Thư viện

Cụ già người Mông bốn lần được gặp Bác Hồ

(Dân trí) – Cụ Thào A Chiêu đã trên cái tuổi “xưa nay hiếm” nhưng khi nhớ lại quãng đời hơn 50 năm chiến đấu và công tác, đôi mắt lại trở lên linh hoạt khác thường, giọng nói nghe còn sang sảng: “Cả đời, bố vinh dự nhất là đã từng bốn lần được gặp Bác Hồ…”.

Bác Hồ gặp gỡ đại biểu phụ nữ các dân tộc tỉnh Hà Giang. (Ảnh: hanoi.vnn.vn)

Hỏi thăm nhà cụ Thào A Chiêu ở xã vùng cao Hồng Thu, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, người dân nơi đây ai cũng biết. Khi đến được nhà, đợi mãi gần đúng Ngọ, mới thấy một cụ già có mái tóc bạc, chống chiếc gậy tre chậm rãi bước về từ khu rừng xanh mướt còn ẩn hiện trong mây mờ.

Cụ Chiêu mà người dân địa phương quen gọi là cụ Thào sinh năm 1928, có bề dày thành tích chiến trận khiến nhiều người kính nể: Tham gia du kích, tiễu phỉ, rồi gia nhập quân đội chính quy đi giải phóng miền Nam, tham gia chiến tranh biên giới và giúp bạn Lào đánh giặc. Chính những năm tháng đối diện với hoàn cảnh mong manh giữa sự sống và cái chết ấy, cụ đã may mắn và vinh dự được gặp Bác Hồ nhiều lần.

Cụ Thào mở đầu câu chuyện bằng cách chỉ vào cái tai bên trái của mình mà rằng: “Con phải nói to thì bố mới nghe thấy”. Mới hai năm trước, nhân một lần các bác sỹ Bệnh viện Quân Y 103 về Sìn Hồ khám chữa bệnh cho bà con, cụ đi khám thì được các bác sỹ lấy ra từ tai bên trái một cục máu đen khô đét, to gần bằng nửa đầu ngón tay út. Lúc ấy cụ Thào đã thốt lên: “Sướng quá bác sỹ ơi, cái tai tôi nhẹ quá, nghe rõ quá”. Nhưng sau đấy vài tháng, cái tai trái của cụ cứ từ từ ù đặc, đến nay thì không còn nghe thấy gì nữa.

Cụ kể: Năm 1962, trong một trận quyết chiến ở bên Lào, cụ vác trên vai khẩu “Đê ca” 82 và bắn liền một mạch 12 phát, trong khi các xạ thủ khác chỉ dám bắn 6 phát. Bắn đến quả cuối cùng thì máu mũi, máu tai, máu miệng ứa ra, cụ ngất lịm đi, sau một tuần mới nói được trở lại. Cụ Thào được máy bay của ta chuyển về Hà Nội điều trị tại Bệnh viện Quân Y 108, sau 8 tháng tai vẫn ù.

Chính cái lúc tưởng chừng như không thể qua nổi ấy, ông được gặp Bác Hồ. Bác mặc “chiếc áo thường dân, màu cỏ úa”, vào thăm, động viên các thương binh được chuyển từ chiến trường Lào về. Toàn là những thương binh nặng “người mất tay, người mất chân, băng bó khắp người…”. Cụ Thào bảo “nhìn cảnh ấy, nhiều người không dám vào thăm đâu”. Cụ tiếc là “lần được gặp Bác Hồ lần 3” này không nghe được lời Bác Hồ nói vì tai ù đặc.

Gia đình cụ Thào có 7 anh em trai, cụ là con thứ sáu. Năm lên 13 tuổi, mẹ của cụ ốm nặng qua đời, còn người bố bị giặc Pháp bắt đi tù vì “tội” theo cách mạng. 7 anh em tự đùm bọc rau cháo nuôi nhau. Sau 5 năm bị Pháp bắt đi biệt tích, tưởng không còn hy vọng gì, bố của cụ Thào được tha về. Kể từ đó cụ Thào được nghe bố kể nhiều chuyện về Bác Hồ, về người dân các dân tộc nghe theo Đảng, theo Bác Hồ đứng lên đấu tranh bảo về Tổ Quốc ở khắp nơi trong cả nước và cho tới mãi sau này cụ Thào mới được bố nói cho biết trong 5 năm ở tù của thực dân Pháp, người bố của cụ đã gặp và được các cán bộ cách mạng giác ngộ.

Đến năm 1951, có 4 cán bộ bộ đội trong đó 3 người giới thiệu tên là Bằng Quốc Bảo, người Dao quê ở Bắc Cạn; Phan Quang Sử, người Thái ở Việt Bắc; Lương Trọng Viễn, quê ở Yên Bái… đến nhà cụ Thào, bắt liên lạc với người bố của cụ. Suốt một tháng trời hoạt động gây dựng cơ sở cách mạng, vận động bà con dân bản xã Hồng Thu thành lập đội du kích, chuẩn bị đánh Pháp, 4 bộ đội được gia đình cụ Thào cùng bà con nơi đây bảo vệ, tiếp tế lương thực, thực phẩm và dẫn đi ẩn náu ở một hang đá thuộc địa bàn bản Chung Sung A.

Cụ còn nhớ: “Cứ nửa đêm, khi gà gáy là bố lại mang gạo, thực phẩm vào hang đá cho bộ đội”. Hưởng ứng lời kêu gọi, vận động của bộ đội, cả nhà cụ Thào đều tham gia đội du kích. Lúc đầu đội chỉ có 17 người nhưng càng về sau càng có nhiều người tham gia, đến đầu năm 1953 quân số tăng lên đến 30 người, trong đó có 5 phụ nữ.

Cụ Thào nhẩm tính, từ đầu năm đến cuối năm 1953, đội du kích xã Hồng Thu do ông Giàng A Tùng là Đội trưởng (nay đã mất) đã đánh 22 trận, góp một phần không nhỏ vào chiến thắng chung, giải phóng quê hương Sìn Hồ ngày 19/12/1953.

Đầu năm 1954, cụ Thào nhập ngũ, được giao nhiệm vụ Tiểu đội trưởng thuộc Đại đội địa phương C835, hành quân xuống vùng thấp Sìn Hồ tiễu phỉ hoành hành ở các xã Pu Sam Cáp, Noong Hẻo, Nậm Cuổi, Căn Co. Chỉ trong vòng 3 tháng, người Tiểu đội trưởng này và đồng đội tham gia 16 trận tiễu phỉ. Bây giờ, cụ vẫn còn nhớ trận cuối cùng đánh từ 4 giờ sáng đến khoảng 11 giờ trưa mới ngừng tiếng súng. Sáng sớm hôm sau, ba tên phỉ đầu sỏ phất cờ trắng cùng khoảng 600 tên lính mang gần 400 khẩu súng các loại xin hàng. Kể từ đó, Sìn Hồ sạch bóng phỉ.

Tháng 10/1954, trong buổi tổng kết chiến dịch Điện Phiên Phủ, cụ vinh dự được Đại tá Bằng Gia, Quân khu trưởng Quân khu Tây Bắc thay mặt Chính phủ trao tặng Huân chương chiến công hạng Nhất và cũng là người vinh dự cùng lên nhận Cờ thi đua của Chính phủ tặng Lai Châu (cũ). Sau đó cũng chính cụ là người duy nhất của huyện Sìn Hồ, là chiến sỹ thi đua được về Quân khu Tây Bắc (Sơn La) gặp và nghe Bác Hồ nói chuyện. Đây chính là lần đầu tiên cụ Thào được gặp Bác.

Tại một cái lán gianh nhỏ, cạnh khu rừng của Quân khu Tây Bắc, có khoảng 30 chiến sỹ tiêu biểu thuộc các dân tộc khu vực Tây Bắc cùng về dự. Bác Hồ đến, mặc bộ quần áo nâu, có một cái túi to ở vạt áo. Bác cười hiền từ, đi bắt tay từng chiến sỹ. Bác nói chuyện tình hình chiến thắng của Cách mạng trên các mặt trận, chừng 15 phút, với giọng trầm ấm. Bác kết thúc với câu “Chiến dịch Điện Biên Phủ đã thắng lợi hoàn toàn, nhưng chưa phải đã hết giặc, mong các chú cố gắng tiếp tục chiến đấu, khi hoà bình nếu còn sống Bác sẽ nói chuyện nhiều hơn”.

Lần thứ hai, cụ Thào vinh dự được gặp Bác Hồ vào buổi lễ tuyên bố thành lập khu tự trị Thái – Mèo ở Sơn La. Bấy giờ cụ là một trong 3 đại biểu của huyện Sìn Hồ đại diện cho dân tộc Mông đi dự lễ. Cụ vẫn nhớ, lần ấy, Bác mặc chiếc áo sỹ quan màu xanh, chùng gần đầu gối. Cụ thổ lộ, cũng vì được gặp Bác Hồ, nghe Bác nói mà như được tiếp thêm sức mạnh, luôn tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ, Cách mạng sẽ thành công và sự thực đã là như vậy.

Một lòng theo Đảng, cụ tích cực vận động con cháu và bà con xung quanh không nghe theo kẻ xấu. 3 người con của cụ đều đã trưởng thành, trong đó một người con trai tiếp tục được bản Chung Sung A tín nhiệm bầu làm Trưởng bản.

Khi chúng tôi nóng lòng muốn biết “lần thứ tư” cụ gặp Bác Hồ trong trường hợp nào thì ông cụ bỗng lặng đi giây lát, nhìn chúng tôi với đôi mắt đượm buồn. Đó là năm 1993, tỉnh Lai Châu (cũ) tổ chức cho những cựu chiến binh về thăm Lăng Bác. Cụ Thào bảo “gặp Bác lần này Bác không nói được như trước, Bác nằm nhìn vẫn thế, chỉ có điều gầy hơn trước nhiều thôi!”.

Có lẽ cũng như hàng triệu người dân Việt Nam bấy lâu nay, trong lòng cụ Thào, Bác Hồ chỉ đang nằm ngủ!

Nguyễn Công Hải
TTXVN

dantri.com.vn

Gặp người 10 năm bảo vệ Bác Hồ

(Dân trí) – Cho đến bây giờ, nhớ lại 10 năm vinh dự được cận kề bên Bác, ông Lê Minh Thưởng vẫn không khỏi bồi hồi xúc động: “Bảo vệ Bác Hồ là bảo vệ cả Tổ quốc, bảo vệ cả giang sơn đất nước thời bấy giờ. Vinh dự ấy tôi không thể nào quên…”.

Hăng say kể về những giây phút quý giá bên Bác Hồ, ông Thưởng “sung” đến nỗi cởi phăng cả áo khoác.

Ông Lê Minh Thưởng, xóm 2, Nghi Thịnh, Nghi Lộc, Nghệ An, năm nay đã bước qua cái tuổi thất thập cổ lai hy nhưng trong ông vẫn sáng những kỷ niệm không thể phôi phai về khoảng thời gian 10 năm làm lính bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt hơn, ông còn sở hữu tấm ảnh cực kỳ quý giá lưu giữ hình ảnh ông được chụp với Bác Hồ và gần đủ các Ủy viên Bộ Chính trị trước khi Đại tướng Nguyễn Chí Thanh trở thành người thiên cổ một ngày.

Những ngày cuối năm Canh Dần, chúng tôi tìm về thăm ông Thưởng, mong được nghe ông kể những câu chuyện xưa. Có lẽ nhờ mấy chục năm công tác trong ngành công an, được rèn luyện nhiều, nên dù đã ở tuổi “xưa nay hiếm” nhưng ông còn khỏe lắm; tác phong nhanh nhẹn, trí óc minh mẫn, giọng nói to khỏe, nước da đỏ rắn giữa cái giá rét hơn 10 độ C.

Chỉ vào một bức ảnh đen trắng được lồng trong khung kính treo trang trọng trên tường nhà, ông rành rọt đọc tên từng người trong ảnh: các ông Nguyễn Duy Trinh, Tố Hữu, Phạm Hùng, Trần Quốc Hoàn, Văn Tiến Dũng,… Nguyễn Chí Thanh, Lê Thanh Nghị, Trường Chinh, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Xuân Thủy, Vũ Kỳ. Bác Hồ và Bác Tôn ngồi ở giữa; ông Thưởng bế trong lòng một cháu bé, ngồi bên phải Bác Hồ.

Ông Thưởng cho biết sở dĩ Đại tướng Võ Nguyên Giáp và cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có trong ảnh vì khi đó đang bận đi công tác. Bức ảnh được chụp năm 1967, nhân dịp Đại tướng Nguyễn Chí Thanh từ chiến trường miền Nam ra báo cáo tình hình với Bộ Chính trị và Bác Hồ. Với ông Thưởng, bức ảnh này là báu vật vô giá của cả đời ông.

Cũng có lúc ông trầm ngâm như tiếc nhớ một thời được sát cánh bên Người.

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có bố là đảng viên, anh trai là liệt sĩ từ thời kháng chiến chống Pháp, năm 1958, ông Thưởng xin đi khám tuyển nghĩa vụ quân sự nhưng không trúng. Ngay sau đó, ông được gia nhập lực lượng Công an vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng). Chẳng bao lâu sau ông được triệu tập về học ở Trường C500.

Tháng 4/1960 ra trường, ông nhận được quyết định về công tác ở Cục cảnh vệ (Cục cảnh vệ lúc đó có mật danh là K10) với nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ và công tác ở đó cho đến ngày Bác qua đời.

Những ngày đầu ông chỉ được bảo vệ vòng ngoài nơi Bác Hồ làm việc; chỉ được gặp Bác những khi Bác tập thể dục hay đi bách bộ. Không lâu sau ông Thưởng được giao trực tiếp bảo vệ Bác không chỉ ở Phủ Chủ tịch mà cả những lúc Bác đi công tác. Sau khi Bác mất, ông Thưởng được điều về công tác ở Cục Cảnh sát nhân dân, sau đó đi học chuyên tu. Năm 1980, ông được chuyển về Công an Nghệ Tĩnh với chức vụ Đội trưởng đội săn bắt cướp (SBC).
Trên cương vị này ông đã cùng đồng đội lập nhiều chiến công như bắt gọn nhóm tội phạm do Tọng (Trương Hiền), Sáu Côi… cầm đầu nổi tiếng liều lĩnh một thời ở đất thành Vinh. Sau này ông Lê Minh Thưởng nghỉ hưu với quân hàm Trung tá. Ông đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng nhất và nhiều huân huy chương khác. Phần thưởng nào cũng quý nhưng quý hơn cả là Huy hiệu Bác Hồ ông được Bác tặng năm 1968.

Hơn 10 năm được gần gũi, bảo vệ Bác, ông chỉ là người phục vụ, những chuyện “quốc gia đại sự” ông không được biết. Nhưng trong đời thường ông đã được Bác dạy nhiều điều hay lẽ phải. Lần đầu tiên được bảo vệ Bác đi bộ, ông Thưởng được Bác dạy rằng: “Cùng đi thì phải nói chuyện, làm như vậy quãng đường sẽ ngắn lại. Việc gì biết thì nói, việc nào không biết thì phải hỏi, đừng giấu, im lặng làm thinh. Hiểu cái gì nói cho mọi người nghe. Im lặng có thể là dốt hoặc tự kiêu…”, ông Thưởng nhớ lại.

Được khuyến khích, ông Thưởng đã hỏi và được Bác giải thích nhiều chuyện như: sự tích con cá gỗ, chùa Bảo Minh ở đường Hùng Vương tại sao có tên khác là chùa Các Tút…. Bác vẫn gọi tấm mành treo quanh nhà sàn là tấm sáo như nhân dân Nghệ An vẫn gọi. Điều đó chứng tỏ dù xa quê nhiều chục năm, Bác không quên cả những việc nhỏ nhất.

Một lần Bác đi công tác Hải Phòng, xe đang chạy thì một đàn vịt của dân đang băng qua đường. Lái xe cố tránh nhưng không được, mấy con bị cán chết. Đến nơi Bác đã chỉ thị cho lái xe quay lại đền cho dân, hết bao nhiêu về bảo lại với Bác. Một tình huống khác cũng làm ông Thưởng nhớ mãi không bao giờ quên. Mồng 2 Tết năm 1966, Bác đi chúc tết cán bộ và nhân dân Quảng Ninh, khi về đoàn đi theo đường qua phà Phả Lại.

Mặc dù bến phà Phả Lại đã nhận được chỉ thị phải chuẩn bị 2 phà, 1 để chạy thường xuyên, 1 để phục vụ khách đặc biệt. Tuy nhiên không biết vì sao hôm đó bến phà chỉ có được một chiếc nên từ 6 – 7 giờ sáng phà không chạy, nhiều người cần qua sông bị dồn lại. Khi xe Bác đến và lên phà, mặc dù lực lượng bảo vệ đã cố ngăn nhưng nhiều người đi đường vẫn chen lên bằng được. Trên phà nhiều người đã trút sự bực dọc lên chiếc xe ôtô, có người đã văng tục.

Bức ảnh quý giá được ông Thưởng coi như báu vật. Trong ảnh, Bác Hồ và Bác Tôn ngồi ở giữa, hàng đầu. Ông Thưởng bế trong lòng một cháu bé, ngồi bên phải Bác Hồ.

Thấy vậy Bác đã chỉ thị cho phà chạy chậm lại rồi xuống xe và nói: “Bác xin lỗi bà con” và sau đó chúc Tết mọi người. Khi thấy Bác xuất hiện, cả những người có mặt trên phà và những người ở hai bên bờ đã nhiệt liệt hoan hô. Nhiều người đã không quản nguy hiểm bơi ra phà để được tận mắt nhìn thấy Bác. Phà cập bến, trước khi lên xe Bác không quên nhắc lực lượng công an và nhân viên bến phà bằng mọi cách không được để một ai bị chết đuối.

Mười năm được gần Bác, ông Thưởng cũng nhận ra nhiều thói quen của Bác: Bác không bao giờ uống rượu, những lúc tiếp khách Bác cũng nâng cốc nhưng không uống. Đi thăm và làm việc ở đâu Bác không bao giờ cho phép tổ chức theo kiểu “tiền hô hậu ủng”…

Biết bao câu chuyện, bao kỷ niệm khó quên, bao bài học làm người trong quãng thời gian 10 năm bên Bác. Đó là món quà mừng tuổi quý nhất ông Thưởng vẫn dành cho con cháu mỗi dịp Tết đến Xuân về.

Nguyễn Duy – Sỹ Lập
dantri.com.vn

Tấm ảnh Bác Hồ của lão du kích 103 tuổi

(Dân trí) – Thực sự cảm động khi được chứng kiến cựu du kích Điểu Đoi, dân tộc Mạ ở xã Đồng Nai Thượng (huyện Cát Tiên, Lâm Đồng) nâng niu, quý trọng tấm ảnh chân dung Bác.

Nghĩa cử, tinh thần cách mạng của lão du kích có gần 50 tuổi Đảng và hơn trăm tuổi đời giữa rừng già Bù Xa Lu Xiên anh hùng để lại trong nhiều thế hệ trẻ những bài học quý báu.

Đường lên xã anh hùng lực lượng vũ trang Đồng Nai Thượng được nhà nước đầu tư gần 70 tỷ đồng xây dựng xuyên qua vùng lõi Vườn Quốc gia Cát Tiên vẫn đang ngổn ngang vì công trình bước vào giai đoạn nước rút để khánh thành. Chính vì thế, sự âm u, mịt mùng của rừng già và sự hiểm trở của những cung dốc cheo leo giữa bạt ngàn cây cổ thụ nguyên sinh cũng gần như còn nguyên vẹn vẻ hoang sơ.

Đã rất nhiều lần lên với Đồng Nai Thượng từ thuở vùng này mới chỉ là một thôn người Mạ với vài chục nóc nhà dài biệt lập giữa rừng hoang nhưng chưa bao giờ chúng tôi vượt được quãng đường chỉ dài 18 km từ cửa rừng lên trung tâm xã với thời gian ít hơn 5 giờ. Hành trình lên rừng trong tháng Năm này cũng không ngoại lệ.

Leo lên hết đỉnh dốc Đồi Mây, Đồng Nai Thượng hiện lên trong ngút ngàn tầm mắt bởi màu xanh của vùng điều chuyên canh hơn 800 ha. Xen giữa màu xanh của những rẫy điều, những ngôi nhà dài người Mạ thấp thoáng còn lại ít hơn nhưng thay thế lại là rất nhiều mái ngói đỏ, nhà sàn kiểu mới đỏ chói màu sơn vách gỗ… Hỏi nhà cụ Điểu Đoi, nhiều nam, nữ thanh niên Mạ hăm hở: “Bây giờ cụ còn là tổng già làng của 5 buôn ở đây nữa. Nhà cụ ở buôn Bù Gia Rá. Cụ còn đi hái điều được đấy…”. Chúng tôi dễ dàng tìm vào nhà tổng già làng vì rất nhiều người tình nguyện đưa vào Bù Gia Rá. Lão du kích trải qua hai cuộc kháng chiến và sống hơn thế kỷ nhưng vẫn quắc thước, minh mẫn và có trí nhớ khác người. Cụ vẫn nhắc lại kỷ niệm “ba năm trước nhà báo hứa gửi ảnh cho tôi…”.

Câu chuyện với bậc tiền bối tham gia hai cuộc kháng chiến và là cựu du kích từng làm khiếp đảm bọn Mỹ – Ngụy đóng tại căn cứ Lạch Tân Tẹ của xã Năm (tên cũ của xã Đồng Nai Thượng) dần dần chuyển hướng về truyền thống kháng chiến của những người Mạ anh em, truyền thống cách mạng của dân tộc. Cụ Đoi phấn khởi: “Kỷ niệm kháng chiến vùng này đầy ắp với rất nhiều người Mạ, cả con trai và con gái. Kỷ vật cũng có nhiều nhưng với tôi, quý nhất là tấm ảnh Bác Hồ tôi có được từ ngày kết nạp Đảng vào năm 1963. Quý lắm!”. Vừa nói, lão du kích vừa cẩn thận mở tủ, lấy ra cuốn “Truyền thống cách mạng và xây dựng xã Đồng Nai Thượng”. Bàn tay cụ run run lật trang đầu tiên. Một tấm ảnh Hồ Chí Minh với kích thước 13 x 18, bọc cẩn thận trong hai lần ni lông được tổng già làng nâng bằng hai tay trân trọng đặt lên bàn…. Cụ cho biết, tấm ảnh này là kỷ vật do một cán bộ Khu ủy Khu 6 tặng cụ ngày được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Từ đó đến nay, dù cụ được Bí thư Huyện ủy Cát Tiên lên thăm tặng ảnh chân dung của Bác lớn và được đóng khung trang trọng treo ở gian chính của ngôi nhà dài cụ đang ở nhưng tấm ảnh quý giá gắn liền với kỷ niệm gần 50 năm trước vẫn được cụ trân trọng lưu giữ.

Gần năm thập kỷ trôi qua, tấm ảnh Bác Hồ in trên nền giấy cũ vẫn như mới nguyên trong bàn tay của lão du kích già giữa rừng xanh núi thẳm. Trở về lịch sử xã Năm anh hùng, điều cụ Đoi nói vẫn đang còn rất thời sự. Năm 1967, khi địch đổ bộ lên căn cứ Lạch Tân Tẹ với âm mưu khủng bố trắng hòng khuất phục người Mạ, chúng ráo riết tìm diệt dân để vây bắt cán bộ, năm nóc nhà dài người Mạ ngày đó chỉ có hơn trăm nhân khẩu phải kéo hết ra rừng ẩn nấp để kháng chiến. Trong một đêm từ rừng, du kích Điểu Đoi cùng nữ dũng sỹ diệt Mỹ, Điểu Thị Năm Lôi lén về buôn để lấy thực phẩm cho người dân thì bị địch phát hiện và vây ráp. Cụ Đoi cùng du kích Điểu Thị Năm Lôi đã rút nhanh vào rừng rậm, vừa chạy vừa mưu trí diệt 5 tên lính ngụy. Ý chí anh dũng, phương thức chiến đấu mưu trí của những du kích như Điểu Đoi, Điểu Thị Năm Lôi, Điểu Tư Lôi… ở Đồng Nai Thượng ngày đó không chỉ khiến những người đồng tộc giữa rừng nức lòng mà còn là “nỗi sợ thường nhật “của nhiều lính Mỹ – Ngụy.

Hành trình xuống núi khi trời đã ngả về chiều. Đứng trên đỉnh dốc Đồi Mây quay nhìn, Đồng Nai Thượng dậy lên một màu bình yên đến lạ. Rừng ở đây ít thay đổi sau ba mươi sáu năm đất nước thống nhất. Người dân ở đây không thay đổi bởi trước, sau họ vẫn son sắt, nghĩa tình với niềm tin cách mạng. Lão du kích Điểu Đoi đã trường thọ nhưng tinh thần ấy, tình cảm ấy vẫn không phai lạt.

Sơn Tùng
TTXVN

dantri.com.vn

Những kỷ niệm của kiều bào Tân Đảo với Bác Hồ – Những dấu ấn khó phai

Ngoài những đóng góp lớn về vật chất cùng một tấm lòng luôn hướng về nước nhà, hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh chung tay xây dựng đất nước, kiều bào Tân Đảo và Tân Thế Giới còn đầy ắp những kỷ niệm thân thương với Bác Hồ

Chiếc xe được trưng bày tại Phủ Chủ tịch luôn thu hút khách tham quan. Ảnh :TL

Khi còn làm phu mỏ xứ người, dân phu biết đến Bác, nghe về Bác qua những tài liệu, báo đài, sách in của nước ngoài. Và họ đã nhận ra Hồ Chủ tịch là vị lãnh tụ tối cao cho sự nghiệp giải phóng nước nhà.

Ảnh Bác Hồ là tấm huy chương ở xứ người

Ở xứ người, những hình ảnh của Bác được xem là vật vô cùng hiếm hoi, để có được một tấm ảnh Bác treo trong nhà là cả một phần thưởng quý báu. Gia đình họ phải có công lao to lớn, được cộng đồng thừa nhận mới được phần thưởng là tấm ảnh chân dung của Bác. Cụ Trần Hữu Câu sinh năm 1902 quê ở thôn Vân Tràng, Nam Trực, Nam Định – Hội trưởng Hội liên Việt Santo Tân Đảo, bằng những hoạt động tích cực và đóng góp cho quỹ kháng chiến nước nhà, được nhận phần thưởng là bức chân dung Hồ Chủ tịch, một kỷ niệm chương liên hiệp Công đoàn thế giới… Những ảnh chân dung Bác được xem như huy chương mà không phải kiều bào Tân Đảo nào thời ấy cũng có được.

Cụ bà Trần Thị Chỉnh – Việt kiều nay đã 79 tuổi, hiện sống ở Hải Dương vẫn còn giữ tấm chân dung Bác xưa kia, chỉ nhỏ bằng cỡ 9x12cm mà chồng là cụ Lê Duy Tẩm đã được tặng thưởng khi còn ở Tân Đảo. Cụ Chỉnh kể: “Hình của Bác sau khi nước nhà độc lập 1945 được gửi từ Việt Nam sang không nhiều, phải là những người hoạt động thật xuất sắc và có công lớn trong cộng đồng Việt kiều mới được dành tặng. Vì thế, chúng tôi quý lắm và bao giờ tôi cũng giữ cẩn thận”.

Những kỷ niệm thân thương khi hồi hương

Ngay chuyến tàu đưa kiều bào Tân Đảo hồi hương cập cảng Hải Phòng ngày 12.1.1961, đến chiều 14.1.1961, đoàn đại biểu Việt kiều Tân Đảo và Tân Thế Giới vô cùng cảm động và vui sướng khi được gặp Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch. Cậu bé Lê Quý Niệm năm ấy 15 tuổi – hiện ở Hà Nội – một trong những đại diện nhỏ tuổi nhất của thiếu nhi Tân Đảo theo đoàn vào diện kiến Bác Hồ, vẫn còn nhớ như in ngày trọng đại ấy: “Thế hệ chúng tôi sinh ra và lớn lên ở Tân Đảo, nghe các cụ nói về Bác Hồ, chỉ biết Bác qua hình ảnh quê nhà gửi sang. Thật xúc động khi thấy Bác hiện diện ngay trước mặt mình. Bác ân cần thăm hỏi, xoa đầu chúng tôi, rồi người lấy gói kẹo phát từng người. Khi ra về người còn gửi tặng tôi một túi kẹo to và dặn dò đem về phân phát cho các bạn thiếu nhi Việt kiều khác mà hôm nay không có dịp gặp được Bác. Những câu nói của Bác khiến tôi vô cùng xúc động, dù mới gặp lần đầu, nhưng có cảm giác như đã gặp Bác từ lâu rồi…”

Tháng 3.1961, Bác Hồ lên Tuyên Quang thăm hỏi đời sống kiều bào Tân Đảo. Tết 1962, Bác đã đến thăm gia đình ông Phạm Văn Công ở 97 Đại La, Hai Bà Trưng – Việt kiều Tân Đảo hồi hương năm 1961 – gia đình ông Phạm Văn Công kể: “Vào lúc ông Công đang trang trí gian phòng đón giao thừa, ông đang treo hai vế đối dưới ảnh Bác Hồ, thì bất ngờ Bác Hồ đứng trước cửa nhà ông. Ông bàng hoàng không nói được gì, còn vợ thì thốt lên: Ối giời ơi! Có phải là Bác Hồ không!”.

Năm 1964, Bác đến thăm gia đình ông Phạm Văn Trác ở 36 Lê Văn Hưu, Hai Bà Trưng. Bà con, ai cũng cảm kích vì không ngờ một vị chủ tịch nước với tiếng tăm vang lừng khắp năm châu mà kiều bào đã biết khi còn ở nước ngoài, nay đích thân đến thăm các gia đình việt kiều. Người ân cần hỏi han chuyện chuẩn bị tết ra sao, sức khoẻ gia đình, con cái, căn dặn tình hình công tác, khen các con em Việt kiều nói tiếng Việt sõi… “Không khí buổi gặp vị Chủ tịch nước mà ấm cúng như trong gia đình”.

Chiếc xe hơi vạn dặm

Chiếc Peugeot 404 tại khu di tích Phủ Chủ tịch. Ảnh : TL

Một trong những hiện vật giá trị của Bác hiện đang lưu giữ ở Phủ Chủ tịch, là hai chiếc xe hơi được người sử dụng trước kia. Một trong hai chiếc xe ấy là số tiền của bà con việt kiều mua từ Tân Đảo về tặng chính phủ miền Bắc trên chuyến tàu hồi hương và được Bác sử dụng những năm cuối đời.

Chuyến tàu đưa việt kiều hồi hương năm 1964, mang theo 11 chiếc Peugeot 404 – xe đời mới nhất lúc bấy giờ được bà con Tân Đảo mua, đem về tặng cho Bác Hồ và chính phủ Việt Nam. Tiền mua 11 chiếc này cũng do bà con đóng góp trong quá trình ở Tân Đảo, chưa kịp chuyển hết về cho Bác. Bác Nguyễn Văn Ngân – người gắn với hành trình chiếc xe từ Tân Đảo, đến cảng Hải Phòng, và đích thân lái chiếc xe ấy về Hà Nội bàn giao cho chính phủ Việt Nam hiện đang ở Hà Nội.

Thông tin về chiếc xe, ngay cả ban quản lý bảo tàng Hồ Chí Minh trước đây cũng chỉ nắm hồ sơ chiếc xe, số đăng ký, biển số, đời xe… và biết rằng chiếc xe đó do kiều bào Tân Đảo đóng góp, còn các chi tiết cụ thể hơn thì bảo tàng chưa nắm hết được. Mãi đến năm 2005, một lần vào thăm bảo tàng Hồ Chí Minh, bác Ngân, một sĩ quan quân đội – bỗng bàng hòang khi thấy một trong hai chiếc xe trưng bày chính là chiếc Peugeot 404 mà trước kia ông đã sát cánh cùng nó trên đường trở về quê hương trên. Lai lịch về chiếc xe được sáng tỏ.

Gặp bác Ngân đang nằm viện, với một phần buồng phổi phải qua phẫu thuật cắt bỏ. Tuy sức khoẻ suy yếu, nhưng khi nhắc lại chuyện chiếc Peugeot 404, bác Ngân vô cùng xúc động hồi tưởng: “Chúng tôi dùng hết số tiền quỹ còn lại, mua được 11 chiếc Peugeot 404 đời mới nhất, với nhiều màu sơn khác nhau. Cập cảng Hải Phòng, 11 chiếc được anh em việt kiều lái về Hà Nội giao chính phủ, tôi được phân công lái chiếc xe màu ghi sáng. Không ngờ rằng chiếc xe ấy lại được chọn phục vụ cho Bác Hồ. Đến khi vào bảo tàng, nhìn thấy chiếc xe, tôi nhận ra ngay và đã bật khóc khi nhớ lại kỷ niệm ngày trước.

Vị giám đốc bảo tàng còn cho biết khi Bác nhận được chiếc xe, người không dùng vì nó quá sang trọng, người vẫn thường dùng chiếc Provda của Liên xô làm phương tiện đi lại. Mãi đến những năm cuối đời, do sức khoẻ yếu, việc bước lên chiếc Provda khó khăn hơn vì gầm xe cao. Lúc ấy Bác mới sử dụng chiếc Peugeot 404 của kiều bào Tân Đảo…”.

Lam Phong

sgtt.vn

Suốt đời tôi nhớ Bác

Suốt đời tôi nhớ BácSuốt cuộc đời tôi, những lúc khó khăn gian khổ hay vui sướng, vinh quang, tôi đều nhớ đến những hình ảnh và lời nói thân thương của Bác Hồ. Lần tôi được gặp Bác đầu tiên là năm 1950.

Ngày ấy, tôi là chỉ huy trưởng Mặt trận Bình-Trị-Thiên, nhận lệnh ra Việt Bắc báo cáo tình hình kháng chiến với Bộ Tổng tư lệnh. Dịp ấy, điều hạnh phúc nhất đã đến: Tôi được dự lễ mừng sinh nhật Bác tròn 60 tuổi, lại được ngồi ngay bên cạnh Bác. Bác ân cần hỏi chuyện về tình hình đời sống kháng chiến của đồng bào Bình-Trị-Thiên. Khi ăn cơm, Bác gắp thức ăn cho tôi. Ở bên cạnh Bác tôi cảm thấy thân thiết, tự tin hẳn lên. Tôi đưa ra tấm ảnh chân dung Bác, xin chữ ký để mang về làm kỷ niệm cho đồng bào, chiến sĩ. Bác cầm tấm ảnh rồi phóng bút ghi: “Kháng chiến nhất định thắng lợi!”, ký tên Hồ Chí Minh. Trao ảnh cho tôi, Bác ân cần:

– Chú về, cho Bác gửi lời thăm hỏi đồng bào và chiến sĩ trong đó…

Kỷ vật thiêng liêng ấy tôi lưu giữ suốt những năm kháng chiến, thôi thúc động viên tôi luôn luôn phấn đấu, rèn luyện hoàn thành tốt nhiệm vụ và tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng, đúng như những dòng Bác ghi trên tấm ảnh. Vừa qua, tôi đã gửi lại tấm ảnh gốc có bút tích của Bác cho Bảo tàng Hồ Chí Minh tại Thừa Thiên – Huế. Hiện tại, tôi chỉ lưu giữ bản sao, được phóng lớn hơn (xem ảnh).

Đến năm 1954, tôi được Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh giao nhiệm vụ làm Trưởng phái đoàn liên lạc Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam bên cạnh Ủy ban Quốc tế giám sát và kiểm soát việc thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ. Đồng chí Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp căn dặn: “Bác Hồ bảo, anh về làm việc ở Thủ đô thì phải “luôn luôn nhớ giữ nâu sồng kháng chiến”. Lời dặn giản dị ấy chính là nhắc nhở tôi phải cảnh giác trước lối sống nơi đô thị, không được sa ngã, không bị cám dỗ… luôn luôn giữ vững phẩm chất cách mạng. Ấy vậy mà trong một lần trở lại Việt Bắc, báo cáo với Bác công việc ở Hà Nội và tình hình công tác với Ủy ban Quốc tế, Bác hỏi: “Nghe nói chú mới mua một chiếc xe đẹp lắm phải không?”. Tôi giật mình trước câu hỏi của Bác, liền thưa: “Thưa Bác, do nhu cầu công tác, cần đi lại với Ủy ban Quốc tế, cơ quan phải sắm ô tô. Anh em bàn tính mãi, nếu mua xe cũ, phải mất 3.000 đồng Đông Dương. Mua xe mới thì mất 3.600 đồng, nên chúng cháu quyết định mua xe mới, vẫn tinh thần tiết kiệm, không dám xa hoa…”. Bác gật đầu, không nói gì thêm. Tôi hiểu, Bác không phê bình mà hỏi rõ ngọn ngành, thấy hợp lý nên Bác thông cảm.

Những cử chỉ, lời nói của Bác ngày ấy là sự nhắc nhở, chỉ bảo ân cần, độ lượng như tình cha con, tôi luôn ghi nhớ và vận dụng trong ứng xử suốt cuộc đời mình.

ĐÀO VĂN SỬ (ghi theo lời kể của Đại tá Hà Văn Lâu, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Pháp)
qdnd.vn

Bác Hồ trong lòng dân Tây Đô

QĐND Online – Bác Hồ đã đi xa hơn 40 năm, nhưng hình ảnh giản dị, đầy cao quý về vị cha già dân tộc vẫn không phai mờ trong lòng người dân Việt Nam. Với người dân thành phố Cần Thơ – đất Tây Đô, Bác vẫn còn ở đâu đó, rất gần gũi, thân thương trong cuộc sống hàng ngày như để dõi theo sự phát triển đi lên của đất nước nói chung và mảnh đất Tây Đô nói riêng.

Treo ảnh Bác để học tập Bác

Hòa thượng Lý Sân, Ủy viên Trung ương giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hội trưởng hội Đoàn kết sư sãi yêu nước TP Cần Thơ, trụ trì chùa Săn- vor- Pô-thi, phường Châu Văn Liêm, quận Ô Môn tâm sự: tôi coi Bác như đức Phật. Việc tôi và các phật tử rước ảnh Bác, thờ Bác là niềm vui, niềm tự hào của chúng tôi. Một con người cả đời hy sinh, cống hiến thân mình vì hạnh phúc của dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam, đất nước Việt Nam, một Danh nhân Văn hóa thế giới như Người chẳng khác nào Phật vậy. Hòa thượng Lý Sân kể: “Tôi có may mắn được ra thăm Hà Nội, được viếng lăng Bác 4 lần. Lần nào tôi cũng rất xúc động. Tôi nhớ nhất lần đầu tiên được tận mắt nhìn căn nhà sàn của Bác đơn sơ, giản dị khiến tôi rất bất ngờ. Vị lãnh tụ của đất nước của dân tộc mà sống giản dị như thế trên thế giới có lẽ chỉ có một- Bác Hồ. Tôi vẫn thường khuyên các phật tử sống tiết kiệm, siêng năng lao động đó cũng là cách học tập Bác thiết thực nhất, góp phần xóa đói, giảm nghèo cho mỗi gia đình, xây dựng quê hương đất nước giàu mạnh. Đến nay, có 250 hộ đồng bào Khơ-me phường Châu Văn Liêm, Ô Môn treo ảnh Bác. Hòa thượng Lý Sân kể: “Hôm tổ chức rước ảnh Bác vui và trang trọng lắm, có tổ chức biểu diễn văn nghệ để phục vụ đồng bào nhưng chỉ tiếc hôm đó thiếu ảnh để trao cho đồng bào…”.

Anh Lý Phiên (người Khơ- me, phường Châu Văn Liêm, Ô Môn, Cần Thơ) bên ảnh Bác

Ông Bùi Xuân Mỹ, Chủ tịch hội Cựu chiến binh quận Ô Môn cho biết thêm: Việc rước ảnh Bác, treo ảnh Bác là hoàn toàn tự nguyện, thể hiện lòng kính yêu đối với Bác Hồ.

Ông Nguyễn Văn Hồng, Trưởng ban trị sự phật giáo Hòa Hảo, phường Thuận Hưng, quận Thốt Nốt đã xúc động phát biểu trong buổi lễ trao ảnh Bác Hồ nhân kỷ niệm 121 năm sinh nhật Bác: Mọi người dân Việt Nam đều hiểu và ghi nhớ công ơn to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng tôi rất mừng khi có ảnh Bác treo trang trọng trong nhà mình.

Bà Võ Thị Út, 65 tuổi ở ấp Mỹ Phụng, xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền phấn khởi: “Tôi đã sửa sang lại nhà cửa, chuẩn bị một chỗ trang trọng nhất trong nhà để hôm nay rước ảnh Bác Hồ về treo. Bác là vị cha già kính yêu đã hy sinh cả cuộc đời vì dân tộc. Ngày nay, đất nước thanh bình, người dân có cơm no áo ấm, đưa ảnh Bác về treo trong nhà là cách bà con ghi nhớ công ơn trời biển của Bác”.

Treo ảnh Bác-nét đẹp văn hoá

Ông Trần Thành Nghiệp, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh TP Cần Thơ xúc động: Người đã đi vào cõi vinh hằng hơn 40 năm nhưng hình ảnh của người vẫn rất gần gũi, thân thương đối với người dân Cần Thơ. Vì thế, từ năm 2008, chúng tôi đã quyết định phát động phong trào vận động các hội viên cựu chiến binh rước ảnh Bác về thờ ở vị trí trang trọng nhất trong mỗi gia đình. Đến nay, tại các gia đình các hội viên cựu chiến binh thành phố Cần Thơ đều treo ảnh Bác. Năm 2010, phong trào rước ảnh Bác về gia đình được đông đảo quần chúng nhân dân hưởng ứng. Đây là cách thể hiện tình cảm của người dân đất Tây Đô với Bác kính yêu!

Chỉ tính từ đầu năm 2011 đến nay, TP Cần Thơ đã có hơn 60.000 hộ gia đình rước ảnh Bác về thờ tại gia đình. Toàn thành phố hiện có 160.000 ảnh Bác được thờ tại các gia đình. Các buổi lễ trao ảnh Bác đều được lãnh đạo Hội Cựu chiến binh, UBND, Uỷ ban MTTQ các xã tổ chức trang trọng.

Phong trào rước ảnh Bác ở Cần Thơ đã được đông đảo người dân hưởng ứng nhiệt tình. Đăc biệt, xã Đông Thắng, huyện Cờ Đỏ có đông đồng bào dân tộc Khơ me, lễ rước ảnh Bác Hồ ngay trong chùa Kinh Số 5 và mời sãi cả thay mặt lãnh đạo trao ảnh Bác Hồ cho nhân dân. Ở Nhà thờ ấp Bờ Bao thị trấn Vĩnh Thạnh, huyện Vĩnh Thạnh có gần 100% hộ treo ảnh Bác Hồ. Hình ảnh người dân xứ đạo nhận ảnh Bác do chính vị Linh mục trao cho khiến những người chứng kiến không khỏi xúc động.

Cựu chiến binh Lê Quang Tuấn, xã Trường Long, huyện Phong Điền cho biết: có ảnh Bác thờ trong gia đình là dịp để chúng tôi chiêm nghiệm lại mình, học tập Bác để sống tốt hơn. Chúng tôi xin hứa với Bác quyết tâm thi đua lao động sản xuất, thắt chặt tình làng nghĩa xóm, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền thật sự trong sạch, vững mạnh và xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, xứng đáng với sự hy sinh lớn lao của Bác cho đất nước cho dân tộc Việt Nam.

Phong trào rước ảnh, treo ảnh Bác tại mỗi gia đình không chỉ thể hiện tình cảm của người dân đất Tây Đô với vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc mà còn là nét đẹp văn hóa mới của người dân nơi đây.

Bài và ảnh: NGUYỄN KIỂM
qdnd.vn

Người lính già xây nhà thờ Bác Hồ giữa đại ngàn rừng núi

QĐND Online – Lặn lộn với đời binh nghiệp hơn nửa đời người và 3 lần may mắn được gặp Bác Hồ. Trở lại với thời bình, ông lấy toàn bộ tiền lương hưu, vay mượn xóm giềng và xây một ngôi nhà thờ Bác để không chỉ ông mà những người dân ở vùng sơn cước Bắc Trà My (tỉnh Quảng Nam) có một nơi đàng hoàng để thờ phụng Bác. Ông là người mang biệt danh “tử vì dân” – tên thật là Võ Như Thông (thị trấn Trà My, huyện miền núi Bắc Trà My).

Lời khấn cho dân tộc

Nếu có dịp đi trên tỉnh lộ DT616 từ Bắc Trà My lên Nam Trà My sẽ nhìn thấy một ngôi nhà thờ với bức tượng Bác Hồ cao hơn 3m hướng nhìn về phía dòng sông, xung quanh là những cây kiểng xanh tươi. Đó là nhà thờ mà ông “tử vì dân” đã xây dựng bằng những đồng lương hưu được tích cóp từ hơn nửa đời người.

Gần 80 tuổi, nhưng ngày nào ông cũng tất bật chăm chút cho ngôi nhà thờ Bác. Điều dễ nhận ra nhất của người cựu binh già này là giọng nói rất hào sảng, ánh mắt trìu mến, như tuổi thanh niên.

Bước chân vào đời quân ngũ từ thời 13 tuổi ở chiến trường khu V, ông được đưa ra Bắc tập kết, xong lại vào Nam đánh giặc, “trước khi lên đường về Nam, chúng tôi phải lấy cho mình những cái tên mới để nếu có bị địch bắt cũng không lộ, không bị ảnh hưởng đến gia đình. Đồng đội có người lấy tên là Quảng Nam, Nguyễn Mít hay lấy tên vợ…còn tôi lần lựa mãi và mang tên “tử vì dân”. Không ngờ rằng cái tên đó lại thành “thương hiệu” – ông Thông nói. “Thương hiệu” bởi giờ đây ở vùng miền núi này từ người Ca Dong, M’nông cho đến những cán bộ thôn, xã chỉ biết biệt danh “tử vì dân” mà ít ai biết tên thật của ông. “Tôi cũng như nhiều đồng đội chỉ nghĩ một lẽ đơn giản là đã ra chiến trường thì xác định là hy sinh, nhưng hy sinh là vì ai?. Tất nhiên đó là dân, là nước rồi” – ông lý giải.

Ngôi nhà thờ Bác Hồ khang trang giữa núi rừng Bắc Trà My

Năm 2007, ông gọi vợ lại thổ lộ: “Tôi muốn làm một ngôi nhà thờ Bác. Mà sợ tuổi đã cao không biết có được toại nguyện không?”. Bà Huỳnh Thị Thuyền (vợ ông) không những không can ngăn mà còn trấn an: “Bao nhiêu năm ông đương đầu với chết chóc tôi có bao giờ can ngăn. Chừ ông thấy việc mình ưng thì cứ làm, nếu ông chết, còn tôi, còn các con”. Vậy là 2 vợ chồng ông cùng gật đầu làm “dự án”…

Rồi xóm giềng thắc mắc không hiểu vì sao 2 vợ chồng già này thường xuyên “hạ sơn” đi về vùng đá mỹ nghệ Non Nước (Đà Nẵng). Cho đến một ngày, họ thấy xe chở về một bức tượng Bác Hồ bằng đá nhìn vừa giản dị lại rất thân thương. Rồi ông lấy toàn bộ phía mặt tiền “đắc địa” nhất của miếng đất để đặt tượng Bác, phía sau là khu nhà với gần 100 cuốn sách, báo, tranh ảnh các tư liệu về Bác và gia đình, trước cổng ông làm hai cây cột lớn với 2 câu đối ca tụng vị lãnh tụ …cả khu nhà thờ rộng hơn 100m2 với số tiền đầu tư gần 200 triệu đồng. Sau bao nhiêu năm ấp ủ, đúng dịp kỷ niệm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước 5-6-2009, ông đã thắp nén hương thành kính xin Bác được lập nhà thờ để người dân miền núi có nơi hương khói cho Bác.

Từ đó, cứ đến ngày Bác mất là ông lại chuẩn bị hương nhang, hoa quả…rồi kêu tất cả con trai, gái, cháu, chắt về nhà. Đốt hương, đứng trước Bác, ông khấn: “….Bác phù hộ, độ trì cho con cháu Việt Nam luôn được hoà bình, ấm no, hạnh phúc”. Ông nói chưa bao giờ ông khấn gì cho gia đình, ông chỉ khấn cho đồng bào được hạnh phúc. Nhiều người thấy ông khấn lạ như vậy cũng thắc mắc lắm. Ông tâm sự: “Tôi làm nhà thờ Bác để mọi người cùng thể hiện lòng thành kính. Lời khấn với lãnh tụ như Bác là khấn cho cả dân tộc trong đó có cả gia đình tôi đó thôi” .

Dự án cuối đời của người lính

Từ ngày ông “tử vì dân” có nhà thờ Bác cũng là lúc người dân ở tổ Đồng Trường 2 (thị trấn Trà My) cùng xum họp với nhau về đây để làm ngày giỗ chung. Thỏa lòng mong mỏi của ông và người dân dành tặng cho Bác. “Nhà nào cũng có bàn thờ Bác, nhưng họ vẫn muốn đến đây để thể hiện tấm lòng của cả một cộng đồng luôn dạt dào với Bác” – ông Thông chia sẻ.

Thời gian đầu, có người hỏi ông sao không bảo họ cũng đến làm giỗ Bác. Ông ngắn gọn rằng: “Giỗ cha tôi thì tôi mời liền. Còn giỗ Bác thì nhà nào cũng có vì thế đâu cần phải mời”. Và không chỉ có người dân ở Đồng Trường 2, mà giờ đây số người đến nhà thờ Bác vào những ngày giỗ đã mở rộng đến các bản, các xã xa xôi. Không chỉ vậy, trong số những người đến đây còn có rất nhiều cụ đã ngoài 80 tuổi, lại có những gia đình cả 2 – 3 người cùng đi đến nhà thờ Bác. Và đến nay thì danh sách đã hơn 40 hộ dân tham gia làm giỗ chung ở đây.

Người cựu binh mái tóc đã bạc trắng, “mê mẩn” kể về kỷ niệm của anh lính khi được gặp Bác lần đầu ở Nghệ An thời chiến tranh. Ông say sưa kể, khi đó Bác về thăm đơn vị, cứ 15 phút lại điện hỏi xem xe của Bác đã đến đâu, cho tới khi còn cách Vinh 7 km thì cả đơn vị đã đứng nghiêm để đón Bác. “Lúc đó theo kế hoạch Bác chỉ nói chuyện được 15 phút thôi. Nhưng một số đồng chí quyết định mắc lỗi với Bác là cúp điện loa máy, để Bác ở lại với anh được lâu hơn. Và lính tráng chúng tôi đã được gặp Bác, được bắt tay Bác bằng xương bằng thịt chứ không còn trên hình ảnh. Đó là kỷ niệm không bao giờ quên trong đời lính của tôi” – ông xúc động kể. Sau này, khi ra Hà Nội công tác, ông còn có may mắn được gặp Bác 2 lần nữa.

Sau lần đầu tư cho nhà thờ Bác, hiện ông “tử vì dân” đang ấp ủ thực hiện thêm một nhà thờ bên cạnh Bác, đó là thờ luật sư Lô-Giơ-Bai, ân nhân giúp Bác trong vụ án Hồng Kông năm xưa. “Tôi đang sưu tầm các tư liệu về luật sư, có lẽ sẽ tốn nhiều thời gian, công sức…và có thể tôi không còn đủ sức lực để làm. Nhưng sẽ có vợ, con tôi tiếp tục công việc này’ – ông chia sẻ.

Đoàn Văn Cường
qdnd.vn

Người quay những thước phim cuối cùng về Hồ Chủ tịch

“9h47 ngày 2/9, Bác trút hơi thở cuối cùng. Nén nỗi đau, chúng tôi cố gắng ghi lại hình ảnh thiêng liêng này, nhưng cứ đưa máy lên là nước mắt giàn giụa, ướt nhòa cả thước ngắm máy quay”, ông Nguyễn Thanh Xuân nhớ lại.

Trong căn nhà nhỏ ở Làng Sen xã Kim Liên (Nam Đàn, Nghệ An), thiếu tá Nguyễn Thanh Xuân đã kể về cuộc đời cũng như việc thực thi nhiệm vụ đặc biệt của mình.

Năm 1952, khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang bước sang giai đoạn khó khăn, chàng trai 21 tuổi Nguyễn Thanh Xuân ở Làng Sen lên đường nhập ngũ tham gia các chiến dịch giải phóng Tây Bắc, Điện Biên Phủ… Kháng chiến chống Pháp thành công, Thanh Xuân tiếp tục cuộc đời binh nghiệp với nhiệm vụ tiếp quản thủ đô, tham gia diễu binh chào mừng chiến thắng, đón Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về từ chiến khu.

ông XuanNhà quay phim Nguyễn Thanh Xuân. Ảnh tư liệu.

Năm 1961, nhờ khả năng tổ chức văn nghệ, lại nhanh nhẹn và có năng khiếu nên Nguyễn Thanh Xuân được chuyển về công tác ở xưởng phim quân đội. Từ đây, người lính trẻ bắt đầu làm quen với chiếc máy quay Liên Xô và những thước phim. “Mặc dù được phân công phụ trách khói lửa cho những cảnh quay về chiến trường, nhưng hễ rảnh là tôi lại mày mò chiếc máy quay phim. Sau những ngày tháng học lỏm về thước ngắm, góc ảnh, tiêu cự, lấy nét… tôi đã sử dụng thành thạo máy quay Convat của Nga. Thấy vậy, cấp trên cho tôi đi học lớp nghiệp vụ để về quay phim”, ông Xuân kể về cơ duyên đến với nghề quay phim.

Cùng với Trần Anh Trà, đạo diễn Phạm Quốc Vinh…, Nguyễn Thanh Xuân trực tiếp quay những hình ảnh tư liệu về Hồ Chủ tịch khi đi thăm chiến sĩ pháo cao xạ, hải quân. “Chúng tôi rất xúc động với hình ảnh Bác Hồ xắn quần, lội ruộng thăm hỏi tình hình sản xuất của bà con nông dân như một lão nông tri điền; hình ảnh Bác chia kẹo cho thiếu nhi, chòm râu bạc trắng như một ông tiên với đôi mắt hiền từ bắt nhịp bài ca Kết đoàn và hát say sưa…”, người quay phim già kể.

Sáng 29/8/1969, hai nhà quay phim Nguyễn Thanh Xuân và Trần Anh Trà được Tổng cục Chính trị điều đi làm nhiệm vụ đặc biệt mà không biết đi đâu, làm gì. Nhận lệnh, hai người cẩn thận lau chùi lại máy móc, chuẩn bị phim nhựa rồi lên ôtô. “Xe chở chúng tôi tới Phủ Chủ tịch. Một cảm giác thật lạ, một chút hồi hộp, một chút vui mừng vì lần đầu tiên được đến đây và một chút lo lắng cứ đan xen trong tôi. Gặp Bác, ai cũng lệ nhòa nước mắt. Ông Vũ Kỳ, thư ký của Bác cho biết sức khỏe của Bác rất yếu. Bộ Chính trị yêu cầu tổ làm phim quân đội ghi lại những giây phút có lẽ là cuối cùng của Người”, ông Xuân nhớ lại.

Ngày 30/8, đoàn làm phim được thông báo “Bác đỡ hơn”. Đến sáng 1/9, ông Vũ Kỳ lại thông báo sức khỏe Hồ Chủ tịch tiến triển không tốt. Chiều hôm đó, 2 nhà quay phim Nguyễn Thanh Xuân, Trần Anh Trà được mang máy vào phòng bệnh để ghi hình. Chủ tịch Hồ Chí Minh nằm đó trong lặng im, đứng quanh là lãnh đạo Bộ Chính trị, Ban bí thư, Quân ủy Trung ương…, ai cũng lặng thinh, xúc động.

ông XuânDù đã bước sang tuổi 80 nhưng khi nhắc đến những phút giây được ghi lại hình ảnh cuối cùng về cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Xuân lại rưng rưng. Ảnh: T.P.

“Hai chiếc máy Liên Xô đều đã cũ, mỗi lần bấm máy lại phát ra những tiếng kêu rệu rạo nên chúng tôi rất ái ngại sẽ ảnh hưởng đến việc chăm sóc Bác. Để hạn chế tiếng ồn, chúng tôi đã dùng các tấm xốp để cách âm và chăm chú vào thước ngắm”, ông Xuân nhớ lại.

“Sáng 2/9, ông Vũ Kỳ thông báo sức khỏe Bác rất yếu và yêu cầu chúng tôi mang máy vào. 9h47, Bác trút hơi thở cuối cùng trong tiếng nấc nghẹn ngào, thương xót của những người có mặt. Chúng tôi cố gắng ghi lại hình ảnh thiêng liêng này, nhưng cứ đưa máy lên là nước mắt giàn giụa, ướt nhòa cả thước ngắm máy quay. Khi đó, chúng tôi cứ mở ống kính ở độ rộng nhất và cứ thế mà quay”, người quay phim nhớ lại.

Đến trưa, khi xe cứu thương chở thi hài Hồ Chủ tịch về Viện Quân y 108, ông Xuân lại được phân công ghi lại hình ảnh các chuyên gia Liên Xô tìm cách bảo vệ thi hài. Sau khi quay xong gần 5.000 mét phim nhựa lịch sử về những giây phút cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó có hình ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp xới cơm mời Bác, Bác dặn dò các lãnh đạo trong Bộ Chính trị…, toàn bộ hình ảnh được giao lại cho Xưởng phim quân đội để quản lý và bảo mật.

Năm 1989, khi UNESCO chuẩn bị kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, danh nhân văn hóa thế giới, Điện ảnh Quân đội và Bảo tàng Hồ Chí Minh quyết định giao cho đạo diễn Phạm Quốc Vinh dựng bộ phim về những giây phút cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh dựa trên hình ảnh mà hai nhà quay phim Nguyễn Thanh Xuân và Trần Anh Trà đã thực hiện.

“Đạo diễn Phạm Quốc Vinh đã dựng thành bộ phim Những giờ phút cuối đời Bác Hồ và được Cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh duyệt ngày 17/4/1989. Từ đó đến nay, phim được chiếu thường xuyên ở Bảo tàng, các dịp lễ. Khi xem lại những hình ảnh mình ghi, tôi cũng không cầm được nước mắt vì xúc động”, ông Xuân tâm sự.

Bước sang tuổi 80 nhưng đôi mắt của nhà quay phim quân đội Nguyễn Thanh Xuân vẫn tinh anh, cương nghị. Góc bàn thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh trong căn nhà nhỏ ở Làng Sen dù giản dị nhưng lúc nào cũng ấm cúng.

“May mắn được sinh ra trên quê hương Hồ Chủ tịch, được làm người lính cụ Hồ, được ghi lại những giây phút thiêng liêng, lịch sử mà xúc động về Người là niềm tự hào lớn nhất của cuộc đời tôi”, ông chia sẻ.

Theo VNEXPRESS

hcmpc.com.vn

Bảo vệ Bác Hồ trong những năm đầu toàn quốc kháng chiến

Cuối năm 1946, Bác Hồ từng có thời gian ở làng Vạn Phúc (Hà Đông) nhưng ngày ấy dân làng Vạn Phúc, kể cả số cán bộ chủ chốt của xã và tỉnh Hà Đông đều không hay biết. Ở Vạn Phúc nhưng nhiều ngày Bác vẫn đi công tác. Những chuyến đi công tác của Bác đều được các chiến sĩ cảnh vệ lo chu đáo

Bấy giờ là vào những ngày cuối năm 1946, trước những diễn biến phức tạp của tình hình chính trị ở Thủ đô Hà Nội để đối phó với những khả năng xấu nhất có thể xảy ra; các cơ quan đầu não của Trung ương và Hà Nội từng bước bí mật di chuyển ra các vùng ngoại ô. Theo chỉ thị của Hồ Chủ tịch: địa điểm di chuyển đều phải tuyệt đối đảm bảo bí mật nhưng lại phải thuận lợi cho công tác điều hành của Trung ương. Bác giao công việc này cho đồng chí Trần Đăng Ninh, lúc đó là Trưởng ban An toàn khu Trung ương. Sau một thời gian tìm hiểu, đồng chí Trần Đăng Ninh đã đề xuất lên Bác ý định chọn làng Vạn Phúc để làm địa điểm đón Bác về.

Sở dĩ Bác chấp nhận lời đề nghị của đồng chí Trần Đăng Ninh vì Vạn Phúc vốn là một địa phương có truyền thống yêu nước và chỉ cách trung tâm Hà Nội 11km, rất thuận tiện cho việc đi lại. Tuy vậy, để đảm bảo tuyệt đối an toàn, đồng chí Trần Đăng Ninh vẫn hỏi lại đồng chí Nguyễn Tấn Phúc, người làng Vạn Phúc và là cán bộ an toàn khu Trung ương.

– Nếu Bác về Vạn Phúc thì ở nhà ai để đảm bảo bí mật?
Sau một hồi suy nghĩ, đồng chí Phúc trả lời:

– Dạ, thưa Bác ở nhà ông Nguyễn Văn Dương ạ. Mặc dù ông Dương là tiểu chủ nghề dệt ở làng Vạn Phúc, song mọi người trong gia đình ông ngay từ những năm 1936-1939 đã giác ngộ cách mạng. Trong thời kỳ Mặt trận Việt Minh, gia đình ông cũng là cơ sở của các đồng chí Hoàng Quốc Việt và Hoàng Văn Thụ. Còn về địa điểm, gia đình ông Dương có 4 ngôi nhà: nhà ở, nhà dệt, nhà bếp và nhà hồ sợi. Ngôi nhà chính có 2 tầng, mỗi tầng có 4 gian. Tầng dưới dành cho mọi người trong gia đình, tầng trên dự kiến sẽ dành để Bác và các cán bộ đi theo ở và làm việc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện về tình hình thời sự với cán bộ chiến, sỹ bảo vệ và cán bộ Văn phòng Chính phủ tại địa điểm Thác Dẫng, chân núi Hang Bồng, Sơn Dương, Tuyên Quang trong kháng chiến chống Pháp.

Sau khi nghe đồng chí Nguyễn Tấn Phúc báo cáo, đồng chí Trần Đăng Ninh tuy biểu thị sự yên tâm, nhưng vẫn cùng đồng chí Tấn Phúc về tận nơi kiểm tra. Khi gặp ông Dương, đồng chí Trần Đăng Ninh vừa ngỏ ý muốn mượn ông tầng gác trên cho Đội tuyên truyền xung phong làm việc một thời gian thì vợ chồng ông Dương đồng ý ngay. Sau khi khảo sát kỹ về nơi ăn, chốn ở và phương án bảo vệ, sẩm tối ngày 3/12/1946, Bác và 4 cán bộ giúp việc đi trên một chiếc xe commăngca về làng Vạn Phúc. Để đảm bảo bí mật, ngoài bộ trang phục giống như những người cùng đi, Bác còn dùng chiếc khăn mùi xoa che miệng không để lộ chòm râu. Khi tới nhà ông Dương, đồng chí Trần Đăng Ninh vào nhà trước. Sau khi nói chuyện với chủ nhà, đồng chí quay ra mời Bác lên một căn phòng ở tầng 2 ngôi nhà.

Trong thời gian ở nhà ông Dương, Bác chỉ thay đổi chi tiết nhỏ đối với các đồ vật trong căn phòng. Chiếc bàn ở góc nhà, Bác kê sát vào cạnh giường ngủ. Còn chiếc ghế, Bác nhường cho khách, bản thân Bác thì ngồi ngay trên giường quay ra bàn viết. Đêm đến, Bác thường làm việc rất khuya, mặc dù vậy, như thường lệ, sáng nào Bác cũng dậy sớm tập thể dục.

Trong thời gian ở Vạn Phúc, Bác thường căn dặn các cán bộ giúp việc phải coi trọng các nguyên tắc giữ bí mật. Do vậy, ngày ấy dân làng Vạn Phúc, kể cả số cán bộ chủ chốt của xã và tỉnh Hà Đông lúc đó đều không hay biết. Ở Vạn Phúc nhưng nhiều ngày Bác vẫn đi công tác. Những chuyến đi công tác của Bác đều được các chiến sĩ cảnh vệ lo chu đáo, thậm chí có ngày Bác tiếp khách ở Bắc Bộ Phủ, nhưng không một ai trong làng biết. Bác thường đi rất sớm và về đến làng khi đã lên đèn.

Đồng chí Nguyễn Quý, người làng Vạn Phúc và nguyên Giám đốc Công an tỉnh Hà Tây cho biết: Thời gian Bác Hồ ở Vạn Phúc là những ngày ở Hà Nội rất căng thẳng. Thực dân Pháp đã gây ra nhiều vụ thảm sát ở các phố Yên Ninh và Hàng Bún. Tiếp đó là đưa quân chiếm đóng Sở Tài chính và gửi tối hậu thư cho Chính phủ ta đòi tước vũ khí của tự vệ, rồi đòi quyền kiểm soát an ninh thành phố…

Theo baove.info

hcmpc.com.vn

“Hình ảnh Bác Hồ là niềm tin đưa tôi đến với đam mê hội họa”

Dù chưa một lần được gặp Bác Hồ nhưng Trần Hòa Bình dành cho Bác một tình cảm đặc biệt bằng tấm lòng của người đam mê hội họa. Sau 40 năm gắn bó với nghệ thuật, ông đã vẽ hơn 500 bức tranh về Bác Hồ.

Căn phòng vẽ tranh sơn dầu của họa sỹ Trần Hòa Bình khá nhỏ và đơn sơ, nằm ở một góc nơi thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Lúc chúng tôi ghé thăm, ông vẫn đang say sưa với những nét vẽ Bác Hồ trong thời gian Người đang làm việc tại nước Nga.

Hơn 40 năm vẽ tranh về Bác Hồ

Sinh năm 1955 trong một gia đình có truyền thống lâu đời về vẽ tranh và chép tranh truyền thần, từ bé Trần Hòa Bình đã được làm quen với công việc vẽ tranh. Cha ông, cố họa sỹ Nam Phong (sinh năm 1917) vốn nổi tiếng đất Bắc là họa sỹ vẽ tranh truyền thần, trong đó phải kể đến bức tranh “Đức mẹ Việt Nam” mà hiện nay đang được trưng bày tại Italia.

Họa sỹ Trần Hòa Bình đang vẽ bức tranh Bác Hồ khi Người đang làm việc ở nước Nga

Ngay từ khi mới lên 8 tuổi, Trần Hòa Bình đã thể hiện rõ sự đam mê hội họa. Cứ mỗi buổi tối khi cha vẽ tranh xong, ông thường gom nhặt những mảnh giấy và mực màu cũ không dùng nữa để tập vẽ. Ban đầu, những nét vẽ của ông nguệch ngoạc, tay cứng đờ, vẽ cả ngày mà bức tranh nhìn không ra chủ thể gì. Không nản chí, ông vẫn kiên trì tập vẽ tranh và có thể vẽ ở bất cứ thời điểm nào nếu có thể, đặc biệt ông yêu thích những bức tranh về Bác Hồ và dành nhiều thời gian cho việc nghiên cứu và vẽ tranh truyền thần về Bác.

Sau nhiều năm khổ luyện, cố gắng với không ít lần thất bại, Trần Hòa Bình bắt đầu cho ra đời những bức tranh truyền thần độc đáo. Những bức tranh chân dung về Bác Hồ của ông rất đẹp và không hề thua kém tranh của cha mình. Dấu ấn đầu tiên trong sự nghiệp hội họa là năm ông 16 tuổi, tác phẩm “Bác Hồ đang làm việc” của ông được gửi tặng đến huyện Kim Sơn để trưng bày trong tiền sảnh UBND.

Bức tranh về Bác Hồ đã hoàn thiện, giống hệt một bức ảnh Bác Hồ đã chụp trước đây

Thời gian đó, Trần Hòa Bình đứng trước nhiều nguy cơ phải nghỉ nghề do kinh tế gia đình khó khăn, bốn con nhỏ đang tuổi đến trường mà nghề hội họa chỉ là niềm đam mê chứ không thể làm giàu được. Gánh nặng “cơm áo gạo tiền” khiến ông nhiều đêm mất ngủ. Những tưởng ông sẽ bỏ công việc vẽ tranh để đi làm kinh tế, nhưng ông đã biết khắc phục khó khăn bằng cách ban ngày vẫn đi làm việc và tối về lại tiếp tục cống hiến cho nghệ thuật. Có hôm, ông thức cả đêm để hoàn thiện bức tranh Bác Hồ, khi bức tranh hoàn thiện, một niềm tin, sức sống mới lại bừng sáng trong ông, xua tan đi mọi mệt nhọc.

Cha mất, họa sỹ Trần Hòa Bình được kế thừa căn phòng tranh cổ kính truyền thống của gia đình cùng kho tàng ảnh tư liệu quý báu về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nhiều họa sỹ khác cho rằng Trần Hòa Bình mang nặng cái duyên với Người. Bởi lẽ, những hình ảnh về phẩm chất, nghị lực phi thường của vị lãnh tụ vĩ đại đã đưa ông đến với con đường hội họa. Vẽ tranh về Bác Hồ rất khó nên ít người theo mảng tranh này, bức tranh về Bác Hồ phải thể hiện được cái thần của người lãnh tụ yêu nước cũng như phong thái, nụ cười ung dung của Người với nhân dân.

“Hình ảnh Bác Hồ là niềm tin, sự đam mê đưa tôi đến với hội họa”

Vẽ tranh cũng cần có sự tâm huyết, lòng đam mê và tấm lòng của người cầm bút mực, chính vì thế nhân vật trong tranh cũng trở nên sinh động và có thần thái hơn. Hơn 40 năm gắn bó với nghề, Trần Hòa Bình đã nổi tiếng cùng những bức tranh truyền thần về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Kỷ lục vẽ 520 bức tranh truyền thần về Bác Hồ

Đã hơn nửa cuộc đời gắn bó với duyên nghề hội họa, họa sỹ Trần Hòa Bình không thể nhớ hết được bao nhiêu bức tranh ông đã vẽ, riêng tranh về Bác Hồ thì ông nhớ như in. Tính đến tháng 10/2010 ông đã vẽ 520 bức tranh về Bác ở nhiều thời kỳ cách mạng đã được công nhận. Từ đó đến nay, con số những bức tranh truyền thần về Bác Hồ đã lên đến gần 600 bức vẽ.

Họa sỹ Trần Hòa Bình cho biết: “Nhìn bức tranh Bác Hồ đơn giản nhưng vẽ thì rất khó, khó đến từng chi tiết nhỏ. Khi vẽ phải nhập tâm để thể hiện được thần thái của Người, đôi mắt phải sáng, bộ râu mềm mại và nụ cười nhẹ nhàng ấm áp như tình yêu thương của Bác dành cho nhân dân. Bức tranh truyền thần về chân dung Bác Hồ chỉ cần sai sót một chi tiết nhỏ thì coi như bỏ đi, phải vẽ lại bức khác”.

Căn phòng vẽ tranh của ông khá đơn sơ nhưng có truyền thống hàng trăm năm về hội họa

Trong căn phòng vẽ tranh có truyền thồng lâu đời của gia đình họa sỹ Trần Hòa Bình vẫn còn lưu giữ khá nhiều bức tranh truyền thần cổ kính, có bức tranh đã gần thế kỷ nhưng màu sắc không bị phai nhạt. Riêng tranh sơn dầu về Bác Hồ thì trong xưởng vẽ tranh của ông chỉ còn duy nhất 1 bức và 1 bức ông đang vẽ. Ông tâm sự: “Tranh sơn dầu về Bác Hồ được rất nhiều người yêu thích, đặc biệt các văn phòng, công sở Nhà nước thường mua về trưng bày lấy Bác làm tấm gương học tập. Chính vì thế ngoài những bức tranh khách đặt hàng, mình vẽ xong bức nào về Bác là vài ngày sau lại có người đến xin mua lại để làm kỷ niệm hoặc làm quà biếu người thân”.

Những bức tranh truyền thần về chủ tịch Hồ Chí Minh của họa sỹ Trần Hòa Bình được nhiều người biết đến, từ Nam ra Bắc. Có người ở tận Cần thơ, Cà Mau vẫn tìm ra Bắc đặt tranh của ông. Mấy năm trước, đã có người đặt ông vẽ 5 bức tranh truyền thần Bác Hồ để đưa sang Pháp tặng người thân.

Họa sỹ Trần Hòa Bình bên bức tranh mới nhất về Bác Hồ

Họa sỹ Trần Hòa Bình có bốn người con và đều nối nghiệp gia đình theo nghề hội họa. Thế nhưng điều khiến họa sỹ Trần Hòa Bình trăn trở nhất là số họa sỹ có thể vẽ tranh, chép tranh về Bác Hồ còn rất ít, thế hệ trẻ thì càng khó thành công ở lĩnh vực này.

“Tôi đặt hy vọng nhiều ở người con trai cả Thế Anh, hiện cháu đang vẽ tranh cho một Trung tâm thương mại ở Hà Nội. Tôi mong sẽ truyền lại được sự đam mê, tình yêu thương với những bức tranh truyền thần về Bác Hồ để cháu nối nghiệp. Còn bây giờ tôi vẫn tiếp tục vẽ tranh về Bác, chỉ mong sao con cháu thế hệ sau mãi biết đến, học tập và làm theo tấm gương Bác – vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc”, họa sỹ Trần Hòa Bình bày tỏ.

Theo Báo Dân Trí Trực tuyến

hcmpc.com.vn

Suy nghĩ của một người lái xe về Đảng, về Bác Hồ

Tôi nghĩ, dù ai có cố tình nhắm mắt phủ định bằng bất cứ lý do gì thì Đảng và Bác vẫn có công lao vô cùng to lớn với dân tộc, Tổ quốc Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ, nhân dân ta phá tan ách thống trị thực dân, phong kiến, đánh Pháp, đuổi Nhật và thắng Mỹ, non sông thu về một mối, đất nước thái bình, nhân dân yên ổn làm ăn và phát triển, vị thế của nước ta ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Có thể nói, từ khi có Đảng, có Bác, đất nước Việt Nam đã hoàn toàn đổi mới. Chính vì thế người dân Việt Nam luôn nói: Ơn Đảng, ơn Bác…

Không biết từ bao giờ, Đảng và Bác Hồ luôn ở trong trái tim, khối óc, trong công việc và trong cuộc sống hằng ngày của tôi. Còn nhớ ngày đầu vào mạng In-tơ-net, vô tình vào một trang (tôi không còn nhớ) có những bài viết nói xấu Đảng, nói xấu Bác, tôi thấy như mình bị xúc phạm và lập tức gửi phản hồi “phản công” lại.

Tôi nghĩ, dù ai có cố tình nhắm mắt phủ định bằng bất cứ lý do gì thì Đảng và Bác vẫn có công lao vô cùng to lớn với dân tộc, Tổ quốc Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ, nhân dân ta phá tan ách thống trị thực dân, phong kiến, đánh Pháp, đuổi Nhật và thắng Mỹ, non sông thu về một mối, đất nước thái bình, nhân dân yên ổn làm ăn và phát triển, vị thế của nước ta ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Có thể nói, từ khi có Đảng, có Bác, đất nước Việt Nam đã hoàn toàn đổi mới. Chính vì thế người dân Việt Nam luôn nói: Ơn Đảng, ơn Bác…

Là một lái xe, tôi không quá thần tượng và ảo tưởng, tôi luôn hướng về Đảng, về Bác và có một niềm tin sắt đá về sự trường tồn của Đảng và tư tưởng, đạo đức của Bác. Tuy nhiên, nhìn vào thực trạng hiện nay, bên cạnh những mặt tích cực, Đảng muốn trường tồn, đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống, thiết nghĩ, Đảng cần phải quyết liệt với một số vấn đề đang gây bức xúc dư luận cả nước.

Về chống tham nhũng

Thực tế khẳng định, tham nhũng đã trở thành quốc nạn, là một trong bốn nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng. Có thể nói bọn sâu dân mọt nước, bọn cơ hội, những cán bộ, đảng viên biến chất, hư hỏng là “một bầy sâu” hằng ngày, hằng giờ đục khoét, moi móc của cải vật chất của Nhà nước, của nhân dân, làm mất uy tín của Đảng, mai một lòng tin của nhân dân vào Đảng. Nhiều kỳ đại hội đảng đã qua, nhiều giải pháp đã được đề cập tới, nhưng vấn nạn tham nhũng không giảm mà có xu hướng tăng lên với những thủ đoạn tinh vi hơn. Tham nhũng đã và đang có mặt ở khắp mọi nơi, khắp các ngành nghề, biến thái đủ các hình thức, nhiều góc độ… Làm thế nào để người dân thấy được công cuộc chống tham nhũng của Đảng không là hô khẩu hiệu? Không là “giơ cao đánh khẽ” ? Không để những vụ việc được báo chí, người dân phát hiện bị “chìm xuồng”…? Chỉ có thể là trừng trị thẳng tay như Bác đã từng làm trước đây, bất kể kẻ tham nhũng đó là ai.

Về cảnh sát giao thông

Là một lái xe, tôi tiếp xúc hằng ngày với cảnh sát giao thông. Với tôi, hình ảnh phản cảm, đau đớn nhất là hình ảnh những người công an mặc sắc phục, được Nhà nước trang bị mọi phương tiện để thi hành công vụ lại nhận hối lộ. Điều đó không chỉ bôi nhọ lực lượng công an vì nhân dân phục vụ mà còn ảnh hưởng to lớn đến uy tín của Đảng, của Nhà nước. Từ 30 đến mồng 5 Tết Nhâm Thìn, trên toàn quốc đã xảy ra hơn 3.000 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm nhiều người chết và bị thương. Những con số đó đã cho chúng ta thấy hiệu quả của việc tuần tra kiểm soát của lực lượng cảnh sát giao thông như thế nào.

Về giáo dục – đào tạo

Xã hội phát triển, các gia đình quan tâm hơn đến việc học hành của con em mình. Đồng thời việc chạy trường, chạy lớp đầu năm học, mua điểm, mua bằng, rồi phong bì biếu xén thấy cô giáo các ngày lễ, tết… cũng tăng theo nhưng chất lượng giáo dục không tăng. Năm ngoái dư luận được phen xôn xao với phát biểu của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cho rằng kết quả môn thi lịch sử hàng ngàn điểm 0 là bình thường (!). Tình trạng học sinh bỏ học, bạo lực học đường đang rung lên hồi chuông báo động với nền giáo dục Việt Nam. Thế nhưng, những đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong Ngành Giáo dục từ Trung ương xuống cơ sở trong các bản kiểm điểm đánh giá chất lượng đảng viên cuối năm có ai dám nhận trách nhiệm về mình và từ chối các khoản xét thưởng?

Với kiểm lâm
Nhà đày của thực dân Pháp xây dựng ngay tại Buôn Ông Thuột (nay là TP. Buôn Ma Thuột). Nhà đày xây nơi rừng thiêng nước độc, suốt ngày cọp hú, voi gầm, biết bao chiến sĩ cách mạng trung kiên đã bị những cai ngục ném ra ngoài tường rào để làm mồi cho thú dữ. Nói như vậy để biết ngày xưa rừng vào tận trung tâm thành phố bây giờ. Và đúng như nhà báo Đặng Bá Tiến trong bài “Nỗi nhớ đại ngàn” thì: “… không chỉ nhớ, tôi đã rơi nước mắt vì thương rừng, thương đại ngàn. Bởi rừng, bởi đại ngàn giờ đã tan tác, điêu linh !”. Thậm chí cả rừng đặc dụng như Vườn quốc gia Yốk Đôn, Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô… cũng chỉ còn cái mã ngoài, ruột gan bên trong thì đã bị moi móc băm vằm tan tác. Thật đau đớn, xót xa ! Sự thật là rừng đã và đang bị tàn phá… Tổng kết của ngành kiểm lâm có ai dám thừa nhận tiếp tay cho lâm tặc? Hay chỉ đến khi lật xe, gỗ đè chết người ở Con Cuông, Nghệ An thì mới rút kinh nghiệm, kiểm điểm ? Bây giờ nhân dân cả nước vẫn chưa biết kết quả xử lý cuối cùng vụ này ra sao ? Có ai dám nói đến sự yếu kém, sự bất lực trong công tác quản lý bảo vệ rừng ?

Về tệ nạn xã hội

Ở cơ sở có cả một hệ thống chính trị: Đảng ủy, UBND, HĐND, các hội: phụ nữ, cựu chiến binh, đoàn thanh niên… lực lượng công an phường, xã, dân quân tự vệ… Cả hệ thống đông đảo ấy nếu thật sự tận tụy với dân, tận lực làm việc thì tệ nạn ma tuý, mại dâm, trộm cướp, giết người, bạo lực xã hội, bạo hành gia đình, ngược đãi trẻ em… liệu có đất dung thân hay không? Các điểm vui chơi, quán nhậu, ka-ra-ô-kê đều phải đăng ký kinh doanh. Chỉ cần kiên quyết xử lý các sai phạm ngay từ đầu thì làm gì có đất cho tệ nạn hoạt động. Phải chăng tiếp tay, ăn chia, nhận đút lót rồi nhắm mắt làm ngơ thì tệ nạn xã hội mới có cơ hội hoành hành như vậy?

Trên đây là những vấn đề nhức nhối tôi phải chứng kiến hàng ngày khiến tôi lo lắng, băn khoăn về sự còn mất của Đảng. Phải làm thế nào đây? Tôi chỉ là một người dân bình thường, yêu Đảng, yêu Bác nhưng không thể chấp nhận việc những tiêu cực đó xảy ra hằng ngày mà chỗ nào cán bộ, đảng viên cũng nói học tập và làm theo Bác. Mỗi đảng viên, cán bộ hãy một lần đọc lại Di chúc của Bác, hãy nhớ kỹ: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân…”. Chỉ có như thế Đảng mới trường tồn, xứng đáng với Lãnh tụ kính yêu của Đảng – Bác Hồ vĩ đại.

Trương Long Vũ

xaydungdang.org.vn

Gia đình hai đời tổ chức lễ giỗ Bác Hồ

(Nguoiduatin.vn) – Trọn 42 năm kể từ ngày Bác mất, có một gia đình vẫn thầm lặng tự tổ chức lễ giỗ cho Bác suốt quãng thời gian qua. Đó là gia đình của cụ Cao Văn Đằng (SN 1922, ngụ tại khóm 9, thị trấn Càng Long, tỉnh Trà Vinh), một người nông dân nghèo, chất phát mà người dân quanh đây thường gọi với cái tên là “ông Hai con trai Bác Hồ”.

Giờ đây, tuy cụ Hai không còn nữa nhưng mỗi năm đến ngày 2/9, các con của cụ vẫn đều đặn thắp nén nhang và nấu một ít món ăn dâng lên Bác để bày tỏ lòng thành kính.

Cô Mừng thắp nén nhang cho Bác Hồ trong lễ giỗ

Chiếc radio kỷ niệm

Con đường vào nhà cụ rất khó đi và khá vòng vèo, thế nhưng năm nào cũng thu hút hơn 100 người đến dự lễ giỗ tại căn nhà nhỏ này. Ngày trước, cụ Hai tham gia làm công tác hậu cần, dân quân, tiểu tổ nông hội đi vận động tiếp tế cho quân ta thời kháng chiến chống Pháp. Bốn người con trai đầu của cụ cũng nối gót cha tham gia cách mạng, nhưng một người đã nằm xuống trong một cuộc kháng chiến chống Mỹ. Lúc đó, bà con trong vùng ai cũng bỏ nhà tránh bom đạn của giặc. Duy nhất còn lại mình cụ bám trụ lại để dự trữ lúa gạo nuôi quân.

Cô Cao Thị Mừng (57 tuổi), người con thứ 5 của cụ Hai lấy trong tủ ra cho tôi xem một cái radio đã cũ. Cô chia sẻ: “Hồi trước cha tôi đi cuốc mướn hai công khoai, bán thêm một tạ heo, một bầy gà vịt mới có tiền mua cái radio này với giá 7.200 đồng. Tại ổng mê nghe tin tức lắm, ngày nào cũng kè kè cái radio bên tai”.

Cũng nhờ chính chiếc radio này mà cụ Hai hay tin Bác mất. Chiều ngày 3/9/1969, đài phát thanh Hà Nội loan tin về sự ra đi của Bác, nghe tin này, cụ Hai đã khóc rất nhiều. Mặc dù chưa một lần được gặp mặt Bác, nhưng qua những thông tin từ báo đài, ông rất ngưỡng mộ về sự giản dị và tài giỏi, thương nước thương dân của Bác.

Cô Cao Thị Rành (50 tuổi), người con thứ 8 của cụ chia sẻ: “Cha tôi thương Bác lắm. Để thể hiện tấm lòng của mình, cha tôi bắt đầu để râu giống Bác, đi dép cao su. Hễ có ai khen cha tôi giống Bác là ổng vui cả buổi trời”.

Ngày cụ Hai còn sống, dù Bảo tàng Trà Vinh đã nhiều lần ngỏ ý mang chiếc radio và một cái gầu tát nước mà ngày xưa ông bắt cá làm giỗ cho Bác về trưng bày nhưng cụ Hai không đồng ý. Từ giường bệnh, ông cụ lòm còm bước lại đến ôm chiếc radio và cái gầu vào lòng, vì đối với cụ, đây là những kỹ vật thiêng liêng, quý giá, không gì có thể sánh bằng cho dù nó đã hỏng suốt mười mấy năm nay.

Lừa lính ngụy đốt nhang lạy Bác

Sau khi Bác mất, cụ Hai lập ngay một bàn thờ nhỏ và giấu kín trong nhà để giặc không phát hiện. Vì không có hình của Bác nên cụ lấy một con tem kháng chiến có hình của Bác để thờ. Cụ tính từng ngày cúng thất, cúng 49, 100 ngày cho Bác, đầy đủ lễ tiết như người thân trong gia đình.

Cụ Hai bên chiếc radio kỷ niệm

Ngày đó, gia đình còn khó khăn nên có gì cụ cúng nấy, có cá bắt cá, có gà làm gà. Lần đầu tiên giỗ Bác, lấy lý do đám giỗ bố, cụ đã mời bọn lính Ngụy đến dự rất đông, còn các anh bộ đội sắm vai con cháu trong nhà. Thấy lính Ngụy đốt nhang lạy Bác, ông cụ cười thầm trong bụng.

Sau khi đi giỗ về, bọn lính Ngụy sinh nghi nên bắt cụ Hai về đồn chất vấn. Tuy nhiên, vì không đủ chứng cứ, bọn chúng đành phải để ông cụ ra về.

Ấm ức vì không thể kết tội cụ Hai, tên đồn trưởng quyết định cho lính đến mai phục bắn cụ cho hả tức. Núp trong một bụi cây, nhìn thấy cụ đang đặt dĩa khoai lang lên bàn thờ và thắp nén nhang, bọn lính bắn một phát đạn vào cánh tay phải của cụ.

Cô Mừng nhớ lại: “Lúc đó nghe tiếng sung trước nhà, tôi sợ quá, chạy ra thì thấy cha đang giữ lấy cánh tay đầm đìa máu. Tôi vội vàng lấy chiếc xe đạp ra kêu cha lên chở đi nhà thương nhưng cha một mực không chịu. Cha nói, tụi lính Ngụy đang nghi ngờ mà bây giờ đi nhà thương cho tụi nó giết chết cả nhà nên tôi đã đưa cha đi trạm xá mổ vết thương lấy viên đạn ra”. Vì chậm trễ làm máu chảy rất nhiều nên sau hôm đó, tay phải cụ Hai không còn hoạt động bình thường được nữa.

Sau ngày giải phóng, ông Hai liền đóng một cái tủ nhỏ làm bàn thờ Bác và đặt trang trọng giữa nhà, nơi thường dành thờ cúng tổ tiên.

Muốn giỗ cùng ngày với Bác

Bệnh tật đã dần dần cướp đi sức khỏe cụ Hai. Sau bao nhiêu năm bị bệnh gan hành hạ, cụ Hai quyết định về nhà để được gần Bác, được lo cơm nước, thắp nhang cho Bác mỗi ngày.

Cô Mừng bên di ảnh cụ Hai 

Đến giữa tháng 9 năm ngoái, cụ Hai đã ra đi, 10 ngày sau đám giỗ của Bác. Cô Mừng nghẹn ngào tâm sự: “Trước lúc mất, mắt cha tôi cứ nhìn chăm chăm vào bàn thờ Bác. Ông dặn, sau này nếu có làm giỗ cho ông thì làm chung ngày giỗ với Bác Hồ. Nên năm sau tụi tôi sẽ tổ chức chung một ngày cho ông vui lòng”.

Gia đình cụ Hai mỗi năm có đến sáu cái giỗ nhưng giỗ của Bác luôn luôn là giỗ lớn nhất. Trước giỗ 2 ngày, các con cụ đã bắt tay vào công việc làm đồ ăn. Cô Mừng chia sẻ: “Hồi đó làm giỗ đơn giản lắm, chỉ có mấy anh chị em trong nhà thôi, nhưng bây giờ thu hút càng ngày càng đông người, có năm tiếp hơn cả chục bàn nên phải chuẩn bị nhiều hơn, sợ khách lại mà không đủ đồ ăn thì ngại lắm”.

Ngày đầu tiên, các con cụ Hai từ phương xa trở về quây quần lại gói bánh tét, bánh ít biếu tặng khách. Ngày thứ hai, mọi người tiếp tục làm heo, gà, vịt để đúng ngày 2/9 bà con lại chung vui. Tất cả đồ ăn nấu giỗ đều do tự tay các con cụ nuôi trồng vì như thế vừa đỡ chi phí vừa đảm bảo vệ sinh an toàn cho mọi người.

Trong bàn ăn, các con cụ Hai không quên dọn thêm một bộ chén đũa, vì mọi người biết, dù có đi đâu thì ngày này, chắc chắn cụ Hai sẽ về dự giỗ Bác Hồ.

Chị Nguyễn Thị Hoa sáng sớm đã đi mua trái cây rồi lặn lội từ huyện Vũng Liêm (Vĩnh Long) đến nhà cụ Hai dự giỗ. Chị chia sẻ: “Tôi đến đây lần này là được 4 lần rồi. Hồi đó nghe người ta nói nhiều về ông nên tôi rất tò mò và tìm đến đây dự giỗ. Tôi không phải bà con gì của ông Hai hết vậy mà gia đình ông vẫn đón tiếp niềm nỡ. Riết rồi cũng thành quen, năm nào tôi cũng dành chút thời gian xuống thắp cho Bác nén nhang”.

Anh Lê Văn Ngoan, Bí thư thị trấn Càng Long nhận xét: “Đây là một việc làm hết sức ý nghĩa nên tôi rất trân trọng tấm lòng của chú Hai. Sau khi xuống Đền thờ Trà Vinh là tôi tranh thủ qua nhà chú Hai. Việc làm này tưởng chừng đơn giản nhưng không phải ai cũng có thể làm được”.

Sau khi cụ Hai qua đời, các con cụ tiếp tục tự tổ chức lễ giỗ cho Bác Hồ. Vì đó không những là tâm nguyện của cụ Hai mà còn là ý muốn của các con cụ, để mọi người có dịp thể hiện tấm lòng của mình đối với vị cha già của dân tộc.

Đỗ Dũng

nguoiduatin.vn