Thư viện

Nữ dũng sĩ 7 lần được gặp Bác Hồ

“Bảy lần gặp Bác, mỗi lần tôi lại có được những bài học quý từ những lời dặn dò, bảo ban ân cần của Người. Bài học khắc sâu nhất trong tôi là sống yêu thương con người và không lãng phí”.

Bà Ngô Thị Tuyết (SN 1949, đang sống tại TP Đà Nẵng) được phong tặng danh hiệu dũng sĩ khi mới 15 tuổi, từng 7 lần được gặp Bác Hồ, kể lại những câu chuyện về Người, về những bài học từ Bác Hồ mà bà luôn ghi nhớ.
Tiếp tục đọc

Đi tìm cận vệ của Bác Hồ nơi thâm sơn cùng cốc

Ông là một trong những người được đi đón Bác, khi Người từ Trung Quốc trở về sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước.Ông cũng chính là người chăm lo từng bữa ăn, giấc ngủ cho Bác trong suốt thời gian Người làm việc tại Pắc Bó (Cao Bằng).

Tiếp tục đọc

Tấm lòng của người dân Huế với Bác

tam-long
Các cháu thiếu nhi biểu diễn văn nghệ bên tượng đài Nguyễn Tất Thành
tại Trường Quốc học Huế.

Tiếp tục đọc

Trong trái tim kiều bào luôn có Bác

QĐND – Với mỗi kiều bào ở xa Tổ quốc, ngoài tấm lòng luôn hướng về quê cha đất Tổ, trong trái tim họ luôn in đậm hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vì vậy, khi đến thăm Khu di tích Pác Bó (xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng), nơi ở và làm việc của Bác Hồ trong kháng chiến chiều 10-4, nhiều kiều bào đã không nén được xúc động trước cuộc sống dung dị của Người.

Tiếp tục đọc

Sưu tầm 600 bức ảnh, 400 bài viết về Bác Hồ

Gần 10 năm qua, một người cựu binh bằng tấm lòng say mê, ngưỡng mộ Bác Hồ đã miệt mài sưu tầm tranh, ảnh, sách báo và các tài liệu liên quan đến Bác. Hơn 600 bức ảnh, 400 bài viết là những minh chứng rõ rệt nhất khiến ông luôn cảm thấy tự hào.

Ông là cựu chiến binh Nguyễn Quang Huy, ở Khu phố 3, thị trấn Ba Đồn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Với ông Huy, những tài liệu, tranh ảnh ông đã dày công sưu tầm là những tài sản vô giá nhất của đời mình, luôn được ông cất giữ hết sức cẩn thận nhằm thể hiện lòng tôn kính và ngưỡng mộ Bác Hồ. Thậm chí, ông đã dành hẳn một căn phòng để trưng bày, giới thiệu những bức ảnh về Bác.

suu-tam-a
Ông Huy cùng vợ đang nghiên cứu những tài liệu, tranh ảnh về Bác

Tôi may mắn được gặp ông, được nghe ông kể về “cơ duyên” đưa ông đến với việc làm có ý nghĩa này. “Tháng 5/2007, Đảng bộ thị trấn Ba Đồn, huyện Quảng Trạch triển khai thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Thời điểm đó, nguồn tư liệu phục vụ công tác tuyên truyền, nhất là những tư liệu liên quan đến Bác vẫn còn rất ít. Để tầng lớp cán bộ, đảng viên có thể hiểu thêm về tấm gương đạo đức của Bác Hồ thì phải có những tài liệu nghiên cứu sâu, kể cả những điều bình dị nhất về Bác. Bởi tôi cho rằng, học tập tấm gương của Bác Hồ phải xuất phát từ những điều giản dị, đời thường rồi mới đến những triết lý sâu xa, mang đậm tính nhân văn… Từ suy nghĩ đó tôi bắt đầu có ý định làm một điều gì đó, ít ra để mình có thêm một cách nhìn mới về Bác Hồ. Quyết định sưu tập các tư liệu về ảnh, các bài viết về Bác cũng khiến cho tôi phải suy nghĩ rất nhiều và gặp không ít khó khăn vì không biết lấy đâu ra nguồn tư liệu phong phú như vậy”, ông nhớ lại những ngày đầu tiên bắt tay vào sưu tầm ảnh, tư liệu về Bác.

Một lần tình cờ, ông Huy như vỡ òa trong hạnh phúc khi vấn đề ông từng trằn trọc, suy nghĩ bấy lâu được nhen nhóm bằng một ý tưởng mới. Khi xem những bài báo, ông thấy có nhiều bài viết, hình ảnh về Bác Hồ. Nhưng điều ông luôn cảm thấy băn khoăn là những bài viết và hình ảnh đó rất khó để sưu tầm, nhất là khi ông không phải là tác giả. Nhưng với quyết tâm đã được nung nấu từ lâu, ông Huy đã lặn lội đến từng nhà anh em, đồng đội có đặt báo để mượn những số báo cũ để chép lại những bài viết và xin cắt cả những tấm hình của Bác.

suu-tam-b5 cuốn sổ được đóng thành tập gọn gàng và kỳ công với gần 400 bài viết về Bác được ông sưu tầm và chép lại trên các loại sách, báo, tư liệu khác nhau

Ông Huy tâm sự: “Nếu may mắn mua được sách, báo cũ có thể cắt nguyên cả bài báo viết về Bác Hồ, tôi lưu giữ cẩn thận để làm tư liệu và chép dần vào các cuốn sổ tay cá nhân. Những tờ báo có in bài viết về Bác mà không mua được thì tôi mượn về nhà, rồi thuê thợ chụp lại những bức ảnh này, sau đó tranh thủ ngày đêm, vợ đọc chồng chép tay cẩn thận vào cuốn sổ để kịp mang trả đúng hẹn”.

Trong rất nhiều tấm ảnh về Bác mà mình thu thập được, ông Huy cảm thấy rất tâm đắc với những bức hình giản dị, đời thường của Bác như bức ảnh Bác đang trò chuyện với ngư dân; bức ảnh Bác bưng cá lên bờ, hay bức ảnh Bác Hồ giải trí sau những giờ làm việc căng thẳng hòa mình cùng với quân dân… Sau khi đã sưu tầm được nhiều bức ảnh về Bác, ông Huy tiếp tục lựa chọn, phân loại, sắp xếp ảnh Bác theo thứ tự nội dung, từng giai đoạn cụ thể về thời gian của từng bức ảnh.

suu-tam-c
Bức ảnh đời thường, gần gũi giữa Bác Hồ với ngư dân

Nhìn căn phòng trưng bày nhiều bức ảnh, tài liệu có giá trị liên quan đến Bác được ông giữ gìn cẩn thận khiến ai cũng cảm phục tấm lòng của ông. Chính vì vậy, ngôi nhà nhỏ của ông như một “thư viện” nhỏ cho nhiều người đến tham quan, tìm hiểu. Ông Huy nói: “Mình cất công sưu tầm vừa để trau dồi kiến thức, học tập tấm gương đạo đức của Bác Hồ vĩ đại. Bên cạnh đó, nếu niềm đam mê của mình góp một phần nhỏ trong việc thôi thúc thế hệ trẻ sau này học tập, nghiên cứu về Bác thì việc làm đó mới có ý nghĩa. Nhưng tôi nghĩ rằng, cả dân tộc Việt Nam ai cũng dành sự kính trọng và lòng ngưỡng mộ sâu sắc nhất đối với Bác Hồ, việc làm của tôi cũng không nằm ngoài ý nghĩa đó”.

Không để niềm đam mê của mình bị dang dở, mỗi kỳ nhận lương hưu, ông Nguyễn Quang Huy liền đạp xe quanh huyện Quảng Trạch, vào tận Đồng Hới để tìm mua các loại sách, báo ở các quầy sách báo có các bài viết, ảnh về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

suu-tam-s
Ông Huy đã giành riêng một căn phòng để trưng bày các tư liệu, tranh ảnh về Bác

Đến nay, cựu chiến binh Nguyễn Quang Huy đã sưu tầm được hơn 600 bức ảnh các loại về Bác và hơn 400 bức ảnh về Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng nhiều bức ảnh về Ba Đồn – nơi ông sinh ra. Không chỉ có vậy, bên cạnh việc sưu tập những tranh ảnh về Bác, ông Huy đã cần mẫn chép lại những bài viết về Bác Hồ từ những cuốn sách, trang báo để làm tư liệu và xem đó là nguồn tư liệu sống cho mình. 5 cuốn sổ được đóng thành tập gọn gàng và kỳ công với gần 400 bài viết về Bác trên các loại sách, báo, tư liệu khác nhau và chép tay được đánh số từ tập I đến tập V là những tư liệu quý suốt đời ông luôn gìn giữ và trân trọng./.

Đăng Đức – Đặng Tài

Theo http://dantri.com.vn

Phương Thúy (st)

Bác Hồ một tình yêu bao la (Tiếp theo và hết)

Bài 2: Người sống mãi cùng đất nước

Sau khi Bác mất (2-9-1969), thể theo nguyện vọng của đồng bào và chiến sĩ cả nước, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng ta đã quyết định giữ gìn lâu dài thi hài Hồ Chủ tịch để cho ngày thống nhất đồng bào và chiến sĩ miền Nam, cùng các thế hệ con cháu của cả nước mai sau được nhìn thấy Bác. Mấy chục năm qua, lớp lớp cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nỗ lực vượt qua muôn vàn khó khăn, phức tạp nhưng hết sức thiêng liêng, cao cả để đêm ngày gìn giữ và bảo vệ thi hài Bác, nhất là ở những thời điểm mà tình hình quốc tế có nhiều nhạy cảm.

Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một đơn vị đặc biệt, làm một nhiệm vụ chính trị đặc biệt, chịu trách nhiệm chính trị lớn lao trước Đảng, Nhà nước, quân đội và đồng bào, chiến sĩ cả nước, người Việt Nam ở nước ngoài cùng bầu bạn quốc tế, giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bên cạnh những cố gắng và sự hy sinh thầm lặng của cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ làm nhiệm vụ “đặc biệt” ấy, là sự quan tâm thường xuyên của Bộ Chính trị, Nhà nước, Chính phủ và Quân ủy Trung ương – Bộ Quốc phòng. Việc giữ gìn thi hài Bác hơn 40 năm qua cũng như việc góp phần xây dựng Công trình Lăng Bác, chúng ta không thể không nhắc tới và biết ơn sự giúp đỡ trực tiếp, to lớn và quý báu của Đảng, Chính phủ và nhân dân Liên Xô trước đây cũng như Chính phủ Liên bang Nga ngày nay. Các giáo sư, tiến sĩ, viện sĩ, chuyên gia của bạn đã đồng hành với chúng ta ngay từ những giờ phút đầu tiên, sau khi trái tim Bác vừa ngừng đập đến những năm tháng đất nước còn chiến tranh và cho đến hôm nay. Các chuyên gia Nga coi đó vừa là tình cảm, trách nhiệm nhưng cũng là sự tôn kính, quý mến của họ đối với vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, người bạn lớn của nhân dân Xô-viết trước đây và ngày nay là Liên bang Nga.

Bac Ho 1 tinh yeu bao la 2.1Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương,Trưởng ban Ban Quản lý Lăng kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đang kiểm tra đội danh dự  – Ảnh: Minh Trường.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương, Trưởng ban Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Việc giữ gìn và bảo vệ thi hài Bác chúng ta làm rất tốt. Đến nay, thi hài của Người vẫn giữ được những nét đặc trưng như lúc sinh thời”. Trước năm 1992, công việc giữ gìn thi hài Bác do chuyên gia của bạn đảm nhiệm nhiều phần việc. Từ năm 1992, do những thay đổi ở nước Nga, chúng ta đã hợp tác trực tiếp với Trung tâm Nghiên cứu Y sinh Mát-xcơ-va, mời bạn sang giảng dạy và hướng dẫn kinh nghiệm về chuyên ngành bảo quản thi hài; phía Việt Nam yêu cầu hợp tác vấn đề gì, bạn đều đáp ứng công việc ấy. Sau nhiều năm được sự giúp đỡ của bạn, cán bộ, nhân viên Viện 69 đã nỗ lực học hỏi, sáng tạo, nhanh chóng nắm bắt được công nghệ, vừa làm chuyên môn, vừa nghiên cứu khoa học phục vụ giữ gìn thi hài. Đến nay, Viện 69 đã tự đảm nhiệm hoàn toàn các công việc, từ làm thuốc thường xuyên đến làm thuốc lớn trong tu bổ định kỳ. Ngoài ra, Viện 69 đã hoàn toàn làm chủ được công nghệ pha chế dung dịch. Từ năm 1992 đến năm 2003, chúng ta mua dung dịch của bạn và vận chuyển từ Mát-xcơ-va về Việt Nam. Sau năm 2003, khi Viện 69 đã hoàn toàn nắm được quy trình pha chế, phía bạn đã đồng ý chuyển giao quy trình công nghệ cho Việt Nam đảm nhiệm, mở ra những thuận lợi mới cho công tác bảo quản, gìn giữ. Nhiều năm qua, Viện 69 đã dày công bồi dưỡng đào tạo một đội ngũ cán bộ chuyên ngành khá dồi dào, 5 tiến sĩ và 5 thạc sĩ chuyên ngành được đào tạo ở Nga và đào tạo cơ bản trong nước. Viện có 2 Thầy thuốc Nhân dân, 4 Thầy thuốc Ưu tú, còn lại đa số là bác sĩ, kỹ sư, cử nhân ở độ tuổi dưới 30 nhưng có chuyên môn khá vững. Đội ngũ kỹ thuật Viên của viện nhiều người là kỹ thuật viên cao cấp có tay nghề cao. Hằng năm, Viện thực hiện nhiều đề tài khoa học cấp Bộ và cấp Nhà nước về giữ gìn lâu dài thi hài Bác. Chúng tôi đã gặp một trong những cán bộ khoa học còn khá trẻ của viện, đó là Trung tá Phạm Văn Vương, Đội trưởng Đội y tế đặc biệt – Đơn vị trực tiếp làm thuốc giữ gìn thi hài Bác. Năm 1989, chàng trai quê Lý Nhân (Hà Nam) nhập ngũ vào Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và là chiến sĩ của Viện 69. Trong 3 năm làm nghĩa vụ quân sự, Vương đã không ngừng phấn đấu rèn luyện, được lãnh đạo viện cử đi học Trung cấp quân y. Khi ra trường Vương được trở về “mái nhà xưa” của mình và chàng trai xứ đồng chiêm trũng đã không phụ lòng của mọi người trong Viện. Anh phấn đấu vươn lên, tự học tiếng Nga, tiếng Anh và học tại chức Trường Đại học Bách khoa. Năm năm liền anh là Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở, năm 2007 là Chiến sĩ thi đua cấp toàn quân, năm 2010 anh được tặng danh hiệu Thầy thuốc Ưu tú. Giờ đây, người Đội trưởng ấy đang phụ trách những phần việc kỹ thuật phức tạp của đơn vị . Vương tâm sự: “Tôi luôn tự hào là người chiến sĩ của Bộ tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Viện 69. Niềm tự hào này không chỉ của cá nhân tôi mà là cả của gia đình và quê hương nữa! Được sống gần Bác, tôi thấy mình quá nhỏ bé nên càng phải ra sức phấn đấu, học tập, rèn luyện theo lời Người dạy”. Trong công việc, Vương luôn có nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật, phục vụ trực tiếp cho nghiên cứu đề tài cấp Nhà nước năm 2003 của Viện 69.

Bac Ho 1 tinh yeu bao la 2.2Chiến sĩ tiêu binh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh: Trọng Hải.

Nhằm đáp ứng tốt nhất cho việc đồng bào và chiến sĩ cả nước, người Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè quốc tế về viếng Bác, chúng tôi được biết, sau khi Nhà Quốc hội hoàn thành, Quảng trường Ba Đình sẽ được mở rộng về phía Nam để không gian Quảng trường trước Lăng được rộng rãi hơn và sẽ được chỉnh trang lại. Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phối hợp với thành phố Hà Nội tổ chức một số tuyến phố đi bộ xung quanh Lăng (giai đoạn 1). Trên các tuyến phố đi bộ sẽ tổ chức các hoạt động văn hóa, nghệ thuật đường phố, phục vụ đồng bào, khách quốc tế về Lăng viếng Bác hoặc tham quan Cụm Di tích lịch sử-văn hóa Ba Đình. Nhất là về mùa hè, những đêm trăng trong gió mát, người dân Thủ đô thường về đây để ngắm Lăng, tận hưởng bầu không khí trong lành, yên tĩnh trên Quảng trường và xem những ca đổi gác của các chiến sĩ tiêu binh. Thành phố Hà Nội cũng sẽ hỗ trợ kinh phí để lát hè, lắp dựng hàng rào an ninh tuyến phố đi bộ. Trên Khu Di tích Đá Chông, Ba Vì (còn gọi là K9), Ban Quản lý Lăng cũng dự kiến mở cửa tự do cho nhân dân và khách quốc tế vào thăm quan trong dịp kỷ niệm 124 năm Ngày sinh của Người (19-5-2014). Hiện nay, một số công trình đang tích cực thi công nhằm phục vụ tốt nhất cho đồng bào, chiến sĩ cả nước và bè bạn quốc tế khi về nơi đây. Sắp tới, một hệ thống “Mái che đường viếng” di động vừa hiện đại, vừa đẹp đẽ sẽ được thay thế các mái che hiện nay. Đây là món quà mà Đảng bộ và nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh dâng tặng. “Mái che đường viếng” sẽ được kéo dài từ khu tập kết vào viếng Người đến cửa Lăng và từ sau khi ra khỏi Lăng về nhà sàn của Bác.

Gần 40 năm kể từ ngày Lăng Bác mở cửa đón đồng bào và chiến sĩ, người Việt Nam ở nước ngoài và bè bạn quốc tế vào viếng Bác, là từng ấy năm cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ, các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tỏ rõ lòng tôn kính và đời đời nhớ ơn Người – Vị Lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân ta. Cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ trong đơn vị hết sức tự hào được Đảng, Nhà nước, quân đội và đồng bào cả nước tin cậy giao cho nhiệm vụ thiêng liêng cao cả ấy. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, những người lính ở đây cũng luôn thể hiện lòng trung thành vô hạn với Tổ quốc và nhân dân; giữ gìn tuyệt đối an toàn lâu dài thi hài Bác và Công trình Lăng của Người. Lòng trung thành và tình yêu kính trọng Bác luôn là động lực giúp cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ, các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh khắc phục mọi khó khăn, vươn lên làm chủ khoa học công nghệ để phục vụ việc bảo vệ và giữ gìn thi hài Bác.

Năm tháng sẽ trôi qua, Quảng trường Ba Đình vẫn luôn lộng gió và đầy ắp nắng vàng, những dòng người từ mọi miền Tổ quốc cũng như nhiều bạn bè từ khắp năm châu liên tục về viếng Người. Mỗi lần về với Bác, mỗi người đều nhận thấy gương mặt Bác vẫn hồng hào, Người như đang nằm nghỉ thanh thản sau mỗi ngày làm việc. Các thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau luôn cảm nhận trong trái tim mình: Người vẫn sống mãi cùng non sông đất nước.

Hà Nội, tháng 5 năm 2013

———–

Theo LÊ QUÝ HOÀNG
Báo Quân đội nhân dân
Huyền Trang (st)

Bác Hồ, một tình yêu bao la (Bài 1)

Bài 1: Dòng người đi trong thương nhớ

Nhìn dòng người nối dài tưởng như vô tận lặng lẽ nhích dần từng bước để vào Lăng viếng Bác, bất giác trong tôi nhớ tới bài thơ “Viếng Lăng Bác” của Viễn Phương: “… Ngày ngày mặt trời đi qua trên Lăng/ Thấy một mặt trời trong Lăng rất đỏ/ Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ/ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân…”.

Nơi cả nước hướng về

Một ngày, tôi hòa cùng dòng người vào Lăng viếng Bác. Dẫu đã bao lần vào viếng Người nhưng lần nào tôi cũng thấy trong lòng bồi hồi, xúc động. Nghe tiếng xào xạc của những khóm tre bên Lăng, tiếng rì rào nhè nhẹ của những chùm hoa dâm bụt đung đưa bên lối vào nhà sàn, tôi thấy như đâu đây dáng hình của làng quê Việt Nam với tiếng ru hời luôn ở bên cạnh Người. Trong dòng người về viếng Bác, tôi bắt gặp những cụ già, em bé, các cựu chiến binh, thương binh, bệnh binh và người Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt là bè bạn quốc tế từ các châu lục đến rất đông. Trong số họ, có những người đã vào Lăng viếng Bác một đôi lần, thậm chí rất nhiều lần, nhưng cũng có những người chỉ mới đến lần đầu. Song, tất cả đều có một điểm chung là ai cũng thành kính và xúc động. Nhiều người khi nhẹ bước qua nơi Bác nằm nghỉ, cứ muốn dừng chân lại ngắm thật lâu, mắt ai cũng đỏ hoe. Với người Việt Nam thì muốn ngắm thật kỹ vị lãnh tụ của dân tộc. Người nằm đó, gương mặt hồng hào như vừa trải qua một ngày làm việc, giờ đang yên giấc ngủ. Người vẫn mặc bộ ka-ki quen thuộc. Với bè bạn quốc tế, ai cũng muốn được ngắm nhìn kỹ vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa lớn của Việt Nam và cao hơn cả, đó là người bạn gần gũi của tất cả các dân tộc đang đấu tranh vì độc lập tự do, hòa bình cho nhân loại mà tên tuổi của Người đã lan tỏa khắp năm châu.

Trong những cuốn sổ ghi cảm tưởng ở Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được lưu giữ, nhiều cuốn đã ngả màu theo năm tháng, có những cuốn còn thơm mùi mực vừa mới ghi. Những người phục vụ ở đây kể rằng, có những người từ miền Nam lần đầu ra viếng Bác, khi viết những dòng cảm tưởng, vừa viết, mắt vừa rưng rưng lệ, họ sụt sùi mãi mới viết xong. Có những cựu chiến binh cứ cắn bút ngồi mãi, tay run run chỉ viết được đôi dòng rồi nức nở khóc không viết được nữa vì sự xúc động trào dâng; có bà má ở Nam Bộ không biết chữ, nhờ con cháu viết giùm, má bảo, được ra thấy Người là má toại nguyện về với tổ tiên rồi…

Bac Ho 1 tinh yeu bao la 1.1Khách quốc tế và các cựu chiến binh vào Lăng viếng Bác. Ảnh: Minh Trường.

Ông Võ Minh Bình, một cựu tù của Hội tù yêu nước thành phố Đà Nẵng viết: “Chúng con xin thắp nén hương lòng thành kính dâng lên Bác kính yêu. Chúng con nguyện sống xứng đáng và làm theo lời Người dạy, ra sức cống hiến sức mình góp phần xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh để thỏa lòng Người trước lúc đi xa…”.

Từ thành phố Hồ Chí Minh, anh Lê Thanh Xuân ở huyện Củ Chi, tâm sự: “Được về viếng Bác, chúng con thật là sung sướng. Bác ơi! Những đứa con từ ngục tù, từ chiến trận trở về đây, nhiều người ngã xuống nhưng chưa từng gặp Bác, thậm chí có người chưa được ngắm nhìn ảnh của Bác. Chúng con xin hứa với Bác nguyện suốt đời làm theo lời Người dạy, tiếp tục đem công sức, trí tuệ của mình phục vụ đất nước, đi theo con đường mà Bác đã vạch ra cho dân tộc…”. Ông Võ Như Hùng, một Việt kiều ở Pháp về viếng Bác, cho biết: “Phong cách hòa đồng, giản dị; những câu chuyện Bác đi thăm bà con trong thời gian Người ở Pháp… vẫn được bà con kiều bào thường xuyên kể lại với nhau trong các cuộc gặp mặt, đến nỗi bọn trẻ chúng tôi ngày đó, đứa nào cũng thuộc lòng nội dung câu chuyện”.

Gần bốn mươi năm trôi qua, kể từ ngày Lăng Bác chính thức mở cửa cho đồng bào, chiến sĩ cả nước và bạn bè quốc tế vào viếng Người, đến tháng 4-2013 đã đón tiếp hơn 40 triệu lượt người, trong đó có hơn 5 triệu lượt khách quốc tế; phục vụ chu đáo hơn 400 buổi Lễ viếng cấp Nhà nước và các Đoàn Nguyên thủ quốc gia; gần 1000 buổi sinh hoạt chính trị – văn hóa trước Lăng Bác; phục vụ hơn 38 nghìn đoàn đặt vòng hoa; 3,9 nghìn lượt xe đẩy; nhận chuyển trả hơn 1,2 triệu lượt máy các loại. Nhiều đơn vị bộ đội trước ngày lên đường làm nhiệm vụ, nhiều buổi lễ tuyên thệ của những đoàn viên, thanh niên; nhiều doanh nghiệp, đơn vị, cơ quan, trường học, địa phương trong cả nước đã hội tụ về đây, báo cáo với Bác về những việc đã làm được và nhận thiếu sót với Người những việc còn chưa thấu đáo của mình. Nhiều đôi trai gái trước ngày tổ chức lễ kết hôn, đã đến trước Lăng Người bày tỏ lòng biết ơn và xin hứa sẽ làm tốt trách nhiệm, bổn phận của họ đối với gia đình và xã hội. Hàng trăm đoàn quốc tế đến thăm Việt Nam, trước khi làm việc với Đảng và Nhà nước ta đã bồi hồi, xúc động và thành kính đến đặt vòng hoa trước Lăng viếng Người.

Giữ yên giấc ngủ của Người

Hai mươi giờ ngày 18-7-1975, thi hài Bác từ K9 được đón về Lăng của Người tại Thủ đô Hà Nội sau 6 năm kể từ ngày Bác đi xa. Đồng bào, chiến sĩ Thủ đô nói riêng và cả nước nói chung nhớ mãi ngày 29-8-1975, lễ khánh thành Lăng Bác đã được tổ chức trọng thể tại Hội trường Ba Đình, Hà Nội. Hôm ấy, hai chiến sĩ tiêu binh là Nông Văn Thành và Nguyễn Văn Ri được vinh dự đảm nhiệm ca đứng gác đầu tiên trước Lăng Bác.

Đại tá Nguyễn Hoàng Diệu, Chính ủy Đoàn 275 cho biết: “Hiện nay, anh em đứng trực trong thời gian viếng Bác là 30 phút, ngoài giờ viếng là 60 phút. Nói thì vậy, để đứng được 60 phút thì họ phải luyện tập đứng gấp 3 lần số thời gian ấy. Lúc đầu là tập đứng 30 phút, sau nâng dần lên 60 phút, rồi 90 phút, 120 phút và cuối cùng là 180 phút”. Chiến sĩ Nguyễn Văn Chính, quê ở Nghi Lộc, Nghệ An “khoe” với chúng tôi: “Hằng ngày, chúng tôi luyện tập đứng giữa nắng hè oi bức, cái nóng trên trời không bằng cái nóng hừng hực bốc lên từ sân bê tông, mồ hôi cứ túa ra thấm đẫm cả áo quần, những giọt mồ hôi nhỏ xuống đầy mặt, nhưng chúng tôi vẫn đứng nghiêm trang và không hề cử động”.

Chúng tôi được “thực mục sở thị” các chiến sĩ cảnh vệ Đoàn 275 đang luyện tập, ở đây họ được uốn nắn từng chi tiết nhỏ nhất không cho phép sai sót. Binh nhì Nguyễn Vĩnh Nghĩ, quê ở Đà Sơn (Đô Lương, Nghệ An) trải lòng: “Được làm người chiến sĩ gác cho Bác yên nghỉ, chúng tôi thấy thật vinh dự và tự hào. Vì vậy, chúng tôi cần phải gắng tập luyện để xứng với vinh dự đó”. Còn chiến sĩ Đinh Trung Hải, quê xã Ngọc Lập (Yên Lập, Phú Thọ) thổ lộ: “Nghe tin tôi nhập ngũ về Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, bố mẹ tôi vui lắm, cả thôn xóm cũng tự hào. Mọi người luôn động viên tôi phải hoàn thành thật tốt nhiệm vụ. Tôi ước ao có một ngày nào đó, tôi sẽ đón bố mẹ về Thủ đô và trực tiếp đưa bố mẹ vào Lăng viếng Bác”.

Bac Ho 1 tinh yeu bao la 1.2Một ca đổi gác của các chiến sĩ tiêu binh Đoàn 275. Ảnh: Minh Trường.

Bên cạnh nhiệm vụ canh gác, những người lính cảnh vệ còn nêu gương sáng về phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, đó là Hạ sĩ Phạm Công Hoan trong lúc đang làm nhiệm vụ ở khu vực phía Nam đường Hùng Vương, thấy một phụ nữ bị tên cướp giật chiếc túi. Tên cướp chạy về phía đường Hùng Vương, Hoan liền đuổi theo quật ngã, lấy lại chiếc túi trả về người đã mất và bàn giao tên cướp cho công an khu vực xử lý. Còn Hạ sĩ Lê Chí Công, vào dịp cả nước kỷ niệm 990 năm Thăng Long – Hà Nội, anh đã nhặt được túi xách của một du khách người Ô-xtrây-li-a, trong đó có hơn 3.500USD cùng nhiều giấy tờ quan trọng, Công liền báo cáo đơn vị và số tài sản trên đã được trả lại cho người đánh mất trong sự khâm phục của du khách. Khi Công vừa hết nghĩa vụ quân sự, một ngân hàng ở Hà Nội biết tin đã tuyển dụng Công vào làm việc.

Ngày ngày, hàng vạn người đổ về Lăng viếng Bác, ngày bình thường ít nhất cũng phải hơn một vạn, ngày nghỉ hoặc ngày lễ lên tới gần 2 vạn. Có ngày, lượng người về viếng Bác nối dài từ cửa vườn Bách Thảo (đường Hoàng Hoa Thám) sang phố Ngọc Hà đến cửa khu nhà đón tiếp. Đặc biệt như ngày 2-9-2012, số người về viếng Bác lên tới 33.957 lượt người. Trong dịp 30-4 và 1-5 vừa qua, đã có hơn 74.000 lượt người vào viếng Bác, trong đó có 10.705 lượt khách nước ngoài. Đặc biệt, riêng ngày 30-4 đã có 23.893 lượt người vào Lăng viếng Bác, thăm nơi ở và làm việc của Người. Những ngày này, cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ, các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc khá căng thẳng, nhưng mọi người đều hoàn thành xuất sắc công việc, không mảy may sơ suất.

Bên cạnh việc phục vụ cho nghi lễ chào cờ và bảo vệ, giữ gìn thi hài Bác, còn có Đoàn 195 – Đơn vị chuyên bảo đảm vận hành hệ thống thiết bị kỹ thuật Công trình Lăng, bảo đảm các thông số môi trường trực tiếp phục vụ nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác và lễ viếng Người. Đại tá Dương Hoàng Toán, Chính ủy Đoàn 195 cho biết: “Cán bộ, chiến sĩ trong đoàn luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự cường làm chủ công nghệ tiên tiến, điều khiển và vận hành tốt thiết bị, phục vụ cho công việc bảo quản, giữ gìn lâu dài thi hài Bác”.

Kể từ ngày 19-5-2001, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức Lễ chào cờ quốc gia trước cửa Lăng Bác. Mùa hè từ 6 giờ và mùa đông là 6 giờ 30 phút; lễ hạ cờ vào lúc 21 giờ hằng ngày. Ngày nào cũng vậy, bất kể thời tiết thế nào, các chiến sĩ cảnh vệ vẫn quân phục trang nghiêm làm lễ chào cờ. Nhân dân đến tham gia rất đông, anh Lý Xuân Hựu ở quận Ba Đình tâm sự: Nhà tôi cách đây khá xa, nhưng sáng nào tôi cũng ra Quảng trường dự lễ chào cờ và tập thể dục. Thú thật, không riêng gì tôi mà mọi người đều có tâm trạng chung, ai cũng thấy lòng mình lâng lâng, rạo rực khi nhìn lá cờ đỏ sao vàng tung bay trong gió với lời hát Quốc ca hùng tráng.

Hơn 40 năm giữ gìn thi hài Bác và gần 40 năm bảo vệ, quản lý vận hành Công trình Lăng của Người, cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ, các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tự hào được làm nhiệm vụ chính trị đặc biệt mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

———–

Theo LÊ QUÝ HOÀNG
Báo Quân đội nhân dân
Huyền Trang (st)

“May mắn lớn nhất cuộc đời tôi là 5 lần được gặp Bác Hồ”

“Nếu ai hỏi may mắn lớn nhất cuộc đời tôi là gì, tôi sẽ trả lời ngay đó là 5 lần được gặp Bác Hồ. Nhờ có Bác Hồ kính yêu, tôi mới có cuộc sống hôm nay” – Đại úy Từ Thị Công Lễ, diễn viên Đoàn Văn công Quân khu 5, chia sẻ.

Là diễn viên của Đoàn Văn công quân khu 5, vợ chồng Trung tá Lê Tôn Sùng và Đại úy Từ Thị Công Lễ có cơ hội gặp Bác Hồ nhiều lần và đã từng vinh dự được biểu diễn phục vụ Bác. Mỗi năm vào dịp sinh nhật Bác, những ký ức về Bác lại hiện về trong tâm trí đôi vợ chồng nghệ sĩ – chiến sĩ.

Bà Lễ sinh năm 1940, quê ở Quảng Ngãi, người dân tộc Hrê; ông Sùng sinh năm 1937, quê ở Bình Định. Cả hai đều là diễn viên múa của Đoàn Văn công quân khu 5, quen nhau từ những lần đi diễn chung rồi nên nghĩa vợ chồng.

may man  3
Bà Lễ vinh dự 5 lần được gặp Bác Hồ

Bà Lễ từng được 5 gặp Bác Hồ còn ông Sùng từng 3 lần được gặp Bác Hồ. Với bà Lễ, trong 5 lần gặp Bác Hồ thì lần đầu tiên và lần cuối cùng để lại trong bà nhiều ấn tượng và kỷ niệm sâu sắc nhất. Bà Lễ bồi hồi nhớ lại lần đầu tiên được gặp Bác: “Đó là năm 1956, khi ấy tôi mới 14 tuổi, là học sinh của miền Nam tập kết ra Bắc để học tập. Tết Trung thu năm đó, với thành tích học tập xuất sắc, tôi vinh dự có mặt trong đoàn học sinh đến Phủ Chủ tịch gặp Bác. Khi Bác xuất hiện, tất cả học sinh chúng tôi đều đứng vây quanh Bác. Tôi cố len giữa đám đông để được đứng gần Bác hơn. Tôi nói với Bác: “Bác ơi! Người dân quê cháu dặn cháu rằng nếu có điều kiện gặp Bác Hồ thì phải cố gắng nhìn cho thật kỹ, xem Bác có giống như những người bình thường không mà sao Bác giỏi thế. Bác cho cháu được nắm tay Bác, vuốt chòm râu nữa Bác nhé”. Nghe xong Bác cười và gật đầu, đôi mắt nhìn tôi âu yếm. Suốt cả buổi hôm đó tôi chỉ chăm chú nhìn Bác mà không biết hôm đó Phủ Chủ tịch chiếu phim gì cho chúng tôi xem. Trước đó, Bác đã phát cho chúng tôi mỗi đứa một cái kẹo nhưng không ai dám ăn mà để dành như một vật quý báu”.

may man  1
Ông Sùng 3 lần được gặp Bác Hồ

“Lần cuối cùng tôi được gặp Bác là năm 1967. Đây là lần Đoàn Văn công của quân khu 5 ra Phủ Chủ tịch biểu diễn phục vụ Bác. Đội múa của chúng tôi biểu diễn tác phẩm “Tổng ngốc sa lầy” đả kích Tổng thống Níc-xơn bị sa lầy trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Tại phòng chúng tôi biểu diễn, tường được lắp bằng kính nên chúng tôi vừa múa vừa nhìn Bác. Bác Hồ vừa xem vừa cười rất sảng khoái, nên chúng tôi cũng vui lây. Sau buổi biểu diễn, Bác nói: “Các cháu diễn hay lắm. Các cháu có đói không? Các cháu ăn phở nhé!”. Rồi Bác quay sang nhà thơ Tố Hữu đứng cạnh, dặn: “Chú Hữu nhớ cho các cháu ăn thật no, thật ngon vào”. Trước khi ra về, cả Đoàn được chụp ảnh cùng Bác. Lúc này sức khỏe của Người đã xuống, chúng tôi phải đỡ Bác đứng dậy”, bà Lễ xúc động nhớ lại.

Những lần khác, bà Lễ được gặp Bác khi Bác về thăm Đoàn Văn công quân khu 5. Có lần bà vinh dự được mang hoa ra sân bay đón Bác (lúc đó Đoàn văn công quân khu 5 đóng trên đất Vinh – Nghệ An).

Cũng giống như vợ mình, ông Sùng được gặp Bác trong những lần Bác thăm Đoàn Văn công quân khu 5 và vào Phủ Chủ tịch biểu diễn phục vụ Bác.

Ngoài ra, ông Sùng còn có dịp được biểu diễn cho Bác xem khi Bác đến thăm Đoàn Văn công Mai Dịch. Và cũng chính Bác Hồ đã đồng ý cho Đoàn Văn công của ông Sùng đi Trung Quốc biểu diễn. Sau khi qua Trung Quốc được mấy ngày thì Bác gửi thư động viên mọi người trong Đoàn. Hiện ông Sùng còn giữ bức thư đó như một báu vật.

Năm 1968, bà Lễ về làm giáo viên dạy múa Trường Nghệ thuật quân đội. Còn ông Sùng vào chiến trường Quân khu 5 tiếp tục phục vụ các chiến sĩ.

Ngày Bác Hồ mất, bà Lễ đang mang thai đứa con đầu lòng tháng thứ 8. Bà khóc nhiều lắm.

may man  2
Hai vợ chồng đã từng biểu diễn phục vụ Bác

“Hồi bố mẹ tôi mất tôi đi xa nên không biết mà khóc. Còn lúc Bác mất tôi khóc nhiều lắm. Chồng tôi phải thường xuyên động viên để tôi vơi đi nỗi buồn”, bà Lễ cho biết.

Sau giải phóng bà Lễ về công tác tại Đoàn Văn công Quân khu 5, làm Đội trưởng Đội múa; nghỉ hưu năm 1982 với quân hàm Đại úy. Còn ông Sùng nghỉ hưu năm 1990 với quân hàm Trung tá, là Phó Trưởng đoàn Văn công Quân khu 5.

15 năm nay hai vợ chồng bà Lễ tham gia công tác xã hội đều đặn, là diễn viên, biên đạo múa của đội văn nghệ Câu lạc bộ Thái Phiên Đà Nẵng. Hiện hai vợ chồng ông Sùng, bà Lễ đang sống trong căn nhà trên đường Trường Chinh, TP Đà Nẵng. Những lúc dàn dựng hay biểu diễn các tiết mục hát múa về Bác Hồ, vợ chồng bà lại nhớ về Bác trong niềm xúc động sâu sắc.

“Nếu ai hỏi may mắn lớn nhất trong đời tôi là gì, tôi sẽ trả lời ngay đó là 5 lần được gặp Bác Hồ. Nhờ có Bác Hồ kính yêu, tôi mới có cuộc sống hôm nay”, Bà Lễ xúc động chia sẻ.

Khánh Hồng
Theo tinmoi.vn
Kim Yến (st)

Bà giáo già và bộ sưu tập tư liệu về Bác Hồ

Mấy lần gọi điện thoại đến nhà riêng, người nhà đều bảo “bà đi ra ngoài chưa về”.

1. Mấy lần gọi điện thoại đến nhà riêng, người nhà đều bảo “bà đi ra ngoài chưa về”. Tôi lấy làm lạ. Năm nay đã tròn 80 tuổi, về hưu cũng đã lâu rồi. Vậy bà còn bận bịu với công việc gì, mà chưa chịu nghỉ ngơi ở nhà? Đến khi gặp bà, tôi mới hiểu: bà vẫn đang là Phó Chủ tịch Hội Khuyến học của Phường, nên công việc cũng lu bu. Bà bảo: “Cũng đều là những việc không tên cả. Không tốn nhiều sức lực, nhưng rất cần có tâm và lòng nhiệt tình. Đến năm 2014 mới hết nhiệm kỳ, cũng ráng làm cho trọn với lương tâm, trách nhiệm của mình…”.

Bà là Nguyễn Thị Ngọc Bích, người gốc Hà Nội, một cựu chiến binh, nhà giáo lão thành. Nhưng nhắc đến bà, mọi người không chỉ biết đến một nhà giáo mẫu mực, một cán bộ quản lý giáo dục mẫn cán, tận tụy với nghề suốt mấy chục năm, mà còn rất kính nể bà – một người cần mẫn sưu tầm tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong hơn 30 năm qua. Bộ sưu tập này đã trở thành những kỷ vật quý giá của bà giáo và cho cả thế hệ trẻ mai sau.

Bà hẹn tiếp tôi tại nhà riêng ở gần sân bay Tân Sơn Nhất (quận Tân Bình, TP. HCM). Trong căn phòng nhỏ, với tủ tài liệu về Bác Hồ được xếp ngay ngắn, bà kể cho tôi nghe về một thời gian khó, nhưng cũng rất tự hào, về cuộc đời và sự nghiệp của mình.

suu-tap-bac-ho-aBà Ngọc Bích tại Bảo tàng Hồ Chí Minh (Chi nhánh TP.HCM)

2. Nhớ lại tuổi thơ của mình, bà không thể quên ngày 2/9/1945, khi đó bà mới 12 tuổi, được ba đưa đi dự Lễ Quốc khánh và nghe Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình. Bà bảo lúc ấy còn nhỏ, chưa hiểu rõ nội dung và ý nghĩa của bản Tuyên ngôn Độc lập, nhưng không bao giờ quên được hình ảnh uy nghiêm của Bác Hồ cùng các vị đại diện Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trên lễ đài, và giọng nói ấm áp của Người: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”. Hình ảnh và lời nói hào sảng của Bác đã là nguồn cổ vũ rất lớn để bà đi theo cách mạng.

Cô gái Hà Nội Ngọc Bích đi bộ đội khi vừa tròn 16 tuổi, được làm giao liên tại Đại đoàn 320 nổi tiếng thời kháng chiến chống Pháp. Sau 3 năm tham gia kháng chiến, cô bị thương, nằm trong hang đá suốt 3 tháng trời. Khi đơn vị phát hiện, vết thương ở chân đã quá nặng, phải đoạn chi để cứu mạng. Thủ trưởng đơn vị lúc ấy là Tướng Văn Tiến Dũng, thấy Bích còn trẻ, tương lai và hạnh phúc còn ở phía trước nên đề nghị quân y tìm mọi cách giữ lấy đôi chân cho cô. Thật may mắn, vết thương không bị nhiễm trùng nặng, sau một thời gian thì lành lặn và cô được xuất ngũ.

Trở về Hà Nội, mới 19 tuổi, cô xin đi học Sơ cấp sư phạm. Ra trường, 21 tuổi, cô tình nguyện đi dạy học ở vùng khó khăn, hăng hái tham gia phong trào xóa nạn mù chữ, là một trong số những Chiến sĩ tiêu biểu trong phong trào “Diệt giặc dốt” của thanh niên ngành Giáo dục Hà Nội, theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1958, tại Lễ tổng kết phong trào này, cô giáo trẻ Ngọc Bích đã vinh dự được nhận thư tuyên dương và Huy hiệu của Bác Hồ gửi tặng. Đây là phần thưởng cao quý, là nguồn động viên lớn lao đối với cô giáo Ngọc Bích, trong suốt chặng đường dài cống hiến tâm sức cho sự nghiệp trồng người.

Sau này, khi đã có gia đình, cô Bích lại tiếp tục xin đi học nâng cao trình độ ở trường Cao đẳng Sư phạm, rồi Đại học Sư phạm (hệ tại chức) và lần lượt được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng Trường phổ thông cấp 2 ở Hà Tây, Hưng Yên… trong suốt những năm máy bay Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc. Năm 1975, đất nước thống nhất, cô lại xung phong vào Quảng Ngãi quê chồng dạy học, rồi lại lần lượt làm Hiệu phó các Trường phổ thông cấp 3 Trần Hưng Đạo, Trần Phú, Nghĩa Lộ I, Nghĩa Lộ II, Lê Hồng Phong – tỉnh Nghĩa Bình (sau này tách ra thành Quảng Ngãi và Bình Định).

Có một điều mà những người làm giáo dục ở Nghĩa Bình hồi ấy đều biết và cảm phục cô Ngọc Bích. Đó là cô luôn chấp nhận được giao về làm quản lý ở các trường yếu kém. Sau khi xây dựng nhà trường khá lên, cô lại được điều động về gây dựng một trường yếu kém khác. Cứ như vậy, cô lần lượt về làm hiệu phó chuyên môn ở 5 trường, chỉ trong vòng gần 5 năm.

Năm 1979, bà Ngọc Bích cùng gia đình chuyển công tác vào TP. HCM, được phân công về làm Hiệu phó Trường Bổ túc văn hóa Quận Tân Bình, với những học trò lớn tuổi, phần lớn là cán bộ nòng cốt của quận, trước đây do tham gia kháng chiến chống Mỹ nên chưa có điều kiện học hết chương trình phổ thông. Trường Bổ túc văn hóa sau này đổi tên thành Trung tâm Giáo dục thường xuyên, bà tiếp tục làm Phó Giám đốc cho tới ngày nghỉ hưu (1986). Và bây giờ, bà lại tham gia Hội Khuyến học của phường, của quận… cho đến nay.

Bà luôn tự hào về dòng họ đã có 5 đời làm nghề giáo của mình. Cuộc sống của nhà giáo tuy nghèo, nhưng thanh bạch và luôn giữ được nền nếp gia phong, luôn là tấm gương mẫu mực để con cháu noi theo. Bà bảo, tài sản quý nhất của bà bây giờ là 4 người con (2 gái, 2 trai) đều được ăn học đến nơi đến chốn và đều thành đạt, cùng những đứa cháu nội ngoại học giỏi, chăm ngoan. Thế là hạnh phúc lắm!

suu-tap-bac-ho-bBà Ngọc Bích trước tủ tư liệu quý về Bác Hồ. Ảnh: Đ.Q.T

3. Hành trình sưu tầm tư liệu về Bác Hồ của bà bắt đầu từ năm 1980, sau khi bà được bạn bè gửi tặng những tấm ảnh quý, chụp Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến đi Pháp dự Hội nghị ký kết Hiệp định sơ bộ Pháp – Việt năm 1946. Đây là bộ ảnh gốc rất quý, vì thời điểm đó ở trong nước ít ai có được. Sau này, bà đã tặng bộ ảnh gốc này cho Bảo tàng Hồ Chí Minh (Chi nhánh TP. HCM), chỉ giữ lại bản photocoppy.

Kể từ đó, sau những giờ dạy học, bà lại kể cho học sinh nghe những câu chuyện về Bác Hồ. Nghe rồi, học sinh lại đòi bà kể tiếp khi gặp cô. Để những câu chuyện về Bác thêm sinh động và sâu sắc, bà đã dày công sưu tầm những tư liệu về Bác, để minh họa. Những tấm ảnh chụp Bác được bạn bè gửi tặng, những cuốn sách cũ viết về hành trình tìm đường cứu nước, cũng như cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ, những bài báo viết về Bác, từ trước đến nay, ở trong và ngoài nước v.v… đều được bà trân trọng lưu giữ.

Bằng tấm lòng tôn kính Bác Hồ, với tính cẩn thận, khoa học của một nhà giáo, bà đã tập hợp tất cả hình ảnh, tư liệu về Bác thành từng tập, theo từng chủ đề, như: Thời niên thiếu của Bác; Bác rời Bến cảng Sài Gòn ra đi tìm đường cứu nước; Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn Độc lập (2/9/1945); Đảng và Bác lãnh đạo cuộc kháng chiến vĩ đại; Toàn Đảng, toàn dân đời đời nguyện theo chân Bác…

Lặng lẽ, miệt mài sưu tầm, đến nay, bộ sưu tập về Bác Hồ của bà đã có hàng chục tập tư liệu, với gần 2.000 bức ảnh, bài báo viết về Bác. Những người quen, ai cần tài liệu về Bác Hồ, hoặc những sinh viên làm luận văn tốt nghiệp về đề tài Hồ Chí Minh, đến mượn tư liệu, hình ảnh về Bác, bà đều sẵn lòng giúp đỡ vô điều kiện.

Bà bảo, mỗi khi đến kỳ nhận lương hưu, bà đều nhờ con cháu đưa tới những tiệm sách cũ, tìm mua những tài liệu về Bác, vì “mua sách cũ giá rẻ hơn và nhiều tư liệu cũ có giá trị, mà bây giờ, sách mới chưa chắc đã có!”.

Tôi hỏi bà, động lực nào mà suốt hơn 30 năm qua, bà đã lặng lẽ, miệt mài, cần mẫn sưu tầm tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh như vậy? Bà bảo: “Có lẽ, một giáo viên dạy văn như tôi, mỗi khi giảng những vần thơ, bài văn cho học sinh nghe, là một lần có cơ hội được tìm hiểu về Bác và thấy được gần Bác hơn. Khi tìm hiểu về Bác, tôi càng tìm ra những tầng nhân cách cao đẹp trong một con người bình dị, càng thấy được những bài học quý giá cho bản thân mình”.

Ngoài việc sưu tầm tư liệu về Bác, những năm qua, bà luôn tích cực tham gia các cuộc thi kể chuyện, thi viết, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Bà cũng thường xuyên đến các trường học kể chuyện về Bác Hồ cho nhiều thế hệ học trò. Trong tâm khảm của mình, bà luôn trăn trở, làm sao những hình ảnh, tư tưởng của Bác, tiếp tục được lưu giữ và truyền lại trọn vẹn cho những thế hệ mai sau.

Đào Quốc Toàn
Theo http://thegioimoi.vn
Thu Hiền (st)

“Tiền Cụ Hồ”- đồng tiền tiếp nối truyền thống thời lập quốc

Hình ảnh Cụ Hồ là biểu tượng xuyên suốt, tiếp nối các giá trị, truyền thống trong lịch sử từ trước đến nay.

Ngày 31/11/1946, sau hơn 1 năm nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, lần đầu tiên tiền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được chính thức phát hành, khẳng định vai trò lưu thông của một đồng tiền tự chủ.

Qua thời gian, các hệ thống đồng tiền có hình Cụ Hồ còn có một giá trị đặc biệt, gắn bó chặt chẽ với hoàn cảnh cách mạng Việt Nam trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954), hơn 20 năm chống đế quốc Mỹ (1954-1975) và 38 năm xây dựng, phát triển đất nước (1975-2013).

1. “Tiền Cụ Hồ”

Lúc đầu, “Tiền Cụ Hồ” là tên gọi bắt nguồn từ tình cảm của người dân dành cho vị Chủ tịch nước đầu tiên của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Cụ Hồ Chí Minh. Các loại  tiền giấy Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đầu tiên có mệnh giá 100 đồng, 20 đồng, 5 đồng và 1 đồng; trên tờ tiền có chữ ký của Bộ trưởng Bộ Tài chính Phạm Văn Đồng và Giám đốc Ngân khố Trung ương Phạm Khoa.

tien CU HO
Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh do nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Năng An chụp vào khoảng năm 1945 – 1946 được các họa sĩ dùng vẽ trên hệ thống tiền đầu tiên của nước                      Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ông Nguyễn Ngọc Oánh, nguyên Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam kể: Thời kỳ đó sau khi Pháp đánh chiếm Hà Nội, toàn quốc đứng lên kháng chiến nhưng nhiều người vẫn tìm mọi cách để có được đồng tiền Việt Nam có hình Bác Hồ. Nhiều khi không có tiền lẻ, người ta sẵn sàng xé đôi tờ tiền để tính giá trị một nửa, để được chia nhau niềm hạnh phúc được sở hữu đồng tiền kháng chiến. Đồng tiền dù rách nát đến mấy nhưng cứ “tiền Cụ Hồ” là nhân dân yêu chuộng, nhiều người giữ lại không tiêu dùng mà mang đặt lên bàn thờ tổ tiên rất trân trọng vì trên tờ giấy bạc có chân dung Bác Hồ…

Tại Chiến khu Việt Bắc, việc tiêu dùng tiền Cụ Hồ là hiện tượng bình thường. Tuy nhiên, tại vùng Pháp tạm chiếm, nhất là Hà Nội và các vùng phụ cận, việc tiêu tiền bị hạn chế do chính quyền Thực dân cấm đoán, thu giữ… Mặc dù vậy, người dân vẫn cất giấu, lưu truyền để “vừa tiêu, vừa thờ”.

Tại Nam Bộ, do tình tình khó khăn trong liên lạc và vận chuyển, tháng 11/1947, Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh cho phép Ủy ban Kháng chiến Hành chính (UB KCHC) Nam Bộ in và lưu hành tiền giấy riêng.

Theo tài liệu ghi chép của Viện Bảo tàng Long An, xưởng in tiền nằm bên dòng kênh Dương Văn Dương ở vùng Đồng Tháp Mười (nay thuộc huyện Tân Thạnh). Thời kỳ này tại Nam Bộ các loại giấy bạc Việt Nam mệnh giá 1 đồng, 5 đồng, 50 đồng và 100 đồng, cùng với một số tín phiếu đã được phát hành, có in chân dung Bác Hồ do ông Phạm Văn Bạch – Chủ tịch UB KCHC Nam Bộ ký.

Trong những năm chiến tranh, đặc biệt là kháng chiến chống Mỹ, cả miền Nam chìm trong khó khăn, nhưng vẫn hướng về cách mạng và miền Bắc thân yêu. Nhiều người dân Nam Bộ đã cất giấu những tờ giấy bạc Cụ Hồ bằng nhiều hình thức khác nhau như: Bỏ vào ống sữa bò chôn xuống đất, bỏ vào ống tre trên mái nhà, trong ống cuốn vải, sau giải phóng 1975 đem ra như là bằng chứng về lòng quả cảm, trung thành với cách mạng, nhiều người trong số họ còn đem hiến tặng cho ngành bảo tồn, bảo tàng tại địa phương nơi sinh sống. Sau một số đợt công tác khảo sát, ngành ngân hàng ghi nhận nhiều địa phương như: Cà Mau, Long An, Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh còn lưu giữ được được rất nhiều hiện vật như vậy.

2. Những câu chuyện vẽ “tiền Cụ Hồ” từ các họa sỹ

Nhân kỷ niệm 62 năm thành lập (6/5/1951- 6/5/2013), ngành Ngân hàng đang xúc tiến cho việc xây dựng, nâng cấp một phòng truyền thống, trong đó có phần trưng bày các hệ thống tiền Việt Nam. Để tương xứng với chủ đề “Tiền Cụ Hồ” đây là đòi hỏi rất lớn về công sức, trí tuệ của người làm công tác chuyên môn. Trước hết, cần ghi nhận các địa điểm tại Hà Nội như số 6 Lê Lai, 65 Nguyễn Thái Học, nơi làm việc và sinh sống của các họa sỹ liên quan đến “Tiền Cụ Hồ”.

Theo chúng tôi được biết, tất cả các họa sỹ vẽ ra hệ thống tiền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đầu tiên đều đã qua đời, nhiều người thân trong gia đình của các cố họa sỹ đều có chung một mong muốn khi tôn vinh “Tiền Cụ Hồ” hãy luôn ghi nhớ công sức đóng góp của các họa sỹ thực hiện vẽ từng tờ tiền đó. Đó là: Họa sỹ Mai Văn Hiến vẽ tờ 5 đồng, họa sỹ Nguyễn Đỗ Cung vẽ tờ 1 đồng, họa sỹ Nguyễn Văn Khanh vẽ tờ 20 đồng và họa sỹ Nguyễn Huyến vẽ tờ 100 đồng.

Một số giai thoại mà báo chí còn lưu truyền có thể là cơ sở tư liệu góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề về thân thế và công việc của họ tại thời điểm tham gia vẽ tiền cho chính quyền cách mạng.

Ví như năm 2009, nhà văn Đỗ Chu đã viết trên báo Người cao tuổi bài “Một người vẽ tiền” nói về họa sỹ Mai Văn Hiến. Nội dung có đoạn rất đáng lưu ý: “…Một đêm, tại căn nhà số 6 phố Lê Lai, ông đang ngồi hí hoáy vẽ tiền cách mạng thì nghe sát vách bên kia có tiếng nói quen lắm. Tò mò, ghé mắt nhìn qua một khung cửa tràn ngập ánh sáng, trước mắt ông hiện ra một cảnh tượng rất ít người may mắn được thấy. Trên chiếc bàn lim lớn đặt giữa nhà là một đống vàng. Ngồi ở một bên bàn là ông Phạm Văn Đồng. Người đối diện là ông Trịnh Văn Bính, khi đó là Thứ trưởng Tài chính…”.

Hay như bài “Người họa sỹ vẽ tiền cho cách mạng” của Minh Huệ trên báo Quân đội nhân dân năm 2008 có đoạn: “Số nhà 65 Nguyễn Thái Học vốn của cụ Cự Lĩnh, một chủ thầu khoán lớn của Hà Nội thời Pháp thuộc. Nhà 3 tầng, mỗi tầng có 4 phòng riêng biệt, xây theo kiến trúc Pháp. Sau giải phóng Thủ đô, biệt thự trở thành nơi ở và làm việc của một nhóm họa sĩ và nhà điêu khắc…

Bà Mai Thị Kim Oanh, con gái của họa sĩ Mai Văn Hiến kể: Cuối tháng 11/ 1945, bốn họa sỹ xuất thân từ Trường Cao đẳng mỹ thuật Đông Dương được gặp bác Phạm Văn Đồng để nhận nhiệm vụ tối mật – vẽ mẫu những tờ bạc đầu tiên của nhà nước cách mạng Việt Nam non trẻ. Bác Phạm Văn Đồng nói với bố tôi và các bác rằng, Chính phủ cần có đồng bạc riêng, cần vẽ 4 tờ giấy bạc có mệnh giá 1 đồng, 5 đồng, 20 đồng và 100 đồng. Trên 4 loại tiền này phải có hình ảnh đại diện cho các ngành nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp và văn hóa…

Để duy trì được tình cảm nồng ấm cho những đồng tiền Cụ Hồ như những ngày đầu, bên cạnh việc kế thừa truyền thống của các thế hệ họa sỹ đi trước, đội ngũ vẽ tiền ngày nay đã được đào tạo một cách bài bản và tổ chức thành một phòng chuyên nghiên nghiên cứu và vẽ mẫu tiền một cách chuyên nghiệp. Đối với họ, việc vẽ và tiếp tục hoàn thiện “chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh” vẫn luôn là nguồn cảm hứng bất tận./.

Theo http://vov.vn
Huyền Trang (st)

Nữ biệt động “thép” 8 lần gặp Bác Hồ

Những ngày nắng nóng gay gắt, các vết thương cũ tái phát khiến nữ thương binh nặng 1/4 Trần Thị Kim Cúc cảm thấy đau nhức khắp người. Vậy mà, nhắc đến những lần được gặp Bác Hồ, giọng bà trào dâng niềm xúc động sâu sắc.

Trần Thị Kim Cúc sinh năm 1936, tại vùng quê nghèo xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang (Đà Nẵng). Bà làm giao liên cho huyện ủy Hòa Vang từ năm 14 tuổi. Năm 1961, bà được tổ chức phân công làm đội trưởng đội công tác đặc biệt, có nhiệm vụ thăm dò tình hình địch, đưa thông tin liên lạc cho cách mạng. 4 năm sau, bà vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Dũng cảm, mưu trí, gan dạ, bà đã tham gia nhiều trận đánh “tìm Mỹ mà diệt” làm nức lòng đồng bào và chiến sĩ. Nhiều lần bị địch bắt, tra tấn cực kỳ tàn độc nhưng bà vẫn kiên cường giữ vững khí tiết của người cộng sản. Ra tù, được tổ chức bí mật đưa ra Bắc chữa bệnh, bà vinh dự 8 lần được gặp Bác Hồ.

nu-biet-dong-aBà Trần Thị Kim Cúc thời trẻ

Bà Cúc bồi hồi nhớ lại: “Một buổi chiều giữa năm 1966, tôi và chị Mười quê ở Mỹ Tho, Tiền Giang nằm điều trị chung một phòng ở Bệnh viện Việt – Xô, được thông báo sắp có người trong Phủ Chủ tịch đến thăm. Tối đó, một chiếc ô tô con đỗ trước hiên Khoa A1. Một ông già dáng dong dỏng, râu tóc bạc, nét mặt đôn hậu, mặc bộ bà ba màu nâu sẫm, chân đi dép cao su và một người trẻ tuổi hơn (về sau tôi mới biết là chú Vũ Kỳ, thư ký của Bác), nhanh nhẹn đi về phía buồng bệnh. Tôi hồi hộp nói với chị Mười: “Đúng là Bác rồi, chị ơi!”. Chúng tôi định chạy ra, thấy thế Bác liền vẫy tay, bảo: “Hai cháu đừng chạy, ngã đấy!” rồi đưa hai tay đỡ chúng tôi. Tôi ôm lấy Bác mà nước mắt cứ trào ra. Ước mơ cháy bỏng ấp ủ bấy lâu, bây giờ đã thành hiện thực!

Chú Trịnh Kim Ảnh, Giám đốc Bệnh viện thưa với Bác: “Cô Cúc ngoài các vết thương trong người còn có 2 vết thương rất nặng: Vết thương ở đầu do bọn địch đóng đinh vào gây chấn thương não, để lại di chứng động kinh kéo dài. Vết thương thứ 2 ở cửa mình vẫn ra máu do mảnh vụn đèn neon địch tra tấn”. Nghe vậy, mắt Bác ngấn lệ. Người đưa tay sờ lên vết thương trên đầu tôi, lo lắng hỏi: “Đau thế, đêm cháu ngủ có được không? Cháu ăn có biết ngon miệng không?” Tôi liền thưa: “Dạ thưa Bác! con ăn và ngủ cũng được ít”. Bác đưa tay vẫy anh Bình, Chủ nhiệm khoa A1 lại gần, căn dặn: “Chú phải theo dõi cả việc ăn uống của các cháu, nhắc nhà bếp phải thường xuyên đổi món và chế biến thức ăn cho hợp khẩu vị. Ở miền trong thường thích món cá nấu chua lắm!”.

nu-biet-dong-bThủ tướng Phạm Văn Đồng chụp ảnh với gia đình bà Cúc

Sau lần đó, tôi và chị Mười còn nhiều lần được đón vào Phủ Chủ tịch cùng ăn cơm với Bác và chú Tô (tức Thủ tướng Phạm Văn Đồng). Tình cảm của Bác dành cho chúng tôi sâu nặng, ấp áp như tình thương của người cha vậy. Biết bệnh của chúng tôi không thuyên giảm, Bác quyết định đưa sang Trung Quốc chữa trị và động viên 2 chị em cố gắng học tiếng nước bạn, để nếu có nhà báo đến thì kể cho họ nghe về tội ác của đế quốc Mỹ và ý chí chiến đấu kiên cường của đồng bào ta. Khắc ghi lời Bác, tôi vừa chiến đấu với bệnh tật vừa nỗ lực học hỏi, luyện cách giao tiếp bằng tiếng Trung. Sau gần 2 năm, các vết thương được chữa lành, trở về Hà Nội, tôi được Bác cho xe đón vào Phủ Chủ tịch. Đó là buổi chiều 30 tết Mậu Thân 1968, tiết trời se lạnh, Bác bảo chú Vũ Kỳ đưa ra một cái khăn và chiếc mũ ấm bảo tôi mang vào kẻo lạnh (Chiếc khăn này tôi đã tặng lại Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Quân khu 5). Rồi Bác ân cần hỏi thăm sức khỏe, và bất ngờ hỏi bằng tiếng Trung: “Cháu đã học được tiếng nước bạn đến đâu rồi? Bác hỏi một câu, cháu trả lời Bác nghe thử”. Tôi lúng túng thưa với Bác cũng bằng tiếng Trung, Bác khen và dặn: “Có chí, ở hoàn cảnh nào học cũng được, cháu ạ!”. Tôi trình bày nguyện vọng muốn được trở về miền Nam đánh giặc, mắt Bác rưng rưng. Bác bảo hãy cố gắng giữ gìn sức khỏe, vì người còn yếu thế chưa về được đâu”.

Sau đó, Trần Thị Kim Cúc học văn hoá tại Trường phổ thông lao động Trung ương, đầu năm 1969, được Đài Tiếng nói Việt Nam nêu gương về thành tích học tập. Bà kể: “Nhận được tin ấy, Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ đến trường đón tôi. Bác ôm chầm lấy tôi như một người cha đón đứa con sau bao ngày xa cách. Tình cảm của Bác vẫn nồng ấm, nhưng cử chỉ và giọng nói đã yếu đi nhiều. Bác dặn chú Tô bằng giọng khàn khàn: “Sau này, tôi có mệnh hệ gì, không chăm lo được cho cháu Trần Thị Cúc và cháu Trần Thị Lý (Anh hùng LLVTND, quê Điện Quang, Điện Bàn, Quảng Nam) thì nhờ chú thay tôi chăm lo cho hai cháu đến nơi đến chốn”.

Đến chiều, chú Vũ Kỳ đưa tôi trở lại trường, Bác lấy tay xoa nhẹ lên đầu tôi và bảo: “Cháu về trường, nhớ giữ gìn sức khỏe, Bác gửi lời thăm thầy cô, bạn bè của cháu!”. Nghe thế, tôi cắn môi lại cố không để bật ra tiếng khóc, lòng thầm ao ước: “Cầu mong Bác mạnh khỏe, bình an”. Nào ngờ đó cũng là lần cuối cùng tôi được gặp Bác. Ngày 2-9 năm ấy Bác đã đi xa mãi mãi”.

Sau này, bà Cúc thi đỗ vào Khoa Hóa Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, học đến năm thứ tư thì vết thương tái phát, đôi mắt không nhìn được, phải sang chữa trị tại Cộng hoà Dân chủ Đức. Mãi đến sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, bà mới được trở về quê hương. Hiện nay, bà đang sinh sống trong căn nhà nhỏ số 149 đường Thanh Long, phường Thanh Bình, quận Hải Châu, Đà Nẵng. Các con của bà đều đã trưởng thành, trong đó 2 người con trai đang công tác trong quân đội (Đại úy Huỳnh Thanh Hà Nam, Trợ lý Ban Chính trị – Cục Chính trị Quân khu 5 và Thượng úy Huỳnh Trần Thanh Hải, Trợ lý Thanh niên Bộ CHQS thành phố Đà Nẵng). Bà bảo: “Tôi thường kể cho các con nghe kỷ niệm về những lần được gặp Bác Hồ. Đó chính là hành trang để các cháu trọn đời vững bước đi theo con đường mà Đảng, Bác Hồ đã lựa chọn”.

Theo ĐỖ THỊ NGỌC DIỆP – Quân đội nhân dân
Thanh Huyền (st)
bqllang.gov.vn

Người chuyển thể Di chúc Bác Hồ thành thơ

“Trằn trọc ngày đêm viết một mình/Chuyển lời Di chúc Hồ Chí Minh/Thành thơ dễ đọc và dễ hiểu/Học tập làm theo tốt cho mình”. Ðây là những vần thơ mở đầu tập thơ Di chúc Bác Hồ con tạc thành thơ của ông Trương Văn Mão (trong ảnh), 75 tuổi ở xã Tây Lương, huyện Tiền Hải (Thái Bình).

lam-tho-ve-bac
Ông Trương Văn Mão

Trong chuyến công tác ở huyện miền biển Tiền Hải, tình cờ chúng tôi được nghe một câu chuyện rất cảm động, ý nghĩa về một ông lão đã chuyển thể toàn bộ Di chúc của Bác Hồ thành ba thể loại thơ: Lục bát, bát ngôn và tự do.

Ðồng chí cán bộ Tuyên giáo huyện Tiền Hải hồ hởi đưa tôi đi tìm gặp người có khả năng đặc biệt này. Con đường từ trung tâm huyện vào nhà ông Mão được rải nhựa, đổ bê- tông sáng bóng dài khoảng hơn 3 km. Nhà ông nằm ở cuối thôn. Khi chúng tôi đến, ông Mão đang cặm cụi chăm sóc, cắt tỉa vườn cây cảnh. Cây cảnh của ông có đủ loại với nhiều kiểu dáng. Ở giữa vườn cây là một chiếc chòi lá để ngồi uống nước, cảm giác rất thú vị. Năm nay, ông Mão đã bước sang tuổi 75, sức khỏe tốt và minh mẫn. Ông nói, mình già rồi, có người đến chơi như hôm nay nên cảm thấy rất phấn khởi. Sau tuần trà nước, người đặc biệt kể cho tôi nghe về mối lương duyên này. Trước đây, ông công tác ở Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Tiền Hải. Năm 1993, về hưu, có nhiều thời gian hơn nên ông thường xuyên trồng, chăm sóc cây cảnh, làm thơ, đọc tư liệu về người lãnh tụ kính yêu của dân tộc.

Làm thơ từ hồi còn nhỏ, ngày trước, thơ của ông chủ yếu viết về đề tài thiên nhiên, quê hương, đất nước. Thời gian còn công tác ở ngân hàng, ông đã nung nấu ý định viết thơ về Bác Hồ, về Ðảng, nhưng do thiếu tư liệu và nhiều lý do khác nữa nên đến bây giờ mới thực hiện được. Năm 2007, thấy báo chí tuyên truyền đậm nét về việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, thế là ông tìm đọc sách, báo, tư liệu về Bác Hồ.

Năm 2010, ròng rã 20 ngày liên tục ông đã viết xong tập trường ca Bảy mươi chín mùaXuân của Bác Hồ với 240 câu thơ. Ở tập thơ này, ông trình bày thành ba chương: Chương một làBối cảnh lịch sử gia đình Bác, chương hai là Tư tưởng và đạo đức của Người, chương ba là Lời ước nguyện. Ðọc những vần thơ ông viết ở tập trường ca thật tình cảm, da diết. Ở chương một, có đoạn ông viết: “Quê hương xứ Nghệ miền Trung/Ðịa linh nhân kiệt đã sinh ra Người/Ngay từ khi thủa thiếu thời/Bác phải sống giữa cuộc đời tối tăm”… Với chương ba Lời nguyện ước, ông viết “Xa Bác bốn chục năm trời/Làm sao viết hết cuộc đời Bác đây/Tôi chưa gặp Bác một ngày/Nhưng hình bóng Bác dâng đầy trong tim”.

Nối tiếp mạch nguồn cảm hứng từ tập thơ đầu tiên về Bác, ba tháng mùa Xuân 2012, ông Mão đã hoàn thành xong tập thơ “Di chúc Bác Hồ con tạc thành thơ”. Có thể thấy rằng, ở tập thơ này, ông Mão nặng lòng về Bác, về Ðảng hơn bao giờ hết. Ông nói, nếu không hoàn thành được tập thơ “Di chúc Bác Hồ con tạc thành thơ” thì bản thân luôn thấy mình như nợ Bác, nợ Ðảng và nhân dân cả nước rất nhiều. Ở tập thơ thứ hai này được tác giả trình bày thành ba chương với 750 câu di chúc, ngôn ngữ thể hiện rất tài tình, súc tích. Chương một, những lời tâm huyết với Bác Hồ, thuộc thể thơ lục bát. Chương hai, Di chúc của Bác Hồ, thể thơ bát ngôn. Chương ba, tấm gương đạo đức Bác Hồ, thể thơ tự do.

Ông Mão chia sẻ, sau khi hoàn thành hai tập thơ về Bác, được sự giúp đỡ tận tình của chính quyền địa phương, nhất là sự đóng góp, ghi nhận của GS, TS Hoàng Chí Bảo, chuyên gia cao cấp – Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, chỉ trong thời gian ngắn, bản trường ca Bảy mươi chín mùa Xuân của Bác Hồ đã chính thức ra mắt bạn đọc gần xa, được nhân dân đón đọc sôi nổi. Ông Mão dự định, thời gian tới sẽ tiếp tục ra mắt bạn đọc tập thơ “Di chúc Bác Hồ con tạc thành thơ”.

Trước tình cảm đặc biệt chân thành mà ông Mão dành cho Ðảng, Bác Hồ, GS, TS Hoàng Chí Bảo cho biết, người viết bản trường ca đã thể hiện sự hiểu biết sâu sắc của mình về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng và đạo đức cao quý của Bác Hồ. Không những thế, bản trường ca còn là tiếng nói từ đáy lòng tác giả, giản dị mà sâu lắng, toát lên tình cảm yêu thương, kính trọng và ngưỡng mộ đối với Bác Hồ. Tập thơ còn thể hiện mong muốn thiết tha được học tập và làm theo lời Bác, không chỉ tác giả mà cả chúng ta. Vì lẽ đó, những điều tâm huyết của tác giả thể hiện qua bản trường ca này chắc chắn sẽ nhận được nhiều tình cảm của anh em, bạn bè, đồng chí… gần xa ở mọi miền Tổ quốc.

Long Thành
Theo http://www.nhandan.com.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn