm lo cho con người ở nước ta trong những năm qua đã giành được những thắng lợi to lớn bước đầu, góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu ấy, sự tác động của cơ chế thị trường đang bộc lộ nhiều bất cập có liên quan đến phát huy nhân tố con người, ảnh hưởng đến sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Làm thế nào xây dựng nguồn lực con người trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay là vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng đòi hỏi phải được nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống, nhằm tìm kiếm những giải pháp kịp thời, phù hợp với yêu cầu của cuộc sống.

Kế thừa tinh hoa tư tưởng văn hoá dân tộc và nhân loại, tiếp thu, vận dụng, phát triển một cách sáng tạo học thuyết Mác – Lê-nin, Hồ Chí Minh đã nâng tư tưởng về con người lên một tầm cao mới, hình thành nên chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh. Tuy không có một tác phẩm nào bàn riêng về con người, nhưng tư tưởng về con người lại được hiểu thật đa dạng, phong phú, trở thành một tư tưởng xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Vấn đề con người luôn luôn được nhắc đến như một mục tiêu thiêng liêng, cao cả nhất của sự nghiệp cách mạng mà Người theo đuổi. Nó trở thành mục tiêu, lý tưởng, được toả sáng trong từng suy nghĩ, cử chỉ, hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Từ hệ thống tư tưởng của Người, chúng ta thấy toát lên nội dung quan niệm về con người như sau:

Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, con người là tổng hòa của các quan hệ xã hội từ hẹp đến rộng. Người từng khẳng định: “Chữ Người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người”(3). Hồ Chí Minh không bao giờ xem xét con người một cách trừu tượng mà luôn xuất phát từ hoàn cảnh con người hiện thực cụ thể trong các quan hệ xã hội với nhiều bình diện, nhiều chiều khác nhau. Đặc biệt ở Hồ Chí Minh, bên cạnh những khái niệm phổ quát như giai cấp công nhân, giai cấp vô sản, nhân dân lao động, chúng ta đã thấy xuất hiện thêm các khái niệm mới: “Người nô lệ mất nước”, “Người cùng khổ”. Theo nhận xét của nhiều nhà nghiên cứu, đấy là những khái niệm xuất hiện đầy ấn tượng và là một cách tiếp cận riêng của Hồ Chí Minh trong quan niệm về con người. Có thể khẳng định: cách tiếp cận cơ bản nhất của Hồ Chí Minh vẫn là đặt con người trong mối quan hệ với cộng đồng dân tộc. Bởi vì, hơn bất cứ ai, Hồ Chí Minh luôn luôn ở trong lòng nhân dân, mang cùng một truyền thống anh hùng, gắn bó với con người, với nhân dân từ trong khối óc, khát vọng và con tim, trọn vẹn suốt cuộc đời.

Con người là một chỉnh thể thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội. Vì vậy, Hồ Chí Minh luôn quan niệm con người, trong cấu trúc nhân cách, là một hệ thống bao gồm tổng hoà nhiều yếu tố hợp thành như: Thể xác và tâm hồn, thể lực và trí tuệ, cái sinh vật và cái xã hội… Con người ai cũng có chỗ hay chỗ dở, ai cũng có tính tốt tính xấu, có thiện có ác. Vấn đề là làm sao cho phần xấu mất dần đi, phần tốt nảy nở như hoa mùa xuân; con người ta sinh ra, ai cũng lớn lên, già đi rồi chết; người ta ai cũng muốn sung sướng, mạnh khoẻ… Cách quan niệm như thế cho phép Hồ Chí Minh đạt tới cái nhìn toàn diện về con người; là cơ sở để Người hiểu, cảm thông, lo lắng cho con người. Đây là tư tưởng chủ đạo, bao trùm và xuyên suốt, vừa có ý nghĩa như tiền đề xuất phát đồng thời lại là mục đích trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhân tố con người là vốn quý nhất, là động lực vĩ đại, nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam; dân là vốn quý nhất, có dân là có tất cả, nên phải bắt đầu từ nhân tố con người, vì con người, cho con người và trở về với con người.

1. Con người – nhân tố quý nhất, động lực quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Nhân tố con người là vốn quý nhất, quyết định thắng lợi được Hồ Chí Minh đề cập ở ba cấp độ là: Nhân dân nói chung; công nhân, nông dân, trí thức, bộ đội, cán bộ; mỗi một con người cụ thể – tức là nhân dân lao động (trừ bọn Việt gian, phản động). Hồ Chí Minh nói: “Nhân nghĩa là nhân dân. Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”; “cán bộ là gốc của công việc”; “muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”; “chúng ta phải biết quý trọng con người, nhất là công nhân, vì công nhân là vốn quý nhất của xã hội”…

Tư tưởng “Dân vi bản”, “Dân vi quý” đã được bàn nhiều trong lịch sử mà tiêu biểu nhất là trong Nho giáo. Nhưng đến Hồ Chí Minh, tư tưởng “Dân vi bản”, “Dân vi quý” đã thể hiện một sắc thái mới, với tư thế mới. Nói đến “Dân” trong tư tưởng Hồ Chí Minh là nói đến toàn thể nhân dân, nói đến dân chủ. Điều này được thể hiện rõ nét trong tác phẩm “Dân vận” (15-10-1949), Người viết:

“Nước ta là nước dân chủ.
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.

Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã tới chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên.

Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(4).

Như vậy, Hồ Chí Minh luôn luôn đặt nhân dân vào địa vị cao nhất, địa vị làm chủ trong những vấn đề quan trọng nhất của cách mạng và xã hội: Lợi ích, quyền hạn, công việc, trách nhiệm, chính quyền, đoàn thể (tức là Đảng), quyền hành và lực lượng đều nhằm vào mục tiêu: vì dân, của dân, do dân, ở nơi dân. Nó xác định vai trò dân chủ: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Dân vừa là chủ nhưng dân vừa thực hiện công việc làm chủ, vừa là chủ thể, vừa là khách thể, vừa là lực lượng, động lực vừa là mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Theo Hồ Chí Minh, đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà, xây dựng đời sống mới, tiến lên xã hội chủ nghĩa đều phải bắt đầu từ vốn con người, từ việc phát huy nhân tố con người. Nếu khinh dân, xem khinh việc sử dụng và phát huy nhân tố con người sẽ là một sai lầm rất to, rất có hại, có quan hệ mật thiết đến thành hay bại của sự nghiệp cách mạng.

Vai trò con người chính là vai trò của quần chúng nhân dân, người sáng tạo chân chính ra lịch sử chứ không phải “vài ba cá nhân anh hùng nào”, thể hiện qua các hoạt động thực tiễn cơ bản nhất: Lao động sản xuất, đấu tranh chính trị – xã hội và sáng tạo các giá trị văn hóa – tinh thần.
Hồ Chí Minh nói: “Vì chúng ta quên một lẽ rất đơn giản dễ hiểu: tức là vô luận việc gì, đều do người làm ra, từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả”. “Tất cả của cải vật chất trong xã hội đều do công nhân và nông dân làm ra. Nhờ sức lao động của công nhân và nông dân, xã hội mới sống còn phát triển”; quần chúng còn là người sáng tác nữa (các giá trị văn hóa – tinh thần). Hồ Chí Minh giải thích cơ sở khoa học cho vai trò đó xuất phát từ chỗ: “Lực lượng dân chúng nhiều vô cùng… dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”(5).

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người đóng vai trò là động lực to lớn, quyết định đối với mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng “dân là vốn quý nhất, có dân là có tất cả” cho thấy trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân tố con người là nguồn lực quan trọng nhất, nguồn lực của mọi nguồn lực. Vai trò ấy được Người kế thừa từ tư tưởng: “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân” để rồi khái quát ở tầm chân ly:á “Dễ mười lần không dân cũng chịu; khó trăm lần dân liệu cũng xong”(6).

Trong quá trình giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa động lực và mục tiêu, Hồ Chí Minh chú ý đến mức độ mục tiêu đạt được trong điều kiện, cụ thể của từng giai đoạn cách mạng. Mà mục tiêu tổng quát là: giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Mục tiêu đó biểu hiện thành các mục tiêu cụ thể:

Giai đoạn trước khi giành được chính quyền thì mục tiêu cao nhất là độc lập dân tộc. Người nói: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy”. Sau khi giành được chính quyền, thì mục tiêu: Ăn, mặc, ở, học hành lại được ưu tiên hơn. Ngày 10-1-1946, tại cuộc họp của Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, Hồ Chí Minh yêu cầu chúng ta phải thực hiện ngay: “Làm cho dân có ăn. Làm cho dân có mặc. Làm cho dân có chỗ ở. Làm cho dân có học hành”.

Sau năm 1954, miền Bắc đi vào khôi phục nền kinh tế, hoàn thành cải cách ruộng đất, tiến hành tốt việc sửa sai, từng bước phát triển kinh tế tập thể. Giai đoạn này, Hồ Chí Minh nhấn mạnh vào việc phải “nâng cao dần mức sống của nhân dân… đồng thời giảm nhẹ sự đóng góp của nông dân”. Bước sang năm 1958, kết thúc thời kỳ khôi phục kinh tế, mở đầu thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa (1958-1960), Hồ Chí Minh nói nhiều về chủ nghĩa xã hội những mục tiêu cơ bản nhằm giải phóng con người. Trong bối cảnh tập trung mọi nhân tài, vật lực cho phát triển kinh tế và tiến hành đấu tranh vũ trang giải phóng miền Nam, Hồ Chí Minh vẫn luôn quan tâm đến con người. Tại Hội nghị của Bộ Chính trị, ngày 30-7-1962, Hồ Chí Minh đặt vấn đề: Ta phải tính cách nào, nếu cần có thể giảm bớt một phần xây dựng, để giải quyết vấn đề ăn và mặc của quần chúng được tốt hơn nữa, đừng để cho tình hình đời sống căng thẳng quá. Vấn đề con người là hết sức quan trọng. Nhà máy cũng cần có thêm, có sớm, nhưng cần hơn là con người, là sự phấn khởi của quần chúng. Làm tất cả là do con người… Làm cho quần chúng hiểu chủ nghĩa xã hội đúng hơn.
Vào thời điểm đó, cách đặt vấn đề như vậy cho thấy chiều sâu mục tiêu con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn quyết liệt, thì mục tiêu “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” lại ở bậc cao của thang giá trị dân tộc. Mục tiêu con người gắn chặt với chủ quyền dân tộc. Tại kỳ họp Quốc hội khóa III, ngày 10-4-1965, Hồ Chí Minh kêu gọi: Lúc này, chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mọi người Việt Nam yêu nước. Ngay trong thời điểm lịch sử vô cùng khó khăn đó, phát biểu tại phiên bế mạc Hội nghị lần thứ 12, khóa III Ban Chấp hành TW Đảng, tháng 12-1965, Hồ Chí Minh lưu ý: “Chúng ta phải hết sức chăm lo đến đời sống của nhân dân, nhất là đời sống của các cháu, của các gia đình thương binh, liệt sỹ, đời sống của nhân dân ở các vùng bị bắn phá nhiều… những gia đình thu nhập thấp, đông con”.

Nếu tờ báo Người cùng khổ, số 1, nêu mục tiêu là giải phóng con người thì sau này bản Di chúc của Người cũng nêu công việc đầu tiên là đối với con người. Điều đó cho thấy cái “bất biến” trong tư tưởng Hồ Chí Minh là tất cả vì con người để ứng với cái “vạn biến” của lịch sử đặt ra. Hồ Chí Minh nói: “Tất cả những người lao động trên thế giới đều có một mục đích chung là thoát khỏi áp bức, bóc lột, được sống sung sướng tự do, tức là thực hiện chế độ cộng sản. Nhưng để đi đến mục đích ấy, mỗi nước phải tùy theo điều kiện thiết thực của mình mà tiến dần”.

Mục tiêu giải phóng con người về mặt chính trị-xã hội cũng được Hồ Chí Minh chú ý, nhấn mạnh. Giá trị và chiều sâu tư tưởng Hồ Chí Minh chính là ở chỗ đã nhìn nhận và đánh giá vai trò của văn hóa-đạo đức-truyền thống trong tiến trình thực hiện mục tiêu phát triển con người.
Xét ở một khía cạnh nào đó, văn hóa-đạo đức-truyền thống là những yếu tố cấu thành đời sống tinh thần, tâm linh con người. Con người không chỉ tồn tại bằng đời sống vật chất, mà còn tồn tại cả trong đời sống tinh thần. Con người không chỉ chịu sự chi phối của các quy luật vật chất khách quan, mà còn chịu sự chi phối của các quy luật tình cảm, các chương trình kế thừa về văn hóa – đạo đức – truyền thống. Giải phóng con người về mặt chính trị-xã hội là điều kiện tiên quyết, nhưng mới chỉ là điều kiện cần, chưa phải là điều kiện đủ. Con người tồn tại hài hòa trong môi trường đã được nhân tạo hóa dưới dạng: đạo đức, pháp luật, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo… gọi chung là văn hóa-đạo đức-truyền thống. Bản chất của nó được thể hiện trong các giá trị vật chất, tinh thần, tập trung nhất ở nhân cách và lối sống con người.

Lý tưởng mà suốt đời Hồ Chí Minh theo đuổi là mưu cầu độc lập cho dân tộc, người dân ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Một xã hội mới theo Hồ Chí Minh quan niệm là một xã hội trong đó con người được tự do, bình đẳng, hạnh phúc. Con người có sự phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ, có những quan hệ với tự nhiên, xã hội… trong sự biểu hiện cao nhất về văn hóa-đạo đức-truyền thống. Do đó, Hồ Chí Minh quan niệm chủ nghĩa xã hội là một xã hội lý tưởng, không chỉ ở thể chế chính trị dân chủ, cơ cấu kinh tế, kỹ thuật hiện đại, mà còn là một cơ cấu có giá trị văn hóa-đạo đức nhân bản. Sự phát triển kinh tế nếu không chú ý đến văn hóa-đạo đức thì không đạt tới sự phát triển bền vững. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, việc nhấn mạnh:

Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết phải có những con người xã hội chủ nghĩa, muốn có những con người xã hội chủ nghĩa phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, tức là con người có thể được phát triển sớm hơn so với sự phát triển kinh tế-xã hội. Xây dựng con người không chỉ bồi dưỡng về chính trị, văn hóa, chuyên môn kỹ thuật mà đặc biệt là đạo đức. Sự tiến bộ xã hội, sự tiến bộ của con người có thể dựa vào tiêu chí tiến bộ về văn hóa-đạo đức, coi như trình độ người trong phát triển. Ưu tiên văn hóa-đạo đức trong phát triển xã hội “là sự phát triển rút ngắn”, nhằm đạt tới mục tiêu con người, trong đó “phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”. Con đường phát triển rút ngắn, theo Hồ Chí Minh, không chỉ là “cơ cấu lại” hệ thống các chuẩn mực văn hóa-đạo đức khách quan, mà ở chỗ, nó hướng vào sự tự nhận thức, tự đánh giá, tự hoàn thiện về lối sống, nhân cách của mỗi người. Hồ Chí Minh nhấn mạnh sự tu dưỡng đạo đức cá nhân, cải tạo cái cá nhân để từ đó cải tạo xã hội đồng thời với quá trình cải tạo xã hội để tạo điều kiện cho cải tạo cá nhân.

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh luôn có sự nhất quán coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của cách mạng Việt Nam theo tinh thần cách mạng và khoa học. Vấn đề con người gắn liền với cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa; mục tiêu giải phóng con người gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội. Hồ Chí Minh kết luận “phải đem hết sức dân, tài dân, của dân làm lợi cho dân”; phải “dựa vào: lực lượng của dân, tinh thần của dân, để gây hạnh phúc cho dân” và “Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân và do nhân dân tự xây dựng lấy”.

2. Con người là trung tâm của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, phát huy nhân tố con người, phát triển nguồn nhân lực chính là đầu tư cho con người thông qua các hoạt động giáo dục, đào tạo, dạy nghề, chăm sóc sức khoẻ, tạo việc làm, an sinh xã hội… Đầu tư cho con người chính là nhằm phát triển thể lực, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tay nghề; tính năng động và sức sáng tạo của con người; phát huy bản sắc nền văn hoá, truyền thống lịch sử dân tộc để hun đúc thành bản lĩnh, ý chí của con người trong lao động. Đó chính là nguồn nội lực, là yếu tố nội sinh, nếu được phát huy và sử dụng có hiệu quả sẽ là động lực, nguồn sức mạnh để phục vụ cho chính con người và xã hội.

Với tinh thần “phát huy nhân tố con người”, “làm cho sản xuất bung ra”, “giải phóng mọi năng lực sản xuất” trong nhân dân… được khởi xướng từ Đại hội VI của Đảng (12-1986), đất nước đã từng bước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội. Nước ta từ thiếu đói đã tiến đến hoàn thành mục tiêu “ăn no, mặc ấm” và vươn tới những mục tiêu cao hơn.

Lại một lần nữa, thực tế cho chúng ta thấy, khi nào chúng ta biết tôn trọng, yêu thương, tin tưởng, dựa vào nhân dân, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước phù hợp với lòng người, quan tâm tới quyền lợi của nhân dân, tạo ra động lực cho người lao động… thì lúc đó chúng ta phát huy được nhân tố con người, khai thác và huy động được năng lực, khả năng của mỗi cá nhân và toàn dân tộc vào tiến trình cách mạng.

Bên cạnh những mặt tích cực thì mặt trái của cơ chế thị trường đã làm cho không ít cá nhân, tập thể, doanh nghiệp bị chìm đắm vào những lợi ích cá nhân, vì đồng tiền, vì lợi ích mà đi ngược lại quyền lợi của nhân dân, của quốc gia dân tộc.

Trong sự hỗn độn giữa thiện và ác, giữa đúng và sai, giữa tích cực và hạn chế, ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh như mặt trời soi sáng cho con đường chúng ta đi. Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nguồn lực con người nói riêng vẫn nguyên giá trị. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người, coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng, những lời dạy về phát huy sức mạnh của phẩm chất và năng lực, những chỉ dẫn về cách dùng người, sử dụng cán bộ, những giải pháp để phát huy được nhân tố con người thực sự xứng tầm “là cái cẩm nang thần kỳ”, “bàn chỉ nam” cho sự nghiệp cách mạng nước ta hiện nay.

Mục tiêu xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất-kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh giữ vững, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đó trước hết là cuộc cách mạng của con người, vì con người và do con người. Bởi, khi chúng ta nói về những ưu việt của chủ nghĩa xã hội thì những ưu việt đó không do ai đưa đến. Đó phải là kết quả những nỗ lực vượt bậc và bền bỉ của toàn dân ta với những con người phát triển cả về trí lực, cả về khả năng lao động và tính tích cực chính trị-xã hội và đạo đức, tình cảm trong sáng.

Trong sự nghiệp cách mạng từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã nhiều lần khẳng định: Con người là vốn quý nhất, chăm lo cho hạnh phúc của con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta. Trên thực tế, Đảng ta đã luôn luôn cố gắng thực hiện mục tiêu đó. Sự nghiệp chăm lo cho hạnh phúc con người tuy chưa có nhiều thành công như mong muốn, song phần nào đã đáp ứng nguyện vọng của nhân dân. Phương châm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm; việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh” đã được Đảng ta đặt lên vị trí hàng đầu và coi đó là nhiệm vụ trung tâm. Lời dạy của Bác – “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” và “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” – đã trở thành tư tưởng xuyên suốt toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng ta với tư cách là Đảng cầm quyền.

Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày nay, Đảng ta tiếp tục khẳng định: lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững; nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011-2015, Đảng ta xác định mục tiêu: tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển; tạo chuyển biến mạnh về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát huy nhân tố con người. Và trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (1-2011), Đảng ta đặt mục tiêu: Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi; đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, văn hóa đầu đàn, đội ngũ doanh nhân và lao động lành nghề”(7)./.

PGS, TS. PHẠM NGỌC ANH
Theo tuyengiao.vn
Thu Hiền (st)

————–

(1), (2), (7) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, H, 2011, tr.41, 76, 216-217.
(3), (4), (5), (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t.5, tr.644, 698, 295, 293.

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi trong trái tim nhân loại

Lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã sinh ra nhiều anh hùng giải phóng dân tộc, nhiều người được vinh danh…

Người người nối tiếp nhau, viết lên trang sử vẻ vang cho dân tộc, trong đó Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị anh hùng vĩ đại nhất, trang sử Người để lại là trang sử vẻ vang nhất.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là anh hùng dân tộc vĩ đại, bởi vì, Người là người Việt Nam đầu tiên đã tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam, con đường cách mạng vô sản. Người sinh ra và lớn lên trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động của đất nước – giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, bao cuộc khởi nghĩa đấu tranh anh dũng, bất khuất giành độc lập và thống nhất Tổ quốc đều lần lượt thất bại. Phong trào cứu nước của nhân dân Việt Nam đứng trước một cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối. Nhà yêu nước tiền bối Phan Bội Châu đã sớm nhận rõ tư tưởng vĩ đại của người lãnh tụ mới của phong trào cách mạng Việt Nam Nguyễn Ái Quốc, đặt niềm tin vào Nguyễn Ái Quốc. Cụ từng nói với nhiều người khi đến thăm cụ ở Bến Ngự rằng: “… đời hoạt động cách mạng của tôi rốt cuộc là một thất bại lớn. Đó là bởi tuy tôi có lòng mà thực bất tài. Nhưng dân tộc ta thế nào rồi cũng độc lập. Nhất định phải thế. Hiện nay đã có người khác lớn hơn lớp chúng tôi nhiều, đứng ra đảm đương công việc để làm tròn cái việc mà chúng tôi không làm xong. Ông có nghe tiếng ông Nguyễn Ái Quốc không? Ông ấy còn thì nước ta nhất định sẽ độc lập. Vì ông ấy giỏi.”

Đúng như đánh giá của Phan Bội Châu, chính lúc đó, bằng sự mẫn cảm chính trị và qua tìm hiểu thực tiễn cách mạng thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vượt qua hạn chế của các bậc tiền bối, Người là người đầu tiên đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, đỉnh cao của văn hóa nhân loại, tìm ra con đường cứu nước cho cách mạng Việt Nam – cách mạng vô sản, đó là sự kết hợp chủ nghĩa yêu nước nồng nàn với chủ nghĩa quốc tế chân chính, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Từ đó, Người mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đồng thời cũng mở ra con đường giải phóng cho tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Không chỉ kế thừa, vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin vào phong trào cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn góp phần phát triển học thuyết của V.I Lênin về cách mạng thuộc địa, làm sáng tỏ mối quan hệ khăng khít giữa cách mạng vô sản ở chính quốc và cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa; đưa ra luận điểm về tính chủ động của cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa và khẳng định sự nghiệp đấu tranh giải phóng của nhân dân thuộc địa chỉ có thể thực hiện được bằng nỗ lực của bản thân các nước thuộc địa. Hơn thế nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định từ rất sớm: cách mạng thuộc địa không những không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc mà có thể tiến hành trước, và thắng lợi của nó sẽ “giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”

Đối với cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa Đảng lên vị trí đảng cầm quyền. Từ ngày Đảng ra đời, Người luôn chăm lo từng bước trưởng thành của Đảng, rèn luyện Đảng thành đội tiên phong vững vàng, sáng suốt của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập Mặt trận dân tộc thống nhất. Đó là khối đại đoàn kết dân tộc vững chắc, tạo ra sức mạnh vô địch vượt qua mọi thử thách khó khăn, chiến thắng mọi kẻ thù: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công”. Đây chính là tư tưởng chiến lược xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam. Mặt trận là nhân tố quan trọng bảo đảm cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam và góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập và rèn luyện Quân đội nhân dân Việt Nam thành một đội quân cách mạng “trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Những nhân tố quyết định trên đảm bảo vững chắc cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Mở đầu là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà – Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á, khẳng định vị trí của Việt Nam trên bản đồ thế giới, đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và tự do, sánh vai cùng các dân tộc đấu tranh không mệt mỏi cho một xã hội công bằng, tiến bộ, văn minh.

Tiếp đó, những thắng lợi vĩ đại, vang dội khắp năm châu của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX, đã đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam, là người anh hùng kiệt xuất trong lịch sử dân tộc. Công lao to lớn và sự nghiệp vĩ đại của Người gắn liền với lịch sử quang vinh của Đảng Cộng sản Việt Nam, với những trang hào hùng nhất trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người anh hùng dân tộc vĩ đại, đã đi vào lịch sử và sống mãi với muôn đời sau.

Vượt lên trên tất cả các bậc tiền bối, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là “biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội” , mà Người còn có “sự đóng góp quan trọng và nhiều mặt trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật” . Người là “kết tinh của truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc” , Người đã được ghi danh vào danh sách “các nhân vật trí thức lỗi lạc và các danh nhân văn hoá trên phạm vi quốc tế góp phần thực hiện các mục tiêu của UNESCO và đóng góp vào sự hiểu biết trên thê giới” như Nghị quyết 24C/18.65, phiên họp Đại Hội đồng UNESCO, khoá họp lần thứ 24 , tại Pari đã tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và khuyến nghị các nước thành viên cùng tham gia kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Người.

Thật khó mà tách rời Hồ Chí Minh – anh hùng giải phóng dân tộc với Hồ Chí Minh – nhà văn hóa kiệt xuất. Bởi vì, lãnh đạo toàn dân đánh đuổi giặc ngoại xâm, với vinh dự lớn là một nước nhỏ đã đánh thắng hai đế quốc to là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giải phóng nhân dân khỏi thân phận nô lệ, khỏi cái đói, cái rét, giành lại cho nhân dân Việt Nam những quyền sống của con người, một cuộc sống có văn hóa, đó không chỉ là một sự nghiệp chính trị phi thường của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà là cuộc đấu tranh không mệt mỏi của Người cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, chính là sự nghiệp văn hóa cao cả nhất.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, là nhà văn hóa kiệt xuất, kiến trúc sư của nền văn hóa mới Việt Nam, Người sớm nhận thấy vai trò và sức mạnh của văn hoá, đưa văn hoá vào chiến lược phát triển của đất nước. Để xây dựng một nền văn hoá mới, ngay từ khi nước nhà mới giành được độc lập (1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc là phát triển văn hóa, xoá mù chữ, nâng cao dân trí, phát triển giáo dục. Người nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Do vậy, phải chống giặc dốt đi đôi với chống giặc đói và chống giặc ngoại xâm, trước hết phải là xóa nạn mù chữ, để tất cả mọi người Việt Nam đều phải biết đọc, biết viết “Mọi người Việt Nam đều phải hiểu biết quyền hạn của mình, phải có kiến thức mới để tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà”. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn phát động phong trào xây dựng đời sống mới, để xây dựng một nền đạo đức mới, con người mới; chống những thói quen xấu và hủ tục lạc hậu; phát triển những thuần phong, mỹ tục mới trong nhân dân. Nền văn hoá mới mà Người chủ trương xây dựng là một nền văn hoá luôn hướng con người tới chân, thiện, mỹ, tới hoà bình và hữu nghị giữa các dân tộc, tới tình hữu ái giữa người với người.

Trên hành trình vạn dặm đi tìm chân lý, đến nhiều nước, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa, Người đã học tập và làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn văn hoá phương Đông và phương Tây. Người đã từng hấp thụ văn hoá nhân đạo và dân chủ của phương Tây, đặc biệt là tinh thần tự do, bình đẳng, bác ái của truyền thống văn hoá Pháp. Người trân trọng mọi giá trị văn hoá nhân loại, tôn trọng và chấp nhận những giá trị khác biệt với sự lựa chọn của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm đề ra chủ trương kế thừa truyền thống tốt đẹp của văn hoá dân tộc phải đi đôi với việc học tập và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá của nhân loại: “Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt, ta học lấy để tạo ra một nền văn hoá Việt Nam. Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hoá xưa và văn hoá nay, trau dồi cho văn hoá Việt Nam thật có tinh thần thuần tuý Việt Nam để hợp với tinh thần dân chủ ” .

Là linh hồn của công cuộc kháng chiến, kiến quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời xúc tiến công cuộc xây dựng nền văn hóa mới nước nhà với các tiêu chí: Dân tộc, khoa học và đại chúng. Người đã sáng tạo ra một thời đại mới, một nền văn hoá mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng là những giá trị đóng góp vào sự phát triển văn hoá của thế giới. Đi trước thời gian, nhiều chủ trương văn hoá được Người để ra rất sớm – từ giữa những năm 40 và 50 của thế kỷ XX, như: Xoá mù chữ, trồng cây, trồng người, phủ xanh đồi trọc, cải tạo môi trường sinh thái, v.v.., đến thế kỷ XXI này đã trở thành những vấn đề nóng, cấp bách, mang tính toàn cầu, mà nhân loại bắt buộc phải quan tâm, giải quyết.

Những tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hoá đang là kim chỉ nam cho chúng ta trong việc xây dựng một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đồng thời không ngừng mở rộng sự giao lưu văn hoá với thế giới.

Một trong những điều kiện giúp Chủ tịch Hồ Chí Minh hoạt động cách mạng, hoạt động văn hóa, tiếp thu tri thức nhân loại, là Người biết nhiều ngôn ngữ khác nhau, sử dụng một cách thành thạo trong viết văn, viết báo, làm thơ, viết kịch. Trải qua mấy chục năm học tập và rèn luyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng bước vươn lên tầm cao của trí tuệ thời đại để từ đó mà vận dụng và phát triển, sáng tạo và đổi mới, đóng góp vào kho tàng văn hoá thế giới những giá trị đặc sắc, in đậm dấu ấn Việt Nam – Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà thơ, nhà văn lớn. Thơ của Người phần lớn viết bằng tiếng Việt, có nhiều bài viết bằng chữ Hán, không chỉ là những những vần thơ tuyên truyền, đuổi giặc, mà thơ của Người còn thể hiện khát vọng tự do, công lý, cơm áo, hoà bình, cổ vũ cho cái đẹp và mối quan hệ nhân văn giữa người với người, đậm chất chữ tình, với nghệ thuật uyên bác. Đó là những nội dung chủ yếu làm nên thơ Hồ Chí Minh, với những giá trị nhân văn cao quý, toả sáng từ một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn. Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là nhà văn lớn, là người mở đầu và đặt nền móng cho nền văn xuôi cách mạng Việt Nam. Người viết nhiều thể loại: truyện ngắn, ký, kịch, tiểu phẩm, văn chính luận,… Ở lĩnh vực nào cũng có những thành công nổi trội. Văn chính luận của Người giàu tri thức văn hoá, giàu tính luận chiến, lập luận chặt chẽ, lý luận sắc sảo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là nhà báo vĩ đại, người thầy của báo chí cách mạng Việt Nam. Người rất khiêm tốn, không nhận mình là nhà báo, chỉ nhận mình là “người có duyên nợ với báo chí”. Chính Người đã sáng lập và là linh hồn của nhiều tờ báo cách mạng: Le Paria (1922); Thanh niên (1925); Việt Nam Độc lập (1941)… Với trên 60 bút danh khác nhau, Người đã viết hàng nghìn bài báo, góp phần thức tỉnh các dân tộc bị áp bức, truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, lên án chủ nghĩa thực dân, chỉ đạo phong trào cách mạng ở thuộc địa, hướng tới CNXH, giáo dục về CNXH, xây dựng kinh tế, bồi dưỡng con người mới… “Suốt đời, Hồ Chí Minh là người cầm bút, chiến đấu trên mặt trận văn hóa, báo chí, với một văn phong đa dạng nhiều sắc thái mà điểm nổi bật là tính quần chúng, cách suy nghĩ và diễn đạt dân gian, dễ hiểu, đi sâu vang vọng trong lòng người, gợi mở những tư tưởng lớn lao, thúc đẩy những việc làm tốt đẹp, bằng những lời lẽ bình dị giàu hình tượng, nói lên được điều lớn, bằng chữ nhỏ” .

“Văn hóa là sợi dây có khả năng nối liền nhân dân các nước và các dân tộc. Những tinh hoa văn hóa của một dân tộc đều là tài sản chung của nhân loại và ngược lại, những đỉnh cao văn hóa loài người là những của báu không dành cho riêng ai. Sự hiểu biết lẫn nhau, sự học tập và tôn trọng nhau xưa nay đều thể hiện sâu sắc qua văn hóa, nơi tập trung những biểu hiện rực rỡ nhất của tâm huyết và sức sáng tạo của con người” . Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng sự nghiệp hoạt động cách mạng, hoạt động văn hóa của mình, đã là người Việt Nam đầu tiên bắc nhịp cầu hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với các dân tộc trên thế giới.

Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà văn hóa và nhà cách mạng thống nhất hữu cơ làm một, tri thức văn hóa chỉ nhằm mục đích phục vụ cho hoạt động cách mạng. Không những vậy, chính yếu tố văn hóa trong con người Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm cho Người có một sức thu hút mạnh mẽ, một khả năng cảm hóa đặc biệt đối với người xung quanh, ngay cả đối với những người nước ngoài, dù cho từ đâu tới và thuộc hệ tư tưởng nào. Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà văn hóa lớn còn bởi vì chính bản thân Người, cuộc sống của Người, là hiện thân của nền văn hóa mới Việt Nam, là mẫu mực của con người mới Việt Nam và là đề tài không bao giờ cũ, là nguồn cảm hứng vô tận cho các nhạc sĩ, họa sĩ, nhà thơ, nhà văn, nhà báo… tạo ra những tuyệt tác, bởi vì, “ngay giữa cuộc đời mình”, Người đã đi vào truyền thuyết, “Cuộc sống của Người là một bài thơ đầy nét anh hùng ca” .

Là một vĩ nhân đã để lại dấu ấn đặc biệt trong thế kỷ XX, từ khi xuất hiện trên vũ đài chính trị (1919), đến khi từ biệt thế giới này (1969), sau đó 10 năm, 20 năm…sự kính trọng, ngưỡng mộ, đánh giá cao của nhân loại đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh không hề thay đổi. Một vài nhận thức của chúng tôi trên đây chỉ là đôi nét phác thảo về Chủ tịch Hồ Chí Minh-Lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, người Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất mà nhân loại đã ghi nhận. Cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh là tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam, đã và đang được các nhà nghiên cứu tiếp tục khai thác, nhằm phát hiện, tôn vinh những giá trị văn hóa, tư tưởng trong cuộc đời Người cho công cuộc bảo vệ và xây dựng cuộc sống mới hôm nay. “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”, Người sẽ sống mãi và đồng hành cùng dân tộc trên con đường “xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Hà Nội, tháng 5-2010

Theo TS. Chu Đức Tính, Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

baotanghochiminh.vn

Bác Hồ và lịch sử nước ta

Trong cuốn sách “Chiến đấu trong vòng vây”, hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Hữu Mai ghi), có đoạn đáng chú ý như sau:
“…Một hôm, anh Vũ Kỳ, thư ký của Bác, viết thư cho tôi, nói Bác cần có một cuốn lịch sử Việt Nam. Thật khó tìm được cuốn sách này khi mọi người đã rời thành phố với một chiếc ba lô trên vai. Sau đó tôi được biết anh Kỳ đã tìm được một cuốn “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim. Bác đánh dấu những đoạn viết về các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh chống ngoại xâm, đặc biệt là chiến tranh chống Nguyên Mông và khởi nghĩa Lam Sơn và dặn anh Kỳ nhắc anh Thận và tôi nên đọc lại những đoạn đó”. (trang 90)

Bác Hồ xem văn bia tại đền thờ Nguyễn Trãi ở Côn Sơn
Ảnh: T.L

Về sự kiện này, đồng chí Vũ Kỳ kể lại, sau ngày Toàn quốc kháng chiến 19-12-1946, Bác Hồ rời Hà Nội và từ ngày 18-2-1947, Bác làm việc ở tỉnh Thanh Hóa. Ở đây Bác đã viếng Vĩnh lăng – lăng của vị anh hùng giải phóng dân tộc Lê Lợi. Bác đọc lại một số đoạn sử trong cuốn “Việt Nam sử lược”. Bài học đánh giặc và giữ nước của ông cha đến lúc này hết sức thiết thân với dân tộc ta, nhất là khi bắt đầu kháng chiến chống Pháp, vũ khí của ta còn rất thô sơ (dao, gậy, tầm vông, kiếm) chống quân đội Pháp trang bị toàn vũ khí tối tân lại có viện trợ mọi mặt của Mỹ. Bác Hồ nhắc đồng chí Thận (Tổng Bí thư Trường Chinh) và đồng chí Võ Nguyên Giáp cần đặc biệt chú ý và nghiên cứu kỹ đoạn viết trong Việt Nam sử lược về chiến tranh chống giặc Nguyên Mông và chiến tranh chống giặc Minh.

Đoạn về chiến tranh chống giặc Nguyên Mông từ trang 132 đến trang 162. Giặc Nguyên Mông đã chiếm nửa thế giới và nước Tàu. Từ nước Tàu, chúng lấy cớ dẹp loạn Chiêm Thành nên mượn đường đi qua Việt Nam. Vua Trần Nhân Tông và cận thần biết rõ mưu đồ thâm độc của giặc Nguyên Mông sẽ chiếm nước ta nên từ chối, lấy cớ nước Nam không có đường đến Chiêm Thành. Giặc Nguyên Mông đòi tiến vào nước ta, đánh hay hòa, triều đình còn tranh cãi, một số người thấy Nguyên Mông mạnh quá, nước Tầu cũng đã phải chịu nữa là nước Nam. Chỉ còn cách hỏi ý kiến dân. Vua Trần Nhân Tông thông qua các bô lão họp tại điện Diên Hồng để bàn nên hòa hay nên đánh. Các bô lão đều đồng thanh xin đánh. Vua thấy dân đồng lòng như vậy cũng quyết kháng chiến. Lần đầu tiên nhân dân ta quyết định một vấn đề trọng đại của đất nước, Vua và triều đình coi đó như một mệnh lệnh cần chấp hành nghiêm chỉnh. Tháng 8 năm Giáp Thân (1284) Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn được phong chức Tiết chế thống lĩnh mọi lực lượng quân sự chống Nguyên Mông. Lời hịch truyền cho các vương hầu và quân sĩ thủy và bộ tại bến Đông bộ đầu, trước khi xuất kích bắt đầu cuộc kháng chiến đã được tóm tắt trong đoạn này như sau:

“…Bản chức phục mệnh thống đốc quân sĩ ra phá giặc. Các vương hầu và các tướng sĩ ai nấy phải cầm giữ phép tắc, đi đâu không được làm phiền nhiễu dân và phải đồng lòng hết sức đánh giặc, chớ thấy thua mà ngã lòng, chớ thấy được mà tự kiêu, việc quân có luật, phép nước không thân, các ngươi phải giữ…”

Những phẩm chất cao đẹp của một đội quân trung thành tuyệt đối với nhân dân đã được đúc kết trong lời hịch của Hưng Đạo Vương. Giặc Nguyên Mông tràn vào nước ta, tiến như vũ bão, thành Thăng Long thất thủ, Vua và triều đình rút về vùng nông thôn. Binh hùng tướng mạnh của địch chỉ vấp phải những trận đánh nhỏ của ta nhưng đều khắp các mặt trận đúng với tài thao lược “dùng ít thắng nhiều” của Hưng Đạo Vương. Giặc Nguyên Mông ba lần tiến vào nước ta, nhưng đều phải rút lui thảm hại. Sau hơn bốn năm kháng chiến, giữa năm 1288 ta toàn thắng, Vua sai mở tiệc khen thưởng quân sĩ, cho dân mở hội ba ngày, gọi là Thanh Bình diễn yến.

Đoạn về chiến tranh chống giặc Minh từ trang 199 đến trang 232 ghi lại mọi thủ đoạn tàn ác bắt người An Nam đồng hóa với người Tầu, lập ra đền miếu bắt dân ta cúng tế theo tục bên Tầu, cách ăn mặc cho đến học hành bắt theo như người Tầu. Mọi sách vở của ta giặc Minh đều thu nhặt hết mang về Tầu. Lại đặt ra các thứ thuế, bổ thêm sưu dịch lấy tiền của, làm cho dân ta kiệt quệ, đói khổ. Chính từ bước đường cùng này, không những mất nước mà còn bị đồng hóa. Vì vậy, nhân dân cả nước nhiệt liệt hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đứng đầu là Lê Lợi chống giặc Minh mặc dù giặc Minh rất mạnh, bộ máy cai trị tàn ác của chúng dầy đặc khắp nước, địa phương nào cũng có quan người Tầu thống trị. Cuộc chiến đấu cực kỳ gian khổ. Có lúc kiệt quệ, quân ta ăn cả cỏ; voi, ngựa gầy trơ xương cũng vẫn phải giết lấy thịt để ăn, tưởng không gượng dậy nổi nữa nhưng cuộc chiến đấu vẫn tiếp tục, vừa đánh vừa đàm, vừa đàm vừa đánh. Đội quân của Lê Lợi cũng như của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đều từ dân mà ra, hết lòng phục vụ nhân dân. Các tướng lĩnh của Lê Lợi, dù quyền cao chức trọng đều “lấy giáp trụ làm chăn áo, lấy đồng cỏ làm cửa nhà”, “cơm ăn sớm tối không được hai bữa, áo mặc đông hè chỉ có một manh”. Từ tướng đến quân đều đồng cam cộng khổ với dân, cuộc kháng chiến đến năm thứ 10 thì ta quét sạch giặc Minh, chính quyền cả nước đặt dưới quyền Lê Lợi, lúc này đã xưng vương là Lê Thái Tổ, còn gọi là Bình Định Vương. Quân ta bắt được nhiều tù binh, dân ta có người căm thù giặc Minh đòi phải giết hết. Về việc này, Việt Nam sử lược đã ghi ý kiến của Bình Định Vương như sau:

“Phục thù, báo oán là cái thường tình của mọi người, nhưng cái bản tâm người có nhân không muốn giết người bao giờ. Vả người ta đã hàng mà lại còn giết thì không hay. Nếu mình muốn thỏa cơn giận một lúc, mà chịu cái tiếng muôn đời giết kẻ hàng, thì sao bằng để cho muôn vạn con người sống mà khỏi được mối tranh chiến về đời sau lại để tiếng thơm lưu truyền thiên cổ trong sử sách”.

Đã không giết tù binh, mặc dầu vừa trải qua cuộc kháng chiến nhân dân còn thiếu thốn đủ mọi thứ, Lê Lợi vẫn cấp 500 thuyền mới đủ đưa hai vạn tù binh về Tầu, không những cấp cho tù binh đủ lương ăn mà còn cả áo quần. Và sử còn ghi một hành động hết sức khác thường không ai đoán nổi: Lê Lợi Bình Định Vương đã đến tận nơi tiễn các tù binh này, coi như bắt đầu thời gian giao hảo bình thường giữa hai nước.

Lê Lợi đã giao Nguyễn Trãi trọng trách làm bản báo cáo tổng kết cuộc kháng chiến 10 năm chống giặc Minh. Nguyễn Trãi là tham mưu thân cận nhất của Lê Lợi, có công rất lớn đã giúp Lê Lợi lãnh đạo cuộc kháng chiến. Bản báo cáo mang tên “Bình Ngô Đại Cáo” được sử ghi là “bản văn chương rất có giá trị đời Lê”, và không chỉ có đời Lê mà các thế hệ sau này đều coi “Bình Ngô Đại Cáo” là một Tuyên ngôn độc lập của Tổ quốc ta.

Trên đây là tóm tắt hai đoạn trong Việt Nam sử lược mà khi bắt đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, Bác Hồ đã căn dặn các lãnh đạo của Đảng phải đọc kỹ. Bài học sâu xa nhất mà hai cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông và giặc Minh để lại được nêu bật trong Việt Nam sử lược là phải coi sức mạnh của nhân dân là vô địch, không kẻ thù nào dù là Nguyên Mông hoặc giặc Minh đánh bại nổi, rõ ràng chúng chỉ có một lối thoát là đầu hàng, rút chạy. Cuộc kháng chiến 30 năm chống Pháp rồi chống Mỹ đã bắt đầu với những bài học vô giá ông cha để lại, với bao sự việc rất cụ thể ghi trong sử, chúng ta rất tự hào được sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, quân đội ta được dân quen gọi là Bộ đội Cụ Hồ, đã tiếp thu trọn vẹn phẩm chất cao đẹp của lực lượng võ trang dưới quyền thống lĩnh của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và Bình Định Vương Lê Lợi.

Dân tộc ta tồn tại đã ngàn năm, thường xuyên phải đối phó với giông bão về mọi mặt, tích lũy nhiều kinh nghiệm đánh giặc giữ nước và an dân trị nước. Chúng ta không ngạc nhiên khi Bác Hồ về nước sau hơn 30 năm xa cách, Bác đã viết ngay Lịch sử Việt Nam làm tài liệu học tập đào tạo cán bộ Việt Minh. Phải thông thạo lịch sử nước nhà mới có thể thực hiện đoàn kết muôn người như một đúng với truyền thống bao đời của ông cha, dù trong nước có giặc ngoại xâm hoặc không thì lúc nào cũng hòa hợp và đoàn kết không bỏ sót ai, không bao giờ chấp nhận lại có tầng lớp này chống tầng lớp kia.

Bác Hồ thường nêu gương các vị khai quốc công thần, anh hùng dân tộc để giáo dục thế hệ ngày nay. Đặc biệt mỗi lần nhắc đến Nguyễn Trãi, Bác biểu lộ một tấm lòng ưu ái và khâm phục sâu sắc. Chỉ có nhân dân là sức mạnh vô địch dù kẻ thù mạnh đến đâu và vai trò làm chủ đất nước sau khi đã giải phóng đất nước khỏi bọn xâm lược là những tư tưởng lớn của Nguyễn Trãi, đã vượt lên trên thời đại của ông, mãi mãi có sức sống cho đời sau. Lý tưởng của ông là cứu nước và cứu dân. Cứu nước mới là cứu dân thoát khỏi họa đàn áp bóc lột của bọn thống trị nước ngoài. Muốn cho dân thật sự hết lầm than khổ cực, còn phải cứu dân thoát khỏi ách đàn áp bóc lột của bọn thống trị trong nước. Như thế mới thực sự cứu dân, thực sự yêu dân, thực sự vì dân. Một số người chỉ nói giải phóng đất nước, nói cứu nước và thỏa mãn với đất nước không còn bóng tên xâm lược nhưng lại không hề nghĩ đến dân đã được giải phóng chưa? Chính quyền đã về tay ta nhưng ta là ai, là dân hoặc là những người xa dân, quan liêu, tham nhũng, chỉ lo cho cá nhân và phe nhóm mà Nguyễn Trãi gọi là bọn thống trị trong nước.

Bác Hồ rất tâm đắc với tư tưởng lớn của Nguyễn Trãi, ngay sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, nước ta được độc lập, Bác Hồ đã nhìn thấy vấn đề cốt lõi của cách mạng là chính quyền, quyền lực chính trị, quyền lực Nhà nước thuộc về ai? Cách mạng thắng lợi, mọi quyền lực phải thuộc về nhân dân và chỉ thuộc về nhân dân. Bác Hồ đã nói: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”.

Cho đến cuối đời, lúc nào Bác Hồ cũng đặc biệt quan tâm đến Đảng cầm quyền vì muốn dân thực sự được làm chủ, chỉ có dân mới được làm chủ thì Đảng phải là đầy tớ của dân. Nếu quyền đã được nhân dân giao phó lại không coi dân là chủ còn mình chỉ là người đầy tớ trung thành thì sớm muộn Đảng cũng sẽ xa dân, chưa phải là người lãnh đạo và người đầy tớ thật trung thành của nhân dân như Bác Hồ đã dạy.

Dân là chủ theo quan niệm của Nguyễn Trãi và của Hồ Chí Minh là một. Chính vì vậy Hồ Chí Minh thường xuyên “gần gũi” với Nguyễn Trãi. Mỗi lần Bác Hồ về thăm Côn Sơn, đền thờ Nguyễn Trãi, đồng chí Vũ Kỳ vẫn gọi là Bác Hồ “về thăm” Nguyễn Trãi. Giữa tháng 2-1965, Bác Hồ lại “về thăm” Nguyễn Trãi ở Côn Sơn trước khi Bác bắt đầu viết Di chúc. Trong bài báo “Tài liệu tuyệt đối bí mật” của đồng chí Vũ Kỳ phản ánh quá trình mấy năm Bác viết Di chúc, có một đoạn như sau:

Ngày 15 tháng 2 năm 1965, Bác Hồ “về thăm” Nguyễn Trãi ở Côn Sơn. Bác nghỉ trưa ở đó và xem rất kỹ văn bia trong đền thờ Nguyễn Trãi. Rồi đây các nhà viết sử có lẽ phải dành nhiều trang cho sự kiện không ngẫu nhiên này. Bởi Hồ Chí Minh tìm đến Nguyễn Trãi trong bước ngoặt lịch sử của dân tộc, đâu phải là một sự ngẫu nhiên. Cách nhau hơn năm thế kỷ (1380 – 1890) mà sao có những trùng hợp lạ kỳ, y như cuộc hẹn gặp lịch sử đã định sẵn. Hai nhà chính trị và quân sự kiệt xuất, hai nhà thơ lớn, hai nhân cách lớn và bao trùm lên tất cả là sự gặp nhau ở lòng tin tuyệt đối vào sức mạnh to lớn của nhân dân, là tấm lòng tha thiết đối với hạnh phúc nhân dân. Người đã từng nói: “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân”, cũng chính Nguyễn Trãi là người đã mở đầu “Bình Ngô Đại Cáo” bằng một câu bất hủ “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Hôm nay như hẹn vĩ nhân của thời đại mới với chân lý:

Gốc có vững, cây mới bền
Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân.

Thái Duy

daidoanket.vn

Kỷ niệm 70 năm Bác Hồ về nước

(Dân trí) – Đó là tên Hội thảo khoa học do Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, Viện Hồ Chí Minh và các Lãnh tụ của Đảng phối hợp tổ chức vào sáng nay 28/1, tại Hà Nội, với sự tham dự của nhiều nhà nghiên cứu trong nước.

Hồ Chí Minh rời đất nước từ khi 21 tuổi với khát vọng cháy bỏng tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc. 30 năm hoạt động ở nước ngoài, Người đã tìm thấy con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam; thành lập Đảng tiên phong của giai cấp công nhân và xây dựng được đội ngũ cán bộ nòng cốt của phong trào cách mạng Việt Nam.

Bác về Tổ quốc 28/1/1941

Ngày 28/1/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc, mở ra thời kỳ phát triển mới của cách mạng Việt Nam – thời kỳ chuẩn bị về mọi mặt, tiến tới phát động cao trào Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi trong Cách mạng tháng Tám năm 1945. Quyết định về nước và những hoạt động của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sau ngày Người trở về trực tiếp lãnh đạo cách mạng là vô cùng phong phú và sinh động.

Tham luận của các nhà nghiên cứu tại Hội thảo đã tập trung làm rõ các nội dung sau: Tầm nhìn chiến lược của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với việc lựa chọn Cao Bằng làm nơi xây dựng cơ quan đầu não của Trung ương Đảng – căn cứ địa cách mạng đầu tiên của cả nước; Nguyễn Ái Quốc với việc chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8, quyết định thay đổi đường lối chiến lược cách mạng của Đảng và thành lập Mặt trận Việt Minh; Nguyễn Ái quốc chỉ đạo công tác vận động xây dựng lực lượng quần chúng cách mạng – nhân tố quan trọng góp phần giàng thắng lợi cho khởi nghĩa; Nguyễn Ái Quốc với công tác đào tạo, huấn luyện cán bộ, coi công tác cán bộ là gốc của mọi công việc; Nguyễn Ái Quốc chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, tích cực chuẩn bị cho khởi nghĩa giành chính quyền; Nguyễn Ái Quốc với việc chỉ đạo công tác tuyên truyền; đưa chủ trương, đường lối của Đảng đến với phong trào cách mạng và Nguyễn Ái Quốc với việc chỉ đạo xây dựng và kiện toàn hệ thống cơ sở Đảng.

Hội thảo “Kỷ niệm 70 năm Bác Hồ về nước” cũng là một sự tri ân đến các liệt sĩ đã quên mình vì sự nghiệp cách mạng cao cả của dân tộc; bày tỏ lòng tự hào và biết ơn đến công lao to lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, các lãnh tụ tiền bối của Đảng, đồng bào và đồng chí đã hy sinh vì nền độc lập, tự do của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân. Hội thảo cũng góp phần đẩy mạnh cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương dạo đức Hồ Chí Minh” trong giai đoạn mới.

Công Hải
TTXVN

dantri.com.vn