Thư viện

Một lần vẽ Bác Hồ

Trong cuộc đời mỗi người, được một lần gặp Bác là kỷ niệm đẹp nhất, khó phai nhạt. Đối với họa sỹ Phan Kế An, ông có một vinh dự đặc biệt: được trực tiếp vẽ chân dung Bác Hồ.

Họa sỹ Phan Kế An sinh năm 1923 trong một gia đình danh giá. Cha ông, cụ Phan Kế Toại, từng làm đến chức Khâm sai Đại thần của Triều Nguyễn, sau tham gia cách mạng, giữ chức Bộ trưởng Nội vụ và Phó thủ tướng trong Chính phủ Hồ Chí Minh. Năm 1942, ông theo học tại trường Mỹ thuật Đông Dương, tham gia nhiều hoạt động cách mạng trong các phong trào của sinh viên, học sinh. Hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh ông cùng nhiều văn nghệ sỹ, trí thức đi kháng chiến. Ông được công tác ở báo Sự Thật (tiền thân báo Nhân Dân) và được Tổng bí thư Trường Chinh (lúc bấy giờ đang phụ trách báo Sự Thật) giao vẽ về Bác, ở mọi tư thế, bằng mọi chất liệu để có một bức in vào số báo sau đó…

Nhận nhiệm vụ, họa sỹ Phan Kế An vô cùng sung sướng, vì niềm ao ước bấy lâu của ông là được gặp Bác Hồ và được vẽ Người. Nhưng xen lẫn sự vui sướng là tâm trạng lo âu. Ngay ngày hôm sau, ông chuẩn bị những vật dụng cần thiết đến gặp Bác. Khi đến nơi, ấn tượng đầu tiên của ông là cuộc sống vô cùng giản dị của Bác. Trong căn phòng nhỏ có rất ít đồ đạc, gồm một chiếc bàn gỗ trên đặt chiếc máy chữ, một phích đựng nước và một hộp đựng thuốc lá. Gặp Bác, Người ôm chầm lấy ông và hỏi thăm sức khỏe, tình hình công việc và gia đình của ông… Khi ông kể về cách giáo dục của bố ông đối với các con, dạy các con biết yêu lao động, họa sỹ Phan Kế An rất ngạc nhiên vì Bác đã biết về cách giáo dục của gia đình ông và Người nói đó là cách giáo dục tốt, đem lại lợi ích cho Tổ quốc…

Sau đó, Bác đưa họa sỹ Phan Kế An đến chỗ nghỉ ngơi và giới thiệu họa sỹ với mọi người. Cách xưng hô “mình – An” của Bác đã xóa tan mọi âu lo trong ông. Lời nói của Bác ân cần, tình cảm như của người cha dành cho người con vừa đi xa về. Người nói: “An ở đây với mình, ở bao lâu tùy An, An cứ làm việc theo ngẫu hứng của An. Mình làm việc khi chỗ này, khi chỗ nọ quanh đây, An cứ tự nhiên theo mình mà vẽ. Bây giờ An có thể tự do xuống chỗ anh Kỳ và các anh em khác nghỉ ngơi, muốn tắm thì xuống suối gần đây, chiều ăn cơm với mình”.

Khi thực hiện vẽ Bác, ông quan sát tỉ mỉ từng cử chỉ, động tác của Người để lựa chọn vị trí thích hợp. Vẽ Bác không dễ vì bản thân họa sỹ không muốn Bác phải ngồi như một người mẫu, ảnh hưởng đến công việc của Người, nhưng vẫn phải làm toát lên được cốt cách, nội tâm của Bác. Tuy nhiên, sau nửa tháng làm việc, họa sỹ Phan Kế An cũng đã cho ra đời được hơn 20 bức tranh về Bác. Khi ông báo cáo với Bác để xin ý kiến chọn lựa bức tranh cho số báo tiếp theo. Bác đề nghị treo tất cả các bức tranh ông đã vẽ lên vách và mời toàn bộ anh chị em trong cơ quan đến xem. Sau khi xem kỹ từng bức, Bác chỉ tay vào một bức được ông ký họa bằng nét bút sắt mực đen và nói: “Nếu lấy in báo thì lấy bức này, giản dị và có thần”.

Khi họa sỹ Phan Kế An trở về cơ quan, Tổng bí thư Trường Chinh chỉ thị cho in ngay bức tranh mà Bác đã chọn. Bức ký họa được in vào số báo tháng 12.1948, phát hành với số lượng lớn phục vụ đồng bào và chiến sỹ ta trên khắp các mặt trận.

Hình ảnh của Bác qua bức ký họa chân dung của họa sỹ Phan Kế An đã góp phần động viên đồng bào, chiến sỹ quyết tâm kháng chiến kiến quốc thắng lợi. Bức ký họa chính là một trong những bức tranh đẹp nhất mà họa sỹ vẽ về Bác thời kỳ ở chiến khu Việt Bắc.

Do chiến tranh nên các bức ký họa về Bác của họa sỹ Phan Kế An không còn nhiều. Những bức còn giữ được ông đã tặng lại Bảo tàng Hồ Chí Minh. Hiện nay tuy tuổi đã cao, nhưng họa sỹ Phan Kế An vẫn ấp ủ những dự  định sáng tác về Bác Hồ, vì những ngày bên Bác là khoảng thời gian đẹp nhất trong cuộc đời ông.

Hoa Đình Nghĩa
daibieunhandan.vn

Kỷ niệm về lần gặp Bác Hồ của “chim cánh cụt” Hoa Xuân Tứ

Đã gần 50 năm trôi qua nhưng những kỉ niệm về lần duy nhất trong đời được gặp Bác Hồ vẫn nguyên vẹn trong tâm trí Hoa Xuân Tứ. Đó cũng là lần duy nhất cậu bé không tay Hoa Xuân Tứ được tham dự Đại hội chiến sỹ thi đua chống Mỹ cứu nước.

14.1hoaxuantu a1
Hoa Xuân Tứ và vợ

Bác dặn “phải cố gắng nhiều hơn”!

Chúng tôi tìm về nhà ông Hoa Xuân Tứ (SN 1950, trú tại xóm 4, xã Hưng Nhân, Hưng Nguyên, Nghệ An) một ngày đầu năm 2013. Trong căn nhà gỗ cũ kỹ, Hoa Xuân Tứ đang lăn trên giường để dỗ đứa cháu trai đang khóc vì ngái ngủ. Dưới nền nhà, lạc vỏ, lạc nhân vương vãi. Thấy có khách, ông bật dậy, cười: “Đang bóc lạc để chuẩn bị gieo thì thằng cháu dậy. Nhà chỉ còn tôi với đứa con gái tật nguyền ở nhà thôi. Bà nó và đứa con dâu đang ở ngoài đồng.”

Ông cúi xuống, đứa cháu chừng 3 tuổi vòng tay ôm lấy cổ. Hai ông cháu ra bàn ngồi, hai cánh tay bị cắt cụt để bả vai, chỉ còn hai chiếc ống tay áo lủng lẳng theo nhịp bước đi. Đó là hậu quả một vụ tai nạn khi ông còn là một đứa trẻ 4 tuổi. Lần đó, ông đi xem người ta ép mía bằng trục đá do trâu bò kéo. Một phút bất cẩn, cả phần thân trên của ông bị cuốn vào cái trục đá đó. Hai cánh tay bị nghiền nát bét lên tận bả vai, ngực cũng bị tổn thương nặng nề.

14.2hoaxuantua2
Dù không còn đôi tay nhưng Hoa Xuân Tứ vẫn lao động như một lão nông tri điền thực thụ

Sau một thời gian cứu chữa, bác sỹ buộc phải cắt trọn 2 cánh tay của Tứ. Dù mới 4 tuổi nhưng Tứ đã hiểu nỗi mất mát lớn lao của mình. Thế nhưng cái lòng ham học thì chẳng có trở ngại nào có thể ngăn cản được. Thấy bạn bè cắp sách tới trường, Tứ nằng nặc đòi đi theo. “Mi không có tay, viết chữ răng được mà đi hả con?”, bố mẹ của ông động viên.

Kệ, ông cứ để ngoài tai. Sáng sáng, khi các bạn ôm cặp tới trường cũng là khi ông lúc lắc thân hình không tay tới lớp. “Thấy tôi không có tay, các thầy cô giáo cũng không cho vào học vì nghĩ rằng tôi không thể viết được. Tôi đứng ngoài cửa, nhìn cô giáo dạy các bạn viết rồi về nhà, dùng que, dùng gạch, phấn kẹp vào ngón chân, tập viết ra sân. Không nói hết cái khổ cực của tập viết bằng chân mô, có khi chuột rút cho ngã ngửa ra sân, đau đến méo cả miệng.

Rồi tôi cũng viết được chữ, tuy không đẹp lắm. Lần này thì các thầy cô cho tôi vào học vì thương tôi đã khổ luyện. Tôi được ngồi riêng một bàn, chẳng cần ghế vì phải ngồi hẳn lên bàn mới viết được. Nhưng dần dần tôi thấy mình “bất lịch sự quá” nên cố gắng chuyển sang tập viết bằng cằm và cổ. Tôi cứ kẹp cái bút vào cổ, dùng vai và cằm điều khiển nó đi theo ý định của mình. Hồi đó còn viết bằng bút mực, mực loang lổ cả áo là chuyện thường. Sau 3-4 tháng khổ luyện, tôi không phải dùng chân để viết nữa”, Hoa Xuân Tứ nhớ lại.

14.3hoaxuantua3
Nhờ khổ luyện, ông có thể viết chữ bằng chân và bằng cằm, cổ

Không còn phải viết bằng chân nhưng đôi chân đã thay cho đôi bàn tay khi nó có thể giúp Tứ làm được mọi việc, từ chăn trâu, cuốc đất… Ngoài việc giúp đỡ bố mẹ việc nhà, việc đồng áng, dù không có tay nhưng Tứ vẫn giành được thành tích đáng nể trong học tập, nhiều năm liền giành được danh hiệu học sinh tiên tiến. Rồi Tứ vinh dự được tham dự Đại hội “2 giỏi” toàn tỉnh và được các nhà báo Hữu Thọ, Vũ Quang Huy, nhà văn Sơn Tùng biết tới. Những bài viết về nghị lực vươn lên của chú bé không tay Hoa Xuân Tứ đã được cả nước biết đến.

Năm 1966, Hoa Xuân Tứ được vinh dự tham gia Đại hội Anh hùng chiến sỹ thi đua chống Mỹ cứu nước toàn quốc. “Đại hội to lắm, toàn các chú bộ đội nhiều thành tích trong chiến đấu chống Mỹ cứu nước. Năm đó chỉ có 6 thiếu nhi được tham dự thôi, gồm tôi, bạn Kiều Anh (Hà Nội), Đinh Thị Lê Kim (Hải Phòng), Nguyễn Bá Ngọc, Nguyễn Thị Vệ (Thanh Hóa), Trần Ngọc Ý (Hà Tĩnh) vì đã có những cố gắng trong học tập và cuộc sống.

“Đó cũng là lần đầu tiên và duy nhất tôi được gặp Bác Hồ. Sau khi gặp gỡ chung toàn Đại hội, chúng tôi được gặp riêng Bác. Bác ân cần thăm hỏi hoàn cảnh gia đình của từng bạn, thưởng kẹo. Bác đặt tay lên vai tôi rồi nói: “Cho Bác gửi lời hỏi thăm bạn bè, bố mẹ, thầy cô của các cháu. Chúc mọi người sức khỏe và công tác tốt. Các cháu là những mầm non của đất nước, các cháu phải cố gắng nhiều hơn nữa, phải cố gắng học hành giỏi giang để sau này trở thành người có ích cho đất nước, có ích cho xã hội”.

Biết hoàn cảnh của tôi, Bác đã chỉ thị cho bác sỹ Tôn Thất Tùng làm cho tôi cánh tay giả. Chiếc tay giả này có khớp, giúp tôi ăn cơm hay làm các việc nhẹ nhàng nhưng đã bị cuốn mất trong cơn lũ năm 1978”, ông Tứ kể tiếp.

Những lời căn dặn của Bác đã trở thành động lực để ông cố gắng mỗi khi vấp váp hay cảm thấy mình đuối sức trước những quăng quật của gánh nặng cơm áo gạo tiền. Cánh tay giả – món quà của Bác dành cho ông không còn nữa nhưng những tấm ảnh được chụp cùng Bác được ông cất giữ như báu vật, đóng khung nhôm đặt ngay ngắn trong tủ kính giữa nhà.

Ước mơ cuối đời của người đàn ông không tay

Học giỏi nhưng nhà nghèo, ông đi thi đại học cho lấy lệ rồi ở nhà luôn, cũng chẳng màng kết quả thi cử thế nào bởi nếu có đậu cũng không có điều kiện đi học. Học dở lớp 10 (tương đương với lớp 12 bây giờ), 20 tuổi, Tứ gặp và nên duyên vợ chồng với người phụ nữ hơn mình 6 tuổi. Đó là người phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi trong cuộc sống. Sau lần bị thương do bom đạn Mỹ gây ra khi bà đi dân công, nhà chồng sắp cưới hối hôn vì nghĩ rằng bà không còn khả năng sinh đẻ. Bởi vậy, dù Hoa Xuân Tứ không có tay, chấp nhận lấy ông là chấp nhận khó khăn và cơ cực nhưng bà vẫn vượt qua sự cấm đoán của gia đình để đến với ông.

14.4hoaxuantu a4
Những tấm ảnh chụp cùng với Bác Hồ trong lần tham dự Đại hội Anh hùng chiến sỹ thi đua toàn quốc năm 1966 được ông cất giữ và treo trang trọng trong nhà

Nhà Tứ nghèo, bà Lê Thị Sự cũng nghèo, bởi vậy tài sản ra riêng của vợ chồng chỉ là căn nhà tranh rách nát. Lần lượt 5 đứa con ra đời, bà gần như phải làm trụ cột trong nhà. Thế nhưng, trời chẳng thương bà, cay cực, lam lũ nhưng đứa con gái thứ 3 sinh ra chẳng được lành lặn như những đứa con khác. Bao nhiêu năm, đứa con tội nghiệp ấy chỉ có thể nằm ngửa trên giường, ăn uống, vệ sinh đều phải phục vụ.

Nhìn cái cách ông Tứ bón cơm cho con mà trào nước mắt. Bố không tay, ngậm thìa vào miệng, xúc cơm bón cho đứa con gái đã hơn 30 tuổi. Đôi bàn tay ngọ nguậy liên tục, có khi khua cả vào mặt bố, cơm vung vãi ra. Bởi vậy, dù không muốn nhưng ông cũng phải trói tay con lại…

14.5hoaxuantu a5
Nỗi khổ tâm lớn nhất của ông là cô con gái hơn 30 tuổi bị bại liệt, chỉ có thể nằm một chỗ

Cố lắm, ông bà cũng chỉ có thể cho con ăn học hết cấp 3. Giờ, 4 đứa con đã yên bề gia thất nhưng cuộc sống cũng hết sức khó khăn, chẳng giúp đỡ bố mẹ già được bao nhiêu. “Ước mơ của tôi là làm được căn nhà xây mái ngói. Năm ngoái, có nhà hảo tâm hỗ trợ một ít, hai vợ chồng vay mượn xây được phần thô là hết tiền nên đành phải để dỡ dang thế. Dù chưa có cửa giả gì nhưng mùa mưa lũ cũng không còn nơm nớp bố con bị nước cuốn đi nữa. Nhưng không biết đến bao giờ căn nhà của tôi mới được hoàn thiện…”, ông nói mà như khóc. Niềm mơ ước của người đàn ông là xây được căn nhà tử tế cho vợ con ở đối với ông sao mà khó đến thế?

Năm mới đến, ngoài mơ ước hoàn thiện được căn nhà, ông còn mơ ước được gặp lại những người bạn tham dự Đại hội anh hùng, chiến sỹ thi đua cách đây hơn 40 năm. “Hồi đó, anh em chỉ gặp nhau mấy ngày Đại hội. Khâm phục các bạn lắm nhưng chia tay rồi, mỗi người một phương, không biết ai còn, ai mất. Cuối đời, tôi chỉ mong được gặp lại mọi người một lần để hàn huyên, tâm sự với nhau. Hy vọng tất cả mọi người đều có cuộc sống viên mãn, hạnh phúc”, Hoa Xuân Tứ tâm sự.

Hoàng Lam
Theo dantri.com.vn
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Dâng Người tiếng hát mùa Xuân

Những ngày đầu năm 2013, tiếp nối thành công Chương trình “Vang câu Quan họ bên Lăng Bác Hồ” của Đoàn Dân ca Quan họ Bắc Ninh, Trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội biểu diễn Chương trình “Dâng Người tiếng hát mùa Xuân” đã đọng lại những tình cảm sâu đậm về Đảng, Bác Hồ, về mùa Xuân đất nước và hình ảnh người nghệ sỹ – chiến sỹ “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng đồng bào và bầu bạn quốc tế đến tham quan khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Từ hơn 12 giờ, gần 3 tiếng nữa mới đến giờ biểu diễn, mà hơn 70 cán bộ, giảng viên, học viên Trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội đã có mặt ở khu vực vườn tre phía Nam Lăng Bác. Dù những buổi hợp luyện trước tại Trường đã thuần thục, nhưng đến đây, bên Lăng Bác Hồ ai nấy đều bồi hồi xúc động. Thiếu tá Hồ Hoàng Hà, Giảng viên của Nhà trường, người dẫn chương trình, bày tỏ: “Được biểu diễn trước hàng tre bên Lăng Bác Hồ làm chúng tôi cảm xúc trào dâng. Dường như mình hát cho Bác nghe. Dường như hát ở nơi đây mỗi nghệ sỹ mới bộc lộ được những điều sâu kín, thiêng liêng để dâng lên Bác, mà bình thường mình không thể nói lên lời. Chỉ thông qua nghệ thuật, chúng tôi mới diễn tả được. Bởi Bác là lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, nhưng thân thiết như người cha trong mỗi chúng tôi”.

Dang nguoi tieng hat mua xuan1Các nghệ sỹ, ca sỹ chụp ảnh lưu niệm cùng các đại biểu tới tham dự buổi biểu diễn 

Chương trình được tổ chức vào chiều thứ Bảy, ngày 02/02/2013, nhưng dưới hàng ghế đại biểu có sự hiện diện của các đồng chí: Thiếu tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Thủ trưởng Cục Tuyên huấn; Lãnh đạo Ban Quản lý Lăng, Thủ trưởng Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, thể hiện sự quan tâm của lãnh đạo, chỉ huy các cấp đối với các hoạt động văn hoá nghệ thuật ở Lăng Bác và đông đảo khán giả là các cán bộ, chiến sỹ làm nhiệm vụ bên Lăng Bác Hồ, cùng đồng bào, khách quốc tế tham quan khu vực Lăng.

Mở đầu chương trình, dàn Quân nhạc đã vang lên các ca khúc “Chào mừng Đảng Cộng Sản Việt Nam”; “Việt Nam ơi mùa xuân đến rồi”; “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người”; “Việt Nam trên đường chúng ta đi” và “Việt Nam quê hương tôi”, của các nhạc sỹ: Đỗ Minh; Huy Du; Trần Kiết Tường và Đỗ Nhuận. Tiếng kèn trầm bổng, hào hùng vang lên những giai điệu ca ngợi Đảng, Bác Hồ, ca ngợi quê hương đất nước, đã bừng lên sức Xuân và gieo vào lòng người niềm tin về mùa Xuân tươi đẹp của dân tộc.

Những tràng pháo tay rộn vang cổ vũ, nhưng chưa san lấp được khoảng cách không gian giữa các nghệ sỹ với khán giả. Bởi đây mới là buổi biểu diễn thứ hai của các nghệ sỹ, ca sỹ ở các đoàn nghệ thuật, nên đồng bào và du khách quốc tế còn phần nào e ngại. Sau khi Thiếu tướng, Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Đức Trịnh, Hiệu trưởng Nhà trường phát biểu: “Năm tới Trường Đại học Văn hóa nghệ thuật Quân đội sẽ phối hợp với Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng tiếp tục tổ chức các chương trình văn hóa văn nghệ ở Lăng Bác Hồ. Đây là hoạt động văn nghệ quần chúng, nên mọi người hãy tiến lại gần và có thể giao lưu, múa cùng nghệ sỹ”, mọi người đều cảm nhận thật gần gũi, cùng xích lại gần hơn, để cảm nhận rõ hơn những tiết mục biểu diễn của các nghệ sỹ, ca sỹ.

Tiếp nối phần nhạc dân tộc với các tiết mục: Hòa tấu: “Nhã nhạc cung đình Huế”; đọc tấu sáo: “Cánh chim tự do” và đọc tấu đàn bầu “Cung đàn đất nước” do dàn nhạc dân tộc, cùng các nghệ sỹ Vàng Minh Dương và Thu Thủy  thể hiện. Vẫn ca khúc ấy, rất đỗi quen thuộc, mà hôm nay, giữa không gian Quảng trường Ba Đình lịch sử, lòng người bỗng thấy dạt dào, xao xuyến, rưng rưng. Trong niềm vui đó, chị Phạm Thanh Hằng, ở Ba Đình Hà Nội đã chia sẻ : “Lời ca, tiếng hát của các ca sỹ đã giúp tôi hiểu thêm về Đảng, về Bác Hồ, về con người và đất nước. Tôi thật sự tự hào mình là người Việt Nam. Và thông qua những chương trình như thế này, tôi cảm nhận mọi người càng thêm tin yêu đất nước chúng ta”. Ông Nguyễn Bá Tống, đến từ Phú Thọ mong muốn: “Văn hoá văn nghệ giúp tôi tinh thần thoải mái hơn, sức khoẻ tốt hơn. Tôi mong muốn mỗi tháng ít nhất được xem một chương trình văn nghệ bổ ích như thế này”. Không chỉ đồng bào trong nước, mà nhiều du khách nước ngoài chưa hiểu rõ tiếng tiếng Việt, chưa hiểu hết những nét đẹp truyền thống văn hoá của Việt Nam, nhưng qua giai điệu các bài hát và ngôn ngữ của âm nhạc, họ đều chăm chú dõi theo và trầm trồ khen ngợi.

Sôi động với những bài ca: “Chúng con canh giấc ngủ cho người”; “Anh hùng Núp”; “Tình ca Tây Nguyên”; “Bài ca người lính”; “Vệt nắng”; “Chuyện đời lính”; “Nắng thao trường”, do các ca sỹ trẻ : Minh Thế; Thúy Hà ; Mai Trang; Đông Hùng và dàn nhạc dân tộc thể hiện, đã tạo nên một âm hưởng mới, âm hưởng khát vọng của tuổi trẻ về mùa Xuân, về cuộc sống và nhiệm vụ của những người chiến sỹ. Vừa được hát cho Bác và mọi người nghe, nghệ sỹ Mai Trang – Giảng viên Trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội bồi hồi xúc động: “Đây là một vinh dự đặc biệt, đối với bất cứ ca sỹ, nghệ sỹ nào cũng mong muốn được hát cho Bác nghe và được đem nét đẹp truyền thống văn hoá của đất nước mình phục vụ đồng bào, khách quốc tế”. Nghệ sỹ Mai Trang còn mong muốn có nhiều chương trình giao lưu văn nghệ giữa các chiến sỹ làm nhiệm vụ bên Lăng Bác và học viên Trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội.

Tiết mục song ca “Mừng Xuân mới” do Mai Trang cùng Đông Hùng và dàn nhạc thể hiện đã khép lại chương trình nghệ thuật “Dâng Người tiếng hát mùa Xuân”. Hơn một giờ đồng hồ, các đại biểu và khán giả được đắm mình trong không gian nghệ thuật tràn ngập âm hưởng của mùa Xuân, lay động lòng người của dàn quân nhạc, nhạc cụ dân tộc và những lời ca, tiếng hát của các giảng viên, sinh viên Trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội. Chương trình nghệ thuật“Dâng Người tiếng hát mùa Xuân” thực sự là món quà tinh thần giàu ý nghĩa, một chương trình nghệ thuật đích thực cả về âm nhạc lẫn thị giác dành cho khán giả, nhân dịp “Mừng Đảng, mừng Xuân” của đất nước. Thay cho lời kết, đồng chí Thiếu tướng Đặng Nam Điền, Chính uỷ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảm ơn Thủ trưởng Tổng cục Chính trị, các đại biểu, các ca sỹ, nghệ sỹ cùng đồng bào, khách quốc tế và chúc : “Cán bộ, giảng viên, học viên Trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội tiếp tục thành công trên con đường hoạt động nghệ thuật và nhiệm vụ “trồng người”, ươm nhiều tài năng nghệ thuật phục vụ Quân đội, phục vụ đất nước và thường xuyên đến biểu diễn tại khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh”./.

Nguyễn Hữu Mạnh
bqllang.gov.vn

Bức huyết thư gửi tới Bác Hồ của người tử tù chỉ huy biệt động Sài Gòn

Việt Nam - Hồ Chí MinhĐó là liệt sỹ anh hùng Nguyễn Đình Chính – người chỉ huy mưu trí can trường của Ban Công tác Một – tiền thân lực lượng biệt động Sài Gòn ngay từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Một người tử tù với 2 bản án tử hình trong hầm tối đã viết huyết thư gửi lên Bác Hồ và trên pháp trường đã ra cho kẻ địch ba điều kiện: Không cần trói, không cần bịt mắt và được hát Quốc ca. 15 năm sau cũng tại trường bắn này đã xuất hiện liệt sỹ anh hùng Nguyễn Văn Trỗi với tư thế hiên ngang bất tử như thế. Liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi thì cả nước đã biết, còn liệt sỹ anh hùng Nguyễn Đình Chính – người lãnh đạo tiền thân của biệt động Sài Gòn nức tiếng thì bao điều vẫn còn bỏ ngỏ…

Tung hoành giữa Sài Gòn

Liệt sỹ anh hùng Nguyễn Đình Chính sinh ra ở làng Nguyễn, huyện Đông Hưng, Thái Bình, sau lên sinh nhai ở Thị trấn Đáp Cầu, Bắc Ninh. Tháng 4 năm 1944, anh vào Sài Gòn làm tại Xưởng Sửa chữa tàu Ba Son của Hải quân Pháp. Chỉ mấy tháng làm lính, Chính đã nhận ra cái “vỏ” bình đẳng trong Hải quân Pháp và anh đã cùng thầy đội Thăng – người thường đứng về lính thợ Việt Nam thực hiện kế hoạch đánh chìm chiến hạm Su – ren của Pháp. Tiếc rằng kế hoạch đang tiến hành thì bị lộ, thầy đội Thăng bị bắt còn Nguyễn Đình Chính bị địch truy nã.

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, Nguyễn Đình Chính được cách mạng giao nhiệm vụ huấn luyện 2 Tiểu đoàn dân quân địa phương để lùng bắt những ổ cướp trong vùng Lộc Ninh, Dầu Tiếng. Khi tiếng súng kháng chiến chống thực dân Pháp bắt đầu, anh trở về mặt trận Lái Thiêu là Trưởng ban Ban Võ khí, rồi làm Trưởng ban Ban Công tác Một – đơn vị tiền thân của biệt động giữa sào huyệt giặc Pháp ở Sài Gòn. Ban Công tác Một do Nguyễn Đình Chính chỉ huy chiến đấu trong hoàn cảnh vũ khí cực kỳ thiếu thốn. Có súng lại không đạn, lựu đạn làm ra nhiều nhưng nổ ít, có khi ném trúng địch rồi, lựu đạn không nổ, địch quay ra tấn công lại. Nhưng dưới sự chỉ huy tài trí, dũng cảm của anh, tinh thần chiến đấu kiên cường của toàn Ban, đơn vị đã chiến đấu nhiều trận và lập nhiều chiến công làm nức lòng nhân dân Sài Gòn, làm cho kẻ thù khiếp sợ, báo hiệu cuộc kháng chiến chống Pháp quyết liệt đã bắt đầu ngay tại sào huyệt của chúng.

Xin trích một số đoạn nhật ký được chép lại từ sổ tay ghi lại những trận đánh mà đơn vị Nguyễn Đình Chính trực tiếp thực hiện: “… Tên Cố vấn Hội đồng Nam Kỳ Bê-đi-a bị ám sát bằng lựu đạn ở góc đường Ta-be Véc-đoong. Lựu đạn nổ, tên này bị thương. Vụ ám sát tên Đông Phương Sóc, cảnh sát đặc biệt miền Đông “P.S.E” ở đường Nô-rô-đôm làm tên này bị thương. Một ổ phản động do tên Nguyễn Trọng Hiền cầm đầu bị giết trọn 5 mạng bằng dao găm ở 218 đường La-gơ-răng-đi-rơ. Tên Nguyễn Văn Khoa – nhân viên sưu tầm đặc vụ ở Ca-ti-na bị giết bằng dao găm ở đường Gác-sơ-ri. Tên Ba-lư – một tên khát máu ở Sở Liêm phóng Ca-ti-na bị quân ta vô tận nhà tước khí giới và đâm ba nhát dao. 30.000 lít xăng của địch bị tiêu hủy ở Nhà Bè. Hai Việt gian nghênh ngang qua cầu chữ Y làm tiền bị thủ tiêu… Đặc biệt trận đánh cách đây đúng 60 năm đêm 30 Tết  Đinh Hợi 1947, sau Ban Công tác nội thành Sài Gòn mà nòng cốt là Ban Một đã đồng loạt tiến công nhiều bốt Đồn cảnh sát địch. Ban công tác Một đã bất ngờ tập kích vào các bốt cảnh sát địch ở cầu Mac-ma-hông, cầu Kiệu, cầu Bông, cầu Thị Nghè… gây sự khủng khiếp trong hàng ngũ giặc…”

Theo bản cáo trạng của Toà án Pháp thì chưa đầy hai năm, Nguyễn Đình Chính đã chỉ huy và cùng Ban Công tác Một tham gia chiến đấu 57 trận lớn nhỏ giữa Sài Gòn, làm cho kẻ thù mất ăn mất ngủ, từng được giao trọng trách bảo vệ Khu trưởng Nguyễn Bình (Trung tướng Nguyễn Bình) giữa sào huyệt giặc.

Trưa 16 – 2 – 1947, Nguyễn Đình Chính cùng đồng chí Bát Tròn đã bị Mật thám Pháp bắt khi đến một cơ sở ở quận Phú Nhuận lấy tiền mua thuốc chạy chữa cho một trinh sát trẻ bị thương.

Được tin bắt được Nguyễn Đình Chính, cả bọn mật thám đến xem mặt anh. Tên Ba Danh – Chánh mật thám liên bang trực tiếp chỉ huy tra khảo. Hắn giở trò mua chuộc Chính hòng moi danh sách cán bộ chiến sỹ trong Ban Công tác Một, các ngoại kiều, trí thức, tư sản Việt Nam mà Trung tướng Nguyễn Bình đã gặp. Ba ngày đầu chúng bắt Chính ngồi xem chúng tra tấn Bát Tròn. Ngày thứ tư, hàng chục đứa dùng gậy, dùng búa thi nhau đánh, đánh để Chính khai và cũng để trả thù những cuộc tấn công do anh chỉ huy đánh thẳng vào lực lượng mật thám và cảnh sát địch. Chính đau quá chết ngất, tỉnh lại, chúng lại đánh tiếp. Chúng cùm tay, cùm chân, đóng hàm thiếc vào mồm để anh không chửi chúng được. Bọn Hải quân Pháp cũng đến kết hợp tra tấn. Song tất cả mọi kỹ thuật tra tấn hiện đại của người Pháp đều bất lực trước ý chí kiên cường, lòng trung thành tuyệt đối của Nguyễn Đình Chính. Trong lúc bị tra tấn, có cơ hội là Nguyễn Đình Chính lên án thực dân Pháp. Một lần, anh đã dùng cả hai tay bị còng đập vỡ mặt một tên mật thám. Suốt 3 tháng ròng tra tấn dã man không moi được gì, đầu tháng 5 năm 1947, địch buộc phải đưa Nguyễn Đình Chính vào Khám lớn Chí Hoà. Tại đây, anh đã cùng lực lượng xung kích dẹp nạn “đầu gấu” trong tù, làm cho không khí trong tù đỡ ngột ngạt hơn.

Tháng 10 năm 1947, Toà án binh thủy quân Pháp đã tuyên án tử hình Nguyễn Đình chính vì hai tội: “Âm mưu đánh đắm chiến hạm Su-ren của Pháp và tội đảo ngũ”. Tuyên án xong lập tức Nguyễn Đình Chính bị chúng đưa xuống hầm tử hình 18A – Khám lớn Chí Hoà. Ít lâu sau, thực dân Pháp còn mở tiếp một phiên toà để xử Nguyễn Đình Chính về tội “chống lại nhà cầm quyền Pháp, làm tan rã quân đội Pháp… phương hại đến an ninh quốc gia (!)” và tuyên tiếp bản án tử hình thứ hai. Tại phiên toà này, Nguyễn Đình Chính đã đanh thép đọc bản tự bào chữa bằng tiếng Pháp. Lời văn sâu sắc, giọng nói hùng hồn, Nguyễn Đình Chính đã biến pháp trường thành nơi tố cáo tội ác của thực dân Pháp và tay sai, chỉ ra tương lai tươi sáng của cuộc kháng chiến do Hồ Chủ tịch lãnh đạo. Sau này, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã viết: “Hồi tôi và anh Bình (Trung tướng Nguyễn Bình) ở căn cứ Vườn Thơm, đôi lần Nguyễn Đình Chính từ Sài Gòn ra báo cáo. Lực lượng võ trang của ta một hai năm đầu kháng chiến còn non trẻ, nhất là Thành phố đã bị chiếm như Sài Gòn, địch hơn hẳn ta về quân số và vũ khí, nhưng Chính nổi tiếng là một chỉ huy gan góc. Bị địch bắt, Chính chịu đựng mọi cực hình tra tấn. Các đồng chí cùng ở tù với Chính đều ca ngợi, kính phục. Anh ấy lạc quan cho tới khi ra pháp trường…”.

Trong những ngày đợi chờ lên đoạn đầu đài, Nguyễn Đình Chính đã chạy đua với thời gian: Tìm cách vượt ngục, viết huyết thư gửi lên Bác Hồ, hồi ký, nhật ký, viết báo, viết thư cho mẹ đẻ, cho người má nuôi, cho người yêu của mình là Nguyễn Thị Phẩm. Nguyễn Thị Phẩm cũng là một nữ biệt động Ban Công tác Một – người con quê hương Thái Bình. Trong cuộc chiến đấu ác liệt, tình yêu của họ đã nảy nở. Hai người yêu nhau, rất gần nhau mà không dám công khai báo cáo tổ chức, không dám làm đám cưới. Bởi như vậy, họ không được ở nội thành trực tiếp chiến đấu. Trong hai cuộc kháng chiến có những mối tình cao cả và thiêng liêng như thế!

Bức huyết thư từ hầm tối gửi tới Bác Hồ

Trong những ngày ở hầm tối Khám lớn Chí Hoà. Nguyễn Đình Chính đã nhờ người má nuôi tìm cách chuyển ảnh Bác Hồ vào trong hầm tối và nhờ má tìm cách chụp được bức hình của anh dưới địa ngục trần gian để gửi tới Bác. Tấm ảnh Bác Hồ đã vượt qua bao vọng gác nghiêm ngặt của nhà tù xuống hầm tối nơi giam giữ người tử tù Nguyễn Đình Chính. Đặc biệt ngay sau khi lĩnh tấm thẻ bài tử hình thứ hai, về đến hầm tối, trước tấm hình người Bác kính yêu, Nguyễn Đình Chính đã lấy máu viết liền 4 trang huyết thư gửi tới Bác Hồ, trong đó có đoạn : “Thưa Cha, con sung sướng vì Người Cha bất diệt sẽ nhận được vài hàng vĩnh biệt của đứa con yêu… Gần hai năm trời đi theo tiếng gọi của Tổ Quốc, con, một chiến sỹ ly hương chỉ biết đem xương máu ra phụng sự Tổ Quốc. Con đã thi hành hết nhiệm vụ và bổn phận để xứng đáng là trai thời loạn, là con của Cha… Ngày chết của con lặng lẽ tới lúc nào? Con chưa hề thấy nao lòng với cái chết. Con thiết nghĩ đã là chiến sỹ thì chết ở cảnh nào cũng vì Tổ Quốc. Bao cái chết anh dũng của các chiến sỹ Việt Nam vẫn sáng tỏ và in sâu trong tâm trí con… Sau khi dừng bút con trịnh trọng đặt bức thư này trên bàn thờ Tổ Quốc, bày biện đơn sơ, quay mặt về hướng Bắc, gửi tới Cha tất cả lòng kính trọng của đứa con yêu sắp trả xong nợ nước..”

Sáng 9/2/1949, Giặc Pháp đã đem xử tử hình Nguyễn Đình Chính tại trường bắn Chí Hòa. Nguyễn Đình Chính lúc này mới 24 tuổi. Luật sư Nguyễn Chí Vịnh người đã có mặt trong trường bắn kể lại: “Nguyễn Đình Chính rất bình tĩnh ra ba điều kiện: Không cần bịt mắt, không cần trói và được hát Quốc ca”. Nguyễn Đình Chính đã ngã xuống và lặng lẽ hóa thân vào đất mẹ. 45 năm sau Đảng, Nhà nước mới truy tặng danh hiệu Anh hùng liệt sỹ cho anh. Tại thành phố mang tên Bác có một mái trường và một con đường mang tên Nguyễn Đình Chính và ở Thành phố Thái Bình quê hương cũng có một con đường mang tên anh.

Thật không ngờ 15 năm sau cũng tại trường bắn này lại xuất hiện người anh hùng với những hành động, lời nói hiên ngang bất khuất, một tình yêu lứa đôi sâu nặng, một tình yêu đất nước nồng nàn, một tấm lòng kính yêu Bác vô hạn. Đó chính là liệt sỹ Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi! Bất chấp mọi ngón đòn tra tấn dã man của kẻ thù Mỹ – Ngụy, Nguyễn Văn Trỗi vẫn giữ lòng trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân. Trên pháp trường anh Trỗi đã bình thản nhìn thẳng vào mười họng súng của kẻ thù và trước khi hy sinh anh đã gọi Bác kính yêu: “Hồ Chí Minh muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm!”. Liệt sỹ Anh hùng Nguyễn Đình Chính, liệt sỹ anh hùng Nguyễn Văn Trỗi  – những liệt sỹ biệt động quả cảm anh hùng, sự tiếp nối tuyệt vời lòng kính yêu và ngưỡng vọng Bác Hồ .

Lã Quý Hưng
Theo Thaibinh.gov.vn
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Mùa xuân nhớ Bác, ơn Đảng

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào đúng dịp xuân về (vào ngày mùng 5 Tết Canh Ngọ, nhằm ngày 3/2/1930). Lúc đầu, khi mới ra đời, Đảng ta chỉ vỏn vẹn có mấy trăm người trong cảnh “nước đã mất, dân phải làm nô lệ”, những người yêu nước và cách mạng bị chính quyền thực dân, phong kiến truy lùng, bắt bớ, giam cầm, chém giết. Những người cộng sản phải hòa mình trong giai cấp cần lao, được nhân dân ta bao bọc, chở che, đã nhen nhóm và thổi bùng lên ngọn lửa cách mạng để cứu dân, cứu nước. Đảng ta đã lãnh đạo, tổ chức nhân dân và cùng toàn dân không quản hy sinh, không nề gian khổ, đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua thác ghềnh, vượt qua mọi thử thách hiểm nghèo, dẫn dắt dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

ImageBộ tem cờ đỏ búa liềm được phát hành năm 1960. (Ảnh tư liệu)

Cứ mỗi độ xuân về, chúng ta lại nhớ về Đảng, nhất là nhân kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng: Đảng ta thật vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác”. Và Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, Đảng là trí tuệ, là niềm tin, là phẩm chất cao đẹp của dân tộc, kế thừa tinh hoa và được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của ông cha ta thuở mang gươm đi mở cõi. Sức mạnh của Đảng chính là đại đoàn kết toàn dân, là sự gắn bó máu thịt với nhân dân. Chính vì thế mà Bác đã nói: “Nhiệm vụ của Đảng ta có thể nói gọn trong 8 chữ: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nói: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Và chính Người là đỉnh cao của đạo đức và văn minh đó, là hình ảnh tuyệt đẹp về mối liên hệ thân thiết, gắn bó giữa lãnh tụ với nhân dân, và Người luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên ta phải thường xuyên liên hệ chặt chẽ với nhân dân. Sự liên hệ và gắn bó chặt chẽ với nhân dân là điều mà Bác đã nói với chúng ta rất nhiều lần. Bác thường xuyên nhắc nhở:“Đảng phải liên hệ với quần chúng như chân tay ruột thịt… Đảng viên thì phải dựa vào nhân dân mà xây dựng  Đảng. Tức là hết lòng ra sức phụng sự nhân dân, tin tưởng vào lực lượng của nhân dân, học hỏi nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân và không một phút nào xa rời nhân dân, cùng nhân dân kết thành mộ khối”. Có thể nói chưa ở đâu mà lãnh tụ với quần chúng lại thân thiết, gần gũi và được kính trọng, tin tưởng như Bác Hồ với nhân dân ta.

Bác còn nói: “Đảng ta là một Đảng tiên phong, anh dũng. Để làm tròn nhiệm vụ nặng nề mà vẻ vang của Đảng thì toàn thể cán bộ và đảng viên từ trên đến dưới, bất kỳ ở địa vị nào, làm công việc gì, đều phải: Quyết tâm thực hiện đạo đức cách mạng là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, quyết tâm tẩy bỏ cho kỳ hết bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí”. Bác nói thế và suốt đời Bác luôn gương mẫu làm đúng, làm hơn cả những điều mình nói. Bác luôn luôn đặt đời sống của mình trong đời sống của nhân dân. Trong Di chúc của mình, Bác dặn dò: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”.

ImageBác Hồ nói chuyện với nông dân năm 1960. (Ảnh tư liệu)

Mùa xuân đến, ta không những phấn khởi, nô nức chào mừng kỷ niệm ngày thành lập Đảng ta, mà chúng ta lại càng nhớ nhiều đến Bác Hồ kính yêu, người đã sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng ta đã lãnh đạo, rèn luyện, lãnh đạo cách mạng nước ta 83 năm qua. Ngày thành lập Đảng 3/2 mãi mãi là mốc son chói lọi trong lịch sử của dân tộc Việt Nam. Từ mốc son ấy, mà cả dân tộc đã đoàn kết, bền lòng phấn đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thành lập Nhà nước công nông, Nhà nước của nhân dân lao động; tiến hành các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc, giành độc lập dân tộc, thu giang sơn về một mối và đưa cả nước tiến lên xây dựng CNXH.

Có thể khẳng định lịch sử đất nước ta từ khi Đảng ra đời năm 1930 đến nay vẫn luôn minh chứng lời Bác nói, Đảng ta luôn có tư duy trẻ, trí tuệ, năng động, sáng tạo, nhanh nhạy, bám sát thực tiễn, biết phát hiện vấn đề mới và quyết đoán. Đảng mãi mãi là niềm tin tất thắng sáng  ngời, là biểu tượng của ý chí “không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Nhìn lại chặng đường dài từ mùa xuân 1930 đến nay, mọi người Việt Nam yêu nước đều ghi lòng tạc dạ công ơn của Đảng, của Bác như nhà thơ Tố Hữu đã viết trong bài thơ Một nhành xuân: “… Năm hai mươi của thế kỷ hai mươi, tôi sinh ra nhưng chưa được làm người, nước đã mất cha đã làm nô lệ, ôi ! nhớ ngày xưa mưa xứ Huế, mưa sao buồn vậy nỗi mưa ơi, ngẫng đầu lên không thấy ánh mặt trời, đất lai láng chỉ là nước mắt… Từ vô vọng mênh mông đêm tối, Người đã đến chói chang nắng dội, trong lòng tôi ôi Đảng thân yêu…”

Bởi vì nếu không có Đảng, không có Bác thì dân tộc ta không thể có ngày hôm nay, Đảng ta mãi là ngọn cờ đưa đường, chỉ lối mà giấy mực nào ghi hết được niềm tin yêu của nhân dân ta đối với Đảng ta, là một Đảng cách mạng duy nhất của dân tộc Việt Nam anh hùng, luôn biết lãnh đạo đất nước vượt qua những khó khăn thách thức của lạm phát toàn cầu, vượt qua thiên tai, bão lũ. Đặc biệt, càng làm sáng lên ý chí đoàn kết, phát huy nội lực, tình cảm gắn bó “lá lành dùm lá rách”, chăm lo đến đời sống cho đồng bào ta; tổ chức rộng rãi cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, để càng làm cho chúng ta luôn nhớ tới lời dặn, lời dạy của Bác lúc sinh thời, mãi mãi nhớ tới công lao trời biển của Bác, người cộng sản Việt Nam đầu tiên tuyệt vời, đẹp nhất, vĩ đại nhất, danh nhân văn hóa thế giới, anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, lãnh tụ thiên tài của Đảng ta, quân đội ta và điều quan trọng là Bác Hồ kính yêu vẫn sống mãi trong sự nghiệp đổi mới của Đảng và nhân dân ta.

ImageDi tích Cây Da Đôi, xã Tân Xuân, Ba Tri, nơi diễn ra cuộc míttinh sau khi thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đầu tiên của Bến Tre. (Ảnh: Ngọc Thạch).

Đối với tỉnh ta, lịch sử hình thành và phát triển tự nhiên là vùng cù lao bốn bề sông nước, được các lưu dân vượt qua chặng đường dài suốt hàng thế kỷ, với biết bao nỗi nguy nan, cam go, vất vả, những hy sinh thầm lặng, nỗi ngậm ngùi, để chinh phục những rừng rậm hoang vu, đầm lầy đầy thú dữ, muỗi mòng, rắn rết, sơn lam chướng khí,… để biến vùng đất này thành tỉnh Bến Tre trù phú. Và như mạch suối ngầm âm thầm ngày đêm miệt mài chảy trong lòng đất, hòa vào cùng với cả nước ta, mảnh đất ba dải cù lao xứ dừa Bến Tre trở thành căn cứ địa cách mạng vững chắc, nuôi dưỡng và che chở cho hàng ngàn chiến sĩ cách mạng. Và Chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đầu tiên của tỉnh Bến Tre ra đời vào cuối tháng 4/1930 tại nhà ông Nguyễn Văn Cung thuộc ấp Tân Hòa, xã Tân Xuân, huyện Ba Tri. Sau khi thành lập, để tạo ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng, Chi bộ xã Tân Xuân đã tổ chức cuộc míttinh nhân kỷ niệm ngày Quốc tế lao động (1/5) tại Cây Da Đôi, sau đó biến thành cuộc biểu tình tuần hành thu hút trên 200 quần chúng trong xã và các xã lân cận tham gia. Đồng chí Trần Văn An – Bí thư Chi bộ Đảng đứng lên đọc lời hiệu triệu, vạch rõ tội ác của bọn thực dân xâm lược Pháp và bọn tay sai, vận động quần chúng đứng lên chống Pháp. Lá cờ đỏ búa liềm bay phất phới trên ngọn Cây Da Đôi. Cuộc míttinh sau đó trở thành cuộc biểu tình tuần hành biểu dương lực lượng. Đồng chí Trần Văn An cầm cờ đỏ búa liềm dẫn đầu đoàn biểu tình, theo sau là quần chúng cầm băng, cờ, biểu ngữ, trang bị vũ khí thô sơ, tuần hành qua các ấp trong xã, nổi trống mõ, hô vang khẩu hiệu rồi giải tán. Cuộc biểu tình đầu tiên do Chi bộ Đảng xã Tân Xuân tổ chức thành công tốt đẹp, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần cách mạng trong nhân dân, minh chứng đường lối của Đảng đúng đắn là phù hợp với nguyện vọng của nhân dân.

Với truyền thống yêu nước bất khuất của người Bến Tre, được các thế hệ bền bỉ nối tiếp nhau kế thừa một cách xuất sắc ngay từ buổi đầu chống quân xâm lược, qua thời kỳ thành lập Đảng, rồi thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đặc biệt nhất là dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta dưới ánh sáng của Nghị quyết 15, Đảng bộ Bến Tre thời chống Mỹ đã lãnh đạo nhân dân xứ dừa nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt làm nên cuộc Đồng Khởi vào ngày 17/1/1960 long trời lở đất. Và cao trào Đồng Khởi Bến Tre như nước vỡ bờ lan rộng ra cả miền Nam, làm thay đổi cục diện ở miền Nam, phá vỡ một mảng lớn hệ thống chính quyền cơ sở của địch.

Chiến tranh đã qua đi, lịch sử cũng đã sang trang, đất nước ta, quê hương ta bước sang một giai đoạn mới, nhưng ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam  3/2/1930 mãi mãi vẫn là điểm son của cách mạng Việt Nam. Và những thành tựu vô cùng to lớn trong 83 năm qua chứng tỏ Đảng ta luôn kiên định chủ nghĩa Mác–Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, đó là đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam từng lúc vượt qua khó khăn, thử thách của cả đất nước, cả dân tộc, cùng vượt qua thiên tai, bão lũ, những cơn bão tài chính, bão trong thực phẩm, bão dịch bệnh cho người và gia súc…. Tình hình là như vậy, khó khăn chồng chất như vậy, nhưng chính trong những ngày tháng khó khăn nhất, vất vả nhất, lại là dịp để Đảng ta thể hiện bản lĩnh lãnh đạo đất nước, lãnh đạo nhân dân vượt qua và khắc phục những khó khăn từng lúc.

Không những Đảng ta chỉ chăm lo cho nhân dân, phát động nhân dân trong nước đùm bọc nhau khi khó khăn hoạn nạn, mà khi nghe tin các nước bạn trên thế giới bị thiên tai tàn phá, Đảng ta cùng bà con ta cũng lại sẵn sàng “bát cơm sẻ nửa” để chi viện cho nước bạn anh em mà không hề kêu ca, phàn nàn. Tấm lòng cao cả đó không phải bỗng dưng mà có, mà chính là nhờ sự giáo dục, rèn luyện của Đảng ta ngay từ khi mới thành lập đã không ngừng nâng cao tinh thần quốc tế vô sản cho đảng viên, cho nhân dân.

Nhờ có Đảng ra đời và dưới sự lãnh đạo tài tình bằng đường lối cách mạng đúng đắn, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, mà Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta làm nên thắng lợi vẻ vang, làm nên sự nghiệp vĩ đại giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Đảng ta sẽ luôn là ánh sáng ban mai, là một vườn hoa thơm ngào ngạt, là mùa xuân ấm áp mang nhiều niềm tin và hy vọng, là một rừng cây cao bóng mát, là Đảng của toàn dân tộc Việt Nam, là biểu tượng của khối đại đoàn kết toàn dân.

Xuân 2013, chúng ta lại hân hoan, phấn khởi chào đón năm mới với bao niềm hy vọng, nhưng hạnh phúc nhất là chào mừng Đảng ta tròn 83 tuổi. Trên khắp mọi miền đất nước ta, đâu đâu cũng thấy những khẩu hiệu “Mừng đất mước đổi mới –  Mừng Đảng quang vinh – Mừng xuân Quý Tỵ!”. Với bao niềm hy vọng khi mỗi mùa xuân đến, chúng ta lại càng không quên những lời kêu gọi của một vị lãnh tụ thiên tài, kính yêu vô vàn của đất nước ta, dân tộc ta:

Dân ta xin nhớ chữ đồng
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh.

Với niềm tự hào, niềm tin vững chắc vào Đảng quang vinh, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới. Riêng với quê hương ta tiếp bước và phát huy truyền thống anh dũng, Đồng Khởi của các thế hệ cha, anh đã làm nên những chiến công oanh liệt và viết nên những trang sử vàng làm rạng danh quê hương Bến Tre Đồng Khởi anh hùng. Giờ đây trong niềm vui chung của đất nước ngày càng đổi mới, tiến lên xây dựng thành công CNXH, chúng ta hãy cùng tuyên truyền, vận động mọi tầng lớp nhân dân Bến Tre cùng đồng tâm, đồng lòng, hiệp lực tiếp tục nhiệm vụ cuộc “Đồng Khởi mới” là thực hiện thắng lợi Nghị Đại hội lần thứ XI của Đảng ta và Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ Bến Tre lần thứ IX. Đặc biệt, là xây dựng quê hương Bến Tre ngày càng giàu đẹp, là xây dựng thành công xã nông thôn mới trên quê hương xứ dừa Bến Tre; tiếp tục cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, không chỉ là học tập mà quan trọng hơn hết là làm theo lời Bác, để luôn xứng đáng, luôn tự hào “dáng đứng Bến Tre”.

Chúng ta mãi mãi khắc ghi ơn Đảng, luôn tự hào Đảng đã làm nên nhiều kỳ tích vang dội khắp năm châu. Chúng ta luôn tạc dạ ghi lòng vì “Đảng đã cho ta một mùa xuân bao ước vọng…”, “Đảng đã cho ta sáng mắt, sáng lòng…” và Đảng đã cùng với nhân dân làm nên mùa xuân đất nước thanh bình.

(Tham khảo tư liệu lịch sử)

Hoàng Chương
bentre.gov.vn

Xuân về trên quê hương những người mang họ Bác Hồ

A Lưới không những nổi tiếng là vùng chiến khu cách mạng của Thừa Thiên – Huế, mà nơi đây còn ghi dấu ấn của các dân tộc thiểu số như Pa Cô, Tà Ôi, Cơ Tu, Pa Hy… một lòng sắt son với Đảng, với Bác Hồ.

Người là niềm tin tất thắng

Nhớ lại thời kỳ đầu mới giải phóng, được cử đi công tác ở A Lưới ai cũng ái ngại. Còn ấn tượng đối với A Lưới hôm nay là tuyến đường Hồ Chí Minh – con đường huyền thoại – chạy dọc theo huyện lỵ A Lưới, kéo theo đời sống đồng bào không ngừng phát triển, đi lên…

Nhớ mãi, năm 1969, khi nghe tin Bác Hồ mất, đồng bào ở nơi đây đã đồng loạt lấy họ Hồ của Bác làm họ cho chính mình. Ngày đó, vùng miền Tây Thừa Thiên – Huế ai cũng xúc động khi “muối Cụ Hồ, rựa Cụ Hồ, gạo Cụ Hồ” đến với đồng bào trong những năm tháng chiến tranh ác liệt. Cũng chính từ ngày có Bác Hồ giúp gạo, muối, áo quần, được cán bộ Cụ Hồ dạy cái chữ, đồng bào đã thoát u mê tăm tối. Vì vậy, đồng bào nguyện một lòng đi theo ánh sáng cách mạng, phục vụ chiến đấu. Nhiều gia đình cả vợ, chồng và các con đều đi vận chuyển lương thực, vũ khí ra tiền tuyến đánh Mỹ. Gia đình Hồ A Nun, Hồ Dục thường xuyên gùi hàng, vũ khí vượt mưa bom bão đạn ra tiền tuyến, đã được Nhà nước phong tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đất nước thống nhất, hiện tính ra ở A Lưới có hơn 11.800 đồng bào thiểu số mang họ Hồ và thực sự đổi đời theo sự đi lên của dân tộc. Con em của họ trước đây chỉ biết lên nương, rẫy nay đã được học hành. Những cử nhân đại học, kỹ sư nông nghiệp người Pa Cô, Tà Ôi… hiện không còn là điều hiếm. Đến nay, đã có 12 Phó Chủ tịch UBND xã ở huyện A Lưới là người dân tộc, họ đang từng ngày từng giờ phấn đấu đổi thay mảnh đất A Lưới. Điển hình là Kê Sửu, người dân tộc đầu tiên ở A Lưới bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, hiện chị là Trưởng ban Dân tộc tỉnh.

Những năm trước đây, lên A Lưới phải đi vòng qua Đăckrông (Quảng Trị) trên quãng đường dài tới 220 km, gần hai ngày ngồi ô tô mới đến nơi. Nay, từ Huế đi A Lưới theo đường mới mở chỉ với 70 km, mất khoảng gần 2 giờ đồng hồ thì đến nơi. Ấn tượng đối với A Lưới hôm nay là tuyến đường Hồ Chí Minh – con đường huyền thoại – chạy dọc theo huyện lỵ A Lưới dài đến đâu, nhà cửa, phố xá kéo theo đến đó. Đêm đêm, nhà cửa, phố xá đèn điện sáng trưng, không còn cảm giác đó là thị trấn của một huyện vùng cao. Càng bất ngờ hơn khi đến xã Nhâm, phần đông đồng bào các dân tộc ở đây được thu nhận vào làm công nhân nông trường, đi chăm sóc cà phê bằng xe máy. Mới đưa vào trồng thử từ năm 1996, năm nay A Lưới dự tính phát triển thêm 1.000 ha, nâng tổng diện tích cà phê toàn huyện lên khoảng 1.800 ha. Quá trình chăm sóc, người dân còn được nông trường đầu tư phân bón và hoàn trả tiền đầu tư sau khi có sản phẩm thu hoạch, nên nhận được dân đồng tình và hưởng ứng cao. Ngoài diện tích cà phê nông hộ của mình, hiện có hơn 1.000 hộ nhận khoán, chăm sóc và hưởng lợi trên toàn bộ diện tích của nông trường theo thoả thuận với người lao động. Huyện tiếp tục phối hợp với các cơ quan chuyên môn tổ chức tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ thuật chăm sóc cây cà phê cho đồng bào các dân tộc, phấn đấu đưa năng suất khoảng từ 4-5 tấn/ha như hiện nay lên hơn 10 tấn/ha.

Người dân ở A Lưới còn tham gia làm công nhân ở công trường Thủy điện A Lưới. Ngày chặn dòng, nhiều già làng, gái trai các bản làng vui như ngày hội, thức trắng đêm chứng kiến dòng sông A Sáp, bắt nguồn từ dãy Trường Sơn đại ngàn hùng vĩ phải khuất phục. Cán bộ và nhân dân A Lưới hiểu rằng, nay mai nguồn điện từ A Lưới sẽ thắp sáng ước mơ, biến vùng đất nghèo khó này cùng Thừa Thiên – Huế đi lên. Chính điều đó lý giải vì sao có 1.066 hộ dân trong vùng lòng hồ phải di chuyển đến nơi ở mới để phục vụ cho việc thi công công trình, nhưng mọi việc diễn ra hết sức thuận lợi, bà con đều tự nguyện chuyển đến nơi ở mới, nhường chỗ cho công trình. Công trình thuỷ điện A Lưới có tổng vốn đầu tư là 3.234 tỷ đồng, với công suất lắp máy 170MW (2 x 85MW), sản lượng điện bình quân sau khi đưa vào sử dụng đạt 686,5 triệu KWh/năm. Được khởi công từ tháng 6-2007, đến nay, công trình thuỷ điện A Lưới đang đẩy nhanh tiến độ thi công công trình, phấn đấu đưa tổ máy số 1 vào phát điện vào tháng 12-2011.

Đến với bản làng vùng cao Hồng Hạ, nơi có 5 dân tộc anh em, gồm: Ka Tu, Pa Cô, Tà Ôi, Pa Hy và dân tộc Kinh sinh sống, bà con biết chung sức trồng mới, bảo vệ làm cho một vùng rừng vốn bị tàn phá trong chiến tranh nay xanh tốt. Đến nay, Hồng Hạ đã trồng được 1.070ha rừng phòng hộ, dẫn đầu các xã trong toàn huyện. Xã tổ chức phát triển kinh tế trang trại, tận dụng nguồn đất bãi bồi đầu nguồn sông Bồ trồng được 50ha cao su tiểu điền, 10ha cây ăn quả, hơn 2.000 hố tiêu. Đời sống nhân dân nâng cao nhờ kinh tế rừng phát triển, toàn xã sắm được 57 chiếc xe máy, 65% số hộ có ti vi, 100% hộ có rađiô. Đối với người Tà Ôi ở A Roàng, còn được cán bộ khuyến nông, khuyến lâm xã, huyện hướng dẫn lập vườn rừng, vườn đồi, vườn nhà để định cư, phát triển chăn nuôi. Nay, toàn xã đã có đàn trâu 249 con, đàn bò 308 con, đàn lợn 300 con, nuôi 60 con dê. Nay, A Roàng không còn hộ phá rừng, bà con đã nhận chăm sóc 500ha rừng đầu nguồn, trồng được 200ha cây bản địa, 200ha cây quế để làm giàu ngay trên chính mảnh đất quê hương mình.

Ngày xuân bên ché rượu nồng, Trưởng Ban Dân tộc tỉnh – Kê Sửu cho biết: Nếu ai có dịp lên vùng núi phía Tây Thừa Thiên – Huế sẽ cảm nhận được vẻ mặt rạng rỡ đến diệu kỳ của con người nơi đây. Bởi, dòng chữ “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” ngày càng ngấm vào máu thịt của họ khiến họ hành động để xứng đáng là con cháu Bác Hồ, con Rồng cháu Tiên. Các em nhỏ không còn lạ với cái chữ; các cụ già được ủ ấm với áo cơm; các chị các mẹ được bồi dưỡng kiến thức, hạch toán kinh tế bên cạnh biết lo toan việc bếp núc, rẫy nương. Các chú, các anh phần nào đã biết chia sẻ công việc gia đình với người phụ nữ… ; và nhiều gia đình nông dân đã vượt qua đói nghèo, vươn lên làm giàu bằng chính bàn tay, khối óc của mình cùng với sự hỗ trợ của khoa học kỹ thuật. Sự tiến triển này được đánh dấu qua kết quả giảm tỷ lệ hộ nghèo năm sau thấp hơn năm trước. Ở A Lưới, nếu tỷ lệ hộ nghèo năm 2005 đến 48,47%, thì nay chỉ còn 17,6%… Môi trường sống xen kẽ, hòa đồng giữa người Kinh và người Thượng trên cùng địa bàn xã, thôn, tổ dân cư ngày càng phát triển. Đó cũng chính là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh và xóa đói giảm nghèo.

Mùa xuân đến, đồng bào dân tộc thiểu số ở đây càng tri ân Đảng, Nhà nước, tổ chức và cá nhân từ thiện đã luôn dành sự quan tâm đặc biệt đối với người vùng cao, vùng dân tộc thiểu số, đặc biệt khó khăn. Ngoài ngân sách trung ương (7,450 tỷ đồng), năm nay tỉnh đã huy động kinh phí 13,983 tỷ đồng (Trong đó, ngân sách tỉnh 11,519 tỷ đồng; ngân sách các huyện, thị xã, thành phố 264 triệu đồng; nguồn từ mặt trận, đoàn thể và các tổ chức từ thiện 2,2 tỷ đồng) để tặng quà và hỗ trợ cho 93.005 người thuộc đối tượng chính sách, trợ cấp xã hội và hộ nghèo, cận nghèo vui tết, đón xuân.

Mùa xuân mới ở vùng cao A Lưới, Tết no ấm, an lành trong tiếng cồng chiêng của lễ hội Aya (tết truyền thống của các dân tộc thiểu số) vang lên khắp mọi miền, làm cho không khí càng thêm Xuân…

Quốc Việt
congly.com.vn

Cây đào mùa Xuân

Ảnh minh họa: Internet

Chuyện được ghi lại rằng: Buổi sáng trời đẹp cuối tháng Chạp năm Bính Thân – 1956, một đoàn đại biểu chính quyền và nhân dân xã Nhật Tân (Hà Nội), trong đó có nhiều cụ phụ lão tuổi 70, 80 dẫn đầu đã đem một cây đào được đánh cả gốc đưa lên ô tô, chở lên Phủ Chủ tịch. Cây đào này đã được một cụ ở xã Nhật Tân chăm sóc trong thời gian hai năm, được các cụ bình chọn là ưng ý nhất. Cây đào có chốt thẳng, tán tròn hình mâm xôi, sai nụ, hoa to rất đẹp mắt, tràn đầy không khí mùa xuân sắp đến.

Đến nơi, đoàn đại biểu nhân dân xã Nhật Tân được mời vào phòng khách Phủ Chủ tịch. Được tin, Bác Hồ đã đến ngay phòng khách, tươi cười nói chuyện với Đoàn và các cụ phụ lão. Bác hỏi chuyện ăn Tết của người dân ở địa phương. Mọi người hồ hởi

– Dạ, kính thưa Bác, năm ngoái nhân dân trong xã ăn Tết vui lắm vì Thủ đô mới được giải phóng. Trong xã tính ra đã thịt 12 con bò và lợn, gói nhiều bánh chưng để ăn Tết.

Nghe vậy Bác Hồ liền nói:

– Thịt nhiều trâu bò, thế lấy gì mà cày bừa làm ruộng.

Ngừng một lát, Bác Hồ nói tiếp:

– Ăn Tết là rất phấn khởi vui mừng nhưng mọi nhà cần chú ý tiết kiệm, vì đất nước ta còn nghèo vì vừa phải trải qua nhiều năm chiến tranh và từ nay đất nước sẽ còn phải tiết kiệm để làm được nhiều việc lớn. Chính quyền cần thường xuyên vận động nhân dân hăng hái thi đua tăng gia sản xuất để nhân dân ngày càng no ấm hơn.

Đoàn đại biểu xã Nhật Tân ngỏ ý, từ nay mỗi độ Xuân về sẽ mang cây đào kính tặng Bác để Bác vui Xuân, đón Tết, góp phần to đẹp thêm cảnh sắc Phủ Chủ tịch.

Ngắm nhìn khá lâu cây đào rất đẹp, được chăm sóc 2-3 năm, Bác nói:

– Bác xin cảm ơn các cụ và các đồng chí đã đem tặng Bác cây đào đẹp thế này. Nhưng sang năm, các cụ và các cháu thôi không phải đem cây đào lên tặng Bác nữa. Các đồng chí trong cơ quan và Bác sẽ trồng cây đào này và nhân nó ra để năm nào cũng có hoa đào Nhật Tân đón Xuân vui Tết. Cây đào này sẽ làm cho Bác vui hơn và khoẻ hơn năm cũ.

Trên đường trở về nhà, đoàn đại biểu nhân dân xã Nhật Tân rất vui và cũng thấm sâu những lời căn dặn ân tình của Bác Hồ – một vị Chủ tịch nước nhất nhất nói gì, làm gì cũng ân cần nhắc nhở mọi người luôn luôn cần cù, tiết kiệm để xây dựng xóm thôn, xây dựng đất nước

Theo Phuly.edu.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Đồng bào Tây Nguyên vui Xuân bên tượng Bác Hồ

Ông Nay Pơ, dân tộc Ja Rai, ngày nào cũng đi bộ ra quảng trường để chiêm ngưỡng tượng vị lãnh tụ vĩ đại nhưng vô cùng gần gũi.

Cuối năm 2012 đồng bào các dân tộc Tây Nguyên hân hoan trong lễ khánh thành tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên tại Quảng trường Đại đoàn kết, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Từ ngày đó đến nay, nhất là trong những ngày xuân này, ngày ngày, có hàng nghìn người đến với Quảng trường Đại Đoàn Kết để thể hiện lòng tôn kính với Bác.

Ông Nay Pơ, dân tộc Ja Rai, 81 tuổi đời, 51 năm tuổi Đảng, ở phường Tây Sơn, thành phố Pleiku cho biết, từ khi công trình tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên khánh thành, ngày nào ông đi bộ từ nhà ra quảng trường Đại đoàn kết để ông chiêm ngắm hình ảnh giản dị, gần gũi nhưng sáng ngời và vĩ đại của Bác –  người đã dành cả cuộc đời vì nước, vì dân.

Vinh dự lớn nhất đời ông Nay Pơ là 4 lần được gặp Bác Hồ. Những lời Bác dạy ông vẫn khắc ghi trong tim, đồng bào Kinh, Ba Na, Ja Rai, hay Ê Đê, Xê Đăng … đều là anh em một nhà, đồng bào phải biết đoàn kết, vượt qua mọi khó khăn, xây dựng quê hương giàu đẹp.

Hơn 37 năm kể từ ngày giải phóng, ông chưa có dịp ra thủ đô Hà Nội, ra thăm lăng Bác, nên hôm nay đây, trong những ngày xuân mới này, ông rất phấn khởi vì Đảng và Nhà nước đã quan tâm, xây dựng tượng đài Bác Hồ ngay tại Tây Nguyên. Ông cũng như nhiều đồng chí, đồng đội, nhiều đảng viên có cơ hội được tỏ lòng tôn kính với Bác ngay tại quê nhà. Đối với ông, đó là niềm hạnh phúc lớn nhất trong những ngày cuối đời.

Ông nhớ lại buổi lễ khánh thành công trình Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên (tối 9/12/2012), trong đó Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu rõ: ‘Công trình Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên là một công trình có ý nghĩa văn hóa lịch sử và nhân văn tiêu biểu của đồng bào 5 tỉnh Tây Nguyên và là niềm vui chung của cả nước. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa có điều kiện đến thăm Tây Nguyên, nhưng từ trong sâu thẳm trái tim, Người lúc nào cũng đau đáu một niềm thương nhớ, yêu quý đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tin tưởng rằng,  với truyền thống đoàn kết, tự lực, tự cường, tỉnh Gia Lai và các tỉnh Tây Nguyên nói chung sẽ tiếp tục vững bước tiến lên, đạt nhiều thành tựu và đóng góp to lớn hơn nữa cho sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng và toàn dân tộc’.

Hôm nay đây, tượng đài Bác Hồ được dựng lên giữa đất trời Tây Nguyên, Người đứng đó, cao sang mà gần gũi, vĩ đại mà giản dị như chính cuộc đời của Người – vị lãnh tụ suốt đời vì nước vì dân. Đồng bào Tây Nguyên nhớ ơn và luôn khắc ghi lời dạy của Bác, luôn mang trong tim hình ảnh Bác Hồ như điểm tựa tinh thần, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ cùng cả nước hoàn thành sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước và ngày nay đang tiến hành công cuộc đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần từng bước làm cho Tây Nguyên ngày càng trở nên trù phú.

Tối nay (9/2), đêm giao thừa đầu tiên nhân dân các dân tộc tỉnh Gia Lai mở hội mừng xuân ngay tại Quảng trường Đại đoàn Kết, ngay dưới chân tượng đài Bác Hồ. Qua đó, nhân dân báo cáo với Bác, năm qua, tỉnh Gia Lai nói riêng và các tỉnh Tây Nguyên nói chung đạt được nhiều thành tựu về kinh tế – xã hội, an ninh chính trị được đảm bảo, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tiếp tục được nâng lên. Đồng thời, hứa với Bác, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên sẽ tiếp tục phấn đấu để xây dựng Tây Nguyên ngày càng vững mạnh, giàu đẹp như niềm mong mỏi của Bác./.

Vài hình ảnh về nhân dân Tây Nguyên bên tượng đài Bác Hồ:

Đồng bào Tây Nguyên hân hoan trong lễ khánh thành tượng đài Bác Hồ

Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên là một công trình có ý nghĩa văn hóa lịch sử và nhân văn tiêu biểu

Công Bắc/VOV-Tây Nguyên
daklak24h.com

Dâng trống đồng vào khu lưu niệm Bác Hồ ở Lào

Liên chi Hội Di sản văn hoá Việt Nam – Lam Kinh Thanh Hóa cùng Cục Hợp tác quốc tế, Trung tâm Văn hóa Việt Nam tại Lào vừa tổ chức lễ dâng tặng trống đồng vào Khu Lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại làng Xiêng Vang (Noọng Bốc, Khăm Muộn,Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào).

Khu Lưu niệm Bác Hồ do Đảng và Nhà nước, nhân dân Lào phối hợp cùng Đảng và Nhà nước, nhân dân Việt Nam xây dựng trên khu đất rộng 1.500m2 tại làng Xiêng Vang, nơi cách đây 74 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình đi tìm đường cứu nước đã lưu lại ở đây trong 2 năm (1928-1929) để hoạt động cách mạng.

dang
Các nghệ sĩ đến từ Việt Nam mang lời ca tiếng hát đến với kiều bào Việt Nam tại Lào.

Toàn bộ đất xây dựng Khu Lưu niệm do 13 gia đình kiều bào Việt Nam sinh sống tại làng Xiêng Vang hiến tặng. Công trình thi công từ năm 2010 và được khánh thành vào ngày 7/12/2012 nhân kỷ niệm “Năm đoàn kết hữu nghị Việt Nam – Lào 2012”, chào mừng kỷ niệm 50 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao và 35 năm Ngày ký Hiệp ước Hữu nghị hợp tác giữa hai nước Việt Nam – Lào.

Chiếc trống đồng dâng tặng được mô phỏng theo trống đồng Ngọc Lũ, đường kính mặt 79cm, cao 69cm. Trên thân trống khắc họa một số hình ảnh tiêu biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Kay Sỏn Phôm Vi Hẳn, khắc họa hai câu thơ nổi tiếng của Bác Hồ: “Việt – Lào hai nước chúng ta/Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long; khắc họa Bản Di chúc của Bác. Trống do nghệ nhân Nguyễn Minh Tuấn và các cộng sự đúc theo ý tưởng của ông Hồ Quan Sơn – Chủ tịch Liên chi Hội Di sản văn hoá Lam Kinh.

Trống đồng được dâng tặng hôm nay là một trong những biểu tượng trong mối quan hệ đoàn kết hữu nghị đặc biệt này. Khu Lưu niệm là nơi để lại dấu ấn, cũng là biểu tượng của tình cảm, sự dẫn dắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với nhân dân Lào.

dang2
Chiếc trống đồng được dâng vào Khu Lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh
tại làng Xiêng Vang (Noọng Bốc, Khăm Muộn, CHDCND Lào).

dang3Ông Hồ Quang Sơn Chủ tịch Liên chi Hội Di dản văn hoá Lam Kinh
trao tặng biểu tượng Thành nhà Hồ cho Trung tâm văn hoá Việt Nam tại Lào.

Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Sổm Nức Sổm Chăn – Phó Bí thư Tỉnh ủy Khăm Muộn nói: “Năm nay, tỉnh Khăm Muộn đã khánh thành Khu Lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhân dịp này, chúng tôi được Liên chi Hội Di sản văn hoá Lam kinh tặng trống đồng dâng vào Khu Lưu niệm Bác Hồ, thực sự rất ý nghĩa. Đây là sự thể hiện tấm lòng của các đồng chí đối với chúng tôi trong vấn đề gìn giữ và phát triển mối quan hệ đoàn kết hữu nghị Lào – Việt. Khu Lưu niệm là nơi để lại dấu ấn, cũng là biểu tượng của tình cảm, sự dẫn dắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với nhân dân Lào. Chúng tôi xin hứa với nhân dân toàn tỉnh Khăm Muộn sẽ gìn giữ tốt nhất Khu Lưu niệm cũng như chiếc trống đồng biểu tượng nền văn hóa Việt Nam. Chúng tôi sẽ phát huy tác dụng, giáo dục các thế hệ nhân dân tỉnh Khăm Muộn cũng như nhân dân các bộ tộc Lào lúc nào cũng phải gìn giữ mối tình đoàn kết Lào – Việt mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững…”.

Theo Duy Tuyên
dantri.com.vn

Tấm lòng người dân Hà Nừng với Bác Hồ

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội không chỉ là công trình văn hóa, mà còn mang yếu tố tâm linh, là nơi hội tụ và thể hiện tình cảm và tấm lòng của nhân dân cả nước đối với vị Cha già của dân tộc. Ít ai biết rằng, trong vô vàn tình cảm và tấm lòng ấy có sự đóng góp bằng cả mồ hôi, công sức và tình cảm của đồng bào Ba Na xa xôi thuộc làng Hà Nừng, xã Sơn Lang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai ngày nay.

tam long Một góc làng Hà Nừng của người Ba Na hôm nay.

Được biết đến qua sách báo và các tài liệu lịch sử ghi lại, nhưng mãi đến những ngày cuối tháng 8 năm 2012 vừa qua, chúng tôi mới có dịp về Kbang và được các anh ở huyện đưa về làng Hà Nừng để gặp lại một số người từng trực tiếp chỉ huy và tham gia công việc đưa gỗ về xây Lăng Bác. Những người của ngày xưa ấy bây giờ không còn nhiều, có người đã mất, người tuổi đã cao… vậy mà khi được gợi lại ký ức của những việc làm ý nghĩa này, dù đã cách đây gần 40 năm nhưng có lẽ vì tình cảm và lòng kính yêu đối với Bác không hề phai nhạt, ai cũng phấn khởi và tự hào khi kể về công việc của mình đã làm.

Ông Đinh Văn Đoàn, dân tộc Ba Na lúc đó là Bí thư xã đoàn nhớ lại: Vào đầu năm 1974, đồng chí H’Nhan, cán bộ của Tỉnh uỷ Gia Lai Kon Tum và đồng chí Đinh A, Bí thư Tỉnh đoàn được cử về làng Hà Nừng thông báo chủ trương của Đảng về việc đưa gỗ về xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hà Nội ai cũng phấn khích, mặc dù biết đây là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Lúc đó, trong rừng gỗ thì rất nhiều song khai thác và vận chuyển là điều không phải dễ, bởi không có máy cưa mà chỉ có dao với rựa; không có phương tiện vận chuyển bằng xe cơ giới mà chỉ làm bằng thủ công. Đã vậy, vì Kbang nói chung, Hà Nừng nói riêng là nơi đóng quân của các cơ quan đầu não của Tỉnh ủy Gia Lai nên cũng đồng thời là vùng trọng điểm đánh phá của địch… Gỗ là loại quí, tốt, dao, rựa đưa vào dội ngược ra nhưng vì biết việc làm của mình có ý nghĩa lớn lao nên dân làng chúng tôi động viên nhau phải làm cho tốt, phải bảo đảm đúng thời gian Trung ương quy định. Ngày làm đêm nghỉ, và đúng một tháng lẻ hai ngày, dân làng Hà Nừng đã hoàn thành khối lượng công việc được giao.

Ông Đinh Văn Đoàn cùng với các trai làng lúc đó là Đinh A Nhô, Đinh Kriêng, Đinh Thị Pẻ… trực tiếp tuyên truyền, vận động dân làng thực hiện chủ trương này của Đảng và Chính phủ và đã huy động hơn 100 người tự nguyện tham gia. Mỗi người một việc và được phân công nhau cụ thể phù hợp với thực tế từng khâu công việc: Người già, người lớn tuổi vào rừng chặt gỗ, thanh niên trẻ khoẻ kéo gỗ, còn phụ nữ lo cơm ăn nước uống hàng ngày. Những người tham gia chiến dịch đều được tổ chức ăn ở tại rừng. Cung đường kéo gỗ từ rừng đến điểm tập kết giao cho các đơn vị bộ đội xa đến hơn 12 km, đường rừng chủ yếu nên dân làng phải dùng tời và kéo bằng sức người là chính. Bà Đinh Thị Pẻ, người phụ trách lo cơm nước hàng ngày cho mọi người tham gia công việc ngày ấy tâm sự trong niềm vui sướng và tự hào: Tổ hậu cần lúc đó chỉ có mười chị em nhưng phải lo cho hơn 100 người ăn, tuy công việc không vất vả bằng các trai làng, song việc lo toan hàng ngày cũng quan trọng không kém. Hồi đó, chiến tranh khổ lắm, gạo ít nên phải độn, thức ăn chủ yếu chỉ có rau rừng với muối. Lâu lâu, Tổ Hậu cần cắt cử người về làng mang hàng hoá về xuôi đổi lấy cá khô, nước mắm mang về mới có điều kiện cải thiện bữa ăn. Mình thường nói với chị em rằng, thương Bác Hồ là phải làm theo Đảng; việc đưa gỗ ra Hà Nội xây dựng Lăng Bác là trách nhiệm cao cả của cả dân làng mình.

Đến nay, nhiều người tham gia công việc ngày ấy giờ đã không còn; số còn sống cũng đã lên niên lão, sức khỏe đã yếu nhưng tình cảm và tấm lòng của họ và người dân làng Hà Nừng với Bác thì không bao giờ cạn. Ông Đinh A Nhô có lẽ là người may mắn nhất trong số những người hiện còn sống vì vinh dự được ra Hà Nội và vào Lăng viếng Bác hai lần vào năm 1985 và năm 1987, trong đó có một lần đi theo Đoàn do huyện Kbang tổ chức và một lần ông tự bỏ tiền đưa cả vợ con cùng đi.

Ông Đinh A Nhô phấn khởi: Lần đầu, mình được ra Hà Nội rồi được vào thăm Lăng Bác trong lòng luôn bồi hồi và xúc động, bởi ngoài việc được tận mắt nhìn thấy Bác Hồ, mình còn được nhìn thấy Lăng Bác, muốn được tận mắt nhìn thấy những tấm gỗ mà chính mồ hôi và công sức của người dân Hà Nừng mình gửi ra để đóng góp cùng với nhân dân cả nước xây Lăng Bác.

Công lao của người dân làng Hà Nừng trong những năm chiến tranh chống giặc ngoại xâm đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận và tôn vinh. Đồng chí Đinh Văn Tư, Bí thư Đảng ủy xã Sơn Lang, cho biết: Làng Hà Nừng là vùng căn cứ địa cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Sau ngày thống nhất đất nước, nhờ thường xuyên nhận được sự quan tâm chăm lo của Đảng và Nhà nước, người dân xã Sơn Lang nói chung và bà con Ba Na làng Hà Nừng nói riêng đã từng bước tạo lập cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc. Làng hiện có hơn 100 hộ với khoảng 700 nhân khẩu đang có cuộc sống yên bình và ngày càng đầy đủ hơn về các mặt sinh hoạt; hệ thống điện thắp sáng đã được kéo đến tận hộ dân, đường sá đi lại thuận lợi, 100% con em trong độ tuổi đều đến trường lớp học, đau ốm có cơ sở y tế điều trị miễn phí. Cả làng hiện chỉ còn khoảng 20% hộ nghèo theo tiêu chí mới, số hộ vươn lên khá và giàu ngày càng nhiều bằng phát triển các loại cây trồng, vật nuôi theo hướng hàng hoá như cà phê, bời lời, nuôi bò lai…

Luôn phát huy truyền thống là quê hương cách mạng, người Ba Na ở đây một lòng, một dạ theo Đảng và Bác Hồ và việc góp gỗ xây Lăng Bác ở Hà Nội cho đến bây giờ vẫn là niềm tự hào của người dân Hà Nừng.

Phan Hòa
Theo http://www.nhandan.com.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh đón Bằng công nhận Di tích quốc gia đặc biệt

(Chinhphu.vn) – Sáng 7/12, tỉnh Nghệ An đã long trọng tổ chức Lễ đón nhận Bằng công nhận Di tích quốc gia đặc biệt Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trao Bằng công nhận di tích quốc gia đặc biệt Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh cho lãnh đạo tỉnh Nghệ An-Ảnh: VGP/Lê Sơn

Đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, lãnh đạo các Bộ, Ban, ngành Trung ương, các địa phương, lãnh đạo tỉnh Nghệ An và đông đảo các tầng lớp nhân dân tới dự.

Thay mặt Lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, trong nhiều năm qua, quần thể Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành địa chỉ thiêng liêng trong lòng mỗi người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế đến thăm và bày tỏ lòng tôn kính Người.

Đến với Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi chúng ta lại càng cảm nhận sâu sắc hơn về cội nguồn tạo nên phong cách, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là sự giản dị mà sâu sắc, sự cô đọng hàm súc mà phong phú lạ thường, có sức lắng đọng và lan toả mãnh liệt. Tư tưởng đó phát triển đạt đến tầm cao minh triết và trở thành tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta.

Dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh, lớp lớp thế hệ người Việt Nam đã vững bước theo con đường mà Người đã chọn. Đó là con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, con đường mang tầm nhìn vượt thời gian và sẽ đưa chúng ta đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tại Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh -Ảnh: VGP/Lê Sơn

 

Phó Thủ tướng nói, mỗi người dân đất Việt khi về thăm quê Bác ai cũng thu nhận được cho mình những bài học quý báu. Trước hết đó là tinh thần phấn đấu không mệt mỏi, sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân. Chúng ta cũng rút ra cho mình bài học về văn hoá ứng xử Hồ Chí Minh, tinh tế, khoan dung, vị tha và nhân ái.

Để xây dựng quê hương Nghệ An ngày càng giàu đẹp, đồng thời gìn giữ và phát huy các giá trị của Khu di tích, Phó Thủ tướng đề nghị Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Nghệ An đồng tâm hợp lực, phấn đấu thực hiện lời căn dặn và mong mỏi của Bác “Mong đồng bào và đồng chí tỉnh nhà ra sức phấn đấu mau trở thành một trong những tỉnh khá nhất”. Muốn vậy, Nghệ An cần tiếp tục phát huy những lợi thế của địa phương, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu hút đầu tư, nâng cao chất lượng tăng trưởng.

Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trồng cây tại Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh-Ảnh: VGP/Lê Sơn

 

Đối với Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, tỉnh cần tiếp tục thực hiện công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị Di tích quốc gia đặc biệt, có đội ngũ cán bộ chuyên môn và phẩm chất tốt, để đồng bào cả nước và du khách nước ngoài đến thăm hiểu hơn về truyền thống của quê hương xứ Nghệ nói chung và Chủ tịch Hồ Chí Minh nói riêng.

Phát huy truyền thống yêu nước và cách mạng của quê hương Nghệ An, Phó Thủ tướng tin tưởng Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh nhà sẽ tiếp tục nỗ lực phấn đấu đoàn kết, chung kết, chung lòng vượt qua khó khăn thách thức, giành được những thành tựu to lớn hơn nữa trên con đường phát triển.

Lê Sơn
chinhphu.vn

Người sưu tầm hiện vật về Bác Hồ ở Thái Lan

Hành trình tìm kiếm và thu thập kỷ vật về Bác Hồ giúp ông Ngô Vĩnh Bao, cán bộ hưu trí Hà Nội, từng sống ở Thái Lan, thấu hiểu tình cảm chứa chan của bà con kiều bào ở đây đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Không chỉ có một “Bảo tàng” những di vật của Bác Hồ tại Thái Lan, ông Bao còn chuẩn bị ra một tập sách ghi lại những kỷ niệm của bà con kiều bào với Bác.

Tìm đến nơi in dấu chân Bác

Ông Ngô Vĩnh Bao còn nhớ như in ngày ông đến nhà ông Bùi Bá Ba ở tỉnh Sa Kon NaKhon để xin chiếc phản gỗ của Bác sử dụng hồi năm 1929.

Là chủ sở hữu thứ 6 của chiếc phản, ông Ba đã cất giữ hơn 22 năm với niềm mong mỏi có ngày sẽ chuyển về nước. Khi ông Bao nói rõ ý định, ông Ba đột nhiên lên cơn nhồi máu cơ tim, khiến con cháu phải vội vàng đưa đi bệnh viện cấp cứu. Trái tim của một ông lão đã không chịu nổi niềm xúc động sau bao năm chờ đợi, cuối cùng đã có một người ở Việt Nam đến tìm ông. Năm 2002, ông Bao nhờ người chuyển chiếc phản qua Lào về Việt Nam.

New PictureÔng Ngô Vĩnh Bao bên tủ sách trong đó lưu giữ
một số cuốn sách tự biên soạn về Bác Hồ.

Từ năm 1999-2002, nhân thời gian làm việc ở Thái Lan, ông Bao đã thực hiện hơn 40 chuyến đi các tỉnh thành Thái Lan để tìm lại những hiện vật về Bác Hồ. Thời điểm đó, cứ vào thứ bảy, chủ nhật, ông Bao lại lên đường, tìm đến những địa danh Bác Hồ từng đi qua, tất cả là 9 tỉnh, thành phố. Đến đâu ông Bao cũng được bạn bè giúp đỡ để có thể tìm lại và tiếp nhận những kỷ vật về Bác, như tấm huy hiệu làm bằng sắt, hay bức chân dung bà con tự vẽ. Điều đáng khâm phục là trong mọi hoàn cảnh bà con kiều bào ở Thái Lan vẫn kiên trì cất giữ những hiện vật và kỷ vật về Bác Hồ và chờ ngày giao cho “người ở Việt Nam sang”, ông Bao kể.

Sưu tầm được nhiều hiện vật quý

Tin tức về một người Việt Nam chuyên tâm sưu tầm kỷ vật về Bác đã nhanh chóng lan truyền đến những nơi có kiều bào sống ở Thái Lan. Họ đã tự tìm đến ông Bao hoặc nhờ người nhắn với ông để trao kỷ vật vô giá mà cha mẹ họ để lại. “Tình cảm và mối tin cậy của họ làm tôi rất cảm kích. Tôi nguyện sẽ đem về Việt Nam, tái hiện quá trình hoạt động của Bác ở Thái Lan để góp phần làm phong phú hơn kho tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là tài sản vô giá của cả dân tộc”.

Sau khi rời gia đình ông Bùi Bá Ba, ông Bao đã thu thập thêm được viên gạch lát nền nhà của Bác ở bản Mạy, tỉnh Nakhon Phanom, tấm ảnh Bác tại một ngôi chùa ở Bangkok, cùng hơn 20 cuốn hồi ký của những người từng theo Bác hoạt động cách mạng hoặc nghe kể về Bác.

Nhớ lại ngày đầu tiên có ý định sưu tầm kỷ vật về Bác, ông Bao trầm ngâm: “Đó là năm 1969 khi Bác mất, tôi lặng lẽ cất chiếc băng tang của mình trong tủ. Dần dần, việc cất giữ những tấm hình, bài báo hay bất kỳ di vật gì về Bác đã trở thành niềm say mê của tôi”. Qua ngần ấy thời gian, giờ đây, ông Bao đang có trong tay 13 tập sách tự biên soạn với 100 tấm bản đồ, sơ đồ, hơn 2.000 bức ảnh, bài báo ghi lại chặng đường hoạt động cách mạng của Bác trong và ngoài nước.

Chia sẻ với Đất Việt sau khi Đảng ủy ngoài nước và Ủy ban Nhà nước về Người Việt Nam ở nước ngoài phát động cuộc vận động sưu tầm và sáng tác về Bác Hồ dành cho kiều bào, ông Bao nói: “Ngày ngày, tôi vẫn bổ sung tư liệu mới cho 13 tập sách”. Khi được hỏi sao chưa trao những tư liệu quý giá này cho Bảo tàng Hồ Chí Minh, ông Bao băn khoăn: “Điều tôi lo ngại nhất là các bạn trẻ sẽ không có nhiều thời gian để nghiên cứu ở bảo tàng. Vì vậy, tôi rất muốn chúng được in thành sách. Để dễ xem và dễ nhớ, tôi đã biên soạn các phần thuyết minh, đi kèm với tranh ảnh minh họa. Tuy nhiên, hiện nay một mình thì chưa đủ sức tổ chức in ấn”.

Ông Bao cho biết thêm, độ chính xác của dữ liệu đã được ông đối chiếu với bộ Biên niên tiểu sử Hồ Chí Minh của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật, kết hợp với thông tin của những người đã từng gặp Bác, những di vật và hồi ký… Điểm đặc biệt của bộ sưu tập này là nhiều hình ảnh và sơ đồ, ít chữ, giúp người xem tiếp cận tư liệu về Bác một cách sinh động.

Ông Ngô Vĩnh Bao dự kiến tổ chức một cuộc triển lãm các hiện vật và tư liệu về cuộc đời Bác Hồ do ông sưu tầm. Tại đó, ông sẽ trực tiếp kể lại những câu chuyện xung quanh cuộc hành trình thu thập kỷ vật về Bác của ông trên đất Thái Lan.

Báo Đất Việt
Tâm Trang
(st)

bqllang.gov.vn