Thư viện

Bài phát biểu của đồng chí Phan Đình Trạc, UVTƯ Đảng, Bí thư Tỉnh ủy tại Lễ tiếp nhận đá quý của Nghệ An tôn tạo Công tình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

PHÁT BIỂU

Của đồng chí Phan Đình Trạc, UVTƯ Đảng, Bí thư Tỉnh ủy
tại Lễ tiếp nhận đá quý của Nghệ An tôn tạo Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
(Hà Nội, ngày 04/11/2012)

—–

– Kính thưa: Anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh!

– Kính thưa: Đồng chí Nguyễn Sinh Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam!

– Kính thưa các đồng chí!

Chủ tịch Hồ Chí Minh là của cả dân tộc và nhân loại. Tuy vậy, Người vẫn luôn dành cho quê hương những tình cảm đặc biệt. Trong sâu thẳm của trái tim Người, quê hương luôn luôn là “nghĩa nặng, tình sâu”.

Với lòng thành kính và biết ơn vô hạn đối với Bác Hồ kính yêu, cùng với nhân dân cả nước, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An vinh dự được chọn cung tiến linh vật đá, đặt ở khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Với vinh dự ấy, Đoàn khảo sát của tỉnh với sự phối hợp của Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khảo sát nhiều nơi, nhiều chủng loại đá có nguồn gốc khác nhau. Người tìm đá, nhưng có lẽ đá như tự tìm người. Sau một thời gian khảo sát, ngày 19/4/2011 Đoàn khảo sát gặp được loại đá như mong muốn, tại núi Pu Coọc, bản Cô, xã Châu Thành, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.

Đó là loại đá do thiên nhiên tôi luyện, tích tụ hàng triệu triệu năm trong lòng đất, có độ cứng và độ bền cao, tỷ trọng nặng, trường tồn mãi mãi với thời gian; không bị ăn mòn bởi nước, a xít, không bị ôxyhóa; có màu xanh lam, đỏ và phớt tím, có khả năng thấu quang và chiết quang, chứa nhiều khoáng vật quý. Có thể gọi loại đá này là “Đại Lam Ngọc”.

Trải qua hàng triệu triệu năm hình thành, tích lũy khá nhiều năng lượng vũ trụ, vì vậy trong phong thủy, “Đại Lam Ngọc” có thể được xem là “thần dược thạch mỹ”, kỳ bí hiếm có, đem lại sinh khí tốt, thiện tâm, tăng cường sinh lực, may mắn cho con người.

Sau nhiều tháng nghiên cứu, chế tác, hôm nay, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An vinh dự được kính dâng 3 khối đá quý đó để tôn tạo và nâng cao linh khí nơi Người yên nghỉ, góp phần cùng với các sản phẩm đặc sắc của các vùng miền trong cả nước quầy tụ bên Lăng, giữ yên giấc ngủ của Người, làm cho công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn hội tụ linh khí tốt lành.

Thay mặt Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An, tôi chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; Hội đá cảnh, gỗ lũa và tranh tượng dân gian thành phố Hà Nội; sự nỗ lực cố gắng, tâm huyết và trách nhiệm của các nghệ nhân; cán bộ, công nhân viên Công ty Cổ phần đá và khoáng sản Phủ Quỳ, và các cơ quan, đơn vị liên quan đã góp phần hoàn thành công trình đầy ý nghĩa này.

Xin hứa với Bác, với các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà sẽ tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng của quê hương, quyết tâm phấn đấu xây dựng tỉnh nhà trở thành một trong những tỉnh khá của miền Bắc, như mong muốn của Bác Hồ kính yêu.

Kính chúc các đồng chí sức khỏe, hạnh phúc.

Xin trân trọng cảm ơn!

bqllang.gov.vn

Người thức trắng đêm vẽ tranh Bác Hồ

Ong Phan Thanh Tinh va buc anh Bac HoÔng Phan Thanh Tịnh và tác phẩm
“Bác Hồ bên cửa biển Nhật Lệ chiều 16-6-1957”

Chúng tôi tìm đến nhà ông Phan Thanh Tịnh ở Tiểu khu 5, phường Đồng Phú, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Ấn tượng đầu tiên đập vào mắt chúng tôi đó là căn phòng khách treo trang trọng những bức tranh khổ lớn vẽ Bác Hồ. Đối với ông Tịnh, mỗi bức tranh là những kỉ niệm mà ông không thể nào quên. Năm nay đã bước sang tuổi 72 nhưng ông vẫn còn khoẻ mạnh và minh mẫn. Tiếp chuyện chúng tôi, ông say sưa kể về những kỉ niệm trong những lần vẽ ảnh chân dung Bác Hồ.

Những năm 50 của thế kỉ XX, khi đang còn là cậu học sinh phổ thông Trường Đào Duy Từ, Phan Thanh Tịnh đã bộc lộ khả năng hội hoạ của mình khi được tham dự cuộc thi vẽ tranh liên hoan của thiếu nhi hai miền Nam – Bắc tại Cửa Tùng (Quảng Trị). Đến nay, dù đã trải qua nhiều vị trí và lĩnh vực công tác khác nhau nhưng ông vẫn miệt mài theo đuổi niềm đam mê hội hoạ. Và trong suốt chặng đường sáng tạo đó, ông đã dành phần lớn thời gian và tâm huyết cho những bức tranh vẽ về đề tài Bác Hồ. Ông kể: Ông được vinh dự trông thấy Bác Hồ vào ngày 16-6-1957, khi Người về thăm và nói chuyện tại lễ đài sân vận động Đồng Hới với hơn 3 vạn cán bộ, chiến sĩ và đồng bào Quảng Bình. Những hình ảnh, cử chỉ và giọng nói ấm áp, trìu mến của Người trong ngày hôm ấy mãi mãi đọng lại trong kí ức của ông. Nên sau đó, ý tưởng vẽ hình Bác luôn nung nấu trong trái tim ông. Bức tranh đầu tiên ông vẽ Bác vào năm 1967 với hình Bác to hơn người thật, được treo trang trọng tại Đại hội Quyết thắng của tỉnh tổ chức tại chiến khu Ba Rền.

Và tác phẩm đặc biệt thứ hai vẽ về Bác chính là bức chân dung được ông vẽ trong đêm 3-9-1969. Ông nhớ lại, đó là buổi chiều ngày 3-9-1969, khi ông đang bị ốm thì nhận được giấy triệu tập của đồng chí Trương Hoa – Chủ tịch thị xã Đồng Hới: “Bác Hồ kính yêu của chúng ta đang ốm nặng, nhỡ ra tình huống không qua khỏi, cậu (Phan Thanh Tịnh) phải nhanh chóng vẽ chân dung Bác để kịp hôm sau Đảng bộ và nhân dân tỉnh làm lễ truy điệu”. Khi được giao nhiệm vụ vẽ chân dung Người, tâm trạng ông rối bời bởi vừa lo tình hình sức khoẻ của Bác, vừa lo vì trọng trách được giao. Nhưng vì công việc quan trọng và khẩn cấp, ông bắt tay ngay vào công việc, ông chuẩn bị một tờ giấy rôki cỡ rộng, màu và bút vẽ.

Lúc đó, do ốm nên đầu óc ông cứ như bốc lửa, loay hoay mãi với những mảng màu, đường nét. Ông thật sự lúng túng thấy tay và mắt mình không làm chủ được nữa. Liền sau đó, khi nhận tin Bác Hồ không còn nữa, với niềm đau thương và kính yêu vô hạn đối với Bác, ông nhập hồn vào bức vẽ. “Tôi phải nén những giọt nước mắt để hoàn thành bức chân dung Bác cho kịp buổi Lễ Truy điệu ngày hôm sau. Đến gần 5 giờ sáng ngày 4-9-1969, tôi đặt bút xuống và báo cáo bức chân dung Bác Hồ đã hoàn thành, tất cả mọi người ngắm nhìn và oà lên khóc”… Kể đến đây, ông không kìm được cảm xúc, lấy khăn lau dòng nước mắt đang chảy dài trên gò má.

Cùng với bức tranh vẽ Bác ngày ấy, sau này ông Tịnh vẫn miệt mài vẽ tranh Bác Hồ. Trong đó phải kể đến những bức tranh ông vẽ chân dung Bác cùng Hôxê Macti – nhà tư tưởng, nhà văn hoá vĩ đại của Cu Ba – cùng lãnh tụ Phiđen Castro đã được tặng cho Đại sứ quán Cu Ba. Bức tranh vẽ Bác đứng cạnh Các Mác – Lênin được tặng cho Tỉnh uỷ Bình – Trị – Thiên. Hiện tại, trong căn phòng khách của ông treo đầy hình ảnh Bác. Trong đó, bức tranh “Bác Hồ bên cửa biển Nhật Lệ chiều 16-6-1957” được ông vẽ vào năm 1992, đã gây ấn tượng đối với nhiều người.

Cùng với niềm đam mê vẽ tranh về Bác, ông còn vẽ tranh cổ động, sáng tác thơ ca, hò vè và sưu tầm hàng ngàn câu tục ngữ, ngạn ngữ trong nước và thế giới… Nhiều bức tranh về đề tài chiến tranh cách mạng của ông hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Bình, đó là các tranh “Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Đồng Hới năm 1945”, “Lập chiến luỹ trên đường phố Đồng Hới” và “Lê Thành Đồng trên điểm cao 26”…

Theo Báo Đại đoàn kết
Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

Bác Hồ nghe thơ “Đêm nay Bác không ngủ”

Ông Vũ Kỳ, thư ký và là người có nhiều thời gian gần gũi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kể lại với nhà thơ Minh Huệ (1927 – 2003) – tác giả bài thơ “Đêm nay Bác không ngủ” mẩu chuyện thú vị sau đây:

Bài thơ “Đêm nay Bác không ngủ” vừa ra đời (năm 1951) đã được phổ biến rộng rãi qua báo đài. Các tầng lớp nhân dân, cán bộ, chiến sĩ yêu thích đến thuộc lòng và truyền tụng bài thơ như một câu chuyện kháng chiến thấm thía và có thật.

Hôm ấy, trong Phủ Chủ tịch, vào khoảng 7h tối, Thư ký lên nhà sàn xin gặp Bác. Theo thói quen, ông Vũ Kỳ thận trọng bỏ đôi guốc mộc lại, bước nhẹ lên thang gác để khỏi làm ảnh hưởng đến Người. Khi ông bước đến cửa cũng là lúc chiếc đài bán dẫn trên bàn làm việc của Bác phát đi bài thơ  “Đêm nay Bác không ngủ”. Ông Vũ Kỳ đứng lặng, muốn theo dõi thái độ, cử chỉ của Bác lúc này ra sao? Là một người khiêm tốn, tế nhị nên rất hiếm khi Bác Hồ nhận xét cụ thể những tác phẩm viết về mình…Nhưng, biết đâu lần này sẽ có điều gì khác lạ chăng?

Bác chăm chú nghe, thỉnh thoảng lại nở một nụ cười. Có cảm giác, Người đang cảm thông, thấu hiểu và chia sẻ với hiện thực kháng chiến vô cùng ác liệt, sống động phản ánh một phần qua bài thơ mà Bác cũng là một nhân vật văn học? Cũng có thể Bác đang cảm thông, thấu hiểu và chia sẻ phần nào với tấm lòng thành kính và ý tưởng nghệ thuật của một nhà thơ đi theo kháng chiến…

Lời ngâm thơ vừa dứt, làm như không hay biết gì, ông Vũ Kỳ gõ cửa xin Bác cho vào gặp. Lúc ấy, chỉ thấy nét mặt Người vui vui… còn tuyệt nhiên Bác không nói lời nào về bài thơ “Đêm nay Bác không ngủ” vừa được ngâm trên đài phát thanh.

Nhà thơ Minh Huệ còn được ông Vũ Kỳ “tiết lộ” thêm chi tiết này: Một lần khác sau đó, khi chiếc đài bán dẫn trên bàn làm việc vừa giới thiệu tên bài thơ “Đêm nay Bác không ngủ”, Bác Hồ liền vặn cho tiếng đài thật nhỏ lại. Người tỏ ý không muốn nghe nhiều lần một tác phẩm ca ngợi mình, cho dù tác phẩm ấy chân thật đi nữa? Còn với nhà thơ Minh Huệ – qua câu chuyện ông Vũ Kỳ kể thì chỉ với nụ cười và nét mặt vui vui của Bác khi nghe bài thơ, cũng đủ là phần thưởng vô giá cho đời cầm bút của ông – một nhà thơ trọn đời theo cách mạng!

Nguyễn Văn Hùng
Theo http://vnca.cand.com.vn

bqllang.gov.vn

Bác Hồ trong trái tim Việt kiều ở Udonthani

Udonthani.1Mỗi năm Khu Lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở tỉnh Udonthani
đón hàng nghìn đoàn khách trong và ngoài nước đến tham quan,
tìm hiểu những tháng ngày Bác Hồ hoạt động cách mạng tại Thái Lan.

Làng Noọng Ôn, xã Xiêng Phin, huyện Mương, tỉnh Udonthani (Thái Lan) là nơi 84 năm về trước (năm 1928), Nguyễn Ái Quốc, lúc đó có tên gọi Thầu Chín, hay ông già Chín, từ Châu Âu về Thái Lan hoạt động cách mạng.

Mặc dù chỉ ở đây một thời gian ngắn nhưng Nguyễn Ái Quốc đã để lại ấn tượng không bao giờ phai mờ trong lòng bà con Việt kiều.

Thầu Chín đã chủ trương mở rộng tổ chức; làm cho nhân dân Thái Lan có cảm tình hơn với người Việt và cách mạng Việt Nam; giáo dục Việt kiều tôn trọng phong tục, tập quán của nhân dân Thái Lan; đẩy mạnh việc học chữ Việt, chữ Thái… Năm 1929, Thầu Chín đã rời Udonthani, tiếp tục đi các địa phương khác hoạt động nhằm khơi dậy tinh thần yêu nước trong bà con kiều bào ở Thái Lan.

Năm 2003, để ghi nhận giá trị lịch sử của mảnh đất này, chính quyền tỉnh Udonthani và Hội Người Việt Nam tỉnh Udonthani đã khởi công xây dựng Khu Lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trên diện tích gần 1ha tại làng Noọng Ôn. Hiện Khu Lưu niệm đã hoàn thành gồm 2 phần chính: Khu nhà ở của Bác được tái tạo và Khu nhà đa năng mới xây kiên cố làm nơi thờ phụng, đọc sách, chiếu phim và trưng bày các kỷ vật liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh…

Udonthani.2Gặp gỡ giao lưu giữa bà con Việt kiều ở Udonthani với du khách

Udonthani.3Khu tưởng niệm gồm 2 phần chính: Khu nhà ở của Bác
được tái tạo và khu nhà đa năng làm nơi thờ phụng, đọc sách,
chiếu phim và trưng bày các kỷ vật liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Udonthani.4Một góc bàn làm việc của Bác tại Khu nhà ở của Bác được tái tạo

Udonthani.5Những hiện vật được lưu giữ tại Khu nhà ở của Bác được tái tạo.

Udonthani.6.1Góc giường ngủ của Bác trong Khu nhà ở của Bác được tái tạo

Udonthani.6Trưng bày hình ảnh hoạt động của Bác Hồ ở Thái Lan.

Udonthani.8Ông Vũ Mạnh Hùng (bên phải), đang giới thiệu với du khách về những ngày tháng Bác Hồ hoạt động cách mạng ở Thái Lan

Theo laodong.com.vn
Phương Thúy
(st)
bqllang.gov.vn

Tặng phim Bác Hồ với Tây Nguyên cho Bảo tàng Hồ Chí Minh

 Chiều 16/10, Bộ trưởng Bộ TT-TT Nguyễn Bắc Son đã trao bộ phim tài liệu “Bác Hồ với Đồng bào Tây Nguyên” cho Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh Gia Lai – Kon Tum.

Bộ phim tài liệu “Bác Hồ với Đồng bào Tây Nguyên được Cục Báo chí và hợp tác Quốc tế của Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện trong thời gian 6 tháng. Dù Bác Hồ khi còn sống chưa bao giờ đến với mảnh đất Tây Nguyên nhưng Người vẫn luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho mảnh đất này.

Các nhà làm phim đã phải rất vất vả khi tìm lại những lá thư, những kỉ vật mà thời còn sống vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc đã dành cho Tây Nguyên. Những thước phim cũng ghi lại những tài liệu về các làng bản Tây Nguyên, những con người đang sống giữa mảnh đất này dù chưa một lần gặp được Bác nhưng đã đổi sang họ Hồ để thể hiện sự kính trọng với Người.

Có mặt tại buổi lễ, Bộ trưởng Nguyễn Bắc Son đã trao tặng bộ phim tài liệu này cho Bảo tàng Hồ Chí minh chi nhánh Gia Lai – Kon Tum. Ông hy vọng bộ phim sẽ được trình chiếu ở nhiều nơi.

Bộ phim tài liệu được thuyết minh sang 5 thứ tiếng khác nhau như Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Trung Quốc và sẽ được trình chiếu tại những đài truyền hình của Tây Nguyên cùng với những buổi chiếu phim miễn phí cho Đồng bào Tây Nguyên ngay tại làng bản.

Vĩ Lam
vietnamnet.vn

‘‘Ao cá Bác Hồ’’ trên cao nguyên

Giữa núi rừng đất đỏ, trong cái nắng mùa khô như thiêu như đốt, hồ nước mang hình con thuyền khổng lồ vẫn đầy ăm ắp, trong xanh, mát rượi. Những hàng cây buông tán lá tựa những mái tóc dài. Từng đàn cá tung tăng bơi lội vui mắt. “Ao cá Bác Hồ” như một con rồng nước nối liền hai xã Tân Khai và Thanh Bình, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước không chỉ là nơi nuôi cá mà còn là một danh thắng trên cao nguyên…

Huyền tích ‘‘Ao cá Bác Hồ’’

Sau hơn nửa ngày hành trình đường rừng mệt lử trên chiếc xe U-oát, chúng tôi mới tới được doanh trại của Ban Chỉ huy quân sự huyện Hớn Quản. Huyện mới tái lập, doanh trại còn đơn sơ, nhà tranh vách tôn nhưng trên con đường đất đỏ dẫn vào cổng doanh trại, một không gian xanh mát, trữ tình mở ra. Đó là một cái ao, đúng hơn là một cái hồ rộng gần 38.000m2, trong đó diện tích mặt nước hơn 24.000m2, phía đầu bờ có chiếc cổng gắn tấm bảng đã ngả màu thời gian với dòng chữ đắp nổi: Ao cá Bác Hồ. Khung cảnh ở đây sơn thủy hữu tình, tạo ấn tượng sâu đậm cho khách từ xa tới. Thiếu tá Nguyễn Xuân Thụy, Chính trị viên phó Ban Chỉ huy quân sự huyện Hớn Quản cho hay, “Ao cá Bác Hồ” vừa mới được Ủy ban nhân dân huyện bàn giao quyền quản lý, sử dụng, khai thác cho Ban Chỉ huy quân sự huyện, tạo điều kiện để cán bộ, chiến sĩ cải thiện đời sống. Đây là công trình thanh niên được xây dựng ngay sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Trải qua gần 36 năm, “Ao cá Bác Hồ” đã được cải tạo, tu bổ nhiều lần, nhưng những dấu ấn của thời kỳ đầu “mở đất” thì vẫn còn nguyên vẹn.

Vùng đất này xưa được gọi là xứ Bình Long. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, lực lượng thanh niên xung phong, công nhân xứ Bình Long nô nức bắt tay vào công cuộc kiến thiết quê hương, đẩy mạnh lao động, tăng gia sản xuất. Một trong những công trình thanh niên trọng điểm được chính quyền huyện Bình Long phát động là đào, đắp một ao thả cá lớn, tạo nguồn cung cấp thực phẩm thủy sản cho các nông trường trong khu vực. Việc đào ao thả cá ở vùng rừng núi được coi là một quyết định lớn, thể hiện quyết tâm sắt đá của thế hệ thanh niên cao nguyên lúc bấy giờ. Bà Năm Thị Gái kể: “Năm 1976, tôi được tuyển vào làm công nhân Nông trường cao su Sa Trạch. Thanh niên các tổ chức Đoàn từ các nông trường, địa phương được vận động đóng góp công sức, kinh phí để xây dựng ao thả cá. Hàng nghìn đoàn viên thanh niên đã tham gia lao động trong nhiều tháng. Để tạo động lực cho thanh niên hăng say lao động, những người tổ chức đã đặt tên cho công trình là “Ao cá Bác Hồ”. Những ngày lao động, thanh niên cắm cờ, treo khẩu hiệu, làm việc rất khí thế. Cái tên ấy trở thành tên gọi đầy thiêng liêng, tự hào của lớp thanh niên chúng tôi ngày đó”.

Đất đào ao được đắp thành một con đê chạy dọc theo chiều dài công trình. Sau khi hoàn thành, “Ao cá Bác Hồ” là niềm tự hào của tuổi trẻ Bình Long. Lãnh đạo huyện đã chỉ đạo tổ chức nuôi cá mang lại nguồn lợi kinh tế cao. “Ao cá Bác Hồ” là một trong những mô hình tăng gia sản xuất có hiệu quả nhất thời kỳ đó ở miệt rừng cao nguyên. Điều thú vị là bà Năm Thị Gái, một trong những nữ đoàn viên thanh niên tham gia xây dựng “Ao cá Bác Hồ” ngày đó, chính là vợ của ông Phan Văn Năm, người quản lý “Ao cá Bác Hồ” từ năm 1990 đến nay. Sự sát cánh, hỗ trợ của bà giúp ông Năm có thêm niềm tin, nghị lực và tình yêu đối với công việc thầm lặng suốt hơn hai thập kỷ qua.

Hơn hai thập kỷ bên ‘‘Ao cá Bác Hồ’’

Ông Đặng Lịch, cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Chơn Thành, nguyên cán bộ Phòng Nông nghiệp huyện Bình Long kể: “Năm 1990, phòng Nông nghiệp được Ủy ban nhân dân huyện Bình Long giao quản lý “Ao cá Bác Hồ”. Là cán bộ nông nghiệp có nhiều kinh nghiệm về nuôi trồng thủy sản, ông Phan Văn Năm là lựa chọn số một của Phòng Nông nghiệp huyện đảm nhiệm nhiệm vụ này.

Ông Năm tiếp chuyện chúng tôi trong căn nhà cấp 4 đơn sơ được dựng ngay trên bờ ao. Đây là mái ấm của gia đình ông hơn hai mươi năm nay. Ông và vợ con sinh sống giữa một không gian toàn cây và cá. Khoảng sân trước nhà cũng được ông be bờ, quây bạt làm nơi nuôi và cung cấp cá giống. Ông kể: “Sau khi nhận nhiệm vụ cấp trên giao, tôi về vận động vợ con đến dựng nhà sinh sống cạnh bờ ao để tiện cho việc quản lý, nuôi cá. Hàng ngày, bên cạnh việc chăm sóc ao cá, tôi cùng vợ con ươm cây trồng dọc triền đê và xung quanh bờ ao”.

Những hàng cây, vườn cây, ông Năm và gia đình trồng đã tạo nên một không gian xanh đẹp mắt, trữ tình. Ao cá dài và rộng nên công tác chăm sóc, quản lý, bảo vệ khá vất vả. Những năm đầu, việc nuôi cá diễn ra thuận lợi. Về sau, do thời tiết biến đổi, vùng cao nguyên xuất hiện nhiều trận lũ quét, lũ ống. “Ao cá Bác Hồ” nhiều lần bị ngập, tràn đê. Nhìn đàn cá bị dòng lũ cuốn đi, ông Năm đau như cắt từng khúc ruột. Nhiều người khuyên ông từ bỏ ao cá, đi làm rẫy có thu nhập ổn định hơn, nhưng ông Năm không thể rời bỏ. “Công trình đã mang tên “Ao cá Bác Hồ” thì dù khó khăn, gian khổ đến mấy cũng phải giữ gìn, bảo vệ” – ông nói.

Việc nuôi cá ngỡ như bình lặng, vậy mà vợ chồng ông Năm đã không ít lần bị đe dọa cả mạng sống. Nhắc đến những kỷ niệm hơn hai mươi năm gắn bó với “Ao cá Bác Hồ”, bà Gái kể, giọng bổi hổi: “Năm 1992, trong một lần cuốc dọn bờ ao, tôi đào trúng một quả đạn to như nắm tay của Mỹ sót lại từ thời chiến tranh. Một tiếng nổ rung chuyển cả mặt ao, làm đổ một cây mít cạnh đó. Tôi bị hất văng ra xa mấy mét, nằm ngất lịm. Cứ tưởng tan xác rồi nhưng nhờ trời, tôi chỉ bị thương nhẹ. Sức ép từ vụ nổ làm tôi bị ảnh hưởng thần kinh, đau đầu trong một thời gian dài”.

Nghĩa tình và tâm nguyện

Những năm gần đây, do lũ lụt, thiên tai liên miên nên mỗi năm ông Năm chỉ thả nuôi cá một vụ, thu hoạch trước mùa mưa. Dẫn chúng tôi rảo bộ dọc bờ ao, ông Năm hồ hởi nói về ý tưởng xây dựng “Ao cá Bác Hồ” thành một điểm đến của du lịch sinh thái, giải trí trên cao nguyên. Muốn vậy, cảnh quan xung quanh hồ nước cần phải cải tạo, nâng cấp, xây dựng một số công trình phục vụ du khách hai bên bờ. “Gần một phần ba đời người gắn bó với “Ao cá Bác Hồ”, tôi coi đây là niềm tự hào, hạnh phúc của bản thân và gia đình. Nhưng sức tôi có hạn, trong lúc “Ao cá Bác Hồ” đang rất cần được tu bổ, gia cố để phát triển. Lâu nay, tôi vẫn mong muốn có cơ quan, đơn vị nào đó đứng ra đảm nhiệm công việc này. Nay, Ủy ban nhân dân huyện Hớn Quản quyết định bàn giao “Ao cá Bác Hồ” cho Ban Chỉ huy quân sự huyện, tôi rất mừng. Tôi tin các chú bộ đội sẽ chăm lo chu đáo “Ao cá Bác Hồ”. Tôi mong muốn được một lần ra Hà Nội, vào Lăng viếng Bác và đến thăm Ao cá Bác Hồ. Giá như có thể đưa được giống cá từ Ao cá Bác Hồ ở Hà Nội đem vào thả nuôi ở cái ao này thì tuyệt vời biết bao. Đó sẽ là một ý tưởng rất hay để đưa “Ao cá Bác Hồ” trở thành một điểm du lịch hấp dẫn và độc đáo ở miệt rừng cao nguyên này” – ông Năm tâm sự.

Phan Tùng Sơn
Theo http://www.qdnd.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Dũng sĩ diệt Mỹ và câu chuyện lần đầu gặp Bác Hồ

“Bình Đông có tiếng đánh Tây, có gan đánh Mỹ bao vây quân thù/Giặc đốt nhà ngói ta làm lại nhà tranh, giặc đốt ghe mành ta sắm thúng đi câu…”. Lời dân ca bài chòi của miền quê Bình Sơn, mỗi lần nghe hát mà xao động trong lòng. Một trong những nhân vật trong bài hát này là chị Ngô Thị Tuyết, nữ dũng sĩ diệt Mỹ… mà cách mấy năm rồi, một lần tình cờ được gặp chị ở Đà Nẵng, tôi vẫn không quên câu chuyện cảm động của chị về lần đầu gặp Bác.

Chị Ngô Thị Tuyết sinh năm 1951, lớn lên ở một làng quê nghèo xã Bình Đông (Bình Sơn). Mới 10 tuổi Tuyết đã chứng kiến bao cảnh tang thương của gia đình mình, cha và anh trai bị giặc giết, mẹ bị giặc bắt tù đày, sau đó đã hy sinh trong một trận càn. Nước mắt đau thương hóa thành hành động cách mạng, cô bé Ngô Thị Tuyết đã tham gia làm nhiệm vụ liên lạc cho du kích, sau đó trở thành nữ chiến sĩ nhỏ tuổi gan dạ.

5.dung si diet my 1Chị Tuyết khi là du kích Bình Đông (Ảnh Tư liệu)

Nhờ mưu trí, dũng cảm, nhiều lần chị Tuyết đột nhập vào các căn cứ địch để lấy trộm súng đạn về cho du kích xã. Từ chỗ thiếu vũ khí, dần dần, đội du kích xã Bình Đông đã trở nên lớn mạnh, được mệnh danh là Trung đội “thép” trên “Vành đai diệt Mỹ”. Trong đó, có phần góp sức rất lớn của nữ du kích Ngô Thị Tuyết. Nhiều lần bí mật, bất ngờ, chị đã tiêu diệt nhiều tên địch. Tuổi thiếu niên, nhưng Ngô Thị Tuyết đã được nhận danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ.

Trong một trận đánh để giải thoát 3 cán bộ huyện vào năm 1965, chị Tuyết bị thương nặng. 2 năm sau, chị được cấp trên cho chuyển ra miền Bắc chữa bệnh. Chị cho biết đó là những tháng ngày đầy kỷ niệm, hạnh phúc của mình, vì được sống trong tình cảm bao la của nhân dân miền Bắc, đặc biệt là được gặp, được nghe lời Bác Hồ dặn dò, dạy bảo.

Chị bồi hồi nhớ lại lần đầu tiên được gặp Bác, đó là đầu năm 1968. Vừa gặp, chị đã được Bác hỏi thăm: “Cháu Tuyết đấy à? Cháu ngồi xuống đây kể chuyện đánh giặc ở miền Nam cho Bác nghe…”. Chị Tuyết chào Bác rồi được ngồi cạnh bên Người, chị kể những trận đánh của du kích quê mình cho Bác nghe. Bác gật đầu khen ngợi. Bác lại hỏi chuyện đi đường ra Bắc thế nào. Chị Tuyết như quên mất những vất vả, hiểm nguy của mình, chị chỉ nhớ đến các anh bộ đội trên đường hành quân vào Nam nhắn gửi những lời tha thiết: “Em ra miền Bắc gặp Bác Hồ nhớ cho các anh gửi lời thăm Bác, và hứa sẽ sớm giải phóng miền Nam để đón Bác vào thăm”. Chị thưa lại với Bác. Bác ngồi im và nước mắt rưng rưng…

Chị được ở lại dùng cơm trưa cùng Bác, bữa cơm rau dưa nhưng chị Tuyết luôn ghi nhớ trong lòng trước những lời dặn dò của Bác. Chị kể, khi thấy mình ăn chén cơm chưa sạch, đã định thôi không dùng nữa mà đặt xuống, Bác bảo: “Cháu cố gắng ăn cho hết những hạt cơm còn lại trong chén, đồng bào mình còn khổ lắm, chúng ta không nên lãng phí…”. Mãi đến giờ, dù không còn đói ăn, khát uống như xưa, chị vẫn khắc ghi lời Bác. Đó là bài học vì dân, vì nước, “Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc/Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa”.

Một buổi sáng đầu thu năm 1969, Bác gọi chị Tuyết vào căn dặn: “Cháu phải cố gắng vượt qua thương tật học tập thật tốt để sau này về giúp miền Nam”. Không ngờ đó cũng là lần cuối cùng chị được gặp Bác Hồ. Bác đi xa, nhưng đối với chị Tuyết, hình như Bác vẫn ở gần bên cạnh chúng ta, mỗi lần làm điều gì, chị đều nghĩ đến Bác, đến đồng bào, và thấy vui khi làm những điều có ích, vì chị nghĩ là mình đã làm đúng lời Bác dạy, như thấy Bác mỉm cười, động viên mình.

Nói về việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đang được Đảng và Nhà nước ta phát động trở thành việc làm thường xuyên trong tất cả mỗi cán bộ, đảng viên và toàn dân, chị Tuyết tâm tình: “Chị rất buồn khi thấy nơi phố xá, thị thành chúng ta đầy cảnh xa hoa lãng phí; ở các quán xá, nhà hàng, có những lúc phung phí hàng chục triệu đồng cho mỗi cuộc tiếp khách; nhiều đám cưới vài trăm bàn tiệc dư thừa bỏ đi; chưa nói lãng phí thời giờ, điện nước của công…” Trong khi đó, thu nhập bình quân đầu người của nước ta còn thấp, đồng bào đang gặp bao khó khăn sau lũ lụt, thiên tai. Năm học mới, nhiều gia đình không đủ tiền để nộp cho con; Tết đến xuân về còn bao nhiêu đứa trẻ lang thang, nhiều công nhân không thể về quê với gia đình vì thiếu tiền tàu xe…Nhớ lại bữa cơm trưa lần đầu gặp Bác, nhớ lời Bác nhắc hãy ăn hết những hạt cơm còn sót trong chén, vì đồng bào mình còn khổ lắm, có lẽ mỗi chúng ta phải suy nghĩ về ý thức tiết kiệm, làm lợi cho xã hội, cho nhân dân, cho đất nước. Chúng ta đang hưởng ứng thực hiện việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Hãy bằng hành động thiết thực để làm theo lời Bác.

Theo baoquangngai.com.vn
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Yêu quý Bác vô cùng

Tôi có người bạn thân là Bùi Văn Phú. Trong những ngày chúng tôi ở Việt Bắc, đã có lần Phú tâm sự: “Ra trận sống chết là chuyện thường, nhưng nếu lỡ chết mà chưa được một lần gặp Bác, ân hận lắm!”. Ước mơ của Phú cũng là niềm ao ước to lớn của tôi. Yêu quý Bác vô cùng! Mong được gặp Bác vô cùng! Vậy mà, chỉ một năm sau, Phú của tôi đã hy sinh bên đồi Độc Lập, trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Nhớ lại mấy ngày trước Cách mạng Tháng Tám, khi nghe tin “Cụ Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa”, anh tôi, Lưu Trọng Thùy, đã nói một câu đầy “bực tức”: Hồ Chí Minh là ai? Cụ Nguyễn Ái Quốc đâu mà lại để cho Hồ Chí Minh làm Chủ tịch?”. Ít hôm sau, khi được giải thích Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc, anh tôi hể hả ra mặt: “Ừ! Có thế chứ!”. Rồi anh nhỏ to kể cho tôi nghe đôi điều anh hiểu biết về lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Đó là lần đầu tiên tôi được biết Nguyễn Ái Quốc là Hồ Chí Minh. Lòng tôi yêu Bác Hồ cũng bắt đầu từ đó.

Vào một ngày tháng 7 năm 1947, tôi cùng Soang, một chiến sĩ du kích, nằm trong vòng vây của 48 tên lính Pháp và lê dương. Tình thế thật nguy ngập. Tôi bàn với Soang: “Quyết không để giặc bắt. Phải hô khẩu hiệu trước khi cho nổ lựu đạn để chiến đấu đến cùng”. Chúng tôi cắn răng rút chốt an toàn. Trong giây phút căng thẳng ấy, tôi hình dung nếu tình huống xấu nhất xảy ra, bị giặc phát hiện, tôi sẽ cùng Soang vụt đứng dậy; sẽ gọi to tên Bác Hồ, tên Tổ quốc rồi hai trái lựu đạn cùng nổ tung… Nghĩ đến đó, hình ảnh Bác bỗng hiện lên trong trí óc, lòng tôi bỗng trở nên thanh thản lạ thường. Nhưng rồi bọn giặc đã không phát hiện ra chúng tôi. Thế là thoát.

64
Bác Hồ luôn dành tình cảm cho mọi tầng lớp nhân dân. Ảnh Tư liệu

Ngày 30-4-1957, Bác Hồ đến thăm Quân y viện 12. Bệnh viện nằm kề bên trận địa pháo cao xạ của tiểu đoàn tôi, ngăn cách bởi một hàng rào dây kẽm gai. Là Tham mưu trưởng Tiểu đoàn, hôm ấy tôi xuống làm việc với cán bộ đại đội. Nhờ một người quen bên bệnh viện báo tin, chúng tôi quyết định tạm xếp công việc, chạy ngay đến hàng rào, nhìn sang.

Bác kia rồi, trong bộ quần áo ka-ki bạc màu, đang từ khoa điều trị thương bệnh binh đi ra. Rồi Bác đứng nói chuyện với anh chị em, ngay giữa sân, bên cạnh chiếc ô tô của Người. Tôi say sưa nhìn Bác, nhưng không nghe Bác nói gì, vì xa quá. Dẫu sao tôi là người hạnh phúc, vì lần đầu tiên trong đời được nhìn thấy Bác Hồ kính yêu.

Năm 1964, tôi được tham gia phục vụ triển lãm 10 năm kỷ niệm Chiến thắng Điện Biên Phủ. Một buổi sáng, triển lãm đóng cửa. Lý do: Đón Bác Hồ đến thăm…

Bác xuất hiện từ cuối gian bên. Thấy tôi đứng đó, Bác liền hỏi:

Chú là chiến sĩ Điện Biên? (Có lẽ Bác nhìn thấy tôi đeo Huy hiệu Chiến sĩ Điện Biên Phủ).

Thưa Bác, vâng ạ!

Chú ở binh chủng nào?

Thưa Bác, cháu ở Pháo cao xạ.

À! Hồi đó Pháo cao xạ lần đầu ra trận, đánh tốt lắm. Thôi, chú giới thiệu đi. Vắn tắt thôi nhé!

Bác ra về. Chúng tôi tuy không hô “Hồ Chủ tịch muôn năm” nhưng trong tim chúng tôi in đậm bóng hình của Bác.

Ngày 3-9-1969, được tin Bác qua đời, cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị tôi ai nấy đều giàn giụa nước mắt. Lắng nghe Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Phát thanh Hà Nội truyền đi những câu thơ rung động lòng người của nhà thơ Tố Hữu càng làm cho chúng tôi thương nhớ Bác khôn nguôi: “Bác đã đi rồi sao Bác ơi!/ Mùa thu đang đẹp nắng xanh trời/ Miền Nam đang thắng mơ ngày hội/ Rước Bác vào thăm thấy Bác cười”.

***

Nhớ lại những tháng ngày qua, tôi vinh dự được gặp Bác 7 lần. Lần nào Bác cũng để lại trong tôi một ấn tượng vô cùng sâu sắc. Và, Bác ơi! Đó cũng là những giây phút hạnh phúc nhất đời con.

Theo baomoi.com
Thúy Hằng
(st)
bqllang.gov.vn

Người phi công hơn 8000 giờ bay phục vụ Bác Hồ

Ông Trần Ngọc Bích là một trong những phi công được giao nhiệm vụ chở Bác Hồ và lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ Lào.

Bữa cơm bình dị bên Người

Tháng 10 năm 1953, khi chưa đủ 19 tuổi, nghe tiếng gọi lên đường của Tổ quốc, ông Trần Ngọc Bích quê ở thôn Vạn Phúc Trung (xã Trường Sơn, Đức Thọ, Hà Tĩnh) lên đường nhập ngũ. Đến tháng 2 năm 1956, ông được tuyển chọn đi học lái máy bay phục vụ chiến đấu. Sau đó hai năm, người đàn ông này tốt nghiệp xuất sắc lớp máy bay TU2 (máy bay thả bom).

Vào thời điểm đó, tình hình trong nước có một số biến động nên ông Bích phải chuyển sang học lớp máy bay AN2 (máy bay vận tải). Sau khi hoàn thành khóa học tháng 2 năm 1960, Trần Ngọc Bích về nước tham gia vào Đoàn bay 919, thuộc Quân chủng Phòng không – Không quân Việt Nam.

Đoàn học viên không quân Việt Nam lúc ấy cử đi 18 người ra nước ngoài học lái máy bay. Trong đó có đồng chí Đào Đình Luyện, sau này là Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Đến năm 1960, sau khi tốt nghiệp lớp phi công loại xuất sắc, ông Bích cùng với đồng chí Hoàng Trọng Khai được điều về Trung đoàn Không quân vận tải 919. Khi đó, Thiếu úy Trần Ngọc Bích được phân công phụ trách lái máy bay trực thăng Mi-4. Đó là loại trực thăng do Liên Xô sản xuất, tốc độ bay tối đa 220km/giờ, tải trọng 1,4 tấn.

8000 gio bayÔng Trần Ngọc Bích hào hứng kể lại nhưng năm tháng được phục vụ Bác

Khi ấy, nước ta có ba chiếc máy bay trực thăng, tuy nhiên chưa có người lái. Trước tình hình đó, Liên Xô đã cử một chuyên gia dạy lái máy và một thợ sửa máy sang giúp đỡ.

“Khi chuyên gia Menlêép lái máy bay đưa Bác đi công tác đã thiếu lái phụ nên tôi được đảm nhận nhiệm vụ thiêng liêng đó. Không lâu sau, Đoàn bay 919 thành lập một tổ bay phục vụ Bác và Bộ chính trị”, ông Bích tâm sự.

Trong chín năm phục vụ Bác, người phi công trẻ Trần Ngọc Bích không biết mình đã bao nhiêu lần lái chiếc máy bay VN51Đ và chiếc Lốc xoáy 48 đưa Bác đi công tác xa. Nói chuyện với chúng tôi, ông Bích hồi tưởng: Vào 1963, tôi lái máy bay đưa Bác về thăm đồng bào Tuyên Quang, thăm lại căn cứ địa cách mạng ở cây đa Tân Trào. Ngày đó, ở Tuyên Quang, trời nắng như đổ lửa, đất ruộng nứt nẻ như sa mạc. Đi cùng với Bác có đồng chí Phạm Ngọc Thạch, đồng chí Vũ Kỳ và đồng chí Trần Đăng Ninh.

Buổi chiều máy bay đáp xuống Tuyên Quang nên lịch trình của Bác là nghỉ đêm, ăn sáng xong thì mới lên máy bay di chuyển vào Tân Trào. Hôm đó trời đã trưa thì máy bay mới hạ cánh xuống cánh ruộng lúa vừa gặt xong. Bác Hồ đi bộ đến một khe suối và nói với mọi người rửa tay chân rồi ăn cơm.

“Nhìn Bác dùng tay khoát nước lên rửa tay chân, tôi không ngờ trên thế giới này lại có một vị Chủ tịch giản dị như thế”, phi công Trần Ngọc Bích kể. Theo lời ông Bích, không có bữa cơm nào mà bình dị như bữa cơm ở Tân Trào năm 1963. Bác cùng với đoàn đã trải một chiếc ni lông rồi dùng dao thái từng nắm cơm nắm ra ăn. Bác lấy cho mỗi người một miếng cơm và nói: “Các chú ăn no vào, tối chúng ta mới về đến Hà Nội”.

Cảm động chuyến bay cuối được phục vụ Bác

Có lẽ, kỷ niệm ông Bích nhớ nhất trong quá trình bay phục vụ Bác là cú hạ cánh sai địa điểm. Do chưa có sự thống nhất giữa trung đoàn và bộ phận an ninh nên phi công Trần Ngọc Bích đã đáp máy bay xuống sân bê tông ở Sơn Tây để đón Bác.

Thấy Bác đến, họ ùa vây quanh kính cẩn chào hỏi Bác Hồ. Gặp người dân, Bác Hồ đã ân cần hỏi thăm bộ đội và nhân dân gần đó rồi tạm biệt mọi người lên đường.

Ngoài nhiệm vụ bay vận chuyển vũ khí và lương thực chi viện cho chiến trường miền Nam và nước bạn Lào, máy bay Mi-4 do ông Bích lái còn đảm nhiệm nhiệm vụ đặc biệt là bay phục vụ Bác Hồ và các đồng chí Trung ương Đảng đi công tác.

Một kỷ niệm có lẽ mà trong cuộc đời phi công Trần Ngọc Bích nhớ mãi đó là ngày 15/2/1960, Trung đoàn 919 được đón Bác Hồ đến thăm. Ông Bích nhớ lại: Trong buổi nói chuyện hôm đó, sau khi nói về vị trí, nhiệm vụ của không quân và sự hiệp đồng của ngành hàng không, Bác đã chốt lại ba điều căn dặn: “Điều thứ nhất, Bác muốn dặn mỗi người phải vì dân, vì nước lập công xuất sắc. Điều thứ hai, mọi người phải đoàn kết, thương yêu giúp đỡ nhau trong mọi mặt công tác, học hành và đời sống hàng ngày. Điều thứ ba là từ lãnh đạo đến nhân viên phục vụ đã có thành tích rồi thì càng phải cố gắng nhiều hơn nữa.

Người lính già nhớ lại chuyến bay cuối cùng được phục vụ Bác. Đó là tối ngày 23/4/1968. Sau khi hạ cánh an toàn xuống sân bay Bạch Mai, Bác đã gọi Tổ bay lại chia kẹo, thuốc lá cho từng người. Bác hỏi chuyện thân mật và không ai ngờ được đó lại là chuyến bay cuối cùng họ được chở Người.

Ngày 19/12/1975, Bộ Quốc phòng ký quyết định thành lập Trung đoàn Không quân trực thăng 916 trực thuộc Sư đoàn 371. Đại úy Trần Ngọc Bích được bổ nhiệm giữ chức Trung đoàn trưởng. Năm 1977, ông chuyển về công tác tại Quân chủng Phòng không – Không quân. Năm 1983, người phi công ngày nào đảm nhiệm cương vị Phó Hiệu trưởng Trường Chỉ huy Kỹ thuật Không quân, rồi đến  năm 1990 thì nghỉ hưu. Người lính già trở về với bên dòng sông La hiền hòa.

Hiện nay trong ngôi nhà của mình, Đại tá Trần Ngọc Bích dành một nơi trang nghiêm nhất để thờ Bác Hồ. Phía dưới chân dung Bác là một bức ảnh đặc biệt do đồng đội tặng. Đó là năm chiếc máy bay trực thăng  Mi – 8 mang theo cờ Tổ quốc diễu hành gần Lăng Bác. Trong trái tim người lính già, những kí ức về Bác Hồ mãi mãi khắc sâu.

Hà Hằng – Kim Long
Theo
 
nguoiduatin.vn
Phương Thúy
(st)
bqllang.gov.vn

Cố họa sĩ Mai Thứ và những thước phim quý giá về Bác Hồ

Có một Việt kiều Pháp từng theo dấu chân Chủ tịch Hồ Chí Minh ròng rã suốt 3 tháng trời để quay những thước phim tư liệu quý giá khi Người tới thăm chính thức nước Cộng hòa Pháp năm 1946.

7Co hoa si Mai Van Thu 1Hình ảnh Bác Hồ nói chuyện với các thanh niên dân chủ Pháp tại Paris, 1946
đã được họa sĩ Mai Trung Thứ lưu lại

Người sáng lập Hãng phim Tân Việt 

Họa sĩ Mai Trung Thứ sinh năm 1906 tại thôn Do Nha (Ro Nha), xã Tân Tiến, huyện An Dương, tỉnh Kiến An (cũ) nay là xã Tân Tiến, huyện An Dương, Hải Phòng. Ông cùng thời với Nguyễn Phan Chánh, Lê Văn Đệ, Lê Phổ, Nguyễn Cao Luyện, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí… thuộc khóa đầu tiên của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Bạn bè quen gọi ông là Mai Thứ, sau này, cái tên đó đã trở thành bút hiệu của ông trong suốt cuộc đời nghệ thuật. Từng có thời gian vào Huế dạy học, nhân có một cuộc triển lãm tại Pháp, ông đã sang dự rồi quyết định tu nghiệp và định cư luôn tại nước Pháp.

Dù hơn nửa cuộc đời sống xa Việt Nam nhưng Mai Trung Thứ đã làm hết sức những gì có thể cho sự phát triển của nền văn hóa nghệ thuật quê nhà. Ngoài những cống hiến cho nền hội họa Việt Nam, Mai Trung Thứ còn có nhiều đóng góp quý báu cho nền điện ảnh Việt Nam. Bên cạnh niềm đam mê hội họa, ông còn dành sự quan tâm trong lĩnh vực điện ảnh. Ông đã tự học kỹ thuật điện ảnh, tự sắm máy quay phim, tự sản xuất phim. Năm 1946, ông gửi về nước bộ phim tài liệu với nhan đề “Sức sống của 25.000 Việt kiều tại Pháp” do chính ông đứng tên hãng sản xuất là Tân Việt. Bộ phim sau đó được chiếu rộng rãi tại các rạp ở Hà Nội.

Cố họa sĩ Mai Trung Thứ tại phòng tranh của mình – Vanves Pháp, 1964

Và những thước phim quý giá

Mặc dù sống xa quê hương, song tấm lòng ông luôn hướng về Tổ quốc. Năm 1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Pháp, mặc dù điều kiện kỹ thuật lúc bấy giờ còn nhiều khó khăn, nhưng ông đã quay được toàn bộ các hoạt động của Bác từ khi Người đặt chân xuống sân bay Biarritz ở Tây Nam nước Pháp cho đến khi Người rời đất Pháp tại bến cảng Toulon trên bờ Địa Trung Hải, ngày 18-9-1946. Máy quay của  ông đã ghi rất nhiều hình ảnh của Bác Hồ trên đất Pháp, những hoạt động ngoại giao chính thức và những cảnh sinh hoạt ngày thường của Người: Tiếp các chính khách nước ngoài; gặp gỡ Việt kiều và những bạn bè quốc tế quen biết Người hơn 20 năm trước; đi thăm địa phương, cơ sở kinh tế, văn hoá, di tích lịch sử; đọc sách, xem biểu diễn nghệ thuật; đi dạo trên bãi biển; ngồi chơi trên bãi cỏ trong vườn Bulônhơ; nằm nghỉ trong vườn nhà ông bà Ôbrắc, Uỷ viên Cộng hoà Pháp, ở ngoại ô Paris…

Đáng nhớ nhất là những buổi Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp gỡ, nói chuyện với Việt kiều tại Hội trường Mutualiste. Đây là một hội trường lớn trong khu phố Môbe, rất thân thiết với người Việt Nam định cư ở Paris, là nơi diễn ra những buổi liên hoan vào dịp Tết, những cuộc gặp mặt, hội họp, mít tinh, biểu diễn nghệ thuật của Việt kiều. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với Việt kiều, thông báo tình hình trong nước và căn dặn bà con đoàn kết, hướng về Tổ quốc và mỗi người cố học lấy một nghề. Bộ phim đã ghi lại nhiều hình ảnh của Bác Hồ trong các hoạt động chính thức cũng như các sinh hoạt thường ngày và trong các buổi tiếp xúc với Việt kiều. Ông cũng ghi lại được tiếng nói của Bác Hồ trên đĩa nhựa. Trong bộ phim này, ông đã ghi được một số hoạt động của đoàn đàm phán Việt Nam tại Hội nghị Foutainebleau do Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu…

Toàn bộ hơn 1 tạ phim và 11 chiếc đĩa nhựa ghi lại tiếng nói của Hồ Chủ tịch đã được họa sĩ trao tặng lại cho Nhà nước ta. Ông cũng là người đã bỏ nhiều công sưu tầm lại những thước phim quý giá do người Pháp quay Ngày Tuyên bố Độc lập 2-9-1945 và dựng lại thành một bộ phim tài liệu chiếu cho bà con kiều bào xem. Nhờ sự giúp đỡ của nhà điện ảnh Hà Lan Giô rít  I-Ven, những thước phim quay Lễ Tuyên bố Độc lập 2-9-1945 ở Quảng trường Ba Đình đã được tìm thấy tại nhà một người Pháp ở Paris. Cuối phim, có chữ ký MAI THU, giống với chữ ký của ông Mai Trung Thứ trên các tranh lụa của ông. Chính những tư liệu quý giá đó đã được đồng chí Trường Chinh chỉ đạo dựng ngay thành bộ phim tài liệu lịch sử “Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh” phát rộng rãi cho khán giả xem vào dịp 2-9-1975.

Những đóng góp của cố họa sĩ Mai Trung Thứ cho nền điện ảnh tài liệu nước nhà vô cùng to lớn. Có thể ví ông như chiếc cầu nối văn hóa, lịch sử với những Việt kiều xa quê với đất nước. Mặc dù, tên tuổi của ông ít được biết đến trong nước nhưng những cống hiến của ông là không thể phủ nhận và cần được ghi nhận, tôn vinh xứng đáng của Đảng và Nhà nước./.

Theo Đỗ Nguyễn/An ninh Thủ đô
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

“Hỏng mắt, con tạc tượng Người”

Lê Duy Ứng sinh ra ở làng Cổ Hiền, xã Hiền Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Truyền thống quê hương sớm khơi dậy trong Lê Duy Ứng tinh thần hiếu học. Thừa hưởng tài năng của người cha, một “Anh Bộ đội Cụ Hồ” thời chống Pháp và tính chịu thương, chịu khó của bà mẹ hay lam hay làm, ngay từ khi học lớp 1, Ứng đã bộc lộ khả năng vẽ tranh. Bức tranh đầu tiên Ứng nhận giải thưởng, được treo trưng bày tại phòng tranh của huyện nhà có tên “Xấu nên tránh, tốt nên theo”.

hong mat a1
Họa sĩ Lê Duy Ứng trước chân dung Bác Hồ

Tốt nghiệp phổ thông, Ứng trở thành sinh viên Trường Mỹ thuật Hà Nội. Học chưa hết năm thứ 3, cũng như cả thế hệ thanh niên “Ba sẵn sàng” thời đó, nghe theo tiếng gọi non sông, Lê Duy Ứng tạm “Xếp bút nghiên lên đường tranh đấu”. Sau một thời gian huấn luyện tại Nhã Nam (Yên Thế, Bắc Giang), Ứng trở thành lính trinh sát.

Năm 1972, Ứng có mặt tại chiến trường Quảng Trị nóng bỏng, được biên chế vào Ban Tuyên huấn Trung đoàn 101. Tại chiến trường ác liệt này, họa sĩ Lê Duy Ứng có được nhiều ký họa phản ánh cuộc sống chiến đấu của quân và dân Quảng Trị anh hùng. Năm 1973, theo chân các anh Giải phóng quân, tham gia đánh trận Cửa Việt thắng lợi, ông vẽ bức tranh “Chiến thắng Cửa Việt” tặng Đại tướng Lê Trọng Tấn, Tư lệnh Sư đoàn 312, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Kể lại chuyện này người họa sĩ già, Đại tá Lê Duy Ứng đã bước sang tuổi “xưa nay hiếm” bồi hồi: “Đó là giai đoạn hào hùng của dân tộc. Bắt đầu chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, chúng tôi tiến vào giải phóng Huế, Đà Nẵng để “tiến về giải phóng Thành Đô” như câu hát cửa miệng của chiến sĩ ta “Thần tốc! Thần tốc! Thần tốc” xốc tới. Thiếu tướng Lê Linh, Chính ủy Quân đoàn 2, gọi tôi lên, cho tôi xem bức thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và yêu cầu tôi vẽ tranh cổ động treo trên xe tiến vào thành phố mang tên Bác. Tôi đã vẽ bức tranh “Hành quân thần tốc, xốc tới lập công”. Và ngay lúc ấy, tôi nghĩ đến hình ảnh Bác nên vẽ bức “Bác đang cùng chúng cháu hành quân” để cổ vũ tinh thần đồng đội”.

Sáng 28-4-1975, trong trận đánh căn cứ Nước Trong, cách cửa ngõ Sài Gòn 30 cây số, Lê Duy Ứng đang ngồi trên chiếc xe tăng 847 làm nhiệm vụ quay phim, chụp ảnh, vẽ ký họa, thì súng chống tăng của giặc bắn đứt xích xe bên phải. Chiếc tăng khựng lại, quay ngang đường hắt Lê Duy Ứng xuống vệ đường ngất lịm “khi tôi tỉnh dậy – ông Ứng kể – sờ thấy người đồng đội bên cạnh đã hy sinh, mắt tôi lòng thòng ra bên ngoài, khắp người đầy máu, đầu óc vẫn tỉnh táo. Tôi nghĩ chắc mình khó qua, tôi dồn sức lực còn lại, vẽ một cái gì thật có ý nghĩa trong giờ phút lịch sử này. Tôi nghĩ đến hình ảnh danh họa Diệp Minh Châu, thay mặt đồng bào miền Nam vẽ tranh bằng máu tặng Bác. Thế là tôi lấy máu đang ứa ra ở mắt của mình vẽ chân dung Bác với nền là lá cờ đỏ sao vàng tung bay phất phới. Tên bức tranh là “Ánh sáng – niềm tin”, với lời chú thích “Con nguyện dâng Người tuổi thanh xuân…”.  Đồng đội kịp đưa ông vào Viện Quân y Nha Trang điều trị một tháng trước khi chuyển ra chữa chạy tại Viện Mắt Trung ương, Hà Nội.

Họa sĩ Lê Duy Ứng trầm ngâm ngước đôi mắt “nhìn” tôi. Thực ra mắt ông đã mù trở lại sau một thời gian dài được Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trọng Nhân mổ ghép giác mạc, trả cho họa sĩ đôi mắt sáng để ông thỏa chí vẽ tranh, nặn tượng. Ông tâm sự: “Những ngày đầu tiên khi biết mình bị hỏng mắt là những ngày buồn nhất trong cuộc đời tôi. Là họa sĩ, không nhìn thấy thì còn làm gì được nữa. Nhiều lúc tuyệt vọng tôi chỉ muốn chết. Vào lúc khó khăn nhất của cuộc đời, gia đình, đồng đội ở bên cạnh, động viên, an ủi, giúp tôi tiếp tục sống, chiến đấu, chiến thắng bệnh tật.

Thượng tá Đào Xuân Trà, Viện phó kiêm Trưởng khoa Mắt bảo tôi: “Tôi sang Liên Xô thấy có những người mù không nhìn thấy gì nhưng nặn tượng rất giỏi, Ứng thử nặn tượng xem”. Một lần nữa tôi thấy mình “sống lại”, không vẽ được thì tôi nặn tượng”. Bức tượng đầu tiên Lê Duy Ứng tạc là tượng Bác Hồ. Ông đặt tên cho bức tượng bằng hai câu thơ: “Hỏng mắt con tạc tượng Người/ Niềm tin ánh sáng trọn đời trong con”. Ông kể tiếp “Ngày đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp xem tôi tạc tượng, vô cùng xúc động, Đại tướng động viên tôi: “Ứng tạc tượng Bác rất giống. Ứng có đôi bàn tay vàng đấy”. Từ đó họa sĩ Lê Duy Ứng tập trung làm nhiều tượng và gặt hái nhiều thành công với 41 cuộc triển lãm, khoảng 3.000 tranh, 500 tượng, 500 bức kí họa chiến trường, 8 giải thưởng trong và ngoài nước.

Ông nhâm nhi cùng tôi một tách trà Thái đặc sánh, chậm rãi nói những lời như đúc kết kinh nghiệm cho chính mình “Một người bình thường làm nghệ thuật đã thấy gian khổ thì với những người hỏng mắt như tôi gian khổ nhân lên gấp bội. Nhiều lần thất bại, nhiều khi tôi thấy chán nản, tuyệt vọng, thấy mình vô dụng. Những lúc ấy tôi lại nhớ đến lời dạy của Bác Hồ “Làm việc theo khả năng của mình. Thương binh tàn nhưng không phế”. Học tập và làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tá, họa sĩ, Lê Duy Ứng với nghị lực phi thường, vượt lên chính mình, sống có ích cho đời, luôn xứng đáng là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ noi theo.

Lê Sĩ Tứ
Theo http://www.anninhthudo.vn
Thu Hiền
(st)

bqllang.gov.vn

Nghệ nhân say mê khảm chân dung Hồ Chủ tịch

Với lòng ngưỡng mộ dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, hơn 20 năm qua, nghệ nhân Nguyễn Đình Vinh (Tiên Du, Bắc Ninh) đã truyền thần thành công hàng trăm bức ảnh chân dung về Người bằng vỏ ốc trên nền đồng tinh xảo.

Chiều cuối tháng 8 tại cơ sở sản xuất của anh ở xã Liên Bão (Tiên Du, Bắc Ninh), anh Nguyễn Đình Vinh đang miệt mài thể hiện từng nét khắc trên bức khảm truyền thần chân dung Hồ Chủ tịch. “Khó nhất là khâu thể hiện khuôn mặt, đặc biệt là bộ râu của Bác. Ngoài việc làm cho giống thì phải thể hiện được cái hồn của tác phẩm”, vừa quệt mồ hôi, anh vừa chia sẻ với khách.

nghe nhan kham trai 1
Anh Vinh bên tác phẩm đầu tay được giải nhất về tuổi trẻ sáng tạo

Sinh năm 1976 tại mảnh đất nổi tiếng với nghề khảm trai truyền thống, thôn Ngọ, xã Chuyên Mỹ (Phú Xuyên, Hà Nội), ngay từ nhỏ, Nguyễn Đình Vinh đã thích khảm trai. Học hết cấp 2, anh nghỉ học và quyết tâm theo đuổi ước mơ trở thành nghệ nhân khảm trai.

Anh may mắn được theo học nghệ nhân Trần Bá Dinh, người nghệ nhân dân gian đã “giữ lửa” cho làng. Với 7 năm kiên trì học hỏi, cộng thêm tố chất thông minh, không ngại khó, ngại khổ nên anh được thầy Dinh yêu mến và truyền thụ cho những bí quyết về nghề khảm truyền thần.

Khác những người thợ trong làng, ngay từ ngày đầu bước vào nghề, Nguyễn Đình Vinh đã chọn hình ảnh Hồ Chí Minh để thể hiện. “Ngày nhỏ, tôi thường được nghe cha kể về tấm gương đạo đức của Bác Hồ kính yêu, hình ảnh của Bác trở nên thân thiện. Vì thế tôi muốn thể hiện tình yêu và lòng tôn kính Bác qua tác phẩm của mình”, anh Vinh tâm sự.

Thời gian đầu vào nghề đầy khó khăn, nhiều bức chân dung phải truyền thần lại nhiều lần, mỗi lần như thế anh không nản mà tâm niệm: “Không có gì là không thể làm được, tất cả là do mình đã cố gắng hết sức hay chưa mà thôi”. Và anh lại miệt mài khảm cho đến khi tác phẩm thật ưng ý.

Nỗ lực từng ngày, năm 1998, tác phẩm truyền thần chân dung Hồ Chủ tịch khảm ốc trên nền đồng đầu tiên của anh đã được Tỉnh Đoàn tặng giải Nhất Tuổi trẻ sáng tạo. Anh cũng là nghệ nhân đi tiên phong trong lĩnh vực mới mẻ này. Năm 2008, anh được Hội tinh hoa làng nghề Việt Nam tặng Bằng khen công nhận bức chân dung Bác Hồ cười là tác phẩm đẹp nhất và tinh hoa nhất.

nghe nhan kham trai 2
Bức chân dung Bác Hồ cười” được hội tinh hoa làng nghề Việt Nam
công nhận là tác phẩm đẹp nhất, tinh hoa nhất. Ảnh: 
Nguyễn Anh.

Anh chia sẻ, nhìn qua thì tưởng khảm ốc đơn giản, nhưng để tạo ra một tác phẩm không dễ chút nào, đòi hỏi người thợ phải có trí tưởng tượng phong phú, sự kiên trì và niềm đam mê sáng tạo. Để hoàn thành một tác phẩm chân dung Bác khảm ốc trên nền đồng với kích thước 30×40 cm, anh phải mất khoảng một tháng làm việc liên tục.

Theo anh, truyền thần chân dung rất khó, đặc biệt là chân dung Hồ Chủ tịch vì đòi hỏi nghệ nhân phải thổi được hồn để tạo nên sức sống chân thực trong tác phẩm. Bên cạnh đó phải chú ý quan sát từng chi tiết, từ nếp nhăn trên trán hay nếp nhăn bên mí mắt, chòm râu cũng như nét mặt trong từng thời kỳ thì mới tạo nên sự thành công.

Dành nhiều thời gian để nghiên cứu những bức ảnh của Hồ Chủ tịch qua các thời kỳ, đặc biệt là sự thay đổi trên khuôn mặt, anh Vinh chia sẻ: “Những năm kháng chiến chống Pháp nhìn vào đôi mắt và nét mặt Bác thấy lòng quyết tâm giải phóng dân tộc của Người, nhưng những năm cuối đời khuôn mặt Bác lại hiền từ, nhân hậu khiến mỗi khi nhìn vào tôi cảm thấy tâm hồn mình trong sáng hơn, yêu đời hơn”.

Nhiều người trong làng đã tìm đến nhờ làm những bức chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh để cho vào khung ảnh treo trong nhà, anh đều vui vẻ nhận lời. Anh nhẩm tính sau hơn 20 năm gắn bó với nghề anh đã truyền thần thành công gần 1.000 bức chân dung lớn nhỏ về Bác.

Người đàn ông ngoài 30 tuổi này đang ấp ủ kế hoạch làm một bức chân dung Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập ở Quảng trường Ba Đình. “Bức tranh sẽ được gắn thiết bị cảm biến thâu lời Bác đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập để mỗi khi ngắm Bác tôi lại được nghe Bác đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, được cảm nhận giây phút lịch sử của đất nước”, anh tâm sự.

Với sự cống hiến và tâm huyết trong nghề, nghệ nhân Nguyễn Đình Vinh đã nhận được nhiều bằng khen của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam năm 2009, Bằng chứng nhận Doanh nhân tiêu biểu, Bằng khen của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh, Cúp 1000 năm Thăng Long – Hà Nội.

Theo trithucthoidai.vn
Phương Thúy
(st)

bqllang.gov.vn